1. Trang chủ
  2. » Kỹ Năng Mềm

Xây dựng hệ thống ký hiệu cho bản đồ du lịch ở các cấp lãnh thổ

104 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 44,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội duns bản đồ này gồm:.. - Mạng lưới bưu cục. Các bưu cục là những cơ sở bưu điện trực tiếp giao dịch với khác hàng. Các bưu cục được phân ra 3 loại: bưu cục loại một được tổ chức ở [r]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN■ ■ ■ ■

CHO BẢN ĐỔ Dư LỊCH

Ở CÁC CẤP LÃNH THỔ

ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÂP

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

MÃ SO: Q T - 0 4 - 1 8

Chủ trì đề tài: T h s Nguyễn Thị Thanh Hải

Các cán bộ tham gia: NCS.Nguyễn Thị Hàng

CN Nguyễn Thị Thu Huyền

OAI H O C Q U O C G IA HÂ i\».

! - r u n g t A m ~ h q n g t in t h ư v i ệ n

Trang 2

CN: Nguyễn Thị Thu Huyền

d Mục tiêu và nội dung nghiên cưú.

Mục tiêu nghiên cứii:

Đề tài được thực hiện nhằm xác lập cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu

và xây dựng hệ thống kí hiệu thống nhất cho bản đổ du lịch ở các cấp lãnh

Nội dung nghiên cứit của đề tài:

1 Nghiên cứu, phân tích các bản đồ du lịch đã xuất bản

2 Đánh giá hệ thống kí hiệu được dùng trên các bản đồ du lịch

3 Nghiên cứu và xây dựng hệ thống kí hiệu mới thống nhất cho các bản

3 Thử nghiệm xây dựng các bản đồ du lịch trên ba cấp lãnh thổ:

Trang 3

+ Toàn quốc

+ Cấp tỉnh, thành phố + Cấp nội thành, nội thị

Với hộ thống kí hiệu chung mới được thiết kế

4 Viết báo cáo tổng kết đề tài

e Các kết quả đạt được.

Sau khi nghiên cứu, đề tài đạt được một số kết quả sau:

1 Bản đồ du lịch là một loại bản đồ chuyên đề phục vụ cho mục đích

du lịch Trên bản đồ thể hiện các tài nguyên du lịch ( tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn), cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất, kĩ thuật, các tuyến, điểm

du lịch và các hoạt động du lịch Các bản đồ du lịch được xây dựng với những nội dung khác nhau, tuỳ thuộc vào muc đích, nhiệm vụ của các hoạt động du lịch và đặc thù địa phương

2 Bản đồ du lịch có thể là các bản đồ hiện trạng du lịch: bản đồ hiện trạng tài nguyên du lịch, bản đồ hiện trạng cơ sở hạ tầng, bản đồ hiện trạng cơ

sở vật chất kĩ thuật du lịch, bản đồ hiện trạng kinh tế du lịch Các bản đồ đánh giá du lịch bao gồm các bản đồ đánh giá tài nguyên du lịch, bản đồ đánh giá

cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch và cuối cùng là bản đồ quy hoạch du lịch

3 Thực tế cho thấy qua một số bản đồ đã xuất bản hiện nay ở Việt Nam

và trên thế giới, hệ thống kí hiệu chưa theo một chuẩn mực thống nhất, việc đó gây khó khăn cho người sản xuất và người sử dụng bản đồ, vì cùng một kiểu

kí hiệu trên bản đồ này có thể là biểu thị cho đối tượng nào đó , trên bản đồ khác lại biểu thị cho một đối tượng hoàn toàn khác và điều này đã khồng tạo thành thói quen truyền thống, dễ gây nhầm lẫn Vì vậy, nếu trong sản xuất cóquy định thống nhất về quy trình thành lập và hệ thống kí hiệu thì việc thiết kế

và biên tập sẽ nãng suất và hiệu quả hơn nhiều

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống kí hiệu cho bản đồ du lịch thực chất là đưa ra những quy định cụ thể nhằm chuẩn hoá lớp thông tin nsỏn nsữ bản đồ

Đó chính lằ đưa ra các quy định kĩ thuật về biểu thị các vếu tô nội dung của

Trang 4

bản đồ Và điều này cần có thời gian để người làm bản đổ và sử dụng bản đồ

chấp nhận những thay đổi ở một số khái niệm.

4 Bản đồ du lịch có thể xây dựng ở nhiều cấp lãnh thổ khác nhau Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài, nhóm tác giả đề xuất một hệ thống kí hiệu, mẫu chữ và thử nghiệm các mẫu này cho bản đồ du lịch theo cấp lãnh thổ: toàn quốc, một tỉnh, một trung tâm thành phố Hệ thống kí hiệu, mẫu chữ này được chuẩn hoá về hình dạng, màu sắc Còn kích thước của kí hiệu và chữ thì

sẽ được thay đổi cho phù hợp với tỉ lệ bản đồ và-lãnh thổ thể hiện,

f Tình hình kinh phí của đề tài

Kinh phí được cấp để thực hiện đề tài là 24.500.000 đồng ( hai mươi

bốn triệu năm trám nghìn đồng chẵn)

Khoa quản lí ( kí và ghi rõ họ tên)

Chủ trì đề tài (( kí và ghi rõ họ tên))

PG i Tĩ> V f ) i ? 7 f ư / u c ĩ ^

Nguyễn Thị Thanh Hải

TRƯỜNG ĐAI HOC KHOA HOC T ự NHIÊN.

OMÓ HIỆU TRUÔNG

pbsts7íỉM í m u

Trang 5

SCIENTIFIC PROJECT BRANCH: GEOGRAPHY PROJECT CATEGORY NATIONNAL LEVEL

1 Tille: Establish a system of symbols for tourist maps in regional levels

2 Code: Qt - 04 - 18

3 Managing Institution: Ha Noi National University

4 Implementing Institution: Faculty of geography, HaNoi university of sciences

5 Dữector: Master Nguyen Thi Thanh Hai

• Content and goals

Goals: The project is made to establish a system of common symbols

for tourist maps in regional levels

Contents: To consider and analyse the systems of symbols which have

been used in published tourist maps to establish a common system

ỉmpỉimentaĩions: To collect and analyse kinds of maps related to tourist

maps; to establish samples of symbols and fonts and to test them in maps in three regional levels

• Main results

After researching, the project has achieved these results:

1 Tourist maps are a kind of thematic map for tourist purposes They are established with different contents depending on the purposes and the characteristics of the local areas

Trang 6

2 There are many kinds of tourist maps but there aren’t any common systems of symbols This causes difficulties to map makers

and map users.

3 We propose a system of symbols and fonts for tourist maps in regional levels The system has been defined clearly in- shapes and colors, and the measurements will be changed to be suitable with the scale of the map and the region

Maps which have been done:

- Viet Nam tourist map 1:2500.000,

- Tourist map of Lam Dong province 1:250.000,

- Tourist map of central area of Lang Son city 1:10.000

Trang 7

NỘI DUNG BÁO CÁO

Trang 8

MỤC LỤC

M ở đầu 1

Chương 1 Giới thiệu về hệ thống bản đồ chuyên đề và bản đồ du lịch 1.1 Bản đồ học và bản đồ chuyên đ ề 4

1.2 Bản đồ du lịch 7

1.3 Nhu cầu du lịch và việc xuất bản bản đồ du lịch hiện nay 19

Chương 2 Thiết kế hệ thống ký hiệu cho bản đồ du lịch 2.1 Hệ thống ký hiệu bản đ ồ 34

2.2 Đặc điểm thiết kế ký hiệu bản đ ồ 39

2.3 Xây dựng hệ thống ký hiệu cho bản đồ du lịch 48

Chương 3 Xây dựng bản đồ du lịch ở các cấp lãnh thổ 3.1 Bản đồ du lịch Việt N a m 59

3.2 Bản đồ du lịch Lâm Đồng .66

3.3 Bản đồ trung tâm thành phố Lạng S ơn 69

Kết lu ậ n 78

Tài liệu tham khảo 80

Trang 9

MỞ ĐẦU

Trong xu thế hội nhập quốc tế, cùng với sự phát triển kinh tế và sự gia tăng về thu nhập, trình độ dân trí không ngừng được nâng cao, ngành đu lịch

đã phát triển rất nhanh, nó mang lại nhiều lợi ích không chỉ về kinh tế mà cả

về chính trị, văn hoá, xã hội , có nhiều yếu tố tạo điều kiện cho ngành du lịch phát triển và một điều không thể thiếu đối với bất kì khách du lịch nào đi đến một nơi mới, đó chính là bản đồ du lịch Bản đồ du lịch như một cồng cụ đắc lực phục vụ cho mỗi chuyến đi

Qua khảo sát cho thấy từ trước đến nay ở Việt Nam và một số nước trên

thế giới, bản đồ du lịch được làm ở nhiều dạng khác nhau, nhưng thông thường là bản đồ giấy, được in trên một mặt hoặc hai mặt, hoặc ở dạng tập giấy và có trình bày bìa Kích thước các bản đồ cũng rất khác nhau có thể là

khổ giấy Aq , nửa khổ giấy A0 hoặc nửa khổ giấy A ị

Nội dung các bản đồ du lịch này cũng rất khác nhau, tuỳ vào yêu cầu và mục đích sử dụng mà nó chứa đựng những thồng tin khác nhau Chẳng hạn như có những bản đồ chủ yếu là chỉ dẫn đường phố, có loại nặng về biểu thị các yếu tố dịch vụ du lịch bao gồm cơ quan du lịch, ngân hàng, bưu điện, nhà

ga, bến đỗ xe khách sạn, bệnh viện, các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và cũng có những bản đồ đưa ra một loại hình du lịch nào đó: thể hiện các vùng có thể thực hiện du lịch leo núi, du lịch thám hiểm dưới biển, hoặc

du lịch qua vùng địa hình hiểm trở như thác ghềnh, đầm lầy, rừng ngập mặn, rừng rậm

Ở Việt Nam, hàng năm các bản đồ du lịch được xuất bản với một lượng khá nhiêù và được phân cấp theo lãnh thổ Các bản đồ du lịch toàn quốc thường được thể hiện ở tỉ lệ : 1:3.000.000 Mới đây nhất năm 2005, lần đầu tiên Nhà xuất bản Bản đồ đã cho ra đời bản đồ Du lịch sinh thái Việt Nam tỉ lệ 1:1.000.000 chia lãnh thổ làm hai phần, in trên hai mặt Các bản đồ du lịch cấp tỉnh, thành phô' thường ít hơn và hiện tại mới chỉ có ở một vài nơi đã có

Trang 10

bản đồ: thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng, tỉnh Thừa Thiên Huế

(cũ), thành phố Hà N ộ i )•

Các bản đồ du lịch nội thành, nội thị có rất nhiều, hàng năm đều được

tái bản, có cập nhật thông tin mới Tuy nhiên, các bản đồ du lịch có thể được

các nhà xuất bản chuyên ngành làm theo đơn đặt hàng của các cồng ty du lịch

hoặc tự làm để bán, mang tính chất kinh doanh thương maị Chính vì điều này

mà các bản đồ được làm không theo một quy định chung, do vậy việc sản xuất

và sử dụng sẽ có những bất cập nhất định

Để hướng tới việc từng bước chuẩn hoá công tác biên tập và thành lập

bản đồ du lịch, chúng tôi chọn đề tài " Xây dựng hệ thống kí hiệu cho bản đồ

du lịch ở các cấp lãnh thổ”, nhằm đề xuất một hệ thống kí hiệu và mẫu chữ sẽ

được sử đụng khi làm bản đồ du lịch Đề tài cũng dùng các mẫu này khi thiết

kế và biên tập một bản đồ cấp toàn quốc, một bản đồ cấp tỉnh và một bản đồ

cho khu vực nội thành thành phố

Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài:

- Mục tiêu của đề tài là xác lập cơ sở khoa hoc cho việc nghiên cứu và xây dựng hệ thống kí hiệu thống nhất cho bản đồ du lịch ở các cấp lãnh thổ.

Nội dung của đề tài gồm:

1 Nghiên cứu, phân tích bản đồ du lịch đã xuất bản

2 Đánh giá hệ thống kí hiệu được dùng trên các bản đồ du lịch

3 Xây dựng hệ thống kí hiệu mói, thống nhất cho các bản đồ du lịch

Nhiệm vụ: để đạt được mục tiêu và thực hiện được những nội dung trên,

đề tài cần giải quyết những nhiệm vụ sau:

1 Thu thập, phân tích các loại tài liệu (nhất là các bản đồ) liên quan

đến việc đánh giá hệ thống kí hiệu trên bản đồ du lịch

2 Tiến hành thiết kế các mẫu:

+ Mầu kí hiệu

+ Mẫu chữ

Trang 11

3 Thử nghiệm hộ thống kí hiệu, mẫu chữ mới được thiết kế cho ba vùng lãnh thổ:

+ Toàn quốc + Cấp tỉnh, thành phố + Cấp nội thành, nội thị

Phương pháp nghiên cứu.

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để thực hiện đầy đủ các nội dung và đã đạt được mục tiêu nghiên cứu Trong đó chủ yếu là các phương pháp như phân tích đánh giá tài liệu, các phương pháp xử lí số liệu và đặc biệt là sử dụng một số công cụ và thiết bị hiện đại, nhất là các phần mềm phục vụ cho việc thiết kế kí hiệu và biên tập bản đồ

Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 12

Chương 1 GIỚI THIỆU VỂ HỆ THỐNG BẢN Đ ổ CHUYÊN ĐỂ

VÀ BẢN ĐỒ DU LỊCH.

1.1 BẢN ĐỔ HỌC VÀ BẢN Đ ổ CHUYÊN ĐỂ

Bản đồ học là khoa học về sự phản ánh, nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và xã hội, về sự phân bố các tính chất, các mối quan hệ lẫn nhau và sự thay đổi của những hiện tượng, các đối tượng đó theo thời gian ở dạng sản I

phẩm đặc trưng nhất là các bản đồ và các mô hình bản đồ khác (Salisev) Trong đó phổ biến nhất là các bản đồ địa lí - bản đồ các đối tượng và hiện tượng trái đất

Những nguyên tắc đặc trưng nhất của bản đồ địa lí là:

Như vậy bản đồ địa lí nói chung là biểu hiện hình ảnh khái quát của bề mặt trái đất lên mặt phảng theo một cơ sở toán học nhất định, thể hiện sự phân

bố, trạng thái, mối liên hệ và động thái của các hiện tượng tự nhiên xã hội khác nhau được lựa chọn ra và cũng được định rõ những đặc tính phù hợp với mục đích của những bản đồ cụ thể (Salisev)

Ngày nay, theo cách tư duy của công nghệ thông tin thì bản đồ nói riêng và hệ thống bản đồ nói chung là một hệ thống cơ sở dữ liệu địa lí, thể hiện sự liên kết các thông tin đa dạng từ các nguồn khác nhau để đưa ra được các giải pháp tối ưu cho các bài toán về kinh tế xã hội liên quan đến từng lãnh thổ cụ thể

Trang 13

Như vậy bản đồ được xây dựng trên những cơ sở khoa học và công nghệ chặt chẽ, bản đồ được xuất bản ra lại là một sản phẩm văn hoá Do đó cũng có

ý kiến cho rằng: Bản đồ học là nghệ thuật, khoa học và công nghệ thành ỉập bản đồ, đồng thời với việc nghiên cứu sử dụng bản đồ như những tài liệu khoa học hay những tác phẩm nghệ thuật ( Hội bản đồ thế giới)

Theo nội dung, tồn tại hai nhóm bản đồ:

+ Bản đồ địa lí chung, trong đó có các bản đồ địa hình

+ Bản đồ chuyên đề: Là những bản đồ chỉ thể hiện chi tiết và đầy đủ một hoặc một vài yếu tố trong nội dung của bản đồ địa lí tổng quát Ví dụ: thực vật, đường sá hay dân cư Các bản đồ chuyên đề phản ánh các hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội rất đa dạng như khí hậu, mật độ dân cư, kết cấu địa chất của vỏ trái đất, phân vùng kinh tế

Các bản đồ chuyên đề thể hiện cả những hiện tượng không nhìn thấy bằng mắt thường như nhiệt độ không khí, nhiệt độ nước biển ở độ sâu lớn, từ trường trái đất hoặc sự phân bố nhiệt độ trung bình trên lãnh thổ, các sự kiện lịch sử trải qua các vùng cụ thể, bản đồ các luồng không khí, bản đồ các vùng động đất

Như vậy bản đồ chuyên đề có thể hiểu là những bản đồ được thành lập cho những mục đích riêng, nội dung chính của chúng được xác định bởi chuyên đề cụ thể mà chúng thể hiện Lĩnh vực bản đồ học chuyên đề là sự tổ hợp các loại bản đồ tự nhiên và kinh tế xã hội

Bản đồ học chuyên đề có nhiệm vụ phản ánh:

+ Bản chất nội dung của hiện tượng

+ Trật tự không gian của đối tượng, hiện tượng

+ Cấu trúc các mối liên hệ, động thái và tính tương hỗ của hiện tượng.+ Kiểu dạng đối tượng, hình thức phân bố, hình ảnh không gian và tính biến động của hiện tượng

Điều kiện tự nhiên (hoặc điều kiện kinh tế xã hội của một lãnh thổ nhấtđịnh)

Trang 14

Nội dung của bản đồ chuyên đề gồm hai phần chính là nội dung cơ sở địa lí và nội dung chuyên đề.

- Nội dung cơ sở địa lí là nội dung về địa hình hoặc địa lí chung nhằm

kết nối các nội dung chuyên đề và để đinh lượng khi sử dụng bản đồ chuyên

đề Như vậy nội dung cơ sở địa lí làm cơ sở để định vị, nhận biết các yếu tố nội dung chuyên đề và mối tương quan của chúng trong không gian làm nền

để thể hiện các nội dung chuyên đề

Các yếu tố cơ sở địa lí thông thường là rihững yếu tố bắt buộc phải thể hiện trên bất kì bản đồ chuyên đề nào và thể hiện ở mức khái quát cao

Các yếu tố cơ sở địa lí quan trọng là những yếu tố có nhiều liên quan đến nội dung chuyên đề của bản đồ và có tác dụng hỗ trợ nhận biết nội dung chuyên

đề Mức độ chi tiết phụ thuộc vào yêu cầu cụ thể của bản đồ cần thành lập

Cơ sở toán học của bản đồ chuyên đề có thể hiểu đó là dãy tỉ lệ, lưới chiếu và bố cục bản đồ Thông thường dãy tỉ lộ bản đồ chuyên đề trong một quốc gia cần phù hợp hoàn toàn với dãy tỉ lệ các bản đồ địa hình cơ bản nhà nước ( là tỉ lệ từ 1:250 000 cho đến các tỉ lệ lớn hơn) hoặc gần về với các tỉ lệ

đó để dễ sử đụng Còn lưới chiếu được lựa chọn cho phù hợp với nội dung và mục đích sử dụng bản đồ, với đặc điểm địa lí lãnh thổ

Bố cục bản đồ được xác định bởi các ranh giới của lãnh thổ cần lập bản

đồ, sắp xếp vị trí của nó so với khung bản đồ, kích thước bản đồ, bản chú giải

và các yêu cầu khác Việc định hướng bản đồ theo hướng Bắc Nam là quy định chung nhưng trong thực tế, do muốn tãng tỉ lệ bản đồ hoặc muốn bố trí lãnh thổ cần lập bản đồ trong khổ giấy thì cho phép xoay lãnh thổ sang chiều không cùng hướng Bấc Nam với khung bản đồ

- Nội dung của bản đồ được thể hiện thông qua hệ thống kí hiệu bản đồ

- đó là ngốn ngữ bản đồ Kí hiệu bản đồ đó là những hình vẽ đồ hoạ có hình dạng, kích thước, cấu trúc, màu sắc khác nhau Mỗi kí hiệu phải đại diện cho một khái niệm ( một đối tượng, một hiện tượng) nào đó và khi nhìn vào kí

Trang 15

hiệu, người ta dễ dàng hiểu được đặc điểm chủ đạo hoặc gợi ra hình dáng của đối tượng mà nó đại diện.

Nội dung của bản đồ phải được khái quát hoá, " đó là sự lựa chọn, phân loại, đơn giản hoá và kí hiệu hoá" [3] Có nghĩa là trên bản đồ sẽ đưa ra những cái điển hình, đặc trưng lãnh thổ, sắp xếp các đối tượng thành những nhóm có những nét giống nhau ( đồng nhất) Các nhân tố ảnh hưởng đến việc khái quát hoá, đó chính là mục đích sử dụng bản đồ, đề tài của bản đồ, tỉ lệ bản đồ, đặc điểm lãnh thổ và nguồn tài liệu làm bản đồ

Về bản đồ chuyên đề thì có nhiều cách để phân loại, nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất hoàn toàn Thông thường việc phân loại được đặt trên các nguyên tắc phù hợp với khoa học địa lí và các khoa học về trái đất: bao gồm nhóm bản đồ các hiện tượng tự nhiên và nhóm bản đồ kinh tế xã hội trong đó có các bản đồ kĩ thuật mang nặng tính chất chuyên dụng với các yêu cầu mà người sử dụng cần có (độ chính xác, tỉ lệ, phép chiểu phù hợp, không gian và đề tài ) Cũng có ý kiến đề xuất, phân loại bản đồ thành hai nhóm lớn là các bản đồ định tính và các bản đồ định lượng Theo Salisev (nhà bản

Các bản đồ hiện tượng tự nhiên

Các bản đồ hiện tượng xã hội

Tuỳ thuộc vào mục đích, nhiệm vụ của các hoạt động du lịch và đặc thù địa phương, người ta có thể tiến hành xây dựng những loại bản đổ du lịch khác nhau

Trang 16

Căn cứ theo nội dung, bản đồ du lịch bao gồm:

- Các bản đồ tài nguyên du lịch, trong đó có các bản đồ tài nguyên du lịch tự nhiên và các bản đồ tài nguyên du lịch nhân văn

- Các bản đồ về cơ sở hạ tầng du lịch

- Các bản đồ cơ sở vật chất kĩ thuật cho du lịch

- Bản đồ các luồng khách du lịch

- Bản đồ kinh tế du lịch

Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ, các bản đồ du lịch gồm có:

- Các bản đồ hiện trạng du lịch: bản đồ hiện trạng tài nguyên du lịch (hiện trạng tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn), bản đồ hiện trạng cơ sở

hạ tầng, bản đồ hiện trạng cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch và bản đồ hiện trạng kinh tế du lịch

- Các bản đồ đánh giá du lịch bao gồm: bản đồ đánh giá tài nguyên du lịch, bản đồ đánh giá cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch

- Các bản đồ quy hoạch du lịch

1.2.2 Các bản đồ du lịch

- Bản đồ vị trí địa lí du lịch

Bản đồ này thuộc nhóm các bản đồ tài nguyên du lịch, nằm xác định rõ

vị trí của ngành du lịch trên lãnh thổ, trong bối cảnh chung của toàn quốc và toàn vùng Trước hết bản đồ phải thể hiện được vị trí không gian của lãnh thổ trong hệ thống cấp cao hơn Nét nổi bật của bản đồ vị trí địa lí du lịch là phải chỉ rõ được mối quan hệ giữa các hoạt động du lịch của lãnh thổ với các hệ thống cao hơn Quan hệ này thể hiện ở hai chiều: thứ nhất là ảnh hưởng của cả vùng đến lãnh thổ làm bản đồ và thứ hai là vai trò của lãnh thổ đối với sự phát triển du lịch của cả vùng

Nội dung của bản đồ có thể bao gồm các yếu tố: ranh giới hành chính (quốc gia, tỉnh, huyện, xã ), mạng lưới thuỷ hệ của khu vực (sông ngòi, hồ, đập ), mạng lưới dao thông (quốc lộ, tỉnh lộ, đường sắt ), các đỏ thị, các điểm du lịch trong vùng, các khu vực đã và sẽ được ưu tiên phát triển du lịch,

Trang 17

các sân bay, bến cảng - đặc biệt sân bay, bến cảng quốc tế, các luồng khách

du lịch - đặc biệt quan tâm tới các luồng khách đi qua địa bàn lãnh thổ bằng đường bộ, đường thuỷ Bên cạnh các nội dung trên, có thể đưa thêm lên bản

đồ một số chỉ tiêu so sánh như: số khách du lịch của lãnh thổ so với cả nước, GDP của ngành du lịch

Để thực hiện những nội dung trên, người ta có thể sử dụng các phương pháp chính như: phương pháp kí hiệu, phương pháp đường chuyển động, kí hiệu tuyến và phương pháp nền chất lượng

- Các bản đồ tài nguyên du lịch tự nhiên:

Các bản đồ này nhằm thể hiện tất cả các dạng tài nguyên du lịch như: tài nguyên khí hậu, địa hình, tài nguyên nước, tài nguyên thực động vật, tài nguyên đất kể cả các bản đồ về các nguy cơ tai biến tự nhiên Các bản đồ này có thể được xây dựng một cách tổng hợp, thể hiện tất cả các dạng tài nguyên du lịch tự nhiên của một lãnh thổ, hoặc cũng có thể là các bản đồ về từng loại tài nguyên du lịch tự nhiên

+ Bản đổ tài nguyên khí hậu:

Đối với các hoạt động du lịch, nhất là các hoạt động du lịch ngoài trời thì khí hậu là một thành phần quan trọng của môi trường tự nhiên, quyết định thời vụ hoạt động du lịch Khí hậu là một trong những yếu tố tạo nên sức hút đối với khách du lịch của khu vực

Ở nước ta, vị trí địa lí và đặc điểm địa hình tạo ra sự không đồng nhất

về khí hậu (khí hậu có sự phân hoá từ Bắc vào Nam, từ đồng bằng lên miền núi ), chính điều đó góp phần làm phong phú thêm sản phẩm du lịch của Việt Nam

Bản đồ tài nguyên khí hậu nhằm thể hiện mức độ thuận lợi của khí hậu đối với các hoạt động du lịch, bao gồm những nội dung chính như: nhiệt độ không khí và độ ẩm, số giờ nắng, gió, mưa, các hiện tượng thời tiết v.v Nhiệt

độ không khí và độ ẩm là những nhân tố quan trọng để tính toán chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người, làm cơ sở để đánh giá mức độ thuận lợi cho

Trang 18

các hoạt động du lịch Số giờ nắng trung bình trong ngày là chỉ tiêu đặc biệt

quan trọng khi quy hoạch du lịch vùng ven biển hay khu vực có mặt nước

rộng, nhằm phát triển các loại hình du lịch có liên quan đến nước (tắm biển,

bơi lội, thể thao lướt ván ) Hoạt động của gió như vận tốc (m/s) và hướng

gió cũng là những chỉ tiêu cần thiết cho các khu vực ven biển, ven hồ - nơi

có thể phát triển các loại hình hoạt động trên mặt nước Ngày có mưa và thời

kì mùa mưa thường làm cho các hoạt động du lịch ngoài trời bị gián đoạn Bản

đồ thể hiện các thời kì bắt đầu và kết thúc mùa mưa sẽ giúp các nhà quy hoạch

tạo ra các sản phẩm du lịch phù hợp với thời tiết và khí hậu của khu vực Các

hiện tượng thời tiết bất thường hay đặc trưng như bão, gió nóng (gió Lào), gió

mùa Đông bắc, lốc là những hiện tượng không có lợi cho các hoat động du

lịch, cũng được thể hiện trên bản đồ

+ Bản đồ đặc điểm hình thái địa hình:

Đối với hoạt động du lịch, các dạng địa hình có ý nghĩa tạo nền Một số

kiểu địa hình đặc biệt và các di tích tự nhiên có giá trị phục vụ cho nhiều loại

hình du lịch Với mục đích du lịch, địa hình thường được chú ý bỏi những đặc

điểm hình thái - đó là những dấu hiệu bên ngoài của địa hình, cũng như một

số dạng địa hình đặc biệt có sức hấp dẫn khách du lịch hoặc có khả năng khai

thác để phục vụ mục đích phát triển du lịch Vì thế, nội dung bản đồ thường

đề cập tói những đơn vị hình thái cơ bản như vùng đồi, núi, đồng bằng và các

yếu tố địa hình đặc biệt khác

- Địa hình miền núi thường có nhiều ưu thế hơn đối với hoạt động du lịch vì có sự kết hợp của nhiều dạng địa hình, vừa thể hiện được vẻ đẹp hùng

vĩ và thơ mộng của thiên nhiên vừa có khí hậu mát mẻ, không khí trong lành

Miền núi có nhiều đổi tượng cho hoạt động du lịch, đó là các con sông suối,

thác nước, hang động, rừng cây với thế giới sinh vật tự nhiên phong phú

ở nước ta, địa hình được khai thác như một tài nguyên du lịch tự nhiên

quan trọng, thường gồm những dạng và kiểu đặc biệt sau:

+ Các vùng núi có phong cảnh đẹp

Trang 19

+ Các hang động.

- Các vùng đồi và đồng bằng cũng có nhiều dạng địa hình đặc sắc, có sức hấp dẫn đối với khách du lịch, cần được đặc biệt chú ý đưa lên bản đồ: các giống cát cổ, các cồn cát, các kiểu địa hình đặc trưng ở đồng bằng như các vùng lầy thụt, tàn dư của đầm lầy cũ , các địa hình nhân tạo như hệ thống đê điều Địa hình đồng bằng cho phép tạo ra những sản phẩm du lịch phù hợp với các loại địa hình du lịch thôn dã, miệt vườn hay du lịch xanh Các vùng đồi thường có không gian thoáng đãng, rộng rãi, dễ tổ chức các loại hình du lịch đã ngoại, cắm trại phù hợp với các đối tượng là thanh, thiếu niên

- Địa hình bờ biển Việt Nam với các bãi biển, thu hút nhiều khách du lịch, đặc biệt là những bãi biển phẳng, cát mịn Vì thế, các bãi biển thường được thể hiện chi tiết trên những bản đồ du lịch tỉ lệ lớn Đó là địa hình bờ ngầm (độ mịn của vật chất đáy, độ dốc của đáy, độ rộng của dải ven bờ ), địa hình bãi biển (vật chất bề mặt, độ mịn, độ sạch, độ rộng, độ thoải .), địa hình bãi sau (các cảnh quan, thực vật), nước biển (nhiệt độ nước, chế độ thuỷ triều, dòng biển .) và cả những nguy cơ xuất hiện như cá dữ, xoáy nước

Về phương pháp thể hiện, trên các bản đồ này người ta thường sử dụng phương pháp nền chất lượng (các đơn vị hình thái), phương pháp kí hiệu (cho các yếu tố địa hình cụ thể: hang động, bãi biển ) và phương pháp kí hiệu tuyến

+ Bản đồ tài nguyên nước:

Các tài nguyên nước được chú ý nhiều trong du lịch là tài nguyên nước mặt, tài nguyên nước ngầm và tài nguyên nước khoáng

Các bản đồ mạng lưới thuỷ văn thường phản ánh đầy đủ về tình hình tài nguyên nước mặt của khu vực, chủ yếu là mạng lưới sông ngòi, hồ ao, chế độ hoạt động của sông suối Sự hiện diện của các mặt nước rộng, đặc biệt là các khu vực đã, đang hay sẽ tổ chức khai thác vào mục đích du lịch, thể thao như lướt ván, bơi lội tắm nắng Cụ thể, những chỉ tiêu cần đề cập là: môđun dòng chảy trung bình nhiều năm, môdun dòng chảy kiệt, dòng chảy lũ, vận tốc dòng chảy, chất lượng nước Đối với du lịch người ta đặc biệt chú ý tới khả

Trang 20

năng cung cấp nước sinh hoạt, điều đó liên quan chủ yếu tới tài nguyên nước ngầm Tuỳ từng khu vực cụ thể và thời gian cụ thể trong năm mà lưu lượng, chất lượng, độ sâu của nguồn nước ngầm cần đưa lên bản đồ là: độ sâu tầng trữ, vết lộ nước ngầm, chất lượng nước, mực nước

Tài nguyên nước khoáng cũng được đặc biệt chú ý trong du lịch Nước khoáng là nước thiên nhiên, có chứa một số thành phần vật chất đặc biệt như các nguyên tố hoá học, các chất khí, các nguyên tố phóng xạ hoặc có một số tính chất vật lí có tác dụng sinh lí đối với con người Trong du lịch, ý nghĩa chữa bệnh của nước khoáng được quan tâm nhiều hơn cả Vì thế, trong bản chú giải nên phân loại nước khoáng theo thành phần hoá học và mục đích chữa bệnh như: nhóm nước khoáng cacbonic, nhóm nước khoáng silic, nhóm nước khoáng brôm - iôt - bo, nhóm nước khoáng sunfua hydro, nhóm nước khoáng sắt - fluo - liti, nhóm nước khoáng phóng xạ, nhóm nước khoáng chữa bộnh nhờ hàm lượng muối và ion

Ngoài thành phần khoáng hoá, người ta còn phân loại nước khoáng theo nhiệt độ Đa số các nhà nghỉ, an dưỡng, trung tâm chữa bệnh được quy hoạch cạnh các điểm có nước khoáng nóng Một chỉ tiêu định lượng quan trọng của nước khoáng là độ khoáng hoá, tính bằng g/1

Để thể hiện các nội dung về nước ngầm và nước khoáng người ta thường dùng phương pháp vùng phân bố, phương pháp kí hiệu

+ Bản đồ tài nguyên thực, động vật:

Tài nguyên sinh vật có giá trị tạo nên phong cảnh, làm cho thiên nhiên đẹp và sinh động hơn Tài nguyên sinh vật rất có ý nghĩa đối với một số loại hình du lịch như du lịch sinh thái, tham quan, nghiên cứu khoa học Sự đa dạng của sinh vật, sự có mặt của một số loài quý hiếm, đặc hữu nhiều khi là căn cứ quan trọng để đề xuất những sản phẩm du lịch hấp dẫn

Với mục đích phục vụ du lịch, tài nsuyèn thực, động vật cần được thể hiện trên bản đồ theo những nội dung sau:

Trang 21

- Các vườn quốc gia, các khu vực bảo tồn thiên nhiên và các khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, môi trường.

- Một số hộ sinh thái đặc biệt.

- Các điểm tham quan sinh vật như các vườn thú, vườn bách thảo, các công viên vui chơi, giải trí, viện bảo tàng sinh vật, các sân chim, vườn chim, vườn hoa trái, các trại nuôi động vật

Phương pháp thể hiện các nội dung trên thường được áp dụng là phương pháp vùng phân bố, phương pháp kí hiệu

+ Bản đồ các nguy cơ tai biến tự nhiên:

Đây là loại bản đồ có tác dụng chỉ ra những vùng bất lợi cho các hoạt động du lịch, để tránh bố trí các hoạt động du lịch ở những khu vực có nguy

cơ tai biến thiên nhiên Trên bản đồ này cần đề cập tới những nơi có nguy cơ trượt lở đất (thời gian thường xảy ra, nguồn gốc và kiểu trượt lở, khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp), những hiện tượng thòi tiết cực đoan (gió Lào, lốc, dông, bão, mưa đá ), những hiện tượng địa chất - động đất và núi lửa, những hiện tượng hải văn (thuỷ triều, sóng thần, lũ lụt miền n ú i ), nhừng động vật nguy

hiểm, khu vực có cá dữ ở biển, sông, hồ, những vùng có ổ bệnh truyền nhiễm

dễ lây lan Phương pháp để thể hiện thường được sử dụng là vùng phân bố,

kí hiệu và đường đẳng trị

- Các bản đồ tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn là nhóm tài nguyên du lịch có nguồn gốc nhân tạo do con người sáng tạo ra Toàn bộ những sản phẩm có giá trị về vật chất cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra đều được coi là những sản phẩm văn hoá Tuy nhiên chỉ những sản phẩm văn hoá nào có giá trị phục vụ

du lịch mới được coi là tài nguyên du lịch nhân văn Các tài nguyên du lịch nhân vãn đều mang tính phổ biến, tập trung, dễ tiếp cận; chúng mang tính truyền đạt nhận thức nhiều hơn tính hưởng thụ, giải trí

Trang 22

Xét về mặt nội đung, các bản đồ tài nguyên du lịch nhân văn có thể chia thành: bản đồ di tích lịch sử - văn hoá, bản đồ các lễ hội, bản đồ các làng

nghề, bản đồ các công trình kiến trúc tiêu biểu.

+ Bản đồ các di tích lịch sử - văn hoá

Các di tích lịch sử - văn hoá là những công trình xây dựng bao gồm địa điểm, đồ vật, tài liệu, các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật hoặc liên quan đến sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hoá - xã hội; và được coi là một trong những nguồn tài nguyên du lịch quan trọng Các di tích lịch sử - vãn hoá được thể hiện trên bản đồ bao gồm: các di sản văn hoá thế giới, các di tích lịch sử văn hoá, thắng cảnh cấp quốc gia và địa phương

Các di sản văn hoá là kết tinh cao nhất của những sáng tạo văn hoá của một dân tộc Các nước có được những di sản vãn hoá thế giới, không chỉ là vinh dự lớn mà còn là nguồn tài nguyên vô giá, có sức hút cao với khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế Nhóm di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia và địa phương bao gồm các di tích khảo cổ học, các di tích lịch sử, các di tích văn hoá nghệ thuật và các danh lam thắng cảnh

Vói từng di tích lịch sử - văn hoá trên bản đồ, cần biểu hiện được nhũng thông tin về vị trí của di tích, di tích đã được xếp hạng hay chưa, hiện trạng của di tích, những

di tích có khả năng quy hoạch thành điểm du lịch Các phương pháp thể hiện lên bản

là phương pháp nền đồ giải, phương pháp kí hiệu

+ Bản đồ lễ hội và văn hoá truyền thống:

Trong các dạng tài nguyên nhân văn, lễ hội truyền thống là tài nguyên

có giá trị phục vụ du lịch rất lớn Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá đặc sắc, phản ánh đời sống tâm linh của mỗi dân tộc Lễ hội là hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả, là dịp để mọi người hướng về những sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, hoặc liên quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân, hoặc là những hoạt động có tính chất vui chơi, giải trí Vì thế, lễ hội có tính hấp dẫn cao đối với du khách

Trang 23

Nội dung lễ hội rất phong phú và đa dạng nhưng bất cứ lễ hội nào cũng

có hai phần chính: phần lễ (hay còn gọi là phần nghi lễ) và phần hội là phần

có tổ chức những trò chơi, thi đấu, biểu diễn

Đa số các lễ hội có gắn với một địa danh cụ thể mang đậm màu sắc địa phương, nên trên bản đồ thường có kèm phần chỉ dẫn về các địa điểm lễ hội ở bản thuyết minh Phương pháp thể hiện chủ yếu trên bản đồ lễ hội và văn hoá truyền thống là phương pháp kí hiệu (vừa xác định vị trí của các di tích vừa thể hiện sự phân loại các di tích) và phương pháp vùng phân bố thể hiện các vùng văn hoá

+ Bản đồ các làng nghề thủ công truyền thống:

Nghề thủ công truyền thống cũng là loại tài nguyên du lịch nhân văn quan trọng và có sức hấp dẫn lớn đối với du khách Các làng nghề thủ công truyền thống với những sản phẩm độc đáo không chỉ thể hiện sự khéo léo của người lao động mà còn thể hiện những tư duy triết học, những tâm tư tình cảm của con người Đó là một trong những đặc tính của nền văn hoá và là sức hấp dản của các nghề và làng nghề thủ công truyền thống

Trên bản đồ phải thể hiện được sự phân bố các làng nghề với các nghề tiêu biểu Phươns pháp thể hiện chủ yếu là phương pháp kí hiệu

- Các bản đồ cơ sở hạ tầng du lịch

Đối với quy hoạch du lịch một địa phương (cấp tỉnh) những yếu tố của

cơ sở hạ tầng phải được điều tra và thể hiện lên trên bản đồ là: mạng lưới giao thông vận tải hành khách, điện, cấp thoát nước và thông tin liên lạc

+ Bản đổ giao thông vận tải hành khách:

Hiện nay, Việt Nam có các loại phương tiện vận tải công cộng đường dài là: hàng không, đường bộ, đường sắt và đường thuỷ

Những thông tin về vận tải hàng không cần đưa lên bản đồ là: các tuyến bay quốc tế, các tuyến bay trong nước và vị trí các sân bay Mỗi tuyến bay được thể hiện trên bản đồ bằng phương pháp kí hiệu đường chuyển động có

Trang 24

ghi ngày và chuyến bay, số lượng hành khách thực tế, số lượng hành khách có

khả năng phục vụ

Đối với đường bộ, cần thể hiện trên bản đồ những tuyến đường liên lạc với các tỉnh ngoài Tại các cửa vào này sẽ thể hiện lưu lượng xe hiện tại và khả năng thông xe kĩ thuật, mạng lưới đường ô tô được phân cấp theo hai chỉ tiêu chính là chất lượng lớp phủ bề mặt và độ rộng của mặt đường Phương pháp thể hiện chất lượng mặt đường là phương pháp kí hiệu tuyến phân màu, các chỉ tiêu kĩ thuật được biểu hiện bằng chữ ghi Những cổng trình kĩ thuật thuộc đường

ô tô dễ gây cản trở như phà, đò, cầu phao cũng được biểu hiện đầy đủ, ngoài ra là các bến xe khách, các tuyến xe khách và số lượng chuyến theo tuyến

Khác với các bản đồ mạng lưới giao thông chung, bản đồ giao thông phục vụ du lịch nhất thiết phải thể hiện một cách chi tiết các tuyến giao thông đến những điểm du lịch đang hoạt động hoặc đang tiềm tàng Bên cạnh đường

ô tô, đường sắt là phương tiện đi lại rẻ tiền, thuận tiện được nhiều khách ưa chuộng Trên bản đồ đặc biệt chú ý thể hiện các ga (ga tránh, ga dọc đường ) Phương pháp thể hiện các nội dung của giao thông đường sắt là kí hiệu tuyến,

kí hiệu chừ, kí hiệu chuyển động

Ở một số địa phương đường sông là loại hình vận chuyển đặc trưng của ngành du lịch (sông Hương, suối Yến - chùa Hương, Tam Cốc - Ninh Bình )

Mạng lưới giao thông đường biển cũng rất quan trọng, các tỉnh ven biển

có thể mở ra loại hình du lịch tàu biển Trên bản đồ cần chú ý tới những thông tin về vị trí các cảng, bến tàu, các tuyến đang khai thác và các tuyến có khả năng khai thác

+ Bản đổ mạng lưới thông tin liên lạc:

Đảm bảo mạng lưới thông tin liên lạc là một trong những yêu cầu bức bách của ngành du lịch và góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch Vì thế các bản đồ thône tin liên lạc rất có ý nghĩa trong du lịch

Nội duns bản đồ này gồm:

Trang 25

- Mạng lưới bưu cục Các bưu cục là những cơ sở bưu điện trực tiếp giao dịch với khác hàng Các bưu cục được phân ra 3 loại: bưu cục loại một được tổ chức ở các tỉnh lị, thành phố; bưu cục loại hai được tổ chức ở các huyện lị thị trấn, thị xã; bưu cục loại ba được tổ chức trong phạm vi các thành phố, thị xã

và nông thôn Vị trí các bưu cục nằm gần các trung tâm, các điểm du lịch sẽ tạo thuận lợi cho khách đu lịch sử dụng các dịch vụ bưu chính như gửi mail, gọi điện, gửi bưu kiện

- Mạng điện thoại gồm 2 loại: mạng trong nước và quốc tế Cần thể hiện được mức độ đảm bảo máy điện thoại công cộng, máy của cơ quan và của nhân dân trong địa bản, khả năng phục vụ của các tổng đài

- Bản đồ cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch:

Cơ sở vật chất kĩ thuật của ngành bao gồm: các cơ sở lưu trú như nhà trọ, nhà nghỉ, khách sạn , các cơ sở nhà hàng như nhà hàng ăn uống, các quan bar, cà phê, cửa hàng đặc sản, cửa hàng đồ lưu niệm và các cơ sở vui chơi giải trí như dancing, night - club, rạp hát, sân thể thao, bể bơi, các khu vui chơi giải trí khác

Các cơ sở lưu trú được thể hiện chủ yếu theo số phòng khách, trong đó

có đề cập đến giá cả từng loại phòng, các loại dịch vụ như tắm hơi, mát xa, xông hơi, hoặc là các loại hình giải trí như sòng bạc, bể bơi, sân ten nic Các

cơ sở nhà hàng nói chung rất phong phú, không thể điều tra thống kê được nên chỉ tập trung thể hiện các cơ sở phục vụ lớn, nổi tiếng và những nhà hàng ăn uống, cửa hàng đặc sản, tiệm cà phê nổi tiếng trong khu vực Cơ sở vật chất kĩ thuật của ngành du lịch được thể hiện một cách chi tiết bằng phương pháp kí hiệu

Trang 26

du lịch nào đó) Trong nhiều trường hợp, cũng cần thể hiện trên bản đồ các cơ

sở lưu trú hay dự báo thị trường khách du lịch Phương pháp thể hiện là phương pháp biểu đồ bản đồ, thể hiện cả cơ cấu và số lượng khách du lịch

- Bản đồ kinh tế du lịch:

Thực trạng hoạt động kinh tế của ngành du lịch là một nội dung quan trọng cần được đưa lên bản đồ Nội dung chính của bản đồ này là số lao động

và doanh thu của ngành Lao động hoạt động trong ngành du lịch được phân

ra làm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp, lao động có chuyên môn và không có chuyên môn, lao động thường xuyên và lao động thời vụ Doanh thu của các đơn vị cơ sở được tổng hợp theo từng khối nghiệp vụ: doanh thu từ dịch vụ thuê phòng, dịch vụ ăn uống, dịch vụ tham quan và từ các dịch vụ khác Qua các chỉ tiêu về lao động và doanh thu có thể xác lạp được chỉ tiêu

về hiệu quả lao động Phương pháp thể hiện có thể là phương pháp biểu đồ bản đồ hoặc phương pháp kí hiệu

- Các bản đồ đánh giá:

Việc đánh giá các điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch và những thành phần khác của tổng thể lãnh thổ du lịch là một việc làm rất phức tạp Đối tượng đánh giá (tài nguyên, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội) được coi là khách thể và chủ thể là mục đích đánh giá Mục đích đánh giá trong quy hoạch du lịch là nhằm xác định các loại hình du lịch thích hợp nhất để tổ chức khai thác có hiệu quả tài nguyên trong khu vực Nội dung của bản đồ đánh giá phụ thuộc vào quan điểm và các phương pháp mà các chuyên gia sử dụng khi đánh giá, vì thế chỉ tiêu đánh giá hoàn toàn phụ thuộc vào mục đích Thông thường việc đánh giá phải bao trùm 3 khía cạnh: tự nhiên, kinh tế và kĩ thuật

Các bản đồ đánh giá có thể gồm: bản đồ đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên, bản đồ đánh 2Ĩá tài nguyên du lịch nhân văn, bản đồ đánh giá cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch Mỗi thể loại bản đồ có nội dung và phương pháp thể hiện khác nhau Thí dụ: việc đánh giá điều kiện tự nhiên để phục vụ mục đích quy hoạch phát triển du lịch phải căn cứ vào các yếu tố: độ

Trang 27

hấp dẫn, thời gian hoạt động du lịch, mật độ tập trung tài nguyên du lịch và vị

trí điểm du lịch Đối với bản đồ đánh giá tài nguyên di tích lịch sử - văn hoá

theo lãnh thổ, các chỉ tiêu đánh giá là: mật độ di tích, số lượng di tích được

xếp hạng

1.3 NHU CẨU DU LỊCH VÀ VIỆC XUẤT BẢN BẢN Đ ổ DU LỊCH HIỆN NAY Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THÊ GIỚI.

1.3.1 Nhu cầu du lịch.

Ở các nước phát triển, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu

trong đời sống xã hội, đây là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá chất

lượng cuộc sống Sự phát triển kinh tế, sự gia tăng thu nhập, sự hoà nhập trong

các mối quan hệ quốc tế và sự xích lại gần nhau giữa các nước trên thế giới,

cùng với trình độ dân trí không ngừng được nâng cao đã làm cho nghành du

lịch phát triển rất nhanh Du lịch đã trở thành một ngành thuộc lĩnh vực dịch

vụ mang lại nhiều lợi ích cho mỗi quốc gia hoặc mỗi khu vực

Để cho nghành du lịch phát triển thì cần có những điều kiện nhất định:

- Đối tượng khách trong và ngoài nước Lượng khách nước ngoài phụ

thuộc vào nhiều khả năng thương mại, trình độ giao tiếp quốc tế và địa lý,

thiên nhiên của mỗi nước Lượng khách trong nước phụ thuộc vào mức sống

và trình độ văn hoá

- Thời gian nhàn rỗi của con người phần lớn các cuộc hành trình du lịch

(thăm quan, nghỉ dưỡng .) đều được thực hiện trong thời gian nhàn rỗi của

con người (ngày nshỉ cuối tuần, nghỉ phép trong năm, thời gian rỗi khi thực

hiện công việc ) nhằm thực hiện các cuộc hành trình du lịch

- Điều kiện vật chất- du lịch là nhu cầu thứ hai của con người Khi mức

sống của con nsười được nâng cao, nhất là ở các nước kinh tế phát triển, du

lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được của nhân dân

-Trình độ văn hoá của con người phần lớn những người tham gia vào

cuộc hành trình du lịch là những người có trình độ văn hoá nhất định Họ luôn

Trang 28

có nguyện vọng tìm hiểu về thế giới xung quanh, mở rộng giao lưu, tăng cường sự hiểu biết của các dân tộc,

Điều kiện chính trị hoà bình và ổn định

- Cơ sở hạ tầng, nhất là cơ sở hạ tầng tính liên ngành như giao thông vận tải, thông tin hiện đại

Để phát triển hoạt động kinh doanh du lịch cần có:

- Tiềm năng du lịch: bao gồm các yếu tộ như địa hình, điều kiện thiên

nhiên, khí hậu, các di tích lịch sử, các công trình văn hoá kiến trúc Tiềm năng

du lịch là điều kiện cơ bản để xây dựng các chương trình du lịch thu hút khách (tham quan theo tuyến, nghĩ dưỡng, chữa bệnh ) và để tổ chức các phương thức kinh doanh đa dạng Họ tới đó để tìm hiểu quá trình phát triển lịch sử của con người, của dân tộc Căn cứ vào đó các nhà kinh doanh du lịch tổ chức chương trình du lịch tham quan tìm hiểu để phục vụ các đối tượng khách Loại hình du lịch này là một trong những phương tiện quan trọng nhằm giáo dục truyền thống dân tộc, lòng yêu nước, truyền thống tự hào và biết ơn đối với các thế hệ trước cho nhân dân

- Các công trình văn hoá như viện bảo tàng, khu triễn lãm, thư viện, nhà văn hoá là một tron2 những điểm để xây dựng chương trình du lịch phục vụ khách có trình độ ván hoá cao và sở thích đa dạng Cùng với các điều kiện tự nhiên, các công trình này góp phần quan trọng vào việc nâng cao sức hấp dẫn đối với khách của một địa phương hoặc một điểm du lịch

-Các thành tựu kinh tế của địa phương và khả năng phục vụ khách là một điều kiện quyết định cho việc kinh doanh du lịch có hiệu quả: hệ thống giao thông vận tải tốt, các ngành nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, nông nghiệp thực phẩm phát triển Mặt khác các cơ sở kinh tế cũng là một điểm có sức hấp dẫn cao đối với khách du lịch Họ đến để tham quan học hỏi, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh đồng thời mở rộng mối giao lưu kinh tế, thương mại thông qua việc liên doanh liên kết

Trang 29

- Các ngày lễ hội, các sự kiện đặc biệt trong việc phát triển du lịch, các nhà kinh doanh đã tận dụng các ngày lễ hội của địa phương để tuyên truyền

quảng cáo, thu hút khách

Ngoài các tiềm năng du lịch cơ bản nêu trên điều kiện cần thiết để phát

triển du lịch đó là sự đón tiếp và phục vụ khách Điều kiện này bao gồm: hệ

thống giao thông vận chuyển ngành, cơ sở vật chất kỹ thuật chuyền ngành,

trình độ nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên

Cơ sở vật chất kĩ thuật chuyên ngành bao gồm tất cả trang thiết bị

phương tiện cần thiết để đón tiếp và sắp đặt nơi lưu trú cho khách trong thời

gian tham quan du lịch Đó là các cơ sở phục vụ lưu trú, phục vụ ăn uống,

phục vụ vui chơi giải trí và các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, mạng lưói cửa

hàng, siêu thị, các trang thiết bị thông tin, hệ thống cấp thoát nước, điện

Nhân viên nghiệp vụ có trình độ chuyên môn cao và có ngoại ngữ

Đặc biệt thủ tục xuất nhập cảnh và kiểm soát cũng là yếu tố kích thích

hoặc cản trở sự phát triển của du lịch

Cơ sở vật chất - kỹ thuật của du lịch là toàn bộ những phương tiện vật

chất tham gia vào việc hình thành khả năng của sản phẩm du lịch (bao gồm

các dịch vụ du lịch, các tiện nghi du lịch và các hàng hoá phục vụ xuất khẩu

tại chỗ và tiêu dùng nội địa)

Cơ sở vật chất kĩ thuật của du lịch bao gồm: các công trình sử dụng cho

nghỉ trọ và ăn uống (khách sạn, quán ăn, quán giải khát ); các phương tiện và

cơ sở phục vụ giải trí, đường bộ, đường sông, đường thuỷ, đường không,.,.), những trang bị liên quan đến việc khai thác các nguồn thiên nhiên (vùng núis bãi biển, mặt nước, sông hồ, các di tích lịch sử, các cảnh đẹp tự nhiên, khí hậu, ánh nắng ) Các khu nhà, máy móc trang bị phục vụ chữa bệnh và nâng cao sức khoẻ; các bãi cùng các trang thiết bị tạo thêm tiện nghi cho các hoạt động thể thao, văn hoá du lịch, các cơ sở thương nghiệp, các khu vực hành chính quản lý, đào tạo, các phương tiện thông tin liên lạc

Kết cấu hạ tần 2 kỷ thuật xã hội bao gồm

Trang 30

+ Hộ thống đường giao thông và các phương tiện vận chuyển đi lại của

xã hội

+ Hệ thống cung cấp năng lương (điện, chất đốt)

+ Hộ thống thông tin liên lạc viễn thông

+ Hệ thống kho tàng

+ Hệ thống bảo vệ môi trường

Nhiệm vụ của kết cấu hạ tầng kỹ thuật xã hội là đảm bảo cho các ngành kinh tế và các vùng lãnh thổ hoạt động bình thường

Việt Nam với vị trí địa lý thuận lợi, khí hậu nhiệt đới, bờ biển dài từ Bắc vào Nam, có nhiều bãi tắm đẹp, nhiều danh lam thắng cảnh, đồng thời có những hình thức văn hoá dân tộc phong phú hấp dẫn khách du lịch bốn phương Hà Nội là trung tâm văn hoá chính trị của cả nước, là thành phố nhiều cây xanh với các hố nước, công viên, nhiều ngôi nhà cổ kính và hiện đại, các bảo tàng, trường đại học, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và nơi làm việc của Người Các phố buôn bán sầm uất: Hàng Ngang, Hàng Đào, Chợ Đồng Xuân Các thắng cảnh như chùa Tây Phương, chừa Trăm gian, Hồ Hoàn Kiếm, đền Ngọc Sơn, Quan Thánh, Phủ Tây Hồ, Thành cổ Loa đến Thuận Hải với các bãi biển nổi tiếng như Sầm Sơn, Cửa Lò, Non nước, Nha Trang, các dãy núi Trường Sơn, Các bán đảo và đảo nhỏ trên biển, các di tích văn hoá lịch sử tiêu biểu như văn hoá Chãm, Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, các buôn làng nguyên sơ với những nhà hàng cao vút, nhà sàn và những tập tục, các điệu múa và lễ hội dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phô' lớn có khí hậu ôn hoà quanh năm, có nhiều di tích lịch sử và vãn hoá, các hội chợ triển lãm, Dinh Độc Lập, Thảo Cầm Viên, các bảo tàng, các chợ và phố phường sầm uất Đà Lạt miền đất trữ tình, nên thơ, yên tĩnh với những thắng cảnh thác Đatala, Hồ Xuân Hương, Thung lũng tinh yêu, hồ Than Thở Ngoài ra Vịnh Hạ long, Bãi Cháy, Vũng Tàu, Côn Đảo là những phong cảnh nổi tiến2 được nhiều người trên thế giới biết đến Hàng thủ cồng mỹ nghệ như mây tre đan, các hàng sơn mài, các sản phẩm của thiên nhiên như

Trang 31

hoa quả quanh năm, các đặc sản sồng biển và con người Việt Nam cần cù tôn

trọng các truyền thống dân tộc, mến khách là những tiềm năng phát triển du

lịch rất lớn

Ngành du lịch Việt Nam đang từng bước vươn lên với mục đích làm cho

du lịch trở thành một ngành kinh doanh có hiệu quả cao, thu hút được nhiều

khách quốc tế và trong nước

13.2 Nhận xét chung việc xuất bản bản đồ du lịch hiện nay ở Việt Nam

và trẻn thế giói.

Từ lâu, dùng bản đồ du lịch đã trở thành một thói quen không thể thiếu

cho các khách du lịch Hàng năm, ở Việt Nam và trên thế giới đều cho ra đời

nhiều sản phẩm bản đồ du lịch Qua khảo sát cho thấy, từ trước đến nay ở Việt

Nam cũng như các nước trên thế giới, bản đồ du lịch được làm ở nhiều dạng

khác nhau, nhưng thông thường là bản đồ giấy, có khi được in trên một mặt

hoặc hai mặt, hoặc ở dạng tập gấp có trình bày bìa Kích thước các bản đồ

cũng rất khác nhau, có thể là khổ Ao, nửa khổ Ao hoặc một nửa khổ Aị

Cũng có khi, để đơn giản hoá người ta có thể làm các sơ đồ du lịch được

in ở trên giấy ở dạng tờ rời, hoặc để trong các sách giới thiệu du lịch, loại hình

này rất thuận tiện trong việc tra cứu các địa danh và những thông tin kèm theo

Hầu hết, trên các bản đồ du lịch đã cố gắng trình bày đẹp, hấp dẫn

Thường thì trên mỗi trang bản đồ đều có hình ảnh minh hoạ hoặc bài viết bằng

ngôn ngữ thông dụng để giới thiệu vùng du lịch (ở Việt Nam bài viết có thể

bằng tiếng Anh, bằng tiếng Pháp và đôi khi là tiếng Trung Quốc)

Nội dung trên các bản đồ cũng rất khác nhau Tuy gọi chung là bản đồ

du lịch, song tuỳ vào nhu cầu và mục đích sử dụng mà nó chứa đựng thông tin khác nhau Chẳng hạn như có những bản đồ chủ yếu là chỉ dẫn đường phố, có loại nặng về biểu thị các yếu tố dịch vụ du lịch (bao gồm cơ quan du lịch, ngân hàng, bưu điện, nhà ga, bến đỗ xe, khách sạn, bệnh viện, các di tích lịch

sử, danh lam thắng cảnh ) và cũng có những bản đồ chỉ đưa ra một loại hình

Trang 32

du lịch nào đó ví như chỉ thể hiện các vùng có thể thực hiện du lịch leo núi du lịch thám hiểm dưới biển, hoặc các loại hình du lịch mạo hiểm khác (du lịch qua sa mạc, du lịch qua vùng rừng rậm, hoặc qua một vùng địa hình hiểm trở: thác, ghềnh, đầm lầy ).

Ở Việt Nam, hiện nay các bản đồ du lịch xuất bản tuy có khá hơn trước đây, song nhìn chung vẫn còn rất đơn điệu về cách thể hiện nội dung Có những bản đồ nội dung thể hiện rất chi tiết, lại có những bản đồ nội dung mang tính khái lược so với tỉ lệ bản đồ, như vậy đễ gây khó khăn cho người

sử dụng, nhất là những người ít đùng bản đồ

Các bản đồ du lịch đã xuất bản có thể phân cấp theo lãnh thổ: đó là các bản đồ du lịch toàn quốc, thường thể hiện ở tỷ lệ 1 : 1.1.000.000 (in trên tờ giấy A0 ) hoặc tỷ lệ 1 : 3.000.000 (in trên nửa tờ giấy A0)

Các bản đồ du lịch cấp tỉnh, thành phố thường in trên nửa tờ A0 và tỷ lệ phụ thuộc vào kích thước của từng lãnh thổ

Các bản đồ du lịch cho khu vực nội thành, nội thị có thể được in trên một tờ A0 hoặc nửa tờ A0 hoặc nhỏ hơn nữa hoặc tuỳ vào lãnh thổ biểu thị

Tất cả các bản đồ du lịch có thể được nhà xuất bản chuyên ngành làm theo đơn đặt hàng của các Công ty du lịch hoặc tự làm để bán, mang tính chất kinh doanh thương mại Chính vì điều đó mà cho thấy hệ thống bản đồ du lịch được làm từ trước đến nay chưa theo một chuẩn mực thống nhất Việc chưa có quy định thống nhất gây khó khăn cho các nhà sản xuất cũng như cho người

sử dụng vì cùng một ký hiệu nhưng trên bản đồ này có thể là biểu thị cho đối tượng nào đó, trên bản đồ khác lại là một đối tượng hoàn toàn khác, chính vì điều này, nên không tạo thành một thói quen truyền thống và dễ gáy nhầm lẫn Nếu trong sản xuất có quy định thống nhất về quy trình thành lập và hệ thống kí hiệu thì việc thiết kế và biên tập sẽ năng suất và hiệu quả hơn rất nhiều, ở đây muốn nhắc đến những bất cập trong thành lập và sử dụng bản đồ du lịch hiện nay, đồn2 thời muốn hướng tới việc có những đề xuất chung cho các bản

Trang 33

đồ du lịch mà có thể thực hiện bằng cách chuẩn hoá từng bước nội dung công việc chẳng hạn có thể thiết kế xây dựng hệ thống ký hiệu chuẩn cho bản đồ du lịch ở các cấp lãnh thổ như một số bản đồ đã có: Bản đồ địa hình ở các tỉ lệ, bản đồ hiện trạng

sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất, bản đồ hành chính ở các cấp lãnh thổ Đây cũng là một xu thế chung trong sản xuất bản đồ hiện nay

+ Nội dung trên các bản đồ không khác nhau lắm, bao gồm:

• Hệ thống giao thông là các trục đường chính, đường xuyên thành phố, các phố, các ngõ phố Đường sắt và ga

• Toàn bộ các yếu tố du lịch và dịch vụ du lịch

• Các yếu tố hành chính

+ Trên các bản đồ có giải thích tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng Trung Quốc

+ Trên nhiều bản đồ còn có bài viết giới thiệu về lãnh thổ

+ Trên một số bản đồ còn có bản đồ phụ biểu thị toàn bộ khu phố cổ

2 Bản đồ " Vịnh Hạ Long - di sản th ế giới":

Ban Quản lí Vịnh Hạ Long Nhà xuất bản Bản đồ Hà Nội, 1998

Trang 34

Núi đấtNúi đáBãi cátBãi cát ngầmBãi lau sậyBãi súBãi bùnBãi đá san hôBãi tắm mỏm đá độc lậpHang động, di chỉ khảo cổ

Mỏ lộ thiên, mỏ thanDân cư

Đường sắtQuốc lộCác đường khác Bến thuyền, phà Luồng lạchNơi nước nông dưới 5 m Nơi nước sâu trên 5 m

Trang 35

Bản đồ trình bày đẹp, mang tính thẩm mĩ cao, các kí hiệu mang tính truyền thống, chủ yếu được thiết kế trên cơ sở lấy các kí hiệu từ bản đồ địa

hình.

+ Bản đồ khu vực trung tâm thành phố Hạ Long

Bản đồ được xây dựng nhằm giới thiệu phần nội thành thành phố Hạ Long, như là một phẩn của bản đồ chính, mà khu vực trung tâm thành phố được phóng to (như bản đồ chỉ dẫn các địa chỉ về giao thông, về du lịch và các loại hình dịch vụ) Bản đồ trình bày đơn giản, nội dung gồm:

Bãi tắm

Bể bơi ChợKhách sạn Ngân hàng Bưu điện Bến xe Nhà thờ Đền chùa Bảo tàng Trường học Bệnh viện Vườn hoa Côns ty du lịch+ Bản đồ Vịnh Hạ Long và vùng lân cận

Trên bản đồ thể hiện giới hạn toàn bộ vùng vịnh Hạ Long - di sản thế giới, giới hạn tỉnh Quảng Ninh và các vùng lân cận Trên bản đồ, chủ yếu là chỉ ra vị trí của khu vực di sản và của tỉnh

Mặt 2: Bản đồ di sản thế giới

Trên trang này bao gồm có bản đồ thế giới được phán biệt theo các châu lục và trên đó chỉ ra vị trí các khu vực được công nhận là di sản thế giới Vị trí

Trang 36

đó được đánh số và kèm theo là phần tra cứu các địa danh được đánh số Bản

đồ trình bày đơn giản tuy biên tập nội dung thì lại khá công phu Phần tra cứu được ghi bằng tiếng Anh và tiếng Việt

3 Bản đổ: Thừa Thiên H uế- Di tích và danh thắng

Trung tâm Bảo tổn di tích cố đô H u ế 1997

Bản đồ trình bày ở dạng tập gấp in trên hai mặt

Mật một là toàn bộ bản đồ Thừa Thiên Huế, 2 bản đồ phụ " Huế - Đại nội" và "Huế - Khu lăng tẩm" và một sơ đồ Khu Hoàng thành, Tử Cấm thành

Trên bản đồ Thừa Thiên Huế thể hiện các nội dung: địa hình, thể hiện khá chi tiết bằng đường đẳng trị kết hợp với thang tầng màu, có ghi chú tên núi cao với điểm độ cao; mạng lưới thuỷ văn; hệ thống giao thông và một số điểm dân cư

Các yếu tố du lịch được thể hiện rất chi tiết, được phân chia thành những thời kì khác nhau Di tích Triều Nguyễn (1802 - 1945) và di tích Kháng Chiên (1946 - 1975), các kiến trúc tôn giáo, di tích Chămpa, các danh lam thắng cảnh, vườn quốc gia

Hai bản đồ phụ thể hiện toàn bộ các khu lăng tẩm và khu kinh thành Huế rất chi tiết, chủ yếu là biểu thị các điểm di tích lịch sử Nhìn chung các bản đồ đều trình bày đẹp, hấp dẫn, nội dung phong phú, cho thấy đây là một vùng di tích rất đặc trưng

Mặt sau tờ bản đồ này là bản đồ " Di sản thế giới" trên đó chỉ ra vị trí các nơi trên thế giới có các di tích và khu di chỉ được công nhận là di sản thế giới với bảng danh mục chỉ dẫn cách tìm vị trí các di sản thế giới

4 Bản đồ du lịch sinh thái Việt Nam

Tỉ lộ 1:1.000.0000 Nhà xuất bản Bản đồ 2005

Bản đồ trình bày ở dạng tập gấp, có bìa trước và bìa sau Lãnh thổ được chia làm hai phần in trên hai mặt, trên mỗi mạt còn có các bản đồ phụ, các tranh ảnh minh hoạ, các bài viết (chỉ bằng tiếng Anh) giới thiệu về từng khu vực sinh thái Toàn bộ các ghi chú trên lãnh thổ Việt Nam ghi bằng tiếng Việt

Trang 37

Còn lại phần nội dung ngoài lãnh thổ Việt Nam (kể cả phần chú giải) chỉ ghi bằng tiếng Anh.

Trên bản đồ, ngoài các yếu tố như địa hình (biểu thị bằng vờn bóng địa hình) thuỷ văn, các điểm dân cư, các yếu tố giao thông được thể hiện rất chi tiết, ( đường bộ phân thành 5 loại, đường sắt), các ga, sân bay, bến cảng, cửa khẩu quốc tế, cầu phà., thì các yếu tố du lịch được tập trung làm nổi bật: đó

là các vùng du lịch sinh thái: vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, di tích lịch sử, di sản văn hoá và một số điểm du lịch khác rất đặc trưng như đền,

chùa, nhà thờ, hang động

Bản đồ được trình bày đẹp, các yếu tố du lịch được phân biệt rõ ràng, dễ nhận biết Nhìn chung đây là một sản phẩm có chất lượng cao

5 Bản đồ Bankok Thái Lan

Cơ quan du lịch Thái Lan 2003 (tiếng Anh)

Mặt 1: Nội thành thành phố BanKok Trên đó chủ yếu thể hiện mạng lưới đường phố, các loại đường giao thông trong phần nội thành và có phân cấp chi tiết Nội dung cụ thể là:

+ Kênh đào + Mương + Đườnơ sắt

+ Đường cao tốc+ Đường ô tô và các tuyến xe buýt + Các tuyến xe buýt chạy ra sân bay + Khu vực chợ

+ Khu vực công viên + Bến đò trên sông + Bệnh viện

+ Công an + Sứ quán + Ngân hàng

Trang 38

+ Các bến đỗ xe buýt có dịch vụ + Bưu điện

+ Khách sạn + Nhà khách + Trung tâm mua bánMặt 2:

- Chỉ dẫn đường phố

- Tuyến đường và số xe buýt

- Các tuyến sông và kênh đào du lịch

- Các chỗ cần quan tâm: di tích lịch sử, chùa chiền, miếu mạo, chợ và các trung tâm mua bán, đại sứ quán, ngân hàng, các hãng hàng không

- Danh sách các khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ

Bản đồ được trình bày ở dạng tập gấp, in 2 mặt, một mặt là nội thành thành phố BanKok, một mặt là bản đồ Thái Lan với các chỉ dẫn phục vụ du lịch

Mạng lưới giao thông biểu thị chi tiết, có phân cấp

Các yếu tố du lịch biểu thị có chọn lọc nên bản đồ trình bày thoáng, dễ đọc, dễ nhận biết các loại kí hiệu

- Ngoài bản đổ còn có các tra cứu thông tin, chỉ dẫn loại hình giao thông có thể sử dụnơ để đi đến các nơi

Mặt 2: Bản đồ du lịch Sơun

Trang 39

Giao thông thể hiện rất chi tiết, dùng màu sắc đậm nhạt khác nhau để biểu thị nên trên bản đồ tạo thành nhũng lớp giao thông khác nhau, dễ phân biệt chính phụ Thể hiện cả các ngõ, phố, hẻm Tuy nhiên mạng lưới đường phố chính vẫn nhận biết rất rõ.

Hệ thống kí hiệu trực quan, kèm theo các ghi chú bằng tiếng Anh

Ngoài bản đồ chính còn có 5 sơ đồ phóng to các khu vực buôn bán của Sơun và 1 sơ đồ thể hiện các tuyến đường giao thông chính và các ga trên tuyến đường giữa Sơun với các vùng phụ cận

Một bảng tra cứu thông tin du lịch và dịch vụ đu lịch

Nhìn chung bản đồ trình bày đẹp, hợp lí, các kí hiệu rất dễ nhận biết và tuy nội đung nhiều nhưng bản đồ hoàn toàn không bị rối, các loại kí hiệu dùng cho những nội dung khác nhau được phản ánh rõ ràng, không lộn sộn

Nền bản đồ không thể hiện nội dung gì trừ khu vực công viên và mặtnước

7 Bản đồ Nam Ninh: kinh tế, giáo dục, giao thông và du lịch.

Cơ quan xuất bản bản đồ Trung Quốc 2003 (tiếng Trang quốc và

tiếng Anh)

Bản đồ in hai mặt, không trình bày theo dạng gấp mà để ở thể tự do nên sử dụng không hoàn toàn thoải mái

Một mặt là bản đồ giao thông và du lịch Quảng Châu (nơi Nam Ninh

là thủ phủ) Chủ yếu thể hiện các loại hình giao thông của tỉnh Quảng Châu, các vùng du lịch mang tính chất tổng hợp ( trên cơ sở điều kiện tự nhiên thuận

lợ i)

Trên trang này có rất nhiều tranh ảnh minh hoạ, phần lời viết giới thiệu.Bản đồ in ở tỉ lệ 1: 1800 000

Mật sau: Bản đồ đường phố Nam Ninh

Trên bản đồ chủ yếu là chỉ dẫn đường phố có thể hiện thêm một số nội dung về du lịch tuy không nhiều Bản đồ trình bày nhìn tối do ghi chú, giải thích cho các kí hiệu quá nhiều bằng màu đen

Trang 40

8 Bản đồ Matxcơva: chỉ dẫn đường phố và du lịch.

Cục Trắc địa Bản đồ nhà nước 1999.(tiếng Nga)

Bản đồ in hai mặt:

Mặt 1: Bản đồ chính thể hiện vùng trung tâm nội thành, sơ đồ metro

toàn thành phố, ảnh minh hoạ thành phố Matxcơva Bản đồ không ghi tỉ lệ và

trình bày ở dạng sơ đồ Tuy nhiên, đường phố thể hiện chi tiết, các tên đường,

ngõ phố được ghi chú đầy đủ Nội dung ngoài mạng lưới giao thông là các yếu

tố du lịch và phục vụ du lịch (nơi tư vấn du lịch, các trung tâm dịch vụ du lịch,

câu lạc bộ cho người du lịch, các trại du lịch, các bến bãi du lịch đành cho trẻ

em, các bến ô tô, trạm xăng, các nhà hát và nhà hoà nhạc, các rạp phim, các

trung tâm thể thao, các thư viện lớn, các cửa hàng tổng hợp, các nhà ga đường

sắt, tàu điện ngầm, sân bay, bến tàu thuỷ )

Hệ thống kí hiệu được thiết kế trực quan, dễ nhận biết, dễ đọc Bản đồ

trình bày sáng sủa, rõ ràng, rất dễ sử dụng

Mặt 2: Bản đồ Matxcơva, không ghi tỉ lệ, phần lãnh thổ thể hiện hết

vành đai 2 Cũng thể hiện ở dạng sơ đồ, đường phố rất chi tiết Nội dung bao

gồm như trên mặt 1 Kí hiệu trực quan, tuy nhiên do nội dung nhiều, kí hiệu

phải thiết kế nhỏ và tác giả dùng chủ yếu là màu đen cho các kí hiệu và ghi

chú nên bản đổ nhìn có cảm giác như là quá tải, nặng nề

Bản đồ mang nhiều thông tin Phục vụ tốt cho tất cả các đối tượng có

nhu cầu

Hệ thống kí hiệu trên cả hai trang của bản đồ đều trực quan, dùng nhiều

kí hiệu tượng hình, hoàn toàn dễ sử dụng Các kí hiệu có tính thừa kế từ kí

hiệu của bản đổ địa hình

9 Bản đồ Awana Porto Maỉayxia, LangKawi

- Cơ quan du lịch Malayxia 2001 (tiếng Anh)

sơ đồ, không ghi tỉ lộ, trên bản đồ hầu như không có yếu tố nền, chủ yếu làm

nổi bật các tuvến đườns 2Ĩao thông chính, các danh lam thắng cảnh, điểm

Ngày đăng: 03/02/2021, 17:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. E.S.Bos. "Thiết k ế kí hiệu bản đồ", Hà Nội ,1997. Bản dịch từ tiếng Anh Cartographic symbol design . Bài giảng dùng cho chương trình Bản đồ học của ITC. ITC. 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết k ế kí hiệu bản đồ
Tác giả: E.S.Bos
Nhà XB: ITC
Năm: 1997
2. Elemen of cartography" .Six Editor. 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Elemen of cartography
Tác giả: Six Editor
Năm: 1995
3. lu .x Bilitch; A.x. Vaxmut " Thiết kê và biên tập bản đồ Matxơcơva, 1984 (Tiếng Nga) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kê và biên tập bản đồ Matxơcơva, 1984 (Tiếng Nga)
Tác giả: lu .x Bilitch, A.x. Vaxmut
Năm: 1984
4. John and Keates. "Cartographic design and production”. Second Edition, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cartographic design and production
5. K.A. Salisev "Thiết kếvà biên tập bản đồ". Matxơcơva, 1982 (Tiếng Nga) 6. Lâm Quang Dốc " Bẩn đồ chuyên đề'. ĐHSP Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kếvà biên tập bản đồ". Matxơcơva, 1982 (Tiếng Nga)6. Lâm Quang Dốc
7. Lê Huỳnh, Lê Ngọc Nam, "Bản đồ học chuyên để". Nhà xuất bản giáo dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ học chuyên để
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
8. Lê Ngọc Nam, Triệu Văn Hiến " Ngôn ngữ bản đồ". Trường Đại học Mỏ Địa Chất, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ bản đồ
Tác giả: Lê Ngọc Nam, Triệu Văn Hiến
Nhà XB: Trường Đại học Mỏ Địa Chất
Năm: 2001
9. N.N Lociakov " Trình bày bản đồ". 2 tập, Giáo trình của trường Đại học Trắc địa, ảnh hàng không và bản đồ Matxcơva, 1980 (Tiếng Nga) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trình bày bản đồ
10. Nguyễn Minh Tuệ và nnk " Địa lí du ỉịcìì'. Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí du ỉịcìì
Tác giả: Nguyễn Minh Tuệ, nnk
Nhà XB: Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1997
11. Pordon D .D ent" Cartography thematic map design". 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cartography thematic map design
12. Phạm Quyền và nnk " Kinh tê du lịch”. Hà Nội, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tê du lịch
13. Phạm Trung Lương và nnk " Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam", Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
15. V.S.Ticunov " Mô hình hoá bàn đỗ kinh tế xã hội''. Matxơcơva, 1985 (tiếng Nga) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình hoá bàn đỗ kinh tế xã hội
Tác giả: V.S. Ticunov
Nhà XB: Matxơcơva
Năm: 1985
16. Vũ Xuân Đào và nnk " Thị trường du lịch Việt Nam " Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường du lịch Việt Nam
17. Cơ sở công nghệ bản đồ học học hiện đại. Hội bản đồ Việt Nam, Hà nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở công nghệ bản đồ học học hiện đại
18. Quy định kỹ thuật thành lập bản đồ hành chính các tỉnh (loại treo tường khổ A0). Nhà xuất bản Bản đồ, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định kỹ thuật thành lập bản đồ hành chính các tỉnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Bản đồ
19. Tra cứu bản đồ. Matxcơva, 1988. (Tiếng Nga) 20. Trang web: W W W . VietNam- Tourist.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tra cứu bản đồ
21. Biên tập khoa học bản đồ du lịch thành phô'Đà Lạt. Nhà xuất bản Bản đồ. 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên tập khoa học bản đồ du lịch thành phô'Đà Lạt
Nhà XB: Nhà xuất bản Bản đồ. 2003
22.Hướng dẫn sử dụng phần mềm Microstatìon và Mcipinfor thành lập bản đồ. Viện Nghiên cứu Địa chính.2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng phần mềm Microstatìon và Mcipinfor thành lập bản đồ
14. Lê Thông (chủ biên) " Địa lí các tỉnh và thành phố Việt Nam . Nhiều tập.Nhà xuất bản Giáo dục, 2002 - 2004 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w