1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luât về dịch vụ quảng cáo thương mại trực tuyến trên mạng internet ở Việt Nam hiện nay

190 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luât về dịch vụ quảng cáo thương mại trực tuyến trên mạng internet ở Việt Nam hiện nay Pháp luât về dịch vụ quảng cáo thương mại trực tuyến trên mạng internet ở Việt Nam hiện nay Pháp luât về dịch vụ quảng cáo thương mại trực tuyến trên mạng internet ở Việt Nam hiện nay luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ ĐAN PHƯƠNG

PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG INTERNET Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, NĂM 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ ĐAN PHƯƠNG

PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG INTERNET Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 9.38.01.07

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS ĐẶNG VŨ HUÂN

2 TS HỒ NGỌC HIỂN

HÀ NỘI, NĂM 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng được ai công bố Những luận điểm mà luận án kế thừa của những tác giả đi trước đều được trích dẫn nguồn chính xác, cụ thể

Hà Nội, ngày tháng năm 2020 NGHIÊN CỨU SINH

Nguyễn Thị Đan Phương

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ

LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 8

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8 1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 35

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VỀ DỊCH

VỤ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG INTERNET 42

2.1 Khái quát lý luận về dịch vụ quảng cáo thương mại trực tuyến trên mạng internet 42 2.2 Lý luận pháp luật về dịch vụ quảng cáo thương mại trực tuyến trên mạng internet 63

Chương 3: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG INTERNET TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 91

3.1 Thực trạng các quy định pháp luật về dịch vụ quảng cáo thương mại trực tuyến trên mạng internet ở Việt Nam hiện nay 91 3.2 Thực trạng thực thi pháp luật về dịch vụ quảng cáo thương mại trực tuyến trên mạng internet ở Việt Nam hiện nay 110

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG INTERNET Ở VIỆT NAM 127

4.1 Phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về dịch vụ quảng cáo thương mại trực tuyến trên mạng internet 127

Trang 5

4.2 Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về dịch vụ quảng cáo thương mại trực tuyến trên

mạng internet 132

KẾT LUẬN 149

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHỤ LỤC 167

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

chuẩn quảng cáo)

quản lý chất lượng quảng cáo tại Singapore)

cáo) DVQCTMTT Dịch vụ quảng cáo thương mại trực tuyến

bang Hoa Kỳ)

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, trong thời đại mà công nghệ phát triển ngày càng mạnh mẽ, việc tiếp cận internet đối với con người cũng trở nên ngày càng dễ dàng hơn, tính kết nối giữa con người với nhau, kết nối toàn cầu cũng ngày càng sâu sắc hơn Ở bất kỳ độ tuổi nào, ở bất kỳ dân tộc nào, ở bất cứ nơi đâu, người ta cũng có thể thấy được sự hiện diện của Internet và các công nghệ số Mỗi người không chỉ sở hữu một mà cùng lúc còn sử dụng nhiều thiết bị thông minh để phục vụ công việc, đời sống của mình, thời gian tương tác, khai thác, đăng tải, lưu truyền thông tin trên mạng của con người ngày càng gia tăng Các doanh nghiệp cũng buộc phải nắm bắt được xu thế này và tùy vào khả năng của mình mà các doanh nghiệp có thể áp dụng ít hay nhiều công nghệ số vào sử dụng phát triển hoạt động kinh doanh Thực tế cho thấy, ngày càng xuất hiện nhiều hơn các hình thái kinh tế mới hoạt động dựa trên nền tảng internet như nền kinh tế chia sẻ, các dịch vụ thương mại trực tuyến, các hình thức lao động trực tuyến… Và trong điều kiện các hoạt động kinh tế diễn ra trực tuyến như vậy, công nghệ quảng cáo cũng đã được đẩy lên một bước phát triển mới, đó là DVQCTMTT Tuy quảng cáo trực tuyến đã xuất hiện từ khá lâu, nhưng chính sự bùng nổ của công nghệ trong vài năm gần đây với sự kết nối toàn cầu rộng mở, đặc biệt là sự kết nối thông qua các mạng xã hội đã giúp quảng cáo trực tuyến phát triển rực rỡ QCTMTT cũng trở thành nền tảng khai thác lợi nhuận cho nhiều loại hình sản phẩm trực tuyến khác

Sự hấp dẫn từ những lợi ích to lớn của QCTMTT khiến cho các doanh nghiệp đổ tiền vào QCTMTT ngày càng nhiều hơn, đồng thời cũng có thêm rất nhiều chủ thể cá nhân, pháp nhân khởi nghiệp và đi vào hoạt động trong lĩnh vực này Tuy nhiên, QCTMTT cũng như nhiều hoạt động khác của thương mại điện tử, có đặc trưng hoạt động diễn ra trên mạng internet, do đó, khó có thể có một cơ chế giám sát cơ học như các hoạt động thông thường,

Trang 8

không có biên giới lãnh thổ để xác định rõ các vấn đề có yếu tố nước ngoài và khó kiểm soát các hoạt động tài chính diễn ra bí mật Bởi vậy, hoạt động QCTMTT cũng làm phát sinh nhiều rủi ro cho cả các cá nhân tham gia và cả hoạt động quản lý nhà nước như việc không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính từ các bên liên quan đối với Nhà nước, nền kinh tế có thể mất cân bằng, các sản phẩm quảng cáo có chứa nội dung độc hại có thể gây ảnh hưởng đến đạo đức xã hội… Hiện nay, DVQCTMTT vẫn đang được điều chỉnh thông qua Luật Quảng cáo 2012, Luật Thương mại 2005, Luật Giao dịch điện tử 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành khác Tuy nhiên, các quy định pháp luật trong Luật Quảng cáo 2012, Luật Thương mại 2005 về cơ bản áp dụng đối với hoạt động quảng cáo, hoạt động xúc tiến thương mại được thực hiện với các phương thức truyền thống, còn khi áp dụng đối với hoạt động quảng cáo trực tuyến với những đặc trưng khác biệt so với các phương thức truyền thống thì còn nhiều khó khăn, không thể quản lý được những rủi ro mà quảng cáo trực tuyến có thể gặp phải Còn các quy định trong văn bản điều chỉnh về mặt công nghệ đối với QCTMTT như Luật Giao dịch điện tử 2005 thì về cơ bản chỉ điều chỉnh giao dịch diễn ra trong môi trường điện tử mà chưa đề cập nhiều đến vấn đề xúc tiến đến các giao dịch điện tử này, chính là vai trò của DVQCTMTT Xuất phát từ những lý do trên,

nên nghiên cứu sinh đã lựa chọn vấn đề “Pháp luật về dịch vụ quảng cáo thương mại trực tuyến trên mạng internet ở Việt Nam hiện nay” để làm đề tài nghiên

cứu Luận án Tiến sĩ luật học

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về pháp luật về DVQCTMTT trên mạng internet; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về DVQCTMTT trên mạng internet ở Việt Nam hiện nay; từ đó, luận án đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật

về DVQCTMTT trên mạng internet ở Việt Nam trong thời gian tới

Trang 9

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu đã nêu ở trên, các nhiệm vụ nghiên cứu được xác định là:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến

đề tài luận án nhằm xác định những vấn đề mà luận án sẽ kế thừa, các vấn đề còn bỏ ngỏ, các vấn đề mà luận án sẽ triển khai trong nội dung nghiên cứu của mình Xác định cơ sở lý thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu đặt ra

- Nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về pháp luật về DVQCTMTT trên mạng internet, như làm rõ khái niệm và bản chất, các đặc điểm của DVQCTMTT trên mạng internet để phân biệt rõ về bản chất của loại hình QCTMTT trên mạng internet với quảng cáo truyền thống, làm rõ vai trò của các chủ thể tham gia DVQCTMTT trên mạng internet; nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật về DVQCTMTT trên mạng internet tại một số quốc gia trên thế giới;

- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về DVQCTMTT trên mạng internet ở Việt Nam hiện nay và quá trình thực hiện để tìm hiểu những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân;

- Đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về DVQCTMTT trên mạng internet ở Việt Nam trong thời gian tới

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật về DVQCTMTT trên mạng internet; thực tiễn hệ thống pháp luật điều chỉnh và thực tiễn thi hành pháp luật về DVQCTMTT trên mạng internet tại Việt Nam hiện nay

Trang 10

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung, phạm vi nghiên cứu của Luận án là DVQCTMTT trên

mạng internet và hệ thống các quy định pháp luật của Việt Nam điều chỉnh hoạt động này nhằm đưa ra cơ sở vững chắc cho việc đánh giá và đề ra các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về DVQCTMTT trên mạng internet ở Việt Nam trong thời gian tới

Luận án nghiên cứu DVQCTMTT trên mạng internet dưới góc độ là một hoạt động quảng cáo, một hoạt động xúc tiến thương mại được thực hiện bởi các chủ thể tham gia vào các khâu, các công đoạn của quá trình và những vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình thực hiện các hoạt động này Cụ thể hơn, Luận án tập trung nghiên cứu vào các nội dung về: Điều kiện kinh doanh DVQCTMTT, các chủ thể tham gia vào DVQCTMTT, hợp đồng DVQCTMTT, quản lý nhà nước trong DVQCTMTT và bảo vệ quyền lợi của người dùng internet trong QCTMTT

- Về không gian, Luận án tập trung nghiên cứu sâu các quy định pháp luật

cùng các số liệu thực tiễn trong hoạt động DVQCTMTT trên mạng Internet ở Việt Nam, đồng thời, nghiên cứu kinh nghiệm trong công tác xây dựng pháp luật, quản lý và phát triển DVQCTMTT trên mạng internet tại một số quốc gia khác trên thế giới

- Về thời gian, nghiên cứu bao quát sự phát triển của QCTMTT, chú

trọng vào giai đoạn từ khi ra đời Luật Thương mại 2005, Luật Giao dịch điện

tử 2005 cho đến nay

4 Những đóng góp mới về khoa học của Luận án

Luận án sẽ là công trình khoa học nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn pháp luật về DVQCTMTT trên mạng internet tại Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành Luật kinh tế Kết quả nghiên cứu của Luận án có nhiều đóng góp mới cho khoa học pháp lý chuyên ngành, thể hiện ở những điểm sau đây:

- Những nghiên cứu của Luận án góp phần hệ thống hóa và làm rõ hơn

cơ sở lý luận đối với DVQCTMTT và pháp luật về DVQCTMTT ở Việt Nam hiện nay

Trang 11

- Luận án đã tổng hợp các quy định pháp luật hiện hành và quá trình thực thi các quy định về DVQCTMTT về các nội dung đã đi sâu nghiên cứu, chỉ ra những ưu điểm cũng như những điểm còn hạn chế của hệ thống các quy định pháp luật về DVQCTMTT và nguyên nhân của những hạn chế đó

- Luận án đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật

về DVQCTMTT cũng như nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật đối với DVQCTMTT trong thời gian tới

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án

Về mặt lý luận, cho đến thời điểm hiện tại, đây là công trình nghiên cứu

đầu tiên về pháp luật đối với DVQCTMTT trên mạng internet ở cấp độ luận

án tiến sĩ Mặc dù đã có những nghiên cứu về quảng cáo nói chung hay kể cả quảng cáo qua mạng xã hội, nhưng Luận án là công trình đầu tiên tổng hợp và làm rõ khái niệm về DVQCTMTT cũng như các nội dung pháp luật cơ bản điều chỉnh hoạt động này Điều này có ý nghĩa trong việc giúp nhà làm luật hiểu

rõ hơn về DVQCTMTT trên mạng internet và do đó, hoạch định các chính sách pháp luật về DVQCTMTT trên mạng internet nói riêng cũng như dịch vụ quảng cáo nói chung, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về quảng cáo

Về mặt thực tiễn, các giải pháp của Luận án đưa ra với mục đích bảo vệ

cho các quyền và lợi ích của các chủ thể trong DVQCTMTT nhưng cũng giúp Nhà nước có cơ chế quản lý tốt hơn các hoạt động này để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và cũng có thể khuyến khích sự phát triển của hoạt động này theo xu hướng hội nhập thương mại quốc tế trong tương lai Như vậy, kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị trong nghiên cứu lập pháp về DVQCTMTT cũng như thực tiễn thực hiện dịch vụ theo pháp luật Việt Nam Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của Luận án khi được triển khai vào thực tiễn đời sống xã hội có giá trị giúp nâng cao nhận thức của các chủ thể có liên quan về DVQCTMTT trên mạng internet hiện nay; trở thành công

cụ để góp phần đảm bảo tốt hơn quyền, lợi ích của người tiêu dùng, người sử dụng internet trong thời đại công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ như hiện

Trang 12

nay Cuối cùng, Luận án cũng có thể là tài liệu nghiên cứu và tham khảo trong các cơ sở đào tạo pháp luật hay cho những người quan tâm đến hoạt động QCTMTT trong thời đại công nghệ số dưới góc độ chuyên ngành Luật kinh tế

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu, trong toàn bộ nội dung các chương, Luận án đã được thực hiện dựa trên các phương pháp luận nghiên cứu cơ bản như phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Triết học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường

Ngoài các phương pháp luận khoa học trên, Luận án cũng sử dụng thêm các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp thu thập thông tin, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp mô tả, phương pháp lịch sử… để tiếp cận và làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn đối với pháp luật về DVQCTMTT trên mạng internet ở Việt Nam hiện nay Cụ thể như sau:

Chương 1: Luận án sử dụng phương pháp thu thập thông tin, tổng hợp

các tài liệu, so sánh, phân tích cũng như đánh giá để thấy được những nghiên cứu có nội dung liên quan đến đề tài Luận án đã làm rõ những vấn đề nào và những vấn đề còn chưa được nghiên cứu để định hướng cho Luận án tiếp tục phát triển

Chương 2: Luận án áp dụng phương pháp phân tích, tổng hợp thông tin

để nhận định về khái niệm, đặc điểm của DVQCTMTT; áp dụng phương pháp so sánh để tìm ra những điểm khác biệt với dịch vụ quảng cáo truyền thống; áp dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để làm rõ khái niệm, đặc điểm và các nội dung cơ bản của pháp luật về DVQCTMTT; đồng thời, áp dụng phương pháp so sánh luật học để nghiên cứu pháp luật một số quốc gia điển hình

Chương 3: Luận án sử dụng phương pháp thu thập tài liệu, phương

pháp tổng hợp để làm sáng tỏ hệ thống pháp luật về DVQCTMTT, áp dụng

Trang 13

phương pháp đánh giá đối với thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và thực trạng thực thi pháp luật về DVQCTMTT trên thực tế, đồng thời sử dụng phương pháp hệ thống nhằm kế thừa và tổng hợp kết quả nghiên cứu đã công

bố Chương này cũng sử dụng phương pháp phân tích để tìm ra thành công và hạn chế của hệ thống pháp luật cũng như những nguyên nhân làm hạn chế DVQCTMTT

Chương 4: Luận án áp dụng phương pháp phân tích, dự báo đưa ra

những khuyến nghị, giải pháp xác đáng nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật về DVQCTMTT ở Việt Nam

7 Cơ cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bố cục nội dung nghiên cứu của luận án chia làm bốn chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu Chương 2: Những vấn đề lý luận về pháp luật về dịch vụ quảng cáo

thương mại trực tuyến trên mạng internet

Chương 3: Thực trạng các quy định pháp luật và thực thi pháp luật về

dịch vụ quảng cáo thương mại trực tuyến trên mạng internet tại Việt Nam hiện nay

Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp

luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về dịch vụ quảng cáo thương mại trực tuyến trên mạng internet ở Việt Nam

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

DVQCTMTT đã bắt đầu xuất hiện cùng với sự có mặt và phát triển của internet Ở Việt Nam, DVQCTMTT cũng dần dành được sự quan tâm của các nhà khoa học, đã có một số công trình nghiên cứu có giá trị về vấn đề này chủ yếu dưới góc độ chuyên ngành marketing Tuy nhiên, nhận thức được sự cần thiết của pháp luật trong việc điều chỉnh một loại hình quảng cáo, bắt đầu có một số nghiên cứu đề cập đến DVQCTMTT

1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về lý luận pháp luật có liên quan đến dịch vụ quảng cáo thương mại trực tuyến trên mạng internet

1.1.1.1 Các nghiên cứu về lý luận liên quan đến dịch vụ quảng cáo thương mại trực tuyến trên mạng internet

* Nghiên cứu về lý luận về quảng cáo thương mại

Nguyễn Thị Tâm trong Luận án “Hoàn thiện pháp luật về quảng cáo

thương mại” chỉ ra phần lớn các nước trên thế giới chỉ giải thích thuật ngữ

quảng cáo mà không có khái niệm về QCTM vì theo pháp luật của họ thì hoạt động quảng cáo luôn gắn liền với yếu tố lợi nhuận, mang tính thương mại và chủ yếu thực hiện bởi các thương nhân nên “quảng cáo thương mại” cũng chính là khái niệm “quảng cáo”, tuy nhiên cũng có một số quốc gia lại không

đồng nhất hai khái niệm như vậy Dù vậy, tác giả đưa ra khái niệm “quảng

cáo thương mại là hoạt động của các chủ thể thông qua các phương tiện quảng cáo nhằm giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ, hoạt động kinh doanh đến người tiêu dùng nhằm mục đích sinh lợi” [55, tr.20] Để phân loại QCTM, tác

giả có đưa ra các tiêu chí như đối tượng (nội dung) quảng cáo, phương tiện quảng cáo, phương thức tác động đến đối tượng quảng cáo; tuy nhiên, tác giả hầu như không đề cập đến quảng cáo trực tuyến một cách rõ ràng mà thường

Trang 15

nhắc đến thông qua phương thức quảng cáo qua website, báo điện tử trong phương tiện báo nói chung

Trong nghiên cứu về quảng cáo cạnh tranh của mình - Luận văn “Điều

chỉnh hoạt động quảng cáo trong khuôn khổ pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam”, Đoàn Tử Tích Phước cho rằng quảng cáo được hiểu và giới hạn là

QCTM, tức là một hành vi thương mại do thương nhân thực hiện nhằm giới thiệu hoạt động kinh doanh của mình cho khách hàng Tương tự như trong

nghiên cứu của Nguyễn Thị Tâm trong Luận án “Hoàn thiện pháp luật về

quảng cáo thương mại”, Đoàn Tử Tích Phước cũng phân loại quảng cáo dựa

trên ba tiêu chí: Nội dung quảng cáo, phương tiện quảng cáo và phương thức tác động đến đối tượng [54, tr.20-23]

Mặt khác, trong Luận văn Nguyễn Thị Thùy Dung “Pháp luật về dịch

vụ quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam”, tác giả lại cho rằng nhà làm luật

Việt Nam tách biệt “quảng cáo” và “quảng cáo thương mại” do không xác định rõ bản chất thương mại của quảng cáo, không phân biệt rõ quảng cáo với

các hình thức thông tin khác, do đó, tác giả đưa ra khái niệm “quảng cáo là

việc sử dụng các phương tiện để tuyên truyền với công chúng về các hoạt động kinh doanh của thương nhân nhằm thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ” [45, tr.13] Theo tác giả, cần làm rõ các hoạt

động thông tin mang tính chính trị, xã hội do cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội thực hiện chỉ là các hoạt động truyền thông mà thôi

* Nghiên cứu về lý luận về quảng cáo trực tuyến

Hiện nay, chưa có nhiều nghiên cứu sâu về dịch vụ quảng cáo trực tuyến, đặc biệt dưới góc độ pháp luật điều chỉnh hoạt động này Nguyễn Thị

Thu Hương trong Luận văn “Quản lý nhà nước về dịch vụ quảng cáo trực

tuyến tại Việt Nam”, đã chỉ ra thuật ngữ “dịch vụ quảng cáo trực tuyến”

không có định nghĩa chính thức mặc dù quá trình internet phát triển đã dần

phổ biến hơn hoạt động quảng cáo này Trong bài, tác giả nêu lên “Quảng cáo

trực tuyến là một hình thức quảng bá sử dụng môi trường internet để đưa

Trang 16

thông điệp marketing đến khách hàng mục tiêu” [52, tr.8] Theo đó, hình thức

quảng cáo này dùng internet để cung cấp thông điệp tiếp thị cho người tiêu dùng, bao gồm các loại phương thức như: Tiếp thị email, tiếp thị công cụ tìm kiếm, tiếp thị truyền thông xã hội, nhiều loại quảng cáo hiển thị và quảng cáo

di dộng Luận văn không làm rõ các đặc điểm mà chủ yếu chỉ ra vai trò quan trọng của quảng cáo trực tuyến ngày nay

Nguyễn Thị Oanh trong Luận văn “Chiến lược phát triển dịch vụ quảng

cáo trực tuyến của Công ty Cổ phần dịch vụ trực tuyến FPT – FPT Online dến năm 2020”, dựa trên các khái niệm về quảng cáo và quảng cáo trực tuyến

là một trong các loại hình quảng cáo đã kết luận “quảng cáo trực tuyến (hay

còn gọi là quảng cáo trên môi trường internet) là một loại hình của quảng cáo, ra đời chỉ sau internet không lâu, kinh doanh trên mạng bắt đầu ảnh hưởng đến thị trường, doanh nghiệp thu được những lợi nhuận khổng lồ” [53,

tr.23] Theo nhận định của tác giả sau khi internet ra đời, sang những năm

2000, thế giới bắt đầu manh nha khái niệm về quảng cáo trực tuyến nhưng chưa có sự ý thức thực sự và chuyên nghiệp hóa ngành nghề này Tuy nhiên, với sự phát triển vũ bão của internet, kinh doanh trực tuyến thông qua internet trở nên phổ biến hơn, quảng cáo truyền thống không còn đáp ứng được cho nhu cầu này nữa, quảng cáo trực tuyến đã dần trở thành một ngành công nghiệp thực sự với quy trình và chiến lược hẳn hoi Ngoài ra, Nguyễn Thị Oanh cũng chỉ ra các phương tiện quảng cáo trực tuyến sử dụng: Mạng quảng cáo (advertising network), quảng cáo tìm kiếm (search marketing), quảng cáo trên mạng xã hội (social marketing), quảng cáo tin đồn (buzz marketing), quảng cáo qua thư điện tử (email marketing) [53, tr.29-31]

Bên cạnh đó, tác giả Bùi Thị Bạch Hải, trong Luận văn“Trách nhiệm

pháp lý của người phát hành quảng cáo thương mại trực tuyến theo pháp luật Việt Nam hiện nay”, đã chỉ rõ hiện nay (cho đến thời điểm 2019 công bố

Luận văn) cũng chưa có một văn bản pháp luật nào định nghĩa chính thức về

QCTMTT, do vậy, đã đưa ra khái niệm: “Quảng cáo thương mại trực tuyến

Trang 17

là những nỗ lực của các chủ thể kinh doanh, dịch vụ nhằm tác động đến hành

vi, thói quen mua hàng của người tiêu dùng hay khách hàng bằng việc cung cấp những thông điệp bán hàng theo cách thuyết phục về sản phẩm hay dịch

vụ của người bán nhằm thu được lợi nhuận một cách hiệu quả nhất thông qua các phương tiện điện tử có kết nối mạng internet” [50, tr.13,14] Khái niệm

này có xu hướng nhấn mạnh tính chất mục đích của QCTMTT và việc sử dụng công cụ là phương tiện điện tử có kết nối mạng internet, đây chính là hai điểm cơ bản của QCTMTT và cũng có phần thể hiện được sự khác biệt với quảng cáo truyền thống Cũng trong Luận văn này, Bùi Thị Bạch Hải đã nhận diện và đưa ra những lý luận về nhóm chủ thể là “người phát hành quảng cáo

thương mại trực tuyến” như khái niệm: “Người phát hành quảng cáo thương

mại trực tuyến là người nắm giữ các phương tiện quảng cáo trực tuyến, có khả năng đưa sản phẩm quảng cáo thương mại đến với người tiêu dùng thông qua các trang thương mại điện tử trực tuyến hoặc các trang mạng xã hội trên internet” [50, tr.20] hay một số đặc điểm căn bản của nhóm chủ thể này Đây

là một nội dung quan trọng sẽ được kế thừa trong nghiên cứu của Luận án

* Nghiên cứu về lý luận về khái niệm có liên quan – “tiếp thị trực tuyến” (internet marketing)

Quảng cáo trực tuyến là một phần hoạt động trong tiếp thị trực tuyến,

vì vậy, các nghiên cứu về tiếp thị trực tuyến cũng phần nào giúp ta hiểu rõ hơn về quảng cáo trực tuyến

Phạm Hồng Hoa trong Luận án “Quy trình ứng dụng internet marketing

tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam” đã chỉ rõ có nhiều cách hiểu

khác nhau về quảng cáo trực tuyến (internet marketing) với nghĩa khá rộng như e-marketing, marketing điện tử, cho đến những cách hiểu nghĩa hẹp hơn như email marketing Tác giả đã nghiên cứu một số khái niệm của các tổ chức

và các học giả uy tín về marketing trên thế giới và đưa ra nhận xét:

“Về mặt hình thức thì dù xuất hiện dưới nhiều tên gọi khác nhau là

internet marketing, marketing điện tử, marketing trực tuyến,

Trang 18

marketing kỹ thuật số (digital marketing)… nhưng nội dung thì đều

đề cập đến việc sử dụng các công nghệ số có kết nối và trao đổi dữ liệu trên nền internet để làm marketing, bao gồm máy tính, truyền hình tương tác, điện thoại, thiết bị số…” [51, tr.23]

Tuy vậy, trong số này, marketing trực tuyến chủ yếu là qua môi trường internet, còn các thiết bị kết nối và trao đổi dữ liệu trên nền internet như marketing quá điện thoại di động, marketing qua truyền hình tương tác… là các nhánh phát sinh mà thôi

Các tác giả Dave Chaffey, Fiona Ellis-Chadwick, Kevin Johnston,

Richard Mayer trong tác phẩm “Internet Marketing: Strategy, Implementation

and Practice” đã đưa ra định nghĩa: “Internet marketing hay marketing dựa trên nền tảng internet là việc sử dụng internet và các công nghệ số có liên quan nhằm đạt được các mục tiêu marketing và hỗ trợ cho khái niệm marketing hiện đại” [104, tr.8] Theo đó, những công nghệ kỹ thuật số này

bao gồm các phương tiện truyền thông Internet như các trang web và e-mail cũng như các phương tiện kỹ thuật số khác như không dây hoặc di động và truyền thông để cung cấp kỹ thuật số truyền hình như cáp và vệ tinh Định nghĩa ngắn gọn này chỉ ra rằng đó là kết quả được cung cấp bởi công nghệ cần xác định đầu tư vào tiếp thị trên Internet, chứ không phải việc áp dụng công nghệ này Về mặt thực hiện, Internet marketing liên quan đến việc sử dụng website của công ty liên kết với các kỹ thuật xúc tiến trực tuyến khác như công cụ tìm kiếm, quảng cáo banner, gửi thư điện tử trực tiếp, các đường link liên kết hoặc các dịch vụ đặc trưng trên các trang web khác để tiếp cận đến các khách hàng mới và cung cấp dịch vụ cho các khách hàng hiện có nhằm phát triển và củng cố mối quan hệ với khách hàng

* Nghiên cứu về lý luận về khái niệm có liên quan – quảng cáo trên mạng xã hội

Về quảng cáo trực tuyến sử dụng công cụ mạng xã hội – một trong các

loại quảng cáo trực tuyến, đã có Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về hoạt động

bán hàng và quảng cáo trên mạng xã hội tại Việt Nam” Tác giả Nguyễn Phan

Trang 19

Anh đã đưa ra định nghĩa về “quảng cáo trên mạng xã hội”, dựa trên khái niệm về quảng cáo theo quy định trong Luật Quảng cáo 2012, tác giả cho rằng quảng cáo trên mạng xã hội là một hoạt động đặc thù của hoạt động quảng cáo thông thường, cũng chịu sự điều chỉnh của cả Luật Quảng cáo và Luật Thương mại Để thấy được sự khác biệt với các loại quảng cáo khác, tác giả nhấn mạnh vào khái niệm “quảng cáo trên mạng xã hội” là sử dụng phương

tiện mạng xã hội để thực hiện hành vi quảng cáo: “Quảng cáo trên mạng xã

hội là việc sử dụng mạng xã hội nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự, chính sách xã hội, thông tin cá nhân” [43, tr.18] Tác giả

Nguyễn Phan Anh cũng chỉ ra những đặc điểm riêng của quảng cáo trên mạng

xã hội dựa trên các đặc điểm chung của hoạt động quảng cáo; đặc biệt, tác giả

đã chỉ rõ hình thức quảng cáo này do xuất phát từ đặc điểm của việc sử dụng mạng xã hội (trước đó tác giả đã định nghĩa được về mạng xã hội, các loại mạng xã hội), là hoạt động không chỉ do thương nhân tiến hành mà còn có sự

tham gia của các tổ chức, cá nhân khác không phải là thương nhân: “Theo cơ

chế người dùng là cá nhân có quyền tạo ra các quảng cáo cho mình giúp mình bán hàng và quảng cáo một cách dễ dàng” [43, tr.20] Hoạt động quảng

cáo trên mạng xã hội cũng được so sánh với các hoạt động quảng cáo khác, ở đây, tác giả không chỉ so sánh với hoạt động quảng cáo truyền thống nói chung mà còn tìm hiểu khi so với hoạt động quảng cáo trên website điện tử Tuy đã đóng góp được những ý kiến nhất định về một loại hình quảng cáo cụ thể là quảng cáo trên mạng xã hội, nhưng Luận văn xem xét trên khía cạnh quảng cáo đi kèm với hoạt động bán hàng trên mạng xã hội Vì vậy, có những phần chưa được rõ ràng về quảng cáo trên mạng xã hội

* Nghiên cứu về lý luận về các loại hình quảng cáo khác

Nguyễn Thị Thùy Dung trong Luận văn “Pháp luật về dịch vụ quảng

cáo trên truyền hình ở Việt Nam” đã so sánh dịch vụ quảng cáo trên truyền

Trang 20

hình với dịch vụ quảng cáo trên internet Tuy nhiên, tác giả chủ yếu so sánh

về ưu và nhược điểm của hai loại hình quảng cáo, làm nổi bật loại hình dịch

vụ quảng cáo trên truyền hình chứ không đi vào bản chất dịch vụ quảng cáo trên internet là gì và tác giả đánh giá xu hướng phát triển dịch vụ quảng cáo

vẫn là mũi nhọn của ngành: “Internet mới chỉ là phương tiện bổ sung chứ

chưa thể thay thế truyền hình, kể cả trong tương lai gần” [45, tr.21]

1.1.1.2 Các nghiên cứu liên quan đến pháp luật về dịch vụ quảng cáo thương mại trực tuyến

* Nghiên cứu về pháp luật về dịch vụ quảng cáo thương mại nói chung

Trong Luận án “Hoàn thiện pháp luật về quảng cáo thương mại”,

Nguyễn Thị Tâm nhận thấy do những đặc thù trong hoạt động QCTM nên có nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trong lĩnh vực này như Luật Thương mại, Luật Quảng cáo, Luật Cạnh tranh, Luật Dược, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Báo

chí… và xác định “Luật Thương mại 2005 được xem là văn bản pháp lý chuyên

ngành điều chỉnh về hoạt động quảng cáo thương mại” [55, tr.36,37] Tác giả đã

nêu ra những nguyên tắc của pháp luật về QCTM: (i) Bảo vệ an ninh tổ quốc, trật

tự an toàn xã hội; (ii) Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể; (iii) Bảo vệ tính mạng sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của cá nhân, tổ chức; (iv) Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; (v) Chủ động hội nhập vào nền QCTM quốc tế Bên cạnh đó, nội dung quan trọng được tác giả đi sâu nghiên cứu, tổng hợp là các nội dung cơ bản của pháp luật về QCTM:

có quyền (trái chủ) và chủ thể có nghĩa vụ (thụ trái) trong từng loại quan hệ phát sinh với những điều kiện, địa vị pháp lý khác nhau;

QCTM, hành vi QCTM bị cấm, những hành vi QCTM nhằm cạnh tranh không lành mạnh bị cấm, những hành vi QCTM xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;

Trang 21

đặc thù của mỗi phương tiện quảng cáo, bên cạnh những quy định về nội dung, pháp luật còn phải quy định về điều kiện và cách thức quảng cáo thương mại trên mỗi phương tiện là khác nhau” [55, tr.43];

định về tiêu chuẩn và điều kiện của sản phẩm quảng cáo;

Bên cạnh đó, còn một số nghiên cứu khác về pháp luật quảng cáo

nhưng không đề cập đến quảng cáo trực tuyến như Luận văn “Pháp luật về

kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn tại Việt Nam” của Nguyễn Phương

Anh (2012) hoặc đề cập rất ít như Luận văn “Điều chỉnh hoạt động quảng cáo

trong khuôn khổ pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam” của Đoàn Tử Tích Phước

(2007), Luận án “Pháp luật về hành vi quảng cáo nằm cạnh tranh không lành

mạnh ở Việt Nam hiện nay” của Hồ Thị Duyên (2016) Mặc dù nghiên cứu

thực hiện từ năm 2007, nhưng tác giả Đoàn Tử Tích Phước cũng đã thấy được

xu hướng của quảng cáo trực tuyến “quảng cáo trực tuyến theo gót mạng

internet đem thông tin phổ biến khắp toàn cầu, hứa hẹn sẽ là một công cụ quảng cáo mạnh mẽ trong tương lai không xa” [54, tr.12] và tác giả Hồ Thị

Duyên với nghiên cứu năm 2016 cũng thấy rõ được sự phát triển của quảng cáo trực tuyến tuy không đi vào phân tích cụ thể

Aude Mahy trong cuốn sách Advertising Food in Europe - A

Comparative Law Analysis cho thấy rằng trong những năm gần đây, sự quan

tâm đến các luật điều chỉnh quảng cáo thực phẩm ở các nước châu Âu đã tăng Lý do cho sự quan tâm này được tìm thấy trong thực tế rằng trong khi một mặt, nhiều quy tắc hài hòa về ghi nhãn và quảng cáo thực phẩm có được ban hành trong những năm gần đây tại EU, thì mặt khác, sự khác biệt tồn tại quốc gia liên quan đến việc giải thích và áp dụng các quy tắc này Cụ thể hơn, những thông tin được đưa ra trong sách này, liên quan đến luật pháp quốc gia

và EU liên quan đến quảng cáo thực phẩm hiện đang tồn tại và cách thức các quy định pháp luật này được các cơ quan quốc gia và các thẩm phán giải thích

Trang 22

và áp dụng, chắc chắn có thể giúp đánh giá sự phù hợp của truyền thông thương mại đối với một số thực phẩm theo luật hiện hành và cả pháp luật của các quốc gia thành viên của EU Cuốn sách đã tập hợp quy định pháp luật về quảng cáo thực phẩm dưới góc độ phân tích của pháp luật cạnh tranh Tuy nhiên, có thể thấy được khái quát về pháp luật nội dung đối với QCTM ở các nước thành viên của EU Mặc dù vậy, tác giả Aude Mahy không đề cập đến

sự khác biệt trong việc quảng cáo được thực hiện qua các phương tiện truyền thông khác nhau hay nội dung quảng cáo khi thực hiện trên các phương tiện

sử dụng mạng internet thì cần phải chú ý yếu tố nào khác

* Nghiên cứu về pháp luật về dịch vụ quảng cáo thương mại trực tuyến

Nguyễn Thị Thu Hương, trong Luận văn “Quản lý nhà nước về dịch vụ

quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam”, đã tổng hợp và đánh giá các nội dung

quản lý nhà nước về quảng cáo và quảng cáo trực tuyến thành 3 nhóm: (i) Cơ chế chính sách, khung pháp lý; (ii) Năng lực chuyên môn cán bộ quản lý; (iii) Hoạt động thực hiện quản lý nhà nước thông qua cấp phép, thanh tra, kiểm tra hoạt động quảng cáo và tuyên truyền, phổ biến hướng dẫn pháp luật [52, tr.26] Tác giả đưa ra các loại tiêu chí để đánh giá hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với quảng cáo trực tuyến, một số tiêu chí trực tiếp như tiêu chí đối với hệ thống văn bản pháp luật, với nguồn nhân lực; tiêu chí gián tiếp đối với thị trường như sự phát triển và các tác động lan tỏa của quảng cáo trực tuyến đối với hoạt động kinh tế - xã hội, mức độ xuất hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các biểu hiện, tác động tiêu cực của quảng cáo trực tuyến Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu phân tích rõ nội dung này [52, tr.27-29]

Trong Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về hoạt động bán hàng và quảng

cáo trên mạng xã hội tại Việt Nam”, tác giả Nguyễn Phan Anh cũng đã tổng

hợp được nguồn luật đối với hoạt động quảng cáo trên mạng xã hội Các quy định điều chỉnh hoạt động quảng cáo trên mạng xã hội là các quy định điều chỉnh hoạt động quảng cáo nói chung, được tác giả chia làm ba nội dung chính: (i) Quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong hoạt động

Trang 23

quảng cáo: Với mức độ và cách thức tham gia khác nhau, chia thành ba nhóm chủ thể (người quảng cáo, người kinh doanh dịch vụ quảng cáo và người phát hành quảng cáo); (ii) Quy định về đối tượng của quảng cáo trên mạng xã hội; (iii) Quy định về trách nhiệm quản lý của Nhà nước đối với hoạt động quảng cáo Ngoài ra, Luận văn cũng nêu được một phần quy định về bảo vệ người tiêu dùng và giải quyết tranh chấp trong hoạt động quảng cáo [43, tr.40-46]

Trong cuốn hướng dẫn về luật quảng cáo và khuyến mại ở Anh Guide

to advertising and sales promotion law, Sallie Spilsbury đã xem xét làm thế

nào để áp dụng luật cho các hoạt động quảng cáo và khuyến mãi trên internet bây giờ và những sự phát triển nào có thể được mong đợi trong tương lai Pháp luật về quảng cáo đang được Ủy ban châu Âu thông qua cũng được xem xét và phân tích hiệu quả của nó đối với các hoạt động tiếp thị ở Anh Các lĩnh vực khác của pháp luật được xem xét bao gồm: Các mối quan hệ hợp đồng quảng cáo và khuyến mãi, bản quyền, nhãn hiệu thương mại và thương hiệu, phỉ báng, mô tả sản phẩm và giá cả, quảng cáo so sánh, sử dụng tài liệu của bên thứ ba, quản lý xổ số, chương trình khuyến mãi Ngoài ra, Sallie Spilsbury cũng hướng dẫn một phần về thủ tục pháp lý và biện pháp khắc phục Cuốn sách cho thấy cái nhìn tổng quát về pháp luật quảng cáo của Anh thông qua bộ Quy tắc Quảng cáo và Bán hàng được soạn thảo và quản lý bởi Ủy ban về quảng cáo (CAP); trong đó, Ủy ban về tiêu chuẩn quảng cáo (ASA) sẽ xem xét các khiếu nại được thực hiện theo bộ Quy tắc này [113, tr.163-195]

Trong quá trình thực hiện dịch vụ QCTM, xuất hiện hoạt động quảng cáo dựa trên hành vi trực tuyến Điều này được Sophie C Boerman, Sanne Kruikemeier & Frederik J Zuiderveen Borgesius nhắc đến trong bài báo

Online Behavioral Advertising: A Literature Review and Research Agenda

Mặc dù sự quan tâm ngày càng tăng đối với quảng cáo dựa trên hành vi trực tuyến, nhưng các tác giả thấy rằng sự hiểu biết rõ ràng về quảng cáo dựa trên hành vi trực tuyến vẫn còn thiếu Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về quảng cáo dựa trên hành vi trực tuyến, làm cho khái niệm này trở nên mơ hồ [114,

Trang 24

tr.364] Điều này một phần là do tính chất liên ngành của lĩnh vực này và các bên quan tâm khác nhau, bao gồm các nhà quảng cáo, người tiêu dùng, nhà khoa học máy tính và nhà hoạch định chính sách Bài báo của các tác giả đã xác định rõ quảng cáo dựa trên hành vi trực tuyến, đồng thời phát triển một khung lý thuyết xác định và tích hợp tất cả các yếu tố có thể giải thích phản ứng của người tiêu dùng đối với quảng cáo dựa trên hành vi trực tuyến Bộ khung này của các tác giả và định vị về mặt lý thuyết quảng cáo dựa trên hành

vi trực tuyến giúp xác định các lỗ hổng trong tài liệu và tạo điều kiện cho sự phát triển của một chương trình nghiên cứu

Mặt khác, Nhà nước có vai trò to lớn trong việc định hướng, điều chỉnh, giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội, trong đó có hoạt động QCTMTT với sự bùng nổ phát triển mạnh mẽ Những năm gần đây, đã có một số bài viết liên quan đến QCTM nói chung và thường đi sâu vào khía cạnh quản lý nhà nước đối với hoạt động này

Trong bài viết “Quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về quản lí

nhà nước đối với hoạt động quảng cáo thương mại”, Nguyễn Ngọc Anh đã

trình bày khái quát sự phát triển các quy định pháp luật về quảng cáo, đặc biệt

là các quy định về quản lý nhà nước được chia thành những nhóm chính: (i) Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động quảng cáo, cấp, thu hồi giấy phép trong hoạt động quảng cáo; (ii) Xây dựng

và chỉ đạo, tổ chức thực hiện phát triển quảng cáo; (iii) Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong hoạt động quảng cáo Bài viết chủ yếu thuần túy lý luận, không xem xét đến thực trạng thực tế áp dụng các quy định pháp luật nên không đưa ra những nhận định, tuy nhiên Nguyễn Ngọc Anh vẫn định hướng cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực này do sự thay đổi không ngừng của hoạt động QCTM với các hình thức mới mẻ, phong phú nhưng cũng có nhiều phức tạp [59, tr.10]

Trong các chế định của pháp luật về DVQCTMTT, Luận văn“Trách

nhiệm pháp lý của người phát hành quảng cáo thương mại trực tuyến theo

Trang 25

pháp luật Việt Nam hiện nay” của Bùi Thị Bạch Hải nhấn mạnh vào khía

cạnh đối với nhóm chủ thể là người phát hành quảng cáo Đây là nhóm chủ thể đặc biệt quan trọng bởi những hành vi của họ gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động QCTMTT nói chung Dựa vào các phân tích, luận giải về trách nhiệm pháp lý nói chung, Bùi Thị Bạch Hải trình bày khái niệm:

“Trách nhiệm pháp lý của người phát hành quảng cáo thương mại trực tuyến là những hậu quả bất lợi do Nhà nước áp dụng đối với người phát hành quảng cáo thương mại trực tuyến đã có hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện quảng cáo thương mại trực tuyến Tùy theo mức độ vi phạm, trách nhiệm pháp lý mà người phát hành quảng cáo thương mại trực tuyến phải gánh chịu có thể

là trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự” [50, tr.34]

Về thẩm quyền quản lý hoạt động QCTM, Vũ Thị Hòa Như trong bài

“Thẩm quyền quản lí hoạt động quảng cáo thương mại theo pháp luật Trung

Quốc và một số quốc gia Đông Nam Á - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”

đã chỉ ra thẩm quyền quản lý hoạt động quảng cáo nói chung không chỉ thuộc

về cơ quan chủ quản là Bộ VHTTDL mà còn sự tham gia quan trọng của Bộ Thông tin và Truyền thông, cũng như Bộ Công Thương bên cạnh các bộ

chuyên ngành khác, dẫn đến nhận định “Nhìn chung, ở Việt Nam, văn bản

pháp luật quy định về quảng cáo khá đồ sộ, việc phân cấp thẩm quyền quản lý quảng cáo khá phức tạp với sự tham gia của nhiều chủ thể song lại không có

sự cụ thể về cơ chế phối hợp giữa các chủ thể, điều này tạo nên những khoảng trống trong quản lý” [84, tr.68]

Cùng với nhận xét về hệ thống văn bản pháp luật, Nguyễn Ngọc Hà và

Võ Sỹ Mạnh trong bài viết “Pháp luật về quảng cáo thương mại của Hoa Kỳ

và kinh nghiệm cho Việt Nam” cũng nhận định “Tồn tại lớn nhất trong thực trạng pháp luật về quảng cáo là sự chồng chéo, trùng lặp, thiếu thống nhất của nhiều văn bản pháp luật, do nhiều cơ quan khác nhau ban hành” [75,

Trang 26

tr.93] điều này dẫn đến những bất cập trong quá trình thực hiện các quy định pháp luật

1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu thực tiễn pháp luật có liên quan đến dịch vụ quảng cáo thương mại trực tuyến trên mạng internet

1.1.2.1 Nghiên cứu thực trạng các quy định pháp luật có liên quan đến

dịch vụ quảng cáo thương mại trực tuyến trên mạng internet

Luận văn “Quản lý nhà nước về dịch vụ quảng cáo trực tuyến tại Việt

Nam” của Nguyễn Thị Thu Hương (2014) đã xem xét các quy định của Luật

Quảng cáo 2012 cũng như Pháp lệnh Quảng cáo 2001, nhưng tác giả cũng nhận định chưa có các văn bản pháp quy điều chỉnh riêng về quảng cáo trực tuyến mà chỉ có các quy định nằm xen kẽ các quy định chung cho mọi loại hình quảng cáo như Nghị định số 90/2008/NĐ-CP về chống thư rác… Ngoài một số ưu điểm, Luận văn này chỉ ra một số hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của chúng như: (i) Văn bản pháp quy điều chỉnh còn dàn trải, một số quy định kiểm soát còn thiếu tính khả thi; (ii) Đội ngũ nhân lực quản lý nhà nước về quảng cáo còn chưa thực sự hoạt động hiệu quả; (iii) Cơ quan nhà nước chưa đổi mới tư duy và tìm ra được cơ chế thanh tra, kiểm tra phù hợp với đặc thù của quảng cáo trực tuyến [52, tr.57-59]

Về thực trạng các quy định pháp luật, tác giả Nguyễn Phan Anh trong

Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về hoạt động bán hàng và quảng cáo trên mạng

xã hội tại Việt Nam”, đã đưa ra nhận xét rằng các văn bản pháp luật hiện nay

đã tạo ra được một khung pháp lý tương đối đầy đủ điều chỉnh hoạt động quảng cáo nói chung, tức là hoạt động quảng cáo truyền thống; còn đối với xu thế hoạt động quảng cáo mới hiện nay, với loại hình quảng cáo trên mạng xã hội, thì pháp luật quảng cáo cũng chưa có cơ chế điều chỉnh đặc thù, đã tạo ra những khó khăn nhất định trong quá trình thực hiện pháp luật

Trong Luận văn “Trách nhiệm pháp lý của người phát hành quảng cáo

thương mại trực tuyến theo pháp luật Việt Nam hiện nay”, Bùi Thị Bạch Hải

đã chỉ ra các quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý đối với nhóm chủ thể

Trang 27

“người phát hành quảng cáo thương mại trực tuyến” theo pháp luật Việt Nam,

cụ thể: (i) Các quy định điều chỉnh về trách nhiệm hành chính được phân chia đối với hai giai đoạn là trong quá trình thành lập và trong quá trình hoạt động; (ii) Các quy định về trách nhiệm dân sự đối với người phát hành QCTMTT gắn với các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại (vì bồi thường thiệt hại là trách nhiệm dân sự thường gặp ở người phát hành QCTMTT), chú trọng vào nghiên cứu các căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự này; (iii) Các quy định về trách nhiệm hình sự đối với người phát hành QCTMTT thì Bùi Thị Bạch Hải cũng nhận định rõ hiện nay mới chỉ quy định về một tội phạm duy nhất là Điều 197 tội quảng cáo gian dối tại Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 [50, tr.38-51] Không chỉ nghiên cứu các quy định, Bạch Hải còn đưa ra một số loại vi phạm cụ thể và cho thực tiễn áp dụng quy định về trách nhiệm pháp lý của người phát hành QCTMTT theo pháp luật Việt Nam hiện nay Bùi Thị Bạch Hải cho rằng mặc dù đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh liên quan đến hoạt động quảng cáo và các chế về

xử phạt vi phạm trong hoạt động quảng cáo nhưng một số quy định còn chưa rõ ràng, thiên về định tính và đặc biệt, cần phải chú trọng công tác hậu kiểm để đảm bảo việc quảng cáo là đúng theo quy định của pháp luật [50, tr.66]

Trần Quỳnh Anh trong bài viết “Thực trạng quản lí nhà nước về quảng

cáo thương mại với mục tiêu hạn chế hành vi cạnh tranh không lành mạnh và bảo vệ người tiêu dùng” cũng đồng tình với tình trạng các quy định pháp luật

hiện nay về thẩm quyền quản lý nhà nước đối với hoạt động QCTM nên tạo ra

sự thiếu đồng bộ trong quản lý nhà nước bên cạnh vấn đề không phân định cụ

thể thẩm quyền và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước “dẫn đến sự

chồng chéo và tạo nhiều “khoảng trống” trong quản lý nhà nước, không đảm bảo được mục tiêu hạn chế cạnh tranh không lành mạnh và bảo vệ người tiêu dùng” [61, tr.4-5] Điều này là tình trạng xảy ra với quản lý QCTM nói chung,

ngay cả với QCTMTT trên mạng internet nói riêng

Trang 28

Đặc biệt là bài viết “Bảo vệ thông tin cá nhân trong thương mại điện tử

theo pháp luật Việt Nam”, tác giả Đinh Thị Lan Anh đã nêu ra một số vấn đề

về mặt lý luận đối với việc bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng như

đi sâu xem xét các khái niệm liên quan đến thông tin cá nhân, trách nhiệm pháp lý của các chủ thể có liên quan trong các hành vi xâm phạm đến thông tin cá nhân của người tiêu dùng [57, tr.29-33]

1.1.2.2 Nghiên cứu thực trạng thực thi pháp luật có liên quan đến dịch

vụ quảng cáo thương mại trực tuyến trên mạng internet

Nguyễn Thị Tâm đã thể hiện sự nghiên cứu sâu sắc trong Luận án “Hoàn

thiện pháp luật về quảng cáo thương mại” (2016), tổng hợp đầy đủ các quy định

về pháp luật QCTM, đưa ra nhận xét rằng dù đã điều chỉnh được các nhu cầu thực tế về cơ bản, nhưng pháp luật QCTM hiện nay còn một số bất cập:

mâu thuẫn trong pháp luật, quy định còn nhiều điểm chưa phù hợp, chưa phản ánh đúng được sự phát triển kinh tế của Việt Nam và đặc biệt là xu thế phát triển chung của thế giới

của chủ thể QCTM là chưa cao, thể hiện trong suy nghĩ và hành động của các chủ thể trong hoạt động QCTM

lý và phát hiện những sai phạm trong lĩnh vực QCTM, chưa chú ý đến vai trò của các cơ quan báo chí, Hiệp hội Quảng cáo thương mại… [55, tr.121]

Tác giả Nguyễn Phan Anh trong Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về hoạt

động bán hàng và quảng cáo trên mạng xã hội tại Việt Nam”, đã chỉ ra nhiều

bất cập trong quá trình thực thi các quy định về quảng cáo trên mạng xã hội,

cụ thể như:

quảng cáo trên mạng xã hội cũng như các quy định về chế tài xử lý vi phạm

Trang 29

đối với các chủ thể thực hiện các hoạt động quảng cáo sai phạm ảnh hướng đến các thương nhân trong xã hội

quảng cáo đa dạng, nhiều chủ thể tự quảng cáo cho chính hàng hóa, dịch vụ của mình

chung còn thiếu hiểu biết pháp lý

quảng cáo diễn ra phổ biến, nhiều hành vi quảng cáo sai phạm không được kiểm soát

xác của thông tin

gặp nhiều khó khăn

Từ những thực trạng đó, tác giả cũng đánh giá được những mặt hạn chế

và chỉ ra được một số nguyên nhân cơ bản như: Quảng cáo trên mạng xã hội

là mô hình mới tự phát; ý thức, hiểu biết pháp luật của các chủ thể tham gia hoạt động quảng cáo này còn yếu kém; khả năng hội nhập quốc tế về luật pháp còn hạn chế; quản lý từ phía Nhà nước còn buông lỏng… [43, tr.64-70]

Kể từ khi Internet trở nên phổ biến, các mối lo ngại đã được đặt ra về cách tốt nhất để bảo vệ người tiêu dùng đối với các hình thức quảng cáo mới,

Martin, A.R & Sarkar, R đã nêu lên vấn đề này trong bài báo Developments

in advertising and consumer protection in cyberspace Các tác giả cho thấy

dưới một cơ chế quản lý liên bang mới, có những câu hỏi chưa được giải đáp

về việc liệu các cơ quan liên bang sẽ thay đổi các hành động thực thi pháp luật của họ; mặt khác, bổ sung vào cơ chế tự điều chỉnh hiện nay, cơ quan lập pháp và luật sư nói chung ngày càng quan tâm hơn đến quảng cáo trong không gian mạng Sự giao nhau của các phương pháp điều chỉnh này đã tạo ra

Trang 30

một xu hướng gia tăng đối với việc tiết lộ thông tin và minh bạch đối với người tiêu dùng Trong bài báo, các tác giả đã thảo luận về xu hướng ở cấp độ liên bang, tiểu bang và ngành trong hoạt động quảng cáo và bảo vệ người tiêu dùng trong ba lĩnh vực cụ thể khác nhau của không gian mạng: (i) Theo dõi người tiêu dùng, (ii) Các quy trình bảo mật dữ liệu, và (iii) Đánh giá của người tiêu dùng và chứng thực Đây là những nội dung thiết thực cho thấy được điều đáng lo ngại khi môi trường không gian mạng phát triển và những

sự thay đổi cần thiết từ cơ chế quản lý nhà nước, đặc biệt bài báo cũng nói rõ

về việc xem xét đối với hình thức chứng thực trong quảng cáo [110, tr.295]

Trong bài viết “Những bất cập trong quảng cáo thương mại trên mạng

Internet và kiến nghị hoàn thiện”, Võ Thị Thanh Linh đã tổng hợp được nhiều bất

cập, bao gồm: (i) Việc giải quyết khiếu nại của người tiêu dùng đặt ra vấn đề trách nhiệm liên đới giữa doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, dịch vụ và doanh nghiệp quảng cáo sản phẩm dịch vụ trên phương tiện điện tử; (ii) Quảng cáo của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam với những quy định chưa thống nhất; (iii) Các sản phẩm quảng cáo trên mạng có tình trạng “lách luật”; (iv) Quảng cáo trên trang điện tử liên kết, trang mạng xã hội và trang cá nhân, loại hình quảng cáo hiển thị, quảng cáo nhắm đến trẻ em; (v) Thẩm quyền quản lý nhà nước giữa các

cơ quan nhà nước còn chồng chéo, phân cấp phức tạp [80, tr.67-72]

Nguyễn Như Chính, trong bài “Quy định về kiểm tra, giám sát và xử lý

vi phạm trong hoạt động quảng cáo thương mại - Thực trạng và hướng hoàn thiện”, đã nhận định “thẩm quyền quản lý, kiểm tra, giám sát và xử phạt vi phạm trong hoạt động quảng cáo thương mại hiện nay căn cứ theo việc phân chia lĩnh vực quản lý giữa các bộ” [67, tr.4] và theo nghiên cứu, nội dung

quản lý, kiểm tra, giám sát và xử phạt vi phạm trong hoạt động QCTM chia thành các vấn đề về thủ tục cấp phép và nội dung của QCTM, về sản phẩm, hàng hóa dịch vụ cấm QCTM và về các hành vi cấm trong QCTM Do đó, nhìn chung là các quy định đã bị trùng lặp trong chức năng, nhiệm vụ của các

Trang 31

bộ có liên quan trong hoạt động QCTM Tuy vậy, theo tác giả bài viết, Nghị định 158/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo đã phần nào khắc phục được tình trạng chồng chéo về thẩm quyền xử phạt, mức chế tài đối với các hành vi vi phạm QCTM [67, tr.10]

Ngoài ra, liên quan đến người dùng internet, người tiêu dùng trong

thương mại điện tử, cũng đã có một số nghiên cứu đề cập đến “Pháp luật về

bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử” của Lê Văn Thiệp cho thấy

một khái niệm về người tiêu dùng trong thương mại điện tử và chỉ rõ những nguyên tắc trong việc bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử, tuy nhiên, quá trình thực hiện các quy định pháp luật, áp dụng pháp luật của các

chủ thể quản lý nhà nước “còn lỏng lẻo nên đã dẫn đến quyền lợi chính đáng

của người tiêu dùng bị xâm phạm nghiêm trọng” [91, tr.33] Bài nghiên cứu

này mới chỉ đề cập đến tình trạng chung của người tiêu dùng trong thương mại điện tử Trong khi đó, Đoàn Quỳnh Thương trong khi đề cập về các tranh

chấp cơ bản trong thương mại điện tử tại bài “Về một số tranh chấp trong

thương mại điện tử” đã nhắc đến thực trạng tranh chấp liên quan đến bảo vệ

dữ liệu cá nhân của người tiêu dùng trong thương mại điện tử [93, tr.41-42]

Steven C Bennett trong bài Regulating Online Behavioral Advertising

đưa ra một số quan điểm với việc điều chỉnh quảng cáo dựa trên hành vi trực tuyến, có thể là đưa ra các quy định chuyên sâu với mục tiêu chính là đảm bảo quyền riêng tư của người tiêu dùng được bảo vệ, chống việc lạm dụng thông tin người tiêu dùng hoặc một hệ thống kiện tụng công cộng và tư nhân nhằm giải quyết sự dư thừa trong thực tiễn quảng cáo dựa trên hành vi trực tuyến,

có thể giải quyết tốt hơn những lo ngại trọng tâm này trong khi duy trì khả năng kinh tế của quảng cáo dựa trên hành vi trực tuyến [115, tr.943] Điều này gợi ý cho Luận án về một số vấn đề đối với chính sách quản lý nhà nước, bao gồm các câu hỏi về phương tiện tốt nhất để cân bằng giữa các quan niệm về quyền riêng

tư với các nhu cầu năng động tương tự của một nền kinh tế dựa trên thông tin

Trang 32

1.1.3 Các đề xuất, kiến nghị trong các công trình nghiên cứu có liên quan đến pháp luật về dịch vụ quảng cáo thương mại trực tuyến trên mạng internet

Nguyễn Thị Tâm trong Luận án “Hoàn thiện pháp luật về quảng cáo

thương mại” đã đưa ra các phương hướng hoàn thiện pháp luật về QCTM,

bao gồm: Đảm bảo hài hòa truyền thống văn hóa dân tốc và văn hóa QCTM thế giới; Góp phần thiết lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, bền vững; Bảo

vệ có hiệu quả lợi ích của người tiêu dùng, bảo đảm sự cân bằng trong giao dịch dân sự giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh QCTM; Theo xu hướng tự do hóa thương mại và hợp tác quốc tế Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp như:

trong lĩnh vực QCTM;

pháp luật QCTM;

QCTM [55, tr.127-139]

Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về hoạt động bán hàng và quảng cáo trên

mạng xã hội tại Việt Nam”, tác giả Nguyễn Phan Anh xác định được việc

hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động quảng cáo trên mạng xã hội cần thiết để đẩy mạnh hội nhập quốc tế của Việt Nam Tác giả chia các giải pháp thành ba phần:

tham gia thực hiện hoạt động bán hàng và quảng cáo trên mạng xã hội; cần có quy định và cơ chế thu thuế phù hợp, hiệu quả đối với chủ thể bán hàng và quảng cáo trên mạng xã hội; sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện quy định của

Trang 33

pháp luật về xử lý hành vi vi phạm của chủ thể thực hiện hoạt động bán hàng

và quảng cáo trên mạng xã hội; quy định cụ thể trách nhiệm, quyền và nghĩa

vụ của thương nhân thực hiện hoạt động bán hàng và QCTM

cơ quan Nhà nước đối với các chủ thể thiết lập các mạng xã hội phải đăng ký với Bộ Công Thương; tăng cường công tác quản lý các thông tin về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của chủ thể thực hiện hoạt động bán hàng và quảng cáo trên mạng xã hội; có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc quản lý hoạt động bán hàng và quảng cáo trên mạng xã hội

nhận thức của xã hội về bán hàng và quảng cáo trên mạng xã hội, đặc biệt là nâng cao ý thức và tầm hiểu biết cho nhà cung cấp và người tiêu dùng; tăng cường trang bị cho nhà cung cấp hàng hóa các kiến thức về bán hàng và quảng cáo trên mạng xã hội đồng thời nâng cao ý thức tuân thủ các yêu cầu

kỹ thuật và chất lượng hàng hóa chào bán; trang bị cho người tiêu dùng những kiến thức cơ bản như sự am hiểu các quy định về hoạt động thương mại điện

tử nói chung và hoạt động quảng cáo, bán hàng trên mạng xã hội nói riêng, quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, kỹ năng đánh giá website và độ tin cậy của thông tin… [43, tr.76-82]

Luận văn “Quản lý nhà nước về dịch vụ quảng cáo trực tuyến tại Việt

Nam”, Nguyễn Thị Thu Hương đã nhất quán với những phần trước mà chỉ ra

3 nhóm giải pháp để tăng cường hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước đối với dịch vụ quảng cáo trực tuyến: Bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy; Nâng cao năng lực đội ngũ công chức thực hiện công tác quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo; Nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác thực thi các quy định pháp luật kiểm soát hành vi quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam [52, tr.66-72]

Trang 34

Riêng với nhóm chủ thể người phát hành QCTMTT, Bùi Thị Bạch Hải

(Luận văn “Trách nhiệm pháp lý của người phát hành quảng cáo thương mại

trực tuyến theo pháp luật Việt Nam hiện nay”) đề xuất hoàn thiện pháp luật

về trách nhiệm pháp lý của nhóm chủ thể này với mục đích không chỉ đảm bảo cho hoạt động QCTMTT ở Việt Nam được thực hiện đúng pháp luật, bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng mà còn đáp ứng yêu cầu bảo vệ những giá trị cơ bản về thuần phong mỹ tục và giá trị truyền thống trong thời đại công nghệ và tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động QCTMTT Bùi Thị Bạch Hải đã đưa ra một số giải pháp như sau:

- Hoàn thiện các quy định pháp luật bằng cách bổ sung thêm các quy định ràng buộc trách nhiệm đối với việc quảng cáo hàng hóa, dịch vụ trên các tài khoản cá nhân; các quy định ràng buộc trách nhiệm của người phát hành QCTMTT về tính hợp pháp, tính trung thực, chính xác của nội dung quảng cáo được phát hành; và nâng cao tính nghiêm khắc của các biện pháp chế tài đối với hành vi vi phạm pháp luật QCTM

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động QCTMTT

- Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về hoạt động QCTMTT

- Tăng cường vai trò của Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam [50, tr.77-84]

Nguyễn Thị Thu Hương, trong Luận văn “Quản lý nhà nước về dịch vụ

quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam” còn chỉ ra kinh nghiệm của một số quốc

gia trên thế giới về quản lý nhà nước đối với dịch vụ quảng cáo và quảng cáo trực tuyến như Mỹ, Singapore, Áo, Đức, Malaysia [52, tr.29-33] Tuy nhiên, Nguyễn Thị Thu Hương lại chưa thể hiện rõ những bài học nào được rút ra đối với việc quản lý nhà nước tại Việt Nam

Vũ Thị Hòa Như trong bài viết Thẩm quyền quản lí hoạt động quảng

cáo thương mại theo pháp luật Trung Quốc và một số quốc gia Đông Nam Á - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam sau khi đưa ra nhận định về tình hình tại

Trang 35

Việt Nam, Vũ Thị Hòa Như đề xuất việc học hỏi kinh nghiệm quản lý của các quốc gia có nền kinh tế phát triển tương đồng và các quốc gia phát triển như Trung Quốc, Singapore, Thái Lan để hoàn thiện pháp luật về quản lý QCTM Sau quá trình nghiên cứu, Hòa Như thấy rằng các quốc gia trên thế giới chủ

yếu sử dụng ba cơ chế quản lý: “Cơ chế kiểm soát tối đa, cơ chế tự quản và

cơ chế kiểm soát kết hợp với tự quản” [84, tr.73], từ đó, rút ra kinh nghiệm

đối với Việt Nam: (i) Xác định chính xác cơ quan nào phù hợp để chịu trách nhiệm chính trong hoạt động quảng cáo và nhanh chóng xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền quản lý quảng cáo; (ii) Nâng cao vai trò của Hiệp hội quảng cáo Việt Nam để làm tiền đề cho Chính phủ áp dụng cơ chế tự quản lý đối với hoạt động quảng cáo; (iii) Hiện thực hóa vai trò của Hội đồng thẩm định quảng cáo và xây dựng cơ quan chuyên giải quyết vi phạm pháp luật, khiếu kiện trong lĩnh vực quảng cáo [84, tr.74-75]

Tiếp nối với việc nghiên cứu về thẩm quyền quản lý này, Võ Thị Thanh

Linh trong bài viết “Thẩm quyền quản lý hoạt động quảng cáo thương mại

trực tuyến tại Anh, Singapore và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quảng cáo thương mại trực tuyến Việt Nam” lại nghiên cứu hai quốc gia tiêu biểu là Anh

và Singapore để đưa ra đề xuất cho Việt Nam Về cơ bản, Võ Thị Thanh Linh

có sự đồng tình với Vũ Thị Hòa Như, ngoài việc đưa ra vấn đề “cần mở rộng

đối tượng điều chỉnh đối với phương tiện quảng cáo trực tuyến” thì cũng đề

cập lần nữa, nhưng rõ ràng hơn về kiến nghị “phân công lại cơ quan có thẩm

quyền quản lý hoạt động quảng cáo trực tuyến”, “quy định bổ sung cơ quan chuyên trách giải quyết khiếu nại về quảng cáo trực tuyến”, và “đẩy mạnh và nâng cao vai tr của Hiệp hội quảng cáo ở Việt Nam” [81, tr.62-63] Đây

cũng là những kiến nghị đề xuất mà tác giả luận án thấy rất phù hợp để phát

triển trong nghiên cứu Luận án Ngoài ra, tại bài viết “Những bất cập trong

quảng cáo thương mại trên mạng Internet và kiến nghị hoàn thiện”, Võ Thị

Thanh Linh cũng đưa ra thêm các kiến nghị như: Chế tài nghiêm khắc đối với

Trang 36

cá nhân, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ quảng cáo và doanh nghiệp quảng cáo trong việc giải quyết khiếu nại từ khách hàng mua hàng trên mạng internet; quy định các điều kiện cụ thể, rõ ràng về nội dung quảng cáo đối với các quảng cáo sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ “đặc biệt”; cần xem xét để quy định thống nhất việc có cho phép thương nhân nước ngoài hoạt động quảng cáo tại Việt Nam hay không [80, tr.73-74]

Lê Ngọc Anh trong bài viết “Thẩm quyền quản lí hoạt động quảng cáo

thương mại theo pháp luật Anh, Mỹ và kinh nghiệm cho Việt Nam” đã nghiên

cứu cơ chế quản lý đối với hoạt động QCTM tại hai quốc gia Anh và Mỹ để thấy được cơ chế quản lý tại đây có sự tham gia của nhiều cơ quan nhưng nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này được xác định rất rõ ràng; từ đó, đưa ra bài học đối với Việt Nam: (i) Cụ thể hơn so với các tác giả nghiên cứu trước đó, Lê Ngọc Anh cho rằng cơ quan chủ trì quản lý đối với hoạt động quảng cáo nên là Bộ Thông tin và Truyền thông (mà không phải là Bộ VHTTDL như hiện nay hay Bộ Công Thương); (ii) Tác giả bài viết cũng đồng tình trong việc nâng cao vai trò của Hiệp hội quảng cáo Việt Nam và (iii) Đề xuất thành lập cơ quan (độc lập với các cơ quan nhà nước) chuyên xử lý các khiếu kiện quảng cáo [58, tr.70-71]

Tiếp tục với vấn đề phân định thẩm quyền của các cơ quan nhà nước,

bài viết “Lí luận về thẩm quyền quản lí nhà nước đối với hoạt động quảng

cáo và quảng cáo thương mại” đã trình bày hai yếu tố cơ bản chi phối thẩm

quyền quản lý nhà nước đối với hoạt động QCTM: “Tiếp nhận và điều chỉnh

hoạt động quảng cáo từ góc độ văn hóa, thông tin hay thương mại” và “lịch

sử quản lý nhà nước đối với hoạt động quảng cáo ở mỗi quốc gia” [68,

tr.6-8] Do đó, tác giả Nguyễn Thị Dung gợi ý về vai trò đầu mối của Bộ VHTTDL nên giới hạn ở thẩm quyền hoạch định chính sách, ban hành pháp

luật còn “các nhóm nội dung quản lý mang tính cụ thể như tổ chức, điều khiển

Trang 37

hoạt động quảng cáo, kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm… cần phân định rõ

và cụ thể cho mỗi Bộ” [68, tr.9]

Trong bài viết “Thực trạng quản lí nhà nước đối với hoạt động quảng

cáo thương mại trên truyền hình tại Việt Nam”, Lê Hương Giang đề cập cụ

thể cơ chế phối hợp quản lý nhà nước đối với QCTM trên truyền hình giữa Bộ VHTTDL và Bộ Thông tin và Truyền thông ở hai khía cạnh cơ bản: (i) Hai

Bộ này cần phối hợp nhau ban hành thông tư nhằm hướng dẫn cụ thể về việc quảng cáo trên các phương tiện thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Thông tin

và Truyền thông; (ii) Bộ VHTTDL cần bổ sung vai trò của Bộ Thông tin và Truyền thông trong hoạt động thẩm định sản phẩm quảng cáo trên phương tiện báo chí (truyền hình) [74, tr.10-11] Tuy không trực tiếp nói về QCTMTT, song bài viết này cũng cho thấy đối với lĩnh vực QCTM trên truyền hình thì nên có cơ chế phối hợp như vậy, còn nghiên cứu trong Luận

án này có thể hướng đến cơ chế phối hợp để quản lý lĩnh vực quảng cáo nói chung và một số vấn đề cụ thể đối với QCTMTT trên mạng internet

Trong bài viết “Thực trạng quản lí nhà nước về quảng cáo thương mại

với mục tiêu hạn chế hành vi cạnh tranh không lành mạnh và bảo vệ người tiêu dùng”, Trần Quỳnh Anh cũng nêu lên một số bất cập trong thực trạng

thực thi quản lý QCTM với mục tiêu hạn chế cạnh tranh không lành mạnh và

bảo vệ người tiêu dùng như “việc quản lý nội dung hoạt động quảng cáo

thương mại trước khi phát hành chưa đạt hiệu quả dẫn đến nhiều vi phạm pháp luật cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng”, ví dụ những quảng cáo sai

sự thật ảnh hưởng đến người tiêu dùng chỉ được phát hiện và xử lí sau một thời gian được công bố… Tác giả bài viết cũng nhắc đến tình hình thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm trong hoạt động QCTM cũng còn một số vướng mắc do sự tham gia của nhiều cơ quan hay mức xử phạt vi phạm theo quy định hiện hành còn quá thấp [61, tr.9-10]

Trang 38

Trong bài “Quy định về kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong hoạt

động quảng cáo thương mại - Thực trạng và hướng hoàn thiện”, Nguyễn Như

Chính đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm tra, xử phạt trong QCTM như: (i) Quy định về hành vi vi phạm trên báo nói, báo hình, báo điện tử và trang thông tin điện tử cần rõ ràng hơn; (ii) Nâng cao hơn nữa chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong QCTM [67, tr.10-11]

Trong bài viết To Track or Do Not Track: Advancing Transparency

and Individual Control in Online Behavioral Advertising, Omer Tene & Jules

Polonetsky nhận định khung pháp lý cho cả quyền riêng tư trực tuyến và ngoại tuyến hiện đang thay đổi nhưng không ở đâu điều này rõ ràng hơn trong môi trường trực tuyến Khi khung pháp lý này được đưa ra, môi trường trực tuyến mới chỉ ở giai đoạn sơ khai; do đó, các Chính phủ, cơ quan quản lý và các nhà lãnh đạo ngành công nghiệp tại Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ đưa ra các quy định pháp luật mới và cơ chế tự điều chỉnh áp dụng cho việc theo dõi hành vi trực tuyến Các tác giả chủ yếu xem xét các quy định về quảng cáo dựa trên hành vi trực tuyến tại Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu cũng như đưa

ra cơ chế tự điều chỉnh đối với hoạt động này [111, tr.307-318]

Alexander Nill & Robert J Aalberts trong bài Legal and Ethical

Challenges of Online Behavioral Targeting in Advertising nhận định rằng

việc nhắm mục tiêu theo hành vi trực tuyến mặc dù có nhiều lợi ích cho cả những người mua hàng và nhà quảng cáo, nhưng thực tế có những khả năng

về mặt công nghệ sẽ vi phạm quyền riêng tư của người tiêu dùng ở mức độ nguy hiểm và chưa từng có Tuy nhiên, hầu hết người tiêu dùng thường không hiểu rõ về nhắm mục tiêu theo hành vi trực tuyến và nó thường cũng không minh bạch cũng như có những yếu tố có thể sử dụng để lừa đảo; trong nhiều trường hợp, thậm chí không tạo cơ hội để khách hàng từ chối Do sự mới mẻ tương đối của nhắm mục tiêu theo hành vi trực tuyến, chỉ mới có một số ít luật, quy định và chính sách, cũng như các phân tích đạo đức chuyên sâu về

Trang 39

thực tiễn này Tuy nhiên, các hành động của Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC) là một điểm đáng chú ý Trong một loạt các Báo cáo, đặc biệt từ năm

2009, cơ quan này đã tham gia vào các cuộc đối thoại với các bên liên quan khác nhau về nhắm mục tiêu theo hành vi trực tuyến và những nguy hiểm mà

nó gây ra cho người tiêu dùng Những nỗ lực của cơ quan này cũng bao gồm các hoạt động thực thi pháp luật

1.1.4 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

Nhìn chung, chưa có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về DVQCTMTT, những công trình khoa học nêu trên gần như là toàn bộ hệ thống các nghiên cứu liên quan về DVQCTMTT trong thời gian qua tại Việt Nam, nhưng những công trình này đã phản ánh được trạng thái, xu hướng cũng như cho thấy quy mô của các nghiên cứu về lĩnh vực này

1.1.4.1 Các vấn đề mà Luận án sẽ kế thừa

Một số kết luận chung đánh giá về những ưu điểm, kết quả đã được làm

rõ mà tác giả luận án sẽ tiếp tục kế thừa:

Thứ nhất, về mặt lý luận

- Các nghiên cứu đã tổng hợp được phần tri thức lý luận dồi dào về QCTM nói chung, đưa ra được một số gợi ý đối với việc nghiên cứu khái niệm về DVQCTMTT như khái niệm về quảng cáo trên mạng xã hội, dịch vụ quảng cáo trên truyền hình hay khái niệm gần sát như QCTMTT hay vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong thương mại điện tử

- Khi phân loại quảng cáo, các nghiên cứu xây dựng nhiều tiêu chí để phân loại, nhưng chủ yếu căn cứ vào: Nội dung quảng cáo, phương tiện quảng cáo, phương thức tác động đến đối tượng quảng cáo hay đối tượng tác động

- Các nghiên cứu đã tổng hợp được nguồn luật áp dụng đối với hoạt động QCTM nói chung và nội dung của pháp luật về dịch vụ QCTM được chia thành các nhóm như: Chủ thể trong hoạt động quảng cáo, đối tượng

Trang 40

quảng cáo, phương tiện quảng cáo, sản phẩm quảng cáo và trách nhiệm pháp

lý khi vi phạm trong hoạt động quảng cáo

Thứ hai, về mặt thực tiễn

- Các công trình nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ luật thực định, tức là nghiên cứu thực trạng các quy định pháp luật, thực trạng thi hành, áp dụng các quy định để từ đó đánh giá hiệu quả của các quy định pháp luật này đối với việc điều chỉnh các hoạt động QCTM Cách tiếp cận này giúp đưa ra nền tảng, cơ sở vững chắc để xây dựng nên phương hướng, giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hơn hiệu quả áp dụng pháp luật

- Ngoài các nghiên cứu luật học, có một số nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ quản lý nhà nước hay góc độ marketing cũng giúp ích trong việc hiểu

rõ hơn hoạt động QCTMTT trên mạng internet

- Về mặt phương hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật, các nghiên cứu đều chú trọng vào một số định hướng như: Bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật, phân định rõ thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước; bảo đảm quyền lợi, bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng; phù hợp với

xu thế phát triển của hoạt động quảng cáo trên thế giới Đây là những định hướng quan trọng mà nội dung Luận án có thể tiếp tục kế thừa

1.1.4.2 Những vấn đề chưa được đề cập

Như đã phân tích, các nghiên cứu nói trên chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào pháp luật về DVQCTMTT trên mạng internet nên có những vấn đề sau chưa được đề cập:

- Khái niệm, đặc điểm DVQCTMTT chưa được nhấn mạnh, làm rõ, chưa có sự tách biệt với các loại hình dịch vụ QCTM truyền thống khác

- Chưa có nghiên cứu nào làm rõ khái niệm, đặc điểm của pháp luật về DVQCTMTT trên mạng internet

Ngày đăng: 03/02/2021, 16:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.B. Văn bản pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2015
42. Hà Lan Anh (2008), Một số vấn đề pháp lý về thương mại điện tử trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề pháp lý về thương mại điện tử trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế
Tác giả: Hà Lan Anh
Năm: 2008
43. Nguyễn Phan Anh (2016), Pháp luật về hoạt động bán hàng và quảng cáo trên mạng xã hội tại Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về hoạt động bán hàng và quảng cáo trên mạng xã hội tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Phan Anh
Năm: 2016
44. Nguyễn Phương Anh (2012), Pháp luật về kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn tại Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Phương Anh
Năm: 2012
45. Nguyễn Thị Thùy Dung (2013), Pháp luật về dịch vụ quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về dịch vụ quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thùy Dung
Năm: 2013
46. Hồ Thị Duyên (2016), Pháp luật về hành vi quảng cáo nằm cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về hành vi quảng cáo nằm cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Hồ Thị Duyên
Năm: 2016
47. Nguyễn Thị Tố Lan (2008), Pháp luật về thương mại điện tử trong cung cấp dịch vụ nội dung số ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về thương mại điện tử trong cung cấp dịch vụ nội dung số ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Tố Lan
Năm: 2008
48. Nguyễn Thị Liệu (2016), Pháp luật về quảng cáo thương mại trên báo in ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về quảng cáo thương mại trên báo in ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Liệu
Năm: 2016
49. Đào Bích Hạnh (2007), Giao dịch điện tử có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao dịch điện tử có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
Tác giả: Đào Bích Hạnh
Năm: 2007
50. Bùi Thị Bạch Hải (2019), Trách nhiệm pháp lý của người phát hành quảng cáo thương mại trực tuyến theo pháp luật Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật kinh tế, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm pháp lý của người phát hành quảng cáo thương mại trực tuyến theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Tác giả: Bùi Thị Bạch Hải
Năm: 2019
51. Phạm Hồng Hoa (2013), Quy trình ứng dụng internet marketing tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh doanh và Quản lý, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình ứng dụng internet marketing tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Hồng Hoa
Năm: 2013
52. Nguyễn Thị Thu Hương (2014), Quản lý nhà nước về dịch vụ quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh tế, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về dịch vụ quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hương
Năm: 2014
53. Nguyễn Thị Oanh (2015), Chiến lược phát triển dịch vụ quảng cáo trực tuyến của Công ty Cổ phần dịch vụ trực tuyến FPT – FPT Online dến năm 2020, Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển dịch vụ quảng cáo trực tuyến của Công ty Cổ phần dịch vụ trực tuyến FPT – FPT Online dến năm 2020
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Năm: 2015
54. Đoàn Tử Tích Phước (2007), Điều chỉnh hoạt động quảng cáo trong khuôn khổ pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh hoạt động quảng cáo trong khuôn khổ pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam
Tác giả: Đoàn Tử Tích Phước
Năm: 2007
55. Nguyễn Thị Tâm (2016), Hoàn thiện pháp luật về quảng cáo thương mại, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về quảng cáo thương mại
Tác giả: Nguyễn Thị Tâm
Năm: 2016
56. Lê Hồng Thanh (2013), Pháp luật quốc tế về giao dịch điện tử, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.D. Giáo trình, Sách Kỷ yếu hội thảo, Tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật quốc tế về giao dịch điện tử
Tác giả: Lê Hồng Thanh
Năm: 2013
57. Đinh Thị Lan Anh (2015), Bảo vệ thông tin cá nhân trong thương mại điện tử theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 7/2015, tr. 29 – 33, Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ thông tin cá nhân trong thương mại điện tử theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật
Tác giả: Đinh Thị Lan Anh
Năm: 2015
58. Lê Ngọc Anh (2015), Thẩm quyền quản lí hoạt động quảng cáo thương mại theo pháp luật Anh, Mỹ và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 3/2015, tr. 65 – 72, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền quản lí hoạt động quảng cáo thương mại theo pháp luật Anh, Mỹ và kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Lê Ngọc Anh
Năm: 2015
59. Nguyễn Ngọc Anh (2015), Quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về quản lí nhà nước đối với hoạt động quảng cáo thương mại, Tạp chí Luật học, số 2/2015, tr. 3 – 10, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về quản lí nhà nước đối với hoạt động quảng cáo thương mại
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh
Năm: 2015
60. Nguyễn Phan Anh (2011), Quảng cáo trên mạng xã hội theo thời gian thực xu hướng mới trong marketing điện tử và những bài học kinh nghiệm của các doanh nghiệp Việt Nam, Tạp chí Khoa học Thương mại, tr.65 – 72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng cáo trên mạng xã hội theo thời gian thực xu hướng mới trong marketing điện tử và những bài học kinh nghiệm của các doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Phan Anh
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w