1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 2016 thcs phan đình giót

86 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 119,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sử dụng những câu hỏi mở trong giờ dạy văn bản, GV có thể dễ dàng tạo một không khí sôi nổi trong lớp khi gợi ra những ý kiến trái chiều của HS, từ đó, GV có thể nắm bắt được cách suy ng[r]

Trang 2

MỤC LỤC

1 PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

2 PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 4

2.1 Cơ sở lí luận 4

2.1.1 Lí thuyết về hệ thống câu hỏi trong dạy học Ngữ văn 4

2.1.2 Lí thuyết về hệ thống câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn 6

2.1.3 Nguyên tắc xây dựng câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn 9

2.1.4 Kĩ năng đặt câu hỏi mở phần đọc – hiểu văn bản chương trình Ngữ văn cấp THCS 10

2.1.5 Điều kiện để xây dựng hệ thống câu hỏi mở 12

2.2 Thực trạng vấn đề 13

2.3 Đề xuất việc xây dựng hệ thống câu hỏi mở phần đọc hiểu văn bản Ngữ văn 20

2.3.1 Một số đề xuất khi xây dựng câu hỏi mở trong dạy học Văn học hiện đại ở trường THC 20

2.4 Thực nghiệm sư phạm 21

2.4.1 Mục đích của thực nghiệm 22

2.4.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm 22

2.4.3 Quy trình triển khai thực nghiệm 22

3.4 Kết quả của quá trình thực nghiệm 60

3 PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 67

3.1 Kết luận 67

3 2 Khuyến nghị 67

3.2.1 Đối với giáo viên 67

3.2 2 Đối với các cơ quan quản lý giáo dục và nhà trường 68

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

PHỤ LỤC 71

Trang 4

1 PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ

Quá trình dạy học ngày nay nhấn mạnh vào việc phát huy tính tích cực,chủ động và sáng tạo của người học Người giáo viên (GV) trong quá trìnhgiảng dạy không chỉ giúp học sinh lĩnh hội tri thức mà còn phải giúp các em rènluyện đạo đức, nhân cách và các kĩ năng (kĩ năng giao tiếp, kĩ năng làm việc và

tổ chức hoạt động…) Chính vì thế, trong quá trình dạy học, GV luôn phải xácđịnh cho mình mục tiêu của quá trình dạy học, lựa chọn cho mình một hoặc mộtvài phương pháp tối ưu nhất, phù hợp nhất đối với bài học để có thể cung cấpnhiều nhất kiến thức, kỹ năng cho học sinh (HS)

Trong bộ môn Ngữ văn 7 nói riêng, giờ đọc hiểu văn bản chiếm một vị trí

vô cùng quan trọng Giờ đọc hiểu văn bản giúp học sinh cảm thụ và phân tíchđược tác phẩm văn chương, rèn luyện năng lực thẩm mỹ và năng lực tư duy.Năng lực thẩm mỹ còn tuỳ thuộc vào yếu tố năng khiếu của HS, còn năng lực tưduy là một yêu cầu có tính phổ biến trong dạy học văn Tác phẩm văn chương làmột bức tranh phản ánh đầy đủ và sinh động hiện thực cuộc sống xung quanhchúng ta Mỗi người có một cách cảm nhận riêng về tác phẩm văn học mà mìnhđược tiếp xúc HS khi tiếp xúc với tác phẩm văn chương, được học trong nhàtrường cũng vậy Vì thế, trong giờ giảng văn cần phát huy hết năng lực tư duy,khả năng tìm tòi phát hiện cảm nhận theo những suy nghĩ riêng của HS Nhưvậy, tác phẩm văn học sẽ trở thành đối tượng của thầy trò trong quá trình dạy

học Hiện nay phương pháp giảng dạy tích cực theo quan điểm “Lấy học sinh làm trung tâm” đã được đưa vào ứng dụng Trong hoạt động dạy học nói chung,

trong giờ giảng văn nói riêng với phương pháp này thì phải có sự tác động qualại giữa GV và HS Để phát huy tính tích cực của HS trong hoạt động học tập thì

GV có nhiệm vụ tổ chức chỉ đạo hoạt động của trò Trò phải là chủ thể tự giáctích cực trong quá trình lĩnh hội kiến thức Để giờ học tác phẩm văn chương trởnên sinh động, vai trò của học trò trong giờ học được khẳng định và mối liên hệqua lại thường xuyên giữa thầy và trò được duy trì thì không thể thiếu hệ thốngcâu hỏi

Trang 5

Lý luận dạy học đã có nhiều công trình nghiên cứu được áp dụng trongquá trình giảng dạy văn học đem lại hiệu quả cao Trong các công trình đó cácnhà nghiên cứu cũng đều chú trọng đến phương pháp gợi mở mà trong đó câuhỏi được sử dụng như một liệu pháp chính để phát huy tư duy của HS Trongquá trình giảng dạy, tuỳ vào điều kiện thực tế, tuỳ cách sáng tạo của mỗi GVxây dựng hệ thống câu hỏi và tiến hành thực hiện cách hỏi nhằm định hướng và

tổ chức điều khiển hoạt động của HS trong giờ giảng văn Nhưng việc sử dụngcâu hỏi như thế nào để kích thích HS, giúp các em học tập chủ động hơn càng làmột yêu cầu không thể thiếu Bởi lẽ dạy học văn là không chỉ là dạy một mônnghệ thuật mà cũng là dạy một môn khoa học Vì vậy, dạy học văn ngày nay cầnphải giúp HS bộc lộ suy nghĩ và cách cảm thụ văn học riêng Để từ đó, học vănthực sự mang lại hứng thú cho HS, bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách các em, manglại nhiều lợi ích và kĩ năng sống cho bản thân người học

Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học môn Ngữ văn 7 nói riêngthì câu hỏi luôn được xem là một trong những cách thức tích cực hóa vai trò củangười học Đó là một trong những công cụ quan trọng để hướng dẫn người họcchiếm lĩnh tri thức và hình thành kỹ năng Khi được đặt vào những tình huốngđối diện với những câu hỏi, HS sẽ phải vận dụng các thao tác phân tích, so sánh,liên tưởng, suy luận rồi từ đó rút ra kết luận và tự giải quyết vấn đề Làm nhưvậy, theo TS Nguyễn Thị Hồng Nam (Trường Đại học Cần Thơ), kiến thức sẽđược HS thu nhận bằng con đường tích cực: học bằng cách khám phá (learning

by discovering) và học bằng cách làm (learning by doing)

Tuy nhiên, vì văn học là một môn nghệ thuật nên việc đặt câu hỏi cũng cónhững đặc trưng riêng Câu hỏi đó phải giúp HS đạt được những yêu cầu về kiếnthức, kĩ năng, thái độ sau khi học đối với môn văn học HS học xong môn họckhông chỉ có những kiến thức, kĩ năng sử dụng trong cuộc sống mà còn biết trântrọng những giá trị tinh thần cao đẹp của đất nước và nhân loại, tâm hồn các emđược bồi dưỡng, nhân cách được hoàn thiện

Trang 6

Thực tế, việc dạy và học văn ở trường phổ thông nói chung và trườngTrung học cơ sở (THCS) nói riêng vẫn còn nhiều vấn đề nan giải Việc đặt câuhỏi trong giờ học văn vẫn mang hình thức nặng nề với những câu hỏi khô khan,những câu hỏi yêu cầu phải trả lời theo đáp án chính xác Với những câu hỏiđóng như vậy, chưa hoàn toàn kích thích được sự sáng tạo của HS Như vậy, ta

có thể thấy, mức độ phát triển tư duy của HS, một phần, phụ thuộc vào câu hỏicủa GV Việc thiết kế câu hỏi đã khó, nhưng làm sao để có thể xây dựng đượcmột hệ thống các câu hỏi mở để kích thích được suy nghĩ và cảm nhận của HSlại càng khó hơn, nhất là với thực trạng HS ngày càng chán học môn Văn nhưhiện nay Đó quả là một vấn đề nan giải đối với giáo viên dạy Văn?!

Mặt khác, hiện nay chưa có một lý thuyết thật hệ thống và “bài bản” vềđặt câu hỏi, đặt biệt là câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn Trong khi đó, nghiêncứu vấn đề đặt câu hỏi mở trong dạy học thật sự cần thiết và có tính ứng dụng cao

Nó có ý nghĩa như một sự chỉ dẫn bước đầu trong công việc giảng dạy trên lớp

Từ thực tế và lí luận ấy, ta thấy rằng việc xây dựng hệ thống câu hỏi mởtrong dạy học Ngữ văn là rất cần thiết Vì vậy, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu về đề

tài “Xây dựng hệ thống câu hỏi mở trong dạy học đọc hiểu một số văn bản chương trình Ngữ văn 7” với mục đích nghiên cứu xây dựng hệ thống câu hỏi

phần đọc hiểu văn bản trong chương trình Ngữ văn 7 một cách khái quát, đónggóp về mặt lí luận cho lí luận dạy học

Trang 8

2 PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

2.1 Cơ sở lí luận

2.1.1 Lí thuyết về hệ thống câu hỏi trong dạy học Ngữ văn

2.1.1.1 Khái niệm câu hỏi trong dạy học

Hỏi là nêu ra điều mình muốn người khác trả lời để mình biết về vấn đề nào đó Câu hỏi: Aristotle là người đầu tiên đã phân tích câu hỏi dưới góc độ lôgic,

ông cho rằng: Câu hỏi là một mệnh đề trong đó chứa đựng cả cái đã biết và cáichưa biết Câu hỏi đó là những bài làm mà khi hoàn thành chúng, học sinh phảitiến hành hoạt động tái hiện, bất luận là trả lời miệng, trả lời viết hoặc có kèmtheo thực hành hoặc xác minh bằng thực nghiệm

Khái niệm câu hỏi cũng còn được diễn đạt dưới dạng khác như: câu hỏi làdạng cấu trúc ngôn ngữ, diễn đạt một yêu cầu, một đòi hỏi, một mệnh lệnh cầnđược giải quyết

Câu hỏi thuộc phạm trù khả năng; nó chứa đựng cả hai yếu tố, sự có mặtcủa cái không rõ và nguyện vọng nhu cầu của người muốn hỏi

Tuy có những quan niệm khác nhau nhưng về dấu hiệu bản chất của câu hỏi, đều được các tác giả nêu ra, đó là: xuất hiện điều chưa rõ, cần được giải

quyết từ điều đã biết Trong đời sống cũng như trong nghiên cứu khoa học, conngười chỉ nêu ra thắc mắc, tranh luận khi đã biết nhưng chưa đầy đủ, cần biếtthêm Nếu khi không biết gì hoặc biết tất cả về sự vật nào đó, thì không có gì đểhỏi về sự vật đó nữa Sự tương quan giữa cái biết và cái chưa biết thúc đẩy việc

mở rộng hiểu biết của con người

Trong quá trình dạy học nói chung và trong dạy học Ngữ văn nói riêng,câu hỏi được đặt ra khi người dạy muốn tạo “tình huống có vấn đề”, đòi hỏi HSphải suy nghĩ trả lời nhằm thu được kiến thức và đạt được những yêu cầu về kĩnăng, hoặc thái độ cụ thể cho từng bài học

Câu hỏi được đặt ra là cách thức để thực hiện sự giao tiếp và cốt yếu là đểkhêu gợi, thúc đẩy sự giao tiếp nhằm đạt đến mục đích cuối cùng của bài học

Câu hỏi chứa trong mình những nội dung khác nhau để học hỏi, để truyềnđạt và để kiểm tra, tích lũy tri thức cho HS

Mục đích nêu câu hỏi trong dạy học là để:

+ Kiểm tra sự chuẩn bị bài học ở HS

+ Thực hiện việc giảng bài

+ Luyện tập và thực hành

+ Tổ chức, hướng dẫn HS học tập

Trang 9

+ Khích lệ, kích thích suy nghĩ.

+ Đánh giá trình độ của HS

Về bản chất, theo GS TS Nguyễn Thanh Hùng thì “câu hỏi trong nhà trường là hình thức phổ biến và hết sức cơ bản để bày tỏ quan hệ tin cậy và tôn trọng HS ở người GV” [43;7] Thực chất nêu câu hỏi là vận dụng phương pháp

đối thoại trong dạy học Ngữ văn Nó xứng đáng là một trong những phươngpháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS

2.1.1.2 Vai trò của câu hỏi trong dạy học

Lí luận giáo dục hiện đại nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách làngười tham gia chủ động, trực tiếp vào quá trình dạy học để tìm kiếm kiến thức

và lĩnh hội kỹ năng dưới sự hướng dẫn của giáo viên Nhưng để người học cóthể phát huy tối đa vai trò của mình thì các nhà giáo dục phải xây dựng đượcmột môi trường giáo dục giúp học sinh có thể sử dụng năng lực tư duy ở mức tối

đa Môi trường ấy sẽ được xây dựng bằng các hoạt động tương tác giữa giáoviên với học sinh và giữa học sinh với nhau mà hệ thống câu hỏi là công cụ quantrọng để “kích hoạt” và dẫn dắt những hoạt động tương tác đó Việc sử dụng câuhỏi trong những tình huống dạy học nhất định sẽ đòi hỏi học sinh phải vận dụngcác thao tác tư duy như phân tích, so sánh, phán đoán, suy luận, đánh giá và giảiquyết vấn đề Qua quá trình giải quyết vấn đề, học sinh vừa lĩnh hội kiến thức,hình thành kỹ năng vừa rèn luyện tư duy

Câu hỏi là phương tiện dùng trong dạy và học, là nguồn để hình thànhkiến thức, kỹ năng cho HS Khi tìm được câu trả lời là người học đã tìm ra đượckiến thức mới, rèn được kỹ năng xác định mối quan hệ, đồng thời sử dụng đượcnhững điều kiện đã cho Như vậy là vừa củng cố kiến thức, vừa nắm vững và

mở rộng kiến thức Câu hỏi là phương tiện để rèn luyện và phát triển tư duy

Khi trả lời câu hỏi, HS phải phân tích, xác định mối quan hệ, so sánh, đốichiếu những điều đã cho và những điều cần tìm, đòi hỏi phải suy nghĩ logic.Người học phải luôn luôn suy nghĩ, do đó, tư duy được phát triển Cũng qua việctìm câu trả lời mà lôi cuốn, thu hút người đọc vào nhiệm vụ nhận thức

Câu hỏi phát huy năng lực tự học, nếu được GV sử dụng thành công còn

có tác dụng gây được hứng thú nhận thức khát vọng tìm tòi dựa trên năng lực tựhọc của HS Ngoài ra, nó cho phép GV thu được thông tin ngược về chất lượnglĩnh hội kiến thức của HS (không chỉ là chất lượng kiến thức mà cả về chấtlượng tư duy) Những thông tin này giúp GV điều chỉnh quá trình dạy học mộtcách linh hoạt

Trang 10

Vì câu hỏi có một vai trò quan trọng như thế nên có thể nói chất lượngcũng như khả năng thành công của một bài học và một giờ dạy sẽ được quyếtđịnh chủ yếu qua hệ thống câu hỏi Bài học ấy, giờ học ấy đã thật sự phát huyđược tính tích cực của người học hay chưa; mục đích của bài học ấy, giờ học ấy

có hướng đến phát triển năng lực hay không, về căn bản là do hệ thống câu hỏiquyết định

2.1.2 Lí thuyết về hệ thống câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn

2.1.2.1 Khái niệm câu hỏi mở

Có nhiều tài liệu đã giải thích cụ thể “Thế nào là một câu hỏi mở”? Theo

TS Nguyễn Minh Tuấn thì câu hỏi mở là hỏi khi muốn nắm bắt ý kiến riêng củangười hỏi, đào sâu thêm thông tin, khơi gợi người được hỏi nói về những điều

mà người hỏi muốn biết hay chưa rõ [26]

Còn trong dạy học, các câu hỏi yêu cầu HS tự bảo vệ ý kiến và giải thích lý

do của mình gọi là những câu hỏi mở Câu hỏi mở là câu hỏi có nhiều đáp án vàkhuyến khích HS suy nghĩ chứ không chỉ khôi phục thông tin từ trong trí nhớ

2.1.2.2 Vai trò của câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn

Việc giảng dạy tri thức mới hay kỹ năng mới trong môn Ngữ văn thôngthường phải dựa trên nền tảng đã biết của HS Chiến thuật đặt câu hỏi gợi mởcủa GV sẽ khiến HS nhớ thông tin tốt hơn, học bài mà có cảm giác thú vị khimình tự cảm nhận, phát hiện những chi tiết nghệ thuật độc đáo, hay tiếp thu kiếnthức mới Việc đặt câu hỏi gợi mở không chỉ giới hạn về ở phạm vị ngôn ngữnhư từ vựng, cấu trúc cú pháp mà còn có thể khơi gợi ý tưởng, cảm xúc, tìnhhuống, sự liên tưởng nào đó…

Câu hỏi mở kích thích HS đào sâu suy nghĩ và đưa ra nhiều quan điểm.Không chỉ có một câu trả lời đúng Đưa ra các câu hỏi mở cho nhóm HS sẽ thuđược vô số các ý tưởng và câu trả lời khác nhau

Câu hỏi mở giúp GV thăm dò, lấy ý kiến của HS, đòi hỏi HS tư duynhiều, khuyến khích HS tham gia thảo luận Câu hỏi mở buộc HS phải ngẫmnghĩ và tư duy Từ đó, GV sẽ nhận được nhiều ý kiến và cảm nhận từ HS Nótrao quyền làm chủ cuộc đối thoại cho người trả lời Đối với giáo viên, nghệthuật đặt câu hỏi mở là một công cụ tuyệt vời, nó giúp giáo viên biết được họcviên đã biết gì, chưa biết gì, để bài giảng có trọng tâm và có chiều sâu

Trang 11

Thật khó để GV có thể khơi gợi được ý kiến hay vốn từ của HS nếukhông cung cấp cho họ ngữ liệu, không tạo ra một ngữ cảnh hợp lý Thôngthường thì GV có thể sử dụng những công cụ có tác dụng gợi mở như hình ảnh,

âm thanh, đôi khi là cử chỉ, điệu bộ… Ví dụ như giờ luyện kỹ năng đọc hiểuvăn bản, GV có thể sử dụng hình ảnh, hoặc tiêu đề của đoạn văn cần đọc vàphân tích làm phương tiện để đặt câu hỏi gợi mở, để HS dự đoán nội dung củabài học… GV nên sử dụng những câu hỏi mở mang tính chất thảo luận Có thểbắt đầu giờ học với một cuộc thảo luận sôi nổi bằng cách đặt một câu hỏi mởmang tính khuyến khích HS tìm ra câu trả lời

Sử dụng những câu hỏi mở trong giờ dạy văn bản, GV có thể dễ dàng tạomột không khí sôi nổi trong lớp khi gợi ra những ý kiến trái chiều của HS, từ đó,

GV có thể nắm bắt được cách suy nghĩ của HS về tác phẩm, thấy được nhữngcái đúng, cái sai để “nắn” HS theo hướng chuẩn, hoặc khuyến khích hơn sự sángtạo của HS trong quá trình đọc hiểu tác phẩm

Từ việc cung cấp hệ thống câu hỏi mở, GV dần dần hình thành các kĩnăng cần thiết cho HS như kĩ năng tự học, kĩ năng đánh giá, khả năng làm việctheo nhóm một cách khoa học và hiệu quả cho HS, tránh được lối dạy “mộtchiều”, “định hướng sẵn” một cách khô cứng khi hướng dẫn HS cảm thụ tácphẩm văn học Thay vì một giờ dạy theo trật tự thông thường, với câu hỏi mở,

GV hoàn toàn có thể biến giờ dạy thành một giờ thảo luận dành cho HS (vớiđịnh hướng mở cho trước), để HS phải làm việc hoàn toàn dưới sự giám sát của

GV, rồi từ đó, GV tổng kết, khái quát vấn đề được và chưa được, nên hay khôngnên, bổ sung hoặc giải thích Như vậy, giờ học sẽ thực sự là của HS, do HS tựhoạt động để chiếm lĩnh, khuyến khích sự bạo dạn, khả năng thuyết trình và bảo

vệ ý kiến riêng của HS Sự nhàm chán của những tiết dạy thông thường sẽ đượcthay thế bằng sự cởi mở, sôi nổi, hồn nhiên và đầy thú vị! Vậy mới biết, hiệuquả của những câu hỏi mở quả thực là rất lớn

2.1.2.3 Đặc điểm của câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn

Qua quá trình thực tế giảng dạy trên lớp và việc nghiên cứu các tài liệu,chúng tôi thấy có một số đặc điểm tiêu biểu để chúng ta có thể dễ dàng nhận radấu hiệu của các câu hỏi mở được sử dụng trong giờ dạy:

+ Khi một câu hỏi mở được đặt ra, nó yêu cầu HS phải tạm dừng, suynghĩ và phản ứng

+ Câu trả lời của HS có thể không phải là đúng theo định hướng của GV,

mà nó là cảm xúc cá nhân, ý kiến, hay ý tưởng, nhận định riêng của HS về mộtvấn đề nào đó

Trang 12

+ Khi hỏi những câu hỏi mở, việc kiểm soát nội dung sẽ chuyển qua cho

GV và GV bắt đầu trao đổi với HS

Có thể phân loại các dạng câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn như sau:

Trang 13

B ng 1.1 Phân lo i m t s d ng câu h i m trong d y h c Ng văn ả ạ ộ ố ạ ỏ ở ạ ọ ữ

a Câu hỏi đào sâu (giúp

khai thác thông tin tác phẩm,

(?) Tại sao vấn đề này lại quan trọngthế? Tại sao em nghĩ vậy?

(?) Em có thể trình bày vấn đề đượcgợi ra trong tác phẩm theo một cách khácđược không? Em có thể giải thích lý do chomọi người không?

(?) Từ những chi tiết của tác phẩm, emcho rằng đâu là vấn đề cốt lõi? Từ đó, em hãychỉ ra chủ đề của tác phẩm?

b Câu hỏi giả định (giúp

HS suy nghĩ vượt qua khỏi

khuôn khổ của tình huống hiện

tại, khuyến khích sự liên tưởng,

sáng tạo)

(?) Điều gì sẽ xảy ra nếu ?

(?) Nếu , em nghĩ thế nào?

(?) Nếu , em đồng ý hay phản đối? Ta

có thể đưa ra giả định nào để thay thế?

(?) Hãy hình dung, nếu ,thì điều gì sẽxảy ra? Hãy trình bày suy nghĩ của em về giảthuyết ấy?

c Câu hỏi xác định

nguồn thông tin (giúp đánh giá

mức độ tin cậy, trung thực của

thông tin mà HS đưa ra)

(?) Tại sao em nghĩ những thông tinmình đưa ra là có thể tin cậy được? Tại sao

em lại nghĩ rằng điều này là đúng?

d Câu hỏi về sự đánh

giá của cá nhân (giúp đánh giá

quan điểm, tình cảm, suy nghĩ cá

nhân xoay quanh tác phẩm)

(?) Em có suy nghĩ gì về nhân vật ?(?) Em đánh giá như thế nào về ?(?) Em đã bao giờ ở trong tình huốngnhư ở trong tác phẩm chưa và em đã xử lý rasao?

e Câu hỏi hành động

(giúp HS lập kế hoạch và triển

khai các ý tưởng vào tình huống

thực tế)

(?) Em chuẩn bị làm gì ?

(?) Khi nào em sẽ ?

Trang 14

Như vậy, thông qua hệ thống các câu hỏi trên, khi GV áp dụng vào từngbài giảng, từng văn bản theo những đặc trưng riêng biệt, nó sẽ giúp cho HS tìm

ra được các mối quan hệ trong hiện tượng, sự kiện, tự đưa ra diễn giải hoặc kếtluận riêng về tác phẩm Hệ thống câu hỏi này giúp khuyến khích quá trình đọc

và đồng sáng tạo với tác giả, tăng khả năng liên tưởng, tưởng tượng (đây là yếu

tố quan trọng đối với việc học Văn)

Đồng thời, HS biết cách lựa chọn nhiều phương pháp để giải quyết các đềvăn, hình thành lối tư duy và cách viết, cách giải quyết vấn đề mà không lâmvào “thế bí” khi viết văn như các HS gặp phải hiện nay

2.1.3 Nguyên tắc xây dựng câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn

Khi đặt câu hỏi nói chung và câu hỏi mở nói riêng trong dạy học đọc hiểuvăn bản, chúng ta cũng đều cần lưu ý tới những nguyên tắc sau đây:

2.1.3.1 Câu hỏi mở phải đảm bảo nội dung khoa học, cơ bản, chính xác của kiến thức trong văn bản

Câu hỏi mở cho dù có phát huy được ý kiến, suy nghĩ, quan điểm riêngcủa mỗi cá nhân HS thì cái đích cuối cùng cũng giúp cho HS khám phá vẻ đẹpcủa ngôn từ, của hình tượng văn chương, khơi gợi trong các em những xúc cảmthẩm mỹ, biết rung động trước cái đẹp của đời sống Nhưng để được như vậy,khi GV xây dựng những câu hỏi mở lại phải hết sức chú ý đến việc hướng suynghĩ của cá nhân HS vào kiến thức cơ bản được gợi ra từ hoạt động đọc hiểu.Không thể cứ nói đến “mở” là thoát ly hoàn toàn văn bản, hỏi những thứ liên hệquá xa hoặc chỉ để HS phát biểu “vui” làm giờ học vang lên tiếng cười

2.1.3.2 Câu hỏi mở phải phát huy được tính tích cực trong hoạt động đọc hiểu văn bản của HS

Phương pháp dạy học mới là phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạocủa người học Phương pháp dạy học tích cực xem việc rèn luyện phương pháphọc tập cho HS là yêu cầu rất quan trọng Với hệ thống câu hỏi mở mà GV cungcấp cho HS khi soạn bài thì kiến thức mà các em thu được sẽ bằng con đường tựkhám phá nên vững chắc nhất, đáng tin cậy nhất Để có được điều này, giờ vănnhất thiết phải là một quy trình được thiết kế bằng một hệ thống những thao tác

và biện pháp phù hợp Việc đặt câu hỏi mở có sự tác động đến hoạt động quansát và tư duy độc lập của HS Bằng các câu hỏi mở, HS sẽ phải phân tích, sosánh các hiện tượng và các nhận định này để đưa ra được những ý kiến, quanđiểm cá nhân Trên cơ sở đó, GV dẫn dắt HS đến các kết luận cần có Phươngpháp đặt câu hỏi mở có thể vận dụng cho cả bài học hoặc một phần bài Các câuhỏi thảo luận cần được HS chuẩn bị trước

Trang 15

2.1.3.3 Câu hỏi mở phải phản ánh được tính hệ thống

Khi thiết kế, xây dựng câu hỏi mở cần chú ý đến tính hệ thống Tính hệthống của câu hỏi mở được thể hiện xuyên suốt hoạt động dạy học trong một giờhọc Nói như vậy không có nghĩa là ta sẽ sử dụng từ đầu đến cuối đều là nhữngcâu hỏi mở, mà phải định hướng phần nào sẽ sử dụng dạng câu hỏi mở nào.Cũng không phải thích lúc nào hỏi một câu hỏi mở với HS cũng thích hợp Câuhỏi mở cũng phải đi từ vấn đề dễ đến vấn đề khó Câu hỏi trước sẽ làm tiền đềcho câu hỏi sau, câu hỏi sau làm rõ hơn vấn đề khái quát được đặt ra từ ban đầu.Cho đến khi kết thúc bài học, HS sẽ tổng kết được nội dung của văn bản thôngqua quá trình tự học bằng những câu hỏi gợi mở của GV

2.1.3.4 Câu hỏi mở phải phù hợp với trình độ nhận thức của HS

GV không thể ngay lập tức hỏi một câu hỏi mở quá khó đối với một HStrung bình hoặc yếu kém Bởi kết quả thường là HS không trả lời được Muốn

có những câu hỏi mở phù hợp với mọi đối tượng HS trong lớp, GV cần phảicung cấp hệ thống những câu hỏi mang tính chất giao nhiệm vụ cho HS tự học,

tự tìm hiểu Có như vậy mới đảm bảo được tất cả các đối tượng HS đều bắt nhịpđược với yêu cầu của GV, bởi kiến thức trong văn bản Ngữ văn có liên quan rấtnhiều đến lĩnh vực của các bộ môn khác như Lịch sử, địa lý, giáo dục công dân,

mỹ thuật, âm nhạc Chọn nội dung để hỏi sao cho phù hợp cũng là điều quantrọng đối với mỗi GV

2.1.4 Kĩ năng đặt câu hỏi mở phần đọc – hiểu văn bản chương trình Ngữ văn cấp THCS

2.1.4.1 Lên kế hoạch chuẩn bị cho các câu hỏi

Việc đầu tiên là GV cần lên kế hoạch chuẩn bị cho các câu hỏi Khi lên kế

hoạch, chúng ta cần xác định rõ mục đích hỏi Câu hỏi mở tốt trước tiên phải có

mục đích hỏi rõ ràng, xác định rõ thông tin nào GV muốn biết, vấn đề nào GV

sẽ hỏi Hỏi có thể để thúc đẩy HS tìm hiểu các lĩnh vực tư duy mới để HS có thểđọc hiểu văn bản theo cách riêng của mình, thách thức các ý tưởng hiện tại của

HS khi HS đã có sự chuẩn bị, thăm dò kiến thức, hoặc hỏi đơn thuần chỉ để traođổi thông tin, kinh nghiệm về các vấn đề được đặt ra trong văn bản

2.1.4.2 Đặt câu hỏi

Trang 16

Mấu chốt của kỹ năng này là hỏi sao cho trúng và đúng thời điểm Mộtcâu hỏi hay luôn là câu hỏi mang tính sáng tạo, những câu hỏi này khuyến khích

sự tư duy Tùy thuộc vào hoàn cảnh và đối tượng được hỏi mà GV nêu câu hỏi

sao cho phù hợp GV cần lựa chọn câu hỏi tùy theo mục đích hỏi Đặt câu hỏi

mở khéo léo, hấp dẫn cũng là cả một nghệ thuật Câu hỏi mở sẽ dẫn đến câu trả

lời dài hơn, phát huy tác dụng trong một cuộc trò chuyện mở giữa GV và HS (đó

có thể là một cuộc đối thoại hai chiều của GV và HS về tất cả các vấn đề trongtác phẩm), tìm kiếm thêm thông tin hoặc tham khảo ý kiến của HS Nên mởrộng các câu hỏi mở, chú ý tính liên tục, chặt chẽ của các câu hỏi Chẳng hạn

nên phát triển những câu hỏi như: Điều gì làm em thích nhất ở một chi tiết nào

đó trong văn bản? hoặc Điều gì tạo cho em ấn tượng nhất khi đọc văn bản này? Hoặc mở rộng…Em hãy chia sẻ kinh nghiệm/quan điểm/ thông tin về những gì

em cảm nhận hoặc thu thập được từ văn bản?

Trong tiết dạy, GV phải xác định được câu hỏi nào là trọng tâm và câu hỏi nào là câu hỏi phụ Khi hỏi không định kiến trước, cũng không nên áp đặt.

Để thuận lợi trong việc trao đổi, GV vẫn có thể đưa ra quan điểm riêng của mình

và lắng nghe ý kiến riêng của HS Chẳng hạn, có thể bắt đầu bằng những câu

như: “Theo ý kiến của cô/ cảm nhận của cô thì…/ cô tin rằng…”

Tham khảo tài liệu trên trang 8_bI/VFUdTQRdm0I/AAAAAAAACpg/Dpos8gypNV4/s1600/teacher_questions.JPG, chúng tôi đồng nhất quan điểm và tham khảo quá trình đặt câu hỏi mởcủa GV với các mục đích và thao tác hỏi cụ thể được dịch như sau:

http://3.bp.blogspot.com/-W95zM2-CÂU HỎI CỦA GV

Trang 17

Sơ đồ 2.1 Quá trình đặt câu hỏi mở của GV

Khi xây dựng những câu hỏi mở,kèm theo câu hỏi có thể là những gợi ý,

ví dụ để HS dễ liên hệ, trả lời GV chỉ nên hỏi những câu hỏi mà HS có kinhnghiệm, kiến thức và sự ham thích khi được chuẩn bị trước Có như vậy sự giaolưu, trao đổi giữa thầy và trò mới tự nhiên, tránh được sự áp đặt và những câutrả lời đối phó

2.1.4.3 Lắng nghe, đồng cảm và chia sẻ

GV biết cách lắng nghe có thể hoàn toàn làm chủ được mọi tình huống và

sự trao đổi thông tin với HS GV cần quan sát phản ứng của HS để hiểu HS thật

sự muốn nói gì trong câu trả lời của các em Sau khi đặt một câu hỏi, cần chú ýtới thời gian chờ đợi, đủ để HS suy nghĩ Khi hỏi không nên ngắt lời khi HSđang nói, mà hãy tập thái độ tôn trọng HS như chính mình đang nói vậy Khi

GV thực sự lắng nghe,GV sẽ khiến cho HS tin tưởng và các em sẽ sẵn sàng cùng

GV chia sẻ, trao đổi những vấn đề xung quanh bài học

2.1.5 Điều kiện để xây dựng hệ thống câu hỏi mở

2.1.5.1 Trên cơ sở mục tiêu bài học, giáo viên chủ động thiết kế nội dung chuẩn bị bài cho học sinh

Nói như vậy có nghĩa là GV phải phân loại, lên kế hoạch cho bài giảngcủa mình dựa vào tính chất của giờ giảng Đó sẽ là một giờ thảo luận, giờ thuyếttrình hay cảm thụ tác phẩm văn học Từ đó, xây dựng các hệ thống câu hỏichuẩn bị theo hướng gợi mở để HS tự tìm tòi, tiếp cận tác phẩm

2.1.5 2 Học sinh tích cực trong việc khai thác kiến thức và bộc lộ năng lực

Để thiết thực hóa việc HS phát huy tính tích cực trong việc khai thác kiếnthức, GV cần tìm hiểu kĩ đối tượng HS, phát hiện ra năng lực cụ thể của từngđối tượng HS Từ đó, xây dựng hệ thống câu hỏi mở phù hợp với từng đốitượng

Khuyến khích việc bộc lộ năng lực của HS trong giờ học văn như nănglực tự học, năng lực sáng tạo, năng lực cảm thụ thẩm mỹ, năng lực hợp tác, nănglực làm việc theo nhóm

Tạo cơ hội cho HS thể hiện, được nói ra những suy nghĩ riêng của mìnhtrong giờ học, tránh áp đặt, hoặc thuyết giảng một chiều

GV hướng dẫn HS tự lập hồ sơ cho bài học, có kiểm tra phần chuẩn bị bàimột cách chi tiết để HS có thể trả lời có hiệu quả các câu hỏi mở mà GV đã đưa ra

2.1.5 3 Giáo viên và học sinh làm việc trên lớp theo tinh thần tương tác

Trang 18

Để HS thực sự chủ động, tích cực tham gia vào quá trình DH thì GV phải:Thường xuyên nâng cao ý thức, trách nhiệm học tập của HS; Tường minh kếhoạch học tập đối với HS; Đặt ra những yêu cầu phù hợp với thái độ tin tưởng ởngười học; Tạo điều kiện cho HS có sự chuẩn bị mọi mặt: tâm thế, kiến thức,phương tiện học; Thực hiện kiểm tra, đánh giá thường xuyên; Khuyến khích HS

nỗ lực tham gia các hoạt động hộc tập ngoài lớp (các dự án nhóm, bài luận, báocáo, sưu tầm, nghiên cứu điều tra ) Trong quá trình dạy, GV phải biết lắngnghe, đồng cảm và chia sẻ Khi một GV biết cách lắng nghe có thể hoàn toànlàm chủ được mọi tình huống và sự trao đổi thông tin GV cần quan sát phảnứng của HS để hiểu HS thực sự muốn nói gì, có thật sự chú ý vào bài học haykhông?

Sau khi đặt câu hỏi, GV cần chú ý tới thời gian chờ đợi, đủ để cho HS suynghĩ Khi hỏi, không nên ngắt lời của HS, hãy để HS tự bộc lộ cả những quanđiểm sai, chưa đúng, không nên nóng vội mà áp đặt quan điểm cá nhân

Đối với HS, cần tạo môi trường thân thiện, chủ động, để HS có thể trả lờitất cả các câu hỏi của GV, có thể bộc lộ những suy nghĩ riêng về tác phẩm

2.1.5 4 Đổi mới phương pháp kiểm tra và đánh giá

Đó là việc ra đề thi và kiểm tra hiện nay đối với môn Văn Hướng ra đề

mở với những câu hỏi mở bao giờ cũng hấp dẫn, kích thích được hứng thú của

HS Cách ra đề này yêu cầu người viết cần vận dụng tổng hợp những kiến thức,

kĩ năng và sự trải nghiệm của cá nhân để giải quyết tốt nhất vấn đề được nêu ra

ở đề bài Cách ra đề như vậy sẽ tránh được lối học tủ, học vẹt theo văn mẫuđang diễn ra trong môn học này lâu nay Mặt khác, theo PGS – TS Đỗ NgọcThống thì quan niệm “đề mở” dẫn đến đáp án và hướng dẫn chấm cũng cần mở,tức là GV cần căn cứ vào nội dung và hình thức trình bày của HS mà cho điểmchứ không bó buộc vào biểu điểm chấm cho sẵn

Có như vậy, mới góp phần thay đổi được cách học và cách dạy cũng nhưcách đánh giá truyền thống bao lâu nay ở các nhà trường

2.2 Thực trạng vấn đề

2.2.1 Khảo sát sách giáo khoa (SGK), sách giáo viên (SGV) và một số giáo án của GV về việc xây dựng hệ thống câu hỏi mở trong dạy học đọc hiểu văn bản Ngữ văn 7.

2.2.2.1 Đối với SGK

Như đã nói ở trên, theo cấu trúc SGK, ở cuối mỗi phần văn bản đều

có một hệ thống các câu hỏi nhằm hướng dẫn HS trong quá trình HS đọc hiểu vàchuẩn bị bài ở nhà Cụ thể, chúng tôi đã thống kê, phân loại như sau:

Ngữ văn lớp 7 (Tập một và Tập hai)

Trang 19

Bảng 1.8 Thống kê các câu hỏi hướng dẫn HS được sử dụng trong phần

đọc hiểu văn bản Ngữ văn lớp 7

TT Các dạng câu hỏi thường được sử dụng

trong phần đọc hiểu văn bản (SGK) Số lượng

2 Câu hỏi yêu cầu giải thích, minh họa 31

3 Câu hỏi phân tích, nhận xét, đánh giá 103

Trang 20

Quan sát bảng số liệu thống kê trên, chúng ta đều có thể dễ dàng nhậnthấy số lượng các câu hỏi phần lớn là các câu hỏi tái hiện và các câu hỏi phântích, nhận xét đánh giá Số lượng các câu hỏi khuyến khích khả năng sáng tạocủa HS là chưa nhiều Đặc biệt, số lượng các câu hỏi mở, các câu hỏi ứng dụng

và liên hệ chiếm số lượng rất ít (theo quan sát của chúng tôi thì những câu hỏinày đều được SGK đánh dấu (*)) Như vậy có nghĩa là sự suy nghĩ và thể hiệnchính kiến riêng của HS về một vấn đề nào đó trong tác phẩm là rất mờ nhạt.Những câu hỏi này mới chỉ dừng lại ở việc “nêu cảm nhận” chứ chưa đi sâubuộc HS phải tư duy, tìm hiểu Thêm nữa, các câu hỏi mở này chưa tạo thành hệthống, mới chỉ “lác đác” trong các văn bản Và vì thế cũng phần nào cho thấythực trạng của giờ dạy học Văn còn nặng về phân tích kiến thức mà chưa thấyđược vai trò chủ động, tích cực tìm hiểu thông qua việc thể hiện chính kiến riêngcủa mình

2.2.2.2 Đối với SGV

Qua quá trình nghiên cứu và thực dạy, chúng tôi nhận thấy: Hầu hết cácphần gợi ý giảng dạy ở các văn bản đều theo cấu trúc sau:

B ng 1.11 C u trúc gi ng d y trong sách giáo viên Ng văn ả ấ ả ạ ữ

I - Mục tiêu cần đạt - Nhằm định hướng cho GV những mục

tiêu chính, cụ thể về mặt kiến thức, kĩnăng, thái độ cần hướng tới cho HS quaphần đọc hiểu văn bản

II - Những điều cần lưu ý - Nhằm cung cấp thêm những kiến thức

quan trọng có liên quan đến văn bản để

GV tham khảo

Trang 21

HS trả lời, thảo luận các câu

hỏi trong phần Đọc hiểu văn

Trang 22

Quan sát vào bảng trên, ta có thể thấy SGV định hướng khá rõ ràng và chitiết cho GV những hoạt động dạy học ở trên lớp Tuy nhiên, phần định hướng nộidung chính mới chỉ dừng lại ở chỗ GV giúp HS giải quyết các câu hỏi trong phầnhướng dẫn HS tự học và soạn bài ở cuối mỗi văn bản Phần này có thể coi là “khánặng” nhưng vẫn chưa thực sự phát huy hết khả năng tự sáng tạo của HS.

Hệ thống câu hỏi mở vẫn chưa được chú trọng, hay thậm chí vẫn chưagiúp cho GV có thể có cách xây dựng một hệ thống câu hỏi hướng vào nhữngsuy nghĩ, quan điểm cá nhân của HS Và như vậy, sự truyền đạt kiến thức của

GV vẫn chiếm nhiều thời gian

Trong bối cảnh xã hội mở như ngày nay, giáo dục không ngừng pháttriển, HS cũng được tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin hơn Nếu chỉ dừng lại ởmột hệ thống các câu hỏi hướng dẫn cuối mỗi văn bản và sự giảng dạy của thầy

cô cũng chỉ xoay quanh các câu hỏi đó thì thật sự chưa đủ GV hướng dẫn HS tựhọc mà không có những câu hỏi mở định hướng để kiểm tra quan điểm và suynghĩ của cá nhân HS thì khó có thể biết được tầm kiến thức mà HS đang nắm ởchỗ nào, có hiểu sâu văn bản hay vẫn chỉ ghi nhớ máy móc thông thường

2.2.2.3 Đối với một số giáo án của GV dạy Ngữ văn 7

Qua tìm hiểu và qua thực tế giảng dạy Ngữ văn mà cụ thể là phần Đọchiểu văn bản trong chương trình cấp THCS, bản thân người viết cũng được dựgiờ trong các tiết Hội giảng, dự giờ các trường bạn trong việc sinh hoạt chuyênmôn chung và kể cả giáo án những năm trước đây của cá nhân, thì khi dạy khaithác văn bản, nhiều GV còn rất lúng túng trong việc xây dựng một hệ thống câuhỏi giúp HS khai thác nội dung, kiến thức trong bài một cách hiệu quả, đúng đặctrưng bộ môn Cụ thể là:

* Câu hỏi còn vụn vặt, rời rạc

Để giúp cho HS có thể biết cách đọc hiểu văn bản, câu hỏi cần phải cótính hệ thống Theo đó, các câu hỏi được thiết kế xoay quanh một nội dung cơbản của văn bản, hỗ trợ nhau giúp cho HS nắm bắt được nội dung ấy Vì vậy,các câu hỏi vụn vặt, rời rạc thường chỉ giúp HS hiểu những khía cạnh nhỏ,tương đối đơn giản của vấn đề nên HS sẽ rất khó có thể hệ thống, khái quát đượcnội dung xuyên suốt toàn bài

* Câu hỏi còn chưa tạo thành hệ thống, chưa đi hết vấn đề

Trang 23

Thường những câu hỏi vụn vặt là những câu hỏi chưa đi hết vấn đề Tuynhiên, không phải cứ có một hệ thống từ vài ba câu hỏi trở lên là đã đảm bảo cácnguyên tắc trong việc xây dựng câu hỏi đọc hiểu Câu hỏi không những phải cótính hệ thống mà còn phải giải quyết trọn vẹn một vấn đề của bài học Tuynhiên, có lẽ do vấn đề thời gian bị gò bó trong 45 phút hoặc do thói quen nênmột số GV chỉ hỏi HS một số câu hỏi xoay quanh những chi tiết, tình tiết gắnvới nội dung chính nhưng khi HS đã trả lời đến điểm mấu chốt nhất của vấn đềthì thay vì cần gợi cho các em tự chốt lại nhưng GV lại diễn giảng Điều này gâycảm giác GV chỉ dùng HS như người hỗ trợ giúp mình khai thác vấn đề, chỉ cầnđạt được đúng như nội dung đã định sẵn trong giáo án là GV dừng lại Vì vậy,hiệu quả của câu hỏi chưa cao, giờ dạy vẫn nặng tính áp đặt.

* Câu hỏi chủ yếu chỉ tập trung khai thác một văn bản cụ thể, GV chưa chú ý đến việc hướng dẫn HS có kĩ năng đọc hiểu kiểu văn bản, thể loại tác phẩm

Theo cấu trúc của SGK, hầu hết các tác phẩm được đưa vào đều là nhữngtác phẩm tiêu biểu, được phân loại theo tiến trình phát triển với những thể loạiriêng biệt HS sẽ được tìm hiểu kĩ một mẫu văn bản đại diện cho một thể loạinào đó trong giờ lên lớp, sau đó sẽ được cung cấp một số tác phẩm theo thể loạivừa học để tự luyện tập (qua các giờ hướng dẫn đọc thêm hoặc hướng dẫn tựhọc) Như vậy, GV qua giờ học cần làm cho HS thấy rõ đặc trưng của mỗi thểloại Cụ thể, thông qua giờ dạy một bài, GV cần giúp HS nắm được kiến thứctrên 3 phương diện sau:

+ Các tác phẩm thể loại này có những đặc điểm gì cần lưu ý?

+ Tác phẩm này hay ở chỗ nào? (về nội dung và nghệ thuật)?

+ Cách thức tìm hiểu, tiếp cận kiểu tác phẩm, thể loại này?

Tuy nhiên, trên thực tế, GV vẫn còn nặng về việc khai thác cái hay, cáiđẹp về nội dung cũng như nghệ thuật của văn bản đang dạy mà ít chú ý đến việctìm hiểu đặc trưng thể loại, đặc biệt là thiếu những câu hỏi định hướng giúp HSrút ra cách thức tìm hiểu, tiếp cận kiểu văn bản, thể loại tác phẩm ấy

* Nhiều câu hỏi mang tính tái hiện, ít câu có tính mở

Trong một hệ thống câu hỏi đọc hiểu, không phải không cần những câu hỏitái hiện Tuy nhiên, do loại câu hỏi này không có tính tích cực cao, khá dễ nên ítkích thích được suy nghĩ của học trò Vì vậy, loại câu hỏi này chỉ nên đóng vai trò

là bước đệm, tạo cơ sở, tiền đề để hỗ trợ cho loại câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề.Việc sử dụng nhiều câu hỏi tái hiện sẽ làm giảm hứng thú của HS và hạn chế khảnăng khám phá, tìm hiểu những vấn đề cốt lõi của văn bản ở các em

Trang 24

Hiện nay, một số GV đã chú trọng hơn đến việc đổi mới phương phápgiảng dạy, đã lồng ghép một số câu hỏi mở cho HS Tuy nhiên, do không có tính

hệ thống, và không có sự chuẩn bị, tìm tòi kĩ của HS nên HS dường như bị độngtrong các câu trả lời và diễn đạt quan điểm cá nhân của mình rất lúng túng.Thậm chí, trong các tiết dự giờ, GV còn cài sẵn câu trả lời cho các em, khiếncho giờ học vẫn mang nặng tính hình thức, mà không thực sự thấy được vai tròsáng tạo, liên tưởng, tưởng tượng của HS

Ta sẽ làm phép so sánh 2 dạng câu hỏi sau (Mặc dù cùng là mục đích đểhỏi giúp HS khám phá những biện pháp nghệ thuật đặc sắc được sử dụng trong

một đoạn thơ)

Bảng 1.12 So sánh hai dạng câu hỏi: Câu hỏi phát hiện và câu hỏi mở

Dạng câu hỏi phát hiện Dạng câu hỏi gợi mở

(?) Em hãy cho biết, trong đoạn

thơ này, tác giả đã sử dụng

những biện pháp nghệ thuật

nào?

(?) Em thấy đoạn thơ này hay hay không hay?(?) Vì sao em thấy nó hay? Hay ở điểm nào? Hoặc:

(?) Vì sao em thấy nó chưa hay? Chỗ nào chưahay? Vì sao?

Trang 25

Ở dạng câu hỏi phát hiện, mặc dù HS phải có thao tác vận dụng kiến thức

cũ đã học để trả lời nhưng phần nào câu hỏi này vẫn mang tính áp đặt vì nó đã

vô tình để lộ thông tin là GV đã phát hiện ra trong đoạn thơ có sử dụng một hoặcmột số biện pháp nghệ thuật Như vậy, HS chỉ giúp GV tìm dẫn chứng để chứngminh cho điều GV vừa hỏi

Còn ở dạng câu hỏi gợi mở, trước hết, HS phải cho biết quan điểm cánhân của mình về đoạn thơ (hay hoặc không hay) Tuy nhiên, sau đó, HS phải tựbảo vệ cho ý kiến của mình bằng những lý giải và dẫn chứng cụ thể Cách hỏinày không những giúp cho các em hiểu bài một cách sâu sắc mà còn tập cho HScách tư duy, trình bày ý kiến cá nhân của riêng mình (Điều kiện là HS phải thực

sự có thao tác chuẩn bị bài và sưu tầm, tìm đọc các kiến thức có liên quan) Vớinhững ý kiến và quan điểm khác nhau của mỗi HS, nếu khéo léo, GV còn gợi ramột không khí lớp học với sự tranh luận với những ý kiến trái chiều Giờ học sẽsôi nổi và HS sẽ làm việc tích cực hơn rất nhiều

2.2.3 Một số đánh giá về thực trạng sử dụng câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn hiện nay ở trường THCS

2.2.3.1 Đối với việc dạy của giáo viên

- Giáo viên mặc dầu đã có ý thức đổi mới phương pháp dạy học vănnhưng việc thực hiện chỉ mới mang tính chất hình thức, thử nghiệm chứ chưađem lại hiệu quả như mong muốn Một số giáo viên vẫn còn thói quen dạy họctheo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều: giáo viên giảng giải, học sinh lắngnghe, ghi nhớ và biết nhắc lại đúng những điều mà giáo viên đã truyền đạt Giáoviên chủ động cung cấp kiến thức cho học sinh, áp đặt những kinh nghiệm, hiểubiết, cách cảm, cách nghĩ của mình tới học sinh Nhiều giáo viên chưa chú trọngđến việc tiếp thu, vận dụng kiến thức của học sinh cũng như việc chỉ ra cho họcsinh hướng tích cực chủ động để thu nhận kiến thức Do đó, có những giờ dạyđược giáo viên tiến hành như một giờ diễn thuyết (ham nói) Điều này cũng domột phần vì giáo viên sợ “cháy” giáo án (Giáo viên hỏi nhưng học sinh khôngtrả lời được hoặc học sinh vẫn phát biểu nhưng chưa ra vấn đề, cho nên giáoviên làm thay)

- Cũng có những giờ học văn thiếu đi tính chất “văn” bởi GV đặt ra quánhiều câu

hỏi cho HS Những câu hỏi chẻ nhỏ khiến cho giờ học trở nên rời rạc, khôkhan GV hỏi, HS trả lời liên tục nhưng thiếu tính khái quát, tư duy và sáng tạochứ chưa nói đến việc sẽ có những “xúc cảm thẩm mỹ văn chương”

Trang 26

- Hầu hết, GV khi lên lớp chỉ dựa vào hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài

ở cuối phần văn bản của SGK mà không cung cấp cho HS hệ thống câu hỏi vềcách thức tiếp cận nội dung tác phẩm để HS chuẩn bị ở nhà Thế nên, những câuhỏi mở để thăm dò ý kiến của HS hay để HS liên tưởng, tưởng tượng ngay tronggiờ học đều khiến cho HS lúng túng, không biết cách trả lời hoặc trả lời rằng

“em không biết”

- Các câu hỏi mở được sử dụng trong giờ dạy là chưa nhiều, chưa tạothành hệ thống Hay nói cách khác, GV vẫn còn chưa có nhiều kĩ thuật để đặtmột câu hỏi mở tốt, giúp phát huy hết năng lực cho HS và khơi dậy cho HSnhững kĩ năng tự học và đọc hiểu văn bản

2.2.3.2 Đối với việc học của học sinh

*Những điểm sáng:

- Vẫn còn học sinh thích học văn, mê văn – tuy số này không nhiều

- Vẫn có học sinh giỏi văn, vẫn có những bài viết hay của học sinh

*Những tồn tại:

-Về phía học sinh, tồn tại lớn nhất là thói quen thụ động, quen nghe,quen chép, ghi nhớ và tái hiện lại một cách máy móc, rập khuôn những gìgiáo viên đã giảng Đa phần học sinh chưa có thói quen chủ động tìm hiểu,khám phá bài học, lười suy nghĩ Chỉ biết suy nghĩ diễn đạt bằng những ý vaymượn, bằng những lời có sẵn, lẽ ra phải làm chủ tri thức thì lại trở thành nô lệcủa sách vở Học sinh chưa có hào hứng và chưa quen bộc lộ những suynghĩ, tình cảm của mình trước tập thể, cho nên khi phải nói và viết, học sinhcảm thấy khá khó khăn

- Học sinh thường soạn bài với tính chất đối phó bằng cách chép từ cácsách “học tốt” nhưng khi hỏi thì không hiểu gì Từ đó dẫn đến việc HS khôngbiết cách trả lời thế nào trước câu hỏi của GV, cho dù đó chỉ là những câu hỏiphát hiện chứ đừng nói đến sẽ bộc lộ quan điểm, suy nghĩ cá nhân của mình vềmột vấn đề nào đó khi được hỏi một câu hỏi mở Thói quen học tập thụ động,đối phó của học sinh là một rào cản lớn đối với quá trình đổi mới phương phápdạy học

Trang 27

- Nổi bật là tình trạng chán học văn ở học sinh Học sinh thiếu nhiều vềkiến thức ngữ văn, rất ít học sinh đọc sách để thấy được cái hay, cái đẹp của vănchương, biết rung động trước những tác phẩm văn học hay Do vậy khi làm bài,học sinh thường suy luận chủ quan, thô tục hoá văn chương Ngoài những lỗitrên thì tình trạng học sinh làm bài sai kiến thức cơ bản vẫn chiếm tỷ lệ lớn Đó

là tình trạng “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, viết sai tên tác giả, tác phẩm, nhầmtác phẩm của nhà văn này với nhà văn khác…Đó cũng là hệ quả của việc giảngdạy chỉ quan tâm đến việc ghi nhớ máy móc lượng kiến thức đơn thuần màkhông chú ý đến tư duy, sự sáng tạo và thẩm mỹ nhân văn của văn chương

2.2.3.3 Nhận xét chung

Như vậy, có thể kết luận rằng: Một giờ dạy học đọc hiểu văn bản đạt hiệuquả cao không thể thiếu sự xuất hiện của những câu hỏi mở Nhưng vấn đề đượcđặt ra là những câu hỏi mở ấy phải trở thành hệ thống, với những mục tiêu rõràng từ đầu đến cuối bài học, từ khâu chuẩn bị cho đến khâu kết thúc, cảm thụmột văn bản Ngược lại, cũng phải làm sao cho HS có một lượng kiến thức nhấtđịnh đủ để giải quyết và trả lời được các câu hỏi mở theo quan điểm cá nhân củamình Có như vậy mới hi vọng HS sẽ có sự “say mê”, ham tìm tòi trong bộ mônnày Từ đó, sẽ có những giờ học sôi nổi, phá vỡ trật tự, quy củ thông thường củamột giờ dạy theo truyền thống hay “diễn” trong những giờ hội giảng Giữa thầy

và trò mới thực sự hiểu nhau; thầy sẽ biết trò thiếu cái gì để bù đắp

2.3 Đề xuất việc xây dựng hệ thống câu hỏi mở phần đọc hiểu văn bản Ngữ văn

2.3.1 Một số đề xuất khi xây dựng câu hỏi mở trong dạy học Văn học hiện đại ở trường THC

* Đối với các văn bản tự sự

Bảng 2.5 Đề xuất hệ thống câu hỏi mở khi dạy các văn bản tự sự

Nội dung khai thác Các dạng câu hỏi mở có thể áp dụng

- Cốt truyện, tình huống truyện

- Sử dụng câu hỏi đào sâu (giúp khaithác thông tin, mở rộng vấn đề, giúptìm hiểu bản chất vấn đề)

+ Tình huống truyện này có ý nghĩa gì với em?

+ Tại sao tình huống truyện này lại rất quan trọng với tác phẩm?

+ Em cho rằng đâu là vấn đề cốt lõi của tác phẩm?

Trang 28

- Nhân vật

- Nghệ thuật xây dựng truyện

- Câu hỏi Giả định (giúp thăm dò cáckhả năng và kiểm chứng các giảthuyết, giúp phát huy trí tưởng tượng)

+ Điều gì sẽ xảy ra nếu nhân vật…? + Nếu…, em nghĩ thế nào?

+ Nếu…, em đồng ý hay phản đối? + Nếu điều đó xảy ra, nó có thể gây ra hậu quả gì? Tại sao?

- Sử dụng câu hỏi đào sâu: Làm chohọc sinh cảm thụ sâu sắc đánh giá đúngđắn được các nhân vật trong tác phẩm.Mỗi nhân vật khác nhau lại đòi hỏicách phân tích khác nhau , tìm hiểu vềcác phương diện: lai lịch, hoàn cảnhxuất thân, ngoại hình, ngôn ngữ , nộitâm, cử chỉ, hành động

- Sử dụng câu hỏi về sự đánh giá của

cá nhân (giúp đánh giá quan điểm, tìnhcảm, suy nghĩ của cá nhân)

+ Bạn nghĩ gì về…?

+ Bạn đánh giá như thế nào về…? + Bạn đã từng ở trong tình huống đó chưa và bạn xử lý ra sao?

+ Điều gì khiến bạn tin như thế?

Trang 29

* Đối với các văn bản trữ tình

Sơ đồ 2.3 Đề xuất hệ thống câu hỏi mở khi dạy các văn bản trữ tình

2.4 Thực nghiệm sư phạm

Từ thực trạng dạy học Ngữ văn và đề xuất quy trình thiết kế câu hỏi mởnhư đã nói ở trên, chúng tôi sẽ tổ chức thực nghiệm sử dụng câu hỏi mở trongdạy học đọc hiểu một số văn bản trong chương trình Ngữ văn 7 và kết quả củaquá trình thực nghiệm đó Chúng tôi áp dụng tổ chức dạy học Ngữ văn có sử

dụng câu hỏi mở ở ba tác phẩm tiêu biểu cho ba giai đoạn văn học là: Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến, Một thứ quà của lúa non: Cốm của Thạch Lam; Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh.

2.4.1 Mục đích của thực nghiệm

Nội dung cần khai thác

Chủ thể trữ tình Đặc điểm ngôn ngữ thơ

Hìnhảnh thơ

Câu, từ, nhạc điệu,các biện pháp nghệthuật tu từ

Xây dựng hệ thống câu hỏi mở:

+ Câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng+ Câu hỏi phân tích tổng hợp+ Câu hỏi so sánh

+ Câu hỏi nêu vấn đề+ Câu hỏi giả định+Câu hỏi đào sâu+ Câu hỏi quan điểm

Trang 30

Mục đích của quá trình thực nghiệm nhằm kiểm tra tính khả thi của đề tài,đồng thời cũng nhằm mục đích thu được kết quả thực tiễn cho đề tài Quá trìnhthực nghiệm này còn có thể bổ sung những kinh nghiệm thực tế cho những vấn

đề được đặt ra trong đề tài Quá trình thực nghiệm được triển khai tại trườngTHCS Phan Đình Giót (Thanh Xuân – Hà Nội)

2.4.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm

- Đối tượng: Toàn bộ học sinh lớp 7A1, 7A2, 7A9 trường THCS Phan

Đình Giót (Thanh Xuân – Hà Nội)

- Nội dung thực nghiệm: Giảng dạy văn bản Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến, Một thứ quà của lúa non: Cốm của Thạch Lam; Tiếng gà trưa

của Xuân Quỳnh

- Thời lượng tiến hành thực nghiệm: 3 tiết học

2.4.3 Quy trình triển khai thực nghiệm

2.4.3.1 Văn bản “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến

2.4.3.1.1 Lí do lựa chọn văn bản

Bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến được coi là một tác

phẩm tiêu biểu thơ ca Việt Nam thời trung đại Tác phẩm thể hiện rõ nét phongcách thơ của Nguyễn Khuyến với giọng thơ nhẹ nhàng, kín đáo mà sâu cay.Chiều sâu tư tưởng kết hợp hài hòa với nghệ thuật thơ sang tạo, điêu luyện đãđưa thi phẩm lên một vị trí xứng đáng trong thi đàn dân tộc Do đó, trải quanhiều biến thiên của thời gian, tác phẩm vẫn giữ vững ngọn lửa ấm áp tronglòng công chúng yêu thơ

Trong quá trình dạy tác phẩm, giáo viên có cơ hội tích hợp và giáo dụccho học sinh sự chân thành, trong sáng trong mối quan hệ với bạn bè Vì vậy,việc sử dụng câu hỏi mở trong tác phẩm này không chỉ giúp cho học sinh có cơhội khai thác tác phẩm ở nhiều góc độ, bộc lộ những suy nghĩ của như sự cảmnhận của mình về tác phẩm mà qua đó còn khuyến khích học sinh bộc lộ rõ suynghĩ, tâm tư, tình cảm của mình trong mối quan hệ bạn bè Từ đó, giáo viên có

cơ hội hiểu hơn về học sinh

2.4.3.1.2 Quy trình triển khai thực nghiệm bài “Bạn đến chơi nhà”

- Bước 1: Giáo viên soạn giáo án có thiết kế câu hỏi mở theo quy trình đã

đề xuất ở chương II

Tiết 30: Văn bản

- Nguyễn Khuyến-

Trang 31

A Mục tiêu cần đạt:

1 Kiến thức:

- Về nội dung: Tình bạn đậm đà, hồn nhiên, dân dã vượt lên giá trị vậtchất tầm thường Đó là một nét đẹp trong nhân cách nhà thơ Nguyễn Khuyến –một người tiêu biểu cho phong cách và tâm hồn người Việt

- Về nghệ thuật: Thể thơ Thất ngôn bát cú được Việt hóa bằng lời thơthuần Việt trong sáng, bình dị

+ Tính biểu cảm của văn bản thơ có thể được bộc lộ bằng các yếu tố tự

sự sinh hoạt hàng ngày – nét độc đáo trong phong cách thơ Nguyễn Khuyến

- Trân trọng tình bạn chân thành, trong sáng của nhà thơ Nguyễn Khuyến.

4 Tích hợp dạy nếp sống Thanh lịch – văn minh:

- Biết xưng hô, giao tiếp, ứng xử phù hợp với bạn bè trong từng hoàn cảnh.

- Có ý thức xây dựng tình bạn đẹp, trong sáng, chân thành, không tính toán

- Trân trọng, gìn giữ những giá trị văn hóa tinh thần của người Việt

B Chuẩn bị:

+ GV: Giáo án, tranh ảnh minh hoạ, tài liệu tham khảo về tác giả, tác phẩm.

+ HS: Đọc và chuẩn bị bài Sưu tầm tư liệu cho bài học.

C Phương pháp dạy học:

- Phương pháp nêu vấn đề, thảo luận nhóm…

D Nội dung và tiến trình dạy học:

1 Ổn định tổ chức:

2 Kiểm tra

3 Giảng bài mới:

* Giới thiệu bài

Huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam một mảnh đất giàu truyền thống hiếu học

và có nhiều danh nhân khoa bảng của các triều đại phong kiến Việt Nam Trong

đó, người để lại dấu ấn sâu đậm nhất chính là cụ Tam nguyên Yên Đổ NguyễnKhuyến Cả cuộc đời sống ngay thẳng, thanh bạch, nhà thơ NK đã trở thành mộtnhân cách lớn mang đậm bản sắc quê hương, đất nước, tâm hồn người ViệtNam Điều đó được thể hiện rõ nét và độc đáo trong bài thơ “Bạn đến chơi nhà”

mà cô trò ta sẽ tìm hiểu trong tiết học hôm nay (GV ghi bảng)

Trang 32

GV: Để tìm hiểu về nhà thơ Nguyễn

Khuyến, mời các em xem đoạn phim

sau đây (Đoạn phim)

(?) Qua đoạn phim vừa xem kết hợp

với phần chuẩn bị bài ở nhà, em hãy

nêu những nét chính về cuộc đời và

sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn

Khuyến?

( HS trả lời- GV kết hợp ghi bảng)

- GV chiếu ảnh nhà thơ Nguyễn

Khuyến và mở rộng thông tin về tác

giả

NK có nhiều vần thơ viết về tình bạn,

về thiên nhiên, cuộc sống, con người ở

làng quê Vì thế, ông được coi là nhà

thơ của tình bạn, làng cảnh Việt Nam.

( ghi bảng)

- Giới thiệu về hoàn cảnh sáng tác:

Sau khi thi đỗ, Nguyễn Khuyến làm

quan khoảng 10 năm Sau đó, ông cáo

quan về ở ẩn tại quê nhà Bài thơ này

được sáng tác trong thời gian đó

(Chiếu bài thơ)

(?) Bài thơ được viết theo thể thơ gì?

Nêu hiểu biết của em về thể thơ đó?

- Bài thơ được viết theo thể thất ngôn

bát cú Đường luật nhưng cái đặc sắc là

nó được viết bằng chữ Nôm- chữ viết

của dân tộc ta

- HD cách đọc: Giọng vui tươi, hóm

- Trả lời

I Đọc- Tìm hiểu chung

1 Tác giả:

Nguyễn Khuyến (1835 –1909) –Tam Nguyên YênĐổ

- Nhà thơ của tình bạn vàlàng cảnh Việt Nam

2 Tác phẩm

a Hoàn cảnh sáng tác:

sau khi cáo quan về ở ẩn

b Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật

c Đọc

d Bố cục : 3 phần

Trang 33

HĐ của GV HĐ của

HS

Nội dung cần đạt (?)Gọi HS đọc – nhận xét

(?)Theo em, bài thơ có thể được chia

làm mấy phần? Nội dung chính của

từng phần?

Thông thường, bài thơ thất ngôn bát

cú được chia làm 4 phần: đề, thực,

luận, kết, nhưng ở đây chúng ta không

tìm hiểu theo bố cục đó mà theo mạch

cảm xúc của tác giả Đây chính là sự

phá cách, sáng tạo, thể hiện cách lập ý

độc đáo của nhà thơ (Chiếu máy)

-Chuyển ý: Và bây giờ, cô trò chúng

ta sẽ tìm hiểu cái độc đáo ấy trong bài

thơ là gì? (Ghi bảng)

HOẠT ĐỘNG 2: HD HS TÌM HIỂU

CHI TIẾT TÁC PHẨM

Chiếu câu 1:

(?) Đọc câu thơ thứ nhất, em hãy cho

biết cụm từ “đã bấy lâu nay” là

thành phần gì trong câu? Việc sử

dụng cụm từ ấy của nhà thơ giúp em

hình dung được điều gì?

- Đã lâu rồi 2 người không gặp nhau

- Nỗi mong chờ bạn của nhà thơ…

* Trạng ngữ chỉ thời gian đặt ở đầu câu

thơ nói lên sự xa cách: đã lâu rồi không

thấy bác đến chơi Dường như khi nói

vậy là nhà thơ đã có ý tính với lần

- đã bấy lâu nay: xa

cách, mong chờ

- bác: thân tình, nể trọng

Trang 34

HĐ của GV HĐ của

HS

Nội dung cần đạt

tìm không ? Vì sao?

- Bác là danh từ nhưng ở đây lại được

dùng như đại từ nhân xưng Cách xưng

hô này ta vẫn thường gặp trong cuộc

sống Nó vừa dân dã, mộc mạc, gần

gũi lại vừa thể hiện sự tôn trọng của

người nói đối với người nghe

Như vậy ta thấy rằng: từ ngữ xưng hô

trong tiếng Việt rất phong phú Vì vậy,

cần cân nhắc khi sử dụng đại từ nhân

xưng cho phù hợp với đối tượng và

hoàn cảnh giao tiếp

(?) Còn em, khi xưng hô với bạn bè,

em thường dùng những từ ngữ nào?

( tớ - cậu, mình – bạn, xưng tên…)

- Từ ngữ xưng hô không chỉ thể hiện

mối quan hệ giữa người nói với người

nghe mà còn mang sắc thái biểu cảm

khác nhau.Vì thế, khi giao tiếp, không

chỉ với bạn bè mà với tất cả những

người xung quanh, các em cần lựa

chọn từ ngữ xưng hô cho phù hợp để

thể hiện nét thanh lịch, văn minh của

người Hà Nội nói chung, học sinh Thủ

đô nói riêng

- Trở lại với câu thơ của NK “ Đã

bấy lâu nay bác tới nhà”- câu thơ

không đơn thuần là lời thông báo

bạn đến chơi mà còn cho thấy tâm

trạng, cảm xúc gì của tác giả?

* Tự nhiên là thế, chân tình là thế, câu

thơ vang lên như một tiếng reo vui,

một lời chào thân mật, dung dị của

những con người chân quê Đằng sau

câu thơ, ta như hình dung thấy những

bước chân lập cập như ríu lại, nét mặt

- Suy nghĩ, trả lời

- Trả lời

- Quan sát

 Reo vui, hồ hởi

2.Tình huống tiếp bạn

Trang 35

HĐ của GV HĐ của

HS

Nội dung cần đạt

hồ hởi, xúc động của chủ nhà trước sự

xuất hiện bất ngờ của người bạn đã bấy

lâu chưa gặp.( ghi bảng: reo vui, hồ

hởi)

Chuyển ý: Bạn đến chơi là một điều

bất ngờ, một niềm vui lớn Trong niềm

vui ấy, nhà thơ sẽ tiếp đãi bạn như thế

nào?

Chiếu 6 câu thơ

(?) Em hãy đọc 6 câu thơ và cho biết

điều đầu tiên tác giả nghĩ tới việc

tiếp đãi bạn là gì?

* Đối với người Việt Nam chúng ta,

khi nhà có khách, đặc biệt là khách

quý từ xa đến, bao giờ người Việt cũng

muốn bày tỏ tình cảm, tấm lòng hiếu

khách của mình bằng việc làm mâm cỗ

thật thịnh soạn Lối sống, phong cách

của con người Việt Nam là như vậy

đấy Và suy nghĩ của NK cũng không

nằm ngoài điều đó Nhà thơ muốn làm

mâm cơm tươm tất bằng những thức

ngon mua ở chợ nhưng lại gặp phải

khó khăn, đó là gì?

(ghi bảng: trẻ - vắng, chợ - xa)

- Không có trẻ để sai bảo, tuổi già sức

yếu, nhà thơ không thể đích thân đi

chợ được Trong hoàn cảnh đó, NK

cá gàcảicàbầumướptrầu

vắngxakhôn chàikhó đuổichửa ra câymới nụvừa rụngrốn

đương hoakhông có

(Có) (Không có)

=> Từ ngữ phongphú, mộc mạc,giản dị + nói quá

Trang 36

vốn là những món ăn ngon và sang,

nhất là đối với người dân vùng nông

thôn Nhưng thật trớ trêu, bạn đến bất

ngờ, tôi không có sự chuẩn bị trước

nên : cá khôn chài, gà khó đuổi Không

có được mâm cơm thịnh soạn như

mong muốn, cụ Tam Nguyên đành

nghĩ đến những món rau dưa đạm bạc,

dân dã nhưng chúng đều chưa dùng

được Ngay cả “Miếng trầu là đầu câu

chuyện” cũng lại không có nốt Thật là

oái oăm!

- Chú ý các từ “ khôn, khó, chửa…

” và nhận xét cách dùng từ của tác

giả?

Đây là những từ thuộc lời ăn tiếng nói

của nhân dân Bình thường, chúng rất

ít và khó đưa vào trong thơ Nhưng ở

đây, NK đã sử dụng một cách nhuần

nhuyễn, khéo léo và việc dùng từ

thuần Việt khiến cho đoạn thơ, lời thơ

trở nên trong sáng, dễ hiểu Điều đó

chứng tỏ tài năng bậc thầy của cụ đồ

nho trong việc sử dụng ngôn ngữ dân

tộc

Câu hỏi thảo luận nhóm( 2 phút)

(?) Có ý kiến cho rằng: trong đoạn

thơ này, cụ Nguyễn Khuyễn đang

than nghèo, kể khổ về gia cảnh của

mình Em có đồng ý với ý kiến đó

không? Vì sao?

( HS thảo luận - gọi đại diện nhóm

- Quan sát, nhậnxét

-Hoạt động nhóm

- Đại diện nhóm trình bày

- Nhận xét

-> Tạo tình huống khóxử: đùa vui, hóm hỉnh

Trang 37

than nghèo Vì vốn là một ông quan to

triều Nguyễn dẫu về quê ở ẩn thì NK

cũng không nghèo đến mức không có

bữa cơm, không có miếng trầu để mời

bạn Vả lại, cơ ngơi của cụ là “Chín

sào tư thổ làm nơi ở”, mấy ngàn mét

đất chẳng lẽ lại không có rau trái gì

đúng mùa vụ? Thực ra, cụ đang ngầm

giới thiệu những thứ mà mình có (ghi

bảng có) nhưng vì không đúng thời

điểm, thời vụ nên cuối cùng lại chẳng

có gì để tiếp bạn (không có) Đây là

cách nói quá lên để tạo ra tình huống

khó xử nhằm đùa vui, hóm hỉnh với

bạn

(?) Qua những câu thơ của NK, em

hình dung thế nào về bức tranh làng

quê Việt Nam?

( GV bình- chiếu các hình ảnh về

vườn…)

Đọc những câu thơ, chúng ta có cảm

tưởng như cụ Tam Nguyên Yên Đổ

đang dẫn bạn ra vườn để giới thiệu về

cuộc sống của mình sau khi từ quan

Đó là cuộc sống thanh bạch của một

nhà nho vui thú với cảnh điền viên, với

vườn cây ao cá, với cải, cà, bầu,

mướp… Một bức tranh trù phú, bình

dị mang những nét đặc trưng của vùng

quê đồng bằng Bắc Bộ Tất cả đã được

hòa quyện trong sự hài hước, hóm

hỉnh, đúng với phong cách và lối sống

dân dã của nhà thơ Nguyễn Khuyến

Đọc đến đây, chúng ta tự hỏi: không có

- Trả lời

- Quan sát, nghe

- Đọc, trảlời

Trang 38

HĐ của GV HĐ của

HS

Nội dung cần đạt

mâm cao cỗ đầy để tiếp bạn, đến lễ

nghi tiếp khách tối thiểu là miếng trầu

cũng không có, vậy nhà thơ sẽ lấy gì

để bày tỏ tình cảm của mình đối với

bạn?

(?)Em hãy đọc câu thơ cuối và cho

biết cụm từ “ta với ta” có ý nghĩa gì?

(Chỉ nhà thơ và người bạn, đồng nhất

giữa chủ và khách, tuy 2 mà như 1 Chỉ

3 tiếng “ta với ta” thôi nhưng thật ấm

áp, thật ý nghĩa …)

(?) Câu thơ cuối có mối quan hệ thế

nào thế nào với 6 câu thơ trước?

( Chiếu máy cả 7 câu thơ)

+ 6 câu trước: không có (vật chất)

+ Câu cuối: có ( tinh thần)

Trong một bài thơ, không phải câu thơ

nào cũng có vai trò, vị trí như nhau

Dường như

“cái không” ở những câu thơ trên đã

được đẩy lên đến mức cao trào để làm

nổi bật “cái có” ở câu thơ cuối Nếu

như 6 câu trên làm cho người đọc ở

vào thế chông chênh thì câu kết bất

ngờ đã lấy lại thế cân bằng Bạn đến

với tôi vì tình, vì nghĩa và tôi tiếp bạn

cũng chính bằng tình cảm, bằng tấm

lòng chân tình hiếu khách của mình

Cho dù vật chất có thiếu thốn nhưng

biết yêu thương, quý trọng nhau ta vẫn

thấy đủ đầy bởi tình bạn chính là bữa

tiệc tinh thần vô giá.( ghi bảng: tình

bạn chân thành, thắm thiết)

(?)Từ câu chuyện tình bạn của NK,

là học sinh, em quan niệm thế nào là

một tình bạn đẹp? lời- HS khác nhận

- Suy nghĩ, trả lời

->Tình bạn chân thành,thắm thiết

Trang 39

- Các em đang ở lứa tuổi đẹp nhất: tuổi

học trò hồn nhiên, trong sáng Cô

mong các em sẽ có nhiều người bạn tốt

và giữ gìn những tình bạn đẹp để làm

hành trang bước vào tương lai

Có được tình bạn đẹp đã là khó nhưng

để giữ được nó là điều không phải dễ

(?) Vậy theo em, làm thế nào để giữ

gìn tình bạn đẹp?

( hiểu và thông cảm cho nhau, không

nên cố chấp…)

Đặt bài thơ trong hoàn cảnh: người bạn

đến chơi khi NK đã cáo quan về ở ẩn,

ta mới càng trân trọng tình bạn, tình

người ở đây Tình cảm của NK khác

hẳn với thời thế mà Nguyễn Bỉnh

Khiêm đã phản ánh:

“Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử

Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi”

Và trong xã hội ngày nay, có nhiều

người sống thực dụng, quá đề cao vật

chất mà quên đi những giá trị tinh thần

thì bài thơ của NK chính là lời nhắc

Trang 40

* Bài thơ nói riêng và những sáng tác

của NK nói chung luôn mang đậm bản

sắc, tâm hồn người Việt: mộc mạc mà

tế nhị, giản dị mà thanh cao, thân mật

nhưng không suồng sã Cái đặc tính

dịu dàng, kín đáo, hóm hỉnh, sâu sắc là

sản phẩm tinh thần đặc trưng của xứ sở

văn minh lúa nước Vì thế, có thể

khẳng định: NK là một con người, một

tâm hồn Việt Nam tiêu biểu

Ngày đăng: 03/02/2021, 19:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Viết Chữ (2000), Phương pháp dạy học tác phẩm văn học theo loại thể, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn học theo loạithể
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
2. Trần Thanh Đạm (1978), Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1978
3. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1997), Từ điển thuật ngữ Văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Vănhọc
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
4. Nguyễn Trọng Hoàn (2003), Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tácphẩm văn chương
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
5. Nguyễn Thanh Hùng (2003), Hiểu văn dạy văn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu văn dạy văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
6. Nguyễn Thanh Hùng, “Đa dạng hiệu quả của câu hỏi trong dạy học văn”(Tạp chí Giáo dục số 148 kì 2-10/2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng hiệu quả của câu hỏi trong dạy học văn
7. Nguyễn Thanh Hùng, Giáo trình phương pháp dạy học Ngữ văn ở THCS (2008), NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp dạy học Ngữ văn ở THCS
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng, Giáo trình phương pháp dạy học Ngữ văn ở THCS
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2008
8. Nguyễn Thị Thanh Hương (1998), Phương pháp tiếp nhận văn chương ở trường trung học phổ thông, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tiếp nhận văn chương ởtrường trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
9. Nguyễn Thị Thanh Hương (2001), Dạy văn ở trường phổ thông, NXB Đại học QG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy văn ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Nhà XB: NXB Đạihọc QG Hà Nội
Năm: 2001
10. Phan Trọng Luận (2004), Phương pháp dạy học văn, Tập 1, NXB đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB đại học sưphạm
Năm: 2004
11. Phan Trọng Luận (2004), Phương pháp dạy học văn, Tập 2, NXB đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB đại học sưphạm
Năm: 2004
12. Phan Trọng Luận (2000), Đổi mới giờ dạy học tác phẩm văn chương, NXB Giáo dục. (93) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới giờ dạy học tác phẩm văn chương
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXBGiáo dục. (93)
Năm: 2000
13. Phan Trọng Luận (2003), Văn chương bạn đọc sáng tạo, NXB đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn chương bạn đọc sáng tạo
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB đại học Quốcgia Hà Nội
Năm: 2003
14. Phan Trọng Luận (2001), Giáo trình Phương pháp dạy học Văn tập I , NXB Giáo dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phương pháp dạy học Văn tập I
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXBGiáo dục
Năm: 2001
15. Nguyễn Huy Quát (2008), Nghiên cứu văn học và đổi mới phương pháp dạy học văn, NXB Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học và đổi mới phương pháp dạyhọc văn
Tác giả: Nguyễn Huy Quát
Nhà XB: NXB Đại học Thái Nguyên
Năm: 2008
16. Hoàng Tiến Tựu (1993), Mấy vấn đề phương pháp nghiên cứu văn học dân gian, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề phương pháp nghiên cứu văn học dângian
Tác giả: Hoàng Tiến Tựu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
17. Đỗ Bình Trị (1993), Phân tích tác phẩm văn học dân gian, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tác phẩm văn học dân gian
Tác giả: Đỗ Bình Trị
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
18. SGK Ngữ văn 6 (2011), NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
19. SGK Ngữ văn 7 (2011), NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
20. SGK Ngữ văn 8 (2011), NXB Giáo dục, Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w