Cách thức phát triển công nghiệp hoá dựa trên tri thức: Việt Nam phải đặc biệt coi trọng sử dụng tri thức mới nhất của nhân loại vào mọi lĩnh vực để đẩy nhanh, rút ngắ[r]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC G IA H À N Ộ I TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, B ồ i DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ĐỂ TÀI KHCN CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA DO TRUNG TÂM QUẢN LÝ
MÃ SO: QTCT.07.10
QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ Đ ổ i MỚI (1986-2005)
C hủ nhiệm đề tài: ThS Lã Thanh Bình
Cơ quan chủ trì: T rung tâm Đ ào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
Cán bộ phối họp:
1 Chuyên viền: Phơn Thị H iệp
2 Chuyên viên: Vũ Trường G iang
Đ ẠI HỌ C Q U Õ C G IA HẢ NỘI TRUNG TẨM THÔNG TIN THƯ VIỆN
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương 1 Quá trình đổi mói quan điểm, chủ trương công nghiệp hoá,
1.1 Quá trình đổi mới toàn diện quan điểm, chủ trương của Đảng về
1.2 Quá trình bổ sung những nội dung mới của công nghiệp hoá
2.2 Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1995 - 2005) 46
Chương 3 Phương hướng và giải pháp chủ yếu đẩy mạnh công 74 nghiệp hóa, hiện đaị hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đổi mới và phát triển là quy luật vận động tất yếu của mọi sự vât, hiện tượng nói chung và quá trình công nghiệp, hiện đại hoá nói riêng Năm 2006 công cuộc đổi mói do Đảng khởi xưóng và lãnh đạo tròn 20 năm Kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986 đến nay, tư duy lý luận của Đảng đã được đổi mới từng bước và có những tiến bộ đáng kể Thực hiện Chỉ thị 24-CT/TW ngày 15- 5-2003 của Ban Bí thư về tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới, những thành tựu tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng Tuy vậy, việc tổng kết thực tiễn 20 năm đổi mới trong thời gian qua mới chỉ dừng lại ở những vấn đề tổng quát Để tiếp tục đưa công cuộc đổi mới của nước ta tiến lên, chúng ta cần tiếp tục đi sâu tổng kết kinh nghiệm thực tiễn từ đó đề xuất những luận điểm mới có căn cứ khoa học và những giải pháp mới
Trong các đường lối chính sách của Đảng, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nội dung vô cùng quan trọng liên quan tới sự nghiệp phát triển kinh tế -
xã hội và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội đất nước Những nãm qua, cùng vói sự đổi mới về lý luận, thực tiễn công nghiệp hoá, hịên đại hoá ở nước
ta đã thu được một số kết quả đáng kể: cơ sở vật chất - kỹ thuật đã từng bước được xây dựng, hình thành; bộ mặt nhiều ngành, nhiều vùng kinh tế đã có nhiều đổi thay; tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao, liên tục; cơ cấu kinh tế
có chuyển biến theo hướng tích cực, kết cấu hạ tầng kỹ thuật phát triển nhanh, nền kinh tê có bước phát triển mới về lực lượng sản xuất Tuy nhiên, Việt nam hiện nay vẫn là nước có nền kinh tê kém phát triển, chất lượng phát triển kinh tế - xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn kém, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế chậm, kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, công nghiệp hoá còn ở giai đoạn sơ khai, phát triển khá theo chiều rộng, nhưng còn kém chiều sâu Để có thể đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức theo tinh thầnh Đại hội Đảng X đề ra việc
Trang 5nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước
ta là nhiệm vụ vô cùng cần thiết và cấp bách
2 Tình hình nghiên cứu đề tài.
Nhũng năm qua công nghiệp hoá là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu kinh tế Những nội dung của công nghiệp hoá đã được nghiên cứu theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu Nhóm các công trình chuyên khảo về mô hình, con đường công nghiệp hoá gồm:
- Võ Đại Lược: Những xu hướng phát triển của thế giới và sự lựa chọn
mô hình công nghiệp hoá của nước ta, Nxb KHXH, Hà Nội, 1999
- Nguyễn Xuân Dũng, Một số định hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt nam giai đoạn 2001-2010, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội
Bên cạnh những công trình chuyên khảo, thời gian qua, những nội dung
cụ thể và bài học về công nghiệp hoá, hiện đại hoá như: Phát triển nguồn lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao; mối quan hệ giữa toàn cầu hoá và công nghiệp hoá; mối quan hộ giữa phát triển kinh tế thị trường và công nghiệp hoá, bước chuyển sang kinh tế tri thức và việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, kinh nghiệm công nghiệp hoá của Nhật Bản, của các nền kinh tế mới phát triển cũng được nghiên tỉ mỉ và sâu sắc,
Mặc dù, thời gian qua, nghiên cứu về công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã
mở rộng về đối tượng và chi tiết về nội dung, nhưng đến nay, chúng ta chưa có công trình khoa học chuyên khảo tổng kết kinh nghiệm công nghiệp hoá, hiện
Trang 6đại hoá đất nước trong thòi kỳ đổi mới Do vậy, đây là đề tài độc lập không trùng với các công trình khoa học nghiên cứu về công nghiệp hoá khác.
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 M ục tiêu
Làm rõ đường lối công nghiệp hoá hiện đại hoá của Đảng từ đó phân tích những thành công và hạn chế và đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trên cơ sở phân tích thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam qua 20 năm đổi mới (1986 - 2005), đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
3.2 N hiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nêu trên đề tài đã tập trung giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Tổng hợp, phân tích chủ trương, đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng từ năm 1986 đến năm 2005
- Phân tích thực trạng cổng nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam từ năm
1986 đến năm 2005
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đôi tượng nghiên cứu
Chủ trương và thực tiễn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở ViệtNam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tiếp cận nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam từ góc độ Kinh tế Chính trị
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở của phương pháp duy vật biện chứng, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: Phương pháp trừu tượng hoá khoa học, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp logic và lịch sử, phương pháp điều tra thống k ê
Trang 77 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm
3 chương, 8 tiết
Trang 8Ở V iệt Nam chiến lược công nghiệp hóa, về m ặt lý luận, được thể hiện thông qua các quan điểm, chủ trương của Đảng Các quan điểm, chủ trương này có ý nghĩa quyết định tới kết quả của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1.1 Quá trình đổi mới toàn diện quan điểm , chủ trương của Đảng về công nghiệp hoá (1986-1994)
1.1.1 K h á i q u á t quan điểm , chủ trương của Đ ảng vê công nghiệp hóa trước n ă m l9 8 6
Ngay sau khi giải phóng miền Bắc và công cuộc khôi phục kinh tế sau chiến tranh giành được một số thành tựu, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) đã quyết định tiến hành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, coi công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm của cả thòfi kỳ quá độ Chủ trương được Đảng đưa ra tại kỳ Đại hội này là: “Xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại, kết hợp công nghiệp với nồng nghiệp một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, nhằm biến nước ta thành một nước công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại” Quan điểm của Đảng về công nghiệp hoá là: “Ưu tiên phát triển cống nghiệp nặng trên cơ sở phát triển nồng nghiệp và công nghiệp nhẹ”
Trang 9Do điều kiện đất nước vừa tiến hành công nghiệp hoá vừa phải chiến
đấu chống lại đế quốc Mỹ xâm lược, nên quá trình công nghiệp hoá của chúng
ta đã bị gián đoạn, không đạt được mục tiêu mong muốn Cho tới năm 1975,
sau khi hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước, Đại hội Đảng lần IV (1976)
đã tái khảng định mô hình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa được xây dựng
từ Đại hội m , trên phạm vi cả nước
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982), Đảng có chủ trương thay
đổi cơ cấu đầu tư “Tập trung phát triển mạnh nống nghiệp, coi nông nghiệp là
mặt trận hàng đầu, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây
dựng một số ngành công nghiệp nặng then chốt” , nhưng nhìn chung mô hình
công nghiệp hoá ở nước ta trước thời kỳ đổi mới (1986), là mô hình công
nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa hướng nội, theo cơ chế k ế hoạch hoá tập trung,
quan liêu, bao cấp Mô hình này được xây dựng theo mô hình công nghiệp hoá
của các nước xã hội chủ nghĩa Thực tế cho thấy, mô hình này đã từng có giá
trị lớn đối với Liên Xồ trong thời kỳ chiến tranh, bị bao vây cô lập, nhưng về
cơ bản, nó không phù hợp với thực trạng kinh tế xã hội của nước ta Vì trong
khi nền kinh tế còn manh mún, trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất
còn yếu kém, mà lại áp đặt trên đó một quan hệ sản xuất quá cao- quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa Do sự mâu thuẫn này, các quan hệ sản xuất đã không
những không kích thích, mà ngược lại nó còn kìm hãm sự phát triển của lực
lượng sản xuất Vì thế, các nội dung khác của công nghiệp hoá cũng không
thực hiện được
Đến năm 1986, nền kinh tế nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng
trầm trọng, đời sống người dân sút kém Tiêu cực xã hội lan rộng, lòng dân
không yên, mất lòng tin vào Đảng vào Nhà nước Đứng trước thực trạng này,
Đảng đã tìm tòi, khám phá mong muốn tìm ra con đường để đưa đất nước
thoát khỏi khủng hoảng
1.1.2 Quan điểm, chủ trương công nghiệp hoá của Đảng từ năm 1986 í
đêln năm 1994
Tháng 12/1986, Đảng Cộng sản Việt Nam họp Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VI Sau khi kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết Đại
Trang 10hội IV và Đại hội V, Đại hội VI của Đảng khẳng định tiếp tục thực hiện đường lối chung của cách mạng x ã hội chủ nghĩa và đường lối xảy dựng kinh t ế x ã hội chủ nghĩa do các Đ ại hội Đảng lần thứ IV, V xác định.
Công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là m ột nội dung cơ bản của đường lối cách m ạng của Đảng với những nội dung, bước đi, phương thức thực hiện như sau:
M ột là, quá trình CNH phải được tiến hành từng bước phù hợp với
yêu cầu phát triển của nền kinh tế và lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá
độ lên CNXH
Quá độ từ m ột nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên CNXH phải trải qua m ột quá trình CNH Đó là tất yếu khách quan Quá trình đó tuỳ tình hình, điều kiện cụ thể của mỗi nước mà có những bước đi thích hợp, phải tập trung giải quyết "những nhiệm vụ đặc thù của từng bước quá độ đó" [53, tr.120] Với quan điểm trên, Đại hội VI khẳng định, nước ta ở chặng
đường đầu tiên của thời kỳ quá độ Đó là bước quá độ nhỏ trong bước quá
độ lớn, thực hiện mục tiêu nhỏ trong mục tiêu lớn.
H ai là, nhiệm vụ của chặng đường đầu tiên là khôi phục, ổn định
tình hình kinh tế - xã hội, qua đó tạo tiền đề cần thiết để đẩy m ạnh công nghiệp hoá
Đại hội IV với "tư tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội muốn bỏ qua những bước đi cần thiết" [19, tr 19] đã chủ trương đẩy mạnh CNH đất nước để nhanh chóng đưa nền kinh tế từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn
XHCN Chủ trương trên đã không thực hiện được vì th iếu n h ữ n g tiên đề, điểu kiện n h ấ t định Đại hội VI chỉ ra rằng, nhiệm vụ chặng đường đầu
tiên là nhằm ổn định mọi mạt tình hình kinh tế xã hội, tạo tiền đề cần thiết cho việc đẩy m ạnh CNH ở chặng đường tiếp theo Như vậy, so với Đại hội
IV chủ trương CNH của Đại hội VI tựa hồ như là một "bước lùi" nhưng
"lùi" để đưa công cuộc CNH tiến lên với những bước đi vững chắc
Bơ là, phải xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi của nền kinh tế, chú trọng
tính khả thi và tính hiệu quả của các chương trình công nghiệp hoá
Trang 11Sai lầm trước đây là đã xác định nội dung và chỉ tiêu CNH không thật sát với nhu cầu thiết yếu của nền kinh tế, ít chú trọng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Do vậy, sau nhiều năm đầu tư cho CNH giá trị tài sản cố định của nền kinh tế có tăng lên, song vẫn không tạo ra được sự tăng trưởng, và càng CNH nền kinh tế càng m ất cân đối nghiêm trọng Đại hội VI chỉ ra tính chất "lâu dài và rất khó khăn" của công cuộc CNH đất nước Cho nên, trong từng bước phát triển phải tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng; các mục tiêu, giải pháp phải " phù hợp với điều kiện thực tế, không
"vượt quá điều kiện và khả năng thực tế, phải xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi của nền kinh tế m à bố trí kế hoạch phát triển Sự thay đổi về lượng phải hướng tới sự biến đổi về chất một cách tương ứng, tao ra thế cân đối mới cho nền kinh tế phát triển ổn định vững chắc Đại hội quyết định bố trí lại
cơ cấu kinh tế, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư theo hướng tập trung thực hiện ba chương trình mục tiêu: sản xuất lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, trong đó nông nghiệp ưu tiên về vốn, vật tư và lao động kỹ thuật, thứ đến là công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng Phương hướng phát triển công nghiệp nhẹ chủ yếu tổ chức lại sản xuất, đầu tư chiều sâu, tận dụng công suất thiết bị của các cơ sở sản xuất hiện có Đối với cổng nghiệp nặng, Đại hội chủ trương sắp xếp, điều chỉnh xây dựng những cồng trình thật cấp thết theo khả năng thực tế, điều chỉnh, xây dựng những công trình thật cấp thiết theo khả năng thực tế, chuẩn bị tiêu đề cho việc đẩy m ạnh CNH trong chặng đường tiếp theo Quan điểm của Đại hội
là sản xuất phải có hiệu quảm phải gắn chặt với thị trường, phải đáp ứng nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng
Trong xây dựng cơ bản, ưu tiên cho những công trình tốn ít vốn, đưa vào sử dụng nhanh, tạo ra nhiều việc làm; kiên quyết giãn tiến độ hoặc đình hoãn việc xây dựng những công trình chưa thật cấp bách, hoặc làm xong mà không có đủ điều kiện để hoạt động một cách hiệu quả Phương châm xây dựng cơ bản là; quy mô nhỏ và vừa là chính, tranh thủ kỹ thuật tiến bộ, bảo đảm xây dựng nhanh, đưa vào sử dụng kịp thời từng phần công trình
Trang 12Bốn là, cơ cấu kinh tế của chặng đường đầu tiên không phải là công
- nông nghiệp m à là nông - công nghiệp và dịch vụ
Từ Đại hội III (9/1960) cho đến Đại hội IV (13/1976), với chính sách"ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý", Đảng ta luồn xác định phải hướng tới xây dựng một nền kinh tế có công nghiệp hiện đại
và nồng nghiệp hiện đại hay công - nông nhiệp hiện đại Nhưng mục tiêu
đó đã không được cụ thể hoá thành những bước đi thích hợp Đại hội lần thứ V của Đảng (3/1982) quyết định tập trung phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu Đây là chủ trương rất đúng đắn nhưng chưa thật quán triệt, trong chỉ đạo thực tiễn, vẫn chưa có sự chuyển đổi m ạnh mẽ về cơ cấu kinh tế
Đại hội VI chỉ ra rằng: "Yêu cầu cấp bách về lương thực, thực phẩm, về nguyên liệu sản xuất hàng tiêu dùng, về hàng xuất khẩu quyết
định vị trí h à n g đẩu của nôn g nghiệp" [ 18, tr.48], theo đó, cơ cấu kinh
tế trong chặng đường đầu tiên của nước ta cũng được chuyển dịch theo hướng nông - công nghiệp và dịch vụ
N ăm là, thừa nhận sự tổn tại lâu dài nhiều hình thức sở hữu và nhiều
thành phần kinh tế quá trình công nghiệp hoá
Thật ra, ngay từ Hội nghị TW 6 (khoá IV) năm 1979 đã đặt vấn đề, bên cạnh thành phần kinh tế XHCN (quốc doanh và tập thể) phải tận dụng các thành phần kinh tế khác như công tư hợp doanh, cá thể, kể cả tư bản tư nhân được kinh doanh hợp pháp và mở rộng chừng mực sự tự do giao lưu hàng hoá Nhưng lúc ấy có tư tưởng coi đây là bước lùi tạm thời, một giải pháp "tình thế" để cứu vãn tính hình kinh tế - xã hội đang lúc khó khăn hơn là m ột chủ trương có tính nhất quán Đại hội VI đã coi công tác cải tạo XHCN là nhiệm vụ thường xuyên liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH và khẳng định các thành phần kinh tế được bình đẳng trước pháp luật Tuy vậy, phải đến Hội nghị TW 6 (khoá IV) mới khẳng định nhất quán chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi năng lực sản xuất và coi đây là nhiệm vụ chiến lược lâu dài có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên XHCN
Trang 13Sáu là, xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung, bao cấp thực hiện cơ chế
quản lý mới: Cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh XHCN, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ
Cơ ch ế quản lý tập trung, bao cấp là đặc trưng của CNH kiểu cũ Đặc điểm của cơ chế này là quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, với hệ thống chỉ tiêu k ế hoạch pháp lệnh chi tiết từ trên giao xuống các cơ quan quản lý hành chính - kinh tế can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn vị cơ sở, nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất đối với các quyết định của mình; các đơn vị kinh tế cơ sở vừa không có quyền tự chủ, vừa không bị ràng buộc trách nhiệm với kết quả sản xuất kinh doanh Cơ chế đó đã không tạo ra được động lực phát triển, làm hạn chế việc sử dụng các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, gây rối ren trong phân phối lưu thông Đại hội IV chỉ
ra rằng, việc bố trí lại cơ cấu kinh tế phải đi đôi với đổi mới cơ chế quản
lý kinh tế Thực chất của cơ chế mới về quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hoạch toán kinh doanh XHCN, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, trong đó, tính kế hoạch là đặc trưng số một; sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá - tiền tệ là đặc trưng thứ hai; thực hiện quản lý nền kinh tế bằng phương pháp kinh tế là chủ yếu, kết hợp hài hoà lợi ích của toàn xã hội, lợi ích của tập thể là lợi ích riêng của người lao động; phân cấp quản lý theo hướng đảm bảo quyền quyết định của Trung ương, quyền chủ động của địa phương và quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các đơn
vị kinh tế cơ sở; gắn trách nhiệm với quyền hạn, nghĩa vụ và lợi ích
Bdy là, bước đầu chuyển sang thực hiện nền kinh tế mở.
Cùng với thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, phương châm của Đại hội VI trong việc thực hiện chương trình hàng xuất khẩu là
"Kết hợp sức m ạnh dân tộc với sức mạnh thời đại", tính toán hiệu quả kinh
tế của từng m ặt hàng để lựa chọn sản phẩm có lợi thế, đầu tư đồng bộ cho xuất khẩu; hoạt động xuất khẩu chuyển sang kinh doanh; vận dụng nhiều hình thức đa dạng để phát triển kinh tế đối ngoại, khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta, vận động Việt Kiều đầu tư xây dựng đất nước
Trang 14Với những quan điểm đổi mới nói trên, Đại hội VI bước đầu định
hướng cho việc chuyển mô hình CNH theo kiểu cũ sang xây dựng mô hình
CNH theo kiểu mới phù hợp với điều kiện của đất nước và xu thế phát
triển của thời đại
Tháng 6/1991, Đảng cộng sản Việt Nam họp Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VII thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên CNXH Cương lĩnh nhấn mạnh: "Để thực hiện mục tiêu dân
giàu nước m ạnh theo con đường xã hội chủ nghĩa, điều quan trọng nhất
phải cải biến về căn bản tình trạng kinh tế - xã hội kém phát triển, chiến
thắng những lực lượng cản trở việc thực hiện mục tiêu đó" Phải "phát
triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại,
gắn liền với m ột nền kinh tế nông nghiệp phát triển toàn diện là nhiệm vụ
trung tâm nhàm từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải
thiện đời sống nhân dân" [14, tr.9] Đại hội VII còn chỉ ra rằng, trong kế
hoạch 5 năm 1991 - 1995 phải tập trung mọi nỗ lực giải quyết các vấn đề
cấp bách về kinh tế xã hội, trên cơ sở, thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh tế
của kế hoạch 5 năm 1991 trên cơ sở đó, thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh
tế của k ế hoạch 5 năm 1991 - 1995; đẩy lùi và kiểm soát được lạm phát,
ổn định, phát triển và nâng cao hiệu quả nền sản xuất xã hội, ổn định và
từng bước cải thiện đời sống nhân dân bắt đầu có tích Iuỹ từ nội bộ nền
kinh tế Đại hội chủ trương phải phát huy tiềm năng của các thành phần
kinh tế; đẩy mạnh ba chương trình kinh tế với những nội đung cao hơn
trước và từng bước xây dựng cơ cấu kinh tế mới theo yêu cầu CNH; đẩy
nhanh nhịp độ ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, hình thành về cơ bản
và vận hành tương đối thống suốt cơ chế quản lý mới
Mục tiêu phấn đấu trong kế hoạch 5 năm (1991 - 1995) Đại hội đề
ra như sau:
- Tiếp tục kiểm chế và đẩy lùi làm phát, giữ vững và phát triển sản xuất, bắt đầu có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế
Trang 15Tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, giảm nhanh nhịp độ tăng dân số.
- On định và từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Bảo đảm tiền lương tối thiểu, đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của ngưòi lao động, ngăn chặn thu nhập phi pháp và bất công
- Bảo đảm quốc phòng an ninh
Phấn đấu kết thúc k ế hoạch 5 năm đưa nước ta cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội
Nếu như Đại hội VI tập trung tháo gỡ những vướng mắc trong hoạt động kinh tế nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, thì Đại hội VII chủ trương tập trung đầu tư cả chiều rộng lẫn chiều sâu nhằm tạo chuyển biến rõ nét về cơ cấu kinh tế, trước hết đối với từng vùng và ngành trọng điểm , đem lại hiệu quả cao Đại hội chủ trương đi đôi với việc tập trung phát triển ba chương trình kinh tế phải phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới; trong sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu phải chú trọng tính đa dạng và chất lượng sản phẩm; phát triển du lịch; phát triển một số ngành công nghiệp nặng phục vụ cho ba chương trình kinh tế, coi trọng khai thác tài nguyên, đặc biệt là dầu khí; phát triển kết cấu hạ tầng theo hướng vừa chống xuống cấp, vừa hiện đại hoá có trọng điểm, phát triển giao thông nông thôn, miền núi; xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế vùng, mở rộng quan hệ phân công, hợp tác, liên kết giữa các vùng trong nước và với bên ngoài
Đại hội đã định hướng cho việc phải tiếp tục hoàn thiện một số chủ trương, chính sách theo hướng xây dựng nền kinh tế mở
- Đối với trong nước, coi trong việc xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, lấy cơ chế thị trường vận hành nền kinh tế dưới sự quản
lý của N hà nước theo định hướng XHCN Trong cơ chế đó, các đơn vị kinh tế có quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, quan hệ bình đảng, cạnh tranh hợp pháp, hợp tác và liên doanh tự nguyện; thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương
Trang 16án tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả; Nhà nước quản lý nền kinh tế nhằm định hướng, dẫn dắt các thành phần kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, kiểm soát chặt chẽ và
xử lý các vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh tế, bảo đảm hài hoà giữa phát triển và tiến bộ xã hội
- Đối với ngoài nước, cần đa dạng hoá, đa phương hoá và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại, huy động mọi tiềm năng kinh tế, phát huy lợi thế tương đối nhu cầu sản xuất và đời sống trong nước, vừa hướng mạnh về xuất khẩu, gắn thị trường trong nước với thị trường ngoài nước
- Thành lập các xí nghiệp, cống ty cổ phần, hình thành và mở rộng đổng bộ các thị trường như thị trường hàng tiêu dùng, tư liệu sản xuất dịch
vụ, thị trường vốn là tiền tệ, thị trường ngoại hối, thị trường sức lao động tiến tới xây đựng thí điểm thị trường chứng khoán , đồng thời chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để nền kinh tế nước ta hội nhập với nền kinh tế thê giới
1.2 Quá trình bổ sung những nội dung mới của cồng nghiệp hoá (1994-2005)
1.2.1 C ông nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá
Với những thành tựu đạt được trong những năm đổi mới, cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế tuy có được tăng cường đáng kể nhưng nhìn chung còn nhỏ bé Hội nghị giữa nhiệm kỳ (khoá VII) tháng 1/1994, chỉ ra bốn nguy cơ đối với nước ta, trong đó nguy cơ nổi bật là sự tụt hậu xa hơn
về kinh tế so với nhiều nước trên thế giới và khu vực Nguy cơ này phản ánh thực trạng nền kinh tế nước ta
Hội nghị giữa nhiệm kỳ (khoá VII) tiếp tục cụ thể hoá, bổ sung nghị quyết Đại hội VII, bước đầu xây dựng chiến lược CNH, HĐH đất nước với các quan điểm lớn sau:
- Giữ vững độc lập tự chủ đi đối với mở rộng hợp tác quốc tế, xây dựng một nền kinh tế mở cả trong và ngoài nước, đa phương hoá và đa
Trang 17dạng hoá quan hệ với nước ngoài, kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh, gắn tăng trưởng với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường.
Kiên trì chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả, phát huy lợi
th ế so sánh của cả nước cũng như từng vùng, từng ngành, từng lĩnh vực trong từng thời kỳ, không ngừng nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường trong nước, thị trường khu vực và thị trường quốc tế
- Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương hướng phát triển, lựa chọn các dự án đầu tư và công nghệ
- Khai thác nhanh thế mạnh của cả nước, của mỗi vùng, mỗi ngành, tập trung thích đáng nguồn lực cho các vùng địa bàn trọng điểm sớm đưa
ra hiệu quả cao Đồng thời quan tâm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu, có chính sách cơ chế, giải pháp thiết thực đối với những nơi khó khăn, đẩy mạnh hợp tác phát triển, bảo đảm cho các vùng vàc các thành phần dân cư đều có lợi ích và được hưởng những thành quả của sự tăng trưởng
- Chú trọng quy mô nhỏ và vừa, vốn đầu tư ít, thu hồi nhanh, theo phương châm "lấy ngắn nuôi dài", xây dựng một số công trình quy mô lớn cần thiết và có hiệu quả
- Đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực sản xuất và công nghệ hiện có, tập trung vào những khâu quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, bảo đảm tính tiên tiến của thiết bị và công nghệ nhập khẩu, ưu tiên cho loại cổng nghệ ít vốn, tạo nhiều việc làm trực tiếp hoặc gián tiếp
Tiếp đó, Hội nghị TW 7 (khoá VII) đã cụ thể Nghị quyết Hội nghị giữa nhiệm kỳ, đề ra chủ trương phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng CNH, HĐH đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới Tại Hội nghị này, Đảng ta tiếp tục làm rõ những vấn đề CNH, HĐH ở nước ta
Trang 18Nếu như trước đây, CNH được hiểu như quá trình phát triển công nghiệp, nhất là công nghiệp nặng thì ngày nay, dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng, CNH, HĐH có nội dung rộng lớn hơn và toàn diện hơn
Đó là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn điện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao
Mục tiêu của CNH, HĐH là tiến tới xây dựng một cơ cấu kinh tế công nông nghiệp và dịch vụ hiện đại Trước đây, CNH thường bắt đầu từ việc tập trung phát triển công nghiệp nặng nhằm nhanh chóng tình hình cơ cấu nói trên mà ít chú trọng đến hiệu quả kinh tế - xã hội do đó tỷ lệ công nghiệp nặng có tăng lên nhưng không tạo ra thay đổi lớn trong nền kinh
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là khái niệm mới của Hội nghị giữa nhiệm kỳ (khoá VII) Nó được hiểu như là quá trình từng bước làm biến đổi nền kinh tế từ chỗ có cơ cấu chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu sang cơ cấu kinh tế công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ hiện đại Quan điểm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH ở nước ta như sau:
V ề cơ cấu ngành, chuyển từ cơ cấu công - nông nghiệp của CNH
kiểu cũ sang cơ cấu - công nghiệp phù hợp với bước đi của chặng đường đầu tiên và tiến tới chuyển dịch sang cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp và dịch vụ hiệu đại Bước đi từ nay đến năm 2000 thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn; phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp ch ế biến nông, lâm, thuỷ sản; phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Nâng cấp, cải tạo, mở rộng và xây dựng mới có trọng điểm kết cấu
hạ tầng kinh tế, trước hết ở những khâu ách tắc và yếu kém nhất đang cản trở sự phát triển Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng trọng yếu và hết sức cấp thiết, có điều kiện về vốn, công nghệ, thị trường,
Trang 19phát huy tác đụng nhanh và có hiệu quả cao Mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ.
Đẩy m ạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại Hình thành dần một số ngành mũi nhọn như chế biến nông, lâm, thuỷ sản, khai thác và chế biến dầu khí, m ột số ngành cơ khí chế tạo, công nghiệp điện tử và công nghệ thồng tin, du lịch Phát triển mạnh sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ
CNH, HĐH nông nghiệp và kinh tế nông thôn là nhằm giảm bớt sự cách biệt về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội giữa thành thị và nông thôn, hạn chế việc di chuyển dân cư từ nông thôn vào các đô thị, khuyến khích nông dân "rời ruộng không rời làng", phát triển ngành nghề trên địa bàn, không làm nông nghiệp nhưng vẫn sinh sống ở nông thôn
V ề cơ cấu thành phần kinh tế, trước đây cơ cấu chủ yếu một thành
phần kinh tế - kinh tế XHCN với 2 khu vực quốc doanh và tập thể, nay chuyển sang thực hiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần: kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo
Vê cơ cấu kinh t ế lãnh thổ từ chỗ dàn trải nay phát triển theo hướng
có trọng điểm, phát triển tổng hợp gắn với phát triển chuyên môn hoá, triệt để khai thác các lợi thế, tiềm nãng của mỗi vùng, liên kết hỗ trợ nhau làm cho tất cả các vùng đều phát triển
v ề cơ cấu công nghệ, công nghệ nước ta sẽ bao gồm hai bộ phận
(hai tầng công nghệ), m ột bộ phận công nghệ xã hội, công nghệ truyền thống được hiện đại hoá và bộ phận công nghệ hiện đại bao gồm cả các ngành mũi nhọn
Công nghệ hiện đại được phát triển thông qua chuyển giao công nghệ Chuyển giao công nghệ có thể thực hiện bằng nhiều con đường khác nhau và từ nay đến năm 2000 Đảng ta chủ trương nhập công nghệ tiên tiến
là chủ yếu để đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ cho các ngành sản xuất dịch vụ, đồng thời hình thành một số ngành công nghiệp mới có
Trang 20nhiều triển vọng như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ vật liệu mới
Với những quan điểm, nội dung trên, Nghị quyết Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khoá VII) và Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy BCH Trung ương (khoá VII) đánh dấu bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng về cồng nghiệp hoá phù hợp với đặc điểm của nước ta và xu thế phát triển của thời đại
1.2.2 Đ ẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Những thành tựu của công cuộc đổi mới đã và đang tạo ra thế và lực mới, cả ở bên trong và bên ngoài để chúng ta bước vào một thời kỳ phát triển mới Nhiều tiền đề cần thiết cho CNH, HĐH đã được tạo ra, quan hệ của nước ta với các nước trên thế giới được mở rộng hơn bao giờ hết Khả năng giữ vững độc lập tự chủ và hội nhập với cộng đồng thế giới tăng thêm Bên cạnh thời cơ lớn trên, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực vẫn là thách thức to lớn và gay gắt do điểm phát của ta quá thấp
Thuận lợi và khó khăn, thời cơ và nguy cơ đan xen nhau Đảng ta chỉ ra rằng, phải chủ động nắm thời cơ vươn lên phát triển nhanh và vững chắc, tạo ra th ế và lực mới
Trên tinh thần đó, Đại hội VIII (6-1996) quyết định đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, phấn đấu đưa nước ta từ nay đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước cóng nghiệp Lúc đó lực lượng sản xuất sẽ đạt đến trình
độ tương đối hiện đại, phần lớn lao động thủ công được thay thế bằng lao động sử dụng m áy móc, điện khí hoá cơ bản được thực hiện thay thế bằng lao động sử dụng dụng máy móc, điện khí hoá cơ bản được thực hiện trong cả nước, năng suất lao động xã hội và hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn nhiều lần so với hiện nay GDP tăng từ 8 đến 10 lần so với năm
1990 Nhiệm vụ từ nay đến năm 2000 là ra sức đẩy m ạnh CNH với nhịp độ tăng trưởng cao, bền vững và có hiệu quả; ổn định vững chắc kinh tế vĩ mô; chuẩn bị tiền đề cho bước phát triển cao hơn sau năm 2000, trong đó
Trang 21chủ yếu là phát triển nguồn lực, khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng,
hoàn thiện thể c h ế ,
So với Hội nghị giữa nhiệm kỳ (khoá VII), các quan điểm về CNH, HĐH của Đại hội VIII toàn diện hơn và có sự bổ sung quan trọng Ngoài các quan điểm đã nêu tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ, Đại hội nhấn mạnh: CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong
đó kinh tế nhà nước là chủ đạo; lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Tãng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hoá, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường Đại hội khẳng định, khoa học và công nghệ là động lực của CNH, HĐH Phải kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại
ở những khâu quyết định
Đại hội đề ra các chủ trương chính sách vể phát triển LLSX và xây dựng hệ thống QHSX mới, về tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, về phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, về xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, về mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, về xây dựng hệ thống chính trị v.v Tất cả nhằm thực hiện thắng lợi cộng cuộc CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN Có thể nói chiến lược CNH, HĐH của Đại hội VIII là chiến lược phát huy sức mạnh tổng hợp của nước ta trong điều kiện mới Thể hiện ở những điểm sau:
M ột, chuyển ĩừ công nghiệp hoá phi thị trường sang công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với thị trường N ói cụ th ể hơn, chuyển từ C N H theo
cơ c h ế k ế hoạch hoá tập trung sang C N H gắn với cơ c h ế thị trường, có sự quản lý của N hà nước theo định hướng X H C N
Đây là một vấn đề rất quan trọng vì nó quy định toàn bộ các hoạt động kinh tế - xã hội và liên quan trực tiếp đến con đường đi lên CNXH Cho nên sự chuyển đổi trên là cả một quá trình thể nghiêm , tìm tòi, đổi mới của Đảng ta, trong đó tập trung giải quyết mối quan hệ cơ bản; giữa
k ế hoạch nhà nước với thị trường, làm sao đảm bảo cho nền kinh tế hoạt
Trang 22động thông suốt, đem lại hiệu quả cao đồng thời vẫn giữ được định hướng CNXH.
Thật ra, trong cơ chế quản lý tập trung bao cấp trước đây cũng có đặt vấn đề kết hợp k ế hoạch với thị trường, nhưng thị trường ở đây chỉ là cái bổ sung cho k ế hoạch, giữ vai trò điều tiết một số hoạt động kinh tế thứ yếu mà k ế hoạch không thể bao quát hết được Đại hội VI quyết định đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển từ cơ chế cũ sang cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh XHCN, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, đã coi trọng hơn vai trò của thị trường Tuy vậy, vẫn còn nhấn mạnh "tính k ế hoạch là đặc trưng số một của cơ chế quản lý kinh tế ngay từ buổi đầu của thời kỳ quá độ" [19, tr.63] Hội nghị TW 3 (khoá VI), 1987 có sự điều chỉnh theo hướng "giảm bớt" phần kế hoạch tập trung
và "tăng lên" phần thị trường, cụ thể, giảm các chỉ tiêu pháp lệnh, cho phép các xí nghiệp căn cứ vào nhiệm vụ và sự hướng dẫn của kế hoạch nhà nước, và nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước mà chủ động xây dựng phương án phát triển Đến Hội nghị TW 6 (khoá VI) năm 1989 thừa nhận thị trường vừa là căn cứ vừa là đối tượng của kế hoạch Đại hội VII (6/1991) k ế thừa quan điểm đúng đắn nói trên và chỉ rõ, trong cơ chế kinh
tế mới, thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả
Trong công cuộc CNH, HĐH đất nước, Đảng ta chủ trương phải tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường, tạo điều kiện cần thiết cho cơ chế thị trường hoạt động có hiệu quả theo hướng: bảo đảm quyền tự chủ của các chủ thể kinh doanh, các tín hiệu thị trường là căn cứ rất quan trọng để phân bổ nguồn lực cho các lãnh vực sản xuất kinh doanh; khuyến khích cạnh tranh hợp pháp, lành mạnh, hạn chế độc quyền, mà kinh doanh được tìm kiếm lợi nhuận một cách hợp pháp K ế hoạch nhà nước, trên cơ sở quán triệt đường lối chủ trương cửa Đảng, đưa ra m ột hệ thống các mục tiêu vĩ mô, xác định tốc độ phát triển, cơ cấu và cấc cân đối lớn, các chính sách, giải pháp để dẫn dắt nền kinh tế theo định hướng kế hoạch Nhà
Trang 23nước giữ vai trò quản lý vĩ mô nhằm định hướng và chỉ đạo sự phát triển
của toàn bộ nền kinh tế - xã hội, tạo môi trường kinh tế và khuôn khổ
pháp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phát huy m ặt tích cực, ngăn ngừa và khống chế những tác động tự phát, tiêu cực, khắc phục những mặt khuyết điểm vốn có của cơ chế thị trường, làm cho thị trường thật sự trở thành công cụ quan trọng trong việc phân bổ và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực, phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân, bảo đảm quan hệ tích luỹ tiêu dùng, điều tiết lợi ích giữa các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nhanh hơn, ổn định vững chắc hơn, công bằng xã hội nhiều hơn
Như vậy trong cơ chế mới tính định hướng XHCN được thể hiện ngay trong quá trình hoạch định kế hoạch và quản lý sử dụng cồng cụ thị trường Nhà nước giữ vai trò định hướng XHCN thông qua k ế hoạch và các biện pháp quản lý vĩ mô, trên cơ sở quán triệt đường đường lối, chủ trương chính sách của đảng, đảm bảo cho nền kinh tế- xã hội hoạt động đúng định hướng và đem lại hiệu quả cao
Việc chuyển từ một nền kinh tế phi thị trường sang một nền kinh tế gắn với thị trường, là một bước ngoặt trong nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH của Đảng ta
Hai, công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá theo định hướng xã
hội chủ nghĩa
Trước đổi mới, trong nhận thức của ta lúc bấy giờ chỉ có hai loại công nghiệp hoá: công nghiệp hoá TBCN và công nghiệp hoá XHCN Công nghiệp hoá TBCN gắn liền với quá trình hình thành CNTB, công nghiệp hoá XHCN nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH Hai quá trình này đối lập nhau hoàn toàn: một bên là tự phát, chạy theo lợi nhuận, phục vụ lợi ích một nhóm nhỏ các nhà tư sản; một bên là tự giác, tiến hành có k ế hoạch, thực hiện phân phối công bằng theo kiểu bình quân, tăng cường phúc lợi công cộng, quản lý tập trung mọi hoạt động kinh tế M ột bên là chế độ tư hữu, bóc lột và bần cùng hoá nhân dân lao động, một bên là chế độ công hữu, xoá bỏ mọi bóc lột, phát huy quyền
Trang 24làm chủ tập thể của nhân dân lao động Từ nhận thức trên dần đến việc thực hiện cơ chế k ế hoạch hoá tập trung bao cấp cao độ, triệt để cải tạo các thành phần kinh tế phi XHCN, bỏ qua những bước đi cần thiết trong việc phát triển LLSX Hội nghị TW 7 (khoá VII) tháng 7-1994 chỉ ra rằng:
"Xét về bản chất chính trị - kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở nước ta khác về căn bản với công nghiệp hoá, hiện đại hoá từng diễn ra
ở nước tư bản với công nghiệp hoá, hiện đại hoá từng diễn ra ở các nước tư bản phát triển hoặc các nước công nghiệp mới Song về phương pháp, bước
đi, các giải pháp khoa học - công nghệ, một sô' biện pháp kinh tế - xã hội, chúng ta có thể, cần phải tham khảo và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm thành công của nước đó" [23, tr.44]
Chủ trương Hội nghị giữa nhiệm kỳ (khoá VII) Đại hội VIII là không tiến hành CNH theo kiểu cũ, tránh nóng vội, chủ quan mà Đại hội
VI đã phê phán, nói cách khác không tiến hành công nghiệp hoá XHCN như trước đây, cũng không tiến hành công nghiệp hoá TBC N mà là CNH,
HĐ H theo định hướng XHCN Đây là loại hình CNH m ang tính đặc thù
của Việt Nam xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong điều kiện bùng nổ khoa học, công nghệ và xu hướng toàn cầu hoá kinh tế thế giới hiện nay Khái niệm định hướng hàm chứa các hình thức trung gian, quá độ trong quá trình CNH, là sự cụ thể hoá nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên CNXH mà Đảng ta luôn xác định, là CNH đất nước
Công nghiệp hoá và HĐH nguyên là hai quá trình nối tiếp, đan xen nhau Lịch sử phát triển trên thế giới cho thấy, có thể được một lực lượng sản xuất phát triển như hiện nay, các nước Âu - Mỹ đã có một thời kỳ CNH khá lâu rồi sau đó đi vào HĐH Quá trình HĐH còn đang tiếp tục
Có thể hiểu HĐH như quá trình chống lại sự tụt hậu trước sự bùng nổ của khoa học và công nghệ thế giới Theo tính toán của giới chuyên môn thì ngày nay việc loại bỏ công nghệ cũ một mặt hàng chỉ mất từ 1 đến 3 năm, một ngành công nghiệp từ 3 - 5 năm và từ 5 - 10 năm là thời gian có thể đánh bại m ột nước công nghiệp trên một sản phẩm Trong những nguyên
Trang 25nhân dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu là đã không tiếp tục quá trình HĐH sau khi đã hoàn thành CNH, nhất là từ đầu thập niên 70 trở đi Cho nên xét về m ặt lịch sử thì quá trình CNH diễn ra trước quá trình HĐH CNH m ang tính lịch sử còn HĐH m ang tính thời sự Tất nhiên, sự phân chia trên m ang ý nghĩa tương đối, thực tế có sự gối đầu, đan xen, tác động qua lại của hai bên Đồng chí Phạm Văn Đồng cũng nói: "Phải thấy rằng quá trình hiện đại hoá chỉ có thể diễn ra trên cơ sở công nghiệp hoá" [34] Thực chất của quá trình HĐH là không ngừng nâng cao trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất theo nhịp độ phát triển của khoa học
và công nghệ trên thế giới
Điểm xuất phát CNH, HĐH của nước ta hiện nay là một nước tiền công nghiệp Các nước công nghiệp phát triển trên thế giới đang bước sang một thời kỳ phát triển mới được gọi là hậu công nghiệp Từ tiềm công nghiệp đến hậu công nghiệp các nước trên phải mất hàng trăm năm, nhanh nhất như Hàn Quốc cũng phải mất 28 - 30 năm Đại hội VIII đề ra mục tiêu phấn đấu đưa nước ta từ nay đến năm 2020 (trong khoảng thời gian 25 năm) cơ bản trở thành một nước công nghiệp Đây là con đường phát triển ngắn nhất Đảng ta chỉ ra rằng: "Công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá, kết hợp những bước tiến tuần tự về công nghệ với việc tranh thủ những cơ hội đi tắt, đón đầu hình thành những mũi nhọn phát triển theo trình độ tiên tiến khoa của khoa học - công nghệ thế giới" [ 22, tr.27], phải "kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại; tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định" [24, tr.28] Như vậy, quá trình CNH, HĐH ở nước ta phải thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ: Nhiệm vụ của m ột nước công nghiệp phải làm nhằm cải biến xã hội nông nghiệp lạc hậu thành xã hội công nghiệp (CNH), đồng thời triển khai ngay một số công việc m à một nước hậu công nghiệp đang làm (HĐH) gắn với việc hiện đại hoá công nghệ truyền thống Hai nhiệm vụ trên thống nhất với nhau, vừa là tiền đề, điều kiện thúc đẩy nhau phát triển, trong đó CNH phải "phát huy tác dụng tích cực và toàn diện của nó đến hiện đại hoá, xoá
bỏ nghèo nàn lạc hậu, đem lại những đổi mới ngày càng rõ rệt trong mọi
Trang 26lĩnh vực của cuộc sống xã hội và con người, theo hướng tiên tiến văn minh Ngược lại, hiện đại hóa tất yếu phải phát huy tác dụng tích cực của
nó trong sự nghiệp công nghiệp hoá, ở chỗ nó đòi hỏi phải không ngừng đổi mới vể cơ cấu kinh tế, nhất là đổi mới về thiết bị và cống nghệ, đổi mới về cơ ch ế quản lý" [34]
Ba, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân, của
mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo
Cách m ạng là sự nghiệp sáng tạo của quần chúng nhân dân Chân lý
đó đã được chứng m inh hùng hồn trong lịch sử đấu tranh cách mạng ở Việt Nam Với quan điểm CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân, Đảng ta xác định vị trí, vai trò, ý nghĩa của công cuộc CNH, HĐH như một cuộc cách mạng, "một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực đời sống, xã hội" [23, tr.6] Đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu cũng nhấn mạnh: "Đây là cuộc trường chinh thứ hai - trường chinh chấn hưng dân tộc - sau cuộc trường trinh giải phóng dân tộc mà Đảng đã lã đạo thành công" [75]
Công nghiệp hoá XHCN trước đây hay CNH, HĐH ngày nay cũng đều xuất phát từ lợi ích của nhân dân, cũng đều nhằm mục tiêu nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân Tuy vậy, trước đây, trong quá trình tổ chức thực hiện, chúng ta chưa có cơ chế, chính sách phù hợp, tạo điều kiện cho nhân dân phát huy hết vai trò của mình với tư cách là người chủ đích thực của sự nghiệp công nghiệp hoá Công nghiệp hoá trong thời
kỳ này được hiểu như là công việc của Nhà nước, được tổ chức thực hiện chủ yếu thông qua một thành phần kinh tế - thành phần kinh tế XHCN với hai khu vực quốc doanh và tập thể
Nhấn m ạnh CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân, quan điểm của Đảng ta là: 1) CNH, HĐH phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng của nhân dân, đó là thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh 2) Huy động sức mạnh và khả năng sáng tạo to lớn của toàn dân; thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, làm nhiệm vụ dẫn dắt, hỗ trợ, thúc đẩy các thành
Trang 27phần kinh tế khác phát triển 3) Xây dựng và tổ chức thực hiện tốt cơ chế phát huy quyền làm chủ của nhân dân: làm chủ thông qua đại diện và làm chủ trực tiếp, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia, góp phần hình thành nên đường lối, chủ trương, chính sách CNH, HĐH và kiểm tra quá trình thực hiện đường lối, chủ trương chính sách đó.
Trong điều kiện một nền kinh tế chậm phát triển, nhất là trong hoàn cảnh nước ta, việc huy động mọi nguồn lực trong nhân dân vào quá trình phát triển cũng là một trong những biện pháp quan trọng góp phần rút ngắn thời kỳ CNH, HĐH và kiểm tra quá trình thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đó
Trong điều kiện m ột nền kinh tế chậm phát triển, nhất là trong hoàn cảnh nước ta, việc huy động mọi nguồn lực phát triển trong nhân dân vào quá trình phát triển cũng là một trong những biện pháp quan trọng góp phần rút ngắn thời kỳ CNH, HĐH đất nước
Bốn, công nghiệp hoá, hiện đại hoá được tiến hành trong một nền
kinh tế mở
Trước năm 1986, quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta chủ yếu diễn
ra với Liên Xô (cũ) và các nước XHCN anh em Quan hệ với các nước ngoài hệ thống XHCN rất hạn chế, thậm chí cấm đoán Vì vậy cũng có thể gọi thời kỳ này là thời kỳ, hướng ngoại có định hướng Tuy nhiên, ngay đối với các nước XHCN, quan hệ kinh tế đối ngoại cũng chỉ thực hiện trong một phạm vi hẹp với các hoạt động chủ yếu như nhận viện trợ, xuất khẩu sản phẩm mang tính hiện vật, xuất khẩu lao động Nhìn chung, quan hệ đối ngoại còn mang ý nghĩa chính trị hơn là kinh tế
Trong công cuộc CNH, HĐH đất nước hiện nay, quan điểm của Đảng ta như sau: "Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại Dựa vào nguồn lực trong nước là chính đi đối với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả" [24, tr.85]
Trang 28"Mở cửa" nền kinh tế là sự đổi mới m ang tính bước ngoặt trong tư
duy và quan điểm kinh tế của Đảng và N hà nước ta: T hứ nhất, đó là sự
thay đổi quan niệm về độc lập tự chủ trong kinh tế Trước đây, độc lập tự chủ được hiểu phải sản xuất lấy mọi thứ sản phẩm và dịch vụ đê phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước, hợp tác với nước ngoài chỉ ở mức độ cần thiết và chỉ trong phạm vi với các nước XHCN như đã nói ở trên Độc lập tự chủ lúc đó được thống nhất với "tự cấp, tự túc, khép kín nền kinh tế" Thứ hai, từ thực tiễn của những năm đổi mới, Đảng ta ý thức được sự bất hợp lý của quan niệm nói trên về độc lập tự chủ trong nền kinh tế và thấy
rõ rằng, kinh tế mạnh là tiền đề, điều kiện đảm bảo cho sự độc lập tự chủ của dân tộc Giữ vững độc lập tự chủ không phải bằng cách phát triển kinh
tế theo lối: "khép kín, đóng cửa", trái lại bằng chủ trương xây dựng nền kinh tế mở, "mở cửa" ngay cả đối với các nước tư bản
"Mở cửa" nền kinh tế chính là điều kiện kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức m ạnh của thời đại, sử dụng tổng hợp các nguồn lực bên ngoài
và nguồn lực bên trong để phát triển kinh tế của đất nước
N ăm , phát triển lực lượng sản xuất gắn với xây dựng hệ thống quan
hệ sản xuất mới theo định hướng XHCN
Quy luật về QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của CNH chủ yếu nằm trong hai khu vực quốc doanh và tập thể Vốn liếng, khoa học công nghệ, lực lượng lao động chủ yếu nằm trong hai khu vực này Giữa LLSX và QHSX chưa có sự ăn khớp, chú trọng xây dựng củng cố QHSX hơn là phát triển LLSX Với quan niệm , mỗi bước cải tạo QHSX cũ, xây dựng QHSX mới đều thúc đẩy
sự ra đời và lớn m ạnh của LLSX mới, cả Đại hội III và Đại hội VI đều nhấn mạnh đến công tác cải tạo XHCN, lấy công tác cải tạo làm trọng tâm trong thời kỳ đầy xây dựng CNXH
Kinh nghiệm thạc tiền cho thấy, lực ỉượng sản xuất bị kìm hãm chỉ trong trường hợp QHSX lạc hậu, mà cả khi QHSX phát triển không đồng
bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của LLSX Đại hội
VI chỉ rõ: "Trong mỗi bước đi của quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa, phải
Trang 29đẩy m ạnh việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, tạo ra lực lượng sản xuất mới, trên cơ sở đó tiếp tục đưa quan hệ sản xuất lên hình thức và quy
mô thích hợp để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển" [19, tr.57]
Trong công cuộc CNH, HĐH đất nước, Đảng ta chủ trương động viên mọi thành phần kinh tế tham gia, kể cả trong nước và ngoài nước, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, chính sách của Việt Nam Cấu thành của lực lượng sản xuất bao gồm các yếu tố chủ yếu sau:
* Công nghệ sản xuất gồm những công nghệ truyền thống được hiện đại hoá và công nghệ tiên tiến, mũi nhọn
- Lực lượng lao động được đào tạo phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh và quản lý
- Các ngành khoa học ngày càng phát triển, trở thành LLSX trực tiếp, là nhân tố hàng đầu trong quá trình HĐH đất nước
Đại hội VIII xác định: "Nếu công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo nên lực lượng sản xuất cần thiết cho chế độ mới, thì việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chính là để xây dựng quan hệ gắn bó chặt chẽ, ăn khớp
và phát triển theo hướng từng bước tiến lên của QHSX với hình thức và quy mô thích hợp tạo môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi cho LLSX phát triển hơn nữa"
Trong hệ thống QHSX trên, các thành phần kinh tế được đối xử bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh; hoạt động trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN; thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất, kinh doanh và hpân phối thông qua phúc lợi xã hội
Sáu, đưa khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo thành quốc
sáhc hàng đầu; văn hoá được coi là một yếu tố nội sinh; lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững
Trang 30Hai yếu tố cơ bản thúc đẩy LLSX phát triển nhanh là khoa học, công nghệ và nguồn lực con người Đảng ta xác định là khoa học và công nghệ là động lực, là nền tảng, còn nguồn nhân lực là nhân tố quyết định thắng lợi trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Văn hoá được coi là một yếu tố nội sinh, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội, Việc phát triển khoa học và công nghệ , giáo dục và đào tạo, phát triển văn hoá có tác động trực tiếp đến việc phát triển nguồn nhân lực Tất cả đều nhằm mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bổi dưỡng nhân tài, phát triển trí tuệ con người Việt Nam Mặt khác, việc đưa khoa học và công nghệ giáo dục và đào tạo lên quốc sách hàng đầu cũng
là nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững Đây là quan điểm mới của Đảng ta trong công cuộc CNH, HĐH đất nưóc,
và cũng là xu th ế phát triển chung của thế giới hiện nay Trước đây có những thời kỳ nền kinh tế nước ta hầu như không tăng trưởng (1976 - 1980) hoặc có tăng trưởng nhưng kém hiệu quả (1981 -1985) hoặc có tăng trưởng nhưng kém hiệu quả (1981 - 1985) mà theo quan điểm hiện đại cũng có thể gọi là tăng trưởng mà không phát triển Ngày nay, trong công cuộc CNH, HĐH đất nước, yêu cầu đặt ra là phải thực hiện tâng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững Ba mặt trên có liên quan mật thiết với nhau Tăng trưởng nhanh nhưng không đạt hiệu quả cao và bền vững thì chẳng những không tạo cho ra được phát triển mà tăng trưởng nhanh cũng không thực hiện được, cho nên, phải căn cứ vào hiệu quả kinh tế - xã hội
để xác định phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ để thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh Ngay trong quá trình tăng trưởng phải đảm bảo các yếu tố bền vững, trong đó yếu tô quan trọng nhất là nguồn lực, tức con người được đào tạo, bao gồm tất cả những kỹ năng, kiến thức và năng lực con người có liên quan tới sự phát triển Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững, đó là quan điểm m ang tính chiến lược của Đảng ta
Bảy, tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội
Trang 31Đây vừa là mục tiêu vừa là động lực của CNH, HĐH, có mối quan
hệ hữu cơ với việc phát huy nhân tố con người Nếu như tăng trưởng nhanh dựa vào hiệu quả đầu tư cho giáo dục, khoa học - công nghệ và không ngừng đổi mới, nâng cao trình độ quản lý, nói cách khác, tăng trưởng chủ yếu dựa vào phát huy nhân tố con người thì bất công xã hội sẽ làm giảm động lực của con người, trở thành nhân tố cản trở tăng trưởng và phát triển, ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện các mục tiêu đề ra Ngược lại, trong quá trình CNH, HĐH, nếu nhân dân được hưởng những thành quả của tăng trưởng, thực hiện tiến bộ và cỏng bằng xã hội, sẽ góp phần tạo ra động lực mới, thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc CNH, HĐH Quan điểm của Đại hội VIII là không chờ kinh tế phát triển cao rồi mới giải quyết vấn đề xã hội, mà ngay trong từng bước và suốt quá trình phát triển, tăng tưởng kinh tế phải luôn gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội
Tất nhiên về mặt kinh tế, công bằng xã hội không đồng nghĩa với chủ nghĩa bình quân Do đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi vùn
và trong các tầng lớp dân cư không giống nhau nên mức thu nhập của các
bộ phận và các cá nhân cũng khác nhau Tính công bằng trong sự chênh lệch đó thể hiện ở kết qủa lao động và hiệu quả kinh tế, ở mức đóng góp các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh Đảng ta chủ trương, khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp đi đồi với chăm
lo xoá đói, giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng, giữa các dân tộc, giữa các tầng lớp dân cư, làm cho mọi người, mọi nhà đều tiến tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc
Tám, tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo vệ an toàn môi trường sinh
thái
Nguy cơ toàn cầu hiện nay sau mấy trăm năm phát triển của CNTB
là sự trả thù khủng khiếp của tự nhiên do chính bàn tay con người gây ra
Đó là hậu quả của tăng trưởng bằng mọi giá - tăng trường không gắn với việc bảo vệ an toàn môi trường sinh thái dẫn đến sự huỷ hoại trầm trọng môi sinh Đó cũng là lý do giải thích vì sao, trên phạm vi toàn cầu, nạn thiên tai, dịch bệnh hoành hành ngày một dữ dội, đã cướp đi không ít
Trang 32những thành quả của tăng trưởng và cả sinh m ạng con người Chính Ảng ghen đã phát hiện rất sớm vấn đề này Trong tác phẩm Bệnh chứng của tự nhiên, ông cảnh cáo rằng "chúng ta cũng không nên quá tự hào về thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên Bởi vì cứ mỗi lần ta đạt được một thắng lợi, là mỗi lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta" [59, tr.654].
Là m ột nước đàng phát triển, đã trải qua nhiều năm công nghiệp hoá XHCN trước đây và mới bước vào CNH, HĐH Đảng ta ý thức rất rõ vấn đề này Tăng trưởng phải gắn liền với việc bảo vệ an toàn môi trường sinh thái không những là một vấn đề thuộc về bản chất của CNH, HĐH, với ý nghĩa là sự nghiệp vì con người mà còn là một điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển bền vững Điều đó có liên quan trực tiếp đến việc lựa chọn và sử dụng công nghệ, tổ chức và quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước và các nhà doanh nghiệp, về kế hoạch đô thị hoá, về giáo dục và thực hiện lối sống mới cho nhân dân , trong đó việc lựa chọn, sử dụngcông nghệ rất quan trọng Kinh nghiệm của các nước đi trước cho thấy, khi một vấn để được giải quyết thì mười vấn đề mới lại phát sinh do kết quả của những giải pháp đầu tiên Những vấn đề mới đó không phải là hậu quả của một thất bại mà chính là sự thành công về công nghệ Cho nên bất cứ một
sự lựa chọn công nghệ nào cũng đều phải đặt ra trong một không gian bền vững
Chín, xây dựng hệ thống chính trị ngang tầm là điều kiện tiên quyết
cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Hệ thống chính trị của nước ta bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị xã hội Trong đó, Đảng giữ vai trò lãnh đạo, Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị, là công cụ thực hiện quyền lực của nhân dân và mặt trận và tổ chức liên m inh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các đoàn thể chính trị - xã hội và các cá nhân tiêu biẻu cho các tầng lớp xã hội, các dân tộc và tôn giáo
Vai trò của hệ thống chính trị, trước hết là vai trò lãnh đạo của Đảng
và quản lý điều hành của Nhà nước là điều kiện quyết cho việc giải quyết
Trang 33các vấn dề then chốt của CNH, HĐH, như các mối quan hộ giữa công nghiệp với nồng nghiệp, thành thị với nông thôn; giữa giáo đục, khoa học, văn hoá với kinh tế; giữa trong nước với khu vực và thế giới, giữa cơ chế thị trường định hướng XHCN Đó là yêu cầu khách quan của việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu qủa quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước trong công cuộc CNH, HĐ đất nước.
Thực tế ở m ột số nước công nghiệp phát triển, công nghiệp hoá mới
và ngay cả những nước đang trong quá trình công nghiệp hoá thấy, sự khủng hoảng hệ thống chính trị có nguồn gốc sâu xa từ mâu thuẫn giữa kinh tế với chính trị
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu nước m ạnh, xã hội công bằng, văn minh Đó là cơ sở khách quan thuận lợi cho việc giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị Tuy nhiên, đó mới chỉ là điều kiện cẩn chứ chưa đủ Việc vận dụng thuận lợikhách quan đó vào hoạt động chủ quan trong lãnh đạo và quản lý kinh
tế - xã hội, làm sao thể hiện được mục tiêu trên trong từng thành công hay không còn tuỳ thuộc vào phẩm chất, năng lực, trình độ của đội ngũ cán
bộ, của các nhà lãnh đạo, quản lý, các nhà sản xuất kinh doanh, ở công tác
tổ chức bộ máy và những người thừa hành từ trung ương đến cơ sở
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề trên, Đại hội VIII một lần nữa nhấn m ạnh, phải tập trung xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức coi đó là nhiệm vụ then chốt trong thời kỳ phát triển mới Đồng thời tiếp tục cải cách bộ máy Nhà nước, hoàn thiộn
về thể chế, xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới; tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, phát huy tốt vai trò làm chủ của nhân dân, tạo ra những động lực mới thúc đẩy công cuộc CNH, HĐH đất nước Nhiệm vụ trên vừa mang tính cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước theo những định hướng m à Đai hội VIII đã đề ra
Trang 341.2.3 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn (2001- 2005)
Bước sang th ế kỷ XXI, thế giới tiếp tục có nhiều biến đổi Khoa học
công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt Kinh tê' tri thức có vai trò ngày càng
nổi bật trong quá trình triển lực lượng sản xuất Toàn cầu hoá kinh tế là xu
thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham g ia Những nét mới
này đem lại cho chúng ta cả cơ hội lớn và thách thức lớn Trong đó nguy
cơ tụt hậu xa hơn nữa về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên
thế giới vẫn tồn tại
Trên cơ sở tổng kết những thành công và hạn chế của 15 năm đổi
mới, 10 năm thực hiện chiến lược ổn định kinh tê' x ã hội ỉ 990-2000, 5
năm đẩy mạnh công nghiệp hoá đất nước của Đại hội VIỈỈ Đại hội IX đã
tiếp tục khẳng định các quan điểm tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đã được xác định ở Đại hội VIII và tiếp tục xây dựng chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010 là: Đưa nước ta ra khỏi tình trạng
kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất tinh thần của nhân dân,
tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta về cơ bản trở thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và
công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăn
cường; thể ch ế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình
thành đồng bộ về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng
cao”
Để thực hiện chiến lược nêu trên, Đại hội xác định “phát triển kinh
tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm ”
Đại hội Đảng IX đã bổ sung một số nhận thức mới về công nghiệp
hoá, hiện đại hoá:
- Con đường và logic công nghiệp hoá rút ngắn chính thức được đề cập “Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta cần và có thể rút
ngắn về thời gian, vừa có bước đi tuần tự, vừa có bước nhảy vọt” Việc bổ
sung tư tưởng rút ngắn là nhận thức mang tính sáng tạo và phù hợp với điều kiện hiện đại
Trang 35- Để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn, bên cạnh việc phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học cổng nghệ, Đại hội đã thừa nhận “kinh tế Tri thức” và coi phát triển tri thức là nội dung mới của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, “Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiến tiến, đặc biệt là cống nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn,
ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức m ạnh tinh thần của người Việt Nam; coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”
- Chủ trương công nghiệp hoá rút ngắn theo hướng hiện đại, coi đây
là phương thức khắc phục nguy cơ tụt hậu xa hơn nữa vể kinh tế
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải bảo đảm xây dựng nền kinh t ế độc lập, tử chủ, trước hết là độc lập tự chủ về đường lôi, chính sách, đồng
thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh: có mức tích luỹ ngày càng cao từ nội bộ nền kinh tế; có cơ cấu kinh tế hợp lý, có sức cạnh tranh; kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại và có một số ngành công nghiệp then chốt; có năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ; giữ vững ổn định kinh tế - tài chính vĩ mô; bảo đảm an ninh lương thực, an toàn năng lượng, tài chính, môi trường Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tê; kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp
- Công nghiệp hoá nhằm phát triển kinh t ế nhanh, có hiệu quả, bển vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu (ao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Mọi hoạt động kinh tế được đánh giá bằng hiệu quả
tổng hợp về kinh tế, tài chính, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư dựa trên cơ sở phát huy các thế mạnh và các lợi thế so sánh của đất nước, tăng sức cạnh tranh, gắn với nhu cầu thị trường trong nước và ngoài nước, nhu cầu đời sống nhân dân và quốc phòng, an ninh Tạo thêm sức mua cúa thị trường trong nước và mở
Trang 36rộng thị trường ngoài nước, đẩy mạnh xuất khẩu, v ề thực chất đây là mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá hỗn hợp, kết hợp giữa hướng ngoại và hướng nội.
- Đẩy nhanh cồng nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn Phát triển nông nghiệp nông thôn bằng cách ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học; đẩy m ạnh thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, điện khí hoá, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội Đổi mới cơ cấu cây trổng, vật nuôi, tăng giá trị thu được trên đơn vị diện tích; giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ nông sản hàng hoá Phát triển công nghiệp, dịch vụ các ngành nghề đa dạng, chú trọng công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp, các làng nghề, chuyển một bộ phận quan trọng lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, tạo nhiều việc làm mới; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện đời sống nông dân và dân cư ở nông thôn
Đẩy m ạnh công nghiệp hoá phải tính đến yêu cầu phát triển bền vững trong tương lai Yêu cầu quan trọng hàng đầu là phải sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học Tăng cường công tác quản lý ở tất cả các lĩnh vực, các vùng; thực hiện nghiêm Luật bảo vệ môi trường
Trang 37Chương 2
THỰC TRẠNG CÔNG NG H IỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NẢM 2005
2.1 Thời kỳ ổn định kinh tê xã hội và tạo lập các tiền đề công nghiệp hoá (1986-1994).
“Nhiệm vụ chặng đường đầu tiên là nhằm ổn định mọi mặt tình hình kinh tế xã hội, tạo tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh CNH ở chặng đường tiếp theo”
“Nội dung chính của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên là phải thật sự tập trung, sức người, sức của vào việc thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”
2.1.1 Thực hiện ba chương trình kinh tê
Thực hiện chủ trương CNH từ Đại hội VI, trong thời kỳ 1986-1990,
ba chương trình kinh tế được dành trên 60% vốn đầu tư của Ngân sách Trung ương và 70 đến 80% vốn đầu tư của ngân sách địa phương Ngoài ra các địa phương còn huy động thêm các nguồn vốn đầu tư bổ sung bằng khoảng 30 đến 35% vốn đầu tư của Ngân sách Nhà nước cũng đã kiên quyết đình hoãn gần 40 công trình lớn và cắt giảm 350 công trình nhỏ.Tháng 8 năm 1987, Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương
ra Nghị quyết về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chủ trương thực hiện chế
độ tự chủ kinh doanh của các xí nghiệp quốc doanh và đổi mới cơ chế quản lý nhà nước về kinh tế, chuyển phương pháp giao chỉ tiêu pháp lệnh với quan hệ cấp phát vật tư giao nộp sản phẩm là chủ yếu sang phương pháp hướng dẫn và sử dụng các chính sách kinh tế là chủ yếu Trên cơ sở
đó, tháng 11 năm 2007, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành quyết định 217/HĐBT quy định cụ thể chế độ tự chủ kinh doanh của các
xí nghiệp quốc doanh Nhờ đó các xí nghiệp nãng động hơn và bước đầu sản xuất kinh doanh có lãi Đến năm 1990, Quốc Hội thông qua Luật Doanh nghiệp tư nhân và công ty, cho phép thành lập các cơ sở kinh doanh có tư cách pháp nhân ngoài sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể
Trên lĩnh vực nông nghiệp, tiếp theo Chỉ thị sỏ' 100 CT/TW về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lào động và
Trang 38người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp, tháng 4 năm 1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp Tháng 3 năm 1989, HNTƯ 6 (khoá VI) tiếp tục khẳng định những phương hướng lớn trong đổi mới quản lý nông nghiệp Các nghị quyết trên đã:
- Thừa nhận sự tồn tại lâu dài, bình đẳng của các thành phần kinh tế
quốc doanh, tập thể, cá nhân, cá thể
- Hợp tác xã và tập đoàn sản xuất là những đơn vị kinh tế hợp tác với nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, có tư cách pháp nhân, hoạt động trên cơ sở tự quản, tự xác định hình thức, quy mô phương hướng sản xuất, kinh doanh
- Hộ xã viên hoặc gia đình xã viên là những đơn vị kinh tế tự chủ.Trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại, tháng 12 năm 1987, Nhà nước đãban hành Luật đầu tư nước ngoài vào Việt nam, tạo điều kiện cho các đốitác bên ngoài tham gia phát triển kinh tế Việt Nam
Cơ chế xuất nhập khẩu từng bước được đổi mới Từ chỗ Nhà nước nắm độc quyền ngoại thương đến tháng 4 năm 1986, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh
tế cơ sở, cho phép các đơn vị kinh tế có đủ điều kiện được trực tiếp xuất nhập khẩu, giao dịch, liên kết kinh tế với nước ngoài Đến Hội nghị TW 3 (khoá VI) tháng 8 năm 1987, chính sách trên được cụ thể thêm, cho phép các xí nghiệp có làm hàng xuất khẩu được trực tiếp xuất nhập khẩu, trực tiếp hợp tác với bạn hàng nước ngoài, chủ động ký kết các hợp đổng kinh
tế trên nguyên tắc tự hoàn vốn ngoại tệ và có phần đóng góp vào quỹ ngoại tệ của Nhà nước Các xí nghiệp tự chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc thực hiện những hợp đổng mà mình đã ký
Trên lĩnh vực tài chính, giá cả, phân phối lưu thông cũng có nhữngđổi mới quan trọng Từ việc chia cắt thị trường xã hội thành thị trường có
tổ chức và thị trường tự do, thực hiện cơ chế hai giá chuyển sang thực hiện
cơ chế m ột giá rồi chuyển tiếp sang giá thị t r ường tỷ giá giữa đồng Việt Nam và ngoại tệ phải phù hợp với giá thị trường trong nước và giá thị trường quốc tế
Nhờ bố trí lại cơ cấu kinh tế, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư đi đôi với việc tháo gỡ những vướng mắc trong sản suất kinh doanh nên việc thực hiện ba chương trình mục tiêu đã thu được những kết quả khả quan
Trang 39- v ề chương trình lương thực, thực phẩm, sau mấy năm giảm sút từ chỗ thiếu ăn triền miên, năm 1988 còn phải nhập hơn 45 vạn tấn gạo, đến năm 1989 chúng ta đã có thể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, có dự trữ và xuất gạo trên 1 triệu tấn gạo Từ chỗ nhập khẩu gạo, Việt Nam đã trở thành nước đứng thứ 3 về xuất khẩu gạo trên thế giới.
2.1.2 Tạo lập tiền đ ề công nghiệp hóa
Vấn đ ề vốn.
- Vốn đầu tư và thị trường tài chính
Trước đổi mới, trong cơ chế quản lý kinh tế quan liêu bao cấp của một nền kinh tế chỉ huy, Việt Nam không có thị trường tài chính Mọi nguồn vốn đều được tập trung vào tay nhà nước để phần phối theo kế hoạch cho từng dự
án đầu tư và từng xí nghiệp Khi công cuộc đổi mới được tuyên bố vào cuối năm 1986 và chính sách phát triển một nền kinh tế nhiều thành phần được thực hiện thì các nguồn vốn được giải phóng và làn sóng đầu tư bắt đầu dâng lên mạnh mẽ ở tất cả các khu vực Nếu như năm 1988, tỷ lệ đầu tư của nền kinh tế chỉ đạt 8,9% GDP thì đến nãm 1991 tỷ lệ tiết kiệm (S/GDP) là 10,1%
và tỷ lệ đầu tư (I/GDP) là 15% Năm 1994 các tỷ lệ tương ứng là 16,7% và 24% Tiết kiệm và đầu tư đều tăng mạnh ở cả 2 khu vực Nhà nước và tư nhân,
ở khu vực Nhà nước, nếu năm 1991 phần thu ngân sách của Chính phủ vẫn chưa đủ bù đắp nhu cầu chi thường xuyên thì từ năm 1992 đã bất đầu có tiết kiệm và năm 1994 tỷ lệ tiết kiệm của ngân sách Chính phủ đạt 4,5% GDP Ở khu vực tư nhân, năm 1994, tỷ lệ tiết kiệm của hộ gia đình đạt trên 11% GDP, trong đó phần tự đầu tư của khu vực này đạt khoảng 6,5% GDP, phần còn lại được cung cấp cho khu vực doanh nghiệp và Chính phủ Tuy nhiên, điều đáng
lưu ý là một phân đáng kể, ước khoảng 5% GDP trong tiết kiệm của dân cư đã
được đưa vào xây dựng nhà ở, do đó, phần chi cho đầu tư phát triển kinh tế còn thấp
Trong 5 năm 1991- 1995 nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt khoảng 15 đến 16 tỷ USD, trong đó phần của Nhà nước chiếm gần 43% bao gồm cả đầu tư ngân sách Nhà nước, tín dụng đầu tư Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước tư đầu tư, phần vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 37%, đầu tư của nhân dân chiếm trên 20% Chính phủ đã chuyển mạnh từ cơ chế đầu tư bằng vốn ngân sách đối với các doanh nghiệp Nhà nước có tính bao cấp sang tín dụng đầu tư, mở rộng liên doanh liên kết, vay vốn trong nước và ngoài nước Nhờ đó, chính phủ đả tập trung hơn vốn của ngân sách Nhà nước
Trang 40cho hạ tầng kinh tế - xã hội Đầu tư của nhân dân đã dẫn tới nhiều cơ sở sản xuất tư nhân được hình thành và hoạt động có hiệu quả, phần lớn ở dạng quy
mô nhỏ và vừa, nhung cũng có một số doanh nghiệp tư nhân ở quy mô lớn, thu hút nhiều lao động
So sánh với các nước công nghiệp mới Đông Á và một sô nước ở Đông Nam Á, tỷ lệ tích luỹ và đầu tư của Việt Nam đều thấp hơn nhiều Điều đó cho thấy việc huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế ở Việt Nam tuy đã có những kết quả ban đầu nhưng vẫn còn là một lĩnh vực nóng bỏng và là một thách thức lớn và lâu dài đối với quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá của Việt Nam
Bảng 1: Tiết kiệm và đầu tư trong một số nước Đông Á
% so với GDP
HồngKông
HànQuốc
Xingapo Đài
Loan
Inđônê-xia
TháiLan
ViệtNam
Nguồn Kinh tế và dự báo,8/1995 Uy ban kế hoạch Nhà nước
- Long - term Economic Development Forecast
Việt Nam State Planing Committee Development Strategy Institute Feb 1995
Thị trường tài chính Việt Nam bao gồm 3 yếu tô' cấu thành là: Thị trường ngầm, thị trường tín dụng qua hệ thống ngân hàng và thị trường phát hành trái phiếu, cổ phiếu Quá trình đổi mới chuyển sang kinh tế thị trường ở Việt Nam