1. Trang chủ
  2. » Ngoại ngữ

Nhà ở của sinh viên ngoại tỉnh về học ở Đại học Quốc gia Hà Nội

150 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 72,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những điều kiện tiên quyết này là cốt lõi của nhân cách cá nhân.. T..[r]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VÃN

====== Cũ =====

NHÀ Ở CỦA SINH VIÊN NGOẠI TỈNH

VỂ HỌC ở ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Hà Nội, tháng 12 nãm 2004

Trang 2

£Ờ 2Q tQ & <Đ <Ẩ ai

Sinh viên là một tầng lớp quan trọng b ố sung vào nguồn nhản lực của X liội Đây là một bộ phận mi tú về học vấn của xã hội, họ s ẽ dclảm nhận nliữh trọng trách nhất định trong việc phụng sự đất nước sau này Ho cũng lù d( tượng giáo dục cơ bản nhất của nhà trường đại học Sự thành bại của sự ngluệ giáo dục đại học phụ thuộc rất nhiều nỗ lực của sinh viên Điều này được phủ ánh rất rỗ trong n ề nếp thói quen, phong cách hay lối sống của họ.

M ục tiêu của giáo dục đại học không chỉ giáo dục tri thức, kỹ năng tiglĩ nghiệp đ ế cỉutẩn bị cho vai trò lao động nghê nghiệp-xã hội sau này, mà xa hơi

họ cần tự chủ irong đời sống của chính mình Chính thế, phạm vi giáo dục khôn chỉ dừng ở “trí dục", “đức d ụ c ”, “mỹ d ụ c " mà còn giáo dục cả cách sổng là) người trong xã hội Nhiệm vụ của nền giáo dục đại học nặng nề, nhưng đất nưó

còn nghèo nên toàn Đảng và Nhà nước vẫn chưa th ể đáp ímg được những điề kiện đầy đủ nhất cho sự nghiệp giáo dục đại học, cho nên một bỡ phận sinh vièì nhất là sinh viên ngoại tỉnh chưa có dược cơ hội sống trong các khu nội trú Cìl nhà trường Một bộ phận sinh viên ngoại tỉnh phải tự tìm nhà cư trứ ngoải cá khu dân cư, ở nơi họ vê học tập.

Mặt khác, cơ c h ế đổi mới cũng ảnh hưởng đến sự suy nghĩ vả lựa chọn V

nơi cư trú của nhóm sinh viên này Cho nên chân dung lối sống của sinh viên d

đa dạng hoá rất nhiều Việc nghiên cíni nhà ở của sinh viền ngoại tỉnh về họ í [rường đại học, nhưng không ở nội trú, không những là một vấn đê cần thiết, m còn là m ộĩ nghiên cíni nên tiến hành thường xuyên Chính nghiên cíat này khán chỉ b ổ sung và làm súng ỉỏ cho những nghiên cíai về lối sống sinh viên, mà cò

Trang 3

nnmtỵ, UIL-H Kiẹn song va sinh hoại của họ - một bộ phận sinh viên, mả n trường đã phải chuyển giao một phần chức năng quản lý họ cho c h í III: quyt nơi họ tạm trú Hơn th ế nó cũng chỉ ra những khó khăn mà họ gặp phải, nhữ suy tư của họ, những nguyện vọng của họ về nội írú cho th ế hệ sinh viên mai Si của nhà trường.

Trôn nhữìig kết quả nghiên CÍCII, những khuyến nghị và đề xuất giúp nhữ,

tổ chức, cún bộ quản lý sinh viên Đại học Quốc gia và các trường thành viên những íhông tin xác thực về thực trạng ngoại trú của sinh viên ngoại tỉnh, hi sâu về lối sống sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội, cũng như có những hoa, định trước mắt và lâu dài đ ể giúp sinh viên ngoại tỉnh phấn đấu, rèn luyện hot

Khi nghiên CÍCII đã khép lại, chủng tôi xin chân thành cám ơn ỷic đóng g( nhiệt tỉnh và trung thực của 600 bạn sinh viên của cúc trường Đại học Khoa hi

Xã hội và Nhân vãn, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Ngoại ngữ thuộc Đ hoe Quốc gia Hù Nội; cám ơn các bạn sinh viên đã tham gia m ộ c Toạ đàm

đươc thực hiện ở giai đoạn I của đề tài.

Chúng tôi xin chân thành Trung tàm nội trú sinh viên, Đại học Qỉtốc g

Hà Nội, Ban giám đốc các khu ký túc xú sinh viên, cúc phòng ban chức nấn một s ố cán bộ quản lý của các trường, đ ã giúp chúng tôi có được những 'thôi tin về sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội.

Chúng tôi xỉn chân thành cám ơn các đồng chí cán bộ của Ban khoạ học

Công nghệ, Phòng Khoa học của trường Đ ại học Quốc gia Khoa học Xã hội 1 Nhân vãn, Đại học Quốc gia Hà N ội đ ã tận tình giúp đỡ, hướng dẩn chúng t

hoàn thành nghiên cícit này.

Chúng tôi xin chùn thành cám ơn ban lãnh đạo khoa Xã hội học, các thu

cô, các bạn đồng nghiệp trong và ngoài khoa đã tạo điều kiện và khích lệ chúi tôi trong quá trình thực hiện đê tài.

Tác giả Tống Văn Chung

Trang 4

C h u ô n g 2: C ơ SỞ LÝ LUẬN CHO NGHIÊN c ứ u VỂ NHÀ Ở CỦA SINH VIÊN TÍNH

NGOÀI VỀ HỌC Ớ ĐẠI HỌ C QUỐC GIA HÀ NỘI

2.5 Khung lv thuyết hay mỏ hình nghiên cứu

C h ư ơ n g 3 : NHƯ CẦU VÀ NHÀ Ở CỦA SINH VIÊN NGOẠI TRÚ TỈNH

N GOÀI VỂ HỌC Ở ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

3.1 Vài nét về “cư t r ú ’ sinh viên ngoại tỉnh trong Đại học Quốc gia Hà 'ầf'

Trang 5

C h ư ơ n g 4: NHỮNG LÝ DO Ớ NGOẠI TRÚ CÚA SINH VIÊN TINH NGOÀI ĐANG HỌC

TẬP Ở ĐẠI HỌC Q U ỐC GIA HẢ NỘI

5.2 Tinh hình thục hiện việc đủng kv tạm trú với cóng an khu vực của 90

sinh viên ngoại trú

của nhà trường

Chương 6: MÔ HÌNH KÝ TÚC XÁ VÀ NHÀ Ở TƯƠNG LAI

TRONG QUAN NIỆM CỦA SINH VIÊN NGOẠI TỈNH

tỉnh

6.4 Mô hình vê loại nhà ở cho sinh viên ngoại tỉnh 112

PHẨN KẾT LUẬN VÀ KHUYÊN NGHI

Trang 6

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỂ CHUNG

1 - Lịch sử ván đề

Sự phát triển kinh tế xã hội trong quá trình đổi mới đã tác động không nhỏ đến nhiều tầng lớp và nhóm xã hội trong đó có sinh viên, nhất là sinh viên từ các tỉnh trong cả nước về học tập và tu dưỡng tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Với những đặc trưng riêng của tuổi trẻ, tầng lớp sinh viên nói riêng, cũng như thanh niên cả nước nói chung đang đứng ở trung tâm của sự biến đổi của xã hội, trong đó có những biến đổi về lối sống, về quan niệm sống cả những mặt tích cực lẫn tiêu cực

Sự phát triển của nền kinh tế thị trườnơ, sự hội nhập vào khu vực và thế giới

đã tạo ra một thế hộ sinh viên mới, những sinh viên thời hiện đại, có những nâng động mới và bản lĩnh mới chấp nhận những khắc nghiệt của cơ chế thị trường Vượt qua moi khó khăn để lập nghiệp, vươn lên chiếm lĩnh những đỉnh cao của trí tuệ

Và trong quá trình đổi mới của đất nước, sự ra đời của Đại học Quốc gia

Hà Nội là để đáp ứng nhu cầu của thời đại, nhằm tổ chức đào tạo nguồn lực cho đất nước đạt chất lượng cao, đuổi kịp trình độ tiên tiến của đào tạo đại học trong khu vực và thế giới

Sự chuyển đổi mô hình tổ chức đào tạo của Đại học Quốc gia Hà Nội kéo theo một loạt những thay đổi cãn bản về cơ cấu tổ chức, trong đó có hoạt động quán lý các sinh viên ngoại tỉnh

Cãn cứ vào Nghị định của Chính phủ về thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội, một trong 2 trung tâm đào tạo đa ngành đa lĩnh vực có chất lượng cao trong

cả nước, đã đòi hỏi có sự tái cấu trúc bộ phận chức năng và phương thức quản lý sinh viên từ các tỉnh về học tập và rèn luyện tại đây

Việc thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội với ba trường thành viên (trường Đai hoc ngoai nsữ, đai hoc Khoa học Xã hội và Nhân vãn, trườns đại hoc Khoao o • •

Trang 7

học Tự nhiên), các khoa trực thuộc (khoa quản trị kinh doanh, khoa luật, khoa kinh tế và khoa công nghệ) đòi hỏi có Ban điều hành hoạt động của các trung tủm nội trú sinh viên ở hai khu vực đường Xuân Thuỷ và Mễ Trì theo một cung cách quản lý mới.

Mặt khác, do quá trình đang đổi mới, việc đầu tư xày dựng, nâng cấp chất lượng cho các trung tâm nội trú sinh viên vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của sinh viên ở nội trú trong các ký túc xá Điều này đòi hỏi các cấp lãnh đạo Đại học Quốc gia cần có những chủ trương giải pháp thích hợp để một mặt đáp ứng được những yêu cầu của sinh viên thuộc diện chính sách, và có nguồn gốc xuất thân ở những vùng sâu, vùng xa, con em các dân tộc ít người, mặt khác, dần đáp ứng

đủ cầu quản lý sinh viên tập trung trong quá trình học tập

Hiện số chỗ và phòng ở dành cho các sinh viên ngoại tỉnh không thuôc diện trên còn khiêm tốn Điều đó buộc các tân sinh viên và gia đình họ phải tìm

kiếm nơi ờ giúp con em họ ổn định học tập, vươn lên đạt ước mơ và hoài bão

của mình Và sống xa nhà, tự lập là thử thách đầu tiên trong cuộc đời sinh viên của những sinh viên ngoại tỉnh, khi vừa rời khỏi gia đình và mái trường phổ thông

Việc mở rộng về quy mô, đa dạng về loại hình của công tác đào tạo trong các trường thành viên của Đại học Quốc gia (ĐHQG) Hà Nội đã đặt công tác quản lý sinh viên nói chung và sinh viên nội trú nói riêng trước những thách thức lớn Thí dụ như với quỹ nhà của ký túc xá Mễ trì chỉ có thể đáp ứng đựoc 40% nhu cầu ở nội trú của sinh viên các tỉnh xa, hiện tại ký túc xá Mễ trì chỉ có thể tiếp nhận 1500 sinh viên của 2 trường ĐH KHTN và ĐH KHXH & NV vào

ờ nội trú (trong đó 900 sinh viên nữ và 600 sinh viên nam )1 Như vậy nhu cầu về

ở nội trú là rất lớn

Với sự đáp ứng như trên vể chỗ ở nội trú, một bộ phận lớn sinh viên phái

“tự tìm” cho mình nơi cư trú ngoài ký túc xá Điều này dẫn đến những khó khàn

Trang 8

trong quản lý sinh viên của nhà trường Vấn đ ề đặt ra là: sinh viên tỉnh ngoài họ

ở dâu, hiện họ thuê nhà như th ế nào, vấn đ ề bảo đảm an ninh trật tự cho họ? làm th ế nào đ ể nhà trường quản lý được sinh viên ngoài giờ trên giảng đường đ ể đánh giá chính xác sự rèn luyện của họ? làm thê nào đ ể giáo due, ngăn ngửa tránh khỏi những tệ nạn x ã hội? v.v Nên việc nghiên cứu được đặt ra trong

nghiên cứu này là cần thiết và mang tính thời sự

Trong những năm gần đây, để hỗ trợ những sinh viên mới nhập trường, ở các trường thành viên đã tổ chức phong trào hỗ trợ tìm kiếm giới thiệu "nơi ở" cho sinh viên năm thứ nhất Đó là những hoạt động tích cực của đội ngủ sinh viên tình nguyện ở các trường Nhưng vấn đề đặt ra là, nhữns nơi ở tỉó có phù hợp với "hoàn cảnh cá nhân", với "kinh tế", có đảm bảo an toàn cho bản thân họ, những khó khăn gì họ vấp phải? v.v, là những vấn đề còn chưa được làm sáng,

tỏ Nghiên cứu này muốn giải quyết vấn đề đó

Cơ chế thị trường cũng tác động không nhỏ đến một bộ phận sinh vic.il

năng động Một bộ phận sinh viên muốn tìm kiếm cơ hội, thử sức của mìn!)

trong hoạt động chung của xã hội - làm thêm - và phụ giúp gia đình họ, nhất Jr- con em sinh viên những gia đình kinh tế khó khăn Nhưng kỷ luật về giờ giấc sinh hoạt của các trung tâm ngoại trú cũng "cản trởM ít nhiểu đến những hoạt động ngoài giờ lên lớp của họ, nên họ tìm kiếm cơ hội ở khu vực ngoại trú

Một bộ phận sinh viên xuất thân từ những hoàn cảnh thuận lợi, hay do nốỊ.1

sống tự do buông thả trước khi nhập trường, cũng muốn có "tự do "nhất định trong việc sống và học tập ở thủ đõ, nên tự lựa chọn cho mình "cách sống riêng" , để đáp ứng nhu cầu của bản thân, của các bậc phụ huynh họ

Chính trong những biến đổi nhanh chóng của đất nước đang sang nền kinh

tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đã và đang tạo ra cho thế hệ trẻ mồt sự tin tưởng vào một nguồn sinh lực mới để hướng tới tương lai tươi sáng, nhưnẹ

' Đào Vãn Hài B/C “ C ồ n s tác quàn lý sinh viên và an nin h trật tự ở K T X M ẻ trì, Đ H Q G Hà Nội, tháng

4 /2 0 0 4

Trang 9

cũng đầy thử thách cam go Những biến đối hàng ngày của cuộc sống ngoài nhà trường đang kích thích thanh niên, sinh viên nhanh chóns nhàp cuộc tìm chổ đứng của mình cá trong việc học tập và lao độnơ nhằm phát huy khá nãng sáng tạo của mình, để sữn sàng bước vào sự nghiệp xây dựng đất nước.

Tuy nhiên trong quá trình đổi mới này, một bộ phận thanh niên, sinh viên kịp hội nhập và chấp nhận những quy luật khắt khe của cuộc sống mới; một bộ phận khác lại hội nhập theo hướng tiêu cực, và hệ quả là những sai lệch của những sinh viên này gây ra những hậu quả xã hội cho dân tộc, đất nước

Sinh viên, một nhóm đặc thù trong xã hội, một bộ phận tiền thân của tầng lớp trí thức cũng không nằm ngoài những tác động của quy luật phát triển chung Sự tác động này chi phối không chỉ lối sống nói chưng, mà nồ còn ảnh hường không nhỏ đến quan niệm sống, học tập của họ

Để xã hội có trật tự kỷ cương và để quản lý sinh viên học tập tốt trong Đại học Quốc gia Hà Nội, việc nghiên cứu những thực trạng về nhà ở (dù thuê/trọ, hay có căn hộ do cha mẹ mua cho, V.V ), nghiên cứu những nhu cầu ở và sinh hoạt của một bộ phận sinh viên đặc thù của Đại học Quốc gia Hà Nội là mội sư nghiên cứu thực nghiệm cần thiết Qua khảo sát nghiên cứu đó, một mặt, ta hiểu được quan niệm cũng như nhu cầu của sinh viên ngoại tỉnh, những mong đợi của

họ từ phía xã hội, mà nhà trường là người đại diện; mặt khác, trên cơ sở đó có thể đề ra những quyết sách đúng đắn trong việc điều chỉnh hoạt động quản 1) sinh viên nói chung, và sinh viên ngoại tỉnh ngoại trú nói riêng Từ đó, cũng thấy được những khó khăn mà nhà trường - gia đình - xã hội cùng có trách nhiệm tháo gỡ cho sinh viên ngoại tỉnh trong những năm tháng học tập tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong khuôn khổ một nghiên cứu thực nghiệm xã hội học, chúng tôi triển khai nghiên cứu sâu một lĩnh vực hoạt động sống của một bộ phận sinh viên Dại học Quốc gia Hà Nội, bổ sung cho những nghiên cứu về sinh viên, mà một tron&

số đó là công trình nghiên cứu về “Lối sống của sinh viên Đại học Quốc gia Ha

6

Trang 10

Nội” (đề tài QX 1999 — 12) đã được chúng tôi tiến hành Công trình này đã đươc nghiệm Với những lý do trên chúng tồi chọn vấn đề ‘Nhà ở của sinh viên ngoại tỉnh về học tại Đại học Quốc gia Hà Nội” làm đề tài cho nshièn cứu này.

2 - Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích của nghiên cứu này nhằm tìm hiểu, mô tả và đánh giá thực trạng nơi ở ngoài các ký túc xá của Trung tâm ngoại trú của sinh viên từ các tỉnh về học ở Đại học Quốc gia Hà Nội Phân tích những điều kiện sống, những khó khăn của họ ở nơi ở trọ/thuê để thấy sự thích ứng của họ với hoàn cảnh thực tại

Từ đó thấy được sự thay đổi quan niệm cư trú của họ

Bên cạnh đó cũng phân tích nhu cầu ở trong "ký túc xá" của nhóm sinh viên ngoại tỉnh, phân tích để tìm ra sự ảnh hưởng của những nhân tố tích cực cũng như tiêu cực ảnh hưởng, chi phối của chúng đối với hoạt động học tập, sinh hoạt của họ, và mức độ ảnh hưởng của những nhân tố này đến quan niệm cư trú cúa sinh viên

Nghiên cứu này cũng hướng đến việc cung cấp những thông tin thực nghiệm, những phân tích, lý giải từ hướng tiếp cận xã hội học về cung cách "cư trú tạm thời" của sinh viên ngoại tỉnh hiện nay cho những nhà quản lý, đào tạo ở các trường đại học trên địa bàn Hà Nội nói riêng, và cũng giúp cho những nguời quan tâm đến cuộc sống sinh viên tỉnh ngoài về Hà Nội học tập tham khảo

Nghiên cứu cũng nhằm đề xuất kiến nghị về cải tiến cung cách quản lý, tổ chức sinh hoạt cho sinh viên "ngoại trú" hiện nay đang học ở Đại học Quốc 2ia

Hà Nội

3 - Khách thê nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu là những sinh viên ngoại tỉnh ngoại trú đang học tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Đối tượng nghiên cứu: Nhà ở ngoại trú cùa sinh viên ngoại tỉnh học tập tai

Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 11

Phạm vi thực hiện: Ba trường thành viên của Đai hoc Quốc gia Hà Nội

4 - Ý nghĩa lý luận và thực tiến của đề tài nghiên cứu

đó khắng định quy luật xã hội học: những quan niệm sống của mộl nhỏm xã hội phụ thuộc vào những cơ sỏ vật chất và những điều kiện kinh tế nhất định, những

cơ sở này biến dối mạnh m ẽ trong cơ c h ế thị (rường lùm ỉhav dổi quan niệm vé nơi sống, tự ĩổ chứccuộc sống đ ể học tậ p , rèn luyện sao cho lot nhái của sinh viên; mặt trái của cơ c h ế thị trường gảy ảnh hưởng ít, nhiều khác nhau đếìi hành

4.2 - Ý nghĩa thực tiẻn

Nghiên cứu nàv chỉ ra cho những ai quan tâm (quản lý hay nghiên cứu) đến sinh viên thấy được thực trạng 'cư trú" của sinh viên ngoại tinh, lỏi sống, tâm tư nguyện vọng, định hướng của nhóm sinh viên đặc thù này:

Động cơ cũng như những quyết định lựa chọn nơi tá túc ngoài "ký túc xá" của các trung tâm nội trú sinh viên

Sự năng động của người dân trong lĩnh vưc "dịch vụ' nhà ở cho siíih viên trên địa bàn hiện nay

Nghiên cứu cũng cho thấy những khó khăn sẽ gặp phải trong quản lý không chỉ của nhà trường, cũng như nhà quản lý hành chính nhà nước đối với nhóm đối tượng này

5 - Phạm vi thực hiện nghiẻn cứu

8

Trang 12

Nghiên cứu về tình trạng "cư trú của sinh viên ngoại tính" là một điéu

không giản đơn Thứ nhất, địa bàn cư trú của họ phụ thuộc vào địa điểm gần hay tiện cho họ đến học; Thứ - hai, phụ thuộc vào “ngân quỹ" chu cấp của gia đinh

họ hay gọ có được do họ tự bươn chải có được; Thứ - ba, phụ thuộc vào chính ý

muốn chủ quan của những sinh viên đó v.v Điều đó cho thấy tính phức tạp của nghiên cứu này

Lựa chọn ngẫu nhiên những sinh viên ngoại tỉnh ngoại tr ú ở những năm học khác nhau là cần thiết Nhóm này cho thấy sự khác nhau trong quan niệm

về nơi cư trú của họ ở Hà Nội hiện nay Để thực hiện mục tiêu nshiên cứu, nghiên cứu này k hông tiến hành khảo sát nhóm sinh viên tính ngoài đang ở nội trú, mà chỉ tiến hùnh khảo sát những các sinh viên ngoại tỉnh hiện đang ở ngoại trú Điểu này cho phép tiến hành nghiên cứu được sâu sắc hơn

Việc nghiên cứu này cũng không quan tâm nhiều đến nguồn gốc xuất thái!

(nơi xuất cư) của họ Lý do là, s ố lượng sinh viên đến học tại Đại học Quốc ] Nội gia từ mỗi tỉnh cũng không nhiều Do đó khó có thể kiểm định bằng các quy

luật thống kê được, nên chúng tôi chỉ chú trọng đến những khía cạnh quan trọnp, như giới tính, tuổi tác, năm học và nơi họ đang tạm trú

Một điểm nữa cần bàn đến, trong số hơn một chục nghìn sinh viên đang theo học ở các hệ đào tạo trong Đại học Quốc gia Hà Nội, nghiên cứu này ch) giới hạn trong kích thước mẫu đại diện cho tổng thể tất cả sinh viên chính quy ngoại tỉnh cư trú bên ngoài ký túc xá (KTX) Họ là những đối tượng hiện đang học tập nghiên cứu hiện rèn luyện tại trường những hoạt động sống cá nhân không nằm trong sự kiểm soát trực tiếp chặt chẽ từ phía nhà tủờng (như trong ký túc xá, cũng như phía gia đình của họ Số lượng 600 đơn vị quan sát cho phép đại diện cho bộ phận sinh viên ngoại tỉnh ngoại trú

Do hạn hẹp về thời gian, kinh phí, nên việc thực hiện đề tài này chỉ dừng ó nhữns phạm vi nhất định Lý do là, để thực hiện đề tài này phủi được nghiên o r

9

Trang 13

lặp trên cùng một nhóm sinh viên trong suốt 4 năm, nhưng giới hạn thực hiện 2 năm về thời gian cũng là cho việc thực hiện này có phần khó khăn hơn.

Việc lựa chọn các đơn vị quan sát có đầy đủ các năm học (từ thứ nhất đến năm cuối) sẽ cho thấy sự khác biệt trong quan niệm về nơi cư trú ở Hà Nội của

họ Nghiên cứu này cũng nhầm tìm hiểu cách lựa chọn nơi cư trú của họ Đế đánh giá khách quan, chúng tôi cũng tiến hành khảo sát bổ trợ đối với những

"bên liên quan" đến cư trú của sinh viên: những người có nhà cho thuê/ trọ, tổ dân phố, công an khu vực, các trung tâm nội trú, các khoa, phòng công tác sinh viên của các trường Những thông tin cung cấp của họ giúp cho việc lv giải và làm sáng tỏ theo một góc nhìn khác trong nghiên cứu này

6 - C ác phương p h á p nghiên cứu thực nghiệm

6 1 - Phương pháp tnữỉg cầu ý kiến

Đây là phương pháp thu thập thông tin chủ yếu và cơ bản nhất của đề lài

Để tiến hành, chúng tôi thiết kế bảng hỏi dùng trong trưng cầu đối với sinh vic.il các khóa học khác nhau Phiếu trưng cầu được xây dựng trên cơ sờ nội dung và mục tiêu của để tài nghiên cứu Nội dung của phiếu gồm 3 phần: những thông tin về nơi ở với những điều kiện của sinh viên ngoại tỉnh đang ở, những điểu kiện thuận lợi và khó khăn họ gặp phải trong cuộc sống tại Hà Nội, những thòng tin về nguyên nhân họ phải "cư ngụ" ngoài ký túc xá, những thòng Ún về 'mơ ước' được sống trong ký túc xá, những mô hình về nhà ở ký túc xá'.cho hậu duệ mai sau, những mô hình "nhà nước và nhân dân" cùns làm, việc quản lý chính những sinh viên như họ

chúng tôi tiến hành khảo sát trên dung lượng mẫu là 600 sinh viên ngoại tỉnh đang theo học Đặc trưng của mẫu: những sinh viên các năm, thuộc ba trường trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội Chúng tôi vận dụng cách chọn mẫu nhu sau: Chọn ở trong mỗi trường chọn lấy một khoa; trong các khoa chọn ne au

nhiên sinh viên ngoại tỉnh ngoại trú theo các năm, nhưng khoa được chọn )'■?.

Trang 14

khoa có đông sinh viên nhiều nhất trường Những đơn vị quan sát là nhữnơ sinh viên ngoại tỉnh Trong cách chọn trên có tính đến cơ cấu giới tính của người được hỏi.

Bảng 1: Cơ cấu mẫu theo giới tính người được hỏi

[Nguồn: Kết quả khảo sát của đề t à i ] 2

Do đặc thù nên cơ cấu mẫu về giới đảm bảo tính đại diện cho bai 2ĨỚ1 nam

và nữ sinh viên Và cơ cấu về năm học có tính cân đối giữa các năm học Dưới đây là cơ cấu mẫu theo năm học của người được hỏi

Duy có cơ cấu mẫu theo độ tuổi có phần khác, lý do là chi có một bộ phận

học tiếp đại học, nên độ tuổi cao cũng là nhóm nhỏ đại diện cho bộ phận này Điều đó được thể hiện trong cơ cấu mẫu theo nhóm tuổi người được hỏi sau:

Bảng 2: Cơ cấu m ẫu theo n ă m học

Nguồn: Kết quả khảo sát cùa đề tài]

Trong cơ cấu tuổi này cho thấy đúng với độ tuổi vào học ở các năm thứ nhất và thứ hai, lý do là có những sinh viên phải tham dự thi lần thứ 2, 3 mới trở thành sinh viên nên số sinh viên trả lời thuộcđộ tuổi 21-22 chiếm tỷ lệ lớn hơn Điều đó là dễ hiểu

: Từ đay những sỗ' liệu này do chúng tỏi thu được qua khào sát xã hổi h oc trong quá trình thưc hiên đé tài

Trang 15

Bảng 3: Co cáu mẫu khảo sát theo độ tuổi

S ô người T ỷ lệ chung % theo người trả lời Tổn«

6.4 - Điều t r a thử: Sau khi thiết lập bảng hỏi, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu thử với 30 đối tượng để kiểm tra câu hỏi trong phiếu trims cầu về tính hợp lý và tính khả thi, sự thông hiểu các câu hỏi của những đối tượng khảo sát Xem xét những vướng mắc những câu hỏi để điều chỉnh

Trong quá trình điều tra, do còn sơ suất nhỏ của điều tra viên, nên một vài thông tin còn bỏ sót (nên có missing systems)> Tuy nhiên, để tiện tính toán chúng tôi không loại những phiếu này Tỷ lệ này không đáng kể, nằm trong khuôn khổ cho phép sai số khi chọn mẫu (với độ tin cậy 95%)

Chúng tôi cũng vận dụng phương pháp phân tích định tính và định lượng về những số liệu thống kê, những phỏng vấn sâu những bên tham gia (đối tượng) trong đợt khảo sát về "Nhà ở của sinh viên ngoại tỉnh về học ở Đại học Quốc gia

Hà Nội"

6.5 - Phương p h áp phỏng vấn sâu: Để bổ sung cho nghiên cứu định lượng trên, chúng tôi sử dụng đội ngũ điều tra viên thực hiện những phỏng vấn sâu cá nhân những sinh viên ngoại trú theo chủ đề nghiên cứu thu thôns tin định tính bổ sung cho thông tin thu được bằng phương pháp trưng cầu ý kiến Nhữnp vấn đẻ không thể thu dược trực tiếp trong phiếu trưnơ cầu dược chúns tỏi dua vào nội duns phỏng vấn sâu (lý do, nsuvẻn nhân, mons muốn cá nhân sống

Trang 16

ngoài ký túc xá, ứng xử của sinh viên ngoại trú khi tìm và chuyển đến ờ nơi mới,

những nhàn tố tác động đến cuộc sống cá nhân của họ, V.V )

Để thực hiện điều này chúrni tôi tiến hành phỏng vấn những bên liên quan (cán bộ ký túc xá, cán bộ đoàn, cán bộ khoa, giáo viên chủ nhiệm lóp, ban cán

sự lớp, .); Cơ cấu của đối tượng được lựa chọn dựa trên cơ sở: giới tính, năm học, trường học, độ tuổi, sao cho thông tin thu được đại diện và phản ánh cho tổng thể sinh viên ngoại tỉnh về học ở Đại học Quốc gia Hà Nội

6.6 - Phương pháp thảo luận nhóm:

Vận dụng phương pháp này chúng tôi tổ chức các thào luận nhóm sau:

thông tin thu được từ khảo sát sơ bộ, và được tổ chức trước khi tò chức nghiộm thu giai đoạn I của tiến trình thực hiện đề tài Tham dự vào tháo luận này có đại diện của phòng khoa học dự với tư cách là quan sái viên

cuối khoa xã hội học tiến hành> Đây là những điều tra viên có kinhnghiệm nghiên cứu, tổ chức thảo luận nhóm trong nghiên cứu điền dã.6.7 - Phương p h á p tổ chức toạ đ à m - phương pháp này được chúng tôivận dụng ở giai đoạn đầu triển khai đề tài nhằm xây dựng đề cương và chương, trình nghiên cứu, thiết lập phiếu trưng cầu và đề cương phỏng vấn sâu

Những cuộc toạ đàm này được tổ chức vào giai đoạn đầu của cuộc nshiẽn cứu và sau khi xây dụng bảng hỏi, trong khi thực hiện triển khai đề tài Chungđtỏi tiến hành 01 hội thảo có sự tham dự của Phòng khoa học Nhầ trường để kiểmđiểm tiến độ thực hiện của đề tài

6.8 - Phân tích các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Nshiên cứu này được hình thành trên sự phân tích những tài liệu liên quan đến vấn đề nhà ở của các nhà kinh điển mác xít nhưns chú trọne đến nhữnọ nghiên cứu xã hội học trong lĩnh vực này

Trang 17

Việc vận dụng công cụ “từ khoá” khi phân tích các bièn bản phỏng vấn cá nhân hay nhóm đem lại tính chính xác cho việc phân loại thông tin thực tế.

Vận dụng phương pháp này cũng giúp cho nsười nshièn cứu nhìn thấy những điểm cần kế thừa trong các nghiên cứu liên quan được trình bày trong phần tổng quan dưới đây

6 9 - Kỹ thuật xử lý thông tin

Thông tin thu được qua phiếu trưng cầu ý kiến được xử lý bằng phẩm mềm SPSS 9.0 for Windows, do nhóm tác giả thực hiện

Các chỉ báo thực nghiệm trong xử lý thông tin:

- Biến độc lập: Giới tính, tuổi, nãm học, trường học, nhà ở, chi tiêu,

- Biến phụ thuộc: các chỉ báo của sinh viên về thông tin nhà ở, quan niệm

ở, cung cách đăng ký, các vấn đề an ninh trật tự, quan hệ xã hội, làm thêm, mong muốn vào ở kv túc xá, v.v Những chỉ báo này được thế hiện trong bảno hỏi của nghiên cứu này

b) Nghiên cứu bần2 mô tả từ kết quả xử lý cho nhữns thông tin tổng thế vé mẫu nghiên cứu:

Thủ tục Frequencies (tần số/ tần suất):

■ Tần số tuyệt đối (số đếm) và tần số tương đối (tỷ lệ/ số phần trăm) đối với những biến số dạng chuỗi, nhóm hạng không có thứ bậc

lượng (hoặc biến chuỗi với các nhóm hạng không có thứ bậc)

■ Các số thống kê mạnh (các thông số định tâm): số trung vị (median), các phân vị đối với biến định lượng có thể hoặc không theo phân phối chuẩn

• Cúc thống kê mô tả như số trung bình (mean), độ lệch chuẩn (Std Deviation) cho những biến thoả mãn giả thuyết về phân phối chuẩn (ít nhất là cân xứng)

Trang 18

Các biếu đồ hình cột để trình bày các biến với các nhóm hạng và các biểu đổ tần suất để trình bày các biến định lượng.

Thú tục Descriptive Statistics (mô tả) để thư được các thống kê cơ bán

về thống kê và tương quan

Thủ tục Split File dùng kiểm tra sự ưa thích trong từng nhóm case để kierm tra những thông tin chiều sâu/ chi tiết

Thủ tục Explore (khám phá) để kiểm tra và mỏ tả các nhóm/tổ: các thống kê mô tả, các đổ thị hộp (Boxplots) và các biểu đổ thân - lá (Stem-and-lèa diagram)

Thủ tục Crosstabs (lập bảng chéo) để thu những thông tin hai chiều, xác lập tương quan (theo bảng ma trận ) giữa hai biến số

Kiểm định giả thuyết thống kê X2 ( Chi-square): Thủ tục này kiểm định

về tính độc lập giữa biến cột và biến bàng của bảng chéo hai chiểu; kiểm định ngang bàng về tỷ lệ dọc theo các hàng (hay các cột):

Kiểm định X2 chỉ phù hợp (sử dụng được) nếu có đầy đủ dữ liệu:

- Không có ô nào có tần số kỳ vọng (expected cuont) < 1

- Không được quá 20% số ô có tần số kỳ vọns < 5

- Thống kê X không phải số đo mức độ chặt chẽ của mối quan hộ, vì

nó chỉ có ý nghĩa thống kê và cho biết có (hay không) sụ tồn tại mối quan hệ đó

- Giả thuyết H° cho kiểm định là : các biến hàng và biến cột là độc lập với nhau Đối thiết H 1 : Các biến hàng và cột phụ thuộc VỚI nhau

Khi trị số thống kê X2 với xác suất tương ứng (p-valuie) hoặc mức ý nghĩa ( significant levent) đủ nhỏ ( theo quy luật thốnơ kê : < 0.05 hav

< 0.01) sẽ bị bác bỏ Khi đó chấp nhận đối thiết H : Độ lớn của thôn í'

kê 7 2 tuỳ thuộc khỏnơ chi vào sự khác nhau giữa các trị số quan Si.it và

kỳ vọng mà còn phụ thuộc vào quy mồ (size) của mẫu

Trang 19

Một số thống kê về sự tương quan và mối quan hệ với các biến phàn nhóm/tổ không có thứ bậc: sử dụng thống kê Cramer’V: Thống kè Cramer V luôn <=1

Thủ tục Case Summaries (lấy tổng các trường hợp) đế thu thống kê mỏ

tả đối với các ô trong các bảng chéo

Thủ tục Compare Mean (so sánh trị số trung bình) để thu các thống kê

mô tả đối với các ô trong bảng chéo (ma trận)

Trang 20

PHẨN NỘI DUNG NGHIÊN c ứ ư

Chương 2

C ơ SỎ LÝ LUẬN CHO NGHIÊN c ứ u VỂ NHÀ Ờ CỦA SINH VIÊN

TỈNH NGOÀI VỂ HỌC Ở ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

2.1 - Tổng quan về vấn đê nghiên cứu

Trong những năm gần đây trong lĩnh vực nghiên cứu về sinh viên đã có một số công trình được thực hiện Dưới đây là sự đề cập đến một vài côns trình

tiêu biếu cho nghiên cứu về quan niệm nhà ờ của sinh viên trong nền thời kỳ đổi

mới hiện nay

Để thực hiện thành công, đề tài có tham chiếu, phân tích và sử dụng các thông tin từ một số tài liệu chính như sau:

1 Đê' tài: T 9 6 -Ỉ3 : "Những nhàn tố kinh tế-xã hội ảnh hường đến chuyển lại

ngành học của sinh viên ĐH đại cương khi chuyển từ giai đoạn I sang giai đoạn II", do Tống Văn Chung (chủ trì) và Lẽ Thái Thị Băns Tâm (tham gia) Trong nghiên cứu này chúng tôi khảo sát nguyện vọng sinh viên các khoa trong trường ĐH KHXH&NV về "Định hướng nghề nshiệp của sinh viên" năm 1999 của Tống Văn Chung (chủ trì) (Lê Thái Thị Băng Tâm tham gia) Đây là công trình nghiên cứu cấp trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhàn vãn do chúng tôi tiến hành trong phạm vi hẹp nên chỉ đề cập sâu đến định hướng nghề trong giai đoạn II của quá trình học tập Mặt khác, chúng tôi mới

đề cập sơ bộ đến vấn đê' nhà ở như là nhân tố ảnh hưởng đến việc định hướng

ngành học trong giai đoạn II Nghiên cứu này là sự triển khai tiếp ý tưởng írèn trên quy mỏ Đại học Quốc gia

2 Đề tài QX 99.12: "Lối sống sinh viên Đại học Quốc gia trong thời kỳ đổi mới" của Th.s Lẽ Thái Thị Băng Tâm (chủ trì), TốngVăn Chung (tham giá)

Đ A I H O C Q U Ố C G IA HÀ N Õ ' ỉ TRUNG TÀM t h õ n g t i ^

D ĩ /

Trang 21

Đề tài này đã được nghiệm thu năm 2003, và được đánh giá là có kết quả thực hiện tốt.

Trong quá trình thực hiện đổ tài QX 2000-15 này, chúng tôi có chú ý đến một khía cạnh của lối sống sinh viên cư trú, ớ trọ ngoài các ký túc xá nên khi tiến hành khảo sát xã hội học, chúng tôi có để cập sâu hơn đến một số khía cạnh của lối sống sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội

Công trình nghiên cứu này cũng kế thừa một phần thành công từ công trình nghiên cứu về lối sống Tuy nhiên, trong đề tài "Lối sống " chúng tôi mới đề cập vài nét về thực trạng nơi ỡ và sinh hoạt của sinh vièn ngoại trú như là một khía cạnh của lối sống sinh viên Đại học Quốc gia Điểu cần nhấn mạnh rằng: Mục tiêu nshiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài QX 2000.15 cung khác với mục tiêu, phạm vi nghiên cứu của đề tài QX 1999-12 nói trên

Trong nghiên cứu này chúng tôi định hướng nghiên cứu sâu hơn vể những khó khăn họ vấp phải khi cư trú như vậy, xem xét khó khăn trong bảo đảm an

toàn xã hội, động cơ muốn ở ngoài ký túc xá w v và mục tiêu của nghiên cứu

này cũng đặt ra theo một hướng khác

3 Đề tài :"Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước, hồ trợ sinh viên trong sinh hoạt, cư trú trên địa bàn quận Thanh Xuân và Cầu Giấy"

do KS Phạm Mạnh Lợi chủ trì (tháng 12/2000) Trong đề tài này, các tác giả muốn tìm hiểu thực trạng nơi cư trú của sinh viên các trường đại học nói chung, đang sống và sinh hoạt trên địa bàn quận Thanh Xuân Các kết quả nghiên cứu chi dừng ỡ chỗ tìm ra những giải pháp nhằm hỗ trợ các cơ quan nhà nước tăng cường sự quản lý đối với đối tượng này Kết quả công trình này đạt được ở chỗ: chỉ ra thực trạng nhà ở của sinh viên ngoại tú thuỳ thuộc vào "kinh phí" họ có, nên loại nhà ở tạm chủ yếu dành cho sinh viên nghèo Nguy cơ mắc phải tệ nạn xã hội cao, v.v Hơn thế nshiên cứu chỉ ra sinh viên ngoại trú không có nơi vui chơi giải trí, và chưa có thể chế đá Ứn2 nhu cáu này Cũng trong nghiên cứu này nhóm tác giả đề cập đến thực trạng (dẻ, nhận

Trang 22

thấy) các trường đại học chưa có sự quản lý sinh viên chặt chẽ, bủn thân sinh viên chưa có tâm thế đăng ký tạm trú, tạm vắng Nhìn chung côns trình này chưa khảo sát một cachs toàn diện về nhữns quan niệm, động cơ của sinh viên trong lựa chọn nơi sinh sống trong những năm học, và chưa là kháo sát chuyên cho sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội Tuy thế, trong những năm gần đây, vấn để nhà ả cho sinh viên trở nên cấp thiết Một thực trạng là phần đỏng sinh viên ngoại tỉnh phải tự tìm nơi ở khi các khu nội trú đã quá tải Đế đáp ứng nhu cầu ở của sinh viên, và nhất là quản lý sinh viên ngoại trú ở các các cấp ngành ở các quận có các trường đại học đã có những nghiên cứu dế giải quyết vấn đề này Một trong những cố gắng đó là đề tài tìm giải pháp cho việc quản lý nhà nước đối với bộ phận sinh viên ngoại trú trễn Trons công trình này, nhóm tác giả đã tập trung nghiên cứu trên địa bàn hai quận Cầu Giấy và Thanh Xuân về dịch vụ nhà ở, hoạt động của sinh viên trên địa bàn làm dịch vụ - nhà ở cho sinh viên: như sinh hoạt giải trí, các hoạt động vãn hóa, thông tin, một số khía cạnh quan niệm đạo đức và lối sống khi họ

CƯ trú tại địa bàn, kh ô n g có sự quản lý trực tiếp từ gia đình, nhà trường Trong nghiên cứu này nhóm tác giả cũng chủ yếu tập trung vào tìm những đề xuất để quản lý sinh viên từ góc độ các nhà quản lý (quản lý nhân khẩu, quản

lý của nhà trường) nhưng chưa tập trung sâu vào tìm hiểu nguyên nhàn, nhân

tố tác động và động cơ của sinh viên ngoại trú

Có thể nói, nghiên cứu này chưa định hướng tìm giải pháp cho quản lý xã hội những sinh viên sống ngoài ký túc xá Phạm vi thực hiện nghiên cứu nàv ở một diện rộng, không tập trung vào nhóm sinh viên học ở Đại học Quốc gia Hà Nội Chính vì vậy, chưa có nghiên cứu chuyên sâu như định hướng trong nghiên cứu về nhà ờ của sinh viên tỉnh xa về học tập tại Đại học Quốc gia nàv

4 Nshị định của Chính phủ số 07/2001/NĐ-CP ngày 01/02/2001 về việc Thành lập Đại học Quốc gia Hà nội; và Quyết định số 14/200l/QĐ-TTs nsàv 12/2/2001 về việc tổ chức lại Đại học Quốc gia Hà Nội Đây là những vãn

Trang 23

bản pháp quy quan trọng về tổ chức của Đại học Quốc sia Hà Nội Chúng tỏi coi đày là cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu này, vì trons cơ cấu của Đại học Quốc gia, Trung tâm nội trú sinh viên là một bộ phận cấu thành của Đại học Quốc gia Hà Nội Tuy nhiên, do điểu kiện về cơ sở vật chất, một bộ phận đông các sinh viên cũng phải sống ngoài ký túc xá, vì nhiều lý do khác nhau

Ký túc xá chủ yếu dành cho những đối tượng chính sách, ưu tiên Đày cũnơ thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với một nhóm sinh viên nhất định: con em nhũng người có công với đất nươc, các dân tọc, vùnơ sâu vùng xa Chính vì thế, đế được ở trong ký túc xá cần hội đủ những điều kiện nhất định Cơ hội không chia đều cho tất cả mọi sinh viên

5 PTS Trần Thị Minh Đức và Nguyễn Đình Xuân (chủ trì) (Tống Văn Chung - tham gia) nghiên cứu “Định hướng nghề nghiệp của học sinh và sinh viên các trường ở Hà nội” [Đề tài cấp Bộ mã số B, 94 05 07 ] Nội dung nghiên cứu này cho thấv động cơ của sinh viên năm thứ nhất muốn có cơ hội ở lại

Hà Nội sau khi có được những nghề có thu nhập cao, được xã hội trọng dung và nhà ở cũng là một trong những động cơ mà họ hướng đến Tuy nhiên, để tại này không nhằm nghiên cứu nhà trọ/ở của sinh viên tỉnh ngoài

vể hoc tập

6 ThS Tống V ăn C h u n g & ThS Nguyễn T u ấ n Anh Nhà ở cho sinh vic.n ngoại tỉnh - vấn đề bức xúc T/C Thanh Niên số 17 (năm 2002) Đây là một công trình nhằm mô tả về những vấn để bức xúc về nhà ở hiện nay của sinh viên Đại học Quốc gia nói riêng và sinh viên ngoại tỉnh của các trường nói chung khi về học tập ở Hà Nội

7 Viện Nghiên cứu Thanh niên đã hoàn thành công trình”Một số tài liệu lược thuật vể các vấn đề của thanh niên sinh viên Việt Nam từ 1995 đến nay” Tronơ công trình này cũns đề cập đến quan niệm của sinh vièn về nơi ở trong

q u á t rì nh h ọ c t ập c ù a m i n h n h ư là m ộ t chi b á o đ o lối s ố n g c ủ a s i n h Viên

2U

Trang 24

trong cơ chế thị trường Nhưng tập thể tác giả không đi sâu phân tích khía cạnh đặc thù, nhưng quan trọng trong đời sống tự lộp của sinh viên.

2.2 - Mốt sỏ quan điểm lý thuyết cơ bản

lịch sử

Trong nghiên cứu này chúng tồi xác định chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận cho nhận thức các hiện tượng nghiên cứu Quan điểm của chủ nghĩa mác xít thể hiện ở chỗ nhà ở là biểu thị sự quan tâm của giai cấp lãnh đạo cầm quyền trong xã hội đối với các thành viên trong xã hội [Ảngghen v ề vấn đề nhà ở]

e

Nghiên cứu này vận dụng cách tiếp cận mác-xít trên, và làm cơ sớ ỉý luận

trong nghiên cứu này Cách tiếp cận này được Ph Ảngghen trình bày trong công trình “Về vấn đề nhà ở” Trong cồng trình này, Ph Ảngghen cho rằng điều kiện

phát triển kinh tế làm nền tảng cho việc cải thiện nhà ở cho công nhân, nhưnp

trong chế độ tư bản, nhà ở trở tành phương tiện của giai cấp tư bản quay lại bóc

lột giai cấp công nhân; mặt khác, giai cấp tư sản vì lợi nhuận tối đa không chú

trọng đến đảm bảo nhà ở cho người vô sản Vấn đề ở chỗ, để giải quyết CỘI

nguồn của vấn đề nhà ở, là sự giai cấp vô sản, với hoàn cảnh xuất thân của mình, họ cải tạo hoàn cảnh của họ, đồng thời kéo theo cải tạo nhà ở cho các

tầng lớp ỉao động khác trong xã hội Cũng trong công trình này, Ph Ảngghen

chi ra rằng, trong quá trĩnh phát triển côns; nghiệp, việc tích tụ dân cư sẽ là một

hiện tượng xã hội mang tính quy luật, xã hội càng tập trung hóa dân cư, vấn đề

nhà ờ càng trớ nên phức tạp Vấn đề ở chỗ, để giải quyết nó tận cội nguồn, cần

sự cân đối xây dựng nhà ở tương ứng với sự phát triển sản xuất, và trong một hình thức sở hữu xã hội xã hội chủ nghĩa

Cũng tronơ cống trình này, cách đặt vấn đề của Ph Ảngghen là coi vấn đề nhà ờ là một vấn đề khách quan - xã hội Nó đòi hỏi tôn trọng sự thật lịch sử đang tổn tại, cần nghiên cứu cán thận và kỹ càng, để giai cấp vô sàn khi cầm quyển lãnh đạo xã hội có đưoc nhữnc giái pháp phù hợp, cõng bàng cho mọi

nsười dàn lao độns, trong đó có giai cấp vô sản

Trang 25

Vận dụng cách tiếp cận này cho nghiên cứu, cho thấy nhu cầu nhà ớ của sinh viên Đại học Quốc gia là một thực tế khách quan; hon nữa, trong hoàn cành thực tế, sự chuyển đổi đưa đến nhiều hạn chế Trước hết, đó là cơ sờ vặt chất cua Đại học Quốc gia vé nhà ớ chưa được đẩu tư xứng đáng; thứ 2 - chính sách cãi tạo nhà ớ cho sinh viên, do nhiều hoàn cảnh xã hội bên ngoài tác động, và với nhiéu lý do, chưa được đầu tư cho với sự đổi mới vể vị trí, quy mô đào tạo cùa Đại học Quốc gia Thứ ba, đo sự tác động cùa nền kinh tế thị trường tạo cho những phụ huynh và người dân ở quanh các trường đại học tổ chức một loại hình dịch vụ cho sinh viên về nhà ở Vấn đề ở chỗ, đây là những hiện tượng xã hội khách quan, còn việc tổ chức hoạt động ra sao, không chỉ nằm trong; quán lý sinh viên ngoại tỉnh của nhà trường, và của cả các cấp quản lý nhà nước trên địa bàn có sinh viên cư trú.

Đế thế hiện quan điểm này, chúng tôi vận dụng để xay dựng chươns trinhnghiên cứu, và những nguyên tắc của nhận thức mác-xít được trình bày trong công cụ nshiên cứu (bánơ hỏi) đế thu thônơ tin toàn diện, khách quan

Quán triệt quan điểm trên , cần tuân thủ những yêu cầu của nhận thức:

• Cơ cấu xã hội, những quy ỉuật vận động và phát triển của xã hội là đối tượng nghiên cứu của xã hội học phải được xem xét như “nó đang có”, đang ”tổn tại” một cách khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người nghiên cứu

• Các hiện tượng, quy luật của xã hội cần được xem xét nó đang xảy ra là những cái “bình thườns”, điều này có nghĩa là xã hội học cần hướng đến xem xét một cách cấn thận, phải nhìn ra đàng sau nhữnơ sự kiện một tổng thể xã hội, chứ không phải hướng tới các hiện tượng nsẫu nhiên, bất thường không bản chất

• Quá trình nhận thức xã hội học khổng chỉ dừng lại ở bên ngoài các hiện tượng, sự vật nó nghiên cứu, mà cần nhận thức được bàn chát bén trong cũnơ như quv luật khách quan của nó

• Những hiện tượng, sự kiện xã hội, những quá trình xã hội cán được nhìn nhận trong tổng thể chủ chúna, nghĩa là can phái xem xct tronu

Trang 26

mối quan hệ phụ thuộc lãn nhau, phải chỉ ra vai trò của từng yếu tố trong mối quan hệđó.

• Cúc nghiên cứu xã hội học thực nghiệm phải được xuất phát từ thực tế lịch sử cụ thế của mỗi xã hội cụ thể

• Sự hình thành, biến đổi của sự vật, hiện tượng phải được phàn tích trẽn những cơ sở kinh tế-xã hội-vh nhất định trong quan hệ biện chứng duy vật của chúng

Trong nghiên cứu này, nhà ở, nhu cầu nhà ở của sinh viên tỉnh nsoài về Hà Nội học là một thực tế khách quan, sự lựa chọn nơi cư ngụ liên quan đến một loạt những yếu tố xã hội khác: gia đình, nhà trường, chính quyền, nsười làm dịch vụ nhà ở, công an, quản lý hộ khẩu, chính sánh nội trú cho sinh viên (trons thể chế giáo dục) v.v và V.V Nghĩa là một loạt những yếu tố chi phôi đến sự lựa chọn nơi cư trú của nhóm sinh viên tính ngoài này Tất cả sự hiện diện dó đều chi phối một hiện tượng khách quan: sinh viên sống, sinh hoạt ngoài ký túc xá

và đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng ở Hà Nội

2 - L ý th u yết tương tác biểu trưng

Lý thuyết này chi ra rằng việc con người (cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng

xã hội ) đã sử dụng một nhóm biểu trưng trong quá trình tương tác xã hội, hay nói một cách khác, môi trường mà họ tiên hành tương tác xã hội chính là môi trường của các biểu trưng

Tất cả những vật thể, hành động cử chỉ được con người gắn cho nó những

ý nghĩa và trở thành biểu tượng trong giao tiếp được coi là những biểu trưng (symbols) Đặc điểm của những biểu trưng là chúng mang những ý nghĩa nhất định và tạo ra những phán ứng giổnga nhau ờ các cá nhân Những ý nghĩa của biếu t r i m s k h ô n g trùns; với ý n<zhĩa trực tiếp c ủ a c h ú n g , c h ả n g h a n n h ư :‘thè CƯ trú” chảng hạn, V nghĩa của nó là xác định nơi cư trú cảu ai đó, nhung bàn thân

nó lại là một tấm giấy nào đó

1

Trang 27

Đế hình thành các biểu trưng của tương tác, trước hết cá nhàn phủi ý thức roc ràng về hành động, cử chỉ, phát ngôn, chữ viết hay hình ánh, một vật nào dó Nhờ có ý thức này, sự vật, hiện tượng hoặc hành độn 2 cử chỉ đó sẽ tách biệt phân lập với môi trường xung quanh Sau đó cá nhân sẽ quy gán cho ý nơhla xác định Dần dần sự quy gán này có thể được đông dảo những cá nhàn khác thừa nhận, Khi đó chúng ta có được một biểu trưng tương tác Trước khi trở thành biểu trưng chung của một nền vh hay nhàn loại, các biểu trưng thường chỉ là biểu trung của một nhóm, một cộng đổng tức là của một tiểu văn hóa.

Trẽn thực tế nhiều khi cùng một sự vật, hiện tượns, hành động, cử chi ờ các tiếu vãn hóa khác nhau, được quy gán những ý nghĩa khác nhau

Lv thuyết này gắn liền với tên tuổi của nhà xã hội học người Mỹ G Mead, Một trong những điểm chung của thuyết này là quan điểm cho rằng các cá nhàn trong quá trình tương tác qua lại với nhau không phản ứng đối với hành độn2 của người khác, mà đọc và lý giải chúng Để có thể hiểu được ý nghĩa của những hành động, cử chỉ của người khác chúng ta cần đật mình vào vị trí của người đó, chỉ khi đó chúng ta mới hiểu hết ý nghĩa của những phát ngôn, cử chi, hành động của họ Đây cũng là quá trình quan trọng trons quá trình xã hội hóa

cá nhân để hình thành ý thức và nhân cách cá nhân

Theo lý thuyết này, con người như một thực thể sống trong thế giới các biếu trưng và môi trường ký hiệu Xã hội điều chỉnh hành động của các cá nhân thông qua các biểu trưng

Vận dụng lý thuyết này vào trong nghiên cứu, theo chúng tôi, nó cho phép nhìn nhận sự chấp nhận và biểu đạt những hành vi, ứng xử, thói quan, quan niệm, nhu cầu, sự định hướng giá trị thông qua việc phân tích hệ thống những biếu trưng đặc biệt của nhóm sinh viên ở ngoài ký túc xá Qua hê thống biếu trưng này, người nghiên cứu có thể thấy được quan niệm, sự lựa chon nơi ớ cũn? như những nét đặc trung trong lối sống của họ một cách hữu hiệu nhất

Trang 28

3 - L ý th uyết hệ thống và cơ cấu-chức năng

Để nghiên cứu ddề tài này cẩn xem xét mọi nhân tố, điểu kiện tác độnơ đên nó, nghĩa là xem xét sự hoà nhập của nhóm sinh viên ngoại trú vào mòi trường văn hoá-xă hội mới, sự lựa chọn mục tièu của họ khi quyết định mục tiêu

ở nơi đẻn, sự ỉựa chọn việc làm, nới cư ngụ, những suy nghĩ, định hướng trước

và s a u khi chuyển đến cũng như quyết định hổi cư hay ở lại nơi họ đến V.V

Để xem xét những vấn để thuộc loại như trên, việc vận dụng lý thuyết hệ thống và cơ cấu- chức năng của Talcott Parsons là một cách tiếp cận cần thiết

tương tác với nhau trong một hoàn cảnh mà ít nhất cần có yếu tố vật chất hoặc mõi trường, những chú thế hành động (actors) được khuyến khích theo xu hướng thoả mãn Mối quan hẻ giữa họ và với hoàn cảnh của họ được xác định tronẹ mòt hệ thông các biếu trưng được cấu trúc và cùng chia sẻ về mặt văn hoá”

Õng đã đưa ra quan niệm của mình về phức hợp (complex) địa vị-vai trò với tư cách là sự thống nhất nền tảng của hệ thống xã h ộ i 2 “Đ/a vị gán cho một vị trí cấu trúc trong hệ thống xã hội, và vai trò, theo ông, là cái mà người hành dộng

(actor) làm ở trong vị trí đó trong quan hệ với những người hành động khác nầm trong mối liên kết (context) về tầm quan trọng về chức nãng đối với hệ thống3 Như thế, sự phân tầng stratification) các địa vị xã hội - vai trò xã hội làm thành cấu trúc của xã hội, và nhờ đó có được sự đi động xã hội giữa các tầng lớp

environmenttal asp ect, acrors w h o are motivated in terms o f tendency [0 (he “optimization of gratificatin” and

w hose relation to their situations, in clu d in g each other, is defined and mediated in terms o f a s y s t j m o! culturally structrurcd and shared sym bols".

; Talcott Pasons The so c ia l System T h e Free Press, N e w York 1964, p 25 G eorge Ritzer Modern so c io lo g ic a l

theory 4-ed, The M c G r a w -H ill C o m p a n ie s, 1996, p 103.

1T Parsons The social S ystem T h e Free Press N ew Y ork , 1964 p 25.

Trang 29

Mặt khác, theo T Parsons, mỗi cá nhãn hay nhóm xã hội tham gia tron í* quá trình chuycn cư đều phái tuân thủ những chức năng mang tính mệnh lệnh (imperative) của hệ thống xã hội: 1) hoà nhập, 2) đạt mục tiêu, 3) hội nhập (hay lựa chọn những giá trị phù hợp với môi trường hoạt động), 4) duy trì khuôn mẫu Điều này có nghĩ là họ phải hoà nhập vào môi trường văn hoá, mối trường xã hội mới, phải lựa chọn cho mình những khuôn mẫu hành động (và là khuôn mẫu văn hoá) sao cho phù hợp với môi trường văn hoá-xã hội của nơi đến Hệ quả của quá trình chuyển cư này đã làm cho họ có một địa vị xã hội mới và chức nãng (vai trò) mới trong hệ thống xã hội nơi đến.

Theo thuyết cơ cấu-chức năng của T Parsons 4 thì hành động xã hội luôn gắn với các hệ thống xã hội ở mỗi hành độns bao gồm một loạt các yếu tố : trước tiên là người “hành độnơ” (actor) là nơười theo đuổi mục đích; “hoàn cảnh”” mà người đó đang hành động và các yếu tố của nó là một phần được anh

ta kiếm tra như là phương tiện, phần khác anh ta phải quan tâm tới như là điều kiện cho việc chọn mục đích và phương tiện, cuối cùng là các “tiêu chuẩn” mà anh ta định hướng việc chọn của mình

Trong công trình nghiên cứu trên T Parsons tách sự định hướng của người lành động theo hai giác độ nhận thức và động cơ Người hành động “cảm nhận” nhận thức) các đối tượng của tình huống và anh ta phải có sự quan tâm đến húng (chất vấn) theo nhữns: tiêu chuẩn nhất định Người hành động phải lựa họn các khá nũng ỉà giải thích, đặt mục tiêu và đạt m ục tiêu trong tình uống đó Sau đó anh ta phối hợp với nhận thức của m ìn h với các mối uan tâm khác nhau để đạt được sự thoả m ãn tối đa

M ớ rộng ra nsư ờ i hành độns; xã hội tro n s hoàn cảnh bắt gặp các dối

xã hội nào trong hộ thống xã hội đó, cũng như họ có vai trò gì trong hệ thốnơ

Trang 30

m ộ t phần củ a m ôi trường tự nhiên hay là các biểu tượng với tư cách là một phần của môi trường văn hóa, như các hệ thống tín ngưỡng hay chuẩn mực Nếu người hành động gặp m ột đối tượng xã hội thì cả hai đều cố gắng thực hiện lợi ích của m ình trong tương tác Đó là cơ sở cho định hướng tươnơ hỗ hay bổ sung của người hành động này đối với kỳ vọng (trông chở) và với hành động cụ thể của người kiia Tương tác là m ang tính “kép “ngẫu nhiên Khi đó họ quy chiêu về các biểu tượng cho thấy hoàn cảnh cụ thể là trường hợp áp dụng của một trường hợp tổng quát hơn và qua đó ghi nhận những

kỳ vọng và khả năng lựa chọn của người hành động khác

Yếu tố ch u ẩn m ực gắn liền với các biểu tượng chừng nào m à việc tuân thư chúng trở thành điều kiện cho viẹec người hành động có thể tính đến phản ứng thuận lợi của người khác

Theo ông, trong công trình này, hành động gắn vào một hệ thống hành động phức tạp hơn, bị chi phối bởi hộ thống văn hóa - xã hội Trong công trình của mình, T Parsons cho rằng việc phân tích hành động luôn gắn liền với phân tích các cấp độ hay là phân tích trật tự xã hội mà hệ thống này liên quan Để phân tích được cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

Mỗi cấp độ thấp hơn phải cung cấp tiền để và những năng lực cần thiết cho cấp độ cao hơn

Các cấp độ cao hơn cần phải đủ khả năng chi phối các cấp độ thấp hơn trong một hệ thống thứ bậc xác định Theo ông các hệ thống đều có đặc điểm tuân thủ theo một trật tự và các thành phần của nó đều có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau có xu hướng duy trì trật tự và trạng thái cân bằng Nó có thể biến đổi hay ơiữ nguyên hay liên quan đến đến quá trình biến đổi theo một trật tự nào đó Mỗi một phần tron£ hệ thống đều có ánh hườns đến các hình thái mà các thành phần khác cuac hê thốna có thổ phỏng theo Cấc hệ thống luôn liên hệ và giữ

Parsons Social T h eo r y and Social Structure The Free Press N e w Y o r k 1 9 6 3

Trang 31

gianh giới với môi trường của nó Việc ổn định và hoà nhập là hai hình thức cơ bản cần thiêt đối với hình thức càn bằng của bất kỳ hệ thống xã hội nào và các

hệ thống đều có xu hướng tự duy trì việc tham gia vào sự báo toàn biên giới và mối quan hệ giữa các thành phần riêng biệt so với tổng thể, đổng thời kiếm soát

sự thay đổi về môi trường và khuynh hướng thay đổi nội tại của chính nó

Trong học thuyết của T Parsons đã đưa ra hệ các biến số mạng hay là các điịnh hướng Chúng bao gồm:

1- Hệ thống hành động định hướng đến cái “toàn thể” so với cái “bộ phận”2- Hộ thống định hướng đến “đạt tới” và “cái có sẵn”

3- Hệ thống hành động định hướng đến “cảm xúc” hay “cám xúc trung lập”4- Hê thống hành động hướns đến cái “đặc thù” hay cái “phân tán” "

5- Hệ thống hành động định hướng đến cá nhân hay nhóm

Ông đã xây dựng lý luận của mình về hệ thống xã hội đó Trong công trình

“Hệ thống xã hội”, theo ông, mỗi xã hội có bốn hệ thống hoạt động (action system) cơ bản, đươc môt tả theo sơ đổ sau:

H ệ thống văn hóa (cultural system)

Hệ thống xã hội (social system)

Tổng tích hợp hành vi (behavioral organism)

Hệ thống cá nhàn (personal system)

T Parsons phàn biệt hệ thống-cá nhân, hộ thống-xã hội và hệ thống-vãn hóa như từ thể loại khác nhau về chất của các hộ thống hoạt động thực nghiêm

mà tronơ thưc tế nó đan xen vào nhau, thâm nhập lẫn nhau Còn hè thống van hóa thuộc bình diện khác

Trang 32

ơ hệ thống văn hóa, vấn đề là ở một hộ thống các ý tưởng, các giá trị và

biểu tượng bắt buộc, chúng điều tiết và nhào nặn định hướng theo trạng huốnẹ,

và vì vậy là mối quan hệ của những người hành động (actors); các ý tường, các giá trị và biếu tượng lập thành hình mẫu vãn hóa cho hành động đặc trưng trong một hệ thống xã hội nhất định

Hệ thông x ã hội nói tới mối liên quan của các quan hệ (hay hành động phụ

thuộc lẫn nhau) của nhiều người hành động xã hội mà quan trọng do định hướng tình huống tương hỗ Những người hành động có xu hướng được thúc đẩy bởi mối quan tâm của họ muốn thoả mãn những nhu cầu của mình (hệ cá nhân) và quan hệ của họ với tinh huống được truyền đạt qua những quan niệm nhận thức

và chuẩn mực chung cũng như qua biểu tượng chung (hệ thống văn hóa) Như vậy T Parsons quan niệm hệ thống xã hội là tập hơpự các cá nhân tương tác với nhau trons một hoàn cảnh mà ít nhất cần có yếu tố vật chất hoặc môi trường ,

mà trong đó các chủ thế hành động được khuyến khích thoả mãn; mối quan hộ cửa họ được xác định trong một hệ thống văn hóa trên cơ sở các nhu cầu và biểu tượng Mỗi hệ thống xã hội có những điểu kiện tiên quyết như sau:

1) Hệ thống xã hội phải có cấu trúc xã hội để chúng có khả năng hành động với các hệ thống khác một cách tương thích;

2) Để tổn tại thì hệ thống xã hội phải nhận được sự ủng hộ từ những hệ thống ihống khác;

3) Hộ thống xã hội phải đáp ứnR được tỷ lệ thíach đáng và quan trong về các nhu cầu của các chủ thể;

4) Hệ thống xã hội hái tập hợp được một cách tương đối đầy dủ sự gia nhập của các thành viên;

5) ít nhất phải có quvển điều hành tối thiểu đối với những học vấn có nguy

cơ gây rối loạn tổ chức;

6) Nếu xunơ đột có nsuy cơ dẫn đến rối loạn thì nó phủi đươc chi phối vàkiểm soát;

Trang 33

7) Bất kỳ một hệ thống xã hội nào cũng cần một ngôn ngữ chung để tổntại.

Dưới góc độ như vậy việc một bộ phận dân di chuyển từ nơi này đến nơi khác đéu nằm trong một hệ thống xã hội, luôn này sinh những vấn đề xã hội như

là hệ thống quả của quá trình đó đòi hỏi hộ thống xã hội nói chung cần đảm bào thực hiện những chức năng của mình một mật kiểm soát các thành viên đó, mặt khác tạo cơ hội đế họ (những người di cư) hội nhập vào hệ thống đó

Hệ cá nhân là việc tổ chức các động cơ và định hướng giá trị xung quanh

các nhu cầu của một cá nhân hành động Nó được tạo dựng qua sự nội tâm hoá các ý tưởng, giá trị và biểu tượng chung trong tương tác và là yếu tố tạo dựng

cho các nhu cầu của cơ c h ế hành vi mà các nhu cầu này luôn xuất hiện thế tạo

dáng văn hóa quá mức với tư cách là “khuynh hướng nhu cầu” (năng lượng định hướng) Nói cách khác hệ thống cá nhân là hệ thống tổ chức bao gồm các XII hướns và động cơ thúc đẩy hoạt động của cá nhân hành động Thành phẩn CO' bản của cá nhân là điều kiện tiên quyết cần thiết Chúng là những thành phần quan tronơ nhất trong động cơ thúc đẩy hoạt động của cá nhàn, bao gồm các loại: 1- Những đòi hỏi những hành động đi tìm sự chấp thuận, đồng tình từ các mối quan hệ xã hội; 2- Những giá trị được chủ thể hành động cho là hợp lý; 3 - Những mong đợi và vai trò hướng dẫn người đó tiến đến trao đổi và tiếp nhận lừ phía đối tác Những điều kiện tiên quyết này là cốt lõi của nhân cách cá nhân

T Parsons cho rằng bị kiểm soát bởi hệ thống xã hội và hệ thống văn hóa, tuy nhiên nó cũng có tính độc lập tương đối so với các hệ thống này

Vấn đề ở chỗ cần xác định xem những khía cạnh (aspects) của vị trí xã hội

họ có được trong hệ thống đó Điều đó có nghĩa là có thể đo được tầm quan trọn" của họ nhờ sự lượng giá của những thành viên xã hội khác trong quan hệ lượng siá đối với vị trí và vai trò của họ

Nhưn° do liên hệ chặt chẽ với môi trường nên những địa vị xã hội đạt dược

của họ phụ thuộc vào những nhàn tố, diều kiện của môi trường Cụ thể ở đày là

Trang 34

những điều kiện kinh tế, xã hội và cả văn hoá nữa đểu tham dự chi phối quá

trình rời khỏi cũng như hội nhập của nhóm sv đặc thù này vào hệ thống xã hội ờ

nơi mới Những yếu tố này bao gồm các yếu tố kinh tế như tiền nhà, điện nước,

cơ hội việc làm, an ninh xã hội, điều kiện đi lại, sinh hoạt, giao tiếp V V., là một loạt những nhu cầu chi phối hành động chọn nơi ở của họ

2.3 - Một số khái niệm công cụ

1 S inh viên: Theo “Quy chếcông tác học sinh, sinh viên - 1999” của Bộ

Giáo đục và Đào tạo” thì sinh viên là “người đang học trons hệ đại học và cao đảng” [tr.6]

2 Sinh viên ngoại tỉnh là những sinh viên có nguồn gốc xuất thân từ các

tính, qua kỳ thi tuyển sinh đại học đỗ và được về học tập tại Đại học Quốc gia Hà Nội Tập thể sinh viên này phân thành hai nhóm: một nhóm được

ớ ký túc xá theo tiêu chuẩn quy định của Nhà trường Một bộ phận không nhỏ phải tự tìm nơi sống trong quá trình học tập: họ thuê nhà, ờ nhờ người quen, một bộ phận được gia đình mua cho nhà ở, căn hô để sống và sinh hoạt Nhóm thứ hai này được gọi chung là sinh viên sống ngoại trú Trong nahiên cứu nàv cũng cần phâ biệt với sinh viên có nsuồn sốc xuất thân ở nội thành Hà Nội Những sinh viên này sống cùng với 2Ĩa đinh, và cấp sách đến trường

3 Ký túc xá - Theo Quy chế công tác học sinh, sinh viên nội trú trong các

trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, 1997, ký túc

xá sinh viên (hav còn gọi là nội trú sinh viên) là những cơ sở thuộc quvền quàn lý của nhà trường bao gồm : nhà ở, nhà ăn, sân chơi, bãi tập, câu lạc bộ

và các phươnơ tiên khác để phục vụ học sinh, sinh viên nội trú ăn, ở, sinh hoạt học tập và rèn luyên nhằm sóp phần thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo của trường

31

Trang 35

Những học sinh, sinh viên nội trú là những người đang học tại trường và được bố trí ở trong ký túc xá theo quy định của nhà trường, tuỳ theo khá năng về chỏ ở trong ký túc xá của trường đó.

Nhà ở của sinh viên ngoại tính - là khái niệm nơi ở của sinh viên ngoại trú Về

loại hình là đa dạng: ở trọ nhà người quen, căn hộ thuê, nhà ở theo dịch vụ (nhà

tạm, nhà cấp bốn, nhà ký túc xá tư nhân v.v ) Nói chung là nơi ở ngoài ký túc

xá của sinh viên

4 Nhu cầu là những muốn, đòi hỏi của con người đối với môi trường tự nhiên

và xã hội để đảm bảo sự tồn tại và phát triển cuộc sống

Sinh viên từ tỉnh ngoài về Hà Nội học cần đến nơi ở, họ cũng có nhu cầu học

r

tâp trau dổi kiến thức nghiệp vụ, nhu cầu giao tiếp v.v và nhiều nhu cầu khác, trong nghiên cứu này chúng tôi đề cập đến một loạt những nhu cầu của

họ trong việc ớ, sinh hoạt và học tập của họ

5 Dịch vụ nhà trọ - đây là một khái niệm chỉ một hộ gia đình làm nhà cho

sinh viên thuê, hàng tháng thu tiền, có đãng ký hay không đăng ký kinh doanh với nhà nước, hoặc được phép của chính quyền địa phương, hoặc là những người tự ý xây nhà, ngãn nhà cho sinh viên thuê

6 Lợi ích là nguyên nhân xã hội-hiện thực của các hành động và sự kiện xã hội;

lợi ích thường đứng sau những ý muốn, nguyên cớ, dự định và tư tưởng trực tiếp mà tất cả những điểu đó đang tham eia vào các hành động của cá nhàn, nhóm xã hội, cộng đổng, giai cấp

7 Giá trị là cái có ý nghĩa đối với xã hội, tập thể, cá nhân, phản ánh mối quan

hệ chủ thể-khách thể, được đánh giá xuất phát từ những điều kiện xã hội lịch sử-cụ thể và phụ thuộc vào trình độ phát triển nhân cách Khi đã được nhận thức, đánh giá, lựa chọn, giá trị trở thành một trong những động lực thúc đẩy con người đi theo một hướng nhất định

8 Định hướng giá trị là thái độ, là sự lựa chọn các 2Íá trị, là một hệ thốn2 tàm thế, niềm tin, sớ thích cúa con người đối với một giá trị nào đó Chăng hạn

Trang 36

như việc rời khỏi ký túc xá ra cư trú ở ngoài để được tự do hơn là kết quá của hành động định hướng giá trị.

Định hướng giá trị là một trong những yếu tố quan trọng nhất của cấu trúc nhàn cách, được hình thành và củng cố bởi năng lực nhận thức, bời kinh nghiêm sốn«

mà cá nhàn trải qua sự trải nghiệm dài lâu, giúp cá nhân tách cái có ý nghĩa, cái thiết thân đối với họ khỏi cái vô nghĩa, cái không bản chất

9 Thời gian rỗi là thời gian ngoài lao động của cá nhân (nhóm xã hội) còn lại

sau khi đã trừ chi phí thời gian cho những hoạt động cần thiết không thể thiếu, mà con người trong khuôn khổ khái niệm của mình, có thể sử dụng một cách tự do; trong khoảng thời gian đó họ được tự do lựa chọn một trong

vỏ số phương án hành vi 5 Đây là khoảng thời gian quý báu tạo 'ra cho con người những nguồn năng lực mới, nó phục vụ cho việc phát triển toàn diện con người, thoả mãn những nhu cầu của họ, tãng tầm hiểu biết, củnẹ cố sức khoẻ, phát triển tài năng và năng khiếu cúa cá nhàn Thời gian rỗi siúp clio con người sẽ có điểu kiện tạo ra nhiều hơn nữa nsuổn lực khác nhau khônạ chi cho bản thân mình, mà còn cho người khác, cho xã hội, bới vì Mác chỉ ra

việc, mà là thời gian rỗi” 6

Việc nghiên cứu sự sử dụng quỹ thời gian rỗi của sinh viên ngoại trú có ý nghĩa nhất định, nó cho thấy bức tranh toàn cảnh của sinh viên hđ trong khảng thời

thấy “sự năng động” của sinh viên trong cơ chế đổi mới hiện nay

2.4 - Giả thuyết nghiên cứu

Từ muc tiêu nghiên cứu ở trên, chúng tôi đề xuất các giả thuyết nghiên cứu như

5 G Mini; I C h e ch etin a Thanh nìỏn trong tám gưcmg xã hội học R ig a 1930 Tài liệu dịch, tr 112.

A Trích theo sách trẽn, tr 114.

Trang 37

1 Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, sự phát triển toàn diẻn của Đại hoc Quốc gia đã tăng số lượng sinh viên ở các loại hình đào tạo, làm cho chỗ ở nội trú trong sinh viên trở nên không đáp ứng nhu cầu ở nội trú

vì vậy sinh viên phải tìm kiếm chỗ ở trong lĩnh vực dịch vụ nhà tư nhân Phần đông trong số họ vẫn có nhu cầu về ở nội trú Cơ chế thị trường làm thay đổi quan niệm về nơi ở của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội

2 Một bộ phận sinh viên muốn ở ngoại trú để tiện cho việc tận dụng thời gian rỗi của họ cho những hoạt động mà họ cho là có ích ngoài ihời gian học tập Một số sinh viên ở ngoại trú vì họ phải lo ‘làm thêm” để giúp đỡ gia đình trang trải thèm trong học tập

3 Đáp ứng nhu cầu nhà ở cho sinh viên một loại hình tổ chức dịch v ụ - nhà ở cho thuê Và sinh viên thuê những nhà như vậy để họ có C‘ơ hội học thêm, làm thêm ngoài giờ

4 Sự trú ngụ của phần đông sinh viên không ổn định, điều kiện nhà ở,

sinh hoạt ảnh hưởng đến học tập của họ

5 Sự kiểm soát sinh hoạt đối với sinh viên ngoại trú còn nhiều bất cập,

họ chưa có ý thức chấp hành tuân thủ quy định ở nơi cư trú

6 Việc quản lý sinh viên ngoại trú ở Đại học Quốc gia còn nhiều bâì

Trang 38

- Khung lý thuyết hay mỏ hình nghiên cứu

Môi trường

khó khãn

Trang 39

Chương 3 NHU CẨU VÀ NHÀ Ỏ CỬA SINH VIÊN NGOẠI TRÚ TỈNH NGOAI VỂ HÓC' Ỏ ĐAI

H O C Q U Ố C G I A H À N Ộ I

3.1 - Vài nét về “cư trú ’ sinh viên ngoại tỉnh trong Đại học Quốc gia Hà Nội

3,1 J S ơ lược vê tình hình cung cấp chỗ ở cho sinh vièn tỉnh ngoài:

Trong những nghiên cứu đề cập đến vấn đề nhà ở của sinh viên về học ớ các trường đại học ở Hà Nội đều cho thấy: ở nội trú ỉà một nhu cầu rất lớn Hiện trạng của các ký túc xá cải tạo xây mới vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu “được ở” của sinh viên Đây là một nhu cầu thực của số lớn sinh viên ngoại tỉnh

Hà Nội hiện có 43 trường đại học, hơn 100 viện nghiên cứu, nhiều trưòng cao đẳng và khoáng 90 trung tâm dạy nghề nên số lượng sinh viên nhập trường hàng nãm tạo nên sức ép về nhà ở Quận Thanh Xuân và Cầu Giấv là hai quận

có nhiều trường đại học nhất trong địa bàn thành phố, thêm một sô trườn° nằm trẽn đại bàn giáp gianh của hai quận này cho nên sinh viên đổ dồn vào tìm nha trọ trong các khu dân cư, tạo ra một nhu cầu lớn về nơi trú nơụ cho sinh viên tính ngoài

Để đáp ứng nhu cầu đó, một số khu dân cư ở Hà Nội đã nhanh chóng đáp ứng nhu cầu của thị trường trường này Kết quả là, một số nơi đã phát triển ngành dịch vụ nhà ớ cho sinh viên Điển hình là các nơi như phường Yên hoà, Mai dịch, Trung hoà (quận Cầu Giấy); Nhân Chính Kim Giang, Khương Đình (của quận Thanh Xuân); Trunơ Văn (huvện Từ Liêm) Theo quan sát của chúng tôi, điển hình là làng Phùns Khoang ( xã Trung Văn-Từ Liêm), nơi hiện cư trú đến trên 2500 sinh viên Với tiền trọ thoả thuận, có nhà (ví dụ ôns H chảng hạn) thu về hàng tháng đến 20 triệu đồng Làng này hiện giờ là “làng dịch vụ sinh vièn” Trons làng có đủ dịch vụ đáp ứns nhu cầu của sinh viên cư ngụ: quán ăn, iTiài khát, cắt gội, thuê truyện, bưu điện, điểm truy cập Internets V V Nhà nào có đất trôYis đều dựne nhà (dù là nhà tạm) để cho sinh viên thuê, và chảng bao lau

họ thu hổi vốn và kinh doanh có lãi Với chừng vài ngàn sinh viên, níĩười dân

Trang 40

Phùng khoang thu về xấp xỉ 1 tỷ đồng/tháng Đủy là một ngành kinh doanh siêu lợi nhuận.

“Dịch vụ cho thuê nhà ở” đã tạo ra cơ hội cho sinh viên tỉnh ngoài khônơ hội đủ những điều kiện ở trong KTX Bức tranh của hoạt động “Dịch vụ cho thuê nhà ở” được mồ tả trong bảng sau:

Bảng 4: s ỏ chỗ cho thuê ở các quận, huyện Hà Nội

Tổng

35.000

[Báo S inh viên Việt N am , số 27/2000]

Như vậy có thể thấy số lượng sinh viên đang tam trú trên đại bàn thành phố Hà Nội tập trung ở các quận Cầu Giấy và Thanh Xuân là chủ yếu Trong số họ có

cá sinh viên Đại hoc Quốc gia Hà Nội

3.1.2 - N ơi c ư trú của sinh viên Đ ại học Quốc gia H à N ội qua khủo sát

Trong nghièn cứu vè nhu cáu nhà ử của đề tài, cho thấy tình hình đanp; tá túc của sinh viên như sau:

Ngày đăng: 03/02/2021, 16:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. T h .s Lẻ T h á i T hị Bảng T â m (chủ trì) Đề tài QX 99.12: "Lối sống sinh viên Đại học Quốc gia trong thời kỳ đổi mới" của ( Tốns Văn Chung tham gia) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lối sống sinh viên Đại học Quốc gia trong thời kỳ đổi mới
4. KS P h ạ m M ạ n h Lợi chủ trì : "Thực trạng và giải pháp nhầm tăng cườns quản lý n h à nước, hỗ trợ sinh viên trong sinh hoạt, cư trú trên địa bàn quận Thanh Xuân và Cầu Giấy” (Quận Thanh Xuân, tháng 12/2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp nhầm tăng cườns quản lý n h à nước, hỗ trợ sinh viên trong sinh hoạt, cư trú trên địa bàn quận Thanh Xuân và Cầu Giấy
1. Đại học Quôc gia. Quy chê vẽ tổ chức và hoạt độns của Đại học Quốc gia — do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Hà Nội, 2001 Khác
2. Tống Văn C h u n g Những nhân tố kinh tê-xã hội ảnh hườns đến chuvển lại ngành học của sinh viên ĐH đại cương khi chuyển từ giai đoạn I sang giai đoạn II", do Tống Văn Chung (chủ trì) và Lê Thái Thị Bãng Tâm (tham gia) Khác
5. Nguvẻn Đình Xuân (chủ trì) ( Trần Thị Minh Đức và Tống Vãn Ch un g • th am gia) nghiên cứu ‘‘Định hướng nghề nghiệp của học sinh và sinh viên các trường ở Hà nội” [ Để tài cấp Bô mã số B. 94. 05. 07 ] Khác
6. Viẻn Nghiên cứu T h a n h niên. ” Môt số tài liệu lược thuật về các vấn đề của thanh niên sinh viên Việt Nam từ 1995 đến nay” Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w