đô thị vào xác định cấu trúc đô thị một thành phố cụ thể. Đồng thời, dựa trên cơ sở phân tích nhân tố và phân tích cụm cho khả năng thành lập bản đồ phân loại cảnh quan đô t[r]
Trang 2ĐẠI HỌC Q ư ố c GIA HÀ NỘI
T R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C K H O A H Ọ C T ự N H I Ê N
Báo cáo tổng hợp
“XÂY D ựN G MÔ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THÔN (ĐỐI SÁNH CẢNH QUAN NÔNG THÔN HOÀNG LIÊN SƠN VỚI CẢNH QUAN ĐÔ THỊ Đ ồ N G BANG c h â u t h o s ô n g H ồN G )”
Trang 3BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÂY DỰNG MÔ HĨNH PHẢN LOẠI CẢNH QUAN ĐỎ THỊ VÀ NÔNG THÔN”
T Ó M T Ă T B Á O C Á O
1 Tên đề tài: X ảy dựng mô hỉnh p h à n loại cảnh quan đô thị và nông thôn (đối sánh cảnh quan nông thôn H oàng L iên Sơn với cảnh quan đô thị đồng bằng cháu th ổ sôn g H ồng) ", Mã số: QT.06.29
2 Chủ trì đề tài: NCS Nguyễn An Thịnh
3 Các cán bộ tham gia:
4 M ụ c t iê u v à n ộ i d u n g n g h iê n cứu:
4.1 M ục tiêu: Nghiên cứu ứng dụng các mô hình toán phân tích đa biến kết hợp các mô hình quần cư đô thị và nông thôn vào xây dựng một bài toán phân tích định lượng cấu trúc cảnh quan đô thị và nông thôn phục vụ đề xuất một số biện pháp quản lý cảnh quan bền vững
4.2 N ộ i dun g nghiên cứu:
- Xây dựng phương pháp luận tiếp cận định lư ợ n g trong nghiên cứu đ ịa
lý đô thị và nông thôn
- Xây dựng các mô hình phân loại cảnh quan đô thị và nông thôn
- Phân loại cảnh quan nông thôn Hoàng Liên Sơn
- Phân loại cảnh quan đô thị đổng bằng châu thổ sông Hồng
- Đề xuất các giải pháp ứng dụng mô hình vào thực tiễn quản lý đô thị
và nông thôn
NCS Nguyễn An Thịnh Chủ trì đề tài
TS Phạm Quang Tuấn ThS Trần Quỳnh An
CN Trần Văn Trường
Thành viênThành viênThành viên
Đề tài nghiên cứu k h o a học cáp Đại học Quốc gia Hà Nội, m ã sô: Q T 06.29
Chủ trì dề tài: NCS Nguyền An Thịnh
1
Trang 4BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÂY DỰNG MÔ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN Đỏ THỊ VÀ NỎNG THÔN"
4.3 C ác k ế t q u ả đ ạ t được:
~ Tổng quan các hướng nghiên cứu, các mô hình lý thuyết và định lượng
về cấu trúc cảnh quan đô thị và nông thôn trên thế giới cũng như Việt Nam
- Từ các mô hình toán và mô hình địa lý cơ sở, xây dựng bài toán địa lý định lượng tổng quát cho phân loại cảnh quan đô thị và nông thôn
- Với cơ sở số liệu điều tra, tiến hành giải bài toán phân loại cảnh quan cho hai khu vực nghiên cứu mẫu đại diện cho cảnh quan đô thị và nông thôn ở lưu vực sông Hồng là khu vực nội thành thành phố Hải Phòng (đại diện cho cảnh quan đô thị vùng đồng bằng châu thổ sồng Hồng) và khu vực huyện Sa
Pa, tỉnh Lào Cai (đại diện cho cảnh quan nông thôn miền núi vùng Hoàng Liên Sơn)
- Đề xuất giải pháp quản lý lãnh thổ hợp lý
5 Tình hình kinh phí của đề tài:
Tổng kinh phí được cấp là 15.000.000 VNĐ cho 01 năm thực hiện đề tài (đã quyết toán)
X Á C N H Ậ N C Ủ A B A N C H Ủ N H IỆ M K H O A C H Ủ T R Ì Đ Ề T À I
X Á C N H Ậ N C Ủ A TRƯỜ NG
Đế tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, mã số: Q T 06.29
Chủ tri d ể tài: NCS N guyễn An Thịnh
ii
Trang 5BÂO CAO DË TÀ1 “XÂY DÿNG MÔ HÎNH PHÂN LOAI CÀNH QUAN DÔ THI VÀ NÔNG THÔN”
S U M M A R I S E D R E P O R T
1 P roject's title: “E stablishing m odel o f urban a n d ru ral landscape classification (a case stu dy o f ru ral landscape o f H oan g L ien Son area and urban landscape o f R e d R iver D elta)”.
- Classification of rural landscape in Hoang Lien Son area
- Classification of urban landscape in Red River Delta
Assoc.Prof Dr, Nhu Thi Xuan Participant
ParticipantParticipantParticipantParticipant
Dr Pham Quang Tuan Msc Tran Quynh An Bsc Tran Van TruongBsc Tran Thi Thu Huong
Dé tài nghiên cltu khoa hoc cap Dai hoc Q uöc gia Hà Nôi, m â so: Q T 06.29
Chu tri d e tài: NCS N guyén An Thinh
111
Trang 6BAO CAO D<? TAI “XAY DI/NG M6 HINH PHAN LOAI CANH QUAN THI VA NONG THON”
- Application of a proposed model for urban and rural management
- Proposing rational territorial management solutions
De tai ng h ien cltu k hoa hoc cap Dai hoc Q uoc gia Ha Noi, m a so: Q T 06.29
Chu tri de tai: NCS N gu y ln An Thjnh
iv
Trang 7BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÂY DỤNG MÔ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THÔN"
M Ụ C L Ụ C■ ■
TRANG
Chương 1 Cơ sở lý luận về hướng phân loại định lượng cảnh
1.2 Phương pháp luận tiếp cận định lượng trong nghiên cứu địa lý 6
Chương 2 Nội dung các mô hình phản loại định lượng cảnh
2.2.3 ứng dụng phương pháp phân tích nhân tố tìm ra các nhân tô'
Chương 3 Phàn loại cảnh quan đô thị và nông thôn các khu
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, mả sô: Q T 06.29
Chủ tri dế tài: NCS N guyễn An Thịnh
V
Trang 8BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÂY DỰNG MÔ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THÔN”
3.1.2 Lựa chọn khu vực nghiên cứu và cơ sở dữ liệu thực hiện bài 44 toán
3.2.1 Đặc điểm hình thành cảnh quan nông thôn Sa Pa trong lịch 46 sử
3.3.1 Đặc điểm hình thành cảnh quan đô thị Hải Phòng trong lịch 56 sử
3.2.2 Sơ bộ phân loại cảnh quan đô thị thành P h ố Hải Phòng trên 61
cơ sở sử dụng ảnh viễn thám độ phân giải cao
3.3.6 ứng dụng kết quả nghiên cứu phục vụ đ ề xuất một s ố biện 79
pháp quản lý đô thị thành p h ố Hải Phòng
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Đế tài nghiên cứu k h o a học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, m ả số: Q T.06.29
Chủ tri d ế tài: NCS Nguyễn An Thịnh
vi
Trang 9BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÂY DỤNG MÔ HÌNH PHÀN LOẠI CÀNH QUAN Đỏ THỊ VÀ NÔNG THÔN”
M ỏ Đ Ẩ U
Hiện nay hướng tiếp cận định lượng - cụ thể là tiếp cận toán học - được
sử dụng rộng rãi và có hiệu quả trong các ngành khoa học khác nhau, không chỉ lĩnh vực khoa học tự nhiên mà còn trong các khoa học xã hội Việc ứng dụng các mô hình toán vào nghiên cứu địa lý được phát triển ở nhiều nước trên thế giới với hai trường phái chính là trường phái Tây Âu - Bấc Mỹ (Cole
& King, Steinhard, ,) và trường phái Liên Xô (cũ) - Đông Âu (Botrarov, Serbenniuk, Tikunov ) Ở Việt Nam, toán học đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu của các Khoa học về Trái đất ở mức độ khác nhau, đặc biệt phát triển mạnh mẽ trong khí tượng, khí hậu, thuỷ văn và hải dương học; còn trong nghiên cứu địa mạo, địa thực vật, thổ nhưỡng, cảnh quan vẫn ở mức độ rất khiêm tốn
Xét về mặt ứng dụng của cách tiếp cận này trong nghiên cứu phân loại cảnh quan văn hóa (cảnh quan đô thị và cảnh quan nông thôn), đối tượng nghiên cứu thường rất phức tạp vì sự có mặt của rất nhiều biến (các hợp phần
tự nhiên, kinh tế xã hội, môi trường, diễn biến theo thời gian trên những phần không gian khác nhau) Do phải xử lý một lượng dữ liệu khá lớn, nhiều phương pháp nghiên cứu định tính truyền thống tỏ ra kém hiệu quả Để có thể
sử lý nhanh khối lượng dữ liệu lớn và nâng cao độ tin cậy cho những kết quả nghiên cứu, đáp ứng nhu cầu thực tế hiện nay, một số phương pháp phân tích định lượng đã được sử dụng cho thấy khả năng ứng dụng hiệu quả, sử lý thông tin nhanh chóng, đảm bảo độ chính xác cao
Đề tài NCKH cấp Đại học Quốc gia mã số QT.06.29 “X ây dựng mô hình p h â n loại cảnh quan đô thị và nông thôn (đối sánh cảnh quan nông thôn H oàn g L iên Sơn với cảnh quan đô thị đồng bằng cháu th ổ sông
H ồn g)” được tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu, với mong muốn xây dựng một bài toán định lượng để giải quyết những vấn đề lý thuyết đặt ra nhằm xác định cấu trúc của một khu vực đô thị và nông thôn Từ đó ứng dụng đề xuất các biện pháp nhằm quản lý và phát triển bền vững
Đề tài nghiên cứu k hoa học cấp Đại học Q uốc gia Hà Nội, m ã số: Q T 06.29
Chủ trì dể tài: NCS Nguyễn An Thịnh
1
Trang 10BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÂY DỰNG MÔ HÌNH PHẢN LOẠI CẢNH QUAN »Ở THỊ VÀ NÔNG THÕN”
Khu Vực được chọn để nghiên cứu trong đề tài này là thành phố Hải Phòng (đại diện cho vùng cảnh quan đô thị đồng bằng châu thổ sông Hồng) và huyện Sa Pa (đại diện cho vùng cảnh quan nông thôn Hoàng Liên Sơn) Lý do lựa chọn xuất phát từ tính đặc thù của Hải Phòng là một cực trong tam giác trọng điểm kinh tế của Bắc Bộ, là thành phố cảng, cửa ngõ chính ra biển và là đầu mối giao thông quan trọng của miền Bắc và của cả nước Ngoài ra, sự hình thành và phát triển đô thị Hải Phòng đã diễn ra hơn 100 năm, trải qua các giai đoạn lịch sử: thời kỳ phong kiến-thực dân, thời kỳ sau cách mạng và thời
kỳ đổi mới Trong khi đó, huyện Sa Pa có đặc thù về điều kiện tự nhiên của một vùng nông thôn miền núi Hoàng Liên Sơn, nhưng được người Pháp khai thác từ rất sớm (đầu thế kỷ XX) và hiện nay đang có quá trình đô thị hóa rất nhanh Trong đợt kỷ niệm 100 năm Sa Pa, khu vực này được các kiến trúc sư người Pháp tái kiến trúc đô thị thị trấn Sa Pa, cho thấy đây là một khu vực được quan tâm đặc biệt dưới góc độ địa lý đô thị và nông thôn Tuy nhiên, cho đến nay, chưa từng có một công trình nào nghiên cứu định lượng về cấu trúc của cảnh quan đô thị Hải Phòng và cảnh quan nông thôn Sa Pa
M ục tiêu của đ ề tài là nghiên cứu ứng dụng các mô hình toán phân tích
đa biến kết hợp các mô hình quần cư đô thị và nông thôn vào xây dựng một bài toán phân tích định lượng cấu trúc cảnh quan đô thị và nông thôn phục vụ
đề xuất một số biện pháp quản lý cảnh quan bền vững
Theo đề cương đăng ký đã được Hội đổng Khoa học và Đào tạo liên ngành các Khoa học Trái đất, ĐHQG Hà Nội xét duyệt, những nội dung nghiên cứu của đ ề tài gồm:
- Xây dựng phương pháp luận tiếp cận định lượng trong nghiên cứu địa
lý đô thị và nông thôn
- Xây dựng các mô hình phân loại cảnh quan đô thị và nông thôn
- Phân loại cảnh quan nông thôn Hoàng Liên Sơn
- Phân loại cảnh quan đô thị đồng bằng châu thổ sông Hồng
- Đề xuất các giải pháp ứng dụng mô hình vào thực tiễn quản lý đô thị
và nông thôn
Để tài nghiên cứu k h o a học cấp Đại học Quốc gia Há Nội, m ã số: Q T 06.29
Chủ trì d ế tài; NCS Nguyễn An Thịnh
2
Trang 11BÁO CÁO ĐỀ TÀI “XÂY DỰNG MÔ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THỎN”
Phương p h á p nghiên cứu chính của đề tài:
- Phương pháp phân tích đa biến kết hợp ảnh viễn thám: áp dụng mô hình phân tích đa biến (phân tích nhân tố và phân tích cụm) dựa trên sô' liệu thống kê của các phiếu điều tra kết hợp với kết quả suy giải ảnh viễn thám nhằm bổ sung tính khách quan và tính chính xác của các số liệu đưa vào phân tích để phân loại cảnh quan
- Phương pháp phân tích trực quan bản đồ: nghiên cứu kết hợp bản đổ phân loại cảnh quan với các mô hình cấu trúc đô thị và nông thôn nhằm xác định cấu trúc cảnh quan đô thị của thành phố Hải Phòng và cấu trúc cảnh quan nông thôn của huyện Sa Pa
N hữ ng k ế t q u ả nổi bật đ ã đạt được của đ ề tài g ồ m :
- Tổng quan các hướng nghiên cứu, các mô hình lý thuyết và định lượng
về cấu trúc cảnh quan đô thị và nông thôn trên thế giới cũng như Việt Nam
- Từ các mô hình toán và mồ hình địa lý cơ sở, xây dựng bài toán địa lý định lượng tổng quát cho phân loại cảnh quan đô thị và nông thôn
- Với cơ sở số liệu điều tra, tiến hành giải bài toán phân loại cảnh quan cho hai khu vực nghiên cứu mẫu đại diện cho cảnh quan đô thị và nồng thôn ở lưu vực sông Hồng là khu vực nội thành thành phố Hải Phòng (đại diện cho cảnh quan đô thị vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng) và khu vực huyện Sa
Pa, tỉnh Lào Cai (đại diện cho cảnh quan nông thôn miền núi vùng Hoàng Liên Sơn)
- Đề xuất giải pháp quản lý lãnh thổ hợp lý
Những kết quả nghiên cứu của đề tài có thể ứng dụng nghiên cứu ở nhiều lãnh thổ có những đặc trưng tương tự ở cấp huyện, cấp tỉnh tại Việt Nam cũng như trên thế giới Các kết quả này sẽ góp phần kiểm chứng và bổ sung về mặt lý thuyết của phương pháp phân tích bản đồ, xây dựng một phương pháp mang tính khoa học trong nghiên cứu cấu trúc của một cảnh quan đô thị và nông thôn bất kỳ Ngoài các đóng góp về mặt cơ sở lý luận, đề tài còn có đóng góp trong công tác giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học, thể hiện ở việc đào tạo 2 sinh viên chuyên ngành Sinh thái cảnh quan Môi
Để tài nghiên cứu k hoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, m ã số: Q T 06.29
Chủ trì dế tài: NCS Nguyển An Thịnh
3
Trang 12BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÀY DỤNG MÔ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THỔN”
trường và chuyên ngành Bản đồ-Viễn thám K47 thực hiện tốt nghiệp tại địa bàn huyện Sa Pa và thành phố Hải Phòng; tạo điều kiện cho 1 học viên Cao học chuyên ngành Bản đồ nâng cao trình độ nghiên cứu khoa học; hỗ trợ chủ trì đề tài là NCS thu thập số liệu, điều tra thực địa và thực hiện luận án tiến sỹ
ở lãnh thổ huyện Sa Pa 1 bài báo và 1 báo cáo được công bố trên các tạp chí chuyên ngành và hội thảo Địa lý-Địa chính trên cơ sở hỗ trợ của đề tài gồm:
“ứng dụng phương pháp phân tích bản đồ phân loại cảnh quan đô thị thành
p h ố Hải Phòng" (Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, số 7(33), 7/2006), “ứng dụng các phương pháp phân tích đa biến trong phân nhóm các nông hộ miền núi theo trình độ phát triển" (Báo cáo hội nghị Địa lý-Địa chính)
Tập thể tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Khoa học và Công nghệ ĐHQG Hà Nội, Phòng Khoa học Công nghệ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Ban chủ nhiệm Khoa Địa lý đã ủng hộ và tạo điều kiện cho chúng tôi thực hiện tốt đề tài Xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các cán bộ lãnh đạo và các sở phòng ban chuyên trách thành phố Hải Phòng, huyện Sa Pa và tỉnh Lào Cai đã cộng tác và giúp đỡ chúng tôi rất hiệu quả trong quá trình thực hiện đề tài
Để tái nghiên cứu k h o a học cáp Đại học Quốc gia Hà Nội, m ã số: Q T.06.29
Chủ trì dế tài: NCS Nguyền An Thịnh
4
Trang 13BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÂY DỤNG MÔ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN ĐÒ THỊ VÀ NÔNG THÔN”
C H Ư Ơ N G 1
C ơ S ỏ LÝ L U Ậ N VÊ' H Ư Ớ N G P H Â N LO ẠI Đ ỊN H LƯ ỢNG
C Ả N H Q U A N Đ Ô THỊ V À N Ô N G T H Ô N
1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN c ứ u CÓ LIÊN QUAN
Trên thế giói và ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về phân loại đô thị và nông thôn đã có rất nhiều, tuy nhiên các công trình này chủ yếu là sử dụng phương pháp định tính Một số các công trình tiêu biểu trên thế giới và Việt Nam về phân loại đô thị và nông thôn theo hướng định lượng có liên quan đến đề tài nghiên cứu là:
- Kawakami và Ugata (1987), nghiên cứu phân tích và dự báo cấu trúc phân bố theo không gian của dân số và lao động trên cơ sở sử dụng dữ liệu mạng lưới của thành phố Kaga, Nhật Bản
- Morikawa (1975), ứng dụng mô hình phân tích các nhân tố sinh thái
để phân tích các khu vực xã hội (social area) nhằm phát triển hướng này trong nghiên cứu địa lý xã hội đổ thị (City Social Geography)
- Braj Bhushan Singh (1976) nghiên cứu tổ chức không gian quần cư ở một số làng bản thuộc Bắc Ân Độ dựa trên các mô hình phát triển của quần cư nông thôn (growth models of rural settlement)
- Ueno (1981), phân tích cấu trúc quần cư đô thị của khu Taisho thuộc Tokyo cũ (Old Tokyo) trên cơ sở ứng dụng mô hình phân tích nhân tố sinh thái cho tập dữ liệu về chất lượng kinh tế xã hội của dân cư
- Sawaki (2003) phân tích cấu trúc đô thị thành phố Osaka trên cơ sở số liệu về kinh tê xã hội của các khu đô thị
- Vũ Chí Đồng (1998) ứng dụng phương pháp phân tích nhân tố để nghiên cứu cấu trúc cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội của các đô thị ở Việt Nam
- Nguyễn Thơ Các (1999) ứng đụng phương pháp phân tích nhân tố xây dựng chu trình xử lý tin để xây đựng bản đồ đánh giá phân loại tổng hợp
Đế tài nghiên cứu k h o a học cấp Đại học Quổc gia Hà Nội, m ã số: Q T 06.29
Chủ tri dề tài: NCS Nguyễn An Thịnh
5
Trang 14BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XẢY DỰNG MÔ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN Đỏ THỊ VÀ NÓNG THÔN"
- N c Huần, N.A Thịnh, Narumi và Sawaki (2004) nghiên cứu phân loại cảnh quan đô thị Hà Nội trên cơ sở ứng dụng các phương pháp phân tích
đa biến và mô hình vị trí trung tâm của Hoyt và Burgess
1.2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN TIẾP CẬN ĐỊNH LƯỢNG TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ
Cho đến nay, còn tổn tại nhiều quan điểm khác nhau về tầm quan trọng
và phạm vi sử dụng toán học trong khoa học Địa lý:
- Thứ nhất, quan điểm coi toán học với tư cách là một công cụ nghiên cứu địa lý (cũng như các công cụ phần mềm, phần cứng máy tính hay GPS)
- Thứ hai, quan điểm coi toán học là hệ phương pháp hỗ trợ nghiên cứu địa lý, với ý nghĩa toán học đóng vai trò là phương pháp được sử dụng để mô
tả và nghiên cứu các đối tượng địa lý cụ thể, việc lý giải các kết quả dựa trên kiến thức địa lý Các nhà khoa học ủng hộ quan điểm này cho rằng các mô hình toán học dù tốt đến đâu cũng chỉ nhằm giúp con người xử lý nhanh những khối lượng thông tin to lớn ban đầu và xây dựng các phương án khác nhau, vai trò quyết định vẫn là con người điều khiển quá trình xử lý thông tin (N.TCác, 1999)
- Thứ ba, quan điểm coi toán ứng dụng trong địa lý học là một bộ môn khoa học trung gian giữa địa lý học và toán học Theo hướng này đã có một số công trình xuất bản với tên gọi khác nhau như Địa lý học thống kê (Statistical geography), Đ ịa lý học định lượng (Quantitative geography), Địa lý toán học
(Mathematical geography) Quan điểm này được tiếp cận theo hai hướng: (1)
Hướng nghiên cứu các mô hình toán học của các hiện tượng và quá trình địa lý: xác định đối tượng nghiên cứu của bộ môn khoa học này là các mô hình toán ứng dụng trong địa lý, còn gọi là các mồ hình địa lý toán học (O.D.Ducan, 1961; Cole & King, 1970); (2) Hướng nghiên cứu địa lý bằng phương pháp toán học: xác định đối tượng nghiên cứu là các hiện tượng và quá trình địa lý, còn toán học là phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu (Botrarov, 1967; Xotrava, 1968 )
Đé tầi nghiên cứu khoa học cấp Dại học Quốc gia Hà Nội, m ã số: Q T 06.29
Chủ trì d ề tài: NCS Nguyễn An Thịnh
6
Trang 15BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÂY DỰNG MỔ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN ĐỎ THỊ VÀ NỒNG THỎN”
DÙ theo hưứng nghiên cứu nào thì các tác giả nêu trên đều đánh giá vai trò của phương pháp định lượng là hữu ích và hiệu quả trong nghiên cứu địa
lý Những năm gần đây, sự xuất hiện các bộ môn như Đánh ỹ á cảnh quan
(Mukhina, 1972), Trắc lượng cảnh quan (T.Đ.Alekxandrova, 1975; Steinhardt
u., 1999) cho thấy đã hình thành xu hướng tiếp cận định lượng vào các chuyên ngành sâu của địa lý học
E.E Biggs (1965) nói một cách hình tượng “Giữa địa lý học và toán học có nhiều giao điểm quan trọng". Các hiộn tượng và các yếu tố trong tự nhiên và xã hội rất đa dạng và giữa chúng có mối quan hệ qua lại lẫn nhau bởi dòng vật chất và năng lượng, tạo thành một thể thống nhất (còn gọi là địa hệ hay địa tổng thể) Những đặc điểm và mối quan hệ này thường được mô tả và
lý giải một cách định tính trong rất nhiều công trình nghiên cứu địa lý Mặt khác, với quan điểm nghiên cứu hệ thống và tổng hợp đặc trưng của địa lý học, các kết luận địa lý mang tính khái quát cao được xác lập từ số lượng quan trắc đủ lớn Trong quá trình phát triển của khoa học địa lý, cả lý luận và thực tiễn, đòi hỏi phải mô hình hoá được các mối quan hệ hoặc lượng hoá đặc điểm của các yếu tố và hiện tượng
Điều đó có nghĩa, việc ứng dụng toán học trong địa lý học sẽ hỗ trợ giải quyết những hạn chế trong phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của địa lý học Theo cách này, tiếp cận định lượng sẽ tạo ra khả năng cung cấp một logic hình thức có thể biểu diễn thành công các mối quan hệ phức tạp trong địa hệ
Những ưu thế nổi bật của cách tiếp cận định lượng trong nghiên cứu địa
lý thể hiện ở tính chính xác của các kết quả nghiên cứu và khả năng suy luận
đ ể chuyển thông tin theo phương pháp logic, đảm bảo không bị nhiễu bởi các trở ngại thông thường của ngôn ngừ con người Mặc dù việc sử dụng các mô hình địa lý toán học đã và đang làm cho địa lý không còn là khoa học mô tả thuần tuý, nhưng vẫn có những hạn chế của hướng tiếp cận này Tính trừu tượnẹ của các mô hình địa lý toán học gây trở ngại đối với phần lớn các nhà địa lý chưa được trang bị kiến thức toán học cần thiết một cách đầy đủ Tính chất này tạo ra tính mờ gây khó khăn cho các nhà địa lý tiếp cận trong các bước thiết kế mô hình, giải mô hình, đánh giá kết quả mô hình; hậu quả là sự
Để tài nghiên cứu k hoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, m ã số: Q T.06.29
Chủ trì dể tài: NCS Nguyễn An Thịnh
7
Trang 16BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÂY DỰNG MÒ HÌNH PHÀN LOẠI CÀNH QUAN ĐỎ THỊ VÀ NÔNG THÔN”
diễn giải các kết quả của mô hình thưòng không phù hợp với quy luật địa lý Một điều đáng chú ý là trong nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng toán học, công việc phân tích các kết quả đạt được thường ít được quan tâm hơn so với
mô tả cơ sở lý thuyết toán học phức tạp của mô hình, dẫn đến sự thất bại trong việc giải thích đúng đắn kết quả nghiên cứu Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của tiếp cận định lượng là tính máy móc trong sử dụng mô hình của chính nhà nghiên cứu Nhiều công trình địa lý ứng dụng đã cố gắng sử dụng mô hình địa
lý toán học, thậm chí cả khi mô hình đó không phù hợp vói thực tiễn khách quan (tính không đẳng cấu giữa mô hình với thực tiễn)
Những tồn tại trên chỉ có thể khắc phục khi các nhà nghiên cứu nắm vững cả kiến thức địa lý học và toán học hoặc liên kết chặt chẽ giữa hai nhà chuyên môn địa lý - toán
Quan điểm tiếp cận định lượng trong địa lý học được vận dụng trong nghiên cứu ứng dụng các mô hình phân tích đa biến (phân tích nhân tố, phân tích nhóm) đ ể phân loại các cảnh quan đô thị và nông thôn.
1.3 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CẢNH QUAN ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THÔN
1.3.1 Cảnh quan văn hóa
Khái niệm cảnh quan lần đầu tiên được đưa vào sử dụng là vào đầu thế
kỷ 19, có nghĩa là phong cảnh (tiếng Đức-Landschaft) Trong nghiên cứu địa
lý phục vụ sản xuất, cảnh quan được xem xét ở cả 3 khía cạnh, như một đơn
vị địa tổng thể (theo khái niệm chung), đơn vị phân kiểu (theo khái niệm loại hình), đơn vị cá thể (theo khái niệm cá thể) (Shishenko P.G, 1988) v ề bản chất, cảnh quan là một tổng thể tự nhiên phức tạp, vừa có tính đổng nhất, vừa
có tính bất đồng nhất Tính đồng nhất của cảnh quan được hiểu là một lãnh thổ trong phạm vi của nó, các thành phần và tính chất của mối quan hệ giữa các thành phần coi như không đổi, nghĩa là đồng nhất Tính bất đồng nhất được thể hiện ở hai mặt: cảnh quan bao gồm nhiều thành phần khác nhau về bản chất tạo nên (địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng, thực vật ) và mỗi thành phần trong cảnh quan lại tồn tại ở nhiều dạng khác nhau
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Dại học Quốc gia Hà Nội, m ã số: Q T 06.29
Chủ trì dế tài: NCS Nguyễn An Thịnh
8
Trang 17BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÂY DỰNG MÒ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THÔN”
ở Tây Âu và Bắc Mỹ, các nhà địa lý nói chung và cảnh quan nói riêng
đã quan tâm tới việc nghiên cứu những cảnh quan bị tác động bởi hoạt động kinh tế của con người khá sớm Tuy nhiên, do những cách tiếp cận khác nhau nên quan niệm, tên gọi về những cảnh quan bị tác động bởi con người có khác nhau như cảnh quan nhân sinh, cảnh quan văn hóa
Năm 1925, nhà địa lý văn hoá Mỹ Carl Sauer đã nghiên cứu những cảnh quan tự nhiên chịu tác động bởi các hoạt động của con người Carl Sauer xem cảnh quan tự nhiên là đối tượng, văn hoá là nhân tố tác động để rồi hình thành nên cảnh quan văn hoá Đặc biệt, ông còn cho rằng khi có nền ván hoá hoặc nhóm nhân tố văn hoá tác động, cảnh quan văn hoá có thể được trẻ hoá hoặc hình thành nên những cảnh quan văn hóa mới có cấu trúc khác trước Như vậy, rõ ràng ở một góc độ khác những tác động của con người không những thành tạo cảnh quan văn hóa, mà còn có tác dụng tiếp tục biến đổi chúng, làm cho chúng diễn thế theo hướng nhân sinh Tư tưởng và cách thức tiếp cận nghiên cứu của Sauer đã có ảnh hưởng đến thế hệ các nhà địa lý nhân văn (Johnton R.J et al, 2001): “Tư tưởng của Sauer đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiều nhà khoa học ở Bắc Mỹ cũng như lan rộng sang Tây Âu và được đánh giá vượt lên trên trường phái địa lý văn hoá của Berkely-Trường phái Berkely
Nhìn chung, dù ở các góc độ tiếp cận khác nhau nhưng các nhà địa lý, cảnh quan ở Tây Âu và Bắc Mỹ đều đã tiến hành nghiên cứu những đom vị lãnh thổ tự nhiên chịu sự tác động từ phía con người Đây là cơ sở để hình thành nên một hướng nghiên cứu mới mà trong nhiều tài liệu sau này chúng được xem là bộ phận của địa lý nhân vãn
KẾT QUẢ
Hình 1.1 Quan niệm cảnh quan văn hoá của Sauer
Đẽ tài nghiên cứu k hoa học cấp Đại học Quốc gia Há Nội, m ã số: Q T.06.29
Chủ tri dẽ tài: NCS Nguyễn An Thịnh
9
Trang 18BÁO CÁO DỀ TÀI “XÂY DỤNG MÒ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN DÒ THỊ VÀ NÔNG THÔN”
Từ hình 1.1 thấy rằng, cảnh quan tự nhiên qua thời gian chịu sự chi phối của nhân tố con người (văn hoá) hình thành nên các đơn vị lãnh thổ mang đấu
ấn của con người với các dạng hoạt động nhân sinh phong phú và đa dạng (dân số, nông nghiệp, công nghiệp ), đó chính là cảnh quan văn hoá Như vậy, Sauer và nhiều nhà địa lý khác đã thừa nhận và đánh giá cao vai trò của tầm vãn hoá tới việc hình thành cảnh quan văn hoá úng với một cộng đồng người trong một giai đoạn lịch sử nhất định sẽ cho ra đời một bộ mặt đặc thù của cảnh quan văn hóa trong một vùng lãnh thổ cụ thể Điều này khẳng định,
sự hình thành và phát triển của cảnh quan văn hóa phụ thuộc chặt chẽ vào những giá trị thực và thay đổi của tầm vãn hoá theo không gian và thời gian
Quan niệm và cách nhìn nhận của Sauer được nhiều nhà địa lý nhân văn tán thành và ủng hộ, mà điển hình Lovejoy (1973), McComark, O ’Leary (2000) Điều này thể hiện rõ trong Từ điển địa lý nhân văn xuất bản năm
2001 ở Anh, trong đó một lần nữa người ta khẳng định lại khái niệm của Sauer
về cảnh quan văn hoá, đồng thời nhấn mạnh: “Cảnh quan văn hoá được thành tạo từ cảnh quan tự nhiên bởi sự tác động của nhóm yếu tố văn hoá Văn hoá
là chủ thể tác động, cảnh quan tự nhiên là đôi tượng (môi trườnẹ) bị tác động
và cảnh quan văn hoá là kết quả". Theo thời gian, bản thân một tầm văn hoá cũng bị thay đổi do sự phát triển của xã hội và dẫn đến những cảnh quan cũng thay đổi theo, đồng thời trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau, cảnh quan
có thể đạt tới trạng thái cực đỉnh của quá trình phát triển Tuy nhiên, quan niệm về cảnh quan văn hoá còn chưa có tính thống nhất cao: “đây còn là chủ
đê tranh luận gay gắt của các nhà địa lý nhân văn”. Như vậy, ngay trong từ điển người ta đã thừa nhận vẫn còn những quan niêm rất khác nhau giữa các nhà địa lý về cảnh quan văn hoá mà kết quả là đến những năm cuối của thế kỷ
XX vẫn còn nhiều tranh luận về khái niệm Tài liệu cũng khẳng định: “Với sự thâm nhập của một nền văn hoá hay một nhóm yếu tố văn hoá ngoại lai s ẽ làm cho những hợp phần của cảnh quan văn hoá thay đổi, thậm chí được trẻ hoá hoặc xuất hiện cảnh quan văn hoá mới với cấu trúc khác trước”.
Việc phân loại cảnh quan văn hóa theo nội dung có nhiều ưu điểm hơn
cả vì nó lột tả được bản chất của cảnh quan, đồng thời cho thấy được thực trạng các dạng hoạt động phát triển, theo hệ thống phân loại dưới đây:
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, m ã số: Q T 06.29
Chủ trì dề tài: NCS Nguyễn An Thịnh
1 0
Trang 19BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÂY DỤNG Mỏ HÌNH PHẢN LOẠI CẢNH QUAN ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THỎN”
Hình 1.2 Phân loại cảnh quan văn hóa theo chức năng kinh t ế xã hội
1.3.2 Đặc điểm và phân loại cảnh quan đô thị, nông thôn
Cảnh quan đô thị với sự đan kết phát triển của nhiều bộ phận cấu thành trong không gian và thời gian, được coi như một hệ sinh thái riêng: hệ sinh thái đô thị, hoạt động song song với hệ sinh thái nông thôn, hòa nhập với hệ sinh thái tự nhiên Con người và cộng đồng của họ, để trường tồn và thỏa mãn các yêu cầu hoạt động phát triển của mình, phải luôn tìm cách tác động vào thiên nhiên sao cho hệ sinh thái nhân tạo đảm bảo cân bằng, hài hòa hoặc hòa đồng với hệ sinh thái tự nhiên nhằm khai thác được lâu dài các tài nguyên thiên nhiên Mối quan hệ “Môi trường thiên nhiên - Con người - Môi trường nhân tạo” được tạo lập cảnh quan đô thị được coi như một hệ thống hoàn chỉnh có tính năng chuyển hóa vừa theo quy luật sinh học, vừa theo quy luật
cơ học
Theo Viện Nghiên cứu Thế giới (WRI, 2000), urban area (khu đô thị) đồng nghĩa với thuật ngữ city (thành phố) nhung thực ra chúng không phải là một Đô thị là một khái niệm nặng về thống kê và do cơ quan hành chính xác định Một thành phố không chỉ là nơi tập hợp của các khu dân cư nằm sát nhau mà là một thực thể tổng hợp về mặt chính trị, kinh tế và xã hội Các
Đế tài nghiên cứu k hoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, m à số: Q T 06.29
Chủ tri d ế tài: NCS Nguyễn An Thịnh
11
Trang 20BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XẢY DỤNG MÔ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN ĐỎ THỊ VÀ NÔNG THỎN”
thành phố trên thế giới là biểu tượng của quốc gia và của quyền lực chính trị Đây cũng chính là trung tâm kinh tế, tôn giáo, giáo dục và văn hoá
Bảng 1.1 So sánh tiêu chí phân ỉoại đô thị và nông thôn
Tiêu chí phân loại đô thị
của Liên Hiệp Quốc
(1969) X ếp theo th ứ tự
tần su ấ t sử d ụ n g
Tiêu chí phân loại vùng nông thôn của Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (Organisation for Economic Cooperation and Development - O EC D , 1994) và số quốc
gia sử dụng tiêu chí (s ố g h i bên cạnh)
Kích cỡ dân số (của các
đom vị hành chính hoặc
của khu định cư)
Kích cỡ dân số định cư - 14 Dân số của các khu hành chính ngoài thành phô' - 6 Kích cỡ dân số của các khu hành chính - 8
Mật độ dân số và mật độ
nha
Mật độ dân cư - 7
Hoạt động kinh tế Phân bố nhân lực trong nông nghiệp - 3
Tỉ lệ đẩu ra/đầu vào - 4 Các đặc trưng đô thị khác Mức độ tập trung hoá dịch vụ - 2
Pháp nhân hành chính Pháp nhân hành chính
Một loại hlnh quan trọng trong cảnh quan đô thị và nông thôn là các khu quần cư Đây thực chất là nơi tập trung các hoạt động sản xuất, tiêu thụ, các hoạt động của đời sống văn hóa - xã hội, các không gian cư trú
Việc nghiên cứu quần cư có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn Các loại hình quần cư có tính năng động Như một cơ thể sống, nó phát triển và thay đổi phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế xã hội Việc chế độ xã hội này bị thay thế bởi chế độ xã hội khác không dẫn tới sự xóa bỏ các loại hình quần cư trước đó,
mà chỉ làm nó thay đổi theo chiều hướng riêng của mình Mỗi hình thái kinh
tế xã hội có những kiểu quần cư nhất định Nếu không tìm hiểu những loại hình quần cư thì không thể có khái niệm đầy đủ về kinh tế, văn hóa, đời sống của dân cư ở một lãnh thổ nào đó Có hai loại hình quần cư chủ yếu: nông thôn và đô thị Việc phân loại này gắn liền với sự phân công lao động xã hội theo lãnh thổ, mà trước hết là tách công nghiệp ra khỏi nông nghiệp, dẫn tới tách thành thị khỏi nông thôn
Quần cư nông thôn
Quần cư nông thôn là một tập hợp các điểm dân cư nông thôn gắn với chức năng chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, quy mô dân số ít, mức độ tập trung dân cư không cao Có một vài đặc điểm chủ yếu sau đây:
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, m ã số Q T 06.29
Chủ trì dề tài: NCS N guyễn An Thịnh
1 2
Trang 21BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÂY DỰNG MÔ HÌNH PHÂN LOẠI CÀNH QUAN Đỏ THỊ VÀ NÔNG THÔN”
- Các điểm quẫn cư nông thổn xuất hiện rất sớm và mang tính chất phân tán trong không gian: do liên quan chặt chẽ đến chức năng sản xuất nông nghiệp Biểu hiộn cụ thể của tính phân tán là quy mô các điểm dân cư thường nhỏ, số dân nói chung ít, mật độ dân số thấp Tính chất phân tán này chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, nhất là địa hình, nhưng chủ yếu được quyết định bởi các nhân tố kinh tế xã hội (phương thức canh tác, điều kiện xã hội, tâm lý, dân tộc)
- Các điểm quần cư nông thôn gắn với chức năng chính là sản xuất nông nghiệp: ở các điểm dân cư này, nơi cư trú thông thường cũng là nơi sản xuất Tùy theo điều kiện cụ thể mà chức năng của các điểm quần cư nông thôn
có thể là ỉàng thuần nông (làng lúa, làng rau, làng chài gắn liền vói nghề biển, khai thác hải sản, trồng rừng và khai thác rừng), làng phi nồng nghiệp (nghề thủ công nghiệp, du lịch ) và làng hỗn hợp (làng nông nghiệp kiêm nghề, làng rừng kết hợp du lịch)
- Các điểm dân cư nông thôn ngày nay có nhiều thay đổi do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa: dẫn tới hệ quả là các điểm quần cư nông thôn ngày nay đang có nhiều thay đổi về chức năng, cấu trúc và hướng phát triển, về chức năng, bên cạnh hoạt động chính là sản xuất nông nghiệp, các điểm dân
cư nông thôn còn có thêm các chức năng chính khác như công nghiệp (chủ yếu là công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp), dịch vụ (cho sản xuất nông nghiệp và đời sống xã hội) Kết quả là tỷ lệ dân số không làm nông nghiệp ngày càng tăng Quá trình đô thị hóa cũng làm cho cấu trúc các điểm dân cư nông thôn thay đổi, trở nên gần giống cấu trúc của các điểm quần cư
đô thị
Các điểm quần cư nông thôn rất đa dạng vói nhiều sắc thái riêng tùy thuộc vào các hoạt động kinh tế chủ yếu của dân cư, vào điều kiện tự nhiên, đặc điểm văn hóa - dân tộc Một số loại hình chủ yếu là: điểm dân cư nông thôn vùng trung du, miền núi và cao nguyên, điểm dân cư vùng đồng bằng và ven biển
+ Các điểm dân cư vùng trung du, miền núi và cao nguyên do điều kiện
cụ thể của địa phương về tự nhiên, dân tộc mang tên gọi khác nhau như ở nước
ta là các bản, buôn, plây, sóc Các bản (buôn) này thường có quy mô dân số
Đề tài nghiên cứu k hoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, mã sô: Q T.06.29
Chủ tri dế tài: NCS Nguyển An Thịnh
13
Trang 22BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XẢY DỤNG MÒ HÌNH PHÂN LOẠI CÀNH QUAN ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THÔN’’
nhỏ (thậm chí vài ba hộ), dân cư thưa thớt, khoảng cách giữa chúng rất xa Hoạt động kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và lâm nghiệp
+ Các điểm dân cư đồng bằng và ven biển mang tên gọi phổ biến là làng, có quy mô dân số lớn, mật độ cao, thậm chí có các làng không thua kém
gì các đô thị, gần nhau về khoảng cách, cơ sở hạ tầng thuận lợi Hoạt động kinh tế của dân cư thường gắn liền với nông nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ
Quần cư đô thị:
Quần cư đô thị là tập hợp các điểm dân cư đô thị gắn với chức năng sản xuất phi nông nghiệp (công nghiệp, dịch vụ), quy mô dân số đông, mức độ tập trung dân số cao và có kiểu kiến trúc quy hoạch đặc biệt, hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển mạnh, đồng bộ
Hệ thống các điểm dân cư đô thị được hình thành và phát triển trong những điều kiện nhất định của lịch sử Đặc điểm cấu trúc của nó phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội ở từng vùng Khác với các điểm quần cư nông thôn, cấu trúc của các điểm quần cư đô thị có những mối quan hệ đan xen phức tạp, dựa trên cơ sở hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực công nghiệp-xây dựng, thương mại, dịch vụ
Các điểm quần cư đô thị có những đặc điểm riêng Chẳng hạn như ởnước ta có những đặc điểm sau đây:
- Là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự pháttriển kinh tế xã hội của cả nước hoặc cả một vùng lãnh thổ nhất định
- Quy mô dân số ít nhất là 4000 người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 người/km2 (ở vùng núi có thể thấp hơn)
- Tỷ lộ lao động phi nông nghiệp chiếm trên 60% dân số hoạt động
- Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, các công trình công cộng phục vụ dân
cư phát triển
Để tài nghiên cửu k h o a học cấp Đại học Quốc gia Há Nội, m ã số: Q T 06.29
Chủ trì d ế tài: NCS Nguyển An Thịnh
14
Trang 23BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XẢY DỰNG MÔ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN ĐỔ THỊ VÀ NÒNG THÒN”
1.3.3 C ác quan điểm về thành phố và sự đỏ thị hóa
Theo bảng 1.2, tiêu chí để xác định vùng đô thị, nông thôn hay được
các quốc gia sử dụng nhất là kích cỡ dân số định cư (14 quốc gia)
Bảng 1.2 Phân loại đô thị ở Việt Nam
Loại (Ví dụ) Chức năng
Tỉ lệ lao động phi nông nghiêp
Cơsò hạ tầng
Dân số (triệu người)
Mật độ dân
sồ (người / km2) Đặc biệt (Hà
Nọi, Thành phó
Hố Chí Minh)
Có ảnh hưởng cấp quốc gia
vé kinh tế, chính trị, khoa học, công nghệ, đào tạo, du lịch, dịch vụ, giao thông vận tải, quan hệ đối nội và dối ngoại
>70 Hoàn thành
một phần hoặc đang xảy dựng
>0,05 > 6.000
Loại V (tất cả
các huyện lỵ)
Có ảnh hưởng cấp huyện hoặc liên xã vé kinh tế, chính tri, vàn hoá, dịch vụ
>65 Chưa hoàn
thành
> 0,004 2.000
Ở Việt Nam, đô thị được phân thành 5 loại theo chức năng Thông qua
bảng phân loại đô thị (bảng 1.3), có thể thấy rõ đặc điểm của các đô thị này
Trong tác phẩm “Đô thị học - những khái niệm mở đầu” (2003), tác giả
Trương Quang Thao đưa ra quan điểm cho rằng đô thị đồng thời là một không
gian vật thể - kinh tế và văn hoá - xã hội Trong đó:
- Đô thị là một không gian vật thể với ý nghĩa là một tập hợp các công trình xây dựng kế tục và kế cận, được gọi là môi trường xây dựng, được phục
vụ bởi các mạng lưới của kỹ thuật hạ tầng, được bố trí tại một địa điểm nhất
Đé tài nghiên cứu k hoa học cấp Đại học Quòc gia Hà Nội, m ã số: Q T 06.29
Chủ trì dê' tài: NCS Nguyễn An Thịnh
15
Trang 24BÁO CÁO ĐỀ TÀI “XÂY DỤNG MÔ HÌNH PHÂN LOẠI CÀNH QUAN ĐÔ THỊ VÀ NỎNG THỔN”
định của môi trường thiên nhiên ít nhiều đã bị khai thác cho các mục tiêu của hoạt động kinh tế - xã hội con người
- Đô thị là một không gian kinh t ế mạnh, tức là một tập hợp các cơ sở sản xuất ở cả ba khu vực kinh tế chính quy (và cả phi chính quy) Đó là khu vực một (nông nghiệp, khai khoáng), khu vực hai (công nghiệp) và khu vực ba (dịch vụ và khoa học);
- Đô thị là một không gian văn hoá - xã hội có ưu thế của đời sống vật chất, tinh thần và tâm linh của cộng đồng người liên kết với nhau bằng một lối sống chung để làm cho quần cư họ trở thành nơi chốn
Sự hiện diện của đô thị liên quan tới các hiện tượng xã hội và kinh tế, những động lực của lịch sử loài người Cho nên, nghiên cứu vể đô thị không chỉ là nghiên cứu về cách thức và phương pháp xây đựng nên nó mà còn phải nghiên cứu cả cơ sở vật chất kinh tế xã hội, chất lượng môi trường và cả lịch
sử phát triển của đô thị đó (hay là quá trình đồ thị hóa)
Đô thị hóa là động lực nằm ở bên trong mọi sự hình thành, phát triển, thay đổi của không gian đô thị Quá trình đô thị hóa cũng đổng nghĩa với quá trình thay đổi cấu trúc cảnh quan đồ thị
Dưới đây là một số quan điểm chính về sự hình thành và phát triển của các đô thị:
- Quan điểm 1 : Quan điểm theo trường phái Aristote (được ẹợi là thành
p h ố kiểu Aristote): theo quan điểm của Aristote về khái niệm, các phần tử thuộc một khái niệm đều có ít nhất một tính chất chung và tính chất chung này là điều kiện cần và đủ để phân biệt các phần tử của khái niệm đó với các phần tử không thuộc khái niệm đó (tạm dịch là khái niệm mang tính đơn tính - monothetic, trái ngược với quan điểm 2, quan điểm của Wittgenstein, theo đó khái niệm mang tính đa tính-polythetic hay còn gọi là tương đồng theo họ) Từ
đó suy ra tất cả các thành phố và quá trình đô thị hóa đều có một số điều kiện cần và đủ chung nào đó để có thể định nghĩa chúng là các thành phố và quá trình đô thị hóa Có thể thấy quan điểm này trong nhiều công trình nghiên cứu
về các định nghĩa thành phố và quá trình đô thị hóa, như định nghĩa 10 điểm của Gordon Childe (1950) Đây được coi là quan điểm chi phối mạnh mẽ nhất
Đẽ tài nghiên cứu khoa học cấp Đại hoc Quốc gia Hà Nội, mã sô: Q T.06.29
Chủ trì dê tài: NCS Nguyền An Thịnh
1 6
Trang 25BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÂY dụng m ỏ h ình phản lo ạ i cảnh quan đồ t h ị và nông THỎN"
các nghiên cứu về thành phố và đô thị hóa nhưng tính đúng đắn của nó lại thường không được đánh giá cao
- Quan điểm 2 có nguồn gốc từ lý thuyết của Wittgenstein (thành phô' kiểu Wittgenstein): Đây là một trong những quan điểm đối lập nhất với quan điểm của Alistóte Wittgenstein quan niệm các khái niệm và phạm trù chỉ có
sự tương đồng theo họ Theo Wittgenstein, không nhất thiết phải có một cái gì chung thì các phần tử mới được định nghĩa chung mà là những sự tương đồng
và các mối quan hệ giữa chúng sẽ tạo ra định nghĩa chung (Ví dụ ông thường nhắc đến nhất là về các trò chơi, nếu so sánh chơi cờ vói chơi bài và chơi bóng thì điểm chung giữa chúng là gì? Liệu có phải là vì tất cả đểu mang tính giải trí, hay là luôn có người thua và người thắng? Không nhất thiết, vì có thể trò chơi chỉ có một người choi Tóm lại sự tương đồng này có thể đúng cho một
số trò nhưng không đúng cho các trò khác) Như vậy, ta thấy một khái niệm là một mạng lưới những sự tương đồng chồng chéo lên nhau, đôi khi là những sự tương đồng về tổng thể, đôi khi là tương đồng về chi tiết Tương tự như vậy, thành phố theo Wittgenstein là một mạng lưới phức tạp các mối quan hệ giữa các thực thể mà tại một điểm không gian - thời gian nào đó được coi là thành phố do chúng có một số đặc điểm chung với những thực thể trước đó đã được coi là thành phố tại các điểm không gian và thời gian khác, và cứ tiếp tục như vậy Tức là thành phố nên được xem là các mạng lưới trải dài theo thời gian và không gian Wittgenstein khi luận bàn về các khái niệm ngôn ngữ và phạm trù
đã so sánh ngôn ngữ của chúng ta với một thành phố cổ
- Quan điểm 3- Thành p h ố trên tư cách một ngôn ngữ. Trái với quan điểm 2, Christopher Alexander (1979) khi bàn về kiến trúc, xây dựng và các thành phố đã so sánh thành phố với một ngôn ngữ Ông cho rằng các công trình xây dựng, các khu vực dân cư, thành phố và các thủ phủ đều là kết quả của một ngôn ngữ của các mẫu hình (pattem) Trong cuốn “ngôn ngữ mẫu hình”, Alexander và các đồng tác giả đã sáng tạo ra vốn từ vựng riêng về mẫu hình, từ các mẫu khu vực lớn và các vùng thủ đô, đến các mẫu thành phố và các khu cụm dân cư, cho đến các kiểu hốc tường, cửa sổ, tay nắm cửa ra vào Các tác giả chứng minh rằng các mẫu này đều có liên hệ với nhau và do vậy hình thành cả một ngôn ngữ, về mặt cấu trúc không khác gì ngôn ngữ nói hay
HẠI Hr''r' OI ion h *1
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, mã sổ: QT.(
Trang 26BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XẢ V DỤNG MÔ HÌNH PHÀN LOẠI CẢNH QUAN ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THÔN”
viết Các mẫu cửa, cửa sổ, công trình, quảng trường, cụm dân cư và thành phô' đều có quan hệ tương tự như từ, khái niệm, câu, đoạn, chương và tác phẩm Các mẫu này là các thực thể tự nhiên trên phương diện chúng tồn tại không chỉ ở kết cấu vật chất trong môi trường mà còn tồn tại trong tư duy của con người và là nguyên nhân làm cho môi trường hình thành cấu trúc của nó
- Quan điểm 4- Tính nguyền mẫu của các thành p h ố hạt nhân: Hai người đóng góp quan trọng vào việc phát triển quan niệm tương đồng theo họ của Wittgenstein là Rosch (1976) với khái niệm về tính nguyên mẫu và mức
độ cơ sở Theo ông, một số phần tử của một khái niệm mang tính điển hình hơn các phần tử khác Người thứ 2 là Lakoff (1987) cho rằng nhiều khái niệm
và phạm trù có một cấu trúc xuyên tâm với một hạt nhân gồm những trường họp cơ bản nhất, các trường hợp này có liên quan đến các trường hợp ngoại biên của cùng khái niệm thông qua các sự đổng nhất, phép ẩn dụ và sự “tương đồng theo họ” Theo quan điểm này, thành phố và đô thị hóa là một mạng lưới khổng lồ những sự tương đồng có liên quan đến nhau, trải dài trong không gian và thời gian Trong quá trình này, các thành phố, hình ảnh và hiện tượng
đô thị hóa nằm ở trung tâm của mạng lưới này sẽ mang tính điển hình hoặc nguyên mẫu, và đẩy ra ngoại biên các thành phố, hình ảnh, hiện tượng khác
- Quan điểm 5 là thành p h ố dạng lý tưởng của Max Webster, ông nhìn nhận thành phố tương tự như Wittgenstein (mạng lưới các mối quan hệ trải dài theo không gian và thời gian) và Rosch và Lakoff (hạt nhân và ngoại biên) Tuy nhiên, quan niệm của Weber xuất phát từ phương pháp nghiên cứu khái niệm và phạm trù theo cách chúng xuất hiện trong thế giới xã hội và văn hóa bên ngoài, trong khi Wittgenstein, Rosch và Lakoff lại xuất phát từ quan điểm
về cách con người nhận thức các quan niệm và phạm trù đó trong thế giới bên trong của cá nhân họ tức là tâm trí của con người
- Quan điểm 6 xem thành p h ố và quá trình đô thị hóa trên phương diện các hệ thống biểu trưng lẩn nhau- thành phô IRN. Khái niệm IRN- mạng lưới biểu trưng lẫn nhau Juval Portugali (1999) đề xuất rằng hai thế giới bên ngoài
và bên trong của Wittgenstein và Rosch-Lakoff là hai phương diện hoặc sự biểu trưng của cùng một mạng lưới Có nghĩa là một số yếu tố gắn mạng lưới với việc hình thành khái niệm và phạm trù được thể hiện trong tâm trí con
Đế tài nghiên cứu k hoa học cấp Oại học Quốc gia Hà Nội, mả sổ: Q T.06.29
Chủ tri d ế tài: NCS Nguyễn An Thịnh
18
Trang 27BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÂY DỰNG Mổ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN Đỏ THỊ VÀ NỎNG THÔN”
người trong khi một số yếu tố khác được thể hiện ở môi trường bên ngoài
Mạng lưới này phát triển bằng cách tương tác liên tiếp giữa các yếu tố bên
trong và bên ngoài Juval Portugali cho rằng quá trình tương tác đó chính là
quá trình tạo ra sự tương đồng theo họ
Tuy vậy, tùy theo quan điểm và cách tiếp cận mà người ta hình thành ra
được các mồ hình của quá trình đô thị hóa hay cấu trúc của đô thị Theo cách
tiếp cận sinh thái, thành phố được được phân ra làm các thành phô sinh thái -
kinh tế vào các thành phố kinh tế - sinh thái
Các thành phố sinh thái - kinh tế được phân chia như sau:
- Thành p h ố biệt lập (Nhà nước biệt lập, Thumen)’. Hãy tưởng tượng một thị trấn lớn nằm ở trung tâm một đồng bằng mầu mỡ nhưng kh#ng có con
sông hay kênh nào đủ lớn để tàu bè qua lại Đất đai trên toàn vùng đồng bằng
đều có thể canh tác tốt và màu mỡ như nhau Cách xa khu vực trung tâm đồng
bằng, đất đai trở nên hoang vu và không canh tác được, đo đó ngăn cách mọi
sự giao tiếp của nhà nước này với thế giới bên ngoài Trên cả khu vực đồng
bằng không có một thành phố nào khác Thành phố trung tâm do đó phải cung
cấp mọi sản phẩm tiêu dùng cho các khu vực nông thôn và đổi lại mua các
nhu yếu phẩm từ khu vực nông thôn xung quanh Vậy hình thức canh tác nào
sẽ hình thành trong những điều kiện như vậy? và hệ thống nông nghiệp của
các quận khác nhau sẽ bị ảnh hưởng như thế nào bởi khoảng cách tới thành
phố? Giả sử rằng nông nghiệp được tiến hành hoàn toàn một cách hợp lý
Nhìn chung rõ ràng là gần thành phố sẽ trồng các sản phẩm nặng hoặc
cồng kềnh so với giá trị của chúng, và do đó sẽ quá đắt khiển các quận ở xa
không thể chuyên chở chúng Tương tự như vậy là các sản phẩm nhanh hỏng,
cần phải dùng nhanh Khi khoảng cách tới thành phè tăng dần, đất sẽ càng
được dùng để canh tác các sản phẩm mà chi phí chuyên chở rẻ so với giá trị
của chúng
Vì lý do này, các vòng tròn hoặc vành đai đồng tâm phân biệt khá rõ
ràng sẽ hình thành xung quanh thành phè, mỗi cái có sản phẩm chính riêng
của mình
Đẽ tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, m ã số: Q T 06.29
Chủ tri dé tài: NCS Nguyễn An Thịnh
19
Trang 28BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÂY DỤNG MÔ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THỎN”
g=Sr*»*&HhCa»»«iRion Cm rtnat« Ijnlor
luxM fettem • CMd Btr
T mm J c U it« n —- NWjJtl! «w
r ^ W **r« fl» V 4Hi/IÄ 1.3 Mô hình cấu trúc đô thị theo Thumen
Sau này, mô hình này đã được một người bạn ông chuyển thành biểu đồ như trong hình 1.1 Nhờ có cuốn “Nhà nước biệt lập” mà Thunen đã được coi
là cha đẻ của lý thuyết định vị hiện đại, thứ nhất vì mô hình của ông đã gói trọn mọi khía cạnh của lý thuyết này - mặt phẳng đẳng hướng, cạnh tranh về không gian giữa sử dụng đất và nguyên tắc lợi ích cận biên của không gian -
và thứ 2, và cũng là hệ quả của nguyên nhân thứ nhất, ta có thể lập ra mô hình chuẩn về sử dụng đất đô thị như các nhà lý thuyết về sử dụng đất kinh tế đã làm 100 năm sau ông bằng cách thay Thành phố trong ví dụ tr#n bằng Khu vực kinh doanh trung tâm (CBD - Central Business District) (Hình 1.2).
Hình 1.2 Mô hình sử dụng đất đô thị
Đế tài nghiên cứu k hoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, m â số: Q T 06.29
Chủ trì dề tài: NCS Nguyễn An Thịnh
20
Trang 29BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XẢY DỤNG MÔ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THÔN”
Lý thuyết về vị trí trung tâm đã được hai nhà nghi#n cứu là Christaller (1933) và August Losch nghiên cứu Cả 2 ông đều xuất phát từ một dạng
“thành phố biệt lập” nào đó Christaller bắt đầu bằng một nhà nước biệt lập trong đó có một thành phố trung tâm về mặt hình học và các thành phố ngoại biên phụ thuộc Từ điểm xuất phát này ông dần tìm ra 3 bậc chính của các vị trí trung tâm đề từ đó dân số của nhà nước tưởng tượng này có thể tiêu thụ hàng hóa, d#ch vụ và có thể bán các sản phẩm mình làm ra (hình 1 3 ).
H ìn h 1.4 Thuyết v ị trí trung tâm của Chritstalỉer theo 3 nguyên tắc cơ bản về
vị trí: (a) vùng marketing trong hệ thống vị trí trung tâm; (b) hệ thống vị trí trung tâm phát triển theo đường giao thông; (c) hệ thống vị trí trung tâm phát triển theo các vùng phân cắt
(Nguồn: C h ristaller 1966)
Losch, lại bắt đầu với một số thành phố độc lập, trôi trên một đồng bằng đẳng hướng Sau đó ông giả sử rằng dân số và các hoạt động kinh tế gia tăng làm hình thành nhiều thành phố độc lập hơn, tiếp đó do cạnh tranh và cân bằng không gian chung, cả khu vực trở nên chật chội và sau đó khi cả quá trình tiếp diễn sẽ có cân bằng không gian dưới dạng một hệ thống phức tạp các vị trí trung tâm Lý thuyết của Losch mang tính tham vọng và phức tạp
Đề tài nghiên cứu k hoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, m ã số: Q T 06.29
Chủ tri dế tài: NCS Nguyễn An Thịnh
21
Trang 30BÁO CẨO ĐỂ TÀI “ XÂY DỤNG MÔ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN ĐÔ THỊ VÀ NÓNG THÔN”
hơn của Christaller Christaller chỉ hạn chế lý thuyết của mình trong phạm vi các dịch vụ, còn Losch đưa ra lý thuyết chung về vị trí Do đó c#nh quan đô thị của ông phức tạp hơn về mức độ phân cấp Trong bối cảnh kinh tế mang tính lý thuyết của ông, hình thành bởi sự phân bổ không gian của các thành phè, một số thành phố đã giàu lên và một số nghèo đi (hình 1.5).
H ìn h 1.5a Thuyết vị trí trung tâm của Losch (Nguồn: Losch 1945)
(a) sự phân bô' không gian hình nón với khu vực chợ vượt ra ngoài không gian cầu thông thường; (b) sự phát triển các khu chợ từ các vòng tròn lớn cuối cùng đến lục giác nhỏ
H ình 1.5b Thuyết vị trí trung tâm
của Losch với các khu chợ, tạo thành
các thành p h ố giàu, nghèo
H ình 1.5c Lý thuyết vị trí trung tâm của Losch được sửa bởi Isard (ỉ 964) trở nên phù hợp với sự phân bổ dân s ố
22
Đế tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, mã số: Q T.06.29
Chủ tri d ế tài: NCS Nguyễn An Thịnh
Trang 31BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÂY DỤNG MÒ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN ĐỞ THỊ VÀ NÔNG THÔN”
C H Ư Ơ N G 2
N Ộ I D U N G C Á C M Ô HÌNH P H Â N LOẠI Đ ỊN H LƯ Ợ N G
C Ả N H Q U A N Đ Ô THỊ V À N Ô N G T H Ô N■
2.1 MÔ HÌNH CẤU TRÚC ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THÔN
2.1.1 M ô hình cấu trúc cảnh quan đô thị
Các mô hình định hình sử dụng cảnh quan đô thị theo hướng “sinh thái- con người” gồm có các mô hình Burgess, Hoyt, Harris và Ullman Thực chất, các mô hình này đều nhấn mạnh vào loại hình sử dụng đất dành cho định cư trong đô thị Đinh hình sử dụng đất đô thị với một phần lớn đất đai được dành cho chức năng định cư và sự sắp đặt các vị trí định cư cũng được nhiều nhà khoa học nghiên cứu trong nhiều năm với lý do hình thái định cư phần nào phản ánh cấu trúc xã hội đô thị Phương pháp phân tích vùng xã hội chính là công cụ để lý giải cho điều này
Trong Từ điển địa lý nhân văn (2000), phân tích vùng xã hội được quan niệm là “Lý thuyết và kỹ thuật” do hai nhà xã hội học Mỹ Eshreft Shevky và Wended Bell (1955) khởi xướng nhằm liên kết giữa sự biến động cấu trúc xã hội đô thị và các loại hình định cư với sự phát triển kinh tế và quá trình đô thị hoá”, trong đó cũng đề cập tới sự phát triển từ phân tích vùng xã hội sang phân tích nhân tố Đây cũng chính là phân tích nhân tố sinh thái đô thị Sinh thái nhân tố (factor ecology) là thuật ngữ được sử dụng trong các nghiên cứu về đặc tính liên quan tói phân tích nhân tô' trong sinh thái Một ma trận dữ liệu chứa các phép đo của m biến, mỗi biến có n đơn vị quan sát được sử dụng để phân tích Theo kết quả phân tích phương sai, phân hóa xã hội cơ bản theo nan quạt còn đô thị hóa theo vòng tròn đồng tâm, sự tách biệt chỉ tập trung ở các nhóm thiểu số sống tại vùng lân cận của thành phố Như vậy, không gian định
cư và sự sắp đặt các vị trí định cư phản ánh cấu trúc xã hội đô thị và lý giải cho những sự sắp đặt này là kết quả của phân tích sinh thái nhân tố
Như vậy, muốn xác định được cấu trúc đô thị nhất thiết phải xác định được các vùng cảnh quan đô thị Từ đó áp dụng các mô hình về cấu trúc của
Đề tài nghiên cứu k hoa học cấp Đại học Quôc gia Hà Nội, mả số: Q T.06.29
Chủ trì dê tài: NCS Nguyển An Thịnh
23
Trang 32BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÂY DỰNG MỞ HÌNH PHÂN LOẠI CÀNH QUAN ĐÔ THỊ VÀ NÒNG THÔN”
đô thị vào xác định cấu trúc đô thị một thành phố cụ thể Đồng thời, dựa trên
cơ sở phân tích nhân tố và phân tích cụm cho khả năng thành lập bản đồ phân loại cảnh quan đô thị Hơn nữa, có khả năng kết họp các phương pháp khác như kết hợp sử dụng ảnh viễn thám, ảnh hàng không, điều tra thực địa, để tăng tính hiệu quả và độ chính xác phân tích Như vậy, hoàn toàn có khả năng ứng dụng các mồ hình này vào nghiên cứu cấu trúc một thành phố bất kỳ
a) M ô hỉnh đồng tám (Concentric Model)
Mô hình sinh thái có ý nghĩa quan trọng nhất được đưa ra bởi Burgess (1927) Ông mô tả thành phố là một thực thể mở rộng tỏa tròn từ trung tâm và trong quá trình đó hình thành hàng loạt các khu vực đồng tâm: Trung tám thành p h ố hay trung tâm thương mại vùng (CBD) bao gồm các cơ quan chỉ huy, các dịch vụ, các cửa hàng, các toà nhà chính phủ, là trung tâm thương mại, văn hoá, xã hội của thành phố Gần 20 thế kỉ qua, đô thị chỉ phát triển trong và xung quanh vùng CBD Nó được bao quanh bởi một vùng gọi là vùng lân cận, rất quan trọng cho sự tồn tại của vùng trung tâm Vùng lân cận bao gồm khu buôn bán, các kho hàng, các khu công nghiệp nhẹ, bến xe và bến tàu Tiếp đến là vùng chuyển tiếp, nó được đánh dấu bởi tuổi, sự giảm xuống của những ngôi nhà mục nát và sự mở rộng của các khu thương mại và các khu sản xuất của vùng Vùng chuyển tiếp cũng là nhà nơi nghèo nhất của thành phố, nơi ở của những người nghèo, thông thường được nhập cư của các vùng ngoài hoặc các dân tộc thiểu số Vùng ngoài cùng là nơi định cư của những người có mức sống cao vói những con người làm việc chăm chỉ Họ làm việc ở những vùng lân cận hoặc ả trung tâm thành phố
H ình 2.1 Mô hình vòng tròn đồnẹ tâm của Burgess
(1) Trung tâm thương mại vùng; (2) vùng chuyển tiếp; (3) khu vực cùa những người lao
động; (4) khu vực trung lưu, (5) khu vực ngoại thành
Đế tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, m ã số: Q T.06.29
Chù tri dể tài: NCS Nguyễn An Thịnh
24
Trang 33BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÂY DỤNG MÔ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THÓN”
b) M ô hình q u ạ t (Sector M odel)
Sau Burgess, Hoyt (1939) dựa vào các thành phố ở Mỹ đã gợi ý một hình thái khu vực của thành phố Các khu dân cư và phi dân cư đồng nhất phát triển ra phía ngoài từ trung tâm thành phố, theo các con đường vận tải và trong quá trình đó tạo ra một kiểu hình mang tính khu vực như trong hình 2.2
H ìn h 2.2 Mô hình quạt của Hoyt
(1) trung tâm thương mại vùng, (2) khu vực thương nghiệp và công nghiệp nhẹ,
(3) khu vực cư dân nghèo, (4) khu vực trung lưu, (5) khu vực thượng lưu
Mô hình quạt của Homr Hoyt ra đòi nhằm loại bỏ thuyết trung tâm, những cuộc tranh cãi về giá trị ngôi nhà ở các thành phố ở Mỹ tuân theo sự phát triển từ trong ra ngoài từ trung tâm thành phố hơn là những đường tròn đồng tâm Những vùng có giá nhà thuê cao đã mang những dạng cấu trúc trong thành phố ra vùng ngoại vi Vùng có nhà cao phân bô' đọc các trung tâm, hoặc dọc ở những dãy phố sang trọng như những vùng: những vùng đất cao, vùng trước biển, xung quanh các hồ, các vịnh và các sông Vùng có thu nhập trung bình tiếp giáp vói vùng có giá nhà thuê cao, và vùng có mức thu nhập thấp được tìm thấy ở xa vùng có thu nhập cao và thường nằm trong các khu trung tâm công nghiệp hoặc ở vùng lân cận dọc các đường phố
c) M ô hình đa nhân (M ultiple N u clei M odel)
Tiếp đó, Mann và sau này là Ullman và Harris (1945) đã kết họp các
mô hình của Burgess và Hoyt thành mô hình đa hạt nhân, trong đó sự phát
Đề tài nghiên cứu k hoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, mả số: Q T.06.29
Chu trì dế tài: NCS Nguyển An Thịnh
25
Trang 34BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÂY DỤNG MÔ HÌNH PHẢN LOẠI CÀNH QUAN ĐÒ THỊ VÀ NÔNG THÔN”
triển đô thị bắt đầu không chỉ từ một mà ở một số hạt nhân tạo thành hình thái như trong hình 2.3 Mô hình đa nhân nhiêu khi phát triển không đúng với dự kiến phát triển thương mại của vùng ngoại ô và các công ty trung tâm Mô hình đa nhân rõ ràng là mô hình mềm dẻo hon hai mô hình trên, trong một vài trường hợp các vùng trong mô hình không phải lúc nào cũng có hình dạng giống nhau hoặc sự sắp xếp không gian Mô hình đa nhân không tham gia vào việc xác định vùng CBD, mô hình đa nhân tin chắc vào việc hoạt động tìm
vùng lân cận của thành phố như vùng có mức sốnẹ thấp tiếp giáp với vùng samg trọng, và vùng có mức sống thấp tiếp giáp với khu sản xuất và khu buôn bán. Khi các phương tiện chiếm ưu thế và các vùng ngoại ô phát triển, các nhà địa lý giải mô hình nhiều thành phần lãnh thổ đô thị hoặc chức năng của vùng ngoại ô “trung tâm vùng ngoại ô ũ hoà lẫn với sự không phụ thuộc tương đối với CBD
Hình 2.3 Mô hình đa nhân của Ullman và Harris
1-Trung tâm thương m ại vùng, 2 - khu vực buôn bán và cô n g n ghiệp nhẹ, 3 - khu vực cư dân nghèo, 4 - khu vực trung lưu, 5 - khu vực thượng lưu, 6 - khu vực cô n g n ghiệp nặng, 7- khu
vực thương m ại xa trung tâm, 8 - khu vực dân cư, 9 - khu vực ngoại thành
Nhìn chung mỗi mô hình đều chú ý đến động lực phát triển của thành phố, nhưng mỗi mô hình đều nhấn mạnh tầm quan trọng của những nhân tố
mà bất kì người quan tàm đến đô thị không thể không xem xét đến:
Để tài nghiên cứu k hoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, m ã số: Q T 06.29
Chủ trì dẽ tài: NCS N guyễn An Thịnh
26
Trang 35BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÂY DỰNG MÔ HÌNH PHÂN LOẠI CÀNH QUAN ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THÔN”
- Mô hình đồng tâm nhấn mạnh đến một thực tế là sự phát triển của bất
kì vùng nào của thành phố cũng là bộ phận của một quá trình phân chia, xâm nhập hoặc kế tiếp Lý thuyết này cũng cho thấy sức mạnh của nền kinh tế trong sự phát triển của thành phố: sự phân chia không gian ở của thành phố bị tác động nặng nề của những người có tiền mua đất đai sử dụng với mục đích riêng
- Mô hình quạt đóng góp vào nhận thức tính năng động của đô thị, nhưng họ lưu ý đến những tuyến đường giao thông có ảnh hưởng mạnh mẽ đến thành phố
Trong khi các mô hình được sử dụng để mô tả cấu trúc không gian của các thành phố công nghiệp gần 20 thế kỉ qua Chúng ít hữu dụng hom trong việc miêu tả cấu trúc không gian của các thành phố ngày nay Tuy nhiên những mô hình này đóng một phần rất quan trọng trong việc phân ra các khu trong đô thị
2.1.2 M ô hình cấu trúc cảnh quan nồng thôn
Cảnh quan nông thôn ở miền núi có đặc trưng về quy mô dân số ít và mối liên hệ giữa các điểm quần cư vófi nhau chủ yếu thông qua hoạt động nông nghiệp Do chức năng nông nghiệp là cơ sở chủ yếu duy trì sự tồn tại của quần cư nông thôn nên cấu trúc quần cư của lãnh thổ thể hiện rõ tính chất phân tán trong không gian Hệ quả, chức năng nông nghiệp không chỉ chi phối hình dạng của các điểm quần cư mà còn ảnh hưởng tới cấu trúc và động thái của chúng
Theo nghiên cứu của B.B Singh (1976), cấu trúc cảnh quan nông thôn
có thể được mô hình hóa bằng một hoặc tích hợp của nhiều trong các mô hình quần cư sau đây:
- Mô hình quần cư dạng phân mảnh (Fragmented settlement)
- Mô hình quần cư dạng khối (Compact settlement)
- Mô hình quần cư dang phân tán (Scattered settlement)
- Mô hình quần cư dạng khối hỗn hợp (Composite compact settlement)
Đề tài nghiên cứu k hoa học cap Đại học Quốc gia Hà Nội, m ã số: Q T.06.29
Chủ trì dế tài: NCS N guyễn An Thịnh
27
Trang 36BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÂY DỤNG MƠ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN ĐƠ THỊ VÀ NƠNG THƠN"
(A) MỒ HỈNH QUẦN c ư NỒNG THỔN DANG PHÀN MẢNH
SECTORAL GROWTH MODEL SQCIO - FUNCTIONAL SPACE
EnTRal fragm ent outer frag IUTEft FRAG 2 [OUTER FRaG 3 ROJLTUFUL Land'
IB)MỔ HÌNH QUẦN CƯNỔNG THỔN DANG KHQI
CONCENTRIC GROWTH MODEL SOCIO - FUNCTIONAL SPACE
.OTHER OJLTl.caste ,a*tisvn$
& HẬUAN5
(C) Mổ HỈNH QUẦN CƯNỒNG THƠN DANG PHẨN TÁN
Dì MỒ HÌNH QUẦN CƯNỒNG THƠN DANG KHỐI HỎN HOP
MULTI - NUCLiE GROWTH MODEL SO CIO -FUNCTIONAL SPACE
LANOOWNea R OJLTl.CASTE,SERVICE
¿.HARUANSJAK6,eHANGI 4J5HER OF THE landowner
Iacri land
Hình 2.4 Các mơ hình vị trí trung tâm cho vùng nơng thơn của Singh ị1976)
th ể hiện quan hệ giữa vùng ngoại vi với vùng trung tâm
Đế tài nghiên cứu k hoa học cấp Đại học Qũc gia Hà Nội, m ã số: Q T 06.29
Chủ trì d ề tài: NCS N guyễn An Thịnh
28
Trang 37BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XẢY DỤNG MÔ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THÔN”
2.2 THUYẾT NHÂN T ố VÀ MÔ HÌNH PHÂN TÍCH NHÂN T ố
2.2.1 T huyết nhân tố (Factor theory)
Định đề của thuyết nhân tố là giả sử có sự tồn tại của các thuộc tính nội tại (Internal attribute) hay còn gọi là các nhân tố (factor). Thuộc tính nội tại
là những thuộc tính không thể quan trắc hay đo đạc được nhưng nó tạo ra sự khác biột giữa các đối tượng về phạm vi và mức độ Các thuộc tính nội tại biểu thị bản chất của đối tượng và các đối tượng này được thể hiện ra môi trường bên ngoài bởi một dãy các thuộc tính bê mặt (Surface attribute). Các thuộc tính bề mặt có thể quan trắc hoặc đo đạc được
Ngoài ra, còn xuất hiện một khái niệm là sai s ố độ đo (Error measurement). Sai số độ đo được coi là "nhân tố cộng" (Additional factor) có mối quan hộ với các thuộc tính bề mặt bởi chúng chính là sai số xuất hiện trong quá trình quan trắc, đo đạc các thuộc tính bề mặt Sai số độ đo không ảnh hưởng đến thuộc tính nội tại
Nhân tố được chia ra làm 2 loại: Nhân tố chung (common factor) và
nhân tố riêng (specific factor). Nhân tố chung là nhân tố có ảnh hưởng đến nhiều thuộc tính bề mặt còn nhân tố riêng chỉ ảnh hưởng đến một thuộc tính
bề mặt Ranh giới phân biệt giữa nhân tố chung và nhân tố riêng thường “mờ”,
bị ảnh hưởng khi thay đổi kích thước dãy thuộc tính bề mặt của đối tượng nghiên cứu
H ình 2.5 Mô hình phản tích nhân tố với 2 nhân tô'chính
Trong đó: F l, F2 - nhân tố chính ; y l, y2, y3, y4, y5 - những biến quan trắc ; e l, e2, e3, e4 e5 - các nhân tố cộng hay các nhân tố không tương quan với các nhân tổ' khác.
Đề tài nghiên cứu khoa học cáp Đại học Quốc gia Hà Nội, m ã số: Q T.06.29
Chủ trì dể tài: NCS N guyễn An Thịnh
29
Trang 38BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XẢY DỤNG MÔ HÌNH PHÂN LOẠI CÀNH QUAN OỒ THỊ VÀ NỒNG THÔN”
Nguyên lý trung tâm của thuyết nhân tố là nghiên cứu mối quan hệ giữa các thuộc tính bề mặt với các thuộc tính nội tại Chỉ có nhân tố chung mới biểu thị mối tương quan giữa các thuộc tính bề mạt Các thuộc tính bề mặt bị ảnh hưỏng bed một nhân tố chung thì có tương quan lớn, còn ngược lại, sự ảnh hưởng của nhiều nhân tố chung thi có tương quan nhỏ hơn Do đó để xác định nhân tố chung, trước tiên phải xác định mối tương quan giữa các thuộc tính bể mặt (thường dùng thuật toán phân tích tương quan)
2.2.2 Phân tích nhân tố (factor analysis)
Phân tích nhân tô là mô hình toán học cho phép đưa số lượng lớn chỉ tiêu quan trắc về một số các nhân tố mà chỉ bị mất mát bởi một phần những thông tin ban đầu Các nhân tố là những tổ hợp tuyến tính của các chỉ tiêu quan trắc Trên cơ sở các nhân tố này, ta có thể tính được các chỉ số tổng hợp mang thông tin khái quát mới về chất (Tikunov, 1974)
Phân tích thành phần chính (principal components analyses) và phân tích nhân tố chung (common factor analyes) thường được gọi chung là phân tích nhân tố (factor analysis) Mặc dù chúng dựa trên cơ sở các mô hình toán học khác nhau nhưng chúng có thể phân tích dựa trên cùng một nguồn dữ liệu
và cho ra những kết quả tương tự nhau Các phương pháp này thường được sử dụng trong phân tích dữ liệu để:
- Nghiên cứu mối quan hệ tương quan giữa một số lượng lớn các biến định lượng có tương quan với nhau bằng cách nhóm chúng lại thành một số ít nhân tố Sau khi nhóm các biến, thì các biến trong cùng một nhân tố có tương quan cao hơn so với các biến trong nhân tố khác
- Giải thích cho mỗi nhân tố dựa trên ý nghĩa của các biến trong nhântố
- Kĩ thuật phân tích nhân tố cho phép tính ra các điểm nhân tố tổng hợp
để có thể sử dụng làm các biến đầu vào cho quá trình phân tích tiếp theo, chẳng hạn như phân tích cụm
Đế tài nghiên cứư k hoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, mả số: Q T 06.29
Chủ tri dê tài: NCS Nguyen An Thịnh
30
Trang 39BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XÂY DỰNG MÔ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THÔN"
Mặc dù khá phức tạp nhưng phương pháp phân tích nhân tố ứng dụng trong phân loại cảnh quan đô thị có một số ưu điểm so với các phương pháp khác ở các mặt sau:
- Kết quả phân loại cho phép gộp nhóm các chỉ tiêu tác động thông qua các nhân tố chính
- Tác động của các nhân tố được định lượng hóa thông qua trọng số nhân tố, cho phép đánh giá một cách định lượng tầm quan trọng của các chỉ tiêu đặc trưng của cảnh quan đô thị
- Từ các điểm nhân tố tổng hợp rút ra trong quá trình phân tích nhân tố,
ta có thể tiến hành phân nhóm các vùng cảnh quan đô thị thông qua phép phân tích cụm
Dưới đây, chúng ta sẽ xem xét 2 mô hình toán học của phương pháp phân tích nhân tố chung và phân tích thành phần chính, từ đó hình thành các bước nghiên cứu cho đề tài
a) Phân tích nhân tố chung (common factor analysis)
Mô hình cơ bản của phép phân tích nhân tố chung được viết dưới dạng:
i=ITrong đó: Xj - là các số liệu (chỉ số) gốc
f¡ - giá trị của nhân tố thứ i ljj - là trọng số của nhân tố thứ j
k - số lượng nhân tố
ej - số dư (đại lượng ngẫu nhiên), là nguồn gốc các sai lệchGiả thiết có một tập hợp các đơn vị lãnh thổ với số lượng n. Mỗi một đơn vị lãnh thổ được đặc trưng bằng một bộ xác định gồm m chỉ số ban đầu, tiếp theo, trên cơ sở các chỉ số này sẽ thực hiện việc gộp các đơn vị lãnh thổ
Cả bộ chỉ số của một đơn vị lãnh thổ bất kỳ có thể biểu diễn như một dòng vecto m chiều (X j, x2, x3, xm), và có thể biểu diễn n đơn vị lãnh thổ với m chỉ
số dưới dạng một ma trận gồm n hàng và m cột:
Đẽ tài nghiên cửu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, m ã số: Q T 06.29
Chủ trì d ế tài: NCS Nguyễn An Thịnh
31
Trang 40BÁO CÁO ĐỂ TÀI “XẢY DỤNG Mồ HÌNH PHÂN LOẠI CẢNH QUAN Đổ THỊ VÀ NÔNG THÔN”
Ẻ (*,-X )ừ ,-> Õ r= w -
Trong đó X và y là trị trung bình số học của 2 chuỗi chỉ số đang tính tương quan, ơ x và ơ y là các độ lệch bình phương trung bình
r\2 = A 1^21 + ^12^22 + ^13^23 + ■■■ + í\Jlk
Dựa vào mô hình cơ bản của phép phân tích nhân tố, người ta thấy một
hộ số tương quan bất kỳ nào đó rjq cũng được xác định thông qua các tải trọng
ljj và phương sai các số dư Vji
'M= Ì ‘Ì * VJ
í— 1
rh = % h l«
i=lDưới dạng ma trận, cách viết đối với cả ma trận tương quan R sẽ códạng:
-32
Đế tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, mã số: QT.06.29
Chủ tri dề tài: NCS Nguyễn An Thịnh