Việc tổ chức các lễ hội văn hóa không chỉ là sự kiện văn hóa mà cần coi nó là hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tại các địa phương, vì thế nhà nước cần có chính sách th[r]
Trang 1QUYỀN HƯỞNG THỤ CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA: NHÌN TỪ CÁC LỄ
HỘI VĂN HÓA HIỆN NAY TẠI VIỆT NAM
NCS Lê Quỳnh Mai
Học viện An ninh nhân dân
Dẫn nhập
Hiến pháp năm 2013 quy định tại Điều 41 “Mọi người có quyền hưởng thụ
và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa” Như vậy, hưởng thụ các giá trị văn hóa trở thành nội dung quan trọng của
quyền văn hóa, nhưng việc hưởng thụ các giá trị văn hóa được quy định trong các văn bản pháp luật khác nhau với các hình thức khác nhau như nghe, đọc, xem tác phẩm văn học, nghệ thuật, tham gia các lễ hội truyền thống… Người dân được hưởng thụ các giá trị văn hóa góp phần không ngừng xây dựng, bồi đắp, hoàn thiện những phẩm chất cao đẹp của con người, qua đó góp phần gìn giữ và bảo tồn các giá trị văn hóa của cộng đồng, dân tộc
1 Khái quát về quyền văn hóa và quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa
Quyền văn hóa và một loại quyền con người bao gồm các thành tố quyền sau: (i) quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa; (ii) quyền được thể hiện và thực hành văn hóa (các cá nhân, cộng đồng được bảy tỏ những sáng tạo mang tính cá nhân của mình hay của cộng đồng mình sinh sống); (iii) và quyền được tôn trọng và thừa nhận các phong tục, tập quán, lịch sử hay những sự khác biệt về văn hóa335 Khi đề cập đến quyền văn hóa, chủ yếu đề cập đến góc độ hưởng thụ quyền Sự hưởng thụ (thụ hưởng) quyền ở đây bao gồm sự sáng tạo thêm, sự tham gia của các chủ thể vào các hoạt động văn hóa trong cộng đồng
Các giá trị văn hóa (cultural value) là những sáng tạo, kết tinh của văn hóa trong tiến trình lịch sử phát triển của mỗi cộng đồng và mang yếu tố môi trường tự nhiên, môi trường xã hội đặc trưng của mỗi vùng miền, lãnh thổ Các giá trị văn hóa
mà mỗi người hướng tới đều mang yếu tố chân, thiện, mỹ để từ đó bồi đắp và hoàn thiện nhân cách cá nhân, phát triển ý thức hệ xã hội Giá trị văn hóa được tồn tại qua các di sản văn hóa (phong cảnh thiên nhiên, lễ hội…), chuẩn mực văn hóa, biểu tượng văn hóa… Việc bảo tồn các giá trị văn hóa luôn gắn liền với các chủ thể sở hữu các giá trị văn hóa này và được pháp luật quốc tế, pháp luật các quốc gia nhìn nhận ở góc độ quyền tác giả trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học hay việc cộng đồng đối với tác phẩm văn học dân gian, và gần đây là khôi phục, mở rộng các lễ hội văn hóa…
335 Bùi Hoài Sơn, bàn về khái niệm quyền văn hóa, http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/ly-luan-van-hoa-hoc/llvhh-nhung-van-de-chung/1779-bui-hoai-son-ban-ve-khai-niem-quyen-van-hoa.html, truy cập ngày 20/6/2019
Trang 2Để người dân có thể tiếp cận được các giá trị văn hóa hay không? Những thành tựu văn hóa truyền bá cho mọi người bằng cách nào? Đó là lí do đặt ra quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa, để người dân thông qua quyền có thể thụ hưởng những thành tựu, tinh hoa của các sáng tạo, của những thành tựu lưu truyền được đến ngày nay Và để hưởng thụ các giá trị văn hóa đặt ra trách nhiệm của nhà nước, các tổ chức xã hội và của mỗi người dân để cùng nhau tạo ra môi trường và các điều kiện cho các chủ thể có được quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa Nhà nước trở thành người bảo trợ quan trọng để tạo ra những hoạt động sinh hoạt văn hóa cho người dân như tổ chức lễ hội, chiếu phim lưu động, mở rộng các hoạt động sân khấu, truyền bá tác phẩm văn học – nghệ thuật… phổ biến tinh hoa văn hóa của đất nước ra thế giới và của thế giới tại Việt Nam Đây là nhiệm vụ trọng tâm của ngành văn hóa
Quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa được ghi nhận lần đầu tại Điều 27
Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 (UDHR) rằng “Mọi người có quyền
tham gia đời sống văn hóa cộng đồng, hưởng thụ nghệ thuật, và tham gia vào những lợi ích bắt nguồn từ sự tiến bộ về tri thức, đặc biệt là những phát hiện mới về khoa học…” và được tái ghi nhận tại Điều 15 ICESCR “…mọi người đều có quyền được tham gia vào đời sống văn hóa; được hưởng các lợi ích của tiến bộ khoa học
và các ứng dụng của nó” Bên cạnh đó, Điều 27 ICCPR quy định rằng “các tộc người thiểu số có quyền hưởng nền văn hóa của riêng họ” Mọi quốc gia đều viện
dẫn đến UDHR, nhưng không phải quốc gia nào cũng áp dụng ICESCR về quyền văn hóa hay ICCPR về quyền có nền văn hóa riêng của người dân tộc thiểu số Nhưng giá trị của các văn kiện này đã góp phần tạo khung pháp lý cho việc đảm bảo hưởng thụ các giá trị văn hóa, của việc thực thi quyền tại các quốc gia, là cơ sở
để chống lại sự phân biệt, kỳ thị hay các dạng phân biệt đối xử khác từ sự khác biệt
về văn hóa Điều này được tái khẳng định bởi UNESCO “Tất cả các cá nhân và
nhóm người đều có quyền được khác biệt/riêng biệt để coi họ là khác biệt và tôn trọng điều ấy” 336
Quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa được đưa ra nhằm mục đích bảo đảm quyền thưởng thức, khai thác các giá trị văn hóa của các chủ thể trong điều kiện bình đẳng về phẩm giá và không phân biệt đối xử Quyền được hưởng thụ các giá trị văn hóa được đề cập đến khi văn hóa truyền thống làm nảy sinh các giá trị thương mại như vấn đề y học cổ truyền, văn hóa dân gian, ẩm thực vùng miền, ngôn ngữ (tiếng dân tộc thiểu số), lối sống hay lễ hội dân gian… Các khía cạnh thương mại của văn hóa đã đặt ra vấn đề rằng thương mại các hoạt động văn hóa có tác động đến bảo tồn các giá trị văn hóa hay việc hưởng thụ các giá trị văn hóa của các chủ thể trong xã hội?
336 Điều 1.2 của Tuyên ngôn UNESCO về chủng tộc và thành kiến chủng tộc 1978
Trang 3Quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa là một quyền tự do, theo đó các chủ thể của quyền có thể lựa chọn có hay không việc thực hành quyền này, trong khi đó nhà nước có nghĩa vụ không can thiệp và phải thừa nhận, bảo đảm nhu cầu cảm nhận và khai thác giá trị văn hóa của cộng đồng và người dân
Để đảm bảo quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa của người dân thì nhà nước thì cần đảm bảo các yếu tố sau337:
- Tính sẵn có: Các giá trị văn hóa cần được hiện diện tại các sản phẩm, dịch
vụ văn hóa mở như: các lễ hội, thư viện, nhà bảo tàng, nhà hát, rạp chiếu phim, sân vận động… hay tín ngưỡng, phong tục và lịch sử của các quốc gia phải sẵn có để người dân có thể thưởng thức và hưởng lợi
- Khả năng tiếp cận: Thể hiện cơ hội và hiệu quả để các cá nhân, cộng đồng
hưởng thụ văn hóa một cách đầy đủ trong điều kiện vật chất và tài chính cho tất cả mọi người ở khu vực thành thị, nông thôn, miền núi mà không có sự phân biệt đối
xử nào
- Sự thừa nhận: Nhà nước cần có các quy định, chính sách và chiến lược để
người dân có thể hưởng thụ các giá trị văn hóa thông qua việc chấp nhận sự khác biệt về văn hóa được thể hiện tại hoạt động văn hóa đặc trưng
- Tính phù hợp: việc hưởng thụ các giá trị văn hóa cần quan tâm đến bối
cảnh hay phương thức tổ chức hoạt động văn hóa, kinh phí tổ chức và duy trì hoạt động văn hóa để đảm bảo rằng người dân được miễn phí hay cần phải cùng chia sẻ trách nhiệm
2 Quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa từ góc độ tham gia các lễ hội văn hóa của người dân và tổ chức các lễ hội văn hóa của cơ quan nhà nước
2.1 Khả năng tiếp cận lễ hội văn hóa của người dân
Các lễ hội truyền thống của nhân dân ta338 đã được khôi phục, tạo dựng và phát triển bền vững bên cạnh các lễ hội hiện đại339 và lễ hội du nhập vào trong nước
đã đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng tăng của người dân, làm cho khoảng cách địa lý không còn là vấn đề lớn, điều này tạo thuận lợi cho mọi người
có thể tìm hiểu về các loại hình giải trí, trong đó có lễ hội
Lễ hội văn hóa là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng từ cấp
xã đến cấp quốc gia Theo thống kê, hiện nay cả nước có khoảng 8.000 lễ hội340,
337 Bình luận chung số 21 của Ủy ban Liên hợp quốc về kinh tế, xã hội và văn hóa
338 Lễ hội truyền thống như Tết Nguyên Đán, lễ hội Yên tử (Quảng Ninh), lễ hội Côn Sơn Kiếp Bạc (Hải Dương), lễ hội đền Hùng (Phú Thọ), lễ hội Chùa Hương (Hà Nội), lễ hội Đền Trần (Nam Định), lễ hội Xuân Núi Bà Đen (Tây Ninh), lễ hội bà Chúa Xứ (An Giang)…
339 Như lễ hội Pháo hoa tại Đà Nẵng, lễ hội Hoa tại Đà Lạt, lễ hội đèn lồng Hội An…
340 Trung bình mỗi ngày diễn ra khoảng 22 lễ hội, tức là bình quân mỗi giờ, ở Việt Nam lại có một lễ hội được tổ chức Hà Nội có 1.095 lễ hội, Bắc Ninh có 442 lễ hội, Hải Dương có 723 lễ hội
Trang 4trong đó có 7039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%),
544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), các lễ hội khác chiếm 0,5%, các địa phương có nhiều lễ hội nhất trên cả nước là Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải Dương và Phú Thọ341 Trải qua hàng nghìn năm lịch
sử gắn liền với hành trình xây dựng, bảo vệ đất nước đã tạo nên văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc Dọc theo chiều dài đất nước, các lễ hội văn hóa được hình thành và phát triển, trở thành nơi lưu giữ những giá trị trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam
“Tháng giêng là tháng ăn chơi, tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè…”, có thể
nói, sau kỳ nghỉ lễ Tết cổ truyền là bắt đầu mùa lễ hội tại Việt Nam, người dân có nhu cầu đi lễ hội, đền chùa với tâm niệm cầu mong sự bình an, hạnh phúc, may mắn đến với bản thân, gia đình, người thân… đi kèm với nó là nhưng hoạt động mang tính cộng đồng hấp dẫn, thu nhút nhiều tầng lớp nhân dân với mọi lứa tuổi tham gia
Lễ hội Việt Nam bao giờ cũng hướng tới một đối tượng thiêng liêng cần suy tôn là nhân thần hay nhiên thần Với ý nghĩa khi tham gia vào các lễ hội sẽ giúp con người nhớ về nguồn cội, hướng thiện và nhằm tạo một cuộc sống tốt lành, yên vui Mỗi lễ hội có quy mô, bản sắc riêng để tạo sự hấp dẫn đối với nhân thân gia gia lễ hội
Trong thời gian qua, nhu cầu tìm đến các lễ hội văn hóa tại các vùng miền trên đất nước càng bức thiết đặt ra, đặc biệt là đến với các lễ hội văn hóa dân gian mang đậm bản sắc văn hóa của đất nước, con người Việt Nam Bởi khi đời sống vật chất và tinh thần được nâng lên thì nhu cầu nghỉ ngơi, thăm quan du lịch từ đó kết hợp với tham gia lễ hội là một xu hướng tất yếu, ngày càng tăng ở đại bộ phận người dân
Sự gia tăng về loại hình và quy mô tổ chức lễ hội có ý nghĩa tăng khả năng tiếp cận lễ hội văn hóa của người dân tại các vùng miền với khoảng thời gian khác nhau, từ đó giúp việc truyền bá, kết nối các giá trị, nét đẹp văn hóa mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Vì vậy, các cơ quan nhà nước khi tổ chức các lễ hội văn hóa cần quan tâm đến khả năng tiếp cận và tham gia lễ hội văn hóa của người dân
2.2 Tổ chức các lễ hội văn hóa tại các địa phương
Khôi phục và tổ chức các lễ hội như thế nào? ai là người phôi phục? lễ hội dành cho ai? là câu hỏi mà các chuyên gia về văn hóa, về bảo tồn các giá trị văn hóa đặt ra rất nhiều tại các cuộc hội thảo
Việc tổ chức các lễ hội văn hóa tác động tích cực đến đời sống chính trị, kinh
tế, xã hội của đất nước Là yếu tố quan trọng trong việc gắn kết cộng đồng, thúc đẩy kinh tế phát triển, là nơi gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến bạn bè quốc tế, phát
341 Xem thêm
https://laodong.vn/infographic/infographic-nhung-con-so-khung-ve-le-hoi-o-viet-nam-593938.ldo, truy cập ngày 2/5/2009
Trang 5triển ngành du lịch Việc phát triển du lịch gắn với lễ hội văn hóa đã và đang mang lại cho địa phương những lợi ích nhất định về kinh tế Đồng thời thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển, đặc biệt là các loại hình dịch vụ phục vụ du lịch Điều này sẽ giúp cho các địa phương có điều kiện để đầu tư kinh phí trùng tu, tôn tạo các di tích lịch
sử văn hóa di tích kiến trúc nghệ thuật để phục vụ tốt hơn cho ngành du lịch và góp phần quảng bá cho hoạt động lễ hội văn hóa trên địa bàn
Nhưng bên cạnh đó, xu hướng thương mại hóa lễ hội từ phía cơ quan nhà nước, các đơn vị tổ chức sự kiện và đến cả những từng cá nhân cụ thể là người hưởng thụ quyền khi đã và đang coi lễ hội là cơ hội để đầu tư, trục lợi làm biến tướng các hoạt động lễ hội như thu phí vào cửa, hành nghề mê tín dị đoan ngay lại
lễ hội, tự tăng giá các hoạt động kinh doanh dịch vụ phục vụ tại lễ hội… từ đó làm ảnh hưởng đến việc tiếp cận các giá trị văn hóa của người dân
Việc tổ chức các lễ hội văn hóa không chỉ là sự kiện văn hóa mà cần coi nó
là hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tại các địa phương, vì thế nhà nước cần có chính sách thu hút sự quan tâm đóng góp không chỉ của các tổ chức mà còn cần khuyến khích sự tham gia của thế hệ trẻ để thu hút sự sáng tạo, sự ứng dụng công nghệ mới trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa, để thế hệ trẻ tìm được tiếng nói và có cách tiếp cận giá trị văn hóa phù hợp với thời gian
Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán đó là tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng của mỗi người dân Nhưng các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo trong các lễ hội để vi phạm pháp luật, hoạt động lễ lấn át hội… Trong khi đó tâm linh là một hiện tương, một xu hướng xã hội mà chúng ta không thể ngăn cản được, vì vậy, để quản lý hiệu quả các hoạt động tâm linh ở các lễ hội văn hóa là một vấn đề phức tạp Hiện nay, dù đã có những quy định về phân cấp tổ chức, quản lý lễ hội ở Việt Nam Tuy nhiên, việc phân loại, phân cấp lễ hội hiện nay chưa được bài bản, nhiều lễ hội có sự chồng chéo giữa các chủ thể ở thời điểm khác nhau, nhiều lễ hội bị biến tướng, trần tục hóa gây phản cảm ảnh hưởng xấu đến nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc Sự lỏng lẻo trong khâu quản lý, xét duyệt công nhận lễ hội đã khiến cho việc mở lễ hội tràn lan, dẫn tới khó khăn trong công tác quản lý Nhiều lễ hội tổ chức vì mục đích kinh tế, biến tướng dưới nhiều hình thức cờ bạc, mê tín dị đoan không có ý nghĩa về mặt văn hóa…
Những thực trạng trên trong công tác tổ chức lễ hội văn hóa tại Việt Nam trong thời gian qua đã đặt ra cấp bách trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương về công tác tổ chức lễ hội, về đảm bảo an ninh trật tự tại lễ hội
và đảm bảo quyền của người dân khi tham gia lễ hội trong đó có quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa
Trang 6Kết luận
Các lễ hội này đã góp phần tạo ra văn hóa cộng đồng, tạo ra sự đồng thuận của tập thể về quy tắc ứng xử chung, về mục tiêu phát triển và xa hơn nữa là lợi ích quốc gia – dân tộc, là không gian văn hóa để các thế hệ gìn giữ và phát triển các giá trị văn hóa, là cơ hội tiếp cận, đối thoại với thần linh/vị thần để gửi gắm, nương tựa về tinh thần cho mỗi cá nhân và theo thời gian các đối tượng được tôn thờ trở thành biểu tượng văn hóa cho mỗi lễ hội Lễ hội là sản phẩm của quá khứ
và được truyền lại đến ngày nay và thế hệ sau, nó được người dân và cộng đồng tiếp nhận, thực hành thông qua việc tham gia lễ hội và bảo tồn lễ hội Nhưng với
số lượng lớn lễ hội như đã thống kê bên trên lại là con số nhìn ở góc độ các lễ hội tổ chức tràn lan, càng ngày mở rộng quy mô nhưng với hình thức tổ chức lại
có nhiều điểm tương tự đã tạo tâm lý nhàm chán của người dân khi tham gia, và
xu hướng thương mại hóa, trần tục hóa các lễ hội đặt ra công tác quản lý, tổ chức các lễ hội trong thời gian tới để nhà nước có trách nhiệm hơn với quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa của người dân