1. Trang chủ
  2. » Văn bán pháp quy

Đánh giá điều kiện cảnh quan phục vụ phát triển bền vững nông, lâm nghiệp huyện Sapa, tỉnh Lào Cai

184 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 184
Dung lượng 86,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(4) Các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên theo thời gian: Sa Pa là địa bàn sinh sống của cộng đồng các dân tộc thiểu số với quá trình khai thác lãnh thổ lâu đời tr[r]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỔC GIA HÀ NỘI

TRUỒNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TựNHIÊN

Báo cáo tổng hợp

VỮNG NÔNG, LÂM NGH IỆP HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI”

(mã số QT.04.21)

B an c h ủ tr ì đề tài:

TS P h a m Q uang T uấn NCS N guyễn A n T hịnh

C án bộ th a m gia th ự c hiện:

GS.TS Đào Đình Bắc ThS Hoàng Thị Thu Hương

T hành viên

đ a i h o c Q U O C ' Õ Ĩ Ã h a rTÕ ! TRUNG TA fv’ HOỈV(- UNG TÃf\/ ĨH O í\f(r Iị

p j / j s r

_ I

Hà Nội, 2006

Trang 2

TÓM TẮ T Bá o c á o

1 Tên đề tài: "Đánh giá điều kiện cảnh quan phục vụ phát triển bền

vững nông, làm nghiệp huyện Sa Pa, tình Lào C ai” Mã số: QT.04.21

2 C hủ tr ì đề tài: TS Phạm Quang Tuấn

4 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu:

4.1 M ục tiêu: Xây dựng luận cứ khoa học trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá

mức độ thích nghi sinh thái của các đơn vị cảnh quan và phân tích hiện trạng sản xuất phục vụ cho việc định hướng quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp ở huyện

Sa Pa, tỉnh Lào Cai

4.2 Nội dung nghiên cứu:

- Phân tích các nhân tố hình thành các đơn vị cảnh quan.

- Xây dựns hệ thống phân loại, chỉ tiêu phàn loại cảnh quan và thành lập bản đổ cảnh quan huyện Sa Pa tỷ lệ 1:50.000

- Phân tích đặc điểm phân hóa cảnh quan huyện Sa Pa

- Phân tích hiện trạng sản xuất và đánh giá thích nghi sinh thái nhằm định hướng hoạch định không gian phát triển nông lâm nghiệp huyện Sa Pa

4.3 Các kết quả đạt được:

Đé tài NCKH cấp Đại học Quóc gia mã số QT.04.21

Chủ tri: TS Phạm QuangTuấn

i

Trang 3

- Nghiên cứu tổng hợp và đồng bộ đậc điểm phân hóa cảnh quan huyện Sa

Pa theo cấu trúc đứng và cấu trúc ngang, xây dựng bản đồ cảnh quan tỷ lệ 1:50.000

- Lựa chọn các chỉ tiêu và tiến hành đánh giá thích nghi sinh thái các đơn

vị cảnh quan cho việc phát triển các cây trồng nông lâm nghiệp chủ đạo trên địa bàn huyện Sa Pa

- Thành lập các bản đồ phân hạng thích nghi sinh thái đối với nhóm cây trồng chủ đạo và xây dựng bản đồ định hướng hoạch định không gian sản xuất nông lâm nghiệp huyện Sa Pa

5 Tình hình kinh phí của đề tài:

Tổng kinh phí được cấp là 23.500.000 VNĐ cho 2 năm thực hiện đề tài (đã quyết toán)

Trang 4

SU M M A R ISED REPORT

1 Project’s title: “Landscape evaluation f o r argicutural and forestrial

sustainable development in Sa Pa district, Lao C aiprovince”.

Code number: QT.04.21

2 Project’s Head: Dr Pham Quang Tuan

3 Researchers:

4 Research objective and content:

4.1 Objective:

Establishing the scientific basic founded on the research, evaluations of ecological suitability of landscape units and the analysis of the existing production in service of argicutural and forestrial development planning’s orientation in Sa Pa district, Lao Cai province

4.2 Content:

- Analyzing forming factor of landscape units.

- Classifying landscape (system and criteria) establishing a landscape map

at scale of 1:50,000 in Sa Pa district

- Analyzing landscape unit features in Sa Pa district

Đề tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã số QT.04.21

Chủ tri: TS Phạm QuangTuấn

iii

Trang 5

- Analyzing the existũig production and evaluating the ecological suitability for recommendations on the argicutural and forestrial development planning in Sa Pa district.

Đề tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã số QT.04.21

Chủ tri: TS Phạm QuangTuấn

iv

Trang 6

M Ụ C LỤC

TRANG Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu cảnh quan phục

vụ định hướng phát triển nông, lâm nghiệp huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai 5

1.1 Tình hình nghiên cứu đánh giá cảnh quan phục vụ cho mục đích tổ chức

1.2.2 Quan điểm tiếp cận và hệ phương pháp nghiên cứu cảnh quan phục vụ

1.3 Các bước nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng phát triển 22 nông lâm nghiệp huyện sa pa

1.3.2 Hướng đánh giá kinh tê'sinh thái trong nghiên cứu cảnh quan 24 1.3.3 Các bước nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng khai thác

Chương 2: Phàn tích cấu trúc cảnh quan huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai 29

2.2.1 Hệ thống phân loại cảnh quan

Đế tài NCKH cấp Đại học Quốc gia mà số QT.04.21

Chủ trì: TS Phạm QuangTuấn

V

Trang 7

2.2.2 Đặc điểm phán hoá cảnh quan 76

Chương 3: Đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển nông lảm nghiệp

3.3.1 Lựa chọn loại hình sử dụng đất nông lâm nghiệp đưa vào đánh giá 102

3.3.3 Lựa chọn và phân cấp các chỉ tiêu sinh thái đưa vào đánh giá 108

3.4.1 Những lợi thế, hạn chế và thách thức về nguồn lực trong việc phát triển 122 kinh tế xã hội huyện Sa Pa

3.4.2 Cơ sỏ khoa học và thực tiễn của định hướng quy hoạch sử dụng đất 124 3.4.3 Định hướng hoạch định không gian phát triển nông lâm nghiệp 126

Trang 8

ĐẢ NH GIÁ ĐIẾU KIỆN C Ả N H Q U AN PHỤC v ụ PHÁT T M ẩN b ể n v ữ n g n ồ n g , l ã m n g h i ệ p h u y ệ n s A p A, t í n h l à o c a i

MỎ Đ ẨU

Trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, vấn đề đặt ra cần phải xây dựng một nền kinh tế xã hội phát triển bền vững Đặc biệt, phát triển bền vững ở miền núi hiện nay còn gặp nhiều khó khăn do có những trở ngại về các mặt như điều kiện tự nhiên cũng như kinh tế xã hội và sự hiểu biết hạn chế của đội ngũ cán bộ quản lý cũng như của người dân dẫn đến việc sử dụng tài nguyên chưa hợp với quy luật địa sinh thái lãnh thổ đưa đến hệ quả làm suy thoái và cạn kiệt tài nguyên Điều này gây ảnh hưởng xấu tới xu thế phát triển kinh tế xã hội và trực tiếp chi phối đến đời sống cộng đồng Do vậy mục tiêu khai thác, sử dụng hợp lý nhằm quản lý sử dụng họp lý tài nguyên và hướng đến việc bảo vệ môi trường sinh thái tối ưu trên từng đơn vị lãnh thổ cụ thể là một trong những vấn đề mang tính chiến lược hiện nay, nhất là trên vùng lãnh thổ miền núi - nơi quỹ sinh thái lãnh thổ phân hoá quá đa dạng và phức tạp, vượt trên tầm nhận thức của con người

Sa Pa là một huyện miền núi cao thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, nằm trong khu vực có địa hình phân hoá phức tạp với độ cao từ 400m (ngòi Bo) đến 3144m (đỉnh Fanxipan cao nhất Đông Dương) Sự tương tác giữa hoàn lưu khí quyển và địa hình đã tạo nên những nét đặc trưng riêng cho Sa Pa về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cũng như hoạt động khai thác sử dụng tài nguyên của con người Sa Pa là một khu vực giàu tiềm năng về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thích hợp cho việc phát triển nông, lâm nghiệp Kinh tế nông, lâm nghiệp chiếm tỉ trọng lớn đang được đẩy mạnh, có vị trí quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế huyện Đặc biệt, huyện cũng đã có những định hướng rõ ràng cho việc phát triển nông, lâm và coi đó là chiến lược lâu dài trong phát triển kinh

tế xã hội Tuy nhiên, do còn thiếu cơ sở khoa học nên sự phát triển bền vững chưa thực sự hình thành Điều đó dẫn tới hiện nay việc quy hoạch lãnh thổ sản xuất ở Sa Pa tuy đã có, nhưng còn nhiều điều bất cập chưa thực sự hợp lý Đó là những thực trạng gây khó khăn trong việc xây dựng một nền kinh tế xã hội phát triển bền vững Để phát triển bền vững thì việc nghiên cứu tổng thể phục vụ cho

Đề tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã số QT.04.21

Chù tri: TS Phạm QuangTuấn

1

Trang 9

tổ chức và sử dụng hợp lý lãnh thổ phát triển nông và lâm nghiệp trở nên vô cùng cần thiết trong giai đoạn hiện nay và lâu dài.

Đề tài NCKH cấp Đại học Quốc gia mã số QT.04.21 “Đ ánh giá điêu kiện

cảnh quan phục vụ phát triển bền vững nông, lảm nghiệp huyện Sa Pa, tình

Lào C ai" được lựa chọn nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và vói lòng

mong muốn được góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội bền vững ở một huyện miền núi

M ục tiêu của đê' tài là xây dựng luận cứ khoa học trên cơ sở nghiên cứu,

đánh giá mức độ thích nghi sinh thái của các đơn vị cảnh quan và phân tích hiện trạng sản xuất phục vụ cho việc định hướng quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

Theo đề cương đăng ký đã được Hội đồng Khoa học và Đào tạo liên ngành

các Khoa học Trái đất, ĐHQG Hà Nội xét duyệt, những nội dung nghiên cứu của đê tài gồm:

- Phân tích các nhân tố hình thành các đơn vị cảnh quan

- Xây dựng hệ thống phân loại, chỉ tiêu phân loại cảnh quan và thành lập bản đồ cảnh quan huyện Sa Pa tỷ lệ 1:50.000

- Phân tích đặc điểm phân hóa cảnh quan huyện Sa Pa

- Phân tích hiện trạng sản xuất và đánh giá thích nghi sinh thái nhằm định hướng hoạch định không gian phát triển nông lâm nghiệp huyện Sa Pa

Cơ sở tài liệu thực hiện để tài chủ yếu do chính tập thể tác giả nghiên cứu,

thu thập ngoài thực địa về các hợp phần tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, điều tra và xử lý số liệu kinh tế xã hội, bao gồm:

- Tài liệu thống kê về tự nhiên, kinh tế xã hội; các chương trình và dự án phát triển tại địa phương do các Phòng nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tài nguyên và Môi trường, u ỷ ban nhân dân huyện, Đài khí tượng Sa Pa, Phòng Thương mại và du lịch huyện Sa Pa cung cấp

- Tài liệu và số liệu về điều kiện tự nhiên thu thập được trong quá trìnhđiều tra thực địa theo lất cắt Bản Hồ - Fanxipang trong 2 năm 2004 và 2005: Tàiliệu bản đồ và bản thuyết minh kèm theo: bản đồ đất tỉnh Lào Cai tỷ lệ 1:100.000

— -— - - - - - -— -2

Đề tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã sô QT.04.21

Trang 10

vụ

(thành lập năm 1967), bản đồ địa hình huyện Sa Pa tỷ lệ 1:50.000 và các bản đồ

chuyên đề khác (bản đồ địa chất, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ hiện

trạng rừng) Các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đặc điểm thổ

nhưỡng và tài nguyên đất khu vực nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau, sử

dụng phương pháp điều tra tổng hợp các nhân tố hình thành đất qua 4 đợt khảo

sát thực địa từ nãm 2002 đến 2004, trong đó có một lát cắt qua đỉnh Fanxipang

vào tháng 5/2004, đã kết hợp đào, mô tả và lấy mẫu trên 120 phẫu diện đất chính,

phụ bao phủ toàn khu vực nghiên cứu Kết quả phân tích đặc tính lý hóa học của

80 mẫu đất được thực hiện tại phòng phân tích đất JICA - trường Đại học Nông

nghiệp I Ngoài ra, còn tiến hành thực hiện 300 phiếu điều tra sử dụng đất tại khu

vực nghiên cứu

Những kết quả nổi bật đã đạt được của đề tài gồm :

- Nghiên cứu tổng hợp và đồng bộ đặc điểm phân hóa cảnh quan huyện Sa

Pa theo cấu trúc đứng và cấu trúc ngang, xây dựng bản đồ cảnh quan tỷ lệ

1:50.000

- Lựa chọn các chỉ tiêu và tiến hành đánh giá thích nghi sinh thái các đơn

vị cảnh quan cho việc phát triển các cây trồng nông lâm nghiệp chủ đạo trên địa

bàn huyện Sa Pa

- Thành lập các bản đồ phân hạng thích nghi sinh thái đối vói nhóm cây

trồng chủ đạo và xây dựng bản đồ định hướng hoạch định không gian sản xuất

nông lâm nghiệp huyện Sa Pa

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc nội

dung của đề tài gồm 3 chương:

- Chương 1: Trình bày cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu cảnh quan

phục vụ định hướng phát triển nông, lâm nghiệp huyện Sa Pa

- Chương 2: Phân tích cấu trúc cảnh quan huyện Sa Pa

- Chương 3: Đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển bền vững nông làm nghiệp huyện Sa Pa

Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo quan trọng giúp các nhà quản lý ra quyết định thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, góp phần

_ —— - — — — - — - 3

Để tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã sô QT.04.21

Chủ tri: TS Phạm QuangTuấn

Trang 11

vào xây dựng huyện miền núi cao Sa Pa phát triển kinh tế hiệu quả hơn, bảo vệ môi trường, đảm bảo cho phát triển bền vững Ngoài các đóng góp về mặt cơ sở

lý luận, đề tài còn có đóng góp trong công tác giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học, thể hiện ở việc đào tạo 5 sinh viên chuyên ngành Sinh thái cảnh quan

và Môi trường K45 và K46 thực hiện tốt nghiệp tại địa bàn huyện Sa Pa; tạo điều kiện cho 1 NCS thu thập số liệu, điều tra thực địa và thực hiện luận án tiến sỹ ở

lãnh thổ Sa Pa Ba bài báo được công bố trên các tạp chí chuyên ngành trên cơ sở

hỗ trợ của đề tài gồm: “Mớ hình tích hợp ALES-G1S trong đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển cây trồng huyện Sa Pa tỉnh Lào Car (Tạp chí Khoa học, số

4/2004, ĐHQGHN), “Đặc điểm thổ nhưỡng và tài nguyên đất vùng sinh thái núi cao Sa Pa, tỉnh Lào Cai" (Tạp chí Khoa học, số 1AP/2005, ĐHQGHN), “Đánh giá đất đai phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng” (Tạp chí Nông nghiệp và Phát

triển Nông thôn, số 13/2005)

Tập thể tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Khoa học và Công nghệ ĐHQG

Hà Nội, Phòng Khoa học Công nghệ Trường ĐHKHTN, Ban chủ nhiệm Khoa Địa lý đã ủng hộ và tạo điều kiện cho chúng tôi thực hiện tốt đề tài Xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các cán bộ lãnh đạo và các sở phòng ban chuyên trách huyện Sa Pa và tỉnh Lào Cai cùng các cán bộ trong Ban quản lý Vườn Quốc gia Hoàng Liên đã cộng tác và giúp đỡ chúng tôi rất hiệu quả trong quá trình thực hiện đề tài

Đề tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã số QT.04.21

Chủ trì: TS Phạm QuangTuấn

4

Trang 12

CHƯƠNG 1

QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIEN n ô n g , lâ m

NGHIỆP HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI

MỤC ĐÍCH TỔ CHỨC LÃNH THỔ PHÁT TRIỂN k in h t ế x ã h ộ i

Trên thế giới, khoa học về cảnh quan ra đời từ cuối thế kỷ XIX, khi hướng nghiên cứu các tổng hợp thể địa lý tự nhiên lãnh thổ đã ở vào giai đoạn phân tích các lượng thông tin địa lý, khái niệm tổng hợp thể địa lý tự nhiên lãnh thổ được hình thành nhờ sự tiến bộ của phương pháp nghiên cứu đi từ phân tích đến tổng hợp các quy luật của khoa học tự nhiên, khi đó thuyết tiến hoá của Dacuyn xuất hiện trong sinh vật học cùng với sự ra đời của hai môn học: sinh địa học và thổ nhưỡng học Các nhà sinh địa học và thổ nhưỡng học là những người đầu tiên đề cập đến mối quan hệ tương hỗ, phức tạp giữa giới vô sinh và giới hữu sinh Chính điều này đã tiến gần đến sự tổng hợp của địa lý, là tiền đề thứ nhất để phát triển địa lý cảnh quan Tiền đề thứ hai là sự đòi hỏi của kinh tế xã hội Mọi khoa học đều phục vụ các nhu cầu của xã hội loài người, vì thế giữa sự phát triển của xã hội khoa học và sự tiến bộ của kinh tế xã hội tồn tại những mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau Có những yêu cầu thực tiễn của một giai đoạn phát triển xã hội nào đó mà khoa học đương thời chưa giải quyết được Vào thời kỳ này thực tiễn sản xuất đã chỉ ra rằng muốn giải quyết những vấn đề nóng bỏng trong quá trinh khai thác tự nhiên phải hiểu biết rõ ràng, đẩy đủ các mối quan hệ giữa các hợp phần tự nhiên của môi trường và các tổng hợp thể tự nhiên lãnh thổ cụ thể

Như vậy hội tụ đủ các điều kiện cần thiết để hình thành một bộ môn khoa

triển của mình, cảnh quan học luôn luôn gắn với đối tượng, nhiệm vụ đề ra, liên

hệ chặt chẽ với thực tiễn xã hội, là một khoa học vừa lý luận vừa thực tiễn

Chủ trì: TS Phạm QuangTuấn

Trang 13

Tuy nhu cầu của thực tiễn sản xuất đối với một khoa học đã nảy sinh từ lâu, nhưng khoa học cảnh quan chỉ mới được phát hiện trong những nãm gần đây, nhất là sau Đại chiến thế giới thứ hai, vì việc áp dụng những luận điểm của nó chỉ được thực hiện trong điều kiện của một nền kinh tê' kê' hoạch và sự phát triển của

nó phải được chuẩn bị bởi những thành tựu mới mẻ hiện nay của nhiều ngành khoa học liên quan như: địa chất học, địa mạo học, khí tượng học, thuỷ văn học, thổ nhưỡng học, địa sinh vật học, địa vật lý, địa hoá học và toán h ọc Cũng vì lẽ

đó mà địa cảnh học lại không phát triển từ địa lý học mô tả cổ truyền như v.v

Docutraev đã nhận xét, mà lại được nhiều nhà khoa học bộ phận xây dựng, ở Liên Xô, Docutraev (1846 - 1903) với học thuyết về các đới tự nhiên, đã được coi như là người đặt nền móng cho khoa học địa lý tự nhiên tổng hợp hiện đại Góp phần phát triển khoa học đó còn có L x Berg, một nhà khí hậu kiêm động vật học, các nhà thực vật, kiểm lâm như V.N Xucasov, G.F Morozov, các nhà thổ nhưỡng kiêm địa hoá học B.B Polnov A.I Perelman (1966) đã viết “ dù sứ mệnh khoa học của các nhà nghiên cứu đó đã được hình thành một cách khác nhau như thế nào, dù trong bước đầu của sự sáng tạo khoa học, họ đã chính thức

ở khoa học nào, thì về sau này, bằng những con đường khác nhau họ đều đi đến một kết luận là phải nghiên cứu bề mặt trái đất như một thể thống nhất hoàn chỉnh, phải nghiên cứu mối quan hệ giữa các hiện tượng riêng biệt của tự nhiên”

Ở Đức, khoa học về các thể tổng hợp địa lý tự nhiên (Geocomplex) đã được Passager (1866 - 1958) và những người kế tục của ông (E Neef, G

H aase ) phát triển J Kondrascki đã xây dựng bản đồ các cảnh địa lý ở Ba Lan (1959) ở Trung Quốc, các trường đại học ở Bắc Kinh, Quảng Châu (Trường Đại học Tôn Dật Tiên) là những trung tâm nghiên cứu quan trọng về địa cảnh học.Các nước Tư bản chủ nghĩa cũng xuất hiện khuynh hướng địa lý tổng hợp, chủ yếu trong các công trình nghiên cứu ứng dụng, tập trung vào vấn đề đánh giá

và phân loại đất đai, vào việc nghiên cứu địa sinh vật Trên bản đồ các kiểu đất đai (land type map) hoặc bản đồ phân loại đất đai (land classification map) ta thấy các hình thang được dựa trên tổng thể nhiều yếu tố như thổ nhưỡng, địa hình nham thạch, khí hậu thuỷ văn, thực vật Đặc biệt công trình của nhà sinh học Bỉ p Duvignaund “Hệ thống sinh thái và sinh quyển” đã được Viện sỹ I.p

Đề tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã số QT.04.21

Chủ tri: TS Phạm QuangTuấn

6

Trang 14

- Giai đoạn từ năm 1954-1980: Đặc điểm của giai đoạn này là phát hiện sự

phân hoá lãnh thổ theo hệ thống phân vị theo hệ thống phân vùng địa lí tự nhiên, nghĩa là đi tìm các cá thể của địa tổng thể Đầu tiên phải kể đến công trình “Việt nam” của tiến sĩ Sêglova (1957) Tác giả đã chia các khu vực tự nhiên của Việt Nam theo một hệ thống đơn giản gồm 2 cấp vùng và á vùng, trong đó vùng được phân chia theo yếu tố khí hậu có thể kết hợp vói yếu tố địa hình, kiến tạo, thực vật, còn chỉ tiêu cấp á vùng chủ yếu dựa vào yếu tố địa mạo Tiếp theo là công trình “Thiên nhiên miền Bắc Việt Nam” của V.M.Fridlan (1961) Dựa trên quan điểm phi địa đới, tác giả đã đưa ra sự phân hoá tự nhiênmiền Bắc Việt Nam theo

hệ thống phân vị gồm 5 cấp: Lãnh thổ => Tỉnh => Quận => Á quận => Vùng Sau

ơiả trong nước Đầu tiên là “Địa lí tự nhiên Việt Nam“ của Nguyễn Đức Chính và

Vũ Tự Lập, trong đó các tác giả đã phân vùng với hệ thống phân vị gồm 6 cấp: Đới => Xứ => Miền => Khu => Vùng => Cảnh Hệ thống này được xây dựng dựa

hoá tự nhiên của nước ta Tính nhiệt đói gió mùa đã được phản ánh ở cấp phân vị cao nhất và lần đầu tiên thuật ngữ “cảnh quan” đã được đưa vào và được sử dụng

ở các công trình tiếp theo mặc dầu ở đơn vị thấp nhất: Cấp cảnh vẫn được các tác ơiả cho tương đương với cấp vùng Trong giai đoạn này, có một công trình rất đánơ chú ý về mặt lý luận và là giáo trình cơ bản cho sinh viên chuyên ngành cảnh quan Đó là tác phẩm “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam” của Vũ Tự

Đế tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mả so QT.04.21

Trang 15

Lập (1975), trong đó tác giả đã đưa ra một hệ thống phân vị riêng, khá đầy đủ từ cấp lớn nhất đến cấp nhỏ nhất Ưu điểm của hệ thống phân vị này là có sự kết hợp nhuần nhuyễn tính địa đới và phi địa đới trong sự phân chia các cấp phân vị Lần đầu tiên ở Việt Nam, mỗi một cấp được xây dựng dựa trên những chỉ tiêu xác định.

- Giai đoạn sau 1980 đến nay: Nội dung nghiên cứu cảnh quan, chủ yếu

được tiến hành theo hướng phân loại không dựa vào các cá thể địa tổng thể Có thể tìm thấy một loạt các công trình theo hướng này đó là Phạm Quang Anh, nghiên cứu xây dựng bản đồ cảnh quan các tỷ lệ trên lãnh thổ Việt Nam (Nguyễn Thành Long, Phạm Thế Vĩnh, 1993), nghiên cứu các đơn vị phân loại cảnh quan Việt Nam tỷ lệ 1:100000 (Nguyễn Ngọc Khánh, Nguyễn Cao Huần, Phạm Hoàng

H ải) ý tưởng nghiên cứu cảnh quan theo quan điểm này được bắt đầu từ công trình thành lập bản đồ cảnh quan trong tập Atlas Quốc gia Hệ thống phân loại cảnh quan được tập thể các tác giả (dưới sự chủ trì của Phạm Quang Anh và Nguyễn Thành Long) đưa ra chủ yếu dựa trên hệ thống phân loại cảnh quan của Nhikolaev gồm 12 bậc: Thống => Hệ => Phụ hệ => Lớp => Phụ lớp => Nhóm => Kiểu => Phụ kiểu => Hạng => Phụ hạng => Loại => Phụ loại, và có điều chỉnh phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta Kết quả đưa ra một hệ thống phân loại gồm 5 bậc: Hệ => Phụ hệ => Lớp => Phụ lớp => Kiểu đối với bản đồ tỷ lệ nhỏ

Hướng nghiên cứu cảnh quan và sinh thái cảnh quan ứng dụng đã và đang được nhiều nhà địa lý quan tâm Vũ Tự Lập (1976, 1978) đã nghiên cứu và xây dựng bản đồ cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam theo quan niệm cảnh quan là

cá thể Quan niệm cảnh quan là đơn vị kiểu loại được các nhà khoa học ở Viện Địa lý và Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên áp dụng để xây dựng nhiều bản đồ cảnh quan ở các tỷ lệ khác nhau (Nguyễn Thành Long, Lại Vĩnh Cẩm, 1993; Nguyễn Cao Huần, 1991, 2002, 2003; Phạm Quang Anh, 1996, 2001; Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh, 1997, 2002) Đánh giá kinh tế sinh thái các đơn vị cảnh quan đã xác lập cơ sở khoa học cho phát triển nông lâm nghiệp ở nhiều khu vực nước ta (Nguyễn Cao Huần,

1992, 2000; Hà Vãn Hành, 2002) ở nước ta các khối núi đá vôi chiếm khoảng hơn 15% diện tích lãnh thổ (Nguyễn Quang Mỹ, 1993) Các cảnh quan vùng đá vôi có những đặc thù riêng về lớp phủ thổ nhưỡng, thảm thực vật, nguồn nước _ g

Đề tái NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã số QT.04.21

Trang 16

vụ

Nhưng phần lớn các nghiên cứu về vùng núi đá vôi ở nước ta theo các khía canh riêng biệt: v ề địa hình karst (Đào Trọng Năng, 1979; Nguyễn Quang Mỹ, Nguyễn Vi Dân, Đặng Văn Bào, Nguyễn Thế Thôn, 1993, Trần Nghi, Nguyễn Quang Mỹ, Đặng Văn Bào, Vũ Văn Phái, 2003), hang động phục vụ du lịch (Nguyễn Quang Mỹ, Vũ Văn Phái, Nguyễn Xuân trường, 1993, 2003), thành tạo cacbonat và khoáng sản liên quan (Nguyễn Văn Chiển, 1978; Phan Văn Quýnh, 1993; Đỗ Văn Thanh, 1993), Các nền văn hoá hang động (Nguyễn Đức Tùng, 1974; Trần Quốc Vượng, 1993) Ở nước ta còn rất ít công trình nghiên cứu và đánh giá tổng hợp cảnh quan vùng núi đá vôi

Những điểm trình bày ở trên cho thấy cảnh quan học là ngành khoa học tập trung nghiên cứu sự phân hoá lãnh thổ của lớp vỏ địa lý Các quan điểm về cảnh quan ở các thời điểm khác nhau đánh dấu sự phát triển của học thuyết cảnh quan Quan niệm cá thể coi cảnh quan là phần lãnh thổ nào đó riêng biệt của lóp

vỏ địa lý, có những đặc tính không lặp lại trong không gian Quan niệm cảnh quan là đơn vị phân hoá chung như một địa hệ tự nhiên phổ biến trong thời kỳ

niệm kiểu loại thường được sử dụng trong những nãm gần đây, coi cảnh quan là đơn vị phân loại trong hệ thống phân vị tổng thể tự nhiên (A.G Ixatrenco, Nicolaev, Gerenchuc )

Việc ứng dụng quan điểm tổng hợp và hệ thống của cảnh quan học trong điều tra đánh giá điều kiện tự nhiên, tổ chức lãnh thổ và quy hoạch sản xuất là yếu tố quan trọng bậc nhất để thúc đẩy phát triển kinh tế, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Trên thế giới, các nội dung này đã được thực thi có hiệu quả ở nhiều nước như Cộng hoà Liên bang Nga, Bungari, Mỹ, Pháp, Nhật, ở CHLB Nga, Bungari đã tiến hành điều tra cơ bản điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội, tổ chức các tổng hợp thể sản xuất lãnh thổ (Territorial Productive Complex) theo ngành (tổ chức sản xuất lãnh thổ công nghiệp, nông nghiệp, du lịch ) và theo vùng Ở Pháp hướng tổ chức lãnh thổ (Territorial Organization) được tập trung nghiên cứu và ứng dụng từ nhiều thập kỷ nay Ở Mỹ việc nghiên cứu và quy hoạch cảnh quan (Landscape Planning) đã được đẩy mạnh Ở Nhật Bản đã đi sâu vào quy hoạch và thiết kế cảnh quan (Landscape Design), ở nước ta việc tổ

Để tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã sô' QT.04.21

Chủ tri: TS Phạm QuangTuấn

9

Trang 17

chức không gian sử dụng hợp lý tài nguyên, quy hoạch định hướng phát triển bền vững vùng, xây dựng các mô hình kinh tế sinh thái đã được nghiên cứu, thí nghiệm và triển khai (Nguyễn Văn Trương, 1992, 2001; Trần Đình Lý, Đỗ Hữu Thư, 1995, 2003; Đào Thế Tuấn, 1984; Đặng Trung Thuận, Trương Quang Hải,

1999, 2002) Tiếp cận kinh tế sinh thái là hướng đánh giá tổng hợp sử dụng trong nghiên cứu địa lý - cảnh quan học ứng dụng Theo hướng này trong khai thác, sử dụng cảnh quan phải xem xét tính thích nghi sinh thái, hiệu quả kinh tế, phân tích ảnh hưởng môi trường và xã hội Hướng tiếp cận sinh thái được ứng dụng trong địa lý từ những năm 70 của thế kỷ XX và ngày càng được hoàn thiện, trước hết đánh giá tính thích nghi sinh thái (Mukhina), hiệu quả kinh tế (Zvoruvkin K

V 1968), ảnh hưởng môi trường (Leopold, 1972; Petermanm T., 1996) M ột số công trình đánh giá tổng hợp từ tự nhiên, môi trường đến kinh tế, xã hội (GolovecI.K., 1983; FA C U 993)

1.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ QUAN ĐIEM t iế p c ậ n

1.2.1 Tổng quan tài liệu

Cho đến nay đã có nhiều công trình đề cập tới những khía cạnh khác nhau

có liên quan với lãnh thổ và đề tài nghiên cứu Trong số những tài liệu tham khảo

1.2.1.2 Tài liệu liên quan đến các vấn đề lý thuyết của đê tài:

Trong rất nhiều tài liệu liên quan đến đề tài có thể chia ra các nhóm:

- Nhóm tài liệu về điều kiện tự nhiên lãnh thổ: Công tác nghiên cứu, điều

tra cơ bản các hợp phần tự nhiên ở Việt Nam bắt đầu tò rất sớm như: nghiên cứu

và thành lập sơ đổ đất tổng quát Việt Nam (V M Fridland và F R Moorman,

1958, 1960), nghiên cứu những loại đất chính ở miền Bắc Việt Nam của Vũ Ngọc Tuyên, Trần Khải, Phạm Gia Tu (1963), nghiên cứu về đất và vỏ phong hóa nhiệt đới ẩm (V M Fridland, 1973) Nghiên cứu về đặc điểm khí hậu Việt Nam cũng được một số tác giả quan tâm như: Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc (1975), Nguyễn Đức Ngữ, Nguyền Trọng Hiệu (1988), Nguyễn Can (1994); nghiên cứu

về thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam của Trần Ngũ Phương (1970), Thái Vãn Trừng (1978) Hướng nghiên cứu đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên phục vụ sản xuất đã được nhiều tác giả đề cập đến

Chủ tri: TS Phạm QuangTuấn

Trang 18

- Nhóm tài liệu vê' nghiên cứu đánh giá cảnh quan: Có rất nhiều công trình

trong và ngoài nước nghiên cứu về cảnh quan cũng như đánh giá tổng hợp chúng nhằm mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên lãnh thổ và bảo vệ môi trường Trong

số này có một số công trình nghiên cứu lý thuyết và đặt nền móng cơ sở cho khoa học cảnh quan như: D L Arman, A G Ixatsenco, Vũ Tự Lập, và cũng có nhiều công trình mang tính chất lý thuyết cảnh quan ứng dụng như: Phạm Hoàng Hải

và nnk, Nguyễn Cao Huần Hướng nghiên cứu “sinh thái hóa cảnh quan” cũng được thể hiện ờ một số công trình của Phạm Quang Anh và ở một mức độ nhất định các kết quả nghiên cứu này vừa làm phong phú thêm lý luận về cảnh quan học, vừa có ý nghĩa ứng dụng thực tế Trong quá trình nghiên cứu đặc điểm sinh thái cảnh quan lãnh thổ khu vực Sa Pa, các công trình đã dẫn này được coi là những tài liệu tham khảo chủ yếu

- Nhóm tài liệu vê' tổng kết kinh nghiệm và xây dựng mô hình kinh t ế sinh thái: Gần đây, do nhu cầu thực tiễn nên nhiều nhà khoa học dã đi sâu nghiên cứu

về kinh tế hộ gia đình ở nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó kinh tế hộ gia đình

ở trung du và miền núi được đặc biệt quan tâm Tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp đã được con người nhận thức từ lâu, nhưng muốn có kết quả cao thì phải dựa vào sự nỗ lực của hệ thống các hộ sản xuất nông nghiệp Chính điều này

đã được c Mác nêu rõ: “Ngay ở nước Anh với nền công nghiệp phát triển, hình thức sản xuất nông nghiệp có lợi nhất không phải là các xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn mà là các trang trại gia đình không sử dụng lao động làm thuê”, và muốn phát triển sản xuất, tăng sản lượng lương thực và không hủy hoại môi trường tự nhiên thì phải duy trì một nền “nông nghiệp bền vững” Những vấn đề này đã được các nhà khoa học Việt Nam và thế giới làm rõ Kinh nghiệm của nhiều nơi đã cho thấy kinh tế hộ gia đình và trang trại là loại hình kinh tế có hiệu quả nhất và là lực lượng kinh tế chủ yếu trong quá trình phát triển nền sản xuất hàng hóa hiện đại Tuy nhiên, đây là loại hình kinh tế tương đối mới mẻ nên các chủ gia đình còn nhiều bỡ ngỡ trong việc xác lập mô hình hợp lý Để giúp cho các chủ hộ và chủ trang trại tổ chức tốt các hoạt động kinh tế của mình nên đã có một số công trình nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm xây dựng mô hình Các công trình này được coi là những tài liệu tham khảo có giá trị khi tiến hành xác lập mô hình kinh tế sinh thái nông hộ hợp lý ở Sa Pa

Đễ tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã số QT.04.21

Chủ tri: TS Phạm QuangTuấn

11

Trang 19

- Nhóm tài liệu vê' nghiên cứu đánh giá thích nghi sinh thái theo quan điểm của FAO: trên thế giới, nghiên cứu đánh giá đất đai được bắt đầu từ những

thập niên 50 của thế kỷ XX Đó là kết quả, là bước tiếp theo của công tác nghiên cứu đặc điểm đất đai Trong các thời kỳ này, các hệ thống đánh giá đất đai được

sử dụng khá phổ biến Tại Mỹ, phân loại khả năng thích nghi cảnh quan có tưới (Irrigation land suitability classification) được cục Cải tạo đất đai - Bộ Nông

thể trồng trọt được một cách giới hạn và lớp không thể trồng trọt được Trong hệ thống phân loại này, ngoài đặc điểm đất đai tự nhiên, một số chỉ tiêu kinh tế định

lượng cũng được xem xét nhưng giới hạn ở phạm vi thuỷ lợi Năm 1964, khái

niệm về “khả năng đất đai” (land capacity) cũng được mở rộng trong công tác đánh giá đất đai, do Klingebiel và Montgomery (Vụ bảo tồn đất đai - Bộ Nông nghiệp) đề nghị Trong đó, các đơn vị bản đồ đất đai được gộp nhóm dựa trên khả năng sản xuất của một sô' loại cây trồng hay thực vật tự nhiên nào đó và chỉ tiêu chính là các hạn chế của lớp phủ thổ nhưỡng đối với mục tiêu canh tác Đây là một loại đánh giá đất đai sơ lược, gắn với hiện trạng sử dụng đất hay còn gọi là

“loại hình sử dụng đất” Tại Liên Xô cũ và các nước Đông Âu, từ những năm

1960, việc phân hạng và đánh giá đất đai được thực hiện theo 3 bước: đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng; đánh giá khả năng sản xuất của đất đai và đánh giá kinh tế đất Phương pháp này thuần tuý quan tâm đến khía cạnh tự nhiên của đối tượng đất đai, chưa xem xét đầy đủ đến khía cạnh xã hội của việc sử dụng đất Từ những nãm 1970, nhiều quốc gia ở châu Âu đã cố gắng phát triển các hệ thống đánh giá của họ, yêu cầu cần có một sự thống nhất và tiêu chuẩn quốc tế việc đánh giá đất đai Kết quả có hai uỷ ban nghiên cứu được thành lập ở Hà Lan và ở Italia Nãm 1972, dự thảo đầu tiên ra đời, sau đó được Brinkman và Smith biên soạn lại và in ấn nãm 1973 Nãm 1975, tại hội nghị ở Rome, những ý kiến đóng ơóp cho bản dự thảo năm 1973 đã được các chuyên gia hàng đầu về đánh giá đất đai của FAO (K.J.Beek, J.Bennema, P.J.Mabiler, G.A.Smith ) chỉnh sửa lại để hình thành nội dung khung đánh giá đất đai đầu tiên của FAO (A framework forland evaluation) công bô' năm 1976, được chỉnh sửa và bổ sung năm 1983 Bêncạnh nhữns tài liệu tổng quát của FAO, còn có những hướng dẫn cụ thể khác về đánh giá đất đai cho từng đối tượng chuyên biệt như đánh giá đất đai cho nông nghiệp nhờ nước trời (Land Evaluation for Rainfalled Agriculture, 1983), đánh

, — - - - — - 12

Đề tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã số QT.04.21

Trang 20

giá đất đai cho nông nghiệp có tưới (Land Evaluation for Irrigated Agriculture, 1985), Đánh giá đất đai đồng cỏ (Land Evaluation for Extensive Grazing, 1989), đánh giá đất đai cho sự phát triển (Land Evaluation for Development, 1990), đánh giá đất đai và phân tích hệ thống nông trang phục vụ quy hoạch sử dụng đất (Land Evaluation and Farming System Analysis for Land Use Planning, 1992) Phương pháp đánh giá đất đai do FAO đề xuất là phương pháp có nhiều ưu thế,

đã được áp dụng thành công ở nhiều quốc gia phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất đai trong nhiều năm qua Tuy nhiên cách tính toán thủ công theo phương pháp này đòi hỏi khá nhiều thời gian nhất là đối với đánh giá đất đai ở quy mô lớn như vùng và quốc gia, dẫn đến dễ xảy ra sai sót và không kịp đáp ứng nhu cầu cấp thiết của nhà quản lý và nhà quy hoạch sử dụng đất đai Do vậy, Wood, Dent và Purnell đã xây dựng và phát triển mô hình ALES vói mục đích cung cấp khả năng tự động hoá trong đánh giá đất đai, được thừa kế và phát triển từ phương pháp đánh giá đất đai của FAO Từ phiên bản ALES version 1 ra mắt nãm 1988, đến nay đã nâng cấp lên phiên bản ALES version 4.65 Ở Việt Nam, những thử nghiệm đầu tiên về ứng dụng các phương pháp đánh giá đất đai định lượng gắn với yếu tố kinh tế của sử dụng đất, đánh giá khả năng đất đai không những ở phạm trù tự nhiên mà còn xem xét đất đai ở khía cạnh kinh tế xã hội Từ đầu những năm 90 trở lại đây, việc sử dụng đất đai trên toàn quốc được đẩy manh theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển nông nghiệp bền vững Năm

1993, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp đã chỉ đạo thực hiện công tác đánh giá đất đai trên cả 9 vùng sinh thái của cả nước với bản đồ tỉ lệ 1/250.000 Kết quả bước đầu đã xác định được tiềm nãng đất đai của cả vùng và khẳng định việc vận dụng nội dung và phương pháp đánh giá đất của FAO theo tiêu chuẩn và điều kiện cụ thể của Việt Nam là phù hợp với hoàn cảnh hiện nay Từ nhũng nãm

2000, công tác đánh giá đất đai với sự hỗ trợ của mô hình ALES - GIS được Trần

An Phong ứng dụng nghiên cứu ở tỷ lệ 1:100.000 tại các tỉnh Tây Nguyên

1.2.1.2 Tài liệu liên quart đến lãnh thổ nghiên cứu:

Kết quả nghiên cứu của một số đề tài, dự án liên quan đến khu vực Sa Pa - Fanxipang đã đề cập đến các vấn đề trong nghiên cứu điều tra cơ bản và khai thác tài nguyên:

Đề tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã số QT.04.21

Chủ tri: TS Phạm QuangTuấn

13

Trang 21

về các loài chm và thú vào tháng 1 1 - 1 2 năm 1929; Một danh mục các loài thực vật đã được Nguyễn Nghĩa Thìn biên soạn dựa trên những tài liệu đã xuất bản và khảo sát thực địa trong thời gian 1991 - 1997 (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1998); Ba đợt nghiên cứu của Frontier - Việt Nam tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên vào thời gian: đợt 1 năm 1994; đợt 2 năm 1995; đợt 3 từ tháng 10 năm 1997 đến tháng 9 năm 1998 khảo sát về đa dạng các loài thực vật, thú, chim, lưỡng cư, bò sát, bướm và động vật không xương sống (Ghzoul & Le Mong Chan); Đợt khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Nhiệt đới Việt - Nga từ tháng 11 năm 1996 đến tháng 1 năm 1997 bao gồm nghiên cứu về thảm thực, chim, thú,thằn lằn, bướm

và các nhóm động vật không xương sống khác (Korzun & Kaliakin)

Những công trình nghiên cứu trên đã khái quát điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên huyện Sa Pa Qua đây, đề tài đã kế thừa những nội dung có liên quan nhằm giảm bớt khối lượng công việc Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, các công trình này chủ yếu nghiên cứu ở phạm vi toàn tỉnh Lào Cai chứ không đi sâu vào từng địa bàn huyện Do vậy, thực tế là huyện Sa Pa còn thiếu những nghiên cứu mang tính cụ thể, tổng hợp và thực tiễn ứng dụng cao

1.2.2 Quan điểm tiếp cận và hệ phương pháp nghiên cứu cảnh quan phục

vụ phát triển nông lâm nghiệp huyện Sa Pa

1.2.2.1 Quan điểm tiếp cận

A QUAN ĐIỂM LỊCH s ử

Đối với nhà địa lý, khi nghiên cứu và đánh giá tài nguyên cho việc phát triển sản xuất ở một lãnh thổ nào đó thì việc xem xét lịch sử diễn biến đã xẩy ra trong quá khứ có tầm quan trọng đặc biệt Thiên nhiên là một chỉnh thể thống nhất và là tổng hòa của các mối quan hệ tương tác Trong đó có sự tương tác giữa con người với tự nhiên mà hiện trạng sản xuất và mô hình sản xuất hiện tại là một tấm gương phản ảnh lịch sử lựa chọn của con người để tạo nên sự tương thích của đối tượng cây trồng - vật nuôi với quỹ sinh thái lãnh thổ địa phương cũng như phù hợp với nhu cầu của thị trường Vì vậy, để có những phương án quy hoạch khả thi, cần phải xác định được các loại hình sử dụng đất trong quá khứ và hiện tại Do đó, việc nghiên cứu lịch sử phát triển các mô hình hiện trạng nông nghiệp cây trồng - vật nuôi trong quá trình sử dụns đất đai là không thể thiếu được Nói cách khác, nghiên

Chủ tri: TS Phạm QuangTuấn

Trang 22

- v ề địa chất - địa mạo: Đóng góp đầu tiên do các nhà Địa lý - địa chất

người pháp: trong khi phân tích địa hình - địa mạo chung của toàn Đông Dương

đã kết luận lãnh thổ phần Bắc Việt Nam trong đó có Lào Cai là phần rìa bị chia cắt xâm thực của cao nguyên Vân Quý (Trung Quốc) Sau khi hoà bình lập lại, việc nghiên cứa địa mạo được coi như việc nghiên cứu bổ trợ cùng với nghiên cứu các hợp phần V.M Fridland (1964) khi nghiên cứu đất và vỏ phong hoá miền Bắc Việt Nam đã xếp Lào Cai vào nhóm địa hình núi, gồm 3 kiểu Đây là bản đồ địa mạo đầu tiên được tiến hành phân chia địa hình ở phạm vi tỉnh ra các kiểu núi khác theo chế độ kiến tạo, phục vụ cho nghiên cứu đất và vỏ phong hoá, nhưng chỉ dừng lại ở mức sơ lược Một số công trình khác của Rezanov, Nguyễn

hình, trên cơ sở đó đã lí giải về lịch sử phát triển địa hình và vận động tân kiến tạo của khu vực; công trình thành lập bản đồ địa mạo toàn quốc tỉ lệ 1 :1.0 0 0 0 0 0

của Lê Đức An và đồng nghiệp

- V ề thổ nhưỡng: M v Fridlan, Tôn Thất Chiểu, Vũ Ngọc Tuyên (1959 -

1960) đã có những nghiên cứu khảo sát thổ nhưỡng Fanxipang và núi Hoàng Liên Sơn đạt tới độ cao dưới 2000m Sau đó là các công trình khảo sát của Tôn Thất Chiểu nghiên cứu chuyển đổi hệ thống phân loại đất theo phát sinh ở Fanxipang hệ thống phân loại của FAO - UNESCO Trong các công trình điều tra tổng hợp Tây Bắc Lào Cai gần đây, các tác giả Lê Thái Bạt, Nguyễn Bá Nhuận đã nghiên cứu đất chân sườn của dãy núi Hoàng Liên Sơn

- V ề khí hậu: Chủ yếu là các công trình của Phạm Ngọc Toàn và Phan Tất

Đắc, Nguyễn Đức Ngữ và Nguyễn Trọng Thiệu, Nguyễn Thị Hiền, Nguyễn Khánh Vân

- Về đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật: Đáng chú ý nhất là công

trình nghiên cứu của Thái Văn Trừng (1978) trong tác phẩm “Thảm thực vật rừng Việt Nam”, Nguyễn Nghĩa Thìn trong tác phẩm “Đa dạng thực vật vùng núi cao

Sa Pa - Fanxipang” Ngoài ra, còn có nhiều nhóm các nhà khoa học Việt Nam cũnơ như nước ngoài làm việc và nghiên cứu tại khu vực Sa Pa - Fanxipang sau: Đợt nghiên cứu của The Kelley - Roosevelt đến Đông Dương của Pháp để thu thập các loài thú và chim vào tháng 2 năm 1929; Đợt nghiên cứu thứ 5 của Delacuor tại thuộc địa Đông Dương về thuộc địa của Pháp để thu thập thêm mẫu

Đé tái NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã sô QT.04.21

Trang 23

vu

về các loài chm và thú vào tháng 1 1 - 1 2 năm 1929; Một danh mục các loài thực vật đã được Nguyễn Nghĩa Thìn biên soạn dựa trên những tài liệu đã xuất bản và khảo sát thực địa trong thời gian 1991 - 1997 (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1998); Ba đợt nghiên cứu của Frontier - Việt Nam tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên vào thời gian: đợt 1 năm 1994; đợt 2 năm 1995; đợt 3 từ tháng 10 năm 1997 đến

sát, bướm và động vật không xương sống (Ghzoul & Le Mong Chan); Đợt khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Nhiệt đới Việt - Nga từ tháng 11 năm 1996 đến tháng 1 năm 1997 bao gồm nghiên cứu về thảm thực, chim, thú,thằn lằn, bướm

và các nhóm động vật không xương sống khác (Korzun & Kaliakin)

Những công trình nghiên cứu trên đã khái quát điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên huyện Sa Pa Qua đây, để tài đã kế thừa những nội dung có liên quan nhằm giảm bớt khối lượng công việc Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, các công trình này chủ yếu nghiên cứu ở phạm vi toàn tỉnh Lào Cai chứ không đi sâu vào từng địa bàn huyện Do vậy, thực tế là huyện Sa Pa còn thiếu những nghiên cứu mang tính cụ thể, tổng hợp và thực tiễn ứng dụng cao

1.2.2 Quan điểm tiếp cận và hệ phương pháp nghiên cứu cảnh quan phục

vụ phát triển nông lâm nghiệp huyện Sa Pa

1.2.2.1 Quan điểm tiếp cận

A QUAN ĐIỂM LỊCH s ử

Đối với nhà địa lý, khi nghiên cứu và đánh giá tài nguyên cho việc phát triển sản xuất ở một lãnh thổ nào đó thì việc xem xét lịch sử diễn biến đã xẩy ra trong quá khứ có tầm quan trọng đặc biệt Thiên nhiên là một chỉnh thể thống nhất và là tổng hòa của các mối quan hệ tương tác Trong đó có sự tương tác giữa con người với tự nhiên mà hiện trạng sản xuất và mô hình sản xuất hiện tại là một tấm gương phản ảnh lịch sử lựa chọn của con người để tạo nên sự tương thích của đối tượng cây trồng - vật nuôi với quỹ sinh thái lãnh thổ địa phương cũng như phù hợp với nhu cầu của thị trường Vì vậy, để có những phương án quy hoạch khả thi, cần phải xác định được các loại hình sử dụng đất trong quá khứ và hiện tại Do đó, việc nghiên cứu lịch sử phát triển các mô hình hiện trạng nông nghiệp cây trồng - vật nuôi trong quá trình sử dụng đất đai là không thể thiếu được Nói cách khác, nghiên

Chù tri: TS Phạm QuangTuấn

Trang 24

cứu quá khứ và hiện tại của các mô hình sản xuất cũng là cơ sờ khoa học vững chắc cho việc đánh giá tài nguyên và định hướng quy hoạch sử dụng hợp lý lãnh thổ, đồng thời trên cơ sở của lịch sử đó có thể đưa ra những dự báo về kinh tế, sinh thái và môi trường một cách hữu hiệu.

B QUAN ĐIỂM HỆ THốNG VÀ TổNG HỢP

Quan điểm hệ thống chính là vận dụng sự hiểu biết về quy luật cấu trúc hệ thống vốn có của tự nhiên trong từng địa tổng thể vào nghiên cứu, đánh giá các đối tượng sản xuất phức tạp có liên quan với cấu trúc địa hệ Hệ thống cấu trúc của địa tổng thể tuy rất phức tạp, nhưng vẫn có chung một số tính chất, đó là:

- Hệ thống cấu trúc địa tổng thể bao gồm nhiều hợp phần tự nhiên cấu tạo nên và có mức độ tổ chức vận hành vật chất và năng lượng nội tại cao

- Qua sự vận hành vật chất và nãng lượng nói trên, các bộ phận cấu thành nên hệ thống đều có những mối quan hệ qua lại mật thiết vói nhau thông qua quá trình trao đổi và chuyển hoá vật chất, liên kết ảnh hưởng lẫn nhau theo một phản ứng dây truyền (chẳng hạn: khi ta phá rừng thì khí hậu sẽ thay đổi, mực nước ngầm sẽ hạ thấp, đất đai sẽ bị xói mòn, thoái hóa ) Như vậy đặc trưng của hệ thống là tính cấu trúc Đối với một đơn vị lãnh thổ, người ta phân biệt hai loại cấu trúc là cấu trúc không gian (cấu trúc đứng và cấu trúc ngang) và cấu trúc thời gian

Khi đưa tập đoàn giống cây trồng - vật nuôi vào một đơn vị lãnh thổ thì cây trồng - vật nuôi là một hợp phần nhân tạo cùng với đá mẹ, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, đất ở đó tạo thành một cấu trúc đứng mới đã bị biến đổi nhiều hay ít sau khi con người đã loại bỏ quần thể sinh vật tự nhiên Từ đó nhịp điệu và cường độ thành tạo vật chất - năng lượng trong nông nghiệp ở đây tốt hay xấu phụ thuộc vào sự hiểu biết của con người và có tạo được sự tương thích giữa cây trồng - vật nuôi với các điều kiện tự nhiên vốn có của địa tổng thể hay không.Tóm lại quan điểm hệ thống trong tổ chức sản xuất là vận dụng tính hệ thống trong địa lý học để tạo ra mối liên hệ liên ngành trong từng đon vị lãnh thổ

và tạo ra thế phối hợp liên vùng khi xét ở tầm vĩ mô

Trong tính hệ thống đó, cách nhìn của nhà nghiên cứu là bao quát toàn bộ mọi hợp phần liên đới trong quá trình vận động - đây cũng là nội dung của quan

Chù tri: TS Phạm QuangTuấn

Trang 25

điểm tổng hợp, vì nếu tổng hợp mà không theo một logic hệ thống thì khó mà tiếp cận, khó hiểu và cũng khó giải quyết một vấn đề riêng lẻ Nói một cách khác, tính hệ thống là cơ sở của cách nhìn và xem xét vấn đề một cách tổng hợp.Tính tổng hợp từ lâu đã được xem là tiêu chuẩn hàng đầu để xem xét, đánh giá giá trị khoa học của các công trình nghiên cứu về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Thông thường, trong các tư liệu cơ sở lý luận của khoa học địa lý, tính tổng hợp được xem xét dưới những góc độ khác nhau, nhưng có thể khái quát hoá như sau:

- Tổng hợp với nghĩa là nghiên cứu đồng bộ, toàn diện về các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên cũng như những mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa các hợp phần của tổng thể địa lý

- Tổng hợp là sự kết hợp có quy luật, có hệ thống trên cơ sở phân tích đồng

bộ và toàn diện các yếu tố hợp phần của các thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên, đồng thời phát hiện và xác định những đặc điểm đặc thù của các thể tổng hợp lãnh thổ địa lý

Như vậy, trong nghiên cứu đánh giá phải dựa trên cơ sở những kết quả phân tích đồng bộ, toàn diện và tổng hợp địa lý, đồng thời cả hai quan niệm này phải được sử dụng phối hợp chặt chẽ với nhau

Quan điểm hệ thống và tổng hợp sẽ được vận dụng và thể hiện ở các chương nội dung của công trình này

Hội nghị thế giới về môi trường và phát triển, WCED 1978 đã đưa ra định nghĩa “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả nãng đáp ứng nhu cầu của thế giới trong tương lai” Đối với bất kỳ một vùng lãnh thổ nào khi khai thác tiềm năng phục vụ phát triển kinh

tế xã hội hay bảo tồn đa dạng sinh học, nguyên tắc phát triển bền vững luôn đật lên hàng đầu Mỗi một đơn vị cảnh quan là sản phẩm của tác động qua lại giữa hợp phần tự nhiên và hợp phần xã hội, mức độ bền vững của hệ thống các đơn vị cảnh quan trong khu vực nghiên cứu chính là thước đo mức độ bền vững của chính sách phát triển kinh tế nói chung và phát triển nông, lâm nghiệp nói riêng

Trang 26

vụ

Tiếp cận kinh tế sinh thái trong đánh giá cảnh quan là hướng đánh giá tổng hợp, được phát triển dựa vào thành quả của các hướng nghiên cứu theo chuyên ngành và gắn với quan điểm phát triển bền vững Theo quan điểm này, khi đánh giá cảnh quan nhằm mục đích đưa ra mô hình sử dụng các đơn vị cảnh quan phải đánh giá, xem xét một cách tổng hợp các khía cạnh về tính thích nghi sinh thái, tính bền vững môi trường, tính hiệu quả kinh tế và tính bền vững xã hội

I.2.2.2 Hệ phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện tốt mục tiêu và nhiệm vụ của đặt ra, có các phương pháp nghiên cứu chủ yếu đã được áp dụng như:

- Phương pháp điều tra tổng hợp

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn

- Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý (GIS)

- Phương pháp ứng dụng chương trình ALES trong đánh giá cảnh quan

a PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA TổNG HỢP

Phương pháp điều tra tổng hợp được sử dụng trong đề tài để điều tra khảo sát thực địa về tất cả các hợp phần tự nhiên cũng như đặc điểm kinh tế xã hội và kết hợp với việc nghiên cứu phân tích trong phòng chỉ ra sự phân hoá lãnh thổ về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ cho mục tiêu của đề

Giai đoạn khảo sát thực đỉa: Khảo sát thực địa là giai đoạn cần thiết khi

nghiên cứu chi tiết bất kỳ một lãnh thổ để tìm ra sự phân hoá, bao gồm:

-Tiến hành khảo sát, nghiên cứu đặc điểm và sự phân hoá của tất cả các hợp phần tự nhiên (địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật) và kinh tế xã hội (sự phân bố dân cư, dân tộc, hiện trạng sử dụng đất )

- Nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và mối quan hệ giữa chúng đối với nhau cũng như mối quan hệ giữa tự nhiên và con người

Đề tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã số QT.04.21

Chủ trì: TS Phạm QuangTuấn

18

Trang 27

- Kiểm định và khẳng định những kết quả đạt được từ quá trình phân tích hay tính toán trong phòng.

Khảo sát thực địa là giai đoạn cần thiết khi nghiên cứu chi tiết bất kỳ một lãnh thổ nào Trong phạm vi đề tài, để hiểu rõ sự phân hoá điều kiện tự nhiên khu vực Sa Pa, chủ trì đề tài và nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thực địa từ xã Bản Hồ tới đỉnh Fanxipang vào tháng 3 năm 2005 Đây là tuyến khảo sát đầu tiên của cán bộ và sinh viên khoa Địa lý lên đỉnh Fanxipang Trong tuyến khảo sát này, chủ trì đề tài và nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu đặc điểm và sự phân hoá thổ nhưỡng (đào phẫu diện và lấy mẫu đất theo sự phân hoá theo đai đất: điểm Bản Hồ, điểm Sa Pa, điểm 2400m, điểm đỉnh Fanxipang); đo

số liệu vi khí hậu tại độ cao 1570m (Sa Pa) và tại đỉnh Fanxipang; khảo sát hiệu quả sử dụng đất của người dân địa phương bằng các phiếu điều tra; khảo sát hiện trạng thảm thực vật theo các ô tiêu chuẩn và khoanh vẽ theo sườn đối diện

Giai đoạn nghiên cứu trong phòng: Giai đoạn nghiên cứu trong phòng

nhầm mục đích phân tích, đánh giá các kết quả điều tra ngoài thực địa, từ đó tìm

ra qui luật phân hoá lãnh thổ nghiên cứu cả về định tính và định lượng

- Phân tích đặc tính lý - hoá học của đất trong phòng thí nghiệm: phân

tích pHKQ bằng phương pháp pHmet; phân tích Ca**, Mg++ đo bằng AAS - quang phổ hấp phụ nguyên tử; phân tích CEC đo bằng quang kế ngọn lửa; phân tích tổng lượng hữu cơ (OM%) bằng phương pháp Walkley Black; phân tích Nitơ tổng số bằng phương pháp Kenđan; phân tích K20 tổng số bằng phương pháp công phá với HF + HCIO4 đo bằng quang kế ngọn lửa; phân tích P205 tổng số bằng phương pháp công phá với H2S 04 + HCIO4 so màu; phân tích K20 dễ tiêu theo phương pháp Matlova đo bằng quang kế ngọn lửa; phân tích P205 dễ tiêu theo phương pháp Oniani so màu; phân tích thành phần cơ giới bằng phương pháp ống hút Robinson

Kết quả phân tích được thực hiện tại phòng thí nghiệm phân tích đất trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội

- Phân tích liên hợp các loại bản đồ đơn tính phục vụ thành lập bản đồcảnh quan Ngoài ra, việc phân tích, đối chiếu các loại bản đồ để làm rõ mối liên

hệ giữa các hiện tượng, các thành phần và tìm ra quy luật của chúng phục vụ cho

— —— - - - — - 19

Để tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã sô QT.04.21

Chủ tri: TS Phạm QuangTuấn

Trang 28

việc định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ cũng được thực hiện với sự trợ giúp của các phần mềm GIS chuyên dụng như: Mapinfo, MicroStation, ArcGIS, Arc View

Phương pháp điều tra tổng hợp dựa trên kết quả nghiên cứu và phân tích hệ thống của điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội từ các giai đoạn khảo sát thực địa

và nghiên cứu trong phòng cho phép xác định tính phân dị chung nhất của lãnh thổ Bằng cách này các đơn vị cảnh quan cũng đã được tổ hợp ma trận để xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan khi thành lập bản đồ cảnh quan khu vực Sa

Pa, làm cơ sở cho việc đánh giá, phân hạng mức độ thích nghi sinh thái đối với nhóm cây trồng nông lâm nghiệp chủ đạo

b PHUƠNG PHÁP THỐNG KÊ VÀ TổNG QUAN TÀI LỆƯ

Các số liệu thống kê về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của lãnh thổ Sa

Pa là những thông tin khái quát ban đầu về khu vực nghiên cứu Bên cạnh đó, để việc thực hiện các nội dung nghiên cứu theo một chuẩn mẫu định sẵn, các loại bản đồ, tài liệu cần thu thập đã được hệ thống hóa theo đề cương đã vạch ra từ trước để tránh thiếu sót những dữ liệu cần thiết cho bước tổng hợp sau này Nguồn dữ liệu được thống kê bao gồm:

- Thống kê qua tài liệu, báo cáo và sổ sách lưu trữ

- Thống kê qua các số liệu khảo sát, đo đạc ngoài thực địa

- Thống kê qua đo đạc, tính toán trên bản đồ

- Thống kê qua các bảng điều tra nông hộ với hệ thống chỉ tiêu đã định.Thực tế cho thấy rằng đây là phương pháp khống thể thiếu được, vì các số liệu thu thập theo phương pháp này có tính đồng bộ cao và giảm bớt thời gian đi thực địa

c PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ NHANH NÔNG THÔN VỚI s ự THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG (RRA)

Trong những năm gần đây, phương pháp đánh giá nhanh đã được đưa vào

sử dụng tronơ các cuộc nghiên cứu phát triển Phương pháp này sử dụng ngày càng nhiều như là một công cụ bổ sung cho các phương pháp nghiên cứu truyền thống Đánh giá nhanh nông thôn (RRA) là một phương pháp đánh giá nhanh

— - — - r - - 7 — — — - — - 20

Để tài NCKH Cấp Đại học Quóc gia mã sô QT.04.21

Trang 29

được sử dụng trong đề tài cho ra một cách nhìn tổng thể đối với khu vực nghiên cứu Cơ sở của phương pháp là tiếp cận với người dân địa phương để thu thập thông tin phục vụ mục đích nghiên cứu Có nhiều hình thức đánh giá nhanh nông thôn, nhưng để tài sử dụng hai hình thức chính sau:

- Dừng phiếu điều tra: phiếu điều tra là bảng hỏi có in sẵn các thông tin để

thu thập sô liệu phù hợp với nội dung của đề tài Đề tài đã thực hiện điều tra tại khu vực nghiên cứu để thu thập các thông tín về mức đầu tư và nguồn thu nhập từ các loại hình sử dụng đất (cây astisô, chè Nhật, đào, lê, mận, su su, thảo quả, tống quá sủ), cụ thể là giống, phân bón, nước tưới, thuốc bảo vệ thực vật, công lao động, năng suất, sản lượng, phân loại chất lượng sản phẩm, giá bán sản phẩm

và các nguồn thu khác

- Phương pháp phỏng vấn: đây là phương pháp để người nghiên cứu hiểu

được đặc điểm của vùng nghiên cứu thông qua những cư dân trong vùng và những quan sát tại địa điểm nghiên cứu Ngoài ra còn thực hiện lấy ý kiến của một số cán bộ lãnh đạo ở các cấp tỉnh, huyện, xã và các sở, phòng, ban có liên quan

d PHƯƠNG PHÁP BẢN ĐỒ VÀ HỆ THÔNG TIN ĐỊA LÝ

Để xác lập sự đồng nhất hay phân dị lãnh thổ của các nhân tố sinh thái cũns như việc thể hiện chúng thì không còn cách nào khác là phải sử dụng bản

đồ Bản đồ được coi là “ngôn ngữ của địa lý học”, vì chúng có khả năng thể hiện

rõ nhất, trực quan nhất các đặc trưng không gian của các đối tượng nghiên cứu Trên cơ sở các loại bản đồ như: địa mạo, thổ nhưỡng, thủy văn và hiện trạng sử dụng đất mà tính toán tiềm năng, sức chứa cũng như khả năng phục hồi của lãnh thổ Đặc biệt để đánh giá tổng hợp tài nguyên theo đơn vị lãnh thổ thì vấn đề không thể thiếu được là phải thành lập bản đồ cảnh quan Bản đồ này được xây dựng theo phương pháp phân tích liên hợp các bản đồ thành phần như: bản đồ địa chất, bản đồ địa mạo, bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ hiện trạng sử dụng đất Ngoài

ra, phương pháp bản đồ còn là phương pháp duy nhất thể hiện sự phân bố không sian các phương án quy hoạch và thiết kế lãnh thổ, đồng thời giúp cho các nhà quản lý đưa ra những quyết định về tổ chức sử dụng lãnh thổ một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn nhiều so với việc đọc các bảng thống kê dài Trong giai

Đề tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mả số QT.04.21

Chủ tri: TS Phạm QuangTuấn

21

Trang 30

đoạn hiện nay, ngoài việc sử dụng phương pháp bản đồ truyền thống, còn được

hỗ trợ bởi Hệ thống thông tin Địa lý (GIS), đặc biệt trong phân tích và biến đổi thông tin, phân tích mô hình hoá không gian nhằm trả lời các bài toán địa lý và thành lập các bản đồ đánh giá tổng hợp

là đối với quy mô lớn như vùng hoặc quốc gia) và dễ xảy ra sai sót Trong tình hình đó, ALES ra đời, với mục đích cung cấp khả năng tự động hoá trong đánh giá đất đai, được kế thừa và phát triển từ phương pháp đánh giá của FAO, đã khắc phục được những yếu điểm trên ALES có thể áp dụng với mọi quy mô lãnh thổ hay mọi loại hình sử dụng đất, với điều kiện chuyên gia đánh giá phải xây dựng

mô hình đánh giá và cơ sở dữ liệu cho mỗi trường hợp cụ thể Tuy vậy, hạn chế của ALES là không thể biểu diễn kết quả dữ liệu không gian bằng bản đồ mà chỉ cho các bảng số liệu GIS thì lại là hệ thống lý tưởng trong phân tích không gian

và biểu thị kết quả đánh giá thích nghi của ALES dưới dạng các lớp dữ liệu Sự tích hợp ALES - GIS đảm bảo thực hiện đánh giá thích nghi nhanh chóng, chính xác và biểu thị trực quan kết quả đánh giá trên bản đồ thông qua liên kết với một

số phần mềm GIS (Mapinfo, Arcview)

HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP HUYỆN SA PA

1.3.1 Các hình thức đánh giá trong nghiên cứu cảnh quan

Từ lâu các nhà địa lý đã cố gằng tìm ra những phương pháp đánh giá để tăng cường độ tin cậy cho những kết quả nghiên cứu của m ình, song do đối tượng nghiên cứu thườn2 rất phức tạp vì có nhiều biến, nên trong nhiều trường hợp chưa đạt kết quả m ons muốn Hiện nay, Địa lý học đã phát triển và đạt được những - —— - - — - -— 22

Đế tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã số QT.04.21

Chủ tri: TS Phạm QuangTuấn

Trang 31

vụ

tiến bộ khả quan nhờ việc tìm ra những phương pháp đánh giá mới cùng với sự trợ giúp của phương pháp Viễn thám và GIS

Đánh giá được định nghĩa là sự ước lượng vai trò, ý nghĩa hay giá trị của

các đối tượng nghiên cứu căn cứ vào mục đích cụ thể được đánh giá bằng nhiều cách khác nhau Nói cách khác, nhiệm vụ đánh giá thường gắn liền với mục tiêu, đối tượng nghiên cứu cụ thể và từ đó mà có những chỉ tiêu đánh giá và phương pháp đánh giá thích hợp (N c Huần, Đ.T Thuận, P.Q.Tuấn, 2000)

Có thể phân chia ra các hình thức đánh giá như sau:

- Đánh giá tỉtng thành phẩn: đánh giá này thường sử dụng trong các khoa

học bộ phận, chẳng hạn: đánh giá tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc phát triển cây công nghiệp nhiệt đới dài ngày Nhược điểm của đánh giá từng thành phần

là đã loại bỏ quan hệ của nó với các thành phần tự nhiên khác

- Đánh giá tổng hợp: Các thành phần tự nhiên không tồn tại độc lập mà có

mối quan hệ nhiều chiều và tác động qua lại lẫn nhau theo không gian cũng như thời gian Các nhân tố thành phần này luôn tác động một cách đồng thời và tổng hợp lên các đối tượng sản xuất nên đòi hỏi phải xuất hiện loại đánh giá khác phức tạp hơn, đó là đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên.Ngoài ra, tuỳ thuộc vào mức độ chính xác mà có thể phân chia đánh giá thành các hinh thức sau:

- Đánh giá định tính: Việc đánh giá tài nguyên đã có từ lâu, từ những cảm

nhận đơn giản, chủ quan người ta phân chia tài nguyên thành các mức độ “tốt”,

“xấu” và “nhiều”, “ít” cho đến những phân tích, đánh giá một cách có cơ sở khoa học Như vậy, việc đánh giá định tính cũng có 2 mức độ là: định tính cảm tính của thời kỳ trước đây và định tính trên cơ sở số liệu định lượng, có tính khoa học trong giai đoạn hiện nay Đánh giá định tính là đánh giá tiềm năng hay mức độ thích hợp của các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên với một loại hình sử dụng nhất định Kết quả đánh giá định tính thường không đưa ra một chỉ sô' định lượng mà chỉ trình bày định tính trong phạm vi tính chất của đối tượng Thanơ đánh giá định tính có thể là 3 hạng (tốt - trung bình - xấu) hay năm hạng (tốt - khá - trung binh - kém - rất kém) hoặc nhiều hơn theo nhu cầu cụ thể

Đề tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã số QT.04.21

Chủ tri: TS Phạm QuangTuấn

23

Trang 32

- Đánh giá định lượng: Sự thiếu định lượng trong đánh giá đã làm cho việc

giải quyết các vấn đề địa lý trở nên khó khăn và mang tính chất phiến diện, bởi lẽ một khi đã không định lượng thì hiệu quả nghiên cứu sẽ phụ thuộc nhiều vào trình độ hay kinh nghiệm của các chuyên gia và kết quả đánh giá sẽ thiếu sức thuyết phục

- Đánh giá bán định lượng: trong nghiên cứu không phải bao giờ cũng có

thể thực hiện được đánh giá định lượng Đối với những lãnh thổ rộng lớn và số liệu nghiên cứu chưa đầy đủ thì việc nghiên cứu định lượng sẽ vô cùng phức tạp

Để khắc phục khó khăn này, từ lâu người ta đã vận dụng phương pháp bán đinh lượng, ví dụ trong kinh tế, từ đầu những năm 1970 đã ra đời một số phương pháp như: phương pháp phân tích chi phí - lợi ích, phương pháp phân tích thứ tự

Như vậy đánh giá định tính, định lượng hay bán định lượng các điều kiện

tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên đều là những công việc cần thiết Thông thường, người ta thực hiện đánh giá định tính trước trên cơ sở các kết quả nghiên cứu sơ bộ trước đây Tiếp theo là bước đánh giá bán định lượng và cuối cùng là đánh giá định lượng để từ đó đưa ra những định hướng cho việc quy hoạch sử dụng lãnh thổ

1.3.2 Hướng đánh giá kinh tế sinh thái trong nghiên cứu cảnh quan

Các phương pháp đánh giá thành phần đã được đề xuất và ứng dụng trong nhiều công trình nghiên cứu địa lý từ trước đến nay Đây là tiền đề của sự ra đời hướng đánh giá kinh tế sinh thái trong nghiên cứu cảnh quan

Phương pháp đánh giá mức độ thuận lợi (Mukhina L.I., 1973), hay có tên

gọi khác là đánh giá tiềm năng sản xuất là phương pháp đánh giá truyền thống đặc trưng cho nghiên cứu địa lý tự nhiên (tổng hợp hay chuyên ngành) ứng dụng: cảnh quan ứng dụng (Ixatrenko, 1980; Shishenko, 1988), địa mạo ứng dụng (Zvonkova, 1970), khí hậu, đất (FAO, 1993) Mức độ thuận lợi của các địa tổng thể thường được thể hiện ở dạng điểm, hoặc cấp (Mukhina, 1973; N.V.Scm, 1987-

đánh giá kinh tế tài nguyên đất, rừng (Zvorukin K.B, 1968; Minx, 1971; Runova,

M ukhina, 1985), Hiệu quả kinh tế thường thể hiện ở dưới dạng đơn vị tiền tệ trên đơn vị diện tích trong một thời gian xác định Đặc biệt trong những năm gần

— - -; - —— — - 24

oể tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã sô QT.04.21

Chủ tri: TS Phạm QuangTuấn

Trang 33

vụ

đây, phương pháp đánh giá kinh tế thường sử dụng công cụ phân tích chi phi - lợi

ích (Đ.N.Toàn, 1996; L.T Cán, 1995) Phân tích ảnh hưởng môi trường các dự

án sản xuất hoặc khai thác sử dụng tài nguyên đã có những bước tiến rõ rệt trong

10 nãm trở lại đây Phương pháp này ở một số nước, đặc biệt ở Mỹ thuộc lĩnh vực của địa lý môi trường Trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà địa lý Nga, Ucraina, Benarusia, khi phân tích môi trường học đã chú ý đến các hiện tượng, quá trình địa lý tự nhiên cực đoan như xói mòn đất, hạn hán, trượt lở (Shishenki P.G., 1988)

Ở Việt Nam, vấn đề phân tích các khía cạnh xã hội trong địa lý ứng dụng chưa được chú ý nhiều Nó có ưu thế chỉ ở các nước tư bản phát triển như Nhật, Đức, Mỹ Trong nghiên cứu địa lý, khi đề xuất các phương án quy hoạch sử dụng, khai thác và bảo vệ tài nguyên phải dựa vào kết quả của các loại đánh giá trên, cách tiếp cận tổng hợp này đã được nhắc đến trong nhiều tài liệu chuyên ngành (FAO, 1986,1993 )

Các kết quả nghiên cứu đánh giá các chuyên ngành nêu trên là tiền đề để hình thành tiếp cận đánh giá tổng hợp sinh thái - kinh tế - môi trường - xã hội, và được gọi là đánh giá kinh tế sinh thái trong nghiên cứu cảnh quan

1.3.3 Các bước nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên lãnh thổ huyện Sa Pa

Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan nhằm định hướng khai thác sử dụng hợp

lý lãnh thổ là một phần của quá trình nghiên cứu quy hoạch tổng thể lãnh thổ Mặc dù các bước của quy trình được nêu một cách tách biệt nhưng giữa chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và đều hướng tới các mục tiêu đã xác định Đối với lãnh thổ Sa Pa, việc nghiên cứu, đánh giá các điều kiện sinh thái của cảnh quan phục vụ định hướng phát triển cây thuốc, cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả được thực hiện theo 4 giai đoạn

đánh giá vì nó xác định trước mục tiêu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu Việc xác định này được thực hiện chính xác sẽ đảm bảo cho công tác nghiên cứu

đi đúng hướng và việc đánh giá cảnh quan được thực hiện đúng đối tượng, hoàn thành nội dung nghiên cứu một cách đầy đủ, giúp cho việc định hướng khai thác - - - -— _ _ 25

Đề tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã sô QT.04.21

Chủ tri: TS Phạm QuangTuấn

Trang 34

vụ

sử dụng hợp lý lãnh thổ đạt hiệu quả cao Công việc chủ yếu thực hiện trong giai đoạn này là tiến hành khảo sát sơ bộ tổng thể tự nhiên và kinh tế xã hội ở địa bàn nghiên cứu, từ đó đưa ra quyết định đánh giá cảnh quan được thực hiện theo hình thức nào và xây dựng kế hoạch thực hiện

(ngoài thực địa và trong phòng) cả về tự nhiên và kinh tế xã hội nhằm xây dựng bản đồ tổng hợp và phân tích hiện trạng Phạm vi số liệu phục vụ cho nghiên cứu đánh giá cảnh quan rất phong phú và việc thu thập có thể là rất khó khăn và tốn kém Vì vậy để giảm bớt thời gian và chi phí cho công tác thu thập dữ liệu đã chọn ba hình thức tiếp cận:

- Tập trung thu thập sô' liệu thực sự cần thiết cho nghiên cứu và đánh giá cảnh quan

- Phân loại sử dụng tối ưu các số liệu có sẵn

- Sử dụng công nghệ mới trong thu thập số liệu như: ngân hàng dữ liệu ảnh, ảnh viễn thám, hệ thông tin địa lý (GIS)

Việc xác định dữ liệu nào là cần thiết để thu thập và phân loại sử dụng là công việc khó khăn nếu như không xác định trước mục tiêu và nội dung nghiên cứu Tuy nhiên công việc sẽ trở nên dễ dàng hơn nếu công tác điều tra được chia thành nhiều giai đoạn và có đề cương chi tiết cho từng giai đoạn Tuỳ theo mục đích yêu cầu của nội dung nghiên cứu mà các dữ liệu cần thu thập có thể khác nhau Đối với đề tài, để phục vụ cho nghiên cứu và đánh giá cảnh quan nhằm định hướng khai thác sử dụng hợp lý lãnh thổ với mục đích phát triển cây thuốc, cây rau, cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả á nhiệt đới thì phải có các dữ liệu về các nhân tố hình thành cảnh quan (địa chất, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng, sinh vật) cũng như các dữ liệu về kinh tế xã hội

Giai đoạn này gồm các bước:

- Nghiên cítìi sự phân hoá lãnh thổ: trên cơ sở các loại bản đồ hợp phần

kết hợp với công tác nghiên cứu điều tra thực địa tiến hành nghiên cứu sự phân hoá lãnh thổ Trong phạm vi lãnh thổ nghiên cứu sự phân hoá các điều kiện tự nhiên và cảnh quan bị chi phối đồng thời của quy luật địa đới và phi địa đới

Để tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã số QT.04.21

Chù tri: TS Phạm QuangTuấn

26

Trang 35

vu

Những quy luật trên tác động đồng thời, tổng hợp và quy định những nét đặc thù của cảnh quan lãnh thổ Sa Pa

H ình 1.1 Sơ đồ các bước nghiên cím và đánh giá cảnh quan

Tuỳ thuộc vào tỷ lệ của bản đồ tổng hợp và mức độ chi tiết, việc vạch ranh giới cảnh quan được dựa trên các yếu tô' chủ đạo (với các bản đồ có tỷ lệ chi tiết)

Đế tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã số QT.04.21

Chủ tri: TS Phạm QuangTuấn

Trang 36

hoặc các yếu tố không xác định được ranh giới (với các bản đồ tỷ lệ nhỏ) Tuy nhiên cấu trúc của các đơn vị cảnh quan lại rất phức tạp, nó phản ánh mối quan

hệ nội tại của rất nhiều đặc tính của cảnh quan Mỗi một nhóm dạng cảnh quan chỉ thích hợp với một vài loại hình sử dụng đất nhất định nên mục đích chính của việc xác định các đơn vị cảnh quan là tìm ra mức độ thích nghi tối đa để bố trí sử dụng hợp lý nhằm đưa lại hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ môi trường sinh thái

- Phăn tích hiện trạng: Từ các dữ liệu về kinh tế xã hội có được trong bước

điều tra tổng hợp tiến hành phân tích và xử lý các dữ liệu liên quan đến hiện trạng phát triển kinh tế xã hội chung cũng như hiện trạng sử dụng đất Kết quả thu được nhằm phục vụ cho bước đánh giá kinh tế sinh thái và định hướng khai thác và sử dụng hợp lý lãnh thổ

3 - Giai đoạn đánh giá kinh t ế sinh thái:

Đánh giá kinh tế sinh thái là một hướng đánh giá tổng hợp trong nghiên cứu địa lý cảnh quan học ứng dụng Theo hướng này, trong bất kỳ trường hợp nào khi khai thác sử dụng cảnh quan cần phải xem xét tính thích nghi sinh thái và tính bền vũng môi trường, tính hiệu quả kinh tế và tính bền vững xã hội Trong phạm vi đề tài, trong giai đoạn này chỉ đánh giá thích nghi sinh thái, cụ thể tiến hành xác định mức độ phù hợp của các địa tổng thể (cảnh quan trong địa lý học, đơn vị cảnh quan trong khoa học nông nghiệp, lập địa trong khoa học lâm nghiệp) đối với đối tượng quy hoạch phát triển

oể tài NCKH Cấp Dại học Quốc gia mã sô’ QT.04.21

Chù tri: TS Phạm QuangTuấn

28

Trang 37

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH CẤU TRÚC C Ả N H Q U A N

HUYỆN SA PA , TỈN H LÀO CAI

Sa Pa là một huyện vùng cao của tỉnh Lào Cai, nằm từ 22°07’00” đến 22°28’46” vĩ Bắc, 03°43’28” - 104°04’5 ” kinh Đông, tổng diện tích 678,64 km2, gồm 17 xã và 1 thị trấn, phía Bắc giáp huyện Bát Xát, phía Nam giáp huyện Văn Bàn, phía Đông giáp huyện Bảo Thắng và thành phố Lào Cai, phía Tây giáp huyện Than Uyên (tỉnh Lai Châu) Thi trấn Sa Pa là trung tâm kinh tế - văn hoá -

chí tuyến Bắc, lại nằm ở độ cao lớn, trung bình 1200-1800m, thấp nhất là Ngòi

Bo 400m, cao nhất là đỉnh Fanxipang 3144 m đã dẫn đến sự phân hoá phức tạp cảnh quan huyện Sa Pa

2.1 ĐẶC ĐIỂM CÁC NHÂN T ố THÀNH TẠO CẤU TRÚC ĐỨNG CỦA CẢNH

QUAN HUYỆN SA PA

2.1.1 Đá mẹ và mẫu chất

Nghiên cứu nền rắn (đá mẹ và mẫu chất) của cảnh quan có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình tìm hiểu nguyên nhân phát sinh và phát triển của cảnh quan huyện Sa Pa Nền rắn trong cảnh quan là kết quả tổng hòa của mối tương quan tác động giữa các yếu tố nội lực và ngoại lực kéo dài hàng trăm triệu năm trước đây

Huyện Sa Pa nằm hoàn toàn trong đới Fanxipang với dãy núi địa lũy kiểu phức nếp lồi Hoàn2 Liên Sơn đóng vai trò là đường phân thuỷ giữa lưu vực sông Hồng và sông Đà Nền địa chất huyện Sa Pa bao gồm thành tạo biến chất tuổi Protêrôzôi hệ tầng Ngòi Hút và một ít đá biến chất tuổi Protêrôzôi thượng đến Cambri hạ, khá dày, thuộc hệ tầng Sa Pa Phía trên là các trầm tích Paleozoi nằmbất chỉnh hợp rõ rệt, trong đó các trầm tích tuổi Cambri trung - Ocdôvic hạ (s 2-Oị) điệp Cam Đường có vị trí thấp nhất Quá trình trầm tích bị gián đoạn rồi trầmtích Devon xuất hiện bắt đầu bằng hệ tầng cát kết, cuội kết, đá phiến sét xerixit

- - - - , -— - - — - 29

Đế tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã sô QT.04.21

Chủ tri: TS Phạm QuangTuấn

Trang 38

rồi chuyển lên đá vôi Sau đó là một gián đoạn trầm tích lớn Trầm tích Neogen (N) và Đệ tứ (Q) trong Kainozoi phân bố rải rác trong các thung lũng hẹp giữa núi Còn lại phần lớn lãnh thổ huyện được cấu tạo bed các đá xâm nhập macma axit granit phức hệ Pò Sen và phức hệ Y Yên Sun.

Trong lãnh thổ nghiên cứu có các loại đá mẹ và mẫu đất sau:

- Đá biến chất: bao gồm đá biến chất tuổi Prôtêrôzôi thuộc hệ tầng Ngòi

Hút và một ít đá biến chất tuổi Prôtêrôzôi th ư ợ n g C a m b ri hạ, khá dày, thuộc hệ tầng Sa Pa, phức hệ Sinh Quyền Mặt cắt đặc trưng của hệ tầng lộ rõ ở đoạn km 2 đến km 7 trên đường 4D Sa Pa - Lào Cai Từ dưới lên trên gặp các đá sau: đá phiến xêrixit, đá phiến thạch anh xêrixit - clorit, cát kết dạng quaczit có chứa các thấu kính nhỏ đá hoa đôlômit, bề dày phần thấp khoảng 900m Phần trên của hệ tầng có đá hoa phân lớp hạt mịn nhiều màu xen cát kết chứa vôi lớp mỏng, chuyển lên là đôlômit hạt mịn, hạt vừa màu trắng sữa, phong hoá có màu hồng và trên cùng là tập đá vôi đôlômit bị đá hoa hoá cấu tạo phân dải, màu trắng xám, hạt mịn, chiều dày 600 m

- Đá trầm tích: đá trầm tích tuổi Palêozôi thuộc hệ tầng Cam Đường -

thống dưới - hệ Cambri, tuổi Cambri sớm, Đêvôn sớm - giữa, Cambri giữa - Odovic sớm Thành phần trầm tích của điệp gồm apatit, cuội kết, sỏi kết, sét kết xen cát kết vôi, cát kết bột chứa mangan, đá phiến cacbonat Phía đông lãnh thổ nghiên cứu quan sát được đá phiến muscovic xen những lớp sỏi kết cơ sở của hệ tầng Tam Đường nằm trên đá hoa đolomit của hệ tầng Sa Pa Chiều dày của hệ tầng Tam Đường trung bình là 400 - 600 m, một số nơi dày tới 700 - 800 m, lộ

ra thành dải nhưng chiếm diện tích hạn chế Trầm tích Đêvôn được bắt đầu bằng tầng đá phiến sét đen khá dày chứa các lớp quaczit Chuyển lên phía trên nó là các trầm tích đá vôi ở Sa Pa, trầm tích này phân bố xen giữa các dải trầm tích đá biến chất Prôtêrôzôi Ngòi Hút và đá granit phức hệ Yê Yên Sun, có dạng dải dài, một dải kéo từ Tả Giàng Phình qua Ô Quý Hồ đến San sả Hồ, Lao Chải, tức từ địa phận huyện qua Sa Pa dọc theo sườn thung lũng Mường Hoa và một dải hẹp ở phần phía đông suối Nậm Cang Tất cả các đá thuộc hệ Đêvon hạ (Đ,) ở Sa Pa

chiếm khoảng 5% diện tích lãnh thổ.

- Đá Macma: Trong vùng nghiên cứu có mặt 4 phức hệ macma.

Để tài NCKH Cấp Đại học Quốc gia mã số QT.04.21

Chủ trì: TS Phạm QuangTuấn

30

Trang 39

vu

Phức hệ Pò Sen với các thành tạo phân bố thành khối lớn ở phía đông thị trấn Sa Pa, với diện tích lộ trong vùng khoảng 60 km2 Thành phần thạch học bao gồm: granođiorit hạt lớn bị milonit hoá có cấu tạo gnai, granit biotit hạt lớn Trong số này thành phần thạch học chiếm ưu thế là granođiorit hạt lớn có cấu tạo gnai Chúng phân bố dọc theo đứt gãy lớn tạo ra bậc địa hình thay đổi đột ngột kéo dài từ Tả Phin đến Hầu Su Ngài Đá màu xám có thành phần khoáng vật: plagioclas 35 - 40%, orthoclas 20 - 25%, thạch anh 15 - 20%, biotit 10 -15% Đá

có kiến trúc milonit, cấu tạo gnai bị clorit hoá, thạch anh hoá

Phức hệ Điện Biên Phủ phân bố thành các khối nhỏ ở Hầu Thào, Sả Séng

và khối lớn nhất ờ phía tây Tà Phin khoảng 20 km2 Thành phần thạch học bao gồm các đá granođorit dạng porphyr, granophya, granit hạt nhỏ sáng màu Granofia phân bố ờ các đỉnh cao phía tây Sả Séng, xung quanh Hàm Rồng Các

đá này xuyên cắt hệ tầng Sa Pa

Phức hệ Yê Yên Sun các thành tạo này phân bố thành khối lớn ở phía tây thị trấn Sa Pa, tạo nên khối núi Fanxipang Thành phần thạch học bao gồm: granit biotit hạt nhỏ, granit sáng màu, granosienit, granosienit dạng pegmatit Thành phần khoáng vật của chúng gồm felspat kali, thạch anh, mutscovit, fluorit

Phức hệ Pu Sam Cáp thuộc loại xâm nhập kiềm, á kiềm, phân bố dưới dạng các thể nhỏ dạng mạch, dạng đường kéo dài 10 - 50 m, theo phương á vĩ tuyến, gặp ở Sà Séng

- Trầm tích đệ Tứ (Q): bao gồm các trầm tích bở rời có nguồn gốc khác

nhau là aluvi, proluvi, deluvi, coluvi và eluvi

Eluvi (tàn tích) được bảo tổn tốt nhất trên vùng đỉnh phân thủy có thảm rừng che phủ, nơi chúng có bề dày hàng mét, còn trên những bề mặt đỉnh đồi núi trọc, chúng đã bị bào mòn đáng kể, đến mức lộ ra nhiều dăm sạn, do đó lớp thổ nhưỡng cũng mỏng và trở thành xương xẩu, ví vụ như trên đường từ Sa Pả tới bản Sâu Chua Thành phần vật chất của eluvi phụ thuộc trực tiếp vào thành phần đá gốc Trên các đá xâm nhập, tuy thành phần sét đáng kể, nhưng có nhiều cát và dăm sạn, còn trên đá phiến xerixit thì hàm lượng sét cao hơn rõ rệt Trên đá vôi

và đá hoa lớp eluvi rất mỏng và chứa nhiều mảnh vụn Tại những vách dốc kiến tạo và sườn dốc trẽn đá hoa thường không có eluvi và đá gốc lộ trực tiếp trên bề

Đé tài NCKH cấp Đại học Quốc gia mã số QT.04.21

Chủ trì: TS Phạm QuangTuấn

31

Trang 40

Trầm tích proluvi (lũ tích) là loại phát triển đặc biệt rộng rãi trong vùng, tạo thành những nón phóng vật - lũ tích đồ sộ với bề dày tới trên dưới 2 m Chúng hầu hết là sản phẩm của quá khứ trước Holocen, bằng chứng là các nón đều đã bị huỷ hoại, chia cắt thành những quả đồi đỉnh bằng dạng mặt bàn, đồng thời các dòng suối cắt vào chúng tạo ra những bãi bồi thực thụ Thành phần vật chất của proluvi phụ thuộc trực tiếp vào thành phần đá gốc trên các bồn thu nước, trong đó đa số là cuội tảng của các đá macma xâm nhập, như granit, granitogơnai

và đá hoa, còn thành phần cuội đá phiến lại rất hạn chế do loại đá này dễ bị phá huỷ trong quá trình vận động theo dòng lũ v ề mặt kích thước của proluvi, có thể nhận xét là rất hỗn độn, từ những viên cuội, tảng nhỏ, vừa đến những tảng cuội khổng lồ Khoảng rỗng giữa các tảng cuội được lấp đầy bằng vật liệu mịn sét hoặc sét pha, nên có thể sử dụng những diện tích này cho nông nghiệp, song phải thu gom phần thô để tạo mặt bằng canh tác

Trầm tích deluvi (sườn tích) phổ biến rộng rãi trên hầu hết các bề mặt sườn

có độ dốc nhỏ (5-12°) và trung bình (12-20°) Tuy vậy, những bề mặt sườn tích tụ deluvi có ý nghĩa lớn nhất là phần thấp của các sườn thoải hình thành trên đá phiến chuyển tiếp xuống bề mặt đáy thung lũng và dải trũng, bề dày lớp tích tụ

Trầm tích coluvi (rơi tích) phân bố ở khu vực các khối núi đá vôi bị hoa hóa và dọc theo chân các vách dốc Vật liệu đổ lở thường là những tảng đá có kích thước lớn, có khi tói lOm

Đé tài NCKH cấp Đại học Quốc gia mã số QT.04.21

Chủ tri: TS Phạm QuangTuấn

32

Ngày đăng: 03/02/2021, 17:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2) Phạm Quang Anh (1996), Bước đầu nghiên cứu địa sinh thái và định hướng tổ chức sản xuất một số cây công nghiệp dài ngày ở Việt Nam, Đề tài B93 - 05 - 09, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu địa sinh thái và định hướng tổ chức sản xuất một số cây công nghiệp dài ngày ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Quang Anh
Năm: 1996
3) Phạm Quang Anh (1997), Phán tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hướng tổ chức du lịch xanh ỞViệt Nam, Luận án PTS Địa lý - Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phán tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hướng tổ chức du lịch xanh ỞViệt Nam
Tác giả: Phạm Quang Anh
Năm: 1997
4) Vũ Tuấn Anh, Trần Thi Vân Anh (1997), Kinh tế hộ - Lịch sử và triển vọng phát triển, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hộ - Lịch sử và triển vọng phát triển
Tác giả: Vũ Tuấn Anh, Trần Thi Vân Anh
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1997
5) Armand.D.L. (1993), Khoa học về cảnh quan, NXB Khoa học và Kĩ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học" về "cảnh quan
Tác giả: Armand.D.L
Nhà XB: NXB Khoa học và Kĩ thuật Hà Nội
Năm: 1993
6) Nguyễn Ngọc Bình (1985), Tổng kết các kinh nghiệm hiện có và nghiên cứu xây ditng các mô hình mới về nông lám kết hợp cho từng vùng, Đề tài 04 - 02 - 01, Bộ Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết các kinh nghiệm hiện có và nghiên cứu xây ditng các mô hình mới về nông lám kết hợp cho từng vùng
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bình
Năm: 1985
7) Bộ Lâm nghiệp (1987), Một sô'mô hình nông lâm kết hợp ỞViệt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một sô'mô hình nông lâm kết hợp ỞViệt Nam
Tác giả: Bộ Lâm nghiệp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1987
8) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1999), Quy trình đánh giá đất đai phục vụ nông nghiệp. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình đánh giá đất đai phục vụ nông nghiệp
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999
9) Tôn Thất Chiểu, Lê Thái Bạt (1993), Sử dụng tốt tài nguyên đất để phát triển và bảo vệ môi trường, Tạp chí Khoa học đất Việt Nam, số 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng tốt tài nguyên đất để phát triển và bảo vệ môi trường
Tác giả: Tôn Thất Chiểu, Lê Thái Bạt
Năm: 1993
10) Tôn Thất Chiểu, Đồ Đình Thuận, Lê Thái Bạt, Nguyên Khang, Trần Công Tấu và nnk (1996), Đất Việt Nam, tỷ lệ 1/1.000.000, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất Việt Nam
Tác giả: Tôn Thất Chiểu, Đồ Đình Thuận, Lê Thái Bạt, Nguyên Khang, Trần Công Tấu và nnk
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
11) Nguyễn Sinh Cúc (1999), Kháo sát kinh tê' trang trại, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 248, tr 46 - 56, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kháo sát kinh tê' trang trại
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Năm: 1999
12) Lê Trọng Cúc (1988J, Nông lảm kết hợp ở các nước đang phát triển và thực tiễn ỏ Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông lảm kết hợp ở các nước đang phát triển và thực tiễn ỏ Việt Nam
13) Đường Hồng Dật, Xây dựng các mô hình mở rộng các điển hình áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ ra sản xuất đại trà ở tỉnh Lào Cai. Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Viột Nam, viện IAP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng các mô hình mở rộng các điển hình áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ ra sản xuất đại trà ở tỉnh Lào Cai
14) Fridland .V.M. (1964), Đất và vỏ phong hoá nhiệt đới ẩm. NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, Lẻ Huy Bá dịch sang tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất và vỏ phong hoá nhiệt đới ẩm
Tác giả: Fridland .V.M
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1964
16) Phạm Hoàng Hải (1992), v ề hướng tiếp cận sinh thái trong nghiên cứu cảnh quan cận nhiệt đới gió mùa Việt Nam, Hội thảo về sinh thái cảnh quan: Quan điểm và phương pháp luận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: v ề hướng tiếp cận sinh thái trong nghiên cứu cảnh quan cận nhiệt đới gió mùa Việt Nam
Tác giả: Phạm Hoàng Hải
Năm: 1992
17) Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh (1997), Cơ sở cảnh quan học việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở cảnh quan học việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam
Tác giả: Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
18) Trương Quang Hải, Đặng Trung Thuận (1999), Mô hình hệ kinh tê'sinh thái phục vụ phát triển nông thôn bền vững. NXB nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình hệ kinh tê'sinh thái phục vụ phát triển nông thôn bền vững
Tác giả: Trương Quang Hải, Đặng Trung Thuận
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 1999
19) Trương Quang Hải (2004), Nghiên cứu và xây dựng mô hình hệ kinh tê'sình thái Phục vụ phát triển bền vững cụm xã vùng cao Sa Pả - Tả Phin huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai. Đề tài khoa học đặc biệt cấp đại học Quốc gia. Mã số QG.01.07 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và xây dựng mô hình hệ kinh tê'sình thái Phục vụ phát triển bền vững cụm xã vùng cao Sa Pả - Tả Phin huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai
Tác giả: Trương Quang Hải
Năm: 2004
20) Hội Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp Việt Nam (1994), Sử dụng đất dốc bển vững (Kinh tê'hộ gia đình ỏ miền núi), NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng đất dốc bển vững (Kinh tê'hộ gia đình ỏ miền núi)
Tác giả: Hội Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp Việt Nam
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1994
21) Hội Khoa học đất Việt Nam (2000). Đất Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất Việt Nam
Tác giả: Hội Khoa học đất Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp. Hà Nội
Năm: 2000
22) Nguyễn Cao Huần, Đặng Trung Thuận, Phạm Quang Tuấn (2000), Tiếp cận kinh tế sinh thái trong đánh giá quy hoạch cảnh quan cây công nghiệp dài ngày, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Tr1 7 5 - 1 8 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận kinh tế sinh thái trong đánh giá quy hoạch cảnh quan cây công nghiệp dài ngày
Tác giả: Nguyễn Cao Huần, Đặng Trung Thuận, Phạm Quang Tuấn
Năm: 2000

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w