1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Báo cáo khoa học kĩ thuật lĩnh vực xã hội hành vi chi tiết

43 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 6,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là báo cáo nghiên cứu khoa học kĩ thuật thuộc lĩnh vực xã hội hành vi. Đề tài tiềm năng du lịch địa phương. Báo cáo dành cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông. Báo được viết rất chi tiết cụ thể, có đầy đủ hình ảnh minh hoạ, có phiếu điều tra.....Báo cáo rất hữu ích để giáo viên và học sinh tham khảo khi làm nghiên cứu khoa học kĩ thuật.....

Trang 1

BÁO CÁO CHI TIẾT NGHIÊN CỨU TIỀM NĂNG DU LỊCH ĐỊA PHƯƠNG

LĨNH VỰC: XÃ HỘI HÀNH VI

Lời cảm ơn

Học tập, nghiên cứu khoa học là một hoạt động bổ ích, là niềm vui của bảnthân chúng em và củng như các bạn học sinh khác Trong quá trình thực hiện đềtài, bản thân chúng em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm chỉ dạy và giúp đỡ

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, nhóm chúng em xin gửi lờicảm ơn chân thành tới: Ban quản lí di tích lịch sử Đôi bờ Hiền Lương, ban quan lí

di tích Địa đạo Vĩnh Mốc, quán lí Miếu bà Chúa đã tạo điều kiện cho chúng emđến thực địa tìm hiểu về khu di tích, đồng thời cung cấp cho em nhiều thông tinhữu ích là nguồn tư liệu để viết bài

Em xin cảm ơn các thầy cô giáo Trường THCS đã chỉ bảo và dạy dỗ

em trong suốt bốn năm học vừa qua Em cũng xin cảm ơn gia đình, bạn bè, nhữngngười đã hỗ trợ và động viên để em có thêm niềm tin và sự cố gắng hơn nữa.Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn: Thầygiáo Trương Đình Hải - người thầy đã luôn quan tâm, chỉ bảo tận tình không chỉ

về kiến thức mà còn cả phong cách cũng như thái độ làm việc nghiêm túc, đểchúng em có thể hoàn thành đề tài một cách tốt nhất

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

, ngày 10 tháng 12 năm 2020

Trưởng nhóm

Trang 2

Vốn là mảnh đất có bề dày lịch sử, văn hóa, truyền thống anh hùng, du lịch vănhóalịch sử chính là một trong những thế mạnh, loại hình du lịch đặc trưng của huyệnVĩnh Linh Hiện huyện Vĩnh Linh có trên 180 di tích đã được công nhận di tích lịch

sử văn hóa các cấp Trong đó có nhiều di tích đặc biệt cấp quốc gia, di tích cấp quốcgia và trên 160 di tích cấp tỉnh

Nhiều di tích thu hút hàng chục ngàn lượt khách tham quan mỗi năm, như : Cụm

Di tích lịch sử đặc biệt quốc gia Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải (xã Vĩnh Thành); Địađạo Vịnh Mốc và Hệ thống làng hầm Vĩnh Linh (xã Vĩnh Thạch); Bến đò B TùngLuật (xã Vĩnh Giang), Trận địa tên lửa T5, nơi bắn rơi máy bay B52 của Mỹ đầutiên ở Việt Nam (thị trấn Bến Quan)… Mang trong mình sứ mệnh là cầu nối giữaquá khứ, hiện tại và tương lai, những địa danh này đã trở thành nơi giáo dục truyềnthống cách mạng, lòng yêu nước cho thế hệ hôm nay và mai sau; là điểm đến hấpdẫn của nhiều du khách muốn tìm hiểu về cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dânViệt Nam

I.2 Lí do về thực tiển

Trên thực tế trong những năm qua, việc khai thác, quy hoạch tổng thể nhữngtài nguyên này phục vụ cho du lịch của tỉnh chưa được chú trọng và quan tâm đầu tưđúng mức, điều đó đả làm cho một số công trình bị phá hủy do các yếu tố kháchquan như thời gian, cơ sở vật chất vẫn chưa được đầu tư, tôn tạo lại; một số ngườidân quyên góp tiền bạc tự ý làm quán phục vụ khách, một số trò chơi dân gian bịmai một, cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động du lịch còn yếu kém… Đồng thời hoạtđộng du lịch tại điểm đến này còn diễn ra một cách tự phát, chưa có quy hoạch cụthể đồng bộ, chưa có chiến lược quy mô để quảng bá cho khách thập phương, điều

đó dẫn đến chưa thu hút được khách du lịch đến với vĩnh linh

I.3.Tính cấp thiết của đề tài

Trang 3

Đề tài nhằm cung cấp một cái nhìn tương đối đầy đủ, hệ thống và chi tiết về cáccông trình di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh tại huyện Vĩnh Linh Đồng thời, trên

cơ sở vận dụng những kiến thức hiện có được học vào trong thực tiễn để phân tíchnhững bất cập trong hiện trạng khai thác hiện nay, từ đó đề xuất những biện pháp màbản thân chúng em ở lứa tuổi học sinh có thể thực hiện được góp phần cho việc pháttriển du lịch của địa phương trong thời gian tới

Do được xây dựng trên cơ sở vận dụng từ lý thuyết đến thực tế và sử dụng thực

tế để kiểm chứng lý thuyết nên đề tài này không chỉ mang ý nghĩa khoa học mà còn

có ý nghĩa triển khai thực dụng Về mặt khoa học, kết quả đề tài có thể phục vụ côngtác quản lí, sử dụng làm tài liệu tham khảo và làm cơ sở cho công tác quản lý tàinguyên, làm tư liệu trong việc xây dựng các tour du lịch một cách khoa học cũngnhư tài liệu hữu ích đối với du khách trong việc lựa chọn những điểm du lịch trênđịa bàn huyện Vĩnh Linh

Tạo ra sản phẩm để du khách có thể lấy đó làm vật lưu niệm (Poster ảnh giớithiệu về các địa điểm )

Việc tìm hiểu hiện trạng du lịch địa phương và đưa ra những giải pháp khắcphục những tồn tại, là những gợi ý nhằm giúp cho công tác quản lý và sử dụng hữuhiệu các tài nguyên, qua đó góp phần làm tăng thu nhập, tăng khả năng đóng gópcủa du lịch vào sự phát triển kinh tế của huyện nhà

Từ những lí do trên nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Tìm hiểu giá trịdi tích lịch sử, danh lam thắng cảnh để phát triển du lịch huyện Vĩnh Linh” nhằm tìm hiểu tổng quan vềdi tích và danh thắng cảnh của huyện Vĩnh Linh,

từ đó đề xuất những giải pháp quảng bá phục vụ phát triển du lịch của huyện VĩnhLinh nói riêng, của tỉnh Quảng Trị nói chung một cách hiệu quả

II Xác định vấn đề nghiên cứu

II.1 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng liên quan đến các danh lam, thắng cảnh, điểm vui chơi,nghĩ dưỡng, nhằm cung cấp một cái nhìn tương đối đầy đủ, hệ thống và chi tiết vềcác công trình di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh tại huyện Vĩnh Linh

Số lượng các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh

II.2 Đôi tượng nghiên cứu

Trang 4

Đề tài chủ yếu nghiên cứu về các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh, cáckhu vui chơi, ẩm thực trong địa bàn huyện vĩnh

II.3 Nội dung nghiên cứu

II.4 Phương pháp nghiên cứu

II.4.1 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: trên cơ sởthu thập thông tin tư

liệu từnhiều nguồn khác nhau như: phiếu điều tra, sách, báo, đài, tivi, tạp chí, mạnginternet…, từ đó chọn lọc để có cái nhìn khái quát, những nhận xét và đánh giá banđầu về vấn đề nghiên cứu, mà cụ thể ở đây là các công trình di tích, danh thắng cảnhtrong huyện vĩnh linh

II.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực địa (điền dã): đây là phương pháp nghiên

cứu rấtcơ bản để khảo sát thực tế, tiếp cận trực tiếp, rõ ràng nhất, được sử dụng đểthu thập số liệu, thông tin chính xác, khách quan về đối tượng nghiên cứu Trongquá trình làm đề tài người viết đã đi khảo sát tại huyện Vĩnh Linh để có thêm thôngtin thực tế bên cạnh những tài liệu thu thập được

II.4.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp:phân tích và tổng hợp các tài liệu liên

quanđến đề tài, từ đó đề xuất định hướng, giải pháp phát triển du lịch mang hiệu quảcao, mang tính khoa học và thực tiễn nhằm bảo tồn và phát huy giá trị Khu di tíchlịch sử, danh lam thắng cảnh ở huyện Vĩnh Linh phục vụ phát triển du lịch củahuyện

Trang 5

PHẦN THỨ 2 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

I Quá trình nghiên cứu

I.1 Kế hoạch nghiên cứu

Thời gian

(bắt đầu kết thúc)

5 Viết báo cáo Hoàn thành các

mẫu báo cáo

01/12/2020 Nguyễn Thị Thảo Vân

Trang 6

I.2 Phân công nhiệm vụ của các thành viên trong nhóm

1, Nguyễn Trần Hoài Thu Nhóm trưởng

2, Nguyễn Thị Thảo Vân Thư kí

II.Kết quả nghiên cứu

II.1 Tổng quan về Vĩnh Linh

II.1.1 Lịch sử hình thành

Vĩnh Linh là một huyện phía Bắc tỉnh Quảng Trị Phía Đông giáp biển Đông;phía Tây giáp huyện Hướng Hóa; phía Nam giáp huyện Gio Linh và phía Bắc giáphuyện Lệ Thủy (tỉnh Quảng Bình) Dân số 93.939 người trong đó có 2.708 ngườidân tộc Vân Kiều, toàn huyện có 25.151 hộ; 15 xã, 3 thị trấn; 149 thôn, khu phố

(Địa giới hành chính huyện Vĩnh Linh)

Trang 7

Năm 1931, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chi bộ cộng sảnđầu tiên của Vĩnh Linh được thành lập Ngày 23/8/1945, cùng với Quảng Bình vàThừa Thiên Huế, quân và dân Vĩnh Linh, Quảng Trị thực hiện thành công cuộcCách mạng Tháng Tám lịch sử, thiết lập chính quyền dân chủ nhân dân.

II.1.2 Địa lí và cảnh quan

- Giới thiệu về diện tích 620 km2

- Dân số 91.000 người, mật độ dân số 147 người/km2

- Các loại đât, rừng: Huyện Vĩnh linh khá phong phú, đa dạng về các loại đấtgồm: đất feralit, đất phù sa và đất cát pha ven biển

Rừng của huyện Vĩnh linh có rừng nguyên sinh, rừng tái sinh, rừng cây lai tạp

và các loại rừng trồng như tram, thông, cao su…

Rú Lịnh là khu bảo tồn thiên nhiên và có vai trò cực kì quan trong đối với hệsinh thái và nghiên cứu khoa học vì đây chính là rừng nguyên sinh duy nhất còn sótlại ở đồng bằng trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam

Trang 8

II.1.3 Giới thiệu về dân cư, xã hội

- Dân cư truyền thống lịch sử (Theo sách lịch sử địa phương)

Trong quá trình đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược, người dân Vĩnh Linhmột lòng đi theo Đảng, theo Bác Hồ, kiên cường, bất khuất, dung cảm không quảnngại hi sinh chiến đấu hết mình để bảo vệ tầng tấc đất của quê hương, có biết baocon người ưu tú của quê hương Vĩnh Linh đã ngã xuống, máu của họ đã nhuộmthắm và tô đỏ thêm ngọn cờ độc lập,lớp trước ngã xuống lớp sau lại tiến lên, ngườiVĩnh Linh là vậy

Trong sản xuất phát triển kinh tế người Vĩnh Linh cần cù, chịu thương, chịukhó, dù thiên nhiên không ưu đãi, hậu quả của chiến tranh để lại năng nề, nhưng với

ý chí, lòng quyết tâm người Vĩnh Linh vươn lên để làm giàu cho quê hương mình

II.1.4 Điều kiện Kinh tế - Xã hội huyện Vĩnh Linh

+ Nông nghiệp: Là một huyện thuần nông, kinh tế chủ yếu của huyện là Nôngnghiệp, trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp chiếm 51%

Gồm cây lương thực: lúa, ngô, khoai, sắn

Đồng bằng Lâm-Sơn-Thủy chính là vựa lúa lớn nhất của huyện

Ngô, khoai, sắn được trồng chủ yếu ở vùng đất cát pha ven biển

Cây công nghiệp thì có: Cao su, hồ tiêu … phát triển mạnh trên vùng đất đỏbazan đặc biệt là các xã: Vĩnh Hòa, Hiền Thành, Kim Thạch, Vĩnh Thủy, Thị TrấnBến Quan, Vĩnh Trung, Vĩnh Tú

Chăn nuôi chủ yếu theo hộ gia đình với các vật nuôi như Lợn, gà, vịt và cácloại gia súc lớn

Ven biển phát triển mạnh khai thác, nuôi trồng thủy sản đó là các xã VĩnhThái, Vĩnh Giang, thị trấn Cửa Tùng…

+ Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: Chiếm 28% trong cơ cấu kinh tế

Chủ yếu là công nghiệp chế biến như cao su, hồ tiêu và các sản phẩm từ nôngnghiệp

II.1.5 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch

Huyện Vĩnh Linh được thiên nhiên ưu đãi khi có đường bờ biển dài khoảng25km với các bãi biển đẹp như Cửa Tùng, Vĩnh Thái, Mũi Trèo - Vĩnh Kim, Mũi Si,Mũi Lay nguồn lợi từ thủy hải sản phong phú và đa dạng Trung tâm huyện cách

Trang 9

thành phố Đông Hà hơn 30 km, có Quốc lộ 1 đi qua và hệ thống giao thông thuận lợikết nối các điểm du lịch biển trên địa bàn

Trang 10

II.2 Tiềm năng phát triển du lịch

II.2.1 Giá trị tài nguyên du lịch

II.2.1.1 Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Ðôi bờ Hiền Lương - Bến Hải

Cầu Hiền Lương và sông Bến Hải nằm trong cụm di tích đôi bờ Hiền Lương ởđiểm giao nhau giữa đường Quốc lộ 1A và sông Bến Hải; phía Bắc thuộc thôn HiềnLương, xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Linh; phía Nam thuộc thôn Xuân Hòa, xã TrungHải, huyện Do Linh, tỉnh Quảng Trị Đây là hai “nhân chứng lịch sử” mang trênmình nỗi đau chia cắt đất nước thành hai miền Nam Bắc suốt hơn 20 năm ròng rã

Cụm di tích lịch sử Cầu Hiền Lương – Sông Bến Hải

Trang 11

Sông Bến Hải bắt nguồn từ dải núi Trương Sơn, từ ngọn nguồn cho tới cửaTùng dài 100 km Sông Bến Hải là dòng sông nhỏ, nơi rộng nhất khoảng 200 m,đoạn sông có cầu Hiền Lương rộng 170 m Hai đầu nguồn dòng sông rất hẹp, ởthượng nguồn, nơi có nhà thờ Phước Sơn, sông chỉ rộng 20m, đoạn lưới Cát, CửaTùng lòng sông rộng 30m.

Đôi bờ cầu Hiền Lương

Cầu Hiền Lương ( lịch sử )

Cầu Hiền Lương do công trình Pháp xây dựng năm 1950 (trước đây dân hai bờ

đi lại bằng thuyền) Cầu có 7 nhịp, dài 178m Theo Hiệp định Genève mỗi bên cóchủ quyền 89m cầu Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1951 chỉ rõ: "cầu Hiền Lương vàsông Bến Hải là giới tuyến quân sự tạm thời giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam,hoàn toàn không thể coi là mốc ranh giới về chính trị hay về lãnh thổ " Vì sau hai

Trang 12

năm, việc thống nhất Việt Nam sẽ được tiến hành bằng một cuộc tổng tuyển cửtrong cả nước.

Một vẻ đẹp thanh bình

Trang 13

Mang dấu ấn lịch sử

C

ột cờ bắc hiền lương

Trang 14

Đồn Công An Vũ Trang Hiền Lương

Hệ thống âm thanh

Sau Hiệp định Genève năm 1954, nước Việt Nam tạm thời chia làm hai miền,ranh giới là sông Bến Hải Tính từ bờ sông, 5km hai bên được quy định là khu phiquân sự Trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, phía bờ nam sông Bến Hải thuộcQuảng Trị là vùng chiến sự cực kỳ ác liệt Số lượng bom đạn Mỹ giội xuống tỉnhnày trong chiến tranh tương đương sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ

đã ném xuống Hiroshima năm 1945

Những địa danh như Khe Sanh, Ái Tử, Tà Cơn, Cam Lộ, Lao Bảo, Hướng Hoá,Đông Hà trong những năm 1968 - 1972 luôn được nhắc đến trong các bản tinchiến sự với những thiệt hại nặng nề của người Mỹ

Trang 15

Nhờ sự tiếp tay của đế quốc bên ngoài các chính quyền ngụy ở Nam Việt Nam

từ Ngô Đình Diệm cho đến Nguyễn Văn Thiệu đều mưu toan biến vĩ tuyến 17 - sôngBến Hải trở thành ranh giới vĩnh viễn chia đất nước làm hai miền Những tham vọngcủa tất cả đế quốc bên ngoài và kẻ thù dân tộc đã thất bại thảm hại Từ năm 1975,đất nước Việt Nam đã hoàn toàn thống nhất

Tượng đài khát vọng thống nhất non sông

Di tích đôi bờ Hiền Lương trở thành điểm đến không thể bỏ qua trong hànhtrình du lịch Quảng Trị của khách trong và ngoài nước Du khách tìm về nơi đây đểhoài niệm một thời đất nước chịu cảnh chia cắt, hiểu được sức mạnh của một dân tộcthiết tha yêu hoà bình, một ý chí và khát vọng giành độc lập tự do, để có một ViệtNam tươi đẹp như hôm nay

II.2.1.4 Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Địa đạo Vĩnh Mốc

(Giao thông ở địa đạo vĩnh mốc)

Trang 16

Địa đạo Vịnh Mốc (thôn Vịnh Mốc, xã Kim Thạch, huyện Vĩnh Linh,

tỉnh Quảng Trị) là một công trình quân - dân sự trong Chiến tranh Việt Nam củaphía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhằm chống lại các cuộc tấn công của phía ViệtNam Cộng hòa và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Hệ thống địa đạo tồn tại ở phíaBắc sông Bến Hải, cầu Hiền Lương trong suốt những năm 1965-1972

* Lịch sử

(Du khách trong lòng địa đạo)Trong những năm 1960, chính quyền Việt Nam Cộng hòa của Ngô ĐìnhDiệm không tôn trọng hiệp định Genève, 1954 và không tiến hành tổng tuyển

cử như dự định Cùng với việc tấn công vào các phong trào nổi dậy ở miềnNam, Mỹ đã ra sức khiêu khích, gây chiến với lực lượng Việt Nam dân chủ cộnghòa bảo vệ giới tuyến ở Vĩnh Linh Năm 1965, Mỹ đã tạo ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ đểbắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc bằng không lực, trong đó VĩnhLinh là mục tiêu đánh phá hàng đầu

Trong suốt những năm 1965 - 1972, Vĩnh Linh liên tục bị đánh phá với tổngcộng hơn nửa triệu tấn bom đạn các loại Tính bình quân, mỗi người dân ở đây đãphải gánh chịu 7 tấn bom đạn Mỹ

Trang 17

địa đạo như ở Củ Chi Với phương châm: "Một tấc không đi, một li không rời Mỗilàng, xã là một pháo đài", thông qua chỉ thị của khu ủy Vĩnh Linh, đồn trưởng đồncông an vũ trang nhân dân 140 Lê Xuân Vy đã chỉ huy đơn vị và nhân dân địaphương nhanh chóng tiến hành đào địa đạo Công trình được bắt đầu từ đầu năm

1965 và được hoàn thành vào ngày 18 tháng 02 năm 1966 Điều đặc biệt là vị chỉhuy công trình Lê Xuân Vy này (công trình sư) lúc bấy giờ học vấn chỉ vừa hết tiểuhọc, và dụng cụ hiện đại nhất trong tay ông là chiếc la bàn cũ kỹ[2] Hiện nay ông làcựu trung tá ở độ tuổi 85 đang cư ngụ ở thành phố Đông Hà và bị mù do ảnh hưởngbởi vết thương trong chiến tranh

* Cấu trúc

(Sơ đồ cấu trúc làng địa đạo Vịnh Mốc)

Ðể bảo đảm cho hàng trăm con người ăn, ở, sinh hoạt an toàn, tiện lợi, dọc haibên đường hầm người ta xây dựng rất nhiều căn hộ, mỗi căn hộ đủ chỗ cho ba đếnbốn người ở Trong lòng địa đạo có ba giếng nước, một hội trường (với sức chứa 50người), bệnh xá, nhà hộ sinh, trạm phẫu thuật, bếp Hoàng Cầm, kho gạo, trạm đặtmáy điện thoại

Hai bên trục đường chính cách nhau từ ba đến năm mét lại khoét lõm sâu vàothành một hầm nhỏ, dùng làm nơi sinh hoạt của một gia đình Ðịa đạo được cấu tạothành ba tầng Tầng một sâu cách mặt đất từ 12 đến 15 m, là nơi chiến đấu và trú ẩntạm thời

Tầng hai sâu 18 m là nơi sống và sinh hoạt của nhân dân, đóng trụ sở của Ðảng

ủy, UBND và Bộ Chỉ huy quân sự Tầng ba sâu 22 m dùng làm kho chứa hậu cầncung cấp cho đảo Cồn Cỏ và phục vụ chiến đấu của quân dân Vịnh Mốc

Trang 18

* Đặc điểm

Theo thống kê, có đến 18.000 ngày công được huy động để đào địa đạo VịnhMốc trong hai năm Địa đạo này được đào ở vùng đất đỏ bazan từ năm 1965 và hoànthành 2 năm sau đó, năm 1967 với tổng chiều dài trục chính hơn 2.000 m Cứ 4 m có

1 căn hộ gia đình, rộng 0,8 m, sâu 1,8 m, dùng cho 4 người ở Không khí làmcho đất sét trong lòng địa đạo càng ngày càng cứng chắc hơn nên nó vẫn tồn tại gầnnhư nguyên bản cho đến tận ngày hôm nay Hệ thống địa đạo gồm có 3 tầng: tầngthứ nhất sâu 12 m, dùng để cơ động chiến đấu và trú ẩn, tầng thứ hai cách mặt đất

15 m, được dùng làm nơi ở và sinh hoạt của nhân dân và tầng cuối cùng sâu 23 m,được dùng để cất giấu lương thực và vũ khí Ngay cả tầng sâu nhất, 23 m vẫn còncao hơn mực nước biển đến 3 m, nên mọi sinh hoạt trong địa đạo vẫn diễn ra bìnhthường vào mùa mưa Toàn bộ hệ thống địa đạo Vịnh Mốc có 13 cửa thông ra ngoài,trong đó có bảy cửa thông ra biển, sáu cửa thông lên đồi, mỗi cửa hầm được coi nhưmột lỗ thông hơi[3] Tại các cửa hầm đều có lắp đặt gỗ chống sập và thường xuyênđược gia cố để chống sụt lở Cư dân địa đạo ít khi ra ngoài Họ chỉ ra ngoài lúc cầnthiết, lúc không nguy hiểm

* Điểm du lịch

Địa đạo Vịnh Mốc nằm trong hệ thống các điểm du lịch khu phi quân sự trước đây trong chiến tranh Việt Nam, đã được công nhận là di tích lịch sử Việt Nam Khubảo tàng địa đạo Vịnh Mốc chính thức mở cửa đón khách từ năm 1995, đến nay đã thu hút được một lượng du khách lớn

Trang 19

II.2.1.3 Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia Bến đò B Tùng Luật

Mảnh đất Quảng Trị trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đếquốc Mĩ được xem như là chiến trường ác liệt nhất

Địa bàn huyện Vĩnh Linh được ví như túi bom trong hai cuộc chiến tranh pháhoại của đế quôc Mĩ ( 1964- 1972)

Trong số các di tích lịch sử cách mạng thì di tích lịch sử bến đò Tùng Luật nổilên như một di tích tiêu biểu cho sự gan dạ, sự hi sinh và khả năng phi thường củacon người qua sự thử thách khắc nghiệt của chiến tranh

Bến đò Tùng Luật là là một bến sông bình yên như bao bến sông khác, nhìn radòng sông Bến Hải lung linh, yên bình đầy thơ mộng Vậy mà trong cuộc khángchiến chống Mĩ cứu nước, đặc biệt là thời kì những năm 1967 đến 1972, cuộc chiến

ở bến sông này đầy ác liệt nhằm giữ vững con đường tiếp tế Bắc- Nam và tải thươngbinh từ Nam ra Bắc qua sông Bến Hải Đây là điểm vượt tuyến quan trọng trên sôngBến Hải- vĩ tuyến 17 Trong giai đoạn từ 1968- 1972, dưới mưa bom bão đạn của kẻthù, lực lượng thanh niên xung phong 771 của nhân dân Tùng Luật, dân quân xãVĩnh Giang, xã Vĩnh Quang đã đảm bảo hoạt động liên tục của bến để tiếp tế chomiền Nam và đảo Cồn Cỏ anh hùng Tại bến đò này từ 1968 - 1972 đã có hơn 78000

Trang 20

lượt thuyền qua về, vận chuyển hơn 2000000 lượt người và hàng vạn tấn vũ khí,hàng hóa.

Chiến công oanh liệt của bến đò Tùng Luật được tôn vinh như một hiện tượngsáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và dân Vinh Linh trong cuộc kháng chiến ,chống Mĩ cứu nước Để ghi dấu những chiến công và sự hi sinh to lớntrên bến đò Tùng Luật, ngày 27 tháng 9 năm 1996, Bộ Văn hóa thông tin đã kí quyếtđịnh xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia cho bến đò B Tùng Luật

Quê em có bến đò B

Đò đưa bộ đội qua về bến sông

Những ngày đánh Mĩ lập côngRạng danh mảnh đất làng Tùng quê em

Năm 2007, Bộ Tư lệnh Hải quân đã đầu tư xây dựng tượng đài và khuôn viên

di tích bến đò Tùng Luật nhằm ghi nhớ những chiến công oai hùng của lực lượngthanh niên xung phong và nhân dân nơi đây

Giờ đây chiến tranh đã đi qua, cuộc sống bình yên đã trở lại, di tích lịch sử Bến

đò B vẫn sừng sững, hiên ngang bên dòng sông Hiền Lương lịch sử như nhắc lạichúng ta nơi đây một thời hào hùng, oanh liệt của dân tộc, một thời đau thương và bitráng

Bấy chừ đây đó khang trangXóm thôn ngõ dọc, đường ngang rộng dài

Nhà cao, ngói mới, tường xâyVườn vui chim hót, hương hoa thơm đầy

Quê em hiền dịu thân thươngNgười đây, cảnh đấy vấn vương nghĩa tình

(Người viết: Trương Thị Mỹ Lương Bài đăng trên trang http://thvinhgiangvl.quangtri.edu.vn/tin-tuc-su-kien/di-tich-lich-

su-ben-do-b.html)

Trang 21

II.2.1.4 Danh lam thắng cảnh bãi biển Cửa Tùng

Cửa Tùng là một bãi biển đẹp tuyệt vời ở Quảng Trị Những tour du lịchthương mại ít khi đưa khách đến với bãi biển này và Cửa Tùng dường như chỉ còn lànơi thu hút du khách địa phương Trong khi đó, nó đã từng được mệnh danh là nữhoàng của các bãi tắm

Bãi biển Cửa Tùng đẹp, cát trắng phau, phẳng mịn, dịu dàng đón những cái hônngọt ngào của trời nước bao la Nơi đây có tám mũi đất Badan đỏ au như ráng chiềucùng chạy xô ra biển, tạo thành một chiếc lược đồi mồi kì vĩ, ngàn đời chải mượttriệu lớp sóng xanh Ngoài khơi xa, đảo Cồn Cỏ như một con rùa vàng ngoi lên khỏimặt nước tím biếc gợi cho ta bao ý tưởng về huyền thoại thủa hoang sơ Ở vào vị trí

ấy, cửa Tùng có thể ví như "Nữ hoàng" tựa lưng vào làng biển Vĩnh Quang bốn mùarợp xanh bóng mát tiêu chè và rừng phi lao rì rào trong gió

Ngày đăng: 03/02/2021, 17:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w