Để thực hiện tốt cuộc vận động “Hai không” của ngành giáo dục và giúp cho phụ huynh có biện pháp phù hợp trong việc giáo dục con cái, tôi đã mạnh dạn trao đổi với phụ huynh học sinh về c[r]
Trang 1UBND quận thanh xuân TRờng tiểu học hạ đình
-*** -sáng kiến kinh nghiệm
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP ĐỠ HỌC SINH KHẮC PHỤC KHể KHĂN KHI GIẢI CÁC BÀI TOÁN Cể LỜI VĂN Ở LỚP 3
Môn : Toán Cấp học : Tiểu học Tên tác giả: Trần Thị Thu Quỳnh
Đơn vị công tác: Tiểu học Hạ Đình Chức vụ: Khối trởng Chủ nhiệm
Trang 25 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
2 Thực trạng việc dạy và học giải toán có lời văn ở trường tiểu học 4
2.3 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên 6
3 Một số biện pháp giúp đỡ học sinh khắc phục khó khăn khi giải
các bài toán có lời văn ở lớp 3 6
3 1 Trao đổi với phụ huynh – Thống nhất biện pháp giáo dục 6
3 2 Giúp HS phân biệt rõ các dạng toán và chuẩn bị cho việc giải
3.3 Giúp học sinh nắm được quá trình giải toán 83.4 Rèn kĩ năng giải toán cho học sinh 103.5 Khích lệ học sinh tạo hứng thú khi học tập 12
Ở nhà trường Tiểu học, mỗi môn học đều góp phần vào việc hình thành, vào việcphát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam.Trong các môn học ở Tiểu học, môn Toán có vị trí cực kỳ quan trọng vì những lí dosau:
Trang 3- Các kiến thức và kĩ năng của môn Toán, có nhiều ứng dụng trong đời sống sinhhoạt của mọi người dân lao động.
- Môn Toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng, hình dạngkhông gian của thế giới hiện thực Nhờ đó mà học sinh có phương pháp nhận thứcmột số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đờisống
- Môn Toán góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp tư duy, phươngpháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề góp phần phát triển trí thông minh,độc lập, sáng tạo, góp phần vào việc hình thành các phẩm chất của người lao độngmới
Việc dạy giải toán ở Tiểu học là một trong những nội dung trong chương trìnhmôn Toán ở Tiểu học nhằm giúp học sinh tiếp thu và vận dụng những kiến thức vềToán, được rèn luyện kĩ năng thực hành với những yêu cầu được thể hiện một cách
đa dạng phong phú Dạy học Toán giúp học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triểnnăng lực tư duy và có đủ tư cách, phẩm chất của con người mới
Trong thực tế, chất lượng của bộ môn Toán nói chung và đặc biệt môn Toán lớp
3 nói riêng đã có nhiều kết quả khả quan song chưa thực sự đáp ứng được với nhiệm
vụ và yêu cầu môn học đề ra Cụ thể là chất lượng môn Toán lớp 3 - trường Tiểuhọc chưa thực sự tương xứng với vị trí của môn Toán lớp 3 trong chương trình học.Đặc biệt là kỹ năng giải toán của học sinh lớp 3 chính là vấn đề cần quan tâm Trướcthực tế như vậy tôi luôn suy nghĩ: Làm thế nào để giúp học sinh nắm vững kiến thức
và vận dụng vào trong giải toán, góp phần nâng cao chất lượng học môn Toán củahọc sinh lớp 3, giúp các em có kỹ năng giải toán với tinh thần tự giác và hứng thúhọc tập
Giải toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế, nội dung bài toán đượcthông qua những câu văn nói về những quan hệ, tương quan và phụ thuộc, có liênquan tới cuộc sống thường xảy ra hàng ngày Cái khó của bài toán có lời văn chính
là ở chỗ làm thế nào để lược bỏ được những yếu tố lời văn đã che đậy bản chất toánhọc của bài toán Hay nói một cách khác là làm sao phải chỉ ra được các mối quan
hệ giữa các yếu tố toán học chứa đựng trong bài toán và tìm được những lời giảiphép tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số của bài toán
Là một giáo viên trực tiếp chủ nhiệm và giảng dạy ở khối lớp 3, qua kinhnghiệm của bản thân và học hỏi, trao đổi kinh nghiệm cùng đồng nghiệp, tôi đã rút
ra được: “Một số biện pháp giúp đỡ học sinh khắc phục khó khăn khi giải các bài
Trang 4toán có lời văn ở lớp 3” để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của nhà
trường nói chung và đối với học sinh lớp 3 nói riêng
Trong quá trình nghiên cứu sẽ không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong được sựgóp ý, nhận xét của Hội đồng khoa học, của các đồng nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao chất lượng học môn Toán lớp 3, giúphọc sinh tích cực, hứng thú học tập, biết vận dụng những kiến thức về giải toán cólời văn, được rèn luyện những kỹ năng thực hành, năng lực sáng tạo theo đúng mụctiêu của môn Toán lớp 3
3 Đối tượng nghiên cứu
Năm học 2019 - 2020 tôi được phân công giảng dạy lớp 3 nên đối tượng tôi chọn
để nghiên cứu là học sinh lớp 3 do tôi chủ nhiệm
4 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung giải toán được sắp xếp hợp lý, đan xen phù hợp với các mạch kiến thứckhác song vì điều kiện và thời gian có hạn nên tôi chỉ tiến hành nghiên cứu về cácgiải pháp giúp học sinh giải toán lớp 3 từ đó có biện pháp giúp đỡ học sinh yếu kémkhắc phục khó khăn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu vị trí, mục đích yêu cầu của việc dạy học giải toán lớp 3 ở trường
Tiểu học, đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 3
- Tìm hiểu các cơ sở khoa học của việc giúp học sinh giải toán ở lớp 3
- Tìm hiểu thực trạng việc dạy học giải toán lớp 3 ở trường Tiểu học
- Đề xuất một số giải pháp giúp học sinh giải toán ở lớp 3
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu của đề tài, tôi đã sử dụng cácphương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Các tài liệu, giáo trình phương pháp dạy họctoán, sách tham khảo
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra thực trạng, nghiên cứu thực tế, thựcnghiệm một số giờ dạy Toán ở lớp 3
7 Những đóng góp mới của đề tài
Trang 5Qua nghiên cứu tôi đã đưa ra một số biện pháp và đúc kết được một số kinhnghiệm để giúp học sinh yếu kém khắc phục khó khăn khi giải các bài toán có lờivăn ở lớp 3.
8 Kế hoạch nghiên cứu
- Tháng 9/ 2019: Lựa chọn tên đăng ký sáng kiến kinh nghiệm
- Tháng 10/ 2019 đến tháng 1/ 2020: Xây dựng đề cương kế hoạch, sưu tầm tài liệu
số liệu để xây dựng cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn cho sáng kiến kinh nghiệm, điều tranghiên cứu thực tế tiến hành thực nghiệm
- Tháng 2 đến tháng 4 năm 2020: Tiếp tục các biện pháp giáo dục đối tượng, viết
nháp sửa thảo văn bản, viết soạn công trình, hoàn thành bản thảo, viết sáng kiến kinh
tư duy một cách tích cực linh hoạt, huy động thích hợp các kiến thức và khả năng đã
có vào tình huống khác nhau, trong nhiều trường hợp phải biết phát hiện những dữkiện hay điều kiện chưa được nêu một cách tường minh và trong chừng mực nào đó,phải biết suy nghĩ năng động sáng tạo Vì vậy có thể coi giải toán là một trongnhững biểu hiện năng động nhất của hoạt động trí tuệ của học sinh
Dạy học giải toán ở Tiểu học nhằm mục đích chủ yếu sau đây:
+ Trước hết nó giúp học sinh luyện tập, củng cố, vận dụng các kiến thức vàthao tác thực hành các kiến thức đã học, rèn luyện kĩ năng tính toán, bước tập dượt
Trang 6vận dụng kiến thức và rèn luyện kĩ năng thực hành vào thực tiễn (học tập, đời sống).Qua các biểu hiện trên giáo viên phát hiện được rõ hơn những gì học sinh đã lĩnh hội
và nắm chắc, những gì học sinh chưa nắm chắc, để có biện pháp giúp học sinh pháthuy hoặc khắc phục
+ Qua việc dạy học giải Toán, giáo viên giúp học sinh từng bước phát triểnnăng lực tư duy, rèn luyện phương pháp và kĩ năng suy luận, gợi mở và tập dượtquan sát, phỏng đoán tìm tòi
+ Qua giải toán, học sinh rèn luyện những đặc tính và phong cách làm việc củangười lao động như: ý chí khắc phục khó khăn, thói quen xét đoán có căn cứ, tínhcẩn thận, chu đáo, cụ thể, làm việc có kế hoạch, có kiểm tra kết quả cuối cùng: Từngbước hình thành và rèn luyện thói quen và khả năng suy nghĩ độc lập, linh hoạt,khắc phục cách suy nghĩ máy móc, dập khuôn, xây dựng lòng ham thích tìm tòi,sáng tạo ở mức độ khác nhau, từ đơn giản nhất mà nâng cao từng bước
Việc giải toán vừa đòi hỏi tính tích cực, độc lập sáng tạo trong suy nghĩ vừa đòihỏi một khả năng thực hành Để giúp học sinh có khả năng thực hành đó, lúc đầuhọc sinh cần được giáo viên dẫn dắt, hướng dẫn giải các bài toán theo mẫu, tái hiệncách giải điển hình, có thể giúp ích cho học sinh trong chừng mực nhất định Song
do tính chất đặc trưng của giải toán đã nói ở trên, riêng các biện pháp đó không thểgiúp học sinh đạt được các mục tiêu cần thiết
2 Thực trạng việc dạy và học giải toán có lời văn ở trường tiểu học:
2.1 Thực trạng chung của nhà trường:
- Đội ngũ giáo viên trong trường luôn nhiệt tình giảng dạy, yêu nghề mến trẻ
- Về học sinh: nhìn chung các em đều ngoan, có ý thức vươn lên trong học tập
* Khó khăn:
- Nhiều phụ huynh học sinh không có nghề nghiệp kinh tế ổn định, đời sống kinh
tế còn gặp nhiều khó khăn Chính điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tậpcũng như chất lượng học tập của các em
- Nhiều gia đình đi làm ăn xa, gửi con cho ông bà chăm sóc do ông bà đã già yếunên không quán xuyến được việc học hành của các cháu
Trang 7- Do tâm lý chung của học sinh Tiểu học còn ham chơi nên nếu không có sự quantâm của gia đình, nhà trường thì việc học hành của các em khó có hiệu quả cao.
- Về đội ngũ giáo viên: Nhà trường có đội ngũ giáo viên nhiệt tình giảng dạy vàđồng đều về chuyên môn song còn gặp một vài hạn chế do một số giáo viên trẻ đangtrong độ tuổi sinh đẻ và mới vào biên chế nên có ảnh hưởng đến chất lượng giảngdạy
2.2 Thực trạng của lớp:
Năm học năm học 2019 -2020, tôi được phân công chủ nhiệm giảng dạy lớp 3.Hầu hết học sinh đều đi học đúng độ tuổi, có sức khoẻ tốt, các em đều có nề nếp, ýthức học tập Các em biết vâng lời kính trọng thầy cô giáo, yêu lao động, tham giađầy đủ các hoạt động ngoài giờ lên lớp và các phong trào thi đua Các em đều lànhững học sinh được tiếp cận với chương trình Tiểu học mới nên có nhiều thuận lợicho giáo viên trong quá trình giảng dạy
Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy và thảo luận cùng đồng nghiệp, tôi nhận thấy: + Việc tóm tắt, tìm hiểu đề đang còn nhiều khó khăn đối với một số học sinhtrung bình và yếu của lớp 3 Vì kĩ năng đọc thành thạo của các em chưa cao, nên các
em đọc được đề toán và hiểu đề còn thụ động, chậm chạp…
+ Thực tế trong một tiết dạy 40 phút, thời gian dạy kiến thức mới mất nhiều –phần bài tập hầu hết là ở cuối bài nên thời gian để luyện nêu đề, nêu câu trả lờikhông được nhiều mà học sinh chỉ thành thạo việc đọc đề toán
+ Tuy môn Toán đạt gần 100% từ trung bình trở lên, song số điểm giỏi chưanhiều, điểm đạt yêu cầu chủ yếu ở phần giải toán đơn, học sinh mắc lỗi nhiều ở phầngiải toán trong luyện tập và kiểm tra, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng môn Toán
2 3 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên:
Qua thực tế khảo sát tôi nhận thấy:
- Nhiều học sinh chưa nghiên cứu kĩ đề toán, nhiều học sinh vốn tiếng Việt cònhạn chế, nên việc xác lập mối quan hệ giữa các dữ kiện của bài toán còn gặp nhiềukhó khăn
- Một số học sinh chưa nắm chắc hệ thống các bài toán đơn đã được học, dẫn đếncòn lúng túng trong việc phát hiện mối quan hệ logic giữa các bài toán này
- Học sinh còn thiếu tự tin trong việc tìm cách giải, còn bị hạn chế trong việc lựachọn các phép giải
- Các em chưa chú ý đến khâu kiểm tra, thường coi rằng bài toán đã giải xong khitính ra đáp số của bài
Trang 8- Trong quá trình giảng dạy môn toán, giáo viên còn coi nhẹ một số bước trongquá trình giải toán như: Tìm hiểu đề toán, kiểm tra cách giải toán, nên nhiều họcsinh mắc những lỗi không đáng có Giáo viên chưa quan tâm đến việc rèn kĩ nănggiải toán cho học sinh.
Đây là những nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giải toáncủa học sinh Khắc phục được những nguyên nhân trên có ý nghĩa hết sức quantrọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học, nhằm thực hiện mục tiêuđào tạo con người mới, năng động, tự chủ, sáng tạo
Từ thực trạng trên, để công việc đạt hiệu quả tốt hơn, giúp các em học sinh cóhứng thú trong học tập, nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, tôi đã mạnhdạn cải tiến nội dung, phương pháp trong giảng dạy như sau:
3 Một số biện pháp giúp đỡ học sinh khắc phục khó khăn khi giải các bài toán có lời văn ở lớp 3
3 1 Trao đổi với phụ huynh – Thống nhất biện pháp giáo dục.
3.1.1 Mục tiêu
Chúng ta đều biết học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng đếntrường còn phụ thuộc nhiều vào sự quan tâm, nhắc nhở của cha mẹ và thầy cô Phầnnhiều các em chưa chủ động trong việc học tập Chính vì vậy giáo dục ý thức tíchcực học tập cho các em là một yếu tố không kém phần quan trọng giúp các em họctốt hơn
3.1.2 Cách tiến hành.
Trong một lớp học, lực học của các em không đồng đều, ý thức học của nhiều em
chưa cao Để thực hiện tốt cuộc vận động “Hai không” của ngành giáo dục và giúp
cho phụ huynh có biện pháp phù hợp trong việc giáo dục con cái, tôi đã mạnh dạntrao đổi với phụ huynh học sinh về chỉ tiêu phấn đấu của lớp và những yêu cầu cầnthiết giúp các em học tập như: Mua sắm đầy đủ sách vở, đồ dùng – cách hướng dẫncác em tự học ở nhà, đặc biệt nhất là đối với các ông bố vào buổi tối cố gắng bớt đimột chút thời gian chuyện trò với bạn bè, tắt (vặn nhỏ đài, ti vi) dành thời gian nhắcnhở, quan tâm cho các em học tập… Rất mừng là đa số phụ huynh đều nhiệt liệthoan nghênh biện pháp trên vì lâu nay các phụ huynh còn đang vướng mắc nhiều vềcách dạy học cho các em Riêng trong phần bài tập của sách Toán, tôi hướng dẫnphụ huynh cách dạy các em luyện nêu miệng các đề toán, luyện nói và trả lờinhiều…
Tuy nhiên, cuộc họp phụ huynh lần này vẫn còn một số gia đình vắng mặt do cóviệc đột xuất, do chưa thấy hết được tầm quan trọng của việc học và do điều kiện giađình còn nhiều khó khăn nên phó mặc việc học của con cái cho giáo viên, cho nhàtrường Đối với những phụ huynh vắng mặt này, tôi tìm cách gặp gỡ, trao đổi tại
Trang 9nhà Trong số đó có gia đình trao đổi, họ lúng túng không biết cách dạy con như thế
nào nữa mà chỉ biết nhắc nhở con: “Học bài đi” rồi con học gì, làm gì ở bàn học bố
mẹ cũng không hay Đối với những em này, tôi phải hướng dẫn nhiều hơn ở lớp để
là giải một hệ thống các bài toán đơn Có kĩ năng giải các bài toán đơn, học sinh mới
có cơ sở giải các bài toán hợp Do đó giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ bản chấtbài toán đơn để vận dụng giải các bài toán phức tạp sau này
3.2.2 Cách tiến hành.
Ở lớp 3, cùng với việc học phép nhân, chia, học sinh sẽ giải các bài toán đơndùng phép nhân hoặc chia Trong các đầu bài toán bằng lời văn, học sinh thường gặp
những từ chìa khoá như: "Gấp lên, giảm đi bao nhiêu lần", "So sánh hơn, kém bao
nhiêu lần" Các từ này thường được gợi ra phép nhân, chia tương ứng Giáo viên cần
chú ý học sinh tránh lẫn lộn "Bao nhiêu lần" với "Bao nhiêu đơn vị" và hiểu đúng
khái niệm này Củng cố thói quen đọc và hiểu đúng đề bài để ngăn ngừa tác dụng
"Cảm ứng" của các từ "Chìa khoá" Giáo viên giúp học sinh nắm vững ý nghĩa của phép
nhân và phép chia đồng thời giúp học sinh hiểu đúng các từ quan trọng trong đềtoán
Ở lớp 3, các bài toán đơn "Tìm một trong các phần bằng nhau của một số" gắn với
phép chia Đối với học sinh lớp 3, tư duy còn thiên về cụ thể nên hai loại bài toán
"chia thành phần bằng nhau" và "chia theo nhóm" tuy đồng nhất về mặt ý nghĩa toán
học và đều giải bằng phép tính chia, nhưng lại là hai bài toán khác nhau về mặt ýnghĩa cụ thể Tuy nhiên khi giải, giáo viên cần hướng dẫn học sinh vượt qua sự khácbiệt về mặt tâm lí để tập trung chú ý vào việc tìm ra và thực hiện đúng phép tính
thích hợp, còn việc tìm ra từ thích hợp để "danh số" hoá số thương thì chủ yếu dựa vào
kinh nghiệm sống
Mặt khác, đối với lớp 3, do tư duy của học sinh đã có những tiến bộ, song vốnngôn ngữ vẫn còn hạn chế, nên việc nâng cao dần dần các yêu cầu về kiến thức và kĩnăng một cách vừa sức học sinh, các yêu cầu về trừu tượng hoá cần được chú ý, nhất
là diễn tả các điều kiện, việc sử dụng sơ đồ đoạn thẳng và tia số, thay dần các hình
vẽ tượng trưng, cần được coi như một công cụ phổ biến, tinh lược hoá những từ ngữcủa đề toán, giúp các em tiếp cận tốt hơn với nội dung đề bài toán Từ đó dẫn đếnđịnh hướng cách giải toán
Trang 10Khi học sinh nắm vững cách giải các bài toán đơn, có thể gợi cho học sinh khá,giỏi dùng chữ thay dữ kiện (ở các bài có cấu trúc giống nhau), diễn đạt các cấu trúctoán học, từ đó củng cố ý thức về việc sử dụng các công cụ, thủ thuật toán học giốngnhau khi giải chúng Việc sắp xếp các bài toán đơn mà khi giải học sinh phải vậndụng các phép tính ngược sẽ giúp các em nâng cao và củng cố nhận thức về mốiquan hệ giữa các phép tính ngược.
Việc sử dụng hình vẽ hay sơ đồ để minh hoạ các điều kiện của bài toán là có íchvới học sinh lớp 3 nói riêng, với học sinh Tiểu học nói chung Tuy nhiên cần phảihiểu rõ tác dụng của chúng (là chỗ dựa cho suy luận) trong việc giải toán Đối vớicác bài toán dễ hay đã nắm vững cách giải cần chú ý đến phát huy trí tưởng tượngcủa học sinh, từng bước thay đổi chỗ dựa trực quan bằng hình ảnh trong óc suy luận,vừa giúp học sinh mở rộng vốn hiểu biết vừa thúc đẩy quá trình tư duy của học sinh
3.3 Giúp học sinh nắm được quá trình giải toán.
3.3.1 Mục tiêu.
Cái khó của việc giải bài toán có lời văn chính là ở chỗ làm thế nào để lược bỏ đượcnhững yếu tố lời văn đã che đậy bản chất toán học của bài toán Hay nói một cáchkhác là làm sao phải chỉ ra được các mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứađựng trong bài toán và tìm được những lời giải phép tính thích hợp để từ đó tìmđược đáp số của bài toán Do đó giáo viên cần giúp học sinh nắm vững được quátrình giải toán
3.3.2 Cách tiến hành.
Quá trình này thường được tiến hành theo các bước như sau :
- Tìm hiểu nội dung bài toán
- Tìm cách giải bài toán
- Thực hiện cách giải bài toán
- Kiểm tra, đánh giá kết quả
Thực tiễn việc học giải toán đã khẳng định, sự đúng đắn của các bước trong việcgiải toán nói trên Để làm cho học sinh có thói quen và kĩ năng áp dụng sơ đồ đó,cần làm cho học sinh từng bước nắm được và thực hiện tốt trong quá trình giải toán
3.3.2.1 Dạy học sinh tìm hiểu nội dung bài toán.
Trước hết muốn tìm hiểu đầu bài, cần hiểu rõ cách diễn đạt bằng lời văn của bàitoán, các bài toán dưới dạng một bài văn viết, thường xen trộn 3 thứ ngôn ngữ:Ngôn ngữ tự nhiên, thuật ngữ toán học và ngôn ngữ kí hiệu (chữ số, các dấu phéptính, các dấu quan hệ và dấu ngoặc), nên việc hướng dẫn đọc và hiểu đầu bài toán rất
Trang 11quan trọng, nó giúp các em sử dụng được ngôn ngữ kí hiệu đặc biệt, làm các emhiểu được nghĩa của các thuật ngữ và kí hiệu sử dụng đúng.
Để kiểm tra học sinh đọc và hiểu đầu bài toán, giáo viên nên yêu cầu học sinhnhắc lại nội dung đầu bài, không phải học thuộc lòng mà bằng cách diễn tả bằngngôn ngữ của mình, tiến tới trước khi tìm cách giải cho học sinh, học sinh đã nhậptâm đầu bài toán để tập trung suy nghĩ về nó
Mỗi bài toán đều có 3 yếu tố cơ bản: Dữ kiện là những cái đã cho đã biết trongđầu bài, những ẩn số là những cái chưa biết và cần tìm (các ẩn số được diễn đạt dướidạng câu hỏi của bài toán) và những điều kiện là quan hệ giữa các dữ kiện và ẩn số.Hiểu rõ đầu bài là chỉ ra và phân biệt rành mạch 3 yếu tố đó, từng bước thấy đượcchức năng của mỗi yếu tố trong việc giải bài toán
3.3.2.2 Hướng dẫn học sinh tìm cách giải bài toán.
Từ việc giải một bài toán đơn sang bài toán hợp, học sinh phải giải quyết mộtnhiệm vụ khó khăn là phân tích bài toán hợp thành các bài toán đơn Trên tinh thầndạy học phát triển, việc làm cho các em nắm được các phương pháp chung và cácthủ thuật cơ bản thường dùng để giải các bài toán đa dạng nhưng thường gặp và cónhững mức độ phức tạp khác nhau là rất cần thiết Để giải quyết được vấn đề này,
giáo viên cần giúp học sinh biết dẫn về một bài toán đã biết cách giải Khi giải một
bài toán mới, học sinh biết dẫn nó về một bài toán mà các em đã biết cách giải, hoặc
có thể liên tưởng tới những hành động thực tiễn nào đó mà các em đã thực hiện, đểgiải quyết một nhiệm vụ nào đó thì các em có thể có một gợi ý về cách giải
3.3.2.3 Hướng dẫn học sinh thực hiện giải bài toán.
Khi thực hiện kế hoạch giải bài toán, học sinh còn dựa vào các thủ thuật (hayphép) giải thích đối với từng khâu trong kế hoạch để đi đến kết quả mong muốn Đốivới một số bài toán có cấu trúc riêng, thường sử dụng các thủ thuật (phép) giải riêng.Với đặc điểm trình độ tư duy của học sinh lớp 3, việc sử dụng phương pháp chungdưới hình thức các phép thích hợp với lứa tuổi sẽ mang lại kết quả mong muốn Một
số phương pháp phù hợp hay được sử dụng là:
+ Tìm lời giải bằng sơ đồ:
Ở lớp 3, các bài toán đều mang tính chất đơn giản nên các dữ kiện và điều kiệncủa nhiều bài toán có thể diễn đạt trực quan bằng sơ đồ đoạn thẳng, loại sơ đồ nàyđược dùng phổ biến làm chỗ dựa cho việc tìm kế hoạch giải bài toán hoặc một phầnbài toán
Trong nhiều bài toán liên quan đến việc so sánh, xếp thứ tự việc dùng tóm tắtthay cho sơ đồ đoạn thẳng, để biểu diễn quan hệ giữa các số, tỏ ra thích hợp và manglại kết quả tốt hơn
+ Lựa chọn và kết hợp các phép giải:
Trang 12Khi điều khiển quá trình dạy học sinh giải toán, giáo viên cần phải động viênhọc sinh cố gắng, tự tin tìm ra cách giải toán, tự tìm ra các thủ thuật thích hợp, biết
mò mẫm, quan sát, phỏng đoán, huy động các kinh nghiệm đã có để tìm ra lời giải.Việc hướng dẫn các em giải toán, trước hết là học sinh khá giỏi, biết từng bước dùngchữ thay số cần tìm, diễn đạt quan hệ bài toán bằng phương trình và giải nó bằng thủthuật thích hợp, vừa sức các em là điều cần chú ý
Thực hiện giải bài toán bao gồm việc thực hiện các phép tính trong kế hoạchgiải bài toán và trình bày bài giải Theo chương trình toán hiện hành, thì mô hìnhtrình bày bài giải bài toán có lời văn ở lớp 3, mỗi phép tính, mỗi biểu thức đều phảikèm theo câu lời giải, cuối bài có ghi đáp số
3.3.2.4 Hướng dẫn học sinh kiểm tra, đánh giá kết quả.
Học sinh thường coi rằng bài toán đã giải xong, khi tính đáp số hoặc tìm đượccâu trả lời cho câu hỏi Thế nhưng không phải học sinh nào cũng có niềm tin chắcchắn vào kết quả mình tìm được, chỉ cần giáo viên hỏi vặn lại một và câu là các emlại lúng túng, nghi ngờ cách giải của mình Do đó kiểm tra cách giải và kết quả bàitoán là yêu cầu không thể thiếu khi giải toán Việc làm đó giúp các em biết được kếtquả bài làm cũng như cách giải bài toán của mình đã đúng chưa, có phù hợp không.Việc kiểm tra, đánh giá cách giải bài toán phải trở thành thói quen đối với học sinhngay từ Tiểu học
Ở lớp 3, cần tập cho học sinh biết nhìn lại toàn bộ bài giải, nhìn lại phương pháp
và các thủ thuật đã sử dụng (yêu cầu cao hơn ở lớp 1,2) để vừa kiểm tra bài giải vừanắm vững thêm cách giải
Chú ý từng bước cho học sinh thói quen soát lại và suy nghĩ về tính hợp lí củacách giải đã chọn, tìm ra những chỗ dài dòng, chưa hợp lí để tìm cách cải tiến, đặcbiệt gây cho học sinh có thói quen tự hỏi: "Có thể giải bằng cách khác không ?" Tìmđược cách giải khác một mặt tạo điều kiện phát triển tư duy linh hoạt, sáng tạo, suynghĩ độc lập của học sinh
* Các hình thức thực hiện kiểm tra cách giải bài toán:
- Thiết lập tương ứng các phép tính giữa các số tìm được trong quá trình giải vớicác số đã cho
- Tạo ra bài toán ngược với bài toán đã cho rồi giải bài toán đó
- Giải bài toán bằng cách khác
- Xét tính hợp lí của đáp số
* Hình thức kiểm tra, đánh giá.
Việc kiểm tra đánh giá lại bài làm là vô cùng cần thiết Cho nên hình thức tự kiểmtra được sử dụng thường xuyên, và cần hình thành cho mỗi học sinh thói quen tự
Trang 13kiểm tra, đánh giá bài làm của mình Bên cạnh đó để việc kiểm tra, đánh giá đạt hiệuquả cao, không nhàm chán, các học sinh có cơ hội giao lưu, giúp đỡ nhau cùng tiến
bộ thì giáo viên cũng có thể cho học sinh kiểm tra, đánh giá lẫn nhau Sau khi kiểmtra, các học sinh có thể đưa ra lời nhận xét, góp ý phù hợp giúp bạn mình tiến bộhoặc thông qua đó có thể được nghe ý kiến hay của bạn để mình học tập
3.4 Rèn kĩ năng giải toán cho học sinh:
3.4.1 Mục tiêu
Việc rèn kĩ năng giải toán cho học sinh giúp hình thành năng lực khái quát hoá và
kĩ năng giải toán, rèn luyện năng lực sáng tạo trong giờ học tập cho học sinh
3.4.2 Cách tiến hành.
Có thể tiến hành rèn kĩ năng giải toán cho học sinh bằng các cách sau :
a Giải các bài toán nâng dần mức độ phức tạp trong mối quan hệ giữa các số đãcho và số phải tìm, hoặc điều kiện của bài toán
b Giải bài toán có nhiều cách giải khác nhau
c Tiếp xúc với các bài toán thiếu và thừa dữ kiện hoặc điều kiện của bài toán
d Lập và biến đổi bài toán, hoạt động này có thể tiến hành dưới những hình thứcsau:
- Đặt câu hỏi cho bài toán mới chỉ biết dữ kiện hoặc điều kiện
- Đặt điều kiện cho bài toán
- Chọn số hoặc số đo đại lượng cho bài toán còn thiếu số liệu
- Lập bài toán tương tự với bài toán đã giải
- Lập bài toán ngược với bài toán đã giải
- Lập bài toán theo bảng tóm tắt hoặc sơ đồ minh hoạ
- Lập bài toán theo cách giải cho sẵn
3 5 Khích lệ học sinh tạo hứng thú khi học tập
3.5.1 Mục tiêu.
Đặc điểm chung của học sinh Tiểu học là thích được khen hơn chê, hạn chế chêcác em trong học tập, rèn luyện Do đó giáo viên cần động viên khích lệ kịp thờigiúp các em hứng thú trong học tập, từ đó các em sẽ chủ động và nâng cao hiệu quảviệc học giải toán có lời văn nói riêng và việc học nói chung
3 5.2 Cách tiến hành.