Khái niệm giáo dục trí tuệ Giáo dục trí tuệ cho trẻ lứa tuổi nhà trẻ là một quá trình sư phạm được tổ chức một cách đặc biệt nhằm hình thành những tri thức và kĩ năng sơ đẳng, phát triể
Trang 1PHẦN 2
PHÂN MÔN GIÁO DỤC HỌC TRẺ EM
A NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN SINH VIÊN CẦN NẮM VỮNG
NỘI DUNG 1: CÁC NHIỆM VỤ GIÁO DỤC CHO
TRẺ EM LỨA TUỔI NHÀ TRẺ
1 Giáo dục thể chất cho trẻ em lứa tuổi nhà trẻ
1.1 Khái niệm giáo dục thể chất
Giáo dục thể chất cho trẻ em lứa tuổi nhà trẻ là quá trình tác động nhiều mặt vào cơ thể trẻ, tổ chức cho trẻ vận động và sinh hoạt hợp lí nhằm bảo vệ và làm cho cơ thể trẻ được khỏe mạnh, phát triển hài hòa, cân đối, tạo cơ sở cho sự phát triển toàn diện của trẻ
1.2 Ý nghĩa của giáo dục thể chất cho trẻ em lứa tuổi nhà trẻ
- Đối với lứa tuổi nhà trẻ, giáo dục thể chất là một trong những nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu của gia đình và trường mầm non
- Giáo dục thể chất gắn liền với giáo dục trí tuệ cho trẻ
1.3 Nội dung và phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ lứa tuổi nhà trẻ
1.3.1 Tổ chức chế độ sinh hoạt hằng ngày hợp lí
Nội dung chủ yếu trong chế độ sinh hoạt của trẻ lứa tuổi nhà trẻ gồm:
- Chế độ ăn uống của trẻ
- Chế độ ngủ của trẻ
- Chế độ chơi tập của trẻ
Tổ chức ăn uống cho trẻ
- Để tăng cường sức khỏe, phát triển thể chất và mang lại niềm vui cho trẻ trong khi ăn uống cần phải đảm bảo một số yêu cầu sau đây:
+ Thức ăn, đồ uống phải đảm bảo đủ chất dinh dưỡng: prôtit, lipít, tinh bột, khoáng chất phù hợp với nhu cầu của trẻ ở từng độ tuổi (không ép trẻ ăn vượt quá nhu cầu dinh dưỡng cần thiết)
Trang 2+ Chế biến thức ăn phải đảm bảo vệ sinh, phù hợp với sự tăng trưởng của trẻ
+ Bú mẹ là tốt nhất đối với trẻ trong năm đầu Sáu tháng đầu chỉ cần sữa mẹ là trẻ có thể tăng trưởng và phát triển bình thường Khi thiếu hay không có sữa mẹ, người ta cho trẻ bú sam hay bú sữa nhân tạo Cả ba cách cho bú ấy cần tuân theo đúng chế độ và những yêu cầu vệ sinh, đảm bảo cho trẻ những chất dinh dưỡng cần thiết để phát triển
+ Sau thời gian bú mẹ, cần cho trẻ ăn thêm những thức ăn khác như: hoa quả tươi, rau tươi, sữa và các loại thức ăn bằng sữa được chế biến
từ lỏng đến đặc dần, từ mềm đến rắn dần Không nên cho trẻ ăn cơm quá sớm (trước 18 tháng), nhưng cũng không nên kéo dài thời gian cho trẻ ăn bột, ăn cháo (24 - 36 tháng), sẽ không có lợi cho hoạt động tiêu hóa của dạ dày
+ Để giữ ngon miệng cho trẻ, không những cần phải có khẩu phần
ăn uống đúng mà còn phải tuân theo những quy tắc sư phạm nhất định Từ những tháng đầu tiên, phải giúp trẻ tham gia tích cực vào việc bú, phải tạo
ra niềm vui cho trẻ khi được bú; không nên bắt trẻ bú khi nó chưa có nhu cầu; tránh những tác động làm trẻ sao nhãng bữa ăn; hình thành cho trẻ thói quen và kĩ năng ăn uống hợp vệ sinh; tập cho trẻ ăn thức ăn đa dạng về khẩu
vị và chất dinh dưỡng
- Quá trình tổ chức cho trẻ ăn uống và những yêu cầu cơ bản khi cho trẻ ăn uống
+ Trước khi cho trẻ ăn uống, cần vệ sinh chân tay, mặt mũi và đeo
yếm cho trẻ; thức ăn phải được nấu chín, không quá nóng, không quá nguội, lạnh; bát đĩa, thìa phải khô, sạch; bàn ghế phải vừa tầm thước của trẻ, kê ở nơi thoáng mát Một việc rất quan trọng là, trước khi cho trẻ ăn uống người lớn phải tạo cho trẻ tâm thế thoải mái, vui vẻ và có nhu cầu ăn uống
+ Trong quá trình cho trẻ ăn, người lớn tạo cho trẻ cảm giác ăn
ngon miệng, động viên trẻ ăn hết tiêu chuẩn, hình thành mối quan hệ thân thiết giữa trẻ với người lớn ngay trong khi cho trẻ ăn (nói chuyện với trẻ, âu yếm trẻ, khuyến khích, động viên trẻ ăn) Trong khi cho trẻ ăn người lớn cần hình thành cho trẻ một số biểu tượng về thức ăn, dụng cụ ăn uống (tên gọi, tác dụng của thức ăn, đồ uống) và một số thói quen văn hóa vệ sinh trong ăn uống (không chạy lung tung khi ăn uống, không vừa nhai vừa nói chuyện
Trang 3nhồm nhoàm, không đánh đổ thức ăn bừa bãi ) và hình thành cho trẻ một
số kĩ năng tự phục vụ: tự xúc cơm, tự uống nước Một điều cần quan tâm khi cho trẻ ăn là, người lớn phải quan sát, theo dõi những biểu hiện của trẻ trong khi ăn: trẻ có ăn ngon miệng hay không, nguyên nhân và những giải pháp cần thiết? Đối với những trẻ lười ăn, chưa tự xúc cơm, cần phải được giúp đỡ kịp thời
+ Sau khi trẻ ăn xong cần hướng dẫn trẻ vệ sinh mồm miệng, chân
tay và uống nước tráng miệng (uống đủ lượng nước cần thiết); không để trẻ vận động mạnh (chạy nhảy, nô đùa) cũng không nên cho trẻ đi ngủ ngay sau khi ăn, mà cần có một thời gian để trẻ xuôi cơm
Tổ chức cho trẻ ngủ
Giấc ngủ tạo ra sự cân bằng giữa hoạt động và nghỉ ngơi, giúp cho cơ bắp, thần kinh được thư giãn, phục hồi sau những vận động trước đó Trẻ càng nhỏ thì sức làm việc của hệ thần kinh càng yếu vì thế trẻ mau mệt mỏi Giấc ngủ sâu là liều thuốc bổ giúp trẻ bù đắp lại sức làm việc của não bộ
- Những yêu cầu cơ bản của việc tổ chức cho trẻ ngủ:
+ Khi xác định chế độ sinh hoạt hằng ngày, không chỉ tính đến lứa tuổi mà còn tính đến đặc điểm cá nhân của trẻ: trạng thái sức khỏe, kiểu hình thần kinh Những đứa trẻ có kiểu hình thần kinh yếu cần được nghỉ ngơi dài hơn Nếu trẻ thường ngủ trước giờ quy định theo chế độ hằng ngày, thì cần kéo dài giấc ngủ của nó hoặc quay lại chế độ của nhóm tuổi trước đó
+ Tạo mọi điều kiện khách quan và chủ quan thuận lợi để trẻ ngủ sâu, ngon giấc trong một thời gian hợp lí Không nên cho trẻ thức khuya cùng người lớn
+ Tập cho trẻ có thói quen ngủ đúng giờ, đã nằm là ngủ ngay (đây
là điều khó nhưng có thể rèn được)
- Quá trình tổ chức cho trẻ ngủ và những yêu cầu khi cho trẻ ngủ
+ Trước khi trẻ ngủ, người lớn cần tạo cho trẻ cảm giác thoải mái,
yên ổn (an toàn) khi đi ngủ Không để trẻ chơi đùa quá nhiều trước khi ngủ, không doạ nạt, kể chuyện gây sợ hãi cho trẻ trước khi ngủ
Chỗ ngủ của trẻ phải thoáng mát, hợp vệ sinh (mát mẻ về mùa hè, ấm
áp về mùa đông, không quá sáng, không quá tối, không hôi hám, ruồi
Trang 4muỗi ) Khi trẻ đi ngủ, nên đặt cho trẻ nằm theo tư thế mà nó quen (nằm ngửa, nằm nghiêng), không nên cho trẻ ngủ ở tư thế nằm sấp
+ Trong khi trẻ ngủ, để trẻ đi vào giấc ngủ một cách nhẹ nhàng, cần
tạo ra một không gian yên tĩnh, đầm ấm, an toàn cho trẻ Hát ru, sự vỗ về âu yếm là rất cần thiết khi cho trẻ ngủ
+ Sau giấc ngủ khi thức dậy, nhiều trẻ (nhất là trẻ nhỏ) thường
khóc (mếu máo) nếu không thấy người lớn ở gần Do vậy, người lớn cần phải có mặt trong thời gian trẻ thức tỉnh Khi trẻ thức tỉnh không nên cho trẻ dậy ngay mà cần cho trẻ nằm chơi một mình (nếu trẻ lớn thì đưa đồ chơi để trẻ tự chơi ở tư thế nằm, hoặc ngồi) Sau đó cho trẻ đi vệ sinh và rửa mặt mũi cho trẻ
Tổ chức vệ sinh cá nhân cho trẻ
Tập cho trẻ nhỏ biết giữ vệ sinh cá nhân là một việc làm khó nhưng rất cần thiết, nó giúp trẻ quen dần với nếp sống vệ sinh, sạch sẽ, ngăn nắp Những nếp sống này có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành và phát triển nhân cách sau này
Nội dung tổ chức vệ sinh cá nhân cho trẻ bao gồm: vệ sinh thân thể,
vệ sinh răng miệng, mắt, mũi, tai, họng; vệ sinh quần áo cho trẻ và tập cho trẻ đi tiểu tiện, đại tiện có giờ giấc, đúng nơi quy định Cụ thể là:
- Vệ sinh thân thể: Da của trẻ rất mỏng, dễ bị xây sát và nhiễm trùng
gây mụn nhọt, chốc lở, ngứa ngáy nên rất cần được tắm gội, rửa sạch hằng ngày, nhất là mùa hè Hàng tuần nên cắt móng tay, móng chân cho trẻ Tập cho trẻ 2 - 3 tuổi có thói quen rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh
- Vệ sinh răng miệng: Răng miệng lành lặn làm cho trẻ có cảm giác ăn
ngon miệng, tiêu hóa thức ăn tốt Ngược lại, nếu răng miệng bị sâu, lở loét
sẽ làm cho trẻ đau đớn, không muốn ăn Do vậy, để giữ cho răng miệng của trẻ được sạch sẽ, hằng ngày cần cho trẻ xúc miệng bằng nước muối, lau miệng bằng khăn mềm Khi trẻ có 4 răng hàm (cuối tuổi nhà trẻ) nên tập cho trẻ đánh răng vào buổi sáng (khi thức dậy) và buổi tối (trước khi đi ngủ) bằng bàn chải nhỏ, mềm Để giữ gìn răng miệng, không nên cho trẻ nhai vật cứng, uống nước đá, ăn kem hoặc thức ăn, đồ uống quá nóng
- Vệ sinh tai- mũi - họng: Tai, mũi, họng là các cơ quan rất quan trọng,
có liên quan mật thiết với nhau Nếu trẻ bị viêm mũi dễ gây viêm họng,
Trang 5viêm tai, viêm phế quản, viêm phổi Do vậy để bảo vệ tai, mũi, họng cho trẻ, người lớn cần:
+ Giữ ấm cổ, ngực và đôi chân cho trẻ về mùa đông
+ Không dùng vật cứng để ngoáy tai trẻ mà nên dùng tăm bông thấm nhẹ tai, mũi cho trẻ
+ Tiêm chủng và phòng bệnh cho trẻ em
- Vệ sinh mắt: Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn ở lứa tuổi này trẻ
thường bị đau mắt hột, đau mắt đỏ, nếu không biết giữ gìn vệ sinh khi rửa mặt cho trẻ (dùng khăn bẩn, nước bẩn, dùng chung chậu, khăn mặt với người đau mắt ) Để bảo vệ đôi mắt cho trẻ cần:
+ Dùng khăn sạch, nước sạch (đun sôi để nguội) lau mặt, rửa mắt cho trẻ (cần có khăn mặt, chậu rửa mặt riêng cho từng trẻ)
+ Chế độ ăn của trẻ phải đảm bảo đủ chất dinh dưỡng và nhỏ Vitamin A để phòng bệnh khô mắt, quáng gà cho trẻ
+ Không nên cho trẻ xem tranh, ảnh, đồ chơi ở những nơi không
đủ ánh sáng
+ Không cho trẻ ngồi gần ti vi, máy vi tính và xem ti vi, chơi vi tính (trò chơi điện tử ) quá lâu
- Vệ sinh quần áo, giày dép: Quần áo, giày dép là đồ dùng cần thiết để
bảo vệ sức khoẻ cho trẻ em Đối với trẻ em lứa tuổi nhà trẻ, việc vệ sinh quần áo, giầy dép cho trẻ cần đảm bảo những yêu cầu sau:
+ Quần áo, giày dép phải phù hợp với thời tiết từng mùa, hợp với tầm vóc của trẻ
+ Thay giặt hằng ngày bằng xà phòng, phơi nắng khô ráo (không để trẻ mặc quần áo, tã lót ẩm ướt)
+ Chất liệu mềm, phù hợp với khí hậu từng mùa Ví dụ: mùa hè nên
dùng vải bông, sợi, màu sáng, còn mùa đông nên dùng vải xốp, nhẹ, có khả năng giữ nhiệt tốt
+ Quần áo may đơn giản dễ mặc, dễ thay; giày dép vừa chân, dễ đi
- Tập cho trẻ thói quen đi tiểu tiện, đại tiện có giờ giấc, đúng nơi quy định
Trang 6Trẻ nhỏ thường đi tiểu tiện, đại tiện khi thức giấc hoặc ngay sau bữa
ăn Lúc mới sinh trẻ thường tiểu, đại tiện 4 -5 lần/ngày; lớn hơn, số lần đại tiện ít dần (2 lần/ngày, rồi 1 lần/ngày) Do đó, người lớn có thể rèn cho trẻ thói quen tiểu, đại tiện có giờ giấc và đúng nơi quy định Việc tập luyện này cho trẻ là khó, đòi hỏi người lớn phải kiên trì Người lớn không nên la mắng trẻ khi nó "tè", "phĩnh" ra quần, mà cần phải uốn nắn dần dần
Tổ chức chế độ chơi tập cho trẻ
Trong chế độ sinh hoạt hằng ngày, chế độ chơi tập vừa là nội dung vừa là phương tiện để giáo dục thể chất cho trẻ Đồng thời nó cũng là phương tiện, con đường để giáo dục trí tuệ, đạo đức cho trẻ Chế độ chơi tập chỉ có ý nghĩa đối với sự phát triển của trẻ khi nó được tính toán một cách hợp lí sự luân phiên giữa hoạt động tĩnh và hoạt động động; phát huy được sự tham gia tích cực của các vận động tay chân và trí não, phù hợp với đặc điểm phát triển của từng độ tuổi
Trong chế độ sinh hoạt hằng ngày cũng cần tính đến việc rèn luyện cho trẻ thích nghi tốt hơn với điều kiện sống Để trẻ thích nghi được với môi trường cần phải tổ chức cho trẻ hoạt động ngoài trời, được tiếp xúc với môi trường thiên nhiên (nắng; gió ) Qua tiếp xúc trực tiếp với môi trường thiên nhiên giúp trẻ thích ứng với môi trường và tăng sức đề kháng của cơ thể trẻ trước những tác động của môi trường Việc tập luyện phải diễn ra một cách
có hệ thống, thường xuyên và cần tính đến đặc tính cá nhân của trẻ
1.3.2 Tổ chức tập luyện và phát triển vận động cho trẻ tuổi nhà trẻ
Trong ba năm đầu, người lớn cần tạo điều kiện cho trẻ vận động một cách tích cực, phù hợp với độ tuổi Khi lập chương trình tập luyện, phát triển vận động cho trẻ cần quán triệt các nguyên tắc sau đây:
- Chọn các bài tập và trò chơi có tác động chung đến sự vận động của
cơ thể, đặc biệt là sự vận động tích cực của cơ bắp
- Chọn các bài tập và trò chơi gây hứng thú đối với trẻ, đồng thời đặt
ra nhiệm vụ vừa sức nhằm phát triển các vận động cơ bản
- Khi tổ chức những buổi tập luyện (dưới hình thức chơi tập hay các bài tập luyện) cần phải tính đến độ tuổi, thậm chí đến đặc điểm riêng của trẻ
để có những mức độ yêu cầu khác nhau
Trang 7-Tập luyện cho trẻ vận động một cách thường xuyên, có hệ thống từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Tạo điều kiện cho mọi trẻ đều được vận động Động viên, khuyến khích, kích thích trẻ tích cực vận động, song tránh để trẻ vận động quá sức, luân phiên giữa các hoạt động tĩnh và hoạt động động, không để trẻ bị mệt vì những vận động quá phức tạp, vượt quá khả năng của trẻ
- Dụng cụ tập luyện của trẻ phải phù hợp với vận động cần tập luyện cho trẻ, phải hấp dẫn, thu hút trẻ tích cực vận động (màu sắc đẹp, sặc sỡ, hình thức ngộ nghĩnh, có thể phát ra âm thanh ) và an toàn đối với trẻ (không sắc nhọn, không gây dị ứng da, an toàn khi trẻ "vô tình" ngậm )
2 Giáo dục trí tuệ cho trẻ em lứa tuổi nhà trẻ
2.1 Khái niệm giáo dục trí tuệ
Giáo dục trí tuệ cho trẻ lứa tuổi nhà trẻ là một quá trình sư phạm được
tổ chức một cách đặc biệt nhằm hình thành những tri thức và kĩ năng sơ đẳng, phát triển những năng lực và nhu cầu hoạt động trí tuệ cho trẻ em
2.2 Nội dung của giáo dục trí tuệ cho trẻ lứa tuổi nhà trẻ
2.2.1 Giáo dục và phát triển hoạt động nhận cảm cho trẻ lứa tuổi nhà trẻ
Căn cứ vào đặc điểm phát triển của trẻ trong từng độ tuổi, cú thể xác định nội dung chủ yếu của việc giáo dục và phát triển hoạt động nhận cảm cho trẻ lứa tuổi nhà trẻ như sau:
- Trong năm đầu:
+ Phát triển và giáo dục nhận cảm vận động (thông qua phát triển các vận động: lẫy, bò, ngồi, tập đi) và các cử động của bàn tay, ngón tay
+ Phát triển xúc giác (cảm giác da), thị giác, thính giác
+ Luyện tập cho trẻ biết phối hợp thị giác, thính giác với vận động
- Trong năm thứ hai và năm thứ ba:
+ Hình thành và phát triển năng lực nhận cảm như phân biệt được
độ lớn, màu sắc, hình dáng, âm thanh của đồ vật, vị trí không gian của đồ vật so với các đồ vật khác
+ Tiếp tục phát triển cảm giác vận động: bò, trườn, chạy, nhảy, sự linh hoạt và khéo léo của đôi bàn tay
Trang 8+ Hình thành "chuẩn nhận cảm" (màu sắc, mùi, vị), khả năng định hướng không gian (trước - sau, trên - dưới, trong - ngoài, cao - thấp) và khả năng định hướng thời gian (trong ngày: sáng, trưa, chiều, tối; hôm qua, hôm nay; trong tuần)
Những nội dung giáo dục trên đây cần được tiến hành thông qua việc
tổ chức các hoạt động đa dạng, phù hợp với lứa tuổi cho trẻ Dưới đây là một số con đường giáo dục và phát triển nhận cảm cơ bản cho trẻ:
- Tổ chức hoạt động giao lưu giao tiếp giữa trẻ với những người xung quanh Chúng ta biết rằng, ngay từ khi sinh ra, giao tiếp đã trở thành nhu cầu thiết yếu đối với trẻ Thoạt đầu là giao tiếp xúc cảm rồi giao tiếp bằng lời (lúc đầu là kết hợp giữa lời nói với cử chỉ, hành động, sau đó chủ yếu bằng lời), là con đường cơ bản phát triển hoạt động nhận cảm cho trẻ (phát triển thị giác, thính giác, khả năng định hướng không gian, thời gian)
- Tổ chức hoạt động với đồ vật cho trẻ trong các giờ chơi tập, chơi tự
do Thông qua hoạt động với đồ vật, được sự tổ chức hướng dẫn của người lớn, đứa trẻ nhận ra được các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng khách quan: hình dáng, màu sắc, tên gọi, âm thanh và vị trí không gian của vật này so với vật kia Nhờ đó trẻ có được biểu tượng đầy đủ hơn về đồ vật, hiện tượng
- Tổ chức cho trẻ thực hiện các bài luyện tập giác quan nhằm phát triển cảm giác, tri giác, vận động cho trẻ
Trong quá trình giáo dục và phát triển hoạt động nhận cảm cho trẻ, đồ dùng, đồ chơi , đặc biệt là sự tổ chức, hướng dẫn của người lớn giữ vai trò quan trọng Người lớn, cô nuôi dạy trẻ cần chọn đồ chơi, đồ vật phù hợp để hướng dẫn và cùng chơi với trẻ (khi cần thiết) Khi trẻ hoạt động với đồ vật, người lớn không chỉ giúp trẻ nắm được các thuộc tính bề ngoài của chúng (màu sắc, hình dáng, kích thước, âm thanh) mà cần giúp trẻ hiểu được cả chức năng sử dụng chúng trong sinh hoạt hằng ngày
Mặt khác, khi hướng dẫn trẻ luyện các giác quan, cần tập cho trẻ biết cách quan sát và nhận ra đồ vật, phân biệt vật này với vật kia theo một dấu hiệu nào đó (màu sắc, hình dáng, âm thanh), cho trẻ được trực tiếp thao tác với đồ vật (không làm thay trẻ), hướng dẫn bằng lời kèm theo minh hoạ, làm mẫu để trẻ bắt chước Nếu trẻ chưa tự thao tác được, người lớn cần cùng
Trang 9làm với trẻ; cần làm giàu vốn sống của trẻ bằng cách cho trẻ tham gia nhiều vào việc nghe, nhìn, ngửi, nếm, sờ mó, cầm nắm
2.2.2 Phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi nhà trẻ
Căn cứ vào sự tăng trưởng và phát triển của trẻ trong 3 năm đầu, có thể xác định nội dung chủ yếu của việc phát triển ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi nhà trẻ như sau:
- Trong năm đầu:
+ Hình thành và phát triển nhu cầu giao tiếp bằng ngôn ngữ cho trẻ + Tập cho trẻ nghe và phát âm những từ quen thuộc (đơn giản); dạy trẻ nói được một số từ và làm được một số động tác đơn giản theo lời nói của người lớn
- Trong năm thứ hai và năm thứ ba:
+ Củng cố và nâng cao nhu cầu giao tiếp bằng ngôn ngữ cho trẻ + Phát triển vốn từ, giúp trẻ hiểu và làm theo lời nói của người khác; dạy trẻ biết diễn đạt được ý muốn của mình bằng những câu đơn giản
Để phát triển ngôn ngữ cho trẻ tuổi nhà trẻ, người lớn cần:
- Hình thành và phát triển nhu cầu giao tiếp bằng ngôn ngữ cho trẻ càng sớm càng tốt
- Thường xuyên gần gũi, nói chuyện âu yếm với trẻ (ngay cả khi trẻ chưa biết nói)
- Tổ chức các hoạt động với đồ vật, tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc với người lớn để trẻ có dịp được nói, được nghe và hiểu khi người khác nói
- Trong hoạt động cũng như sinh hoạt cuộc sống, điều gì trẻ đã biết nên hỏi trẻ để trẻ tự trả lời Khi trẻ không trả lời được người lớn nói cho trẻ nhắc lại Khi trẻ muốn gì, người lớn yêu cầu trẻ nói, nếu trẻ chưa nói được thì người lớn nói cho trẻ nghe
- Tập cho trẻ nói rõ ràng, mạch lạc Nếu trẻ nói lắp hay nói ngọng thì cần phải uốn nắn kịp thời Không nên bắt trẻ nói những câu quá dài hoặc nói quá nhiều lần một câu
- Trong sinh hoạt hằng ngày, người lớn cần nói những câu thanh lịch,
có hình ảnh để trẻ bắt chước như: nói đúng từ, đúng câu, rõ ý, không nói trống không; lời nói có âm điệu, có hình ảnh
Trang 103 Giáo dục đạo đức cho trẻ em lứa tuổi nhà trẻ
3.1 Khái niệm giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm trang bị cho trẻ những hiểu biết sơ đẳng về những yêu cầu của chuẩn mực hành vi đạo đức trong các mối quan hệ ứng xử, rèn cho trẻ có tình cảm, hành vi và thói quen hành vi đúng đắn trong các mối quan hệ ứng xử hằng ngày Trên cơ sở đó hình thành cho trẻ những phẩm chất đạo đức, những nét tính cách của con người Việt Nam
3.2 Ý nghĩa của giáo dục đạo đức cho trẻ lứa tuổi nhà trẻ
Giáo dục đạo đức phải được diễn ra ngay từ khi đứa trẻ còn thơ bé Dưới tác động sư phạm của người lớn, ngay từ những tháng năm đầu tiên của cuộc đời, đứa trẻ đã có những hành vi ứng xử đúng đắn, trên cơ sở đó và cùng với nó đứa trẻ nhận ra cái gì là tốt, cái gì là xấu, cái gì được phép, cái
gì không được phép Nghĩa là trẻ có biểu tượng sơ đẳng về chuẩn mực hành
vi đạo đức Những biểu tượng đầu tiên ấy để lại dấu ấn trong suốt cuộc đời
Do vậy, cần phải xây dựng cho trẻ những khái niệm dù là sơ đẳng nhất nhưng chính xác và phản ánh được đạo đức của xã hội, mang bản sắc dân tộc Việt Nam Đồng thời người lớn cần phải uốn nắn những nhận thức, hành
vi, thái độ lệch chuẩn của trẻ ngay từ bé, tránh để những lệch lạc ấy trở thành thói quen khó sửa, khó uốn
3.3 Nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ lứa tuổi nhà trẻ
3.3.1 Phát triển xúc cảm lành mạnh cho trẻ
Xúc cảm lành mạnh là một nội dung cơ bản của giáo dục đạo đức cho trẻ em lứa tuổi nhà trẻ Khi trẻ vui sướng, thoả mãn và cảm thấy an toàn là lúc thuận lợi nhất để giúp trẻ ngoan và làm theo mong muốn của người lớn Người lớn không được để cho trẻ đói giao tiếp, mà cần triệt để tận dụng việc cho trẻ giao lưu xúc cảm với mẹ và những người xung quanh để tạo nên cảm xúc lành mạnh cho trẻ
Người lớn cần tạo điều kiện để trẻ được bộc lộ tình cảm của mình đối với người thân Tuyệt đối không được doạ nạt trẻ làm trẻ kinh hoàng Tập cho trẻ dễ làm quen, cởi mở với mọi người, giúp đỡ và dạy trẻ trong giao lưu cảm xúc Dạy trẻ biết vui mừng khi thoả mãn nhu cầu
Trang 113.3.2 Dạy trẻ biết yêu quý người thân, gắn bó với bạn bè và biết nghe lời người lớn
Để dạy trẻ biết yêu quý và gắn bó với người thân, cần:
- Phải thương yêu, quý mến trẻ bằng cả tấm lòng nhân hậu của mình
- Cần làm cho trẻ dần dần hiểu được những người thân trong gia đình (ông bà, cha mẹ) và cô giáo là những người trực tiếp chăm sóc trẻ hằng ngày và là những người dành cho trẻ những tình cảm thương yêu nhất, nên phải biết yêu quý ông bà, cha mẹ, cô giáo và biết nghe lời ông bà, cha mẹ,
cô giáo, như vậy mới là bé ngoan
- Người lớn không nên có thái độ coi thường trẻ, cấm đoán, trách mắng trẻ trước mặt người khác Nhưng cũng không được "bao cấp", làm thay, làm mất tính chủ động sáng tạo của trẻ
- Người lớn cũng cần tỏ rõ thái độ của mình trước những hành vi, việc làm của trẻ Nếu trẻ hư cần tỏ thái độ không đồng tình và ngăn chặn, khi trẻ bình tâm trở lại mới tìm lời giải thích cho trẻ hiểu Nếu trẻ còn quá nhỏ nên dùng biện pháp di chuyển chú ý của trẻ sang đối tượng khác để có thể khắc phục được tính bướng bỉnh của mình Không được dập tắt một cách thô bạo nhu cầu, hứng thú của trẻ bằng những mệnh lệnh hay roi vọt
Một điều cần lưu ý nữa là, lứa tuổi nhà trẻ, tâm lí cá nhân vị kỉ bộc lộ khá rõ, trẻ muốn sở hữu tất cả, không muốn nhường nhịn cho người khác, cho bạn bè Thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày, những giờ chơi - tập, người lớn dạy trẻ biết nhường nhịn, giúp đỡ lẫn nhau, không tranh giành đồ dùng, đồ chơi của bạn, biết cùng chơi với bạn
3.3.3 Giáo dục cho trẻ một số kĩ năng tự phục vụ và thói quen sinh hoạt cần thiết
Ngay từ lứa tuổi nhà trẻ, nhất là khi trẻ 2 - 3 tuổi, ta có thể hình thành cho trẻ một số kĩ năng tự phục vụ:
- Biết tự xúc cơm, uống nước;
- Biết rửa tay, giữ gìn quần áo sạch sẽ, gọn gàng;
- Biết lấy, cất đồ dùng, đồ chơi vào nơi đúng quy định, biết giữ gìn đồ dùng, đồ chơi
Trang 12Những kĩ năng này mới hình thành ở trẻ thường khó khăn và chưa bền vững, vì vậy người lớn phải thường xuyên củng cố thông qua những việc làm cụ thể của trẻ Nếu cần, người lớn cần phải làm mẫu cho trẻ làm theo Đồng thời phải có sự thống nhất giữa gia đình và nhà trường trong việc rèn luyện, củng cố kĩ năng tự phục vụ cho trẻ Tránh tình trạng cô giáo thì cố gắng tạo điều kiện để trẻ tự phục vụ, trong khi đó, ở nhà bố mẹ lại muốn
"làm thay" cho xong chuyện, để còn làm việc khác
Thông qua những việc làm cụ thể, thường xuyên người lớn tập cho trẻ những thói quen sinh hoạt cần thiết: thói quen tự phục vụ, thói quen vệ sinh, gọn gàng, ngăn nắp
4 Giáo dục thẩm mĩ cho trẻ lứa tuổi nhà trẻ
4.1 Khái niệm giáo dục thẩm mĩ
Giáo dục thẩm mĩ cho trẻ em lứa tuổi nhà trẻ là một quá trình sư phạm nhằm hình thành và phát triển ở trẻ em năng lực ban đầu về cảm thụ và nhận thức đúng đắn cái đẹp trong đời sống sinh hoạt, xã hội, trong tự nhiên và trong nghệ thuật, giáo dục trẻ lòng yêu cái đẹp, sống theo cái đẹp và biết tạo
ra cái đẹp trong cuộc sống
4.2 Ý nghĩa của giáo dục thẩm mĩ cho trẻ lứa tuổi nhà trẻ
Giáo dục thẩm mĩ là một trong những mặt quan trọng trong giáo dục con người phát triển toàn diện, do vậy trong giáo dục mầm non nói chung, giáo dục trẻ em lứa tuổi nhà trẻ không thể thiếu giáo dục thẩm mĩ
Tuổi nhà trẻ là giai đoạn phát triển nhanh nhất các chức năng tâm lí, là giai đoạn hình thành cơ sở ban đầu về nhân cách Trong đó phải kể đến những cơ sở để hình thành thị hiếu và năng khiếu thẩm mĩ sau này
Đặc tính của cái đẹp và đặc tính của tuổi thơ rất gần nhau, nên trẻ nhỏ đến cái đẹp như đến với những gì thân thiết, quý mến Trẻ tích cực, vui sướng khi được sống trong thế giới của cái đẹp: đồ dùng, đồ chơi đẹp, ngộ nghĩnh, màu sắc, âm thanh của cảnh vật xung quanh hấp dẫn Vì vậy, nếu không giáo dục cái đẹp cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ là bỏ lỡ một cơ hội trong giáo dục con người Có thể coi đó là một sự lãng phí đáng kể trong việc bồi
bổ những năng khiếu, những phẩm chất tốt đẹp cho tâm hồn trẻ thơ
Trang 13Mặt khác, tình yêu cái đẹp không phải là cái bẩm sinh mà nó được nảy sinh và phát triển trong quá trình giáo dục Một em bé sẽ không thể có được tình yêu cái đẹp nếu chúng ta không tạo điều kiện để em bé đó tiếp xúc với nhiều cái đẹp xung quanh, không làm cho những thuộc tính sinh động và phong phú của cái đẹp tràn vào các giác quan của trẻ để ghi lại trong tâm trí
nó những ấn tượng tươi mát, dễ chịu; nếu chúng ta không biết khêu gợi ở trẻ những xúc cảm tốt lành về con người và làm thức dậy trong trẻ những gì thân thiết, gần gũi khi tiếp xúc với cái đẹp
Giáo dục thẩm mĩ liên quan mật thiết với các mặt giáo dục nhân cách con người phát triển toàn diện, đặc biệt là giáo dục đạo đức và giáo dục trí tuệ
4.3 Nhiệm vụ giáo dục thẩm mĩ cho trẻ lứa tuổi nhà trẻ
4.3.1 Cung cấp và làm giàu ấn tượng xung quanh cho trẻ, trên cơ sở đó phát triển tri giác thẩm mĩ cho chúng
Quá trình phát triển thẩm mĩ của con người diễn ra ngay từ khi còn nhỏ Khi mà thị giác và thính giác là phương tiện cơ bản giúp trẻ liên hệ với thế giới bên ngoài Nhờ cặp mắt và đôi tai đứa trẻ tích luỹ được những ấn tượng về thế giới
Trong quá trình cho trẻ tiếp xúc với thế giới xung quanh, người lớn cần dạy trẻ biết nhìn và phát hiện ra vẻ đẹp của thế giới xung quanh (của đồ chơi, đồ dùng, của thiên nhiên và cuộc sống con người) Đối với trẻ em lứa tuổi nhà trẻ, đây là một việc làm khó khăn, vì trẻ chưa ý thức được cái đẹp trong cuộc sống xung quanh, chưa có tiêu chuẩn đánh giá cái đẹp mà chỉ là
sự nhận biết cảm tính vẻ bề ngoài của sự vật hiện tượng
4.3.2 Bước đầu phát triển ở trẻ năng lực cảm xúc thẩm mĩ và hứng thú với nghệ thuật
Những cảm xúc thẩm mĩ của con người không phải là những cảm xúc đơn giản, chúng diễn ra trên cơ sở những tri thức mà con người có được về cái đẹp Bởi vậy, quá trình tiếp thu tri thức về cái đẹp và hình thành cảm xúc thẩm mĩ diễn ra một cách thống nhất, liên tục Khi cảm xúc thẩm mĩ được hình thành sẽ thúc đẩy con người hoạt động tích cực hơn, lạc quan hơn trong cuộc sống Vì vậy, hình thành và phát triển cảm xúc thẩm mĩ cho trẻ
là một nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục thẩm mĩ cho trẻ lứa tuổi nhà trẻ
Trang 14Ở lứa tuổi nhà trẻ, trẻ em thường biểu hiện cảm xúc của mình một cách trực tiếp: qua nụ cười, qua những phản ứng, qua những câu nói biểu lộ
sự thích thú hay không thích Do vậy, người lớn có thể suy đoán được xúc cảm, tình cảm của trẻ, qua đó mà khơi sâu và làm phong phú những cảm xúc dương tính và uốn nắn những cảm xúc âm tính cho trẻ, giúp cho sự phát triển cảm xúc của trẻ phù hợp với nhiệm vụ giáo dục thẩm mĩ
4.3.3 Bước đầu giáo dục thị hiếu thẩm mĩ và phát triển năng lực tạo hình cho trẻ
Thị hiếu thẩm mĩ của trẻ nhỏ thường thể hiện ở việc đánh giá cái đẹp, phân biệt cái xấu, cái đẹp Trường mầm non cần dạy trẻ biết phân biệt cái đẹp với cái không đẹp, cái thô kệch và xấu xí Cần giúp trẻ biết trình bày rõ tại sao thích bài hát, bức tranh, truyện cổ tích hay một nhân vật nào đó trong tác phẩm Phải giúp trẻ biết cảm thụ cái đẹp ở xung quanh và biết tạo ra cái đẹp trong cuộc sống hằng ngày Một bông hoa đẹp trong khóm hoa, một lớp học sạch sẽ, ấm cúng trang trí trong nhà phải được trẻ yêu quý Trẻ không vứt rác bừa bãi, biết xếp gọn đồ chơi, đồ dùng để luôn giữ được vẻ đẹp của trường, lớp, đem lại nguồn vui cho mọi người
Thị hiếu thẩm mĩ của mỗi trẻ có sự khác nhau Vì vậy, trong việc giáo dục thị hiếu thẩm mĩ cho trẻ, người lớn, cô giáo cần tôn trọng và phát huy ý thích thẩm mĩ lành mạnh của trẻ, tránh gò bó, áp đặt làm thui chột óc thẩm
mĩ và thị hiếu thẩm mĩ của trẻ
Hoạt động tạo hình rất hấp dẫn với trẻ, vì sản phẩm tạo thành với màu sắc, đường nét, hình khối, dáng vẻ đã tác động trực tiếp đến thị giác và xúc giác của trẻ Ngay từ những năm tháng đầu tiên của đời người, đôi mắt trẻ thơ đã hoạt động để tiếp nhận ánh sáng, màu sắc Đứa trẻ 3 - 4 tháng tuổi đã cảm thấy thoả mãn khi nhìn thấy màu sắc rực rỡ từ những dải lụa hay chùm bóng treo trên nôi, 5 - 6 tháng tuổi đã biết vờn theo đồ vật, đồ chơi có màu sắc và có hình thù hấp dẫn Trẻ 3 tuổi đã có thể nhận ra con gà, con vịt, hay những người trong tranh và bằng cách đó mà trẻ đi vào thế giới tạo hình một cách tự nhiên Do vậy, người lớn cần chú ý giáo dục và hình thành năng lực tạo hình cho trẻ, trước hết là hướng dẫn trẻ cảm thụ được vẻ đẹp của những sản phẩm tạo hình, sau đó tập cho trẻ một số kĩ năng nặn, vẽ những thứ mà trẻ yêu thích
Trang 15NỘI DUNG 2: CÁC NHIỆM VỤ GIÁO DỤC CHO
TRẺ EM LỨA TUỔI MẪU GIÁO
1 Giáo dục thể chất cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo
1.1 Khái niệm về giáo dục thể chất
Giáo dục thể chất là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển toàn diện Đó là quá trình tác động chủ yếu vào cơ thể trẻ (thông qua việc rèn luyện cơ thể và hình thành, phát triển các kỹ năng, kỹ xảo vận động), tổ chức sinh hoạt và giữ gìn vệ sinh nhằm làm cho cơ thể phát triển hài hòa, cân đối, sức khỏe được tăng cường làm cơ sở cho sự phát triển toàn diện nhân cách
1.2 Ý nghĩa của giáo dục thể chất cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo
- Giáo dục thể chất cho trẻ em trước tuổi đến trường phổ thông có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Trước hết vì cơ thể trẻ ở lứa tuổi này đang phát triển mạnh mẽ Hệ thần kinh, hệ cơ, xương hình thành nhanh, bộ máy hô hấp đang hoàn thiện Cơ thể trẻ còn non yếu, dễ bị phát triển lệch lạc, mất cân đối Nếu không được chăm sóc, giáo dục thể chất đúng đắn có thể gây nên sự thiếu sót trong sự phát triển cơ thể của trẻ em mà sau này không thể khắc phục được
- Sự phát triển thể chất có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí, sự phát triển toàn diện nhân cách của trẻ Có thể nói, sự thành công trong bất cứ hoạt động nào của trẻ đều phụ thuộc vào trạng thái sức khỏe của nó
+ Giáo dục thể chất có mối quan hệ chặt chẽ với giáo dục thẩm mĩ.Cơ thể khỏe mạnh làm cho trẻ yêu đời và tri giác cái đẹp sâu sắc hơn, tự trẻ có khả năng tạo ra cái đẹp trong mọi hoạt động và đời sống; cơ thể trẻ phát triển cân đối, mạnh mẽ là một biểu hiện cao của tính thẩm mĩ Chính bản thân cuộc sống, sinh hoạt ngăn nắp, vệ sinh chặt chẽ cũng là những cơ
sở để giáo dục thẩm mĩ cho trẻ
+ Giáo dục thể chất có mối liên hệ chặt chẽ với giáo dục lao động Thể dục giúp cho trẻ có sức khỏe dẻo dai, có các thao tác vận động chính xác, có cảm giác tốt về nhịp điệu, định hướng không gian và một số khả năng khác
Trang 16- Ở nước ta hiện nay, tình hình sức khỏe của trẻ em có nhiều vấn đề đáng lo ngại Nhiều trẻ mắc bệnh còi xương, suy dinh dưỡng, các bệnh đường hô hấp, các bệnh đường ruột các điều kiện đảm bảo và chăm sóc sức khỏe trẻ em cho nhiều thiếu thốn Cơ sở vật chất ở các trường và gia đình còn quá chật hẹp, chưa đảm bảo vệ sinh môi trường cho trẻ sinh hoạt, học tập Bởi vậy, giáo dục thể chất cho trẻ em ở nước ta cần được tiến hành mạnh mẽ và toàn diện với sự quan tâm và trách nhiệm của toàn xã hội
1.3 Nhiệm vụ giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo
Mục tiêu của giáo dục mẫu giáo là nhằm hình thành những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa, làm cho trẻ phát triển hài hòa về tinh thần, đạo đức và thể lực Để thực hiện mục tiêu đó, giáo dục thể chất trong trường mẫu giáo có những nhiệm vụ cụ thể sau:
a Bảo vệ tính mạng và tăng cường sức khỏe, đảm bảo sự tăng trưởng hài hòa của trẻ
- Bảo đảm chế độ dinh dưỡng, chế độ sinh hoạt (ăn, ngủ, thức) hợp lí, tích cực phòng bệnh, phòng tai nạn, làm tốt công tác vệ sinh môi trường, sinh hoạt và thân thể cho trẻ, không để trẻ mệt mỏi vì hoạt động quá sức hoặc thần kinh căng thẳng
- Tổ chức rèn luyện cơ thể trẻ một cách hợp lí nhằm tăng cường sức khỏe, phát triển cân đối hình dạng và các chức năng của cơ thể, tăng cường khả năng thích ứng của trẻ với những thay đổi của thời tiết hoặc môi trường bên ngoài
b Rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo vận động cơ bản và những phẩm chất vận động
- Giúp trẻ hình thành, phát triển toàn diện các kĩ năng, kĩ xảo vận động cơ bản (đi, chạy, nhảy, leo trèo ), rèn luyện năng lực phối hợp cảm giác (chủ yếu là thị giác và thính giác), phối hợp vận động của các bộ phận
cơ thể với nhau (đầu, tay, chân, mình), vận động tĩnh của tay (cánh tay, cổ tay, ngón tay), năng lực định hướng trong vận động (phải, trái, trên, dưới, đằng trước, đằng sau), trình tự các vận động
- Từng bước rèn luyện những phẩm chất của vận động, giúp cho trẻ vận động ngày càng nhanh nhẹn, linh hoạt, dẽo dai, gọn gàng, ngày càng
Trang 17c Giáo dục nếp sống có giờ giấc, có thói quen và kĩ năng, kĩ xảo vệ sinh
- Trường mẫu giáo có nhiệm vụ giáo dục cho trẻ nếp sống có giờ giấc Rèn luyện cho trẻ thói quen ăn, ngủ, thức đúng giờ và dễ dàng thích nghi khi chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác (ăn, ngủ, chơi, lao động v.v )
- Về giáo dục kĩ năng, kĩ xảo vệ sinh có ý nghĩa lớn trong việc bảo vệ sức khỏe và tăng cường thể lực cho trẻ
Có nhiều kĩ năng, kĩ xảo vệ sinh về thân thể, ăn uống, quần áo và vệ sinh môi trường có thể hình thành ở trẻ và từng bước trở thành thói quen của chúng
1.4 Nội dung và phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo
a Giáo dục các kĩ xảo và thói quen vệ sinh
Giáo dục các kĩ xảo và thói quen vệ sinh là một khâu quan trọng trong
hệ thông giáo dục thể chất và trong việc hình thành nhân cách Trong trường mầm non, có thể chia thành các nhóm kĩ xảo và thói quen vệ sinh sau đây:
- Vệ sinh thân thể: có thói quen rửa ráy và giữ gìn sạch sẽ thân thể (mặt, mũi, đầu, tóc, chân tay) Không cho tay, đồ chơi hoặc bất kì một vật lạ nào vào mồm; biết rửa tay, súc miệng, biết dùng khăn mùi xoa
- Vệ sinh ăn uống: rửa tay trước khi ăn, nhai kĩ, không bốc tay, làm rơi vãi thức ăn trong khi ăn, ăn xong rửa tay, súc miệng, lau mồm
- Vệ sinh môi trường: tiểu tiện đúng chỗ; không vứt rác bừa bãi, không làm bẩn môi trường
Nội dung các kĩ xảo ở các nhóm trẻ khác nhau, tăng dần lên theo tính chất phức tạp của kỹ xảo, mức độ độc lập trong việc lĩnh hội
Kỹ xảo và thói quen văn hóa - vệ sinh phản ánh yêu cầu của xã hội phù hợp với những tiêu chuẩn hành vi văn hóa - đạo đức Ở mức độ đáng
kể, phần lớn kỹ xảo, thói quen văn hóa - vệ sinh được hình thành ở lứa tuổi mẫu giáo Để hình thành tốt kỹ xảo và thói quen văn hóa - vệ sinh cần phải:
- Sắp xếp các thao tác tạo nên hành động theo một trình tự nhất định, hợp lí
- Lập kế hoạch trình tự các hành động
- Ở giai đoạn đầu phải lặp đi lặp lại các kĩ năng trong khoảng thời gian cách nhau không xa Muốn vậy phải cho trẻ thường xuyên luyện tập với trình tự thực hiện nhất định của hành động
Trang 18- Từng bước giúp trẻ ý thức được ý nghĩa và sự hợp lý của các hành động văn hóa - vệ sinh, từ đó hình thành nhu cầu và thói quen văn hóa - vệ sinh
- Người lớn phải thực hiện mẫu mực tất cả những yêu cầu về văn hóa -
vệ sinh trước trẻ và nhắc nhở trẻ làm như người lớn
- Phối hợp chặt chẽ với gia đình để tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ được vận dụng, củng cố những kĩ năng đó ở gia đình,nhanh chóng hình thành kĩ xảo và thói quen vệ sinh Tập thể trẻ cũng là một yếu tố quan trọng của việc giáo dục kĩ xảo và thói quen vệ sinh Tập thể và các trẻ xung quanh
là tấm gương tốt, thường xuyên giúp trẻ đối chiếu, so sánh với mình và có
sự giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn
b Tổ chức cho trẻ ăn
- Trong chế độ sinh hoạt hàng ngày, việc tổ chức chế độ ăn uống hợp
lý có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển bình thường của trẻ
- Cơ thể trẻ lứa tuổi mẫu giáo đang ở giai đoạn phát triển nhanh nên đòi hỏi khẩu phần ăn đầy đủ về số lượng và chất lượng Ăn uống thiếu thốn hay quá no đều hạn chế sự phát triển, gây rối loạn tiêu hóa và quá trình trao đổi chất, do đó ảnh hưởng xấu đến toàn bộ sự phát triển của trẻ
- Chế độ ăn uống hợp lý được xây dựng trên cơ sở mức năng lượng cần thiết ở độ tuổi (quy ra Calo), sự kết hợp các thành phần thức ăn theo cấu tạo các thành phần hóa học (protit, lipit, gluxit, muối khoáng, vitamin), sự
đa dạng của các loại thức ăn và cách nấu nướng
- Cùng với việc xây dựng chế độ ăn uống hợp lí, việc tổ chức bữa ăn với các phương thức hợp lí là vấn đề rất quan trọng Do đó, việc chuẩn bị cho trẻ có trạng thái tâm lý tốt, yên tĩnh, thanh thản trước khi ăn và tổ chức cho trẻ ăn ngon miệng là rất cần thiết
- Phòng ăn sạch sẽ, thoáng mát Bàn ghế sắp xếp thuận tiện cho trẻ ngồi xuống và đứng lên
- Bàn ăn, bát đĩa phù hợp với lứa tuổi và được sắp xếp có thẩm mĩ, giản tiện
- Trước khi ăn khoảng nửa giờ cần kết thúc các buổi đi dạo, các trò chơi kích thích Thời gian này cần các trò chơi, các giờ học yên tĩnh Tránh gây ra những kích thích căng thẳng thần kinh, gây ra nhiều ấn tượng
Trang 19- Cho trẻ rửa tay, rửa mặt trước khi ăn Khi ngồi vào bàn được ăn ngay không phải chờ đợi lâu
- Hình thành cho trẻ các kĩ xảo ăn có văn hóa
Như vậy, phương pháp tổ chức cho trẻ ăn đúng đắn phải nhằm giáo dục cho trẻ tính độc lập và những thói quen văn hóa - vệ sinh thích hợp với lứa tuổi Đây cũng là một quá trình lâu dài cần phải nêu gương và chỉ dẫn cho cẩn thận để trẻ thực hiện đúng, ngày càng hoàn hảo và trở thành thói quen
- Phát hiện nguyên nhân trẻ ăn không ngon và đưa ra các biện pháp hợp lý để khắc phục Không nên ép buộc hay dọa nạt làm cho trẻ sợ sệt, tạo tâm lý tiêu cực đối với việc ăn của trẻ
- Thường xuyên trao đổi với cha mẹ về vấn đề ăn uống của trẻ để cùng phối hợp cho việc xây dựng chế độ ăn hợp lí cho trẻ và có tác dụng giáo dục hành vi và thói quen văn hoá khi ăn
c Tổ chức cho trẻ ngủ
Giấc ngủ của trẻ có ý nghĩa lớn trong việc phục hồi khả năng làm việc của các tế bào thần kinh Một giấc ngủ sâu, đủ độ dài là phương tiện cơ bản
để ngăn ngừa tình trạng quá mệt mõi của hệ thần kinh và cơ thể
Tình trạng ngủ nông, thường xuyên ngủ không đủ giấc có liên quan đến sự rối loạn chức năng của hệ thần kinh Một giấc ngủ tốt vừa là một trong những điều kiện căn bản vừa là một trong những dấu hiệu tốt của sức khoẻ trẻ em
Từ lúc mới sinh cho tới 7 tuổi các thông số khác nhau về giấc ngủ có
sự thay đổi: sự hình thành giấc ngủ, độ dài chung của giấc ngủ, số giấc ngủ trong một ngày đêm,nhịp độ luân phiên giữa ngủ và thức.Vì vậy, cần hết sức chú trọng đến việc tổ chức cho trẻ ngủ
Trang 20+ Cần tạo ra trạng thái yên tĩnh cần thiết trước giờ ngủ (tránh những tác động kích thích mạnh, làm ồn, không để ánh sáng chói chiếu vào phòng ngủ, phòng ngủ phải thoáng khí)
+ Cho trẻ ngủ đúng giờ để tạo ra phản xạ có điều kiện thuận lợi cho việc rèn luyện thói quen ngủ nhanh, ngủ ngon giấc
- Chăm sóc cho trẻ lúc ngủ
+ Đặt cho trẻ ngủ với thái độ ân cần, giúp trẻ nằm đúng tư thế + Giúp đỡ riêng cho các trẻ yếu
+ Đảm bảo yên tĩnh để trẻ có thể có những giấc ngủ ngon giấc
- Trường mẫu giáo cần phối hợp với gia đình để tổ chức cho trẻ ngủ buổi tối ở gia đình được tốt Giúp cho gia đình hiểu rõ các phương pháp đúng đắn để tổ chức giấc ngủ cho trẻ
d Sự phát triển vận động
Giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo được thực hiện trong hai nhóm phương pháp: nhóm thứ nhất về chế độ sinh hoạt hàng ngày và nhóm thứ hai thuộc về các vận động của trẻ
- Vận động giữ vị trí quan trọng trong giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo Vận động làm cho các cơ bắp và toàn bộ cơ thể hoạt động, do đó tăng cường hoạt động của các hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, tăng cường sự trao đổi chất và sức khoẻ Sự hoàn thiện các vận động còn có ý nghĩa đối với sự phát triển tâm lí Trong các trò chơi vận động, trong các tiết học thể dục, vận động khi đi dạo, trẻ được giáo dục nhiều phẩm chất quý giá: sự định hướng trong không gian, nhanh nhẹn, chính xác, vận động khéo léo, mở rộng quan
hệ trong tập thể
- Sự phát triển vận động gắn chặt với sự phát triển toàn bộ cơ thể và tâm lí của trẻ Bởi vậy, khi lập chương trình giáo dục thể chất nhằm phát triển vận động cần chú ý:
+ Ưu tiên lựa chọn các bài tập, trò chơi vận động lao động có tác dụng chung đến cơ thể và động viên nhiều cơ bắp tham gia
+ Chọn các bài tập, trò chơi gây hứng thú và đồng thời đặt ra cho trẻ một nhiệm vụ vừa sức
Trang 21+ Giáo dục kĩ năng hành động và vận động trong tập thể
- Sự phát triển vận động được thực hiện thông qua nhiều hình thức phong phú, phù hợp với đặc điểm của trẻ mẫu giáo như: trò chơi vận động, thể dục buổi sáng, tiết học thể dục, dạo chơi, các trò chơi thể thao, lao động Mỗi hình thức vận động có ý nghĩa khác nhau đối với sự phát triển thể chất của trẻ
Do đó, cần chú trọng đến sự phối hợp các hình thức vận động một cách đa dạng
và hợp lý trong quá trình tổ chức vận động cho trẻ mẫu giáo
2 Giáo dục trí tuệ cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo
2.1 Khái niệm về giáo dục trí tuệ cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo
Giáo dục trí tuệ là một quá trình sư phạm được tổ chức đặc biệt nhằm hình những tri thức và kỹ năng sơ đẳng, những phương thức hoạt động trí tuệ sơ đẳng, phát triển những năng lực và nhu cầu hoạt động trí tuệ ở trẻ
em Mục đích cơ bản của giáo dục trí tuệ là nâng cao trình độ phát triển chung của trẻ mẫu giáo
- Sự phát triển trí tuệ là toàn bộ những thay đổi về số lượng và chất lượng diễn ra trong hoạt động tư duy của trẻ gắn liền với lứa tuổi, với kinh nghiệm phong phú và chịu ảnh hưởng của những tác động giáo dục Ở lứa tuổi mẫu giáo sự tích luỹ tri thức diễn ra nhanh chóng, ngôn ngữ được hình thành, các quá trình nhận thức được hoàn thiện, trẻ nắm được các phương thức đơn giản của hoạt động trí tuệ
- Sự phát triển trí tuệ của trẻ được thực hiện dưới tác động của môi trường xã hội Trong quá trình đó, trẻ nắm ngôn ngữ đồng thời với việc nắm các hệ thống khái niệm Sự phát triển trí tuệ diễn ra trong quá trình trẻ tham gia vào các loại hình hoạt động: hoạt động vật thể, hoạt động tạo ra sản phẩm, trò chơi,lao động, học tập, giao tiếp Song sự phát triển trí tuệ có hiệu quả nhất diễn ra dưới tác động của dạy học và giáo dục Sự phát triển trí tuệ
có ý nghĩa đối với toàn bộ hoạt động và sự phát triển sau này của trẻ
2.2 Ý nghĩa của giáo dục trí tuệ cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo
- Giáo dục trí tuệ trước hết thực hiện việc truyền đạt cho trẻ những tri thức dễ hiểu, sơ đẳng về thế giới xung quanh, hệ thống hoá các tri thức đó; hình thành hứng thú nhận thức; rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo hoạt động trí tuệ và phát triển năng lực nhận thức, phát triển hoạt động tư duy tích cực của trẻ
Trang 22Giáo dục trí tuệ cho trẻ mẫu giáo còn có ý nghĩa quan trọng trong việc chuẩn
bị những điều kiện để trẻ học tập có hiệu quả ở trường phổ thông sau này
- Đối với giáo dục đạo đức,giáo dục trí tuệ là cơ sở cho việc hình thành những biểu tượng, khái niệm đạo đức, niềm tin đạo đức Trong hoạt động trí tuệ có thể giáo dục trẻ nhiều nét tính cách cá nhân như tính mục đích, tính trung thực, cẩn thận, kiên trì, kiên định, sáng tạo…
- Giáo dục trí tuệ có mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển thẩm mĩ của trẻ Hệ thống tri thức, biểu tượng, khái niệm về thế giới xung quanh đặt cơ
sở cho giáo dục thẩm mĩ Nhận thức những giá trị thẩm mĩ, thị hiếu thẩm mĩ đều dựa trên vốn tri thức mà trẻ có được Mặt khác, sự phát triển năng lực nhận thức, cảm giác, tri giác là điều kiện cho hoạt động thẩm mĩ của trẻ Giáo dục trí tuệ cũng là cơ sở để thực hiện giáo dục thể chất, giáo dục lao động và là cơ sở cho giáo dục phát triển toàn diện nhân cách của trẻ
2.3 Các nhiệm vụ của giáo dục trí tuệ
a Hình thành các khái niệm dưới dạng những biểu tượng sơ đẳng về cuộc sống xung quanh và về bản thân
- Giúp trẻ nắm được những tri thức sơ đẳng khác nhau; hình thành những biểu tượng đúng đắn về thế giới tự nhiên, xã hội và con người Trên
cơ sở đó hình thành thái độ đúng đắn đối với cuộc sống xung quanh
- Giúp trẻ tìm hiểu thế giới xung quanh qua tri giác trực tiếp các sự vật
và hiện tượng; dùng từ để chỉ những cái tri giác được.Tìm hiểu thế giới xung quanh bao gồm những hoàn cảnh gần gũi nhất đối với trẻ (các đồ vật trong sinh hoạt, nơi ở, trường lớp…), các hiện tượng thiên nhiên, các hiện tượng xã hội mà trẻ có thể hiểu được (lao động của người lớn, ngày hội ngày lễ, sự giao tiếp v.v…) Cùng với tìm hiểu xung quanh là sự phát triển ngôn ngữ, sự phát triển ý thức bản ngã của trẻ
Nhiệm vụ của giáo viên là thường xuyên tăng cường vốn tri thức cho trẻ, sắp xếp, giải thích và hệ thống hoá các tri thức đó Giúp trẻ có khái niệm dưới dạng những biểu tượng sơ đẳng về sự vật xung quanh, chức năng và một số phẩm chất của chúng (màu sắc, kích thước, hình dạng, tính chất vật liệu: dễ vỡ, dễ gãy, dễ nặn v.v…) Trẻ cũng cần tiếp thu tri thức về một số hiện tượng tự nhiên, nắm được mối liên hệ và quan hệ giữa các sự vật, hiện
Trang 23trưng các mùa trong năm, mối liên hệ giữa cấu tạo hành vi của động vật với môi trường sống của nó…) Hình thành ở trẻ những mầm mống của thế giới quan duy vật Cũng cần giới thiệu cho trẻ về một số hiện tượng và sự kiện trong xã hội; về lao động của người lớn; về đất nước, thủ đô, lãnh tụ, các dân tộc, các ngày hội ngày lễ Việc giới thiệu này góp phần nâng cao lòng yêu nước và hứng thú trong cuộc sống xã hội của đất nước
b Phát triển các quá trình tâm lí nhận thức
Nhiệm vụ quan trọng của giáo dục trí tuệ là phát triển các quá trình tâm lí nhận thức: cảm giác, tri giác, ghi nhớ, tưởng tượng, tư duy và phát triển ngôn ngữ
- Nhận thức thế giới bắt đầu từ cảm giác và tri giác Ở tuổi mẫu giáo, các quá trình đó có ý nghĩa rất quan trọng giúp trẻ nhận thức hiện thực xung quanh
- Hình thành ở trẻ năng lực ghi nhớ có ý thức, tăng khối lượng ghi nhớ, rèn luyện ghi nhớ có chủ định
- Phát triển trí tưởng tượng cần thiết cho mọi hoạt động sáng tạo Thời
kỳ đầu, ở trẻ mẫu giáo chỉ có tưởng tượng tái tạo Trên cơ sở đó, cùng với
sự tích luỹ kinh nghiệm sống và phát triển tư duy mà hình thành trí tưởng tượng sáng tạo
- Phát triển ở trẻ tư duy trực quan – hành động, tư duy trực quan – hình tượng và tiến tới phát triển tư duy logic,tư duy khái niệm
- Cùng với các quá trình nhận thức, sư phát triển ngôn ngữ là nhiệm vụ rất quan trọng Ngôn ngữ là phương tiện của tư duy, của giao tiếp Nhiệm vụ của trường mầm non là phát triển ngôn ngữ ở trẻ, làm phong phú vốn từ, hình thành hệ thống ngữ pháp, biết đặt câu, phát triển ngôn ngữ nói mạch lạc
c Phát triển lòng ham hiểu biết và năng lực trí tuệ
- Lòng ham hiểu biết là phẩm chất vốn có của trẻ em, nó biểu hiện ở tính tích cực tìm hiểu và nhận thức thế giới xung quanh, nhu cầu muốn xem xét, sờ mó và hành động Những câu hỏi trẻ luôn đặt ra chứng tỏ lòng ham hiểu biết của trẻ Đây là động cơ cho hoạt động trí tuệ của trẻ
Nhà sư phạm phải biết ủng hộ lòng ham hiểu biết đó của trẻ mẫu giáo bằng cách tổ chức cho trẻ quan sát, cố gắng trả lời kịp thời trả lời những thắc mắc, hưóng các em vào việc tự tìm ra câu trả lời Phát triển lòng ham
Trang 24hiểu biết,óc tò mò của trẻ em và dựa trên cơ sở đó hình thành hứng thú nhận thức bền vững
- Giáo dục trí tuệ dục có nhiệm vụ phát triển các phẩm chất và năng lực trí tuệ ở trẻ Các phẩm chất và năng lực trí tuệ được thể hiện và phát triển trong quá trình hoạt động trí tuệ, trong quá trình lĩnh hội tri thức và dạy trẻ ngôn ngữ
Giáo dục trí tuệ có nhiệm vụ phát triển các kĩ năng, kĩ xảo hoạt động trí tuệ, nghĩa là hình thành các phương pháp đơn giản của hoạt động trí tuệ như:
+ Quan sát các sự vật và hiện tượng
+ Phân biệt các dấu hiệu cơ bản và không cơ bản, so sánh với các
sự vật khác
+ Phân tích và tổng hợp các sự vật, hiện tượng v.v…
Các kĩ năng này là các thanh phần tạo thành hoạt động nhận thức, chúng giúp trẻ nắm vững tri thức
2.4 Nội dung giáo dục trí tuệ cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo
a Hình thành ở trẻ khối lượng tri thức nhất định về các đối tượng và hiện
tượng xung quanh
- Trường mầm non cần giúp trẻ tìm hiểu các sự kiện, hiện tượng, các đối tượng gần gũi để có được hình tượng chung nhất về thế giới xung quanh
- Hướng dẫn trẻ tìm hiểu các đồ vật trong cuộc sống sinh hoạt gần gũi, dạy trẻ biết được tên gọi, tính chất, chức năng, cách sử dụng những đồ vật quen thuộc đó
- Tìm hiểu các hiện tượng tự nhiên như thời tiết, khí hậu, mưa, gió, sấm sét…
- Tìm hiểu về thực vật, động vật: Cần dạy trẻ biết tên gọi, đặc điểm, cấu tạo, tác dụng của chúng và cách chăm sóc chúng, mối quan hệ của chúng với các sự vật hiện tương xung quanh
- Hướng dẫn trẻ tìm hiểu các sự kiện, các hiện tượng xã hội mà trẻ có thể hiểu được như lao động của người lớn xung quanh, các phương tiện giao thông va về những ngày hội, ngày lễ, các công trình văn hoá, các di tích lịch
sử của địa phương, của đất nước, về thủ đô, về các miền của đất nước, về lãnh tụ, về quốc kì, quốc ca…
Trang 25- Hình thành cho trẻ những biểu tượng toán học sơ đẳng, giúp trẻ xác định những mối quan hệ, những thuộc tính của chúng về số lượng, kích thích, hình dạng, vị trí của chúng trong không gian, cụ thể:
+ Hình thành cho trẻ những biểu tượng về tập hợp và số lượng trong pham vi 10, phân biệt sự khác nhau về số lượng giữa các nhóm đối tượng
+ Hình thành cho trẻ những biểu tượng về kích thước: to, nhỏ, dài, ngắn, rộng, hẹp của đồ vật
+ Hình thành những biểu tượng về hình dạng: tròn, vuông, chử nhật, tam giác, khối vuông, khối cầu, khối trụ…
+ Hình thành cho trẻ những biểu tượng về định hướng trong không gian: dạy trẻ xác định phía trước-phía dưới của bản thân
Để hình thành cho trẻ có những biểu tượng phong phú đã nêu ở trên, cần tiến hành thông qua các môn học đã quy định trong chương trình chăm sóc trẻ mẫu giáo, đặc biệt là qua môn cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh, làm quen với các biểu tượng toán học
b Phát triển các năng lực trí tuệ trong quá trình hoạt động trí tuệ
- Những năng lực trí tuệ chủ yếu là: năng lực chú ý có chủ định, hoạt động phân tích tổng hợp, ghi nhớ và tái hiện các tri thức và kĩ xảo đã lĩnh hội
từ trước, biết vận dụng chúng vào các điều kiện sống muôn hình muôn vẻ
- Khi tổ chức các hoạt động trí tuệ cho trẻ, trước hết cần giáo dục năng lực điều khiển chú ý Ngay từ trong lứa tuổi mẫu giáo phải giáo dục cho trẻ năng lực chú ý có chủ định bền vững
- Giáo dục trẻ biết chú ý lắng nghe một cách có chủ định tức là tạo điều kiện thuận lợi để trẻ nắm vững những tri thức muôn hình muôn vẻ làm phong phú trí tuệ của mình và phát triển năng lực nghe và lắng nghe
- Cần dạy cho trẻ em biết nhìn và nhìn thấy, nghĩa là biết hướng chú ý một cách có ý thức vào các sự vật và hiện tượng ấy những cái chủ yếu và những chi tiết, tức là bồi dưỡng năng lực quan sát, óc quan sát xem như một phẩm chất của trí tuệ Cần dạy cho các em biết quan sát những hiện tượng tự nhiên, những sự biến đổi trong tự nhiên hay trong hoàn cảnh xung quanh
- Hoạt động phân tích, tổng hợp làm cho quá trình tri giác sâu sắc hơn, giúp trẻ lĩnh hội được những khái niệm đúng đắn và tổ chức quá trình tư
Trang 26duy Phân tích là điều kiện cần thiết để hình thành biểu tượng và phản ánh những quy luật hoạt động của não
- Hoạt động phân tích - tổng hợp càng trở nên sâu sắc hơn nếu biết so sánh So sánh dường như là chỗ dựa cho ý nghĩ và ngôn ngữ, và giúp cho việc phân biệt được tinh tế hơn Trẻ em cũng đã có khả năng phân loại các đối tượng căn cứ vào những dấu hiệu này hay dấu hiệu khác, nếu như các
em có một số vốn khá lớn những dấu hiệu cụ thể và có khả năng so sánh, đối chiếu những dấu hiệu chung và bản chất
Cô giáo dạy trẻ em lựa chọn những đồ vật có công dụng chung, dạy cách so sánh những đồ vật ấy và trên cơ sở so sánh tách ra được những dấu hiệu bản chất Căn cứ vào những dấu hiệu ấy mà phân loại các đồ vật và gọi chúng bằng những khái niệm chung
c Năng lực định hướng và áp dụng tri thức, kĩ năng và kĩ xảo trong những điều kiện sống muôn hình muôn vẻ là năng lực quý giá nhất của trí tuệ
- Cần giáo dục cho các em ngay từ lúc nhỏ tuổi nhất, năng lực áp dụng tri thức, kĩ năng, kĩ xảo vào đời sống Cần khuyến khích các em tự lực giải quyết những nhiệm vụ trong đời sống, những nhiệm vụ nảy sinh trong quá trình vui chơi và lao động Cần dạy các em tự lực tìm câu trả lời cho các câu hỏi Cần thường xuyên luyện tập cho các em thể hiện tri thức trong hành động, thể hiện ý định trong hoạt động thực tiễn Mặt khác, những công tác thực hành của trẻ em như trực nhật, làm việc trong góc thiên nhiên, hoạt động trong các giờ học đòi hỏi phải được các em thông hiểu, phải khêu gợi được những nỗ lực trí tuệ phù hợp với các em
2.5 Phương pháp và phương tiện giáo dục trí tuệ
Các công trình nghiên cứu sư phạm và tâm lí học chứng tỏ rằng việc trẻ nắm được các nội dung tri thức khác nhau là kết quả hoạt động tư duy của chúng do giáo viên hướng dẫn
Tri thức bao giờ cũng là sản phẩm của những hành động nhận thức nhất định của trẻ Bởi vậy, phương pháp dạy học là phương pháp làm việc của giáo viên và của trẻ em được giáo viên hướng dẫn nhằm tiếp thu những tri thức, kĩ năng và thói quen mới, hình thành thế giới quan và phát triển năng lực
Trang 27Các phương pháp giáo dục trí tuệ được trình bày trong phần “Dạy học
ở trường mẫu giáo”
Các phương tiện giáo dục trí tuệ cho trẻ mẫu giáo bao gồm:
- Tìm hiểu môi trường xung quanh
- Trò chơi: đóng vai theo chủ đề; đóng kịch; trò chơi lắp ghép; trò chơi học tập
- Lao động
- Dạy học
3 Giáo dục đạo đức cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo
3.1 Khái niệm giáo dục đạo đức cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo
Giáo dục đạo đức là một bộ phận quan trọng trong giáo dục nhân cách con người phát triển toàn diện, có mục đích là xây dựng cho trẻ em những nét tính cách, những phẩm chất đạo đức và bồi dưỡng cho các em những tiêu chuẩn và quy tắc hành vi,hình thành năng lực ứng xử đối với gia đình, đối với người khác
3.2 Ý nghĩa của giáo dục đạo đức cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo
Giáo dục đạo đức có ý nghĩa rất quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp giáo dục con người
Việc hình thành cơ sở ban đầu về phẩm chất đạo đức của con người được thực hiện ngay ở lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo Giáo dục mẫu giáo là khâu đầu tiên của việc đào tạo nhân cách con người mới, có nhiệm vụ hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách con người phát triển toàn diện,tạo tiền để cho sự phát triển về sau Giáo dục học và tâm lí học mác xít khẳng định rằng, những phẩm chất ấy được hình thành trong quá trình sống, dưới tác dụng của giáo dục và toàn bộ hiện thực xã hội xung quanh, thông qua kinh nghiệm sống của các em
- Ở tuổi mẫu giáo, được sự hướng dẫn của người lớn, trẻ tiếp nhận những kinh nghiệm đầu tiên về hành vi trong quan hệ với người thân, bạn bè, với các đồ vật và thiên nhiên, lĩnh hội các tiêu chuẩn đạo đức của xã hội mới Những ấn tượng đầu tiên của thời thơ ấu để lại những dấu vết trong suốt cả cuộc đời sau này So với việc giáo dục thì việc cải tạo (hay giáo dục
Trang 28lại) là một quá trình lâu dài và khó khăn hơn nhiều Giáo dục đúng đắn sẽ hạn chế sự tích luỹ kinh nghiệm tiêu cực của trẻ Ngăn ngừa sự phát triển các kĩ xảo và thói quen, hành vi xấu của trẻ
3.3 Các nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo
Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo là hình thành
ở trẻ tình cảm đạo đức, kĩ xảo và thói quen hành vi đạo đức trong sự thống nhất với những biểu tượng (khái niệm) đạo đức và động cơ hành vi
- Trong quá trình giáo dục đạo đức, việc hình thành những tình cảm
đạo đức có vị trí quan trọng đối với trẻ Điều đó phù hợp với sự xuất hiện
những nhu cầu mang tính chất xã hội đầu tiên của trẻ - nhu cầu giao tiếp Cần phải giáo dục trẻ tình cảm đúng đắn như lòng yêu mến người khác, mong muốn hành động theo lời chỉ dẫn của người lớn, những xúc cảm lành mạnh, lòng tốt đối với mọi người, lòng tự trọng, tinh thần nghĩa vụ và trách nhiệm
- Việc hình thành kĩ xảo và thói quen đạo đức cho trẻ mẫu giáo có tầm
quan trọng hàng đầu trong quá trình giáo dục đạo đức Đặc điểm đặc trưng của trẻ mẫu giáo là khả năng bắt chước Trong khi đó trẻ chưa thực sự phát triển tính tự giác của hành vi, chưa biết kiểm tra hành động của mình, chưa hiểu nội dung đạo đức của hành vi, điều đó có thể dẫn đến những hành động xấu Bởi vậy, phải hình thành ở trẻ những kĩ xảo và thói quen hành vi khác nhau thể hiện lòng kính trọng đối với người lớn, thái độ tốt với bạn bè, ý thức giữ gìn các đồ vật và ý thức hành vi văn hoá ở nơi công cộng
- Ở các độ tuổi khác nhau, yêu cầu về kĩ xảo và thói quen đạo đức cần được nâng cao dần phù hợp với các tiêu chuẩn đạo đức
- Qúa trình giáo dục đạo đức có nhiệm vụ hình thành ở trẻ những biểu
tượng (khái niệm) về chuẩn mực hành vi đạo đức Cần hình thành cho trẻ
các khái niệm đạo đức sơ đẳng ở trẻ trên cơ sở hình thành các động cơ hành
vi Bằng các dẫn chứng cụ thể, giáo viên giải thích cho các em nên hành động như thế nào cho đúng
Các nhiệm vụ giáo dục tình cảm đạo đức, hình thành các khái niệm đạo đức, thói quen đạo đức và động cơ hành vi được thực hiện thống nhất trong quá trình giáo dục đạo đức cho trẻ
Trang 293.4 Nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo
Giáo dục lòng nhân ái và những nhân tố sơ đẳng của lòng yêu nước
Sống trong tình thương là hạnh phúc của trẻ thơ Giáo dục tình thương cũng đồng thời đáp ứng một nhu cầu sống của trẻ Tình thương suy cho cùng, là gốc đạo đức của con người Vì vậy, giáo dục lòng nhân ái cần được coi là nhiệm vụ trung tâm của công tác giáo dục đạo đức cho trẻ
Giáo dục lòng nhân ái cho trẻ bao gồm một số nội dung cơ bản sau:
- Giáo dục tình yêu gia đình Trẻ cần hiểu mọi người trong gia đình
đều gắn bó với nhau trên tình ruột thịt, sống hoà thuận và quan tâm, chăm sóc và tôn trọng lẫn nhau
- Giáo dục tình yêu và thái độ quan tâm đến mọi người Yêu mến và sẳn
sàng giúp đỡ cô giáo và các bạn trong lớp Kính trọng và giúp đỡ người già yếu; yêu mến, nhường nhịn, chăm sóc các em nhỏ, niềm nở với mọi người
- Giáo dục tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu cây cỏ, chim
muông, các súc vật… có ý thức bảo vệ thiên nhiên
- Giáo dục những nhân tố sơ đẳng của lòng yêu nước, tạo nền tảng
ban đầu cho việc giáo dục lòng yêu nước sau này: tình yêu đối với Bác Hồ, yêu Tổ quốc, quan tâm đến những ngày lễ lớn hoặc những sự kiện quan trọng trong nước hoặc ở địa phương, những truyền thuyết lịch sử
Giáo dục quan hệ bạn bè: xây dựng lớp đoàn kết thân ái
- Đến lứa tuổi mẫu giáo, trẻ bắt đầu cùng chơi với nhau Mối quan hệ mới giữa các trẻ bắt đầu hình thành và phát triển, đồng thời có ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành nhân cách, đến bộ mặt đạo đức của từng trẻ, đó
là quan hệ bạn bè
- Đối với mẫu giáo bé cần khuyến khích trẻ làm quen với nhau, biết sống hoà thuận “bên nhau”, biết tuân thủ những quy tắc ban đầu của sinh hoạt tập thể, đồng thời nhen nhóm dần cho trẻ nhu cầu cùng nhau hoạt động, tập cho trẻ bước đầu biết phối hợp nhau
- Đối với trẻ mẫu giáo nhỡ, cần từng bước mở rộng nhóm chơi của trẻ,
mở rộng vốn kinh nghiệm về hoạt động chung của trẻ, kịp thời biểu dương những hành vi tốt, uốn nắn, ngăn chặn những hành vi không tốt
Trang 30- Đối với trẻ mẫu giáo lớn, biết tự tập hợp với nhau lại và tự đề xuất trò chơi chung Trẻ đã nhận ra và biết những quy tắc ứng xử cần thiết trong quan hệ bạn bè Quan hệ bạn bè phong phú, đa dạng hơn và đã trở thành một nhân tố quan trọng trong đời sống của trẻ, giữa trẻ đã có ảnh hưởng lẫn nhau về tính cách và hành vi đạo đức Giáo dục quan hệ bạn bè cho trẻ lúc này cần đặc biệt quan tâm mở rộng vốn kinh nghiệm và hiểu biết của trẻ về tình bạn tốt, người bạn tốt, về những cách cư xử cụ thể (đoàn kết, thân ái, quan tâm đến nhau, giúp đỡ và học tập lẫn nhau…)
Giáo dục những quy tắc lễ phép và văn hoá, những tính tốt
- Giáo dục cho trẻ những quy tắc lễ phép, những quy tắc hành vi có văn hoá ở những nơi công cộng,những cách ứng xử tốt đẹp với mọi người
- Một số tính tốt cần đặc biệt chú ý rèn luyên cho trẻ là: tính tự lập, tính mạnh dạn, tính ngăn nắp, tính kỷ luật…
- Những nhiệm vụ giáo dục đạo đức nêu trên cần kết hợp chặt chẽ với giáo dục những tính tốt cho trẻ Đối với trẻ mẫu giáo cần kịp thời phát triển, biểu dương, nuôi dưỡng và phát triển những tính tốt của trẻ ngay khi nó có những biểu hiện manh nha Ngược lại cần tìm ra nguyên nhân và kiên quyết ngăn chặn, uốn nắn khi bắt đầu thấy trẻ bắt đầu xuất hiện một tính xấu nào đó Cần chú ý là, giáo dục những quy tắc hành vi, những nét tính cách cho trẻ phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, không làm cho trẻ mất đi cái ngây thơ, hồn nhiên của lứa tuổi
3.5 Phương pháp giáo dục đạo đức cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo
Phương pháp giáo dục đạo đức là cách thức tác động, cách thức tổ chức hoạt động cho trẻ của nhà giáo dục nhằm hình thành ở trẻ những phẩm chất đạo đức mới theo mục đích giáo dục
Các phương pháp giáo dục là một tập hợp,tạo thành một hệ thống Trong lí luận và thực tiễn sư phạm hiện nay, người ta phân loại các phương pháp giáo dục đạo đức thành hai nhóm:
1 Nhóm các phương pháp hình thành các khái niệm, niềm tin, gồm có: phương pháp giải thích và thuyết phục, phương pháp nêu gương
2 Nhóm các phương pháp rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và thói quen hành
vi là phương pháp tổ chức hoạt động thực tiễn, gồm có hình thức luyện tập
Trang 31Bên cạnh hai nhóm phương pháp giáo dục cơ bản ở trên, người ta còn sử dụng nhóm phương pháp hỗ trợ, đó là nhóm các phương pháp động viên và đánh giá, gồm các phương pháp khen ngợi và chê trách, nhận xét và phê bình
a Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động thực tiễn giữ vai trò chủ đạo
trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo
Việc tổ chức hoạt động thực tiễn để hình thành kinh nghiệm đạo đức cho trẻ em thể hiện trong các hình thức luyện tập và rèn luyện
- Luyện tập là đặt trẻ vào các tình huống do giáo viên tạo ra để trẻ phải hành động phù hợp với các tiêu chuẩn và quy tắc hành vi Còn phương pháp rèn luyện là thực hành trong cuộc sống những khái niệm, tiêu chuẩn, quy tắc hành vi
Chỉ trong hoạt động thực tiễn, trẻ mới tích luỹ được những kinh nghiệm đạo đức trong mối quan hệ với các bạn và với người lớn Trẻ lĩnh hội các quy tắc hành vi trong tập thể, tập hành động theo các tiêu chuẩn đạo đức, thể hiện thái độ tôn trong người lớn và các bạn, thể hiện tính kiên trì và lòng yêu lao động trong các hoạt động vui chơi, học tập, lao động cùng các bạn, giúp đỡ bạn, giữ gìn và bảo vệ các đồ vật
- Khi hình thành kinh nghiệm đạo đức cho trẻ, giáo viên phải tạo mọi điều kiện để thường xuyên rèn luyện các hành vi đạo đức
Ví dụ, ở lớp nhỏ, giáo viên phải luôn nhắc trẻ biết chào hỏi khi bước vào lớp, yêu cầu giúp đỡ bạn thu nhặt đồ chơi, biết cảm ơn khi được giúp đỡ v.v…
Ở lớp nhỡ, giáo viên không cần chỉ dẫn trực tiếp mà chỉ cần lưu ý trẻ đến một hoàn cảnh hay một hiện tượng nào đó, phải thường xuyên đặt trẻ vào những hoàn cảnh trong đó các em phải tự quyết định hành động
Ở các lớp lớn, hành động thể hiện sự tiếp thu các tiêu chuẩn hành vi
đa dạng hơn, giáo viên phải hiểu các động cơ hành vi của trẻ và đánh giá chung, lập luận, khuyên nhủ, nhận xét tế nhị
b Nhóm phương pháp hình thành khái niệm và niềm tin đạo đức
Nhóm phương pháp này bao gồm:
- Phương pháp giải thích giúp trẻ hiểu ý nghĩa của các hành động cụ thể và quy tắc hành vi, nhận thức được ý nghĩa của sự cần thiết, thực hiện chúng trong cuộc sống bình thường của tập thể Trong giải thích cũng nêu
Trang 32lên động cơ của hành động, sự cần thiết và lợi ích của hành động để thuyết phục trẻ về tính đúng đắn của các quy tắc đạo đức
Ở lớp lớn giải thích và thuyết phục có thể dùng hình thức trao đổi và thảo luận về một chủ đề nào đó do giáo viên tổ chức Các buổi trao đổi giúp trẻ lĩnh hội các khái niệm đạo đức như “hiền lành”, “tốt bụng”, “dũng cảm”, v.v…
- Nêu gương là một phương pháp giáo dục đạo đức được sử dụng nhiều đối với trẻ mẫu giáo Cơ sở tâm lí của phương pháp này là khuynh hướng bắt chước được thể hiện rõ ở trẻ, là nguyện vọng muốn hành động để được khen ngợi Những tấm gương của các bạn được cô khen ngợi, tấm gương của chính giáo viên đều có ý nghĩa giáo dục quan trọng Nêu gương giúp ta có thể giáo dục trẻ bằng những hành động và việc làm cụ thể, có sức tác động một cách trực quan, dễ hiểu Những tấm gương của người lớn trong các tác phẩm nghệ thuật cũng có tác động mạnh mẽ đến trẻ em
c Các phương pháp hỗ trợ
- Khen ngợi, chê trách những hành vi của trẻ hay của những người xung quanh trẻ là phương pháp giáo dục được sử dụng để giúp trẻ hiểu rõ các hành vi nào là tốt, xấu; đúng, sai, hiểu rõ yêu cầu của các quy tắc đạo đức, cùng những nét tính cách đẹp
- Khen ngợi gây cho trẻ lòng mong muốn làm được tốt, và thể hiện hành động, hành vi tích cực Khen ngợi phải kịp thời, công bằng, vừa biểu
lộ yêu cầu, vừa biểu lộ sự tôn trọng đối với khả năng của trẻ Khen ngợi vừa phải căn cứ vào kết quả, vừa căn cứ mức cố gắng của trẻ
- Chê trách gây cho trẻ cảm xúc hối hận, giúp ngăn ngừa những hành
vi xấu Khi chê trách phải tìm hiểu rõ động cơ của hành vi để đánh giá trẻ chính xác, chê trách chỉ nhằm mục đích ngăn ngừa xảy ra các hành vi xấu là chủ yếu
- Nhận xét và phê bình là các phương pháp giáo dục cần thiết Nhận xét được áp dụng khi hành vi còn được sửa chữa, không có tác hại đến bản thân trẻ cũng như đến các em khác Còn phê bình được sử dụng khi hành vi
đã lặp lại nhiều lần, khó sửa chữa cô giáo phê bình để thể hiện sự đánh giá những hành vi xấu
- Cưỡng bức với tư cách là một phương pháp giáo dục được áp dụng khi tất cả phương pháp giáo dục đã sử dụng không đem lại kết quả Một vài
Trang 33em cá biệt nào đó vẫn không thay đổi theo chiều hướng tốt: trẻ vẫn nói tục, trêu chọc bạn, không tuân theo yêu cầu của người lớn, vi phạm nội quy, v.v… Cưỡng bức là phương pháp giáo dục đồng thời cũng là biện pháp trừng phạt Cưỡng bức luôn đi với giải thích để các em hiểu rõ vì sao bị phạt, thuyết phục các em về tính cần thiết phải thực hiện những quy tắc chung của mọi người Song tuyệt đối không trừng phạt các em về thể xác như bắt nhịn ăn, đánh đập, đe doạ, nhốt trẻ v.v…
Hệ thống các phương pháp giáo dục được kết hợp khi sử dụng cho phù hợp với trẻ em ở từng độ tuổi Mỗi phương pháp đều có tác dụng riêng, không có phương pháp nào là vạn năng, là thích hợp với mọi hoàn cảnh Giáo viên phải kết hợp đúng đắn các phương pháp khác nhau Khi sử dụng luôn chú ý đến đặc điểm lứa tuổi, các đặc điểm cá nhân, trình độ được giáo dục của mỗi trẻ em và của toàn lớp
4 Giáo dục thẩm mĩ cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo
4.1 Khái niệm
Giáo dục thẩm mĩ là một quá trình tác động có mục đích và có hệ thống vào nhân cách của trẻ nhằm phát triển năng lực cảm thụ và nhận biết cái đẹp trong nghệ thuật, trong tự nhiên và trong đời sống xã hội, giao dục lòng yêu cái đẹp và đưa cái đẹp vào trong cuộc sống một cách sáng tạo
4.2 Ý nghĩa của giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo
- Giáo dục thẩm mĩ là bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển toàn diện với thế hệ trẻ, cần được tiến hành ngay từ lứa tuổi mẫu giáo Với các đặc điểm tâm lí của lứa tuổi này, năng khiếu nghệ thuật thường được nảy sinh ngay từ tuổi thơ, do đó, cần giáo dục thẩm mĩ và nghệ thuật cho trẻ ở lứa tuổi này
- Giáo dục thẩm mĩ có mối liên hệ mật thiết với giáo dục đạo đức và giáo dục trí tuệ Cảm xúc thẩm mĩ không những được xây dựng trên cơ sở cảm thụ cái đẹp mà còn trên cơ sở hiểu biết sâu sắc nội dung tư tưởng của tác phẩm nghệ thuật Những cảm xúc thẩm mĩ có ảnh hưởng lớn đến bộ mặt đaoh đức của con người và làm cho tính cách của con người thêm cao thượng Cảm xúc thẩm mĩ làm phong phú thêm cuộc sống và những người xung quanh Giáo dục thẩm mĩ làm cho hoạt động tri giác được sắc bén hơn,
Trang 34giúp trẻ hiểu cái tri giác được sâu sắc hơn và góp phần phát triển năng lực của con người
- Giáo dục thẩm mĩ có liên hệ trực tiếp tới giáo dục lao động và thể dục Bản thân lao động được tổ chức tốt là một phương tiện giáo dục thẩm
mĩ Toàn bộ vẻ đẹp của hoàn cảnh và tổ chức quá trình lao động có tác dụng nâng cao năng suất lao động Sức khoẻ và sự phát triển thể lực tốt, tư thế đẹp bao giờ cũng gây ra cảm giác đẹp và có tác dụng thẩm mĩ đến sự phát triển chung về mặt tinh thần của con người Vẻ đẹp của các thao tác, cách vận động, của nhịp điệu, kích thích hứng thú của trẻ đối với việc tập thể dục, thể thao
Với tất cả những ý nghĩa ở trên, giáo dục thẩm mĩ là bộ phận quan trọng góp phần vào viện hình thành nhân cách phát triển toàn diện cho trẻ
4.3 Nhiệm vụ giáo dục thẩm mĩ
Phát triển năng lực tri giác cái đẹp, cảm thụ cái đẹp, hiểu cái đẹp
Cơ sở của sự tri giác cái đẹp là sự nhận thức cảm tính, cụ thể về mặt thẩm mĩ Nhìn và nghe là cơ sở hoàn toàn đầy đủ về phương diện tâm sinh lí
để tri giác cái đẹp
Nhiệm vụ của giáo dục thẩm mĩ là giúp trẻ chuyển từ sự đáp ứng theo bản năng sang sự tri giác có ý thức về cái đẹp Cần làm cho trẻ chú ý đến những
sự vật và hiện tượng của tự nhiên, đến những hành vi của con người, dạy cho các em biết nhìn ra và phát hiện được cái đẹp trong đời sống, trong thiên nhiên, trong lao động, trong hành vi và hành động của con người, dạy cho các em biết nhìn nhận về phương diện thẩm mĩ đối với thế giới xung quanh
Sự tri giác thẩm mĩ bao giờ cũng liên quan chặt chẽ với cảm xúc và tình cảm thẩm mĩ Với trẻ em, đặc điểm của tình cảm thẩm mĩ là niềm vui
vô tư, là cảm xúc trong sáng xuất hiện khi thấy cái đẹp Tình cảm thẩm mĩ giữ vai trò rất to lớn trong việc đánh giá các sự vật và hiện tượng khác nhau, trong việc rèn luyện thị hiếu thẩm mĩ sau này cho trẻ
Giáo viên còn có nhiệm vụ dẫn dắt trẻ đi từ sự tri giác cái đẹp, cảm xúc đối với nó đến chỗ hiểu và hình thành các khái niệm, các nhận xét và đánh giá thẩm mĩ
Phát triển các năng lực nghệ thuật sáng tạo của trẻ
Trang 35- Năng lực sáng tạo nghệ thuật của trẻ phát triển thể hiện ở sự xuất hiện tính chủ định trong hoạt động, ở chỗ biết phối hợp các tri thức về ấn tượng của mình, ở tính chân thực cao khi thể hiện tình cảm và tư tưởng Điểm sáng tạo của trẻ còn ở chỗ, nó được thể hiện rất rõ ở sự bắt chước Đặc biệt trong hoạt động vui chơi, trẻ tích cực bắt chước những hoạt động của người lớn Trẻ biết thể hiện bằng hình ảnh những ấn tượng về thế giới xung quanh
Trò chơi sáng tạo thể hiện tính chủ định của trẻ rất rõ Lúc đầu tính chủ định chưa bền vững Trẻ càng lớn thì tính chủ định trong hoạt động càng đầy đủ và có mục đích hơn
Óc tưởng tượng sáng tạo của trẻ cũng được thể hiện ở chỗ, các em thường kết hợp có ý thức các chủ đề khác nhau Các em lấy tư liệu từ truyện
cổ tích, trong các truyện kể, trong cuộc sống, phim ảnh, từ các vở diễn trên sân khấu, trên vô tuyến truyền hình Các em phối hợp các tri thức, ấn tượng
và thống nhất chúng trong một cái hoàn chỉnh
Tính sáng tạo cũng thể hiện trong các hình thức nghệ thuật khác: vẽ, nặn,
kể chuyện hay ca hát Trẻ thoả mãn nhu cầu của mình trong việc thể hiện có hiệu quả, bằng hình tượng các ấn tượng của mình Chính ở đây bắt đầu nảy sinh ra chủ định, sau đó tìm phương tiện thực hiện và trẻ biêt phối hợp các ấn tượng của mình thu được khi tri giác các tác phẩm nghê thuật khác nhau
- Ở tuổi mẫu giáo đã có mầm mống của tính sáng tạo, chúng thể hiện
ở sự phát triển năng lực xây dựng các chủ định và thực hiện nó; ở kĩ năng phối hợp các tri thức, khái niệm của mình; ở việc truyền đạt chân thực tư tưởng, tình cảm, cảm xúc
Để phát triển óc sáng tạo cho trẻ, cần có quá trình dạy học để giúp trẻ
có phương thức diễn đạt hình tượng và mô tả chủ định trong khi nói, hát, vẽ, nhảy múa, diễn kịch
Hình thành những cơ sở của thị hiếu thẩm mĩ
- Hình thành cho trẻ những cơ sở của thị hiếu thẩm mĩ, thị hiếu nghệ thuật, biểu hiện ở sự phán đoán, đánh giá cái đẹp
Cần dạy cho các em phân biệt cái đẹp với cái không đẹp, cái thô kệch
và xấu xí Cần giáo dục cho trẻ năng lực trình bày rõ lí do tại sao mình thích bài hát, truyện cổ tích hay bức tranh này
Trang 36Có thể hình thành cho trẻ những có sở của thị hiếu thẩm mĩ thông qua việc tìm hiểu các tác phẩm cổ điển của thiếu nhi, tìm hiểu âm nhạc, hội hoạ Cũng cần dạy trẻ biết nhận ra và cảm thụ cái đẹp ở cuộc sống xung quanh và biết bảo vệ nó
4.4 Phương pháp giáo dục thẩm mĩ cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo
- Phương pháp giáo dục thẩm mĩ là những cách thức hành động chung của giáo viên và trẻ em nhằm giúp cho trẻ nắm được kinh nghiệm hoạt động thẩm mĩ, nhằm hình thành những phương thức hành động và phát triển năng lực nghệ thuật ở chúng
- Có hai hệ thống phương pháp giáo dục thẩm mĩ cơ bản:
Hệ thống phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở nguồn cung cấp tri thức, bao gồm:
1) Nhóm phương pháp giáo dục dùng lời: giải thích, trò chuyện, chỉ dẫn, đọc, kể…
2) Các nhóm phương pháp trực quan: quan sát, sử dụng các đồ dùng trực quan
3) Nhóm các phương pháp thực hành (hay thực tiễn) luyện tập
4) Nhóm các phương pháp dùng trò chơi
Hệ thống các phương pháp giáo dục thẩm mĩ được xây dựng trên cơ
sở mục đích và nhiệm vụ của giáo dục thẩm mĩ, bao gồm:
1) Phương pháp kích thích trạng thái cùng xúc cảm đối với cái đẹp và lên án ái xấu trong thế giới xung quanh
2) Phương pháp thuyết phục trong quá trình hình thành cảm thụ thẩm
mĩ, hình thành những sở thích đầu tiên
3) Phương pháp luyện tập trong những hành động thực tiễn nhằm làm cho trẻ biến đổi vừa sức của mình những phẩm chất mĩ học của xung quanh hoàn thiện văn hoá- hành vi của mình
4) Phương pháp dùng những hoàn cảnh phải tìm kiếm để kích thích những hành động sáng tạo và thực tiễn
- Một số phương pháp sử dụng phổ biến trong giáo dục thẩm mĩ cho trẻ:
Trang 37+ Tổ chức quan sát: là phương pháp giúp trẻ nhận ra vẻ đẹp của cuộc sống, của thiên nhiên Sự cảm thụ của trẻ có sự hướng dẫn và kết hợp với ngôn ngữ nghệ thuật làm tăng khả năng cảm thụ thẩm mĩ và làm cho trẻ nhận ra cái đẹp và yêu thích cái đẹp Những cảm xúc thẩm mĩ trở nên sâu sắc, có ý thức và giữ được lâu hơn nếu như trẻ hiểu rõ nội dung của tác phẩm (một bài hát, một câu chuyện cổ tích, một bức tranh…) Do đó, cần giải thích nội dung tác phẩm đang được tiếp thu, làm chính xác các biểu tượng của các em Việc trình bày một cách nghệ thuật những tác phẩm âm nhạc, những ca khúc; việc đọc các tác phẩm văn học nghệ thuật tác động trực tiếp đến trẻ, khêu gợi tình cảm và cảm xúc thẩm mĩ, giúp các em hiểu sâu sắc hơn nội dung và hình thức tác phẩm
+ Phương pháp trò chuyện: bằng những câu hỏi của mình, cô giáo làm cho trẻ lưu ý, suy nghĩ về những điểm chủ yếu (ví như các tuyến hành động và các nhân vật), tìm hiểu và tổ chức kinh nghiệm của trẻ, làm sâu sắc những cảm xúc thẩm mĩ của trẻ
Trong khi trò chuyện, tập cho trẻ nói lên những ấn tượng của mình, bày tỏ thái độ của mình đối với các tác phẩm và các hiện tượng trong cuộc sống Khi trò chuyện phải dùng từ cảm xúc thẩm mĩ của trẻ đối với các tác phẩm nghệ thuật
+ Phương pháp kích thích trạng thái cùng xúc cảm: gây ra cho trẻ có được trạng thái cùng xúc cảm, nhạy cảm với thẩm mĩ
Sự phát triển năng lực cùng xúc cảm nghệ thuật là con đường thuyết phục trẻ em về thẩm mĩ Cái mà trẻ đã cảm xúc qua sẽ trở thành tài sản của
nó Bởi vậy, sự suy nghĩ kĩ càng về nội dung tác phẩm, xây dựng kế hoạch biểu diễn tác phẩm đó và việc biểu diễn tác phẩm đó và việc biểu diễn là những vấn đề cơ bản của phương pháp Cần đi sâu vào ý nghĩa, tính chất của tác phẩm và sau đó cho trẻ học thuộc nó là cần thiết Song việc trực tiếp tiếp xúc với nghệ thuật chưa đủ, vì cảm xúc thẩm mĩ của trẻ được đặc trưng bởi sự thống nhất của tình cảm nhận thức Cần phải thuyết phục không chỉ bằng tác động trực tiếp tới tình cảm do các hình tượng nghệ thuật, do các
âm thanh, màu sắc, các lời lẽ của thơ ca pháp cơ bản đều nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ, cảm xúc cái đẹp trong môi trường xung quanh Những giai điệu âm thanh, những tài liệu có hình ảnh và màu sắc độc đáo lôi cuốn
và kích thích trẻ hoạt động sáng tạo
Trang 38+ Phương pháp tập luyện hành động: Có thể gọi đó là những hành động thẩm mĩ Ở trẻ có những hành động với ý thức muốn làm cho hoàn cảnh sống xung quanh đẹp hơn, tức là trẻ muốn biến đổi nó theo sức mình
và băng cách đó làm cho bạn bè và người lớn vui thích Cần giúp trẻ tập luyện hành động thông qua các bài tập khác nhau
Tập luyện đòi hỏi phải có sự lặp đi lặp lại nhiều lần Nhưng khác với việc tập luyện những thói quen trong sinh hoạt, việc tập luyện những hành động thẩm mĩ không theo một trình tự chặt chẽ Vì vậy, cần giáo dục và phát triển năng lực hành động trong những hoàn cảnh có vấn đề, năng lực vận dụng những kĩ năng đã nắm được
Trong giáo dục thẩm mĩ, hoạt động chủ yếu của trẻ là hoạt động nghệ thuật Điều quan trọng là cho trẻ tiếp xúc với những phương thức hoạt động nghệ thuật khái quát nhất, điển hình nhất Những phương thức chung đó là: định hướng về âm thanh, màu sắc, hình dạng, vận động, định hướng trong toàn bộ những phương tiện thể hiện của mỗi loại hình nghệ thuật (cảm giác), các phương thức tiếp xúc với nội dung tư tưởng, tình cảm của các tác phẩm
và cùng xúc cảm của các tác phẩm và cùng xúc cảm với các nhân vật (hình tượng nghệ thuật
- Phương pháp giáo dục thẩm mĩ được xác định tuỳ theo đặc điểm lứa tuổi và cá nhân trẻ; có tính đến những điều kiện sư phạm
- Các phương pháp được sử dụng trong sự phối hợp thống nhất với nhau
5 Giáo dục lao động cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo
5.1 Khái niệm
Giáo dục lao động là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển toàn diện, nhằm hình thành những phẩm chất đạo đức của người lao động mới: yêu lao động, tôn trọng lao động, giúp trẻ em nắm được một số kĩ năng
kĩ xảo lao động đơn giản, phục vụ cho sinh hoạt và chuẩn bị cho trẻ sau này sẵn sàng tham gia lao động để xây dựng đất nước
5.2 Ý nghĩa của giáo dục lao động cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo
- Giáo dục lao động là một bộ phận cấu thành của giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ
Trang 39- Giáo dục lao động có tác động đến các mặt giáo dục khác Mối liên
hệ tương hỗ giữa giáo dục lao động và giáo dục thể chất thể hiện ở chỗ, trong thời gian lao động, tất cả các quá trình hô hấp, tuần hoàn, trao đổi chất đều được tăng cường Đồng thời hoạt động lao động thực hành làm giảm sự mệt mõi trí óc của trẻ, không để trẻ phát triển phiến diện
- Giáo dục lao động góp phần hình thành những phẩm chất đạo đức như lòng yêu lao động, sẵn sàng lao động và từ đó hình thành ở trẻ tính mục đích, tính kiên trì, tính độc lập, vượt khó khăn và óc sáng kiến; giúp trẻ nắm được một số kĩ năng lao động đơn giản; hiểu rõ vai trò lao động trong đời sống; hình thành các quan hệ tập thể trong lao động, tinh thần tương trợ và niềm vui cho kết quả chung của tập thể Chỉ thông qua lao động trẻ mới thực
sự biểu hiện lòng kính trọng đối với lao động và người lao động
- Ảnh hưởng của lao động đến sự phát triển trí tuệ thể hiện ở chỗ, trong quá trình lao động trẻ nắm được tính chất các vật liệu và nhiều tri thức mới Việc vận dụng vào thực tiễn các kiến thức giúp cho những kiến thức của trẻ về thế giới xung quanh vững chắc hơn
- Mối quan hệ tương hỗ giữa giáo dục lao động và giáo dục thẩm mĩ thể hiện ở chỗ, trong lao động, trẻ tập sáng tạo ra cái đẹp, tập phân biệt cái đẹp với cái thô kệch…
5.3 Nhiệm vụ giáo dục lao động ở trường mẫu giáo
- Giúp đỡ trẻ tìm hiểu lao động của người lớn và giáo dục lòng tôn trọng đối với người lao động và sản phẩm của người lao động
- Giáo dục các kĩ năng, kĩ xảo lao động đơn giản
- Giáo dục trẻ hứng thú lao động, lòng yêu lao động, giáo dục động cơ lao động công ích, tính độc lập và kĩ năng lao động tập thể, vì tập thể
Trường mẫu giáo còn có nhiệm vụ hình thành cho trẻ kĩ năng lao động trong tập thể Việc lao động trong tập thể (nhóm) hình thành ở trẻ khái niệm
về tinh thần trách nhiệm chung đối với công việc được giao, kĩ năng lao động phối hợp, giúp đỡ lẫn nhau trong lao động
5.4 Hình thức tổ chức lao động
- Giao nhiệm vụ: Giao nhiệm vụ là yêu cầu trẻ phải hoàn thành một
công việc nào đó liên quan đến lao động tự phục vụ hay lao động vì tập thể
Trang 40Giao nhiệm vụ là hình thức tổ chức lao động đơn giản nhất cho trẻ mẫu giáo Hình thức này rất cần thiết đối với trẻ mẫu giáo bé, vì trẻ chưa thể lao động theo ý muốn và giáo viên dùng các nhiệm vụ đơn giản để dần giúp trẻ trở thành người có ích cho tập thể và cho chính bản thân mình
- Trực nhật: là hình thức lao động đòi hỏi trẻ hoàn thành các nhiệm vụ
nhằm phục vụ tập thể Đây là hình thức đòi hỏi trẻ phải độc lập hơn - lần lượt tham gia các hình thức trực nhật được phân công trong mỗi ngày Chế
độ trực nhật có ý nghĩa to lớn, nó đặt trẻ vào trong điều kiện bắt buộc phải hoàn thành các công việc cần thiết cho tập thể Điều đó giúp trẻ nâng cao tinh thần trách nhiệm trước tập thể và trẻ hiểu được công việc của mình là cần thiết cho mọi người
- Tổ chức lao động tập thể: là hình tức tổ chức cho trẻ lao động theo
tập thể Các công việc lao động tập thể như quét dọn phòng học, sân chơi, trồng rau, trồng hoa, thu hoạch rau quả, trang trí lớp học vv
Trong hình thức lao động này, giáo viên cần đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ giữa các trẻ, giúp đỡ trẻ hình thành kỹ năng lao động có tổ chức và tinh thần giúp đỡ lẫn nhau