Mô hình kinh tế trang trại thực sự đã trở thành một mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp với các điều kiện và yêu cầu cuả sự nghiệp công nghiệp hoá ở các nước trên [r]
Trang 1ĐẠ I H Ọ C Q U Ố C G IA H À NỘI TRƯỜNG ĐẠI H Ọ C K H O A H Ọ C T ự N H IÊ N
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN MỘT SỐ MÔ HÌNH KINH TẾ TRANG TRẠI GÓP PHẦN XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ NÔNG THÔN
' (LẤV VÍ DỤ HUYỆN CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG)
Trang 2DÈ TẢI NGHIÊN c ú u KHOA HOC
BÁO CÁO TÓM TẮT NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN MỘT s ố MÔ
HÌNH KINH TẾ TRANG TRẠI GÓP PHẦN XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ NÔNG THÔN
(VÍ DỤ HUYỆN CHÍ LINH TỈNH HẢI DUƠNG)
Mã số QT - 01 - 49 Chủ trì đề tài: PGS.TS Đinh Văn Thanh Các cán bộ phối hợp:
TS Phạm Quang Anh GVC Nguyễn Xuân Trường ThS Vũ Thị Hoa
CN Đinh Xuân Thành
CN Nguyển Thị Liên
CN Hoàng Thị Thu Hương
Mục tiẻu và nội dung nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài QT - 01 - 49 là làm sáng tỏ về mặt lý luận, đế nhận thức đúng đắn về bản chất, tính chất các kiểu, loại hình tổ chức các mô hình kinh tế trang trại (KTTT) ngày nay ở nước ta Nghiên cứu đánh giá các điều kiện tự nhiên, cũng như kinh tế - xã hội nhàn vân ờ huvên Chí Linh, tinh Hải Duơng nhầm mục đích cho phát triển các mô hình kinh tế trang trại Muc tiêu nghiên cứu cúa đề tài còn nhằm xác lập các mố hình kinh tế trang trại phù hợp và hiệu qua cho từng vùng lãnh thổ cụ thể trên địa bàn huyện Chí Linh
Nói dung nghiên cứu của đề tài:
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm xác lập và tổ chức lãnh thổ sản xuất hợp lý các mỏ hình kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Chí Linh tính Hải Dương
Để tài được thực hiện với nội dung gồm 5 chương với các nội dung chính sau đây: Chương 1 và 2 : Trình bày những vấn để lý luận cơ bản về kinh tê trang trại và những kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở một sô nước châu Á Nhận thức đúng đán về kinh tế trang trại hiện nay trong quá trình công nghiệp hoá nông thôn phải như một mô hình tổ chức lãnh thổ sản xuất trong đó thể hiện các mối quan hệ, tác động qua lại giữa các hoạt động kinh tế của con người với điều kiện tự nhièn, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội, chính sách, nhu cầu thị trường nhầm sản xuất
ra vài loại sản phẩm hàng hoá có hiệu quả kinh tế cao đáp ứng cho nhu cầu thị trường
Trang 3ĐẾ TẢI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
với các sản phẩm là gỗ, lâm sản và cây ăn quả; cây ãn quả và thịt gia súc; các mỏ hình với sản phẩm là gia súc, gia cầm và thuỷ sản và các mỏ hình kinh tế trang trại nông - công nghiệp chế biến liên doanh
Chương 5: Đề tài giải quyết vấn để phát triển các vùng chuyên canh nông - lâm - ngư nghiệp hàng hoá cùng với các mô hình kinh tế trang trại điển hình gắn với từng vùng
Kết quả nghiên cứu đã xác định trên địa bàn huyện đang hlnh thành và phát triển ba vùng chuyên canh với những hướng sản xuất chuyên môn hoá khác nhau cùng với các mô hình kinh tế trang trại điển hình phù hợp là:
Vùng chuyên canh phía Bắc của huyện gồm địa bàn các xã; Hoàng Hoa Thám, phía Bắc xã Bắc An, xã Hàng Tiến, thị trấn Nông trường với các mô hình kinh tế nõng - lâm kết hợp với sản phẩm hàng hoá là gỗ, lâm sản, cây ãn quả, thịt gia súc,
Vùng chuyên canh khu vực trung tâm huyện gồm địa bàn các xã Cộng Hoà,
Lê Lợi Hưng Đạo, Bắc An Vãn An với các mô hình kinh tế trang trại cho sản phám hàng hoá là cây ăn quả đặc sản thịt, sữa gia súc
Vùng chuyên canh nông nghiệp phía Nam của huyện gồm các xã còn lại với
công nghiệp ngấn ngày, gia súc, gia cầm, thuỷ sản
Sự phát triển kinh tế trang trại ớ Chí Linh Hải Dương là tất yếu với xu thế ngàv càng mạnh cùng với sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá của cả nước Nhưng kinh tê' trang trại muốn đạt hiệu quả cao, muốn được nhân lên cùng với nhịp điệu tăna trường kinh tế thì còn phải quan tâm giải quyết nhiểu vấn đề khó khăn và thử thách Một trong những khó khăn thách thức là sự bấp bênh và bế tắc của khâu đầu ra của các sản phẩm hàng hoá, thiếu vốn đầu tư, thiếu đất canh tác và sự suy thoái tài nguvèn môi trường
Các kết quả đạt được
Để tài QT - 01 - 49 đươc triển khai từ tháng 1/2002 kết thúc vào tháng 12/2003
Để tài đã hoàn thành 01 báo cáo lớn gồm 75 trang, 04 bản đổ, 25 biểu bảng
Trang 4DÊ TẢI NGHIÊN cứu KHOA HỌC
Hướng dẫn 02 sinh viẻn K43 và 01 sinh viên K44 báo cáo khoa học sinh viên
2002 - 2003 dựa trên nguồn tài liệu và kết quả nghiên cứu của đề tài
Tinh hình kinh phí thực hiện đề tài.
Tổng kinh phí: 14.600.000 đồng
Đã hoàn toàn quyết toán
Trang 5DC TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC
ABSTRACT
a) The name o f project
RESEARCH, ASSESMENT AND ORIENTATION OF DEVELOPMENT OF SOME FARM ECONOMIC MODELS TO CONTRIBUTE DECREASING OF POOR
DURING RURAL INDUSTRIALIZATION PROCEES (EXAMPLE IN CHI LINH DISTRICT, HAI DUONG PROVINCE)
Code QT- 01- 49
b) Presider: Assistant Professer D octer Dinh Van Thanh
Phạm Quang Anh
Vu Thi Hoa Dinh Xuan Thanh Nguyen Thi Lien Hoang Thi Thu Huong
d) The aim and content o f studying
• The studying aim of QT-01-49 project is clearing the theory,
understanding clearly about essence, property and types of farm economic models in Vietnam now It is necessary to study and asses the nature and economic-social conditions in ChiLinh distric, Hai Duong province to develope the farm economic models stably In addition, studying this project in order to establish the suitable and effective farm economic models in indivisual areas of Chi Linh province
• The content o f the project
This project consits of 5 chapters
Chapter 1 and 2 mention to basic theory of farm economy and developmental experiences about farm economy of some countries in Asia
Now, in the rural industrializative process, farm economy plays as territorial- productive organized model It consits of relation, reaction between economic actions
of human with nature condition, nature resources,
Trang 6economy-DÈ TẢI NGHIÊN c ứ u KHOA HỌC
society, polictics, market, All this in order to produce which has high economic result and meet m arket’s needs
Today, farm economy differents from that in the past because, now it is family economic model Farmers always play a determined role in the success or failing of farm He is not only versatile director but also a finacer, worker, to manage farm actively and competitively in the market
To construct the farm, the first, the labors must have thirst for richness, knowledge, experience on business and production The second, the policies and lines
of goverment are important to speed up the development of farm Finanly, the development of farm depends on size, property and valuable of nature condition as soil, climate, water
Farm economic is agricultural productive model which has high result and devoloped for many decades in Asia The development of farm economic is indispensable in rural industrialization procees The higher industrialization is, the more developmental farm economics are
Farms have variety size from lower lha to higher lOha Farms can be developed successfully in any area depending on the knowleged of farmers
Chapter 3 and 4 analyse, assese nature and economic- social conditions and real situation of farm economy in ChiLinh district In addition, theme orient the development of farm economy in this area
The analysis and assesment show that not only nature condition (land,
clamate, water, ) but also economical- social conditions (population, labor, policy, ) are good for development of farm econom y The north villages as Hoang Hoa Tham, Bac An, Le Loi, Cong Hoa, have many good conditions for development of middle and large farms because this villages have large soil fund which suit fruit-tree The south villages suit small farm because of small capital and soil fund
The analysis and assesment show that the best farm models are:
+ wood-forest products- fruit-tree
+ Fruit tree- cattle meat
+ Cattle- poultry- aquatic product
Trang 7DẾ TẢI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
The chapter 5 solves the development of area specializing in agriculture- forestry-pisciculture cultivation with symbolic farm models in indivisual area
In ChiLinh province, there are 3 area specializing cultivations with specialized production and symbolic farm models
The north area specializing cultivations consits of Hoang Hoa Tham, north Bac
An Hoang Tien, Nong Truong town, The symbolic farm models of this area is agriculture- forestry models with wood, forest, fruit-tree, callte meat products
The south area specializing cultivations in agriculture consits of the rest villages The farms in this area produce foods, short-time industrial trees, cattles, poultry, aquatic products,
The development of farm economy in Chi Linh district, Hai Duong province is indispensable in the industrializative process of our country But to achieve high results, it is necessary to solve the difficult problems The difficult problems are selling
resources and environment
e The results
The project QT-01-49 started at 01/2002 and will finish at 12/2003
This project has completed one report consiting of 75 pages 4 maps, 25 tables and 17 diagram
There are 2 scientific reports at conference of Hanoi University of Sciences in
Trang 8MỤC LỤC Báo cáo tóm ỉắt
Abstract
Mục lục
Lời mở đầu
Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về kinh tế trang tr ạ i 1
1.1 Bản chất của kinh tế trang trại 1
1.2 Những đặc trưng của kinh tế trang trại 2
1.3 Những nhân tố hình thành các mô hình kinh tế trang trại 4
1.4 Hai tiêu chuẩn để khẳng định thế nào là một trang trại 7
1.5 Sự phát triển tất yếu của kinh tế trang trại trong thời kỳ công nghiệp hoá 8
1.6 Hiệu quả của kinh tế trang trạ i 11
Chương 2 Kinh tế trang trại một số nước châu á và những kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở Việt N am 15
2.1 Khái quát về kinh tế trang trại ở một số nước châu Á 15
2.2 Một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam về phát triển kinh tế trang trại 19
2.3 Dự báo xu hướng phát triển của kinh tế trang trạ i 22
Chương 3 Phản tích các nguồn lực tự nhiên, kinh tế, nhân văn với vấn đề phát triển kinh tế trang trại ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương 24
3.1 Các nguồn lực tự nhiên tác động đến hình thành kinh tế trang trại ở Chí Linh 24
3.2 Các nguồn lực kinh tế, nhân văn tác động đến hình thành các mò hình kinh tế trang trại của huyện Chí Linh 30
3.3 Đánh giá chung về các nguồn lực vói vấn đề phát triển kinh tế trang trại ở Chí Linh 36
Chương 4 Thực trạng và định hướng phát triển các mô hình kinh tế trang trại ở huyện Chí L inh 38
4.1 Thực trạng và xu hướng phát triển cùa ngành trồng trọ t 38
4.2 Thực trạng và xu hướng phát triển của ngành chăn nuôi 42
4.3 Thực trạng và xu hướng phát triển của ngành lâm nghiệp 44
4.4 Thực trạng và hiệu quả phát triển các mô hình kinh tế trang t r ạ i 46
Chương 5 Tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp Các mô hình kinh tế trang trại 58
5.1 Các cơ sở để xác lập mổ hình ; 58
5.2 Xác lập các vùng chuyên canh nông - lâm - ngư nghiệp hàng h o á 58
5.3 Tổ chức lãnh thổ sản xuất các mô hình kinh tế trang trại điển hình 61
5.4 Những đóng góp lớn và các khó khăn thách thức cùng với các gii pháp tiếp tục phát triển kinh tế trang trạ i 67
Trang 95.5 Định hướng hoàn thiện và phát triển các mô hình kinh tế trang trại ở huyện ChíLinh , tỉnh Hải Dương 68
Kết lu ậ n 71 Tài liệu tham k h ả o 73 Phụ lục
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
Nhiều thế kỷ qua, trang trại là mô hình sản xuất phổ biến trong nền nông nghiệp thế giới Đến nay ở các nước công nghiệp cũng như các nước đang phát triển vị trí của trang trại đã được khẳng định
ở nước ta trang trại đã được hình thành từ 600 năm trước đây đó là những trang trại nông nghiệp được phát triển từ thời Lý Trần, nhằm giải quyết vấn đề sinh tổn và quốc phòng ở các vùng biên giới, tiếp đến íà các đồn điền trồng cây công nghiệp dưới thời Pháp và Mỹ- Nguỵ đểu sản xuất
và kinh doanh có hiệu quả
Từ đầu thập kỷ 90 đến nay, nhất là sau khi có nghị quyết 10 (1988) giao quyển tự chủ trong sản xuất và phân phối cho các hộ nông dân, bằng những thể chế về sử dụng đất đai 1993, về hợp tác xã nông nghiệp 1996 v.v Các trang trại ở nước ta đã phát triển mạnh
Kinh tế trang trại ở nước ta trong những năm gần đây đã có những bước phát triển đáng khích lệ, đã khẳng định được chỗ đứng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta Tuy nhiên kinh tế trang trại ở nước
ta hiện còn phải đối mặt với nhiều thử thách, vấn đề đặt ra cần phải nghiên cứu xác lập một mô hình kinh tế trang trại với quy mô hợp lý cho từng vùng lãnh thổ, các điều kiện hình thành và phát triển bền vững cho các trang trại trong nền kinh tế hàng hoá và thị trường
Trang 11DC TÀI NGHẼN CỨU KHOA HỌC
CHƯƠNG 1 NHŨNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN c ơ BẢN VỀ KINH TÊ TRANG TRẠI
1.1 Bản chất của kinh tế trang trại
Trước hết cẩn phân biột hai khái niệm “trang trại” và “kinh tế trang trại” Trang trại là những cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp trong một loại hình tổ chức sản xuất nhất định, đó là các hoạt động sản xuất kinh doanh trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp v.v Nhưng nếu chỉ là trang trại thì chưa thể hiện được vai trò kinh tế - xã hội của nó trong các mối quan hệ kinh tế - xã hội giữa các trang trại với nhau trong hệ thống kinh tế của cả nước
Kinh tế trang trại là biểu hiện tổng hợp của các mối quan hệ giữa các trang trại với nhau, giữa các trang trại với các tổ chức kinh tế, với Nhà nước, với thị trường, với môi trường, với khoa học - kỹ thuật, với tâm lý nhân văn, tất cả được quvện vào nhau trong quá trình sản xuất nhằm tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá hiệu quả kinh tế cao về kinh tế, về mồi trường
Kinh tế trang trại là mô hình tổ chức ỉãnh thổ sản xuất, trong đó thể hiện các mối quan hệ tác động qua lại giữa các hoạt động kinh tê của con người trẻn phạm vi không gian nhất định với các nguồn tài nguyên tự nhiên sẩn có như đất đai, khí hậu nguổn nước, đồng thời chịu tác động mạnh mẽ của các điều kiện kinh tế - xã hội như cơ chế, chính sách, nhu cầu thị trường nhằm sản xuất ra một hoác vài loại sản phẩm hàng hoá có hiệu quả kinh tế cao nhất đáp ứng nhu cầu của thị trường nhiều nhát
Trang 12ĐÈ TÀI NGHIÊN c ứ u KHOA HỌC
Trang trại là một mô hình tổ chức sản xuất tiến bộ được hình thành trên cơ sờ tác động của các điểu kiện cần và đủ đó chính là các điểu kiện tự nhiên và kinh tế xã hội Một mô hình trang trại điển hình nhất là trang trại nông nghiệp với cấu trúc lãnh thổ gồm 3 phân hệ chính:
Phàn hệ chủ đạo gồm:
+ Hệ thống cơ sở hạ tầng: Hệ thống nhà ở của chủ trang trại, người làm thuê
và lao động, hộ thống các phương tiện thiết bị máy móc Hệ thống thuỷ lợi
Phàn hệ sản xuất nông nghiệp gồm:
+ Các địa khu chuyên môn hoá sản xuất sản phẩm nông nghiệp hàng hoá (Vườn, rừng, ruộng, ao hồ, trại chăn nuôi)
+ Địa khu chân nuôi gia súc, gia cầm
+ Diện tích mặt nước nuôi trồng
+ Diện tích sản xuất cùng thức ăn gia súc
+ Cơ sở thu gom sản phẩm hàng hoá
+ Các điều kiện sinh thái: Khí hậu, nguồn nước
Phân hệ ngoài hệ thống nông nghiệp là những cơ sở sản xuất bổ trợ, phụ, phục vụ dịch vụ như cung cấp điện, phân bón, giông, phục vụ tièu thụ sán phẩm hàng hoá
Như vậy trang trại là một loại hình tổ chức lãnh thổ sản xuất chủ yếu trong nông - lâm ngư trong đó thể hiện các mối quan hệ khăng khít giữa nguồn sản xuất và các điều kiện sán xuất như: đất, nước, khí hậu, các nguồn vốn cơ chế chính sách của Nhà nước và thị trường tiêu thụ đế sản xuất ra một vài loại sản phấm hàng hoá có chất lượng cao, hiệu quả kinh tế cao đáp ứng nhu cầu của thị trường
1.2 Những đặc trưng của kinh tê trang trại
1.2.1 Kinh tế trang trại là loại hình sản xuất kinh doanh gia đình nhằm tạo ra ngày càng nhiều nòng sản hàng hoá đáp ứng cho nhu cầu thị trường.
Trước khi hình thành kinh tế trang trại đã tồn tại và phát triển lâu đời nền kinh tế tiểu nông với tính chất tự cung tự cấp, không có nhu cầu kinh doanh, không sản xuất ra những nông sản hàng hoá, mà chỉ nhầm mục đích chính làm thoả mãn nhu cầu cùa gia đình Khác vói hộ tiểu nông, trang trại gia đình đã phát triển ở nước
ta cao hơn với bản chất vừa sản xuất vừa kinh doanh, tạo ra sản phẩm hàng hoá cao, nhằm đáp ứng cho nhu cầu của thị trường là chính
Quan hệ thị trường trong trang trại luôn luôn phải được xem xét từ khi sản xuất đến khi thu hoạch những sản phẩm cuối cùng, đồng thời các mối quan hệ các mối quan hệ thị trường không chí bó hẹp trong phạm vi địa phương mà có thể vươn rộng ra các thành phố các thị xã ở cả nước, thậm chí ở các nước trong khu vực và thế giới
Trang 13DC TẢI NGHIÊN c ứ u KHOA HỌC
1.2.2 Chủ trang trại giữ vai trò quyết định của sự thành, bại trong trang trại.
Trong sản xuất kinh doanh chủ trang trại luôn phải quan tâm, nghiên cứu, dự báo sự diễn biến của khí hậu thời tiết để xác định phương hướng sản xuất của mình phù hợp nhất Chủ trang trại còn phải quan tâm đến sự biến động của giá cả thị trường , nhu cầu của thị trường để điều tiết sản xuất sao cho đạt lợi nhuận cao nhất
Chủ trang trại cần phải nhìn xa, thấy rộng, sẩn sàng đầu tư để thu hoạch lớn, đạt lợi nhuận cao Tổ chức điều hành sản xuất một cách khoa học đó là sự khác nhau
cơ bản giữa kinh tế trang trại và hộ tiểu nông Ngoài ra, chủ trang trại trong mọi hoạt động phải hạch toán dưới mọi hình thức giá trị là tối cần thiết Nghĩa là ngoài các phần công lao động trong gia đình được tính bằng hiện vật, còn lại mọi chi phí
và thu nhập khác trong trang trại đều phải được hạch toán dưới hình thức giá trị để tính lổ, lãi lợi nhuận thu được của trang trại là cơ sò để đầu tư tái sản xuất mở rộng
1.2.3 Việc quản lý giá tiêu thụ sản phẩm của trang trại rất cơ động.
Các đơn vị kinh doanh như nông trường, lâm trường là bộ máy quản lý phức tạp từ giám đốc đến công nhân Còn trong trang trại chủ trang trại là: “Giám đốc đa nâng, kiẻm tài vụ, công nhản ” , còn lao động chủ yếu là lao động gia đình và thuê mướn còng nhân (nếu cần) Chi phí của chủ trang trại và lao động trong gia đình không được xem xét là hàng hoá sức lao động cho nèn họ có thể bán sản phẩm với giá rát cơ động, thậm chí có thê bán thấp hơn so với sản phẩm cùng loại của doanh nghiệp khác (cốt là có lãi)
1.2.4 Kinh tẻ trang trại phát triển theo hướng chuyên môn hoá cao và sản xuất
ra nhiểu sản phẩm hàng hoá.
Kinh tế tiêu nông phát triển với quy mô nhỏ phù hợp với nhu cầu của mỗi gia đình, phát triển không theo hướng chuyên môn hoá mà là đa canh (để tránh có thể gặp rủi ro) Kinh tế trang trại phát triển mục tiêu theo hướng chuyên môn hoá cao, tập trung hoá cao để tạo ra một khối lượng nồng sản tiêu dùng dư thừa và trở thành sản phẩm hàng hoá Ngành sản xuất được chọn làm hướng chuyên môn hoá chính phải ỉà ngành có thị trường tiêu thụ lớn, ổn định và có nhiều triển vọng mở rộng Mậc dù vậy quy mô chuyên môn hoá của trang trại không lớn so với quy mò các công ty, lâm trường, nòng trường
y < a < (3a: là quy mô trang trại
y: là quy mỏ hộ tiểu nông [3: là quy mô nông trường
1.2.5 Kỷ thuật sản xuất
Kỹ thuật sản xuất của kinh tế tiểu nông dựa trên kmh nghiệm truyền thống là chính ít thay đối nèn kém năng động, biểu hiện tính trì trệ cao Kinh tế trang trại là
Trang 14DÈ TẢI NGHIÊN c ử u KHOA HỌC
kinh tế hàng hoá, luôn phải cạnh tranh trên thị trường nẻn phải năng động và linh hoạt và luôn đổi mới Với mục tiêu đạt được năng suất hiệu quả sản xuất cao nên việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mơí, công nghệ mới là những đòi hòi cấp thiết
Muốn đạt được kết quả đó, chủ trang trại phải không ngừng học hỏi để nàng cao trình độ quản lý, năng lực hạch toán kinh doanh, tìm hiểu phân tích thông tin dự báo biến động thị trường và nâng cao chữ tín trong sản xuất kinh doanh
1.3 Những nhân tố hình thành các mô hình kinh tế trang trại
1.3.1 Nguồn lao động và khát vọng làm giầu.
Người tổ chức trang trại (chù trang trại) phải có khát vọng làm kinh tế (ỉàm giầu) và phải có kiến thức sản xuất kinh doanh được coi là nhân tố động lực cần thiết ban đầu cho hình thành và phát triển kinh tế trang trại Khát vong làm giầu sẽ tìm ra cách làm có hiệu quả và khi đã bắt tay vào làm làm kinh tế thì cần có kiến thức khoa học, kiến thức khoa học sẽ kích thích khát vọng làm giầu tăng lên
Hiện nay ở nông thôn nước ta tuy đều là các hộ nông dân nhưng có nhu cầu, trình độ khác nhau và cách làm cũng khác nhau Vì vậy nhìn tổng thể trong nông thôn nước ta ngày nay có thể gổm những nhóm nông hộ như sau:
- Các chủ nông hộ, vốn lâu đời là xã viên hợp tác xã nông nghiệp, hiện nay muốn vươn lèn làm kinh tế nhằm thoát cảnh đói nghèo bằng một ít vốn tự có hoặc vay tín dụng và có một ít kiến thức sản xuất do tích luỹ nhiều năm
- Các chủ nông hộ đã có mức sống tương đối khá nhưng có khát vọng làm giầu hơn để đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng và xây dựng, nuôi con học hành
- Những chủ nông hộ là những cán bộ, bộ đội về hưu vốn có nhiều kinh nghiệm sản xuất đã tích luỹ đuợc trong công tác, đã có trình độ kiến thức khoa học nhất định muốn vươn lèn làm giầu bằng chính sức lao động và khả năng của mình
Như vậy cả ba nhóm nông hộ nêu trên đang tồn tại ở nông thôn nước ta đều
có khát vọng lớn lao là thoát khỏi cảnh đói nghèo, nàng cao mức sống cho gia đình
và tìm mọi cách làm kinh tế Sự khát vọng của các nông hộ muốn trở thành hiện thực chân chính thì các chủ nông hộ cần phải có trình độ hiểu biết nhất định về kỷ thuật sản xuất nông nghiệp, có năng lực quản lý, kinh doanh, có hiểu biết về hàng hoá thị trường Bầng kiến thức và khả năng của chính mình để vươn lên làm giầu đó mới là sự làm giầu chân chính nhất của nông dân Việt Nam hiện nay
1.3.2 Đất đai.
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì có thể thay thế trong nông nghiệp VI vậy sản xuất nông nghiệp nếu không có đất thì không thể trở thành hiện thực Vì thế muốn có trang trại thì điều kiện cần thiết phải có đất đai
Quv mô diện tích đất bao nhiêu thì đủ khả nâng để sản xuất kinh doanh? Quy
m ô rliẻn tích đất dai trong kinh tê' trang trai là oham trù lich sử nghĩa là QUV mờ
Trang 15DẾ TÀI NGHIÊN CỨU KíiOA HỌC
diện tích đất đai để sản xuất kinh doanh phụ thuộc vào trình độ sản xuất và đặc thù
mồ hình sản xuất kinh doanh của từng trang trại Đặc điểm, tính chất của đất đai là yếu tố cơ bản để xác lập phương hướng sản xuất và cơ cấu cảy trồng vật nuôi của trang trại
+ Thực tế cho thấy đất phù sa ở đổng bằng chỉ phù hợp với trang trại cày lương thực, thực phẩm, nuôi gia cầm, thuỷ sản cần phải có đầu tư lớn về vốn, về
kỹ thuật
+ Đất Feralit ở miền núi trung du phù hợp với các mô hình trang trại với cơ cấu cây trổng, vật nuôi là rừng, cây ãn quả, cày công nghiệp và chăn nuôi gia súc Lớn cần ít vốn đầu tư và kỹ thuật
+ Giữa đất đổng bằng và đất trung du gò đồi thì đất trung du gò đồi nhiều thuận lợi cho hình thành trang trại hơn vì diện tích đất lớn hơn, cơ cấu cây trồng chủ yếu là cây công nghiệp, cây ăn quả, cần ít lao động hơn Vì thế các mỏ hình kinh tế trang trại hiện nay ở miền núi trung du nước ta đã và đang phát triển mạnh hơn các khu vực đồng bằng
1.3.4 Vòn
Nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế trang trại chủ yếu là vốn tự có, vốn hỗ trợ từ bèn ngoài, vốn vay cùa tư nhân hoặc của các tổ chức ngân hàng, tín đụng Thiếu vốn chắc chắn không có kinh tế trang trại Khả năng huy động vốn là yếu tố quyết định quy mô phát triển sản xuất kinh doanh trong trang trại, đó là quy luật sản xuất theo công thức T - H - T (Tiền - Hàng - Tiền)
Nếu chỉ có nguồn vốn tự có ít ỏi (thậm chí không đủ đầu tu thâm canh sản xuất) thì thời gian xây dựng cơ bản kéo dài, hoạt động sản xuất của trang trại chỉ bó hep vừa đủ án, tiêu dùng, sản phẩm hàng hoá chưa phong phú Nếu vừa có vốn tự
có vốn vav tín dung theo tv lê 3:1 thì thời gian xâv dưng cơ bán sẽ rứt ngắn, nhanh
Trang 16DÈ TÀI NGHIÊN c ứ u KHOA HỌC
có lãi Nếu trang trại vừa có vốn tự có lớn, vốn vay từ bên ngoài cũng lớn thì không những thời gian xây dựng cơ bản nhanh, quy mô sản xuất hàng hoá lớn và thời gian thu hổi vốn nhanh trang trại chỉ trong vòng 2 - 3 năm có thể cho mở rộng sản xuất Vấn đề cần quan tâm đối với các chủ trang trại là sử dụng vốn thế nào cho hiệu quà nhất để đảm bảo được nguyên tắc T lớn hơn T và thời gian thu hổi vốn sao cho đạt ở mức nhỏ hơn 3 nãm
1.3.5 Đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước.
Đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước phải đưa nển kinh tế của cả nước phát triển theo hướng công nghiệp hoá và phải thực hiện những chính sách khuyến nông Thực hiện công nghiệp hoá, tức là đã đặt hàng cho sản xuất nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Cổng nghiệp chế biến có nhu cầu vể nguyên liệu nòng sản ngày càng nhiều sẽ thúc đẩy nông nghiệp phát triển Vì vậy công nghiệp hoá (phát triển công nghiệp chế biến) được coi như ỉà thị trường tiêu thụ ổn định của nông nghiộp sẽ kích thích nông nghiệp cần phát triển mạnh mà ngày nay các trang trại gia đình chính là lực lượng chù yếu để đáp ứng cho nhu cầu này
Hoàn thiện các chính sách khuyến nông của Nhà nước là rất quan trọng để nâng cao nảng suất và sản lượng nông sản hàng hoá điến hình như những chính sách
mà Nhà nước đã vạch ra trong những năm gần đây: Chính sách giao quyển sử dụng đất cho hộ nòng dân, thu mua nông sản vói giá khuyến nòng, đôi lưu nông sản giữa miền núi và đổng bằng các chính sách phát triển nòng nghiệp của Nhà nước sẽ tạo
ra mỏi trường thuận lợi kích thích sản xuất nông sản hàng hoá phát triển Nội dung của đường lối và các chính sách phát triển kinh tế - xả hội của Đảng và Nhà nước đặc biệt trong nông nghiệp được coi ỉà nguồn lực trí tuệ tạo ra bước ngoặt lớn trong phát triển nòng nghiệp từ nền nòng nghiệp tự cấp, tự túc tiểu nông sang nền kinh tế nông nghiệp hàng hoá với các mô hình kinh tê trang trại hiệu quả cao
Thực hiện cơ chế thị trường là kích thích sản xuất kinh doanh hàng hoá phát triển Thiếu thị trường tự do thì kinh tế hàng hoá phát triển trì trệ và kinh tế trang trại cũng sẽ không tồn tại và phát triển theo đúng ý nghĩa của nó Như vậy bên cạnh quá trình tự vận động phát triển các hộ nông dân cần phải có thêm những điều kiện thuận lợi về kinh tế - xã hội để tãng tốc, rút ngắn quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang t r ạ i
1.3.6 Phát triển cơ sờ hạ tầng, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật
Phát triển cơ sở hạ tầng, úng dụng các tiến bộ kỷ thuật cũng là một trong những nhàn tố thiết yếu với sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại
Hệ thống cơ sờ hạ tầng để phát triển kinh tế trang trai thiết yếu nhất là: giao thòng, thông tin liên lạc, thuỷ lợi, dịch vụ thương mại Giao thõng vặn tải đươc coi như điểu kièn có tính tiên quvết của nén nông nghiêp hàng hoá trong kinh tế ĩrang
Trang 17DÈ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC
trại cho phép thúc đẩy các mối giao lưu kinh tế - xã hội phát triển giữa các trang trại, giữa các vùng và làm giảm chi phí vận chuyển từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng
Cung cấp đầy đủ nguốn năng lượng điện có ý nghĩa quan trọng hàng đầu cho
sự hình thành các xí nghiệp công nghiệp chế biến nông sản ở nông thôn sẽ tạo ra thị trường tiêu thụ ổn định tại chỗ kích thích kinh tế trang trại phát triển
Phát triển thuỷ lợi là biện pháp kỹ thuật quan trọng hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp Thuỷ lợi sẽ góp phần chủ động nước tưới, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn mặt nước, phòng chống thiên tai hạn hán, lũ lụt, ngập úng Tạo điều kiện cho kinh tế trang trại đạt năng suất cao, hạn chế rủi ro và dễ đàng chuyển đổi cơ cấu cây trổng khi thị trường thay đổi
Hệ thống dịch vụ thương mại: Chợ, trung tâm buồn bán, cửa hàng, siêu thị có vai trò to lớn với phát triển kinh tế trang trại Những biến động về giá cả, về nhu cầu của thị trường, sự xuất hiện thêm những hàng hoá mới, đối thủ cạnh tranh mới, thị trường mới, tất cả là cơ sở để chủ trang trại nghiên cứu, dự báo, điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh doanh nhàm nâng cao hiệu quả sản xuất và hạn chế thiệt hại rủi ro
Như vảy ta khảng định ràng:
Kinh tế trang trại là mô hình thổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp có hiệu quả cao Sự hình thành và phát triển các mô hình sản xuất này là tất yếu với nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá Kinh tế trang trại ở nước ta trong những nãm gần đây có những bước phát triển đáng khích lệ, khẳng định được chỗ đứng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta Tuy nhiẻn kinh tế trang trại ỡ nước ta đang phải đối mật với nhiều thử thách lớn, đòi hỏi cần được đầu tư nghiẻn cứu sâu sắc hơn bời các nhà khoa học và hỗ trợ, đầu tư nhiều hơn từ phía Nhà nước
1.4 Hai tiêu chuẩn để khẳng định thế nào là một trang trại.
Đặc trưng của kinh tế trang trại là kinh tế hàng hoá của kinh tế hộ gia đình
Đó cũng là một tiêu chuẩn định tính của một trang trại Nhưng phải lượng hoá thế nào là một trang trại hàng hoá trong kinh tế hộ gia đình Mặc dù hiện nay vẫn chưa được quy định thống nhất tiêu chuẩn định lượng của trang trại, nhưng những tiêu chuẩn sau đây đã bước đầu cho biết thế nào là một trang trại trong thời kỳ đầu của
sự nghiệp còng nghiệp hoá ở nước ta:
1.4.2 Quy mỏ diện tích
a Trang trại với hướng chuyên môn hoá là cảy hàng năm
- Trên lha ( ở miền Bắc , miền Trung )
- Trẻn 3ha (ở Nam Bộ )
b Trang trại với hướng chuyên môn hoá cây công nghiệp lâu năm, cây ãn quả
Trang 18DÈ TÀI NGHIÊN c ứ u ỈOỈOA HỌC
- Trên 5 ha ( ở Nam Bộ)
c Trang trại chăn nuòi
- Trâu bò trẽn 50 con/1 trang trại
- Lợn trên 100 con ( không tính lợn sữa 2 tháng)
- Gia cầm trên 2000 con (không tính số con dưới 7 ngày tuổi)
d Trang trại lâm nghiệp có diện tích trên 10 ha rừng
e Trang trại nuôi thuỷ sản có diện tích trên 2ha mật nước
f Trang trại ở các vùng đồng bằng đông dân, ven đô chuyên sản xuất đặc sản năng suất cao quy mô diện tích có thể nhỏ từ 0,5ha-l ha
1.4.2 Giá trị sản phẩm hàng hoá trên 20 triệu đồng/ nãm
Trang trại là một hộ nông dân chuyên sản xuất kinh doanh nông nghiệp có quy mô vôn đất sử dụng từ 0,5 ha đến 1 h trở lên và đạt giá trị sản phẩm hàng hoá hàng năm từ 20 triệu đồng trở lên Đạt tiêu chuẩn giá trị hàng hoá của một trang trại phải đạt tối thiểu 20 triệu đồng và quy mô vốn đất sử dụng 0,5 ha là dựa trên cơ sở:
- Nếu vốn đất sử dụng kinh doanh 1 ha mà thu nhập hàng hoá dưới 20 triệu đồng thì mới đáp ứng nhu cầu tiêu dùng sinh hoạt cho trang trại phục vụ trao đổi hàng hoá giản đơn, chưa có tích luỹ và tái sản xuất mở rộng
- Những nông hộ có quy mô đất kinh doanh nòng nghiệp dưới 1 ha nhưng vẫn đạt 2Ĩá trị sản phẩm hàng hoá trên 20 triệu đồng vẫn được coi là trang trại VI đó
là những trang trại chuyên kinh doanh cây trồng, gia súc có giá trị hàng hoá cao như: cày cảnh, trồng hoa, nuôi gia súc, gia cầm công nghiệp, nuôi đặc sản
- Những nông hộ có quy mô diện tích trên 1 ha nhưng chưa đạt sản phẩm hàng hoá từ 20 triệu đồng trở lên cũng có thể coi là trang trại nếu như hướng chuyên môn hoá của trang trại là các cây lâu năm, cây lâm nghiệp nếu như đang trong thời
kỳ kiến thiết cơ bản (tuy 2 tiêu chuẩn này chí có ý nghĩa lịch sử phù hợp với trình độ sản xuất ờ nước ta hiện nay các tiêu chuẩn này sẽ còn được nghiên cứu tiếp trong nhiểu năm tới.)
1.5 Sự phát triển tất yếu của kinh tê trang trại trong thời kỳ công nghiệp hoá.
Từ khi loài người xuất hiện, rồi sản xuất nông nghiệp ra đời cho đến cuộc
cách mạng còng nghiệp lần thứ nhất ở Anh thì kinh tế hộ tiểu nông vẫn là hình thức
tổ chức sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp Nhưng kinh tế tiểu nóng với bản chất là
tụ cung tự cấp với mục đích sản xuất chỉ đáp ứng những thoả mãn trong nội bộ gia đình, không tạo ra những sản phẩm hàng hoá, hạn chê trong đẩy mạnh trao đổi sản phẩm trong thị trường, kìm hãm phát triển, công nghiệp chế biến, trao đổi kỹ thuàt, kiến thức siữa người với người Mô hình kinh tế tiểu nông không thể tạo ra sự đốt biến trong hiện đai hoá sản xuất nông nghiệp
Trang 19d ' ẽ t à i n g h iê n c ứ u KilOA H Ọ C
Sự nghiệp công nghiệp hoá đã tác động mạnh mẽ và các quá trình phát triển nông nghiệp đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với phát triển nông nghiệp:
- Cung cấp ngày càng nhiều nông sản cho tiêu dùng với chất lượng cao
- Cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành cồng nghiệp chế biến
- Cung cấp nhiéu nông sản có chất lượng cao để xuất khẩu
- Cung cấp nhiều nông sản cho nhu cầu của dân cư đô thị ngày càng tăng
- Khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên đất đai, nguồn nước cho mục đích phát triển nền kinh tế bền vững
Trước những yẻu cầu mới của sự nghiệp công nghiệp hoá thì kinh tế hộ tiểu nổng không thể đáp ứng được, cần phải chuyên mổn hoá về lượng và cả về chất trong tổ chức sản xuất theo mỏ hình mới - mô hình kinh tế trang trại Mô hình kinh
tế trang trại thực sự đã trở thành một mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp với các điều kiện và yêu cầu cuả sự nghiệp công nghiệp hoá ở các nước trên thế giới qua nhiều thập kỷ nay Sự hình thành kinh tế trang trại ở nước ta trong những nám qua là đang nầm trong qúa trình phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá Thậm chí kinh
tế trang trại ỡ nước ta hiện nay còn được coi là vấn đề bức xúc bởi những đòi hỏi ngày càng lớn và đa dạng của sự nghiệp công nghiệp hoá trong thời kỳ mờ cửa, hội nhập và kinh tế thị trường
- Muốn có cổng nghiệp chế biến nông lâm - thuỷ sản phát triến không thể không có nguyên liệu, hav là phải nhập các nguồn nguyên liệu Nếu một ngành công nghiệp nào đó mà phát triển trên cơ sở nhập nguyên liệu thì chắc chắn hiệu quả thấp Do đó phát triển nông nghiệp bằng kinh tế trang trại là biện pháp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến phát triển
- Mặt khác sự công nghiệp hoá cũng tạo ra thị trường nội địa tiêu thụ các nguyên liệu nông lâm - thuỷ sản sẽ kích thích nông nghiệp kinh tế trang trại phát triển
- Không có nông nghiệp hàng hoá phát triển thì không có nông sản xuất khẩu, không đẩy mạnh ngoại thương, không trao đổi buôn bán, mở rộng thị trường
và không có cơ hội hội nhập kinh tế với các nước trên thế giới
- Mô hình hợp tác xã nông nghiệp, các nông trường quốc doanh trước đây với cách tổ chức, quản lý cũ kỹ lạc hậu với cơ chế bao cấp đã không đáp ứng cho nhu cầu của nền kinh tế thị trường Thay cho các mô hình sản xuất nông nghiệp cũ là mô hình kinh tế trang trại sẽ là nền móng cho sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển
- Kinh tế thị trường với chính sách giao quyén sử dụng đất lâu dài cho nông dàn, tự do hoá thương mại, khuyến khích kinh tế hộ gia đình phát triển đã đáp ứng nhu cầu nội tại của chính các hộ nông dân, cùa bản thân nền nông nghiêp nước ta khi đã chuvển sang cơ chế thị trường là người lao động không chi thoả mãn VỚI nhu
Trang 20DẾ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Cầu đủ ăn mà phải vươn lên làm giầu bằng sức lao động, trí tuệ của bản thân mình tiến tới phát triển sản xuất kinh doanh nông nghiệp hàng hoá bằng kinh tế trang trại
Vậy xu hướng phát triển trang trại ở nước ta sẽ diễn ra như thê nào? Hộ nông dân nào có thể trở thành trang trại thực sự?
Đến năm 1998, cả nước có khoảng 12 triệu nống hộ thì mới có 113.000 trang trại bàng 1% tổng số hộ nông dân Những nông hộ không có khả năng trở thành trang trại gia đình là:
- Hộ không có đất, không có vốn (hoặc đất và vốn quy mô quá nhỏ lại không
có khả năng huy động vốn)
- Hộ du canh, du cư
- Hộ định canh định cư ở vùng sàu, vùng xa không có điều kiện về vốn, tiếp cận thị trường
- Chủ hộ luôn thoả mãn với cuộc sống hiện có, không có khát vọng làm giầu
- Chủ hộ không có trình độ và năng lực quản lý sản xuất kinh doanh
Trong xu thế đổi mới về tiến bộ khoa học kỹ thuật nhu cầu cải thiện mức sông của nông thôn ngày càng lớn cùng với sự kích thích sản x u ấ t, kinh doanh của nền kinh tế hàng hoá và thị trường thì tương lai có thể tới 50 - 60% tổng số hộ nông dân sẽ chuyển sang sản xuất kinh doanh hàng hoá trở thành các trang tr ạ i
Vậy xu thê hình thành trang trại có thể diễn ra theo những bước sau đây:
a Thời kỳ đầu:
Quy mô diện tích mỗi trang trại có thể lón vì như vậy mới có thể tập trung sán xuất hàng hoá với khả nâng đầu tư thấp (chưa thực hiện thâm canh cao, kỷ thuật tiên tiến), ở thời kỳ này số lượng trang trại ở mỗi địa phương không lớn, tăng chậm
vì vừa làm vừa thăm dò (thời kỳ này có thể kéo dài khoảng 10 - 20 năm)
b Thời kỳ thứ hai:
Số lượng trang trại tăng nhanh quy mổ bình quân diện tích một trang trại giảm đi vì nhiều nông hộ đã nhìn thấy lợi nhuận cao của trang trại và dần dần từ bỏ nền kinh tế tiểu nông chuyên sang trang tr ạ i Thời kỳ này kéo dài cũng khoảng 10 -
20 nãm
c Thời kỳ thứ ba:
Số lượng trang trại có xu hướng giảm đi do qua nhiều năm sản xuất kinh doanh nhiều chủ trang trại không có đủ trình độ quản lý, kinh doanh đã tự giải tán, nhường chỗ cho các chủ trang trại có trình đố và năng lực quản lý kinh doanh giỏi
đã tiếp tục mở rộng thêm diện tích bằng mua đất, thuê thêm nhàn cồng dẫn đến diện tích các trang trại tãng lên
Trang 21DỀ TẢI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tuy nhiên số lượng trang trại không giảm mãi, và diện tích trang trại cũng không tăng mãi vì đến lúc nào đó sự điều tiết của thị trường, cùa Nhà nước sẽ tạo cho sự ổn định của trang trại Song song với xu thế phát triển kinh tế trang trai thì vẫn tổn tại và duy trì kinh tế tiểu nông (đó là những hộ không có các khả năng như nêu trẻn)
Vai trò của hợp tác xã nòng Qghiệp trong kinh tế trang tr ạ i:
Kinh tế trang trại càng phát triển thì nhu cầu hợp tác xã nông nghiệp càng cần thiết và phát huy hiệu quả cao vì vai trò của hợp tác xã trong kinh tế trang trại ỉà
hỗ trợ sản xuất kinh doanh:
+ Cung ứng vật tư kỹ thuật cho trang trại
+ Cung cấp thông tin
+ Khuyến khích áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
+ Chuyển giao công nghệ
+ Cung cấp giống mới
+ Tư vấn vể kỹ thuật sản xuất
+ Tìm thị trường tiêu thụ
4- Thực hiện cầu nối giữa các trang trại và các doanh nghiệp thuộc vùng khác trong nước, trong khu vực và trẽn thế giới có thể xem xét trang trại như là cơ sở sản xuất “vệ tinh” của doanh nghiệp lớn thực hiện các môi quan hệ liên kết, hợp đồng trên cơ sở các bên đểu có lợi,
1.6 Hiệu quả của kinh tế trang tr ạ i.
1.6.1 Phát triển kinh tế trang trại là đã thực hiện một bước chuyển đổi trong sản xuất nông nghiệp từ nền nông nghiệp tiểu nông sang nền nòng nghiệp hàng
h o á
Kinh tế trang trại đã đặt một nền móng mới cho sản xuất nông nghiệp, đưa nền nông nghiệp truyền thống lạc hậu từng bước hội nhập với nền kinh tế hiện đại Các trang trại được thành lập như “vết dầu loang” sẽ lôi cuốn, giúp đỡ, kích thích các hộ tiểu nông chuyển hướng sản xuất kinh doanh nồng sản hàng hoá Nhờ vậy
mà nền nông nghiệp hàng hoá sẽ không ngừng mở rộng
1.6.2, Phát triển kinh tế trang trại là cơ sở hình thành vùng chuyên canh nông nghiệp hàng hoá tập trung.
Có khả nâng sản xuất khối lượng nông sản lớn không chỉ thoả mãn tiêu dùng cho con người mà còn cung cấp nguyên liệu cho chế biến
ở Malaixia hàng nãm các trang trại đã sản xuất được khoảng 4 triệu tấn cọ dầu, 1,8 triệu tán mủ cao su, gần 300.000 tấn ca cao, gần 25.000 tấn cà phê
Trang 22DÈ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC
Ở nước ta, tuy chỉ mới có 1% tổng số hộ nông dân làm kinh tế trang trại nhưng đã sản xuất được khoảng 40 - 60% tổng số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như gạo, cà phê, cao su, thịt, sữa, thuỷ sản
1.6.3 Phát triển kinh tế trang trại là góp phần to lớn làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá.
Các trang trại ngày càng đầu tư nhiều vốn, kỹ thuật, nâng cao trình độ thâm canh tâng năng suất cây trồng, vật nuôi sẽ sản xuất ra ngày càng nhiều nông sản yêu cầu áp dụng những kỹ thuật, công nghệ ngày càng tiên tiến trong các khâu sản xuất giống, chăm bón, sản xuất phân bón và chế biến tại chỗ Quá trình này từng bứơc làm đa dạng hoá nển kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá
1.6.4 Phát triển kỉnh tế trang trại là góp phần khai thác, sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực đẩt đai, lao động và vốn đầu tư.
Sử dụng hiệu quả đất đai:
Chủ trang trại cần có biện pháp tích tụ đủ diện tích đất đai, nghiên cứu đặc điểm, tính chất đất đai để xác ỉập cơ cấu của cảy trồng, vật nuôi phù hợp nhất với diều kiện đất đai của trang trại mình để có thể cho nâng suất hiệu quả cao nhất
+ Chủ trang trại cần tính toán để có thể đẩy mạnh xen canh, luân canh, tãng
vụ, nâng cao hệ số sử dụng đất, đồng thời phải có biện pháp kỹ thuật đê tiếp tục nâng cao độ phì của đất, phải bằng mọi cách hoàn trả cho đất các chất dinh dưỡng làm cho đất đai liên tục màu mỡ thêm
+ Áp dụng các biện pháp khai thác và sử dụng hợp lý đất đai trong trang trại
để có thể đạt năng suất và sản lượng cao gấp 5 - 1 0 lần trong kinh tế tiểu nòng
Sử dụng hợp lý có hiệu quả nguồn lao động:
+ Kinh tế trang trại sẽ tạo ra nhiều việc làm, trước hết tạo việc làm cho gia đình, sau đó là việc làm cho lao động địa phương (thuê lao động)
+ Tính đến năm 1999 số lao động thiếu việc làm ở nông thôn trên 9 triệu người Phát triển kinh tế trang trại là góp phần giải quyết việc làm cho số lao động ngày càng tăng
Đa dạng hoá, công nghiệp hoá việc làm ở nông thôn:
+ Công nghiệp hoá nền kinh tế nông thôn bằng các mô hình kinh tế trang trạikhông thể không áp dụng những kỹ thuật công nghệ tiên tiến (trong lai tạo giống, chế biến thức ãn gia súc ) đòi hỏi phải có lao động công nghiệp
tay nghề cao, đó là cơ hội để giảm dần ỉao động thuần nông, tăng lao động có kỹthuật cao, phi nông nghiệp trong nông thôn
+ Kinh tế trang trại sẽ góp phần khôi phục tính sản xuất mùa vụ trong nông nghiệp Do vận dụng sáng tạo, kết hợp các hướng sản xuất khác nhau, giữa trổng
Trang 23DỀ TẢI NGHIÊN CỨU KĨĨOA HỌC
trọt, chăn nuôi, công nghiệp chế biến mà tính mùa vụ trong sản xuất ở các trang trại dần được khắc phục
Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư:
Phát triển kinh tế trang trại tất yếu phải đầu tư vốn Lúc đầu vốn của trang trại là vốn tự có, vốn trong dân Chủ trang trại cần phải có một số vốn nhất định ban đầu để đầu tư sản xuất Chủ trang trại cân nhắc kỹ lưỡng (thậm trí phải nhiều ngày trân trở tư duy) để quyết định đầu tư vốn cho phát triển sản xuất khi đã nhìn thấy lợi nhuận trong tương lai Khi đã đạt được lợi nhuận ban đầu, thì cần thiết mở rộng sản xuất, tất yếu sẽ có nhu cầu vốn lớn hem Chủ trang trại cần phải có biện pháp tích cực huy động thêm các nguồn vốn tín dụng, ngân hàng lúc này sẽ dẫn đến thị trường tài chính nông nghiệp, nông thôn trở nên sôi động, hiệu quả hơn
1.6.5 Kinh tế trang trại góp phần thiết thực cải thiện, nâng cao mức sòng cho nông dân, xây dựng nông thôn Việt Nam mới.
- Kinh tế trang trại phát triển sẽ dẫn đến sự phân hoá rõ giàu nghèo giữa các trang trại gia đình và hộ tiểu nông Sự giàu lên của các hộ trang trại gia đình sẽ là tấm gương kích thích, giúp đỡ các hộ tiểu nông vươn lên hoặc ít nhất cũng được thừa hưởng môi trường sản xuất kinh doanh thật sôi động với đời sống văn hoá, cơ sở hạ tầng văn minh và khang trang của các trang trại
- Kinh tế trang trại sẽ tạo ra việc làm tại chỗ cho các hộ tiểu nòng, hạn chế các luồng di cư từ nông thôn vể thành phố tìm việc làm
- Kinh tế trang trại phát triển theo hướng chuyền môn hoá, tập trung hoá cao
sẽ thúc đẩy cơ sở hạ tầng phát triển như xí nghiệp công nghiệp, thương nghiệp, văn hoá, giao thông, thông tin Tất cả sẽ làm cho bộ mặt nồng thôn thay da đổi thịt theo kiểu thành thị, lại có tác dụng Lôi cuốn những người dân đô thị quay về nông thôn (ở nước ta một vài khu vực đang diễn ra theo xu thế này như: Lục Ngạn, Yên Bình, Đông Hỷ )
1.6.6 Phát triển kinh tế trang trại là tạo điều kiện đẩy mạnh khai hoang mở rộng thêm diện tích trồng trọt và góp phần bảo vệ tài nguyên mòi trường, giữ cân bằng sinh thái.
- Do quỹ đất nông nghiệp có hạn, bình quân đất nông nghiệp trên đầu người thấp lại giảm dần mà nhu cầu sản xuất nông sản hàng hoá ngày càng nhiều sẽ đẩy mạnh quá trình khai hoang, biến đất trống đổi trọc thành vườn, rừng
- Được giao đất, giao rừng (đất đã có chủ) nên các trang trại đã kết hợp vừa sản xuất vừa bảo vệ rừng, khoanh nuôi, tu bổ, trổng mới, quản lý chật chẽ, biến đất hoang hoá thành vườn cây, ao cá cho thu nhập cao
- Do các trang trại sử dụng đất, rừng hợp lý có kế hoạch không những tạo ra cảnh quan môi trường hấp dẫn mà còn có ý nghĩa điều tiết đến chế đô thời tiết, thuỷ văn trong phạm vi địa phương và cả nước
Trang 24DỀ TÀI NGHIỀN CỨU KHOA HỌC
1.6.7.Phát triển kinh tế trang trại ở trung du, miền núi.
Biến trung du, miền núi thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản sẽ có tác động mạnh mẽ đến sự phàn bố ỉại, điểu chỉnh lại hợp lý
nguồn lao động ở cả nước và các hệ thống cơ sở hạ tầng, vãn hoá, xã hội cùng phát
Sự trắc trở thường xuyên đã rèn luyện cho các chủ trang trại quen với tác phong cẩn thận nhạy bén, phản ứng mau lẹ với những biến đổi của mồi trường sản xuất kinh doanh Môi trường sản xuất kinh doanh trong kinh tế trang trại ngày nay
là cơ sở để đào tạo được đội ngũ chuyên gia giỏi trong sản xuất, quản trị kinh doanh nông nghiệp
Trang 25DÈ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CHƯƠNG 2 KINH TẾ TRANG TRẠI MỘT s ố NƯỚC CHÂU Á VÀ
NHŨNG KINH NGHIỆM PHÁT TRIEN k i n h t ế t r a n g t r ạ i
Ở VIỆT NAM
Kinh tế trang trại xuất hiện sớm nhất ở một số nước Tây Âu trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và đem lại hiệu quả kinh tế xã hội rõ rệt Sau đó kinh tế trang trại phát triển ở các nước công nghiệp hoá châu Âu, Bắc Mỹ, châu Đại Dương cho đến ngày nay ở châu Á kinh tế trang Irại được phát triển từ những năm
50 đến nay ở nhiều nước đang phát triển trên đường đi lên công nghiệp hoá Nước
ta cũng bắt đầu phát triển kinh tế trang trại Tìm hiểu kinh nghiệm tổ chức hoạt động kinh tế trang trại của nước ngoài là việc làm cần thiết, trước hết là kinh nghiệm của các nước châu Á có những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội gần giống với nước ta
2.1 Khái quát về kinh tế trang trại ở một sô nước châu Á
Các nước châu Á vói phương thức sản xuất phong kiến tiểu nông tự cấp tự túc trải qua hàng nghìn năm nay đã bước vào công nghiệp hoá chậm hom các nước Âu -
Mỹ hàng trăm năm, vì vậy kinh tế trang trại sản xuất nông sản hàng hoá phục vụ công nghiệp hoá cũng xuất hiện muộn hơn Kinh tế trang trại bất đầu hình thành và phát triển ở các nước Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc là những quốc gia đi vào công nghiệp hoá đầu tiên ở châu Á Gần đây kinh tế trang trại ở nhiều nước đang phát triển ở vùng Đông Nam Á, Nam Á khi các nước này đi lên công nghiệp hoá Nhưng kinh tế trang trại ở châu Á hiện nay có sự khác nhau giữa các nước cổng nghiệp phát triển và các nước đang phát triển
2.1.1 Kinh tế trang trại ở một số nước công nghiệp phát triển.
Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc là những nước đi lên công nghiệp hoá sớm nhất châu Á Công nghiệp hoá đặt ra yêu cầu đối vói nông nghiệp là phải sản xuất
ra nhiều nông sản hàng hoá nên các nước này đã phải chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất nông sản hàng hoá, tức là thay thế kinh tế tiểu nòng bằng kinh tế trang trại Từ sau chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản, Hàn Quốc đã tạo điều kiện cho kinh tế hộ nông dân trở thành các đem vị tự chủ sản xuất hàng hoá theo mô hình trang trại Các nước này đều có đất ít, người đông, quy mô đất đai của hộ nông dản nhỏ bé, do đó trang trại gia đình có quy mỏ nông dân nhỏ bé nhất thế giới Đây là một nét tiêu biểu của trang trại châu Á Bình quân diện tích đất đai của trang trại ở
Trang 26DÈ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC
Nhật Bản, Đài loan, Hàn Quốc chỉ trên dưới 1 hécta, so với bình quân trang trại của Tây Âu là 20 - 30 ha và của Mỹ là 150 - 180 ha thì nhỏ hơn từ 20 - 30 đến 100 - 200
ở Nhật Bản, từ những năm 50 đến nay, kinh tế trang trại phát triển trong tất
cả các ngành sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, đã sản xuất ra khối lượng nông sản hàng hoá lớn về lúa gạo, rau quả, thịt, sữa v.v đáp ứng nhu cầu của công gnhiệp hoá, hình thành các vùng nông sản hàng hoá tập trung quy mồ lớn trên các cơ sở tập hợp sản phẩm của nhiều trang trại nhỏ, phân tán Trong nửa cuối của thế kỷ 20, kinh
tế trang trại Nhật Bản phát triển theo hướng giảm số lượng và tăng quy mô trang trại Nhưng do đặc thù là quỹ đất hạn chế, nên mặc dầu số trang trại giảm nhiều nhưng quy mô trang trại tăng chậm và vẫn còn nhò bé
Biểu 2.1 Số lượng và quy mô trang trại của Nhật Bản Năm Số lượng trang trại
trọt, gần 60% trang trại có quy mô 0,5-1 héc ta, 27% cso quy mô 1-2 hécta, 1% có
quy mô 2-3 héc ta và 5% có quy mô 3 hécta trở lên
Trang trại lâm nghiệp: 58% số trang trại có quy mỏ 0,1 - 1 ha, 31% có quy
mô 1 - 5 ha, 6% có quy mô 5 - 10 ha, 0,4% có quy mô 50 - 100 ha Riêng trang trại
chăn nuôi ở Nhật Bản có quy mô lớn hơn Khoảng 30% số trang trại chân nuôi lợn thịt có quy mô dưới 100 con, 32% có quy mô 100 - 500 con, 28% có quy mồ 500 -
2000 con và 5% có quy mô trên 2000 con.
Trang trại chân nuôi gà thịt: Chỉ có trang trại gà thịt từ 300 con trở lên đến100.000 con, trong đó 10% trang trại có quy mô 300 - 1000 con, 30% có quy mô
1000 5000 con, 50% có quy mô 5000 50.000 con và có 10% quy mô 50.000 100.000 con trở lên
-Về lao động của trang trại Nhật Bản do quy mỏ ruộng đất nhỏ và cơ giới hoá sản xuất cao nên trang trại trổng trọt thường sử dụng lao động gia đình là chủ yếu, ít
sử dụng lao động làm thuê Riêng trang trại lâm nghiệp và trang trại chãn nuôi quy
Trang 27DỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
mô vừa và lớn có sử dụng lao động làm thuê vói mức độ khác nhau tuỳ theo trình độ
cơ giới hoá
Đến nay, bình quân 1 trang trại với 1 ha đất nông nghiệp có 1 - 1,1 lao động nông nghiệp, còn những lao động khác của trang trại hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp ở trong và ngoài trang trại Một điểm đáng quan tâm là các trang trại ờ Nhật Bản tuy có quy mô nhỏ nhưng trong quá trình công nghiệp hoá đã ứng dụng rộng rãi, có hiệu quả cao các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại về giống cây trổng, vật nuôi, các loại vật tư kỹ thuật và ứng dụng đồng bộ các chu trình sản xuất và chế biến, bảo quản nông, lâm thuỷ sản tao ra năng suất cây trồng, vật nuôi cao (như năng suất lúa 5 - 6 tấn/ ha) và năng suất lao động nông nghiệp cao Các trang trại quy mô nhỏ của Nhật Bản đã tạo ra khối lượng và tỷ suất nông sản hàng hoá cao, đảm bảo nhu cầu lương thực thực phẩm của 125 triệu dân: 100% nhu cầu về gạo, 81% nhu cầu thịt, trên 90% nhu cầu về trứng, sữa, 76% nhu cầu về rau quả
Đài Loan và Hàn Quốc phát triển kinh tế trang trại sau Nhật Bản Với đặc điểm đất ít người động tương tự như Nhật Bản nên trang trại của Đài Loan và Hàn Quốc có quy mô nhỏ trên dưới 1 ha và quá trình hình thành, phát triển kinh tế trang trại cũng tương tự như Nhật Bản
Biểu 2.2 Số liệu và quy mô tran g trạ i của Đài Loan
Sô lượng và quy mô trang trại chăn nuôi ở Đài Loan tăng đều trong suốt thời
kỳ công nghiệp hoá Nãm 1974 số trang ưại nuôi dưới 100 con lợn chiếm 99,5% trong tổng số trang trại và 68,63% tổng đàn lợn Đến năm 1994 số trang trại nuôi
dưới 100 con lợn giảm từ 99,5% (1994) xuống còn 53,52% trong tổng số trang trại
và tổng đàn lợn giảm từ 68,63% (1974) xuống còn 53,1% (1994) Số trang trại chăn nuôi lợn quy mô 100 - 5000 con trở lên, năm 1994 chiếm 45% trong tổng số trang trại và 78% tổng số đàn lợn Đến nay trang trại ờ Đài Loan, với quy mô nhỏ cũng đã đạt trình độ công nghiệp hoá sản xuất cao, xấp xỉ như Nhật Bản, tạo ra khối lượng và
tỷ suất nông sản hàng hoá cao, đảm bảo nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu
ở Hàn Quốc, công nghiệp hoá cũng như nến kinh tế trang trai phát triển sau Nhật Bản và Đài Loan Với những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tương tự như
!1Ễ h ộ t i
Trang 28DỀ TẢI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Nhật Bản và Đài Loan, quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại của Hàn Quốc cũng có nững nét tương đổng
2.1.2 Kinh tế trang trại ở một số nước đang phát triển ở châu Á
Ở các nước đang phát triển ở châu Á, gần đây mới bất đầu đi lẽn công nghiệp hoá và bắt đầu phát triển kinh tế trang trại Vì theo quy luật phát triển, công nghiệp hoá đòi hỏi nông nghiệp sản xuất nhiều nông sản hàng hoá, và tất yếu phải phát triển kinh tế trang trại thay thế kinh tế tiểu nông Kinh tế tiểu nông ở đây về cơ bản
là tổ chức sản xuất tiểu nông cổ truyển của châu Á Khi bước vào công nghiệp hoá
có nhu cầu về nông sản hàng hoá, một bộ phận các hộ tiểu nông có ruộng đất, có vốn, có nãng lực kinh doanh đã thoát ra khỏi quỷ đạo sản xuất tự túc, tiến lên sản xuất nông sản hàng hoá vói mức độ từ thấp đến cao, từ ít đến nhiều theo mô hình kinh tế trang trại Trong quá trình công nghiệp hoá, vật cản trở hạn chế sự dịch chuyển theo mô hình trang trại ở nhiều nước đang phát triển châu Á hiện nay chưa xoá bỏ được quan hệ sở hữu ruộng đất của địa chủ, với phương thức phát canh thu
tố, nên chưa hình thành được một tầng lớp nông dân tự chủ sản xuất kinh doanh như chủ trang trại ở các nước Đông Bắc Á đã thực hiện thành công cải cách ruộng đất trong những năm 50 (Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc)
Từ những năm 50 đến nay, trải qua hơn nửa thế kỷ, nhiều nưóc như Ấn Độ, Srilanka, Philippin đã tiến hành cải cách ruộng đất, nhưng kết quả còn nhiều han chế, chưa xoá bỏ được sở hữu ruộng đất của đại chủ nên chưa tạo cơ sở cho sự hình thành các trang trại Riêng Trung Quốc và Việt Nam đã hoàn thành cải cách ruộng đất một cách triệt để sau thời kỳ hợp tác hoá nay các hộ nòng dân đã trở thành đơn
vị sản xuất tự chủ, được quyền sử dụng đất ổn định lâu dài
Các doanh nghiệp nông nghiệp tư bản tư nhân (đồn điền) ở các nước như Malaixia, Inđônẻxia, Ấn Độ trước đây sử dụng lao động làm thuê để sản xuất nông sản hàng hoá, dần dần đã chuyển sang cơ chế mới, giao khoán đất đai, cung cấp vật
tư và hướng dẫn kỹ thuật cho các hộ gia đình công nhân sản xuất theo hợp đổng, doanh nghiệp thu mua sản phẩm làm ra để chế biến xuất khẩu, tạo ra một loạt công nhân - nông dân chủ trang trại sản xuất hàng hoá cà phê, cao su, cọ dầu, ca cao, chè
Như vậy, kinh tế trang trại ở các nước đang phát triển châu Á được hình thành từ các hô nông dân tiểu nông tiến lên sản xuất hàng hoá và các hộ công nhân lao động ở đồn điền cũ chuyển sang hoạt động theo mô hình trang trại Thái Lan trờ thành nước xuất khẩu nhiều nông sản hàng hoá, là do trong quá trình đi lên công nghiệp hoá đã hình thành và phát triển kinh tế trang trại trên cơ sờ kinh tế hộ nông dân tiến lên sản xuất nhiều nòng sản hàng hoá Các trang trại vùng đổng bằng trung
Trang 29DỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
tâm hàng nám đã sản xuất ra lượng gạo xuất khẩu 5 - 6 triệu tấn Các trang trại vùng đồi núi hàng năm sản xuất ra hàng chục triệu tấn sắn và dứa xuất khẩu cho liên minh châu Âu Các trang trại vùng ven biển đã sản xuất hàng vạn tán tôm xuất khẩu Các trang trại vùng chung quanh các đô thị đã sản xuất ra khối lượng lớn thịt gà, thịt lợn xuất khẩu và sữa bò
Cuối thế kỷ XX số lượng trang trại ở các nước đang phát triển châu Á chưa nhiều và tỷ trọng trang trại trong tổng sô' hộ nông dân còn thấp, nhưng đang có xu thế phát triển với tốc độ nhanh hơn với nhịp độ phát triển công nghiệp hoá, củng cố vai trò lực lượng xung kích trong sản xuất nông sản hàng hoá và tiến dần lên vị trí lực lượng sản xuất chủ lực nông sản hàng hoá như các nước công nghiệp phát triển châu Á hiện nay
2.2 Một số bài học kinh nghiệm đôi với Việt Nam về phát triển kinh tê trang trại.
2.2.1 Kinh tế trang trại - Sản phẩm của thời kỳ công nghiệp hoá.
Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc là những nước đến nay khi công nghiệp hoá ở các nước này đã đạt trình độ cao, trở thành những nước cỏng nghiệp phát triển, kinh
tế trang trại vẫn tổn tại và đóng vai trò chủ lực trong sản xuất nòng nghiệp Điều này khẳng định sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở các nước đang phát triển
là vấn đế tất yếu
Như vậy, qua thực tế ta thấy ở các nước châu Á cũng như các nước Âu Mỹ, kinh tế trang trại ỉà loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp, được hình thành và phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá để sản xuất nông sản hàng hoá phục vụ công nghiệp hoá, thay thế cho kinh tế tiểu nông sản xuất tự túc Công nghiệp hoá càng cao thì kinh tế trang trại càng phát triển Thời kỳ công nghiệp hoá mới bắt đầu và còn ở trình độ thấp thì kinh tế trang trại là lực lượng xung kích trong sản xuất nòng sản hàng hoá Đến thời kỳ công nghiệp hoá cao thì kinh tế trang trại trở thành lực lượng chủ lực trong sản xuất nông sản hàng hoá
Ở nước ta hiện nay bắt đầu thời kỳ công nghiệp hoá, sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại là phù hợp với yêu cầu của công nghiệp hoá Nông nghiệp phải sản xuất nhiều nông sản hàng hoá đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu, phù hợp với quy luật phát triển kinh tế của thời kỳ công nghiệp hoá mà nhiều nước đang phát triển và các nước công nghiệp phát triển châu Á và trên thế giói đã đi qua
2.2.2 Địa bàn và nội dung sản xuất kinh doanh của kinh tế trang trại.
Kinh nghiệm của một số nước cho thấy kinh tế trang trại có khả nãng phát triển ở tất cả các vùng kinh tế và các ngành sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp của mỗi
Trang 30DỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
quốc gia Nhưng trong thời kỳ đầu công nghiệp hoá, kinh tế trang trại thường phát triển tập trung vào một số vùng kinh tế và một số ngành sản xuất có nhu cầu và khả nâng phát triển kinh tế hàng hoá trước và dần từng bước mở rộng ra các ngành và các vùng khác
ở Malaixia, Inđônêxia, thời gian đầu các trang trại tập trung phát triển ở các vùng đồi núi và trong ngành sản xuất các cây công nghiệp xuất khẩu Vì cây công nghiệp xuât khẩu như cao su, cọ dầu, ca cao, hồ tiêu, cà phê lập trung ở vùng đồi núi nơi có tiềm nâng vể quỹ đất dồi đào và tập trung các doanh nghiệp (đồn điền) sản xuất cây công nghiệp tập trung với khối lượng nồng sản hàng hoá lớn ở vùng đổng bằng do quỹ đất hạn chế nên trang trại trồng trọt chậm phát triển hơn vùng đồi núi nhưng riêng trang trại chăn nuôi vẫn phát triển Các trang trại trồng cây công nghiệp
ở vùng đồi núi phát triển trước do thị trường quốc tế có nhu cầu lớn về sản phẩm cuả các cây công nghiệp như cao su, cà phê, cọ dấu mà vùng đổi núi nhiều nước Đông Nam Á có thế mạnh vể khí hậu và đất đai đối với các loại cây này Trong khi Malaixia, Inđônêxia, thời kỳ đầu công nghiệp hoá, trọng tâm phát triển trang trại là cây công nghiệp xuất khẩu ở vùng đổi núi thì ở Thái Lan lại phát triển kinh tế trang trại đổng thời ở cả 3 vùng đồi núi, đổng bằng , ven biển
Ở vùng đổi núi Thái Lan phát triển các trang trại trồng sắn, quy mỏ gia đình nhưng tập trung thành từng vùng nguyên liệu sản xuất sắn thố, bột sấn xuất khẩu cho thị trường EU
Ở vùng đồng bằng trung tâm Thái Lan phát triển các trang trại trồng lúa gạo, hàng năm xuất khẩu 5 -6 triệu tấn gạo đứng đầu thế giới
ỏ vùng ven biển Thái Lan phát triển nhiều trang trại nuôi trồng thuỷ sản, hàng năm xuất khẩu một khối lượng lớn tôm cá
Các trang trại chãn nuôi gia cầm, lợn xuất khẩu cũng phát triển ở vùng đổng bằng và chung quanh các đô thị
2.2.3 Loại hình kinh tế trang trại phù hợp nhất với điều kiện nước ta.
Trang trại gia đình: Loại hình trang trại phổ biến nhất ở tất cả các quốc gia là những cơ sở sản xuất lấy hộ gia đình làm đơn vị sản xuất kinh doanh, sử dụng lao động gia đình đổng thời có thuê một phần lao động theó thời vụ và lao động thường xuyên để sản xuất ra nông sản hàng hoá
và tỷ suất nông sản hàng hoá khác nhau, ở Nhật Bản, Đài Loan, cũng như Thái Lan, Malaixia kinh tế trang trại gia đình chiếm tỷ trọng cao nhát trong ngành trồng trọt
và tỷ lệ thấp hơn trong ngành chán nuôi và thuỷ sản
Trang 31DÈ TẢI NCMÉN CỨU HIOA HỌC
2.2.4 Trang trại gia đình và mối quan hệ với tổ chức HTX và doanh nghiệp quốc doanh.
Trang trại gia đình là doanh nghiệp tư nhân nhưng không đối lập với kinh tế HTX và kinh tế quốc doanh Kinh nghiệm một số nước cho thấy trang trại với đặc trưng là sản xuất hàng hoá nên các yếu tố đầu vào, đầu ra đều là hàng hoá Vì vậy các trang trại gia đinh không hoạt động đơn độc khép kín như các hộ tiểu nông, mà
có nhu cầu quan hệ với mạng lưới dịch vụ đầu vào, đầu ra trong sản xuất kinh doanh Để hạn chế sự chèn ép của các tổ chức dịch vụ tư nhân trong mua bán vật nr
kỹ thuật và nồng sản, các chủ trang trại gia đình ở các nước thường tổ chức ra các hợp tác xã dịch vụ, hình thành mối liên kết giữa kinh tế hợp tác xã và kinh tế trang
Quan hệ liên kết kinh tế giữa các trang trại gia đình với các doanh nghiệp nông nghiệp quốc doanh được thể hiện rõ nét nhất ở Malaixia Các công ty doanh nghiệp Nhà nước đầu tư vào các vùng đất hoang hoá xây dựng các cơ sở hạ tầng: Đường giao thông, bưu điện, các công trình phúc lợi còng cộng, khai phá đất đai, làm nhà ở và giao cho các hộ nông dân tình nguyện sản xuất theo vốn cho vay thời gian đầu theo hợp đồng kinh tế dài hạn giữa các hộ nông dân - chủ trang trại với công ty - doanh nghiệp nông nghiệp quốc doanh
2.2.5 Kinh nghiệm tổ chức quản lý kinh tê trang trại.
Quản lý trang trại bao gồm 2 mạt:
Quản lý của cơ quan Nhà nước đối với kinh tế trang trại và quản lý sản xuất kinh doanh trong từng trang trại
- Quản lý Nhà nước đối với kinh tế trang trại:
Đặc trưng của kinh tế trang trại là sản xuất hàng hoá, vì vậy tổ chức quản lý của Nhà nước đối với kinh tế trang trại là quản lý nền kinh tế nông nghiệp sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế thị trường bao gồm các hàng hoá như ruộng đất, lao động, vốn, khoa học còng nghệ, nông sản thông qua các chính sách kinh tế chung
- Quản lý sản xuất kinh doanh trang trại gia đình
Mỗi trang trại là một doanh nghiệp nông nghiệp nhỏ, vừa hoặc lớn Do chủ trang trại
- chủ doanh nghiệp quản lý điều hành sản xuất kinh doanh Chủ trang trại quản lý các tư liệu sản xuất: Ruộng đất, chuồng trại, kho tàng, nhà xưởng, máy móc, thiết bị
và các loại vật tư kỹ thuật nông nghiệp để điều hành toàn bộ chu trình sản xuất nông nghiệp, thu hoạch, tiêu thụ nông sản hàng hoá, quay vòng vốn, tạo lợi nhuận sau mỗi vụ sản xuất
- Quản lý ruộng đất trang trại gia đình
Ruộng đất của trang trại gia đình là hàng hoá nên trong kinh tế trang trại, ruộng đất không “đóng băng” mà luôn có sự chuyển dịch (mua bán, thuê mướn, thế
Trang 32DỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
chấp) thông qua thị trường ruộng đất Mua bán là chuyển nhượng quyền sở hữu ruộng đất, còn thuê mướn là chuyển nhượng quyền sử dụng đất Thuê mướn ruộng đất là hoạt động kinh tế phổ biến của trang trại Ở Nhật Bản 60% số trang trại sản
xuất trên ruộng đất tự do, 35% số trang trại phải thuê thêm ruộng đất và 5% số trang
trại phải thuê đất hoàn toàn
- Quản ỉý lao động trong trang trại
Lao động làm việc ở trang trại có nhiều loại: Lao động quản lý và lao động
sản xuất, lao động gia đình và lao động thuê ngoài, lao động chính và lao động phụ, lao động phổ thông và lao độog kỹ thuật Lao động gia đình được hiểu là lao động làm việc trong trang trại không lấy tiền công trực tiếp bao gổm chủ trang trại và vợ con ỉàm lao động quản lý, lao động chính, lao động phụ Lao động quản lý thường là chủ trang trại gia đình, còn lao động sản xuất là những người trong gia đình và thuê ngoài theo thời vụ hoặc thường xuyên
- Quản lý vốn sản xuất kinh doanh của trang trại
Vốn sản xuất kinh doanh của trang trại (vốn cố định và vốn lưu động) bao gồm vốn tự có và vốn vay bên ngoài, bằng nhiều nguồn, nhiều hình thức khác nhau, trong đó có vốn (tiền) mua chịu vật tư, máy móc Vốn hoạt động của kinh tế trang trại lưu chuyển trên thị trường thông qua mạng lưới Ngân hàng thương mại ở các nước công nghiệp hoá càng cao, kinh tế thị trường càng h,oàn chỉnh thì các trang trại
có xu hướng sử dụng vốn từ các nguồn bên ngoài càng nhiều và chiếm tỷ lệ cao hơn vốn tự có
- Quản lý ứng dụng khoa học công nghệ của trang trại
Các trang trại gia đình với các quy mô sản xuất khác nhau đều có nhu cầu và khả năng ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất với các cấp độ khác nhau từ thấp đến cao, kể cả cổng nghệ tự động hoá và công nghệ tin học Vì vậy yêu cầu đặt ra đối với các chủ trang trại gia đình ià phải được trang bị đầy đủ kiến thức về khoa học công nghệ và kiến thức về khoa học quản lý kinh tế thị trường
Qua thực tế diễn ra ở các nước công nghiệp phát triển củng như các nước đang phát triển, các nhà kinh tế đưa ra dự báo về tương lai của kinh tế trang trại trên thế giới, châu Á và ờ nước ta như sau:
Thực tiễn sản xuất nông nghiệp châu Á cũng như thế giới trong thế kỷ XX cho thấy trang trại là loại hình tổ chức sản xuất phù hợp với yêu cầu phát triển nông nghiệp thời kỳ công nghiệp hoá Vì vậy bước vào thế kỷ XXI, kinh tế trang trại tiếp
Trang 33DỀ TẢI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
tục tổn tại ở nước ta và các nước đang phát triển trên đường đi lên công nghiệp hoá, cũng như ở các nước cống nghiệp phát triển cao
Ở nước ta trên đường đi lên công nghiệp hoá kinh tế trang trại được hình thành và phát triển để sản xuất nông sản hàng hoá phục vụ nhu cầu công nghiệp hoá
là hướng chiến lược phát triển nông nghiệp ở nước ta
Trang 35sơ Đổ LIÊN HỆ VÙNG NGHIÊN cú u
cảo tóm tít quy kc+ch thị x ỉ F h i L fi - S*o Đó' - H uyện Chí L in t
Trang 36DỀ TẢI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH CÁC NGƯỔN L ự c T ự NHIÊN, KINH TẾ, NHÂN VĂN VỚI VẤN ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI Ở HUYỆN CHÍ LINH,
Huyện Chí Linh nằm trên quốc lộ 18 nối liền huyện từ Phả Lại với vùng than, khu vực cảng Cái Lân, vịnh Hạ Long của tinh Quảng Ninh Quốc lộ 183 nối trung tâm huyện với quốc lộ 5A Do đó, Chí Linh có điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông hàng hoá và đi lại với các vùng trong cả nước
Chí Linh còn là của ngõ giữa khu vực miền núi trung du với khu vực đồng bằng Bắc Bộ, có vùng rừng núi nối liền vùng núi của miền Đông Bắc Bấc Bộ, Chí Linh có vị thế chiến lược quân sự quan trọng và đã từng được sử dụng làm nơi đóng quân và bài binh bố trận nhiều ỉần trong lịch sử: Lê Hoàn (năm 981, chọn làm hậu
cứ bảo vệ phòng tuyến trong cuộc chiến chống quàn Tống), Lý Thường Kiệt (chọn
để đặt căn cứ quân sự trong thế trận phòng tuyến sông Cầu), Trần Hưng Đạo (chọn phía Tây Bắc của huyện làm đại bản doanh của Tổng chỉ huy
quàn đội nhà Trần để chống quân Nguyẻn - Mông lần thứ 2 vào nãm 1285 và lần tbứ
3 vào năm 1287)
Vị trí địa lý kinh tế của Chí Linh đem đến lợi thế để phát triển đa dạng nền
nông nghiệp theo hướng sản xuất thị trường và việc tổ chức phát triển kinh tế ờ đây
phải chú ý đến cả vị thế chiến lược kinh tế, quân sự của cả vùng
3.1.2 Sơ lược về đăc điểm địa chất
Mặc dù Hải Dương nằm trong khu vục đổng bằng sông Hổng, nhưng nền thạch học địa chất của khu vực huyện Chí Linh hoàn toàn không đổng nhất như toàn khu vực đổng bằng sòng Hồng nói chung:
Trang 37DỀ TẢI NGHIẾN CỨU KHOA HỌC
Khu đổng bằng phía Nam đường 18 có nền địa chất là các thành tạo mQ,v1'2 bao gồm sét, bột sét, bột cát, cát và than bùn
Khu đổi bát úp phân bố ở cả Bắc và Nam đường 18 lại là thành tạo trầm tích lục nguyên thuộc điệp Hồng Gai T3hg2 bao gồm cuội kết và sạn kết
Khu đổi xen bãi bằng có rừng tự nhiên và rừng trồng phía Bắc của huyện là các thành tạo mQni bao gồm bột sét, cát; các thnàh tạo T2nk thuộc điệp Nà Khất bao gồm đá phiến sét, bột kết, đá vôi; ngoài ra còn có một số thành tạo khác nhưng chiếm tỷ lệ nhỏ
Nền thạch học địa chất đa dạng là điều kiện thuận lợi cho việc có nhiều thành tạo đất khác nhau cho khu vực nghiên cứu có khả năng phát triển đa dạng các loại cây trổng
1.3.3 Địa hình
Chí Linh là một huyện bán sơn địa, có địa hình đa dạng, đồng bằng xen kẽ đồi núi, dốc từ phía Bắc xuống phía Nam, từ trung tâm huyện xuống phía Nam và phía Tây Tỷ lệ diộn tích đất đai phân theo độ cao và độ dốc được thể hiện qua (biểu3.1, 3.2)
Biểu 3.1: Địa hình Chí Linh phân theo độ cao
Độ cao (m) Diện tích (ha) Tỷ ]ệ so với tổng số (%)
Nguồn: Tài liệu quy hoạch tổng thể - UBND Huyện Chí Linh
Biểu 3.2: Địa hình phán theo độ dốc
Nguồn: Tài liệu quỵ hoạch tổng thể - UBND Huyện Chí Linh
Qua hai bảng sô liệu ta nhận thấy Chí Linh có địa hình đa dạng, có tiềm nàng đất lâm nghiệp, nông nghiệp khá lớn: 46,5% điện tích tự nhiên có độ đốc dưới 25°
có thể sử dụng để phát triển nông nghiệp
Trang 38D ề TẢI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Kết quả phản tích từ bản đồ địa hình UTM tỷ lệ 1:50.000 mảnh Phả Lại cho thấy địa hình có thể chia làm ba tiểu vùng chính:
- Khu đồi xen bãi bằng gồm rừng tự nhiên và rừng trổng càng vể phía Bắc thì
đổi núi càng cao, đỉnh cao nhất là đỉnh Dây Diều 6 lôm Xen kẽ đồi núi là các bãi có
độ cao trung bình là 2,5m Đây là khu vực có khả năng phát triển sản xuất lâm nghiệp trên đỉnh núi cao, trồng cây ăn quả ở phía dưới và nuôi trổng thuỷ sản ở các
Như vậy, địa hình đa dạng đem lại thuận lợi cho Chí Linh: có khả năng phát triển nhiều loại cây trồng khác nhau Tuy nhiên, địa hình cao thấp xen kẽ, dốc dần đến mùa mưa đất bị xói mòn, rửa trôi ở vùng đồi và gày bồi tụ ở các hổ đập, úng lụt
ở vùng đồng bằng
3.1.4 Tài nguyên khí hậu
Chí Linh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, lại có hai mùa rõ rệt : mùa mưa
và mùa khô Nhìn chung thời tiết khí hậu Chí Linh khác hơn so với các huyện trong tỉnh Mùa mưa từ tháng V đến tháng IX tập trung 85% lượng mưa trong nãm, nhiểu trận mưa có cường độ lớn, thời tiết nóng ẩm, nhiệt đô trung bình là 29°c Mùa khô
từ tháng X đến tháng IV nãm sau, lượng mưa thấp , khí hậu khô, nhiệt độ trung bình mùa này là 15°c Nhiệt độ trung bình năm là 23°c, nhiệt độ cao nhất 37°c, nhiệt độ thấp nhất 3 - 4°c Tổng nhiệt trong nãm lên khoảng 8.200°, lượng mưa trung bình năm đạt 1.463 íiưn, độ ẩm không khí 81,6%, lượng bốc hơi bình quân đạt 1.340
mm Song, thường cũng có nhiều trận mưa cường độ rất lớn 45mm/giờ Mưa lớn thường tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 7 hàng nãm
Biểu 3.3: Lượng mưa trung bình tháng/năm (mm)
T.T Sao Đỏ
(T.Tâm huyện)
Nguồn: Trạm khí tượng thuỷ văn Sao Đỏ - Chí Linh
Mùa đông thường đến sớm và kéo dài Trong nãm có nhiều đợt rét đậm, tập trung vào tháng 11, 12 và tháng 1 năm sau Hàng năm có những đợt rét kéo dài 12 -
Trang 39DỀ TẢI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
hanh dẫn đến một diện tích trồng cây ãn quả trên dổi cao của Chí Linh có thể bị thiếu nước, nhất là vào dịp ra giêng khi vải và nhãn ra hoa, đậu quả
Biểu 3.4: Nhiệt độ trung bình tháng (°C)
Nguồn: Trạm khí tượng thuỷ văn Sao Đỏ - Chí Linh
Với điều kiện khí hậu như vậy, Chí Linh có thuận lợi trong phát triển cảy trồng đa dạng theo mùa nhưng lại bất lợi khi phải chịu một mùa khô kéo dài dễ gây
ra kiệt nước đối vói cây vải, nhãn trên đổi, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của kinh tế vườn đổi: hoặc thời tiết lạnh, không tốt cho sự phát triển cây trồng, vật nuôi
ở vùng nhiệt đới Lượng mưa lớn tập trung trong một thời gian ngấn kết hợp địa hình phân hoá mạnh dễ gây xói mòn đất ở vùng cao, úng lụt vùng thấp
3.1.5 Tài nguyên nước
Huyện Chí Linh có nguồn nước sòng phong phú được cung cấp bởi các sông Thái Binh, sông Kinh Thầy, sông Thương có trạm thuỷ nòng từ Phao Tân đến An Bài dài 15.5 km với 12 trạm bơm tổng công suất 179000m3/giày Ngoài ra, nguồn nước ngầm với trữ lượng lớn, nhiều suối bắt nguồn từ khu đồi núi chảy ra cùng với
hệ thống hồ đập có diện tích 409 ha làm cho khu vực có nhiều thuận lợi tưới tiêu nông nghiệp
Biểu 3.5: Bảng tổng hợp các loại còng trình thuỷ lợi.
Nguồn: XN khai thác công trình thuỷ lợi huyện Chí Linh
Các đặc điểm về địa hình, khí hậu đã ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng thuỷ văn, tài nguyên nước nói chung của cả huyện Chí Linh:
- Do lượng mưa hàng năm của Chí Linh thường thấp hơn so với các huyện khác trong tỉnh nên các suối, đập, hổ giữ nước thường bị cạn kiệt vào mùa khô
- Địa hình của Chí Linh nghiêng từ Bắc xuống Nam nên cổng tác thuỷ lợi gặp rất nhiều khó khăn, kết hợp điều kiện thời tiết khắc nshiệt, ảnh hưởng không nhỏ
Trang 40DỀ TÀI NGHẼN CỬU KHOA HỌC
đến sản xuất nồng - lâm nghiệp Mặt khác một số công trình thuỷ lợi xây dựng đã
lâu, nay đã bị xuống cấp; các hổ đập bị bổi tụ, rò ri không chứa được nhiều nước
3.1.6 Tài nguyên đất
Về mật nông hoá thổ nhưỡng, tài nguyến đất được chia thành hai nhóm
chính: nhóm đất đồi núi được hình thành tại chỗ phát triển trẽn các loại đá sa thạch
và nhóm đất phù sa do phù sa sông Thái Bình bổi tụ Trong hai nhóm này được chia
thành 15 loại đất: đất hình thành tại chỗ có 9 loại, đất phù sa có 6 loại Riêng đất
canh tác, theo thành phần cơ giói có 3 loại: đất cát pha thịt nhẹ, đất thịt trung bình
và đất thịt nặng
Đất đai vùng núi, đổi, gò Chí Linh bao gồm các loại đáng chú ý như sau:
+ Đất Feralit phát triển trên sa phiến thạch và phiến sét chiếm khoảng 70%
(20826 ha) phàn bố chủ yếu ở vùng núi thấp thuộc các xã: Hoàng Hoa Thám, Bắc
An, Cộng Hoà, Hoàng Tân, Hoàng Tiến, thành phần cơ giới chủ yếu là sét nhẹ Đây
là khu vực trổng vải cho năng suất cao nhất trong toàn huyện
+ Đất phù sa cổ chiếm khoảng 4,7% (1410ha) phân bố ở nơi bãi bàng và sườn
thoải chân đổi, gò thấp, tầng dầy từ 2 - 3m
+ Đất Feralit phát triển trên sa thạch chủ yếu là cát kết, sạn kết, cuội kết
chiếm khoảng 25% (7328 ha), phân bô' chủ yếu ờ vùng giáp đồng bằng Thành phần
cơ giới chủ yếu là cát Đất xấu, độ xói mòn rửa trôi mạnh Đây là nguyên nhản bổi
lấp hồ, đập chứa nước Do đó đến nay số hồ, đập của huyện chỉ còn phát huy tác
dụng được khoảng 30 - 40%
Nhìn chung đất đai Chí Linh là đất nghèo Lân, Kali, độ chua lớn Nhưng nếu
có biện pháp đầu tư thì vẫn có thể hạn chế được những yếu tố đó và tâng độ phì
nhiêu của đất, phù hợp cho việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ
Có thể nói rằng tài nguyên đất của Chí Linh khá phong phú, đất phù hợp với
trồng cây lâm nghiệp và đất trồng lúa vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là đất trồng
vải và nhãn Việc canh tác trên đất dốc và đất trũng ở đây đặt ra yêu cầu trong phát
triển Nhà nước phải đặc biệt chú ý đến việc áp dụng các biện pháp chống đất bị
thoái hoá, bạc màu, xói mòn ở vùng cao do các chất ố nhiễm tích tụ ở vùng trũng
3.1.7 Tài nguyên rừng.
Do nằm tiếp giáp với cánh cung Đông Triều với diện tích rừng khá lớn nên
huyện Chí Linh có nhiều rừng gỗ và dược liệu quý Hiện nay Chí Linh còn khá
nhiều diện tích rừng tự nhiên và rừng tái sinh tạo nên một vùng sinh thái mạng
Tiềm năng tài nguyên rừng ở đây không lớn song hiện đang bị biến đổi mạnh theo
hướng có hại cho sự tồn tại và phát triển của cả hệ động, thực vật trong rừng
Theo Hoàng Minh Khiên, Đặng Huy Phương thi:
loài thuộc 145 họ, 4 ngành thực vât bậc cao Tài nguyên thuc vàt phong phú vé số