Ví dụ như: khi xem xét về quyền tuyệt đối của cá nhân được quy định tại Điều 2(1), cụ thể là quyền tự do của cá nhân, bao gồm cả các quyền tự do ngôn luận, tự do nghệ thuật, quyền đượ[r]
Trang 1QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ
VIỆT NAM VÀ BỘ LUẬT DÂN SỰ ĐỨC
TS Vương Thanh Thúy
Khoa Pháp luật Dân sự - Trường Đại học Luật Hà Nội
Xã hội càng phát triển, quyền nhân thân của cá nhân càng được quan tâm và tôn trọng Tuy nhiên, sự điều chỉnh của hệ thống văn bản pháp luật về quyền nhân thân của cá nhân thường không được quan tâm chu đáo như đối với các nội dung về quyền tài sản Căn nguyên của vấn đề này có thể xuất phát từ tính chất không định tính, định lượng rõ ràng như các vấn đề về tài sản Bên cạnh đó, trên nền tảng kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia, pháp luật quy định về quyền nhân thân của cá nhân cũng có những đặc trưng riêng có Trong phạm vi bài viết dưới đây, tác giả trình bày khái lược quy định về quyền nhân thân, bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong Bộ luật Dân sự Việt Nam và Bộ luật Dân sự Đức
1 Nhận diện về quyền nhân thân của cá nhân
1.1 Trong Bộ luật Dân sự Việt Nam
Quyền nhân thân được quy định tại Mục 2 Chương III Phần thứ nhất
Bộ luật Dân sự năm 2015 Theo đó, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đưa ra cách nhận diện quyền nhân thân nói chung, liệt kê và quy định về các quyền nhân thân cụ thể
Điều 25 BLDS Việt Nam quy định: “Quyền nhân thân được quy định trong bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”
Có thể thấy, thứ nhất, BLDS Việt Nam chỉ quy định quyền nhân thân (không quy định quyền nhân thân của cá nhân) nhưng với cách nhận diện tại Điều 25 thì có thể hiểu đây là quyền của cá nhân (gắn liền với mỗi cá nhân); thứ hai, BLDS Việt Nam không đưa ra khái niệm hay định nghĩa về quyền nhân thân Thay vào đó, quyền nhân thân được nêu trong điều luật chỉ xác định về đặc điểm Nói cách khác, với cách quy định trong BLDS năm 2015, không rõ ràng và dễ dàng để xác định quyền nhân thân là gì hoặc quyền nào
là quyền nhân thân, với góc độ là quyền dân sự được điều chỉnh bởi BLDS
Trang 2Áp dụng Điều 25, chúng ta chỉ có thể khẳng định: khi một quyền của cá nhân
là quyền nhân thân thì quyền đó sẽ có hai đặc điểm chính: (i) gắn liền với cá nhân mang quyền; (ii) không thể chuyển giao cho người khác Các đặc điểm này cũng không phải là bất biến bởi nếu luật khác có liên quan quy định khác thì các đặc điểm này có thể thay đổi.45
Từ Điều 26 đến Điều 39, BLDS năm 2015 quy định về các quyền nhân thân cụ thể Theo đó, các quyền nhân thân được liệt kê bao gồm: quyền có họ, tên; quyền thay đổi họ, tên; quyền xác định, xác định lại dân tộc; quyền được khai sinh, khai tử; quyền đối với quốc tịch; quyền đối với hình ảnh; quyền sống, được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể; quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; quyền hiến, nhận mô,
bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác; quyền xác định lại giới tính; quyền
về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình
1.2 Trong Bộ luật Dân sự Đức
Cách quy định về quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong pháp luật Đức không giống như pháp luật Việt Nam Nếu như pháp luật Việt Nam dành riêng BLDS để quy định về quyền nhân thân thì BLDS Đức không là văn bản ghi nhận quyền nhân thân tương ứng
Trong pháp luật Đức, quyền nhân thân được ghi nhận và bảo hộ ở nhiều các văn bản pháp luật với các mức độ khác nhau Luật cơ bản (Grundgesetz) là văn bản có tính chất như Hiến pháp và là văn bản quy định phần lớn các nội dung về quyền nhân thân Điều 1(1) và Điều 2(1) là hai điều luật được viện dẫn chủ yếu đối với vấn đề về quyền nhân thân Điều 1(1) quy
định: “Nhân phẩm của con người là không thể vi phạm Các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm tôn trọng và bảo vệ nhân phẩm con người”46 Điều 2(1)
quy định: “Mọi cá nhân đều có quyền tự do phát triển quyền nhân thân của mình mà không được ảnh hưởng tới quyền của chủ thể khác, không được xâm
45 Ví dụ trong quy định của Luật Sở hữu trí tuệ quy định về quyền công bố tác phẩm (quyền nhân thân) có thể được chuyển giao
46 Article 1(1): “The dignity of human beings is inviolable All public authorities have a duty to respect and protect it”
Trang 3phạm trật tự công, đạo đức xã hội”.47 Đây là hai điều luật mang tính nền tảng
và là cơ sở để bất kỳ cá nhân nào có thể viện dẫn trong trường hợp nhận thấy các yếu tố về nhân phẩm cũng như sự tự do phát triển của bản thân đang bị ngăn cản, xâm phạm bởi quyền lực công hoặc hành động tư
Với tính chất như Hiến pháp, Luật cơ bản có giá trị cao hơn các quy định pháp luật thông thường khác Đặc biệt, Điều 1 của Luật cơ bản được xác định là không được phép sửa đổi
Ngoài Luật cơ bản, các quy định chuyên biệt về quyền nhân thân (như quy định tại BLDS Việt Nam) là không có trong hệ thống pháp luật Đức Các quy định về quyền nhân thân, thay vào đó, được quy định trong những nội dung cụ thể như quy định về các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín (trong Luật Hình sự); quy định về bồi thường thiệt hại (trong BLDS); quy định về các vấn đề nhân thân trong sở hữu trí tuệ (trong Luật Sở hữu trí tuệ)…
Chính vì vậy, BLDS Đức không dành riêng một mục để quy định, nhận diện quyền nhân thân, cũng như nêu các loại quyền nhân thân Toàn
bộ nội dung về quyền nhân thân trong BLDS Đức xoay quanh nội dung về bồi thường thiệt hại, với điều luật trọng tâm là Điều 823(1) và Điều 823(2)
Điều 823(1) quy định: “Cá nhân cố ý hoặc vô ý gây thiệt hại trái pháp luật đối với tính mạng, thân thể, sức khỏe, sự tự do, tài sản hoặc các quyền khác của chủ thể khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại đã gây ra”.48 Điều 823 (2) quy định: “Cá nhân vi phạm quy định của pháp luật về bảo vệ các chủ thể cũng phải gánh chịu nghĩa vụ tương
tự Nếu các quyền được bảo vệ trong quy định nêu trên có thể bị vi phạm ngay cả trong trường hợp không có lỗi thì chủ thể vi phạm chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu họ có lỗi”.49
Thông qua quy định về bồi thường thiệt hại, có thể thấy một số quyền được liệt kê ở đây, bao gồm các quyền liên quan đến: tính mạng,
47 Article 2(1): “Everyone shall have the right to the free development of their personality provided that they
do not interfere with the rights of others or violate the constitutional order or moral law”
48 Article 823(1): “A person who, intentionally or negligently, unlawfully injures the life, body, health, freedom, property or another right of another person is liable to make compensation to the other party for the damage arising from this”,
49 Article 823(2): “The same duty is held by a person who commits a breach of a statute that is intended to protect another person If, according to the contents of the statute, it may also to breached without fault, then liability to compensation only exists in the case of fault”
Trang 4thân thể, sức khỏe, sự tự do, tài sản và các quyền khác của cá nhân Tòa án Đức đã giải thích các quyền trên là các quyền tuyệt đối; các quyền tuyệt đối này khi áp dụng trên nền của Điều 1(1) và 2(1) Luật cơ bản được xác định như các quyền nhân thân chung.50 Quyền nhân thân chung chính là các quyền được tôn trọng, phát triển và bảo vệ về nhân phẩm con người và
sự do phát triển các yếu tố cá nhân
Ngoài quy định về quyền nhân thân chung được xác định thông qua các quy định về bồi thường thiệt hại, các yếu tố của quyền nhân thân chung hoặc
có thể hiểu là các quyền nhân thân cụ thể được xây dựng thông qua hệ thống
án lệ Bao gồm: quyền riêng tư, quyền đối với danh dự, quyền đối với hình ảnh; quyền được bảo vệ chống lại sự quấy rầy; quyền được bảo vệ chống lại việc thương mại hóa
2 Bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân
2.1 Trong Bộ luật Dân sự Việt Nam
Mục 2 Chương III Phần thứ nhất Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định về bảo vệ quyền nhân thân Điều 25(1) quy định nói chung về quyền nhân thân (như đã nêu trên) Điều 25(2) chỉ quy định về việc xác lập, thực hiện quan hệ nhân thân trong một số trường hợp đặc biệt như đối với cá nhân chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, cá nhân bị tuyên bố mất tích, tuyên bố đã chết.51
Khi khảo sát toàn bộ BLDS năm 2015, có thể thấy, không có bất kỳ Điều luật nào có tiêu đề liên quan đến bảo vệ quyền nhân thân Tuy nhiên, căn
cứ vào nội dung, có thể thấy, việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân, được quy định tập trung tại Chương XX (Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng), Phần thứ ba BLDS năm 2015 Theo đó, Điều 584(1) quy định:
50 Trong quy định của Điều 823(1) có liệt kê đến quyền về tài sản Từ góc nhìn của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là pháp luật dân sự, khó có thể hình dung vì sao quyền về tài sản lại là quyền nhân thân chung Tuy nhiên, trong pháp luật Đức, từ gốc để chỉ quyền nhân thân là “personal right” (quyền cá nhân) Do đó, các quyền được liệt kê tại điều luật, bao gồm cả quyền về tài sản có thể xác định là các “general personal right” (quyền nhân thân chung)
51 Điều 25(2) quy định: “Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được người đại diện theo pháp luật của người này đồng ý theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc theo quyết định của Tòa án Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết phải được sự đồng ý của vợ, chồng hoặc con thành niên của người đó; trường hợp không có những người này thì phải được sự đồng ý của cha, mẹ của người
bị tuyên bố mất tích, người đã chết, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”
Trang 5“Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,
uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” Như vậy, các đối tượng của hành vi xâm phạm (yêu cầu bồi
thường thiệt hại) bao gồm nhiều quyền nhân thân đã được liệt kê trong Mục 2 Phần thứ nhất của bộ luật như: quyền đối với tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín
Cách quy định về “quyền, lợi ích hợp pháp khác” trong Điều luật có thể dẫn tới hai cách hiểu khi áp dụng bảo vệ quyền nhân thân Thứ nhất, với quy định này, tất cả các quyền nhân thân của cá nhân khi bị xâm phạm, thỏa mãn các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đều
có thể gánh chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Bởi vì các quyền nhân thân của cá nhân đều là các quyền hợp pháp của cá nhân Thứ hai, việc liệt kê các yếu tố, quyền nhân thân cụ thể (tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín) có thể hiểu là chỉ những quyền nhân thân được liệt kê mới được áp dụng trách nhiệm bồi thường khi bị vi phạm; còn “quyền, lợi ích khác” không bao gồm các quyền nhân thân của cá nhân (mà không được liệt kê cụ thể trong điều luật) Tuy nhiên, nếu áp dụng cách hiểu thứ hai sẽ dẫn đến bất cập là những quyền nhân thân chưa được liệt kê cụ thể tại Điều 584 (1) sẽ không có
cơ sở để bảo vệ tại bất kỳ nội dung nào khác trong BLDS Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng, cần hiểu theo cách thứ nhất, khi áp dụng quy định của pháp luật để bảo vệ quyền nhân thân
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được áp dụng để bảo
vệ quyền nhân thân (cũng như các giá trị khác) khi đáp ứng các điều kiện: (i)
có thiệt hại thực tế xảy ra; (ii) có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật; (iii) có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại trái pháp luật và thiệt hại thực tế xảy ra.52
Việc bồi thường thiệt hại được áp dụng theo nguyên tắc bồi thường
52 Điều 584(1) BLDS năm 2015 đã bỏ quy định về yếu tố lỗi khi xác định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Theo hướng tôn trọng nguyên vẹn điều luật, chúng tôi phân tích các yếu tố dựa trên quy định của điều luật Tuy nhiên, xét về tổng thể các quy định, cũng như quan điểm chuyên môn, chúng tôi cho rằng lỗi vẫn là một yếu tố cần xem xét khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trừ những trường hợp pháp luật quy định không cần xem xét yếu tố lỗi
Trang 6toàn bộ và kịp thời53; trường hợp thỏa mãn các điều kiện thì mức bồi thường
có thể được giảm hoặc thay đổi54; trách nhiệm bồi thường có thể không được
áp dụng khi chủ thể bị thiệt hại có lỗi hoặc không áp dụng các biện pháp ngăn chặn hợp lý55
Khi xác định thiệt hại trong các trường hợp xâm phạm các quyền nhân thân, quy định của BLDS năm 2015 nêu ra hai loại là: (i) các chi phí hợp lý và thực tế để cứu chữa, khắc phục và xử lý khi các quyền bị xâm phạm (như chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, mai táng, khắc phục thiệt hại); và (ii) khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần theo thỏa thuận hoặc tối
đa là 50 lần mức lương cơ sở (khi sức khỏe bị xâm phạm), 100 lần mức lương cơ sở (khi tính mạng bị xâm phạm), 10 lần mức lương cơ sở (khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm).56
Các cá nhân bị xâm phạm quyền nhân thân có thời hiệu khởi kiện Tòa
án yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày họ biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm
2.2 Trong Bộ luật Dân sự Đức
Việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong quan hệ dân sự, được quy định trong Bộ luật Dân sự Đức và căn cứ trên các án lệ cụ thể tại các Tòa
án Theo đó, việc xâm phạm các quyền nhân thân chung (và các quyền tuyệt đối khác được quy định tại Điều 1(1) và Điều 2(1) Luật cơ bản) chỉ được bồi thường nếu xác định hành vi xâm phạm là hành vi bất hợp pháp Việc xác định tính bất hợp pháp của hành vi xâm phạm phải được xem xét trên tổng thể các yếu tố sau: (i) suy đoán tính bất hợp pháp căn cứ trên sự gây thiệt hại của hành vi; (ii) xem xét trong mối quan hệ tương quan với bảo vệ các quyền khác; (iii) xem xét ý chí của chính cá nhân bị vi phạm
53 Khoản 1 Điều 581 quy định: “Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”
54 Khoản 2, Khoản 3 Điều 581 quy định: “2.Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình 3 Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường”
55 Khoản 4, Khoản 5 Điều 581 quy định: “4.Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra 5 Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.”
56 Theo Điều 590, Điều 591, Điều 592 BLDS năm 2015
Trang 7Về nguyên tắc, bất kỳ khi nào các quyền nhân thân chung (và các quyền tuyệt đối khác) bị vi phạm, hành vi xâm phạm đó được suy đoán là bất hợp pháp và phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng Căn cứ loại trừ trách nhiệm và loại bỏ sự suy đoán này chỉ được chấp nhận trong ba trường hợp là: trường hợp phòng vệ chính đáng57; trường hợp khẩn cấp58 và trường hợp tự cứu giúp chính bản thân cá nhân có hành vi59
Các hành vi xâm phạm quyền nhân thân chung cần phải đặt lên bàn cân xem xét trên tương quan đối trọng với các quyền khác cũng được bảo vệ theo quy định của pháp luật Trong đó, có rất nhiều quyền cũng được ghi nhận cùng trong Luật cơ bản, mang tính chất của Hiến pháp Ví dụ như: khi xem xét về quyền tuyệt đối của cá nhân được quy định tại Điều 2(1), cụ thể là quyền tự do của cá nhân, bao gồm cả các quyền tự do ngôn luận, tự do nghệ thuật, quyền được phát biểu chính kiến… Như vậy, khi xác định hành vi xâm phạm quyền nhân thân chung như: xâm phạm quyền riêng tư, xâm phạm danh dự, uy tín thông qua phát ngôn hoặc thông qua các hình thức biểu diễn của một chủ thể thì việc xác định tính bất hợp pháp cũng như xem xét xác định áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại cần thiết cân nhắc về tính ưu tiên của quyền nào, từ
đó, xác định tính bất hợp pháp cũng như trách nhiệm pháp lý của chủ thể có hành vi Sự cân đối và xác định tính ưu tiên này không được quy định chi tiết trong BLDS Đức mà được xem xét qua các án lệ cụ thể tại Tòa án
Trên thực tế, khi phát sinh hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân của
cá nhân, pháp luật Đức cũng xem xét về ý chí của chủ thể bị vi phạm trong trường hợp này Có thể hiểu như để xác định hành vi xâm phạm rõ ràng trên thực tế có phải là bất hợp pháp hay hợp pháp, còn phải hiểu rõ rằng cá nhân
có quyền bị xâm phạm đó có đồng ý, chấp thuận cho chủ thể có hành vi thực hiện hành vi hay không Có thể lấy ví dụ như trường hợp thân thể của cá nhân
bị xâm phạm bởi hành vi của người khác nhưng hành vi này không được xác định là bất hợp pháp do đó là công việc liên quan đến khám, chữa bệnh và người có thân thể là bệnh nhân tự nguyện, đồng thuận để bác sỹ hoặc người khác thực hiện hành vi này trên thân thể mình
57 Theo Điều 227 BLDS Đức
58 Theo Điều 208 và Điều 904 BLDS Đức
59 Theo Điều 229 và Đều 859 BLDS Đức
Trang 8Khi đã xác định rõ ràng hành vi gây thiệt hại trên thực tế là bất hợp pháp thì trách nhiệm mà chủ thể gây thiệt hại phải gánh chịu bao gồm: (i) yêu cầu chấm dứt và không tiếp tục thực hiện hành vi gây thiệt hại; (ii) bồi thường thiệt hại thực tế Các chủ thể gây thiệt hại có quyền tranh luận hoặc gửi yêu cầu phản tố đối với các trách nhiệm áp dụng đối với họ
Cơ sở pháp lý đối với yêu cầu chấm dứt và không tiếp tục thực hiện hành vi gây thiệt hại được thể hiện qua Điều 1004 BLDS Đức60 Theo đó, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu biện pháp cấm thực hiện hành vi (đang diễn ra và trong tương lai) và chấm dứt sự vi phạm Ví dụ như: nếu hình ảnh, thông tin của cá nhân được đăng tải trên phương tiện báo chí hoặc phương tiện khác chưa được sự đồng ý của người đó hoặc có những sai lệch so với sự thực, cá nhân có quyền yêu cầu chủ thể đăng tải chấm dứt đăng tải, sửa đổi thông tin, công khai xin lỗi
Theo Điều 823 BLDS Đức, khi các hành vi xâm phạm quyền nhân thân chung là bất hợp pháp, phải chịu trách nhiệm pháp lý thì chủ thể có hành vi phải bồi thường những thiệt hại có thể tính bằng tiền và cả những thiệt hại không tính toán được thành tiền Những thiệt hại không tính toán được thành tiền được áp dụng đối với trường hợp đối tượng bị xâm phạm là thân thể, sức khỏe và tự do tình dục của cá nhân.61 Tuy nhiên, bên cạnh quy định của pháp luật, trong trường hợp quyền nhân thân chung bị vi phạm, Tòa án có thể yêu cầu chủ thể có hành vi vi phạm bồi thường những thiệt hại không tính toán được thành tiền cả trong những trường hợp mà đối tượng bị xâm phạm không phải là ba trường hợp nêu trên
3 Kết luận
Có thể thấy, sự nhận diện về quyền nhân thân của cá nhân trong BLDS Việt Nam và BLDS Đức có nhiều điểm tương đồng Tuy nhiên, cách quy định
về các quyền này trong hệ thống các văn bản pháp luật là khác nhau
Tại Việt Nam, vấn đề liên quan đến dân sự được quy định và xác định trong BLDS như một văn bản luật gốc, luật chung điều chỉnh các quan hệ dân
60 Điều 1004 BLDS Đức quy định: “1.If the ownership is interfered with by means other than removal or retention of possession, the owner may require the disturber to remove the interference If further interferences are to be feared, the owner may seek a prohibitory injunction 2 The claim is excluded if the owner is obliged to tolerate the interference”
61 Theo Điều 252 (2) BLDS Đức
Trang 9sự trong xã hội, do đó, quy định về quyền nhân thân được liệt kê trong BLDS
Trong pháp luật Đức, quyền nhân thân có cơ sở pháp lý cùng với các quyền tuyệt đối được bảo vệ trong Luật cơ bản, có giá trị như Hiến pháp Các yếu tố cụ thể (các quyền cụ thể) được xác định thông qua các phán quyết của Tòa án dưới dạng án lệ Do đó, việc nhận diện các quyền không bị bó hẹp trong một danh sách có sẵn mà được xác định tùy vào từng vụ việc cụ thể Đây cũng là một nội dung mà pháp luật Việt Nam nên học tập, thông qua việc lựa chọn và sử dụng các án lệ để việc bảo vệ quyền nhân thân được mở rộng,
là cơ sở để bảo vệ quyền con người, các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo hộ
Về cơ bản, trong quan hệ dân sự, việc bảo vệ quyền nhân thân đều được thực hiện qua cơ chế bồi thường thiệt hại Theo đó, chủ thể có hành vi xâm phạm quyền nhân thân phải chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại vật chất và những tổn thất không tính giá trị tương đương bằng tiền (bù đắp tổn thất tinh thần) khi có đầy đủ các căn cứ do pháp luật quy định
Trang 10Thank you for evaluating AnyBizSoft PDF Splitter.
A watermark is added at the end of each output PDF file.
To remove the watermark, you need to purchase the software from
http://www.anypdftools.com/buy/buy-pdf-splitter.html