1. Trang chủ
  2. » Địa lí lớp 10

Nghiên cứu đặc điểm tổ chức sử dụng đất của một số mô hình kinh tế trang trại khu vực miền núi phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn : Lấy ví dụ tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai

90 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 47,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 3: Nghiên cứu tổ chức sử dụng đất trong các mô hình KTTT huyện Bắc Hà... Loại trang trại này thường có quy mô lớn và nguồn lao động chủ yếu là thuê.[r]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN

TÊN ĐỀ TÀI:

'ỈGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM T ổ CHỨC s ử DỤNG ĐẤT CỦA MỘT s ố• • •

HÔ HÌNH KINH TẼ TRANG TRẠI KHU v ự c M lỂN NÚI PHỤC v ụ

PHÁT TRIỂN KINH TÊ NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN

(LẤY VÍ DỤ TẠI HUYỆN BẤC HÀ, TỈNH LÀO CAI)

MÃ SỐ: Q T - 01 - 48

CH Ủ T R Ì ĐÊ TÀI: ThS TH Á I THỊ Q UỲN H NH Ư

G VC NGUYỄN ĐỨC KHẢ

HÀ NÔI 2005

Trang 2

TÊN ĐỂ TÀI:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM T ổ CHỨC s ử DỤNG ĐẴT CỦA MỘT s ố MÔ

HÌNH KINH TẾ TRANG TRẠI KHU v ự c MIEN n ú i p h ụ c v ụ p h á t

TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN

(LÂY VÍ DỤ TẠI HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI)

CN Lê Thị Hồng

HÀ NỘI, 2005 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN

Trang 3

BÁO CÁO TÓM TẮT

Tên đề tài: N ghiên cứu đặc điểm tổ chức sử dụng đất của m ột sô mô hình kinh tê

rang trại khu vực miền núi phục vụ ph á t triển kinh tê nông nghiệp - nông thôn (lấy

’í dụ tại huyện Bắc Hà, tinh Lào Cai)

ỉ C h ủ trì đề tài: ThS Thái Thi Quỳnh Như

GVC Nguyễn Đức Khả( C á n bộ phối hợp: TS Trần Văn Tuấn

TS Trần Quốc BìnhThS Vũ Thị HoaThS Phạm Thị Phin

CN Lê Thị Hồng

ị M ục tiêu và nội dung nghiên cứu

ị.l Mục tiêu:

- Tổng hợp và đánh giá sự phát triển của kinh tế trang trại nói chung ở Việt Nam

- Đánh giá hiện trạng phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Lào Cai nói chung Bắc Hà nói riêng

- Phân loại các mô hình kinh tế trang trại theo đặc điểm sử dụng đất ở Bắc Hà

- Đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế trang trại ở vùng đồi núi

1.2 Nội dung:

- Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam

Trang 4

- Vai trò và vị trí của kinh tế trang trại trong phát triển kinh tế đất nước ở giai đoạn công nghiệp hóa.

- Đặc trưng của các mô hình kinh tế trang trại miền núi

- Hiện trạng phát triển kinh tế trang trại huyện Bắc Hà

- Phân loại các mô hình kinh tế trang trại ở Bắc Hà

- Tình hình sử dụng đất theo các mô hình kinh tế trang trại ở Bắc Hà

- Giải pháp thúc đẩy kinh tế trang trại ở vùng đồi núi

5 Các kết quả đạt được

- Đăng một bài báo ở tạp chí Quản lý đất đai - Cộng Hòa Liên Bang Nga

- Giúp chủ trì đề tài làm luận án tiến sĩ ở Matxcơva (2003 - 2005)

- Một báo cáo tổng hợp

) Tình hình kinh phí của đề tài

Tổng kinh phí: 17.000.000 đ Thực hiện trong ba năm: 2000 - 2003 Đã quyết toán xong với tài vụ

>CÁC NHÂN CỦA BAN CHỦ NHIÊM KHOA Đ ồ N G CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI

XÁC NHẬN CỦA TRUỒNG

Trang 5

1 P ro je c t title: Studying characteristics land use organizing o f farm econom ic models

m ountainous area for rural econom ic development o f Vietnam (case study: Laocai

province)

2 Project coordinators: MSc Thai Thi Quynh Nhu,

Sen Lee Nguyen Due Kha

3 Co-operative officials:

Dr Tran Van Tuan

Dr Tran Quoc Binh MSc Vu Thi Hoa MSc Pham Thi Phin BSc Le Thi Hong

4 O bjectives and contents

4.1 Objectives

- Analysing and assessing the development o f farm economics in Vietnam

- Assessing the developm ent o f farm economics in Laocai Province, particularly in Bac

Ha District

- Classifying farm econom ic models in Bac Ha District based on land-use characteristics

- Suggesting som e solutions for improving the development o f farm econom ics in

m ountainous areas o f Vietnam

4.2 Contents

- The process o f form ation and development o f farm economics in Vietnam

- The role and position o f farm economics in the economic developm ent process in the period o f industrialization o f Vietnam

- Specific characteristics o f farm economic models in m ountainous areas

- The state o f farm econom ics development in Bac Ha District

- The classification o f farm econom ic models in Bac Ha District

- Land-use situation by farm economic models in Bac Ha District

- Solutions for im proving the development o f farm economics in m ountainous areas of Vietnam

Trang 7

MỤC LỤC

Lời nói d ầ u 9

Chương 1: Vai trò và nhiệm vụ của trang trại trong quá trình phát triển nền kinh tê quốc d â n 11

1.1 Quá trình hình thành và phát triển trang trại 11

1.1.1 Khái niệm về trang trại 11

1.1.2 Các mô hình kinh tế trang tr ạ i 14

1.1.3 Xu hướng phát triển các mô hình trang trạ i 17

1.1.4 Trang trại ở một số nước trên thế giớ i 18

1.2 Nghiên cứu quá trình hình thành trang trại ở Việt N am 21

1.2.1 Các trang trại thời Lý - Trần 21

1.2.2 Các loại đồn điền phong k iế n 22

1.2.3 Các đồn điền thời P h á p 22

1.2.4 Các nông-lam trường quốc doanh sau Cách mạng Tháng 8 23

1.3 Đánh giá quá trình phát triển trang trại ở Việt Nam sau năm 199 3 24

1.4 Vai trò và vị trí của trang trại trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc doanh ở giai đoạn công nghiệp h ó a 36

Chương 2: Nghiên cứu kinh tẻ trang trại khu vực miền núi 41

2.1 Những đặc trưng cơ bản của các mô hình trang trại miền n ú i 41

2.2 Hiện trạng các mô hình trang trại tỉnh Lào C a i 43

2.3 Các yếu tố sản xuất cơ bản của kinh tế trang trại Lào Cai trong tương quan với các khu vực miền núi ở nước ta 46

Trang 8

2.3.1 Đất đ a i 46

2.3.2 Vốn và nguồn v ố n 47

2.3.3 Lao đ ộ n g 48

Chương 3: Nghiên cứu tổ chức sử dụng đất trong mô hình trang trại huyện Bắc H à 50 3.1 Điều kiện Tự nhiên - Kinh tế - Xã hội 50

3.1.1 Vị trí địa lý 50

3.1.2 Địa hình 50

3.1.3 Khí hậu, thủy v ă n 50

3.1.4 Tài nguyên rừng và khoáng sản 52

3.1.5 Tài nguyên du lịch và nhân v ăn 52

3.1.6 Đánh giá chung 53

3.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội Bắc H à 53

3.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế 53

3.2.2 Đánh giá tình hình sử dụng và biến động đất đ a i 59

3.3 Đánh giá tổng quan tình hình sử dụng đất trang trại của huyện Bắc H à 59

3.4 Đánh giá tiềm năng đất đai và định hướng sử dụng đất cho các mỏ hình trang trại đến năm 20 1 0 66

3.4.1 Tiềm năng đất đai và định hướng sử dụng đ ấ t 66

3.4.2 Phân tích các mô hình trang trại ở Bắc H à 70

3.5 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế trang trại vùng đồi n ú i 72

Kết lu ậ n 77

Tài liệu tham kh ảo 79 Mục lục

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

Trong giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp - nông thôn nói riêng, nước ta đã có những bước phát triển mới và dài trong công cuộc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn mà một lĩnh vực quan trọng nổi bật lên hiện nay là mô hình kinh tế trang trại (KTTT) KTTT đã thu hút một khối lượng lớn tiền vốn trong nhân dân và các tổ chức kinh doanh vốn của nhà nước; thu hút một lực lượng quan trọng lao động trong xã hội mà trước hết là lao động gia đình chủ trang trại; thúc đẩy mạnh

mẽ việc khai thác diện tích đất trống đổi núi trọc, diện tích hoang hóa vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản - hải sản, đổng thời KTTT cũng góp phần quan trọng đưa tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, thâm canh cao sản, định hướng cho nông dân vươn tới sản xuất hàng hóa nông nghiệp quy mô lớn

Tuy nhiên, trên con đường phát triển, đổi mới, trên cơ sở nền kinh tế thị trường KTTT đang còn ở gian đoạn ban đầu còn nhiều bất cập nẩy sinh ở cả các vấn đề lớn về chính sách, chế độ và thẩm quyển quản lý, trình độ quy hoạch mà trước hết là quy hoạch sử dụng đất đến

cả các vấn đề cụ thể như lao động, tiền vốn, hiệu quả sử dụng đất, trình độ, năng lực liên kết của chủ trang tr ạ i,

Việc nghiên cứu sử dụng đất của một số mô hình KTTT ở khu vực miền núi là một cách tiếp cận để phát hiện các bất hợp lý, các bất cập ở cả các điều kiện khách quan và chủ quan, nhằm hướng tới sự phát triển KTTT đạt hiệu quả cao, đúng hướng và đáp ứng được các tiêu chí chính của sản xuất nông nghiệp hàng hóa trong nền kinh tế thị trường ở giai đoạn công nghiệp hóa Đề tài cấp Đại học Quốc gia “Nghiên cứu đặc điểm tổ chức sử dụng đất của một

số mô hình kinh tế trang trại khu vực miền núi phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn” được chọn lấy thí dụ ở một huyện miền núi phía Bắc, xa và khó khăn là huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai là nhằm góp phần vạch ra một số đặc trưng trong sử dụng đất của các trang trại

Trang 10

miền núi và góp phần tìm các giải pháp hiệu quả để tiếp tục phát triển KTTT Sau nhiều năm

nỗ lực, đề tài đã được hoàn thành với báo cáo tổng hợp được cơ cấu thành 3 chương chính:Chương 1: Vai trò và nhiệm vụ của trang trại trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc

Chương 2: Nghiên cứu kinh tế trang trại khu vực miền núi

Chương 3: Nghiên cứu tổ chức sử dụng đất trong các mô hình KTTT huyện Bắc Hà

Do điều kiện khó khăn chung của các đề tài khoa học triển khai ở miền núi, do nguồn kinh phí hạn chế, do nguồn tài liệu điều tra và thống kê thiếu, không đồng bộ, nhóm tác giả thực hiện để tài đã gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình hoàn chinh báo cáo Mặc dù đã rất

nỗ lực, cố gắng, song báo cáo chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết, nhóm tác giả rất mong nhận được sự phê bình đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lý và các đồng nghiệp

Nhóm tác giả xin được bầy tỏ lòng biết ơn tới Ban Khoa học và Công nghệ Đại học Quốc gia, phòng Khoa học - Công nghệ trường ĐHKHTN, Khoa Địa lý, UBND huyện Bắc Hà, phòng Khoa học - Công nghệ và phòng Tài nguyên - Môi trường huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai

và đông đảo các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành báo cáo này

Hà Nội, tháng 05 năm 2005 CÁC TÁC GIẢ

Trang 11

C H Ư Ơ N G 1 VAI TRÒ VÀ NHIỆM v ụ CỦA TRANG TRẠI TRONG QUÁ TRÌNH

P H Á T T R IỂ N N Ề N K IN H TẾ Q U Ố C D Â N

1.1 Quá trình hình thành và phát triển trang trại ở Việt Nam và một sô nước

1.1.1 Khái niệm về trang trại

Trong lịch sử phát triển nền nông nghiệp của các nước trên thế giới, hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trên một diện tích rộng lớn, nhằm sản xuất ra một khối lượng sản phẩm mang tính chất hàng hoá đã xuất hiện từ rất lâu Việc canh tác trên những khu vực nhỏ, phân tán với lượng sản phẩm nhỏ thu được chỉ phục vụ cho nhu cầu của bản thân hoặc chỉ để trao đổi những hàng hoá thiết yếu Cùng với sự phát triển của xã hội, nhất là đối với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thì sản xuất theo hình thức cá thể như trước đã không còn phù hợp mà thay vào đó là hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung

Các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trong các hình thức sản xuất tư bản chủ nghĩa có những điểm chung chủ yếu sau:

+ Về mục đích sản xuất: Các hình thức sản xuất tập trung nói trên đều sản xuất ra khối lượng sản phẩm lớn hơn so với hình thức sản xuất nông nghiệp truyền thống phân tán trên những ruộng đất nhỏ Mục đích sản xuất là tạo ra khối lượng hàng hoá đủ lớn, phục vụ cho nhu cầu của thị trường, sản phẩm đã mang đầy đủ tính chất của một loại hàng hoá, và hàng hóa nông nghiệp cũng tuân theo quy luật cung cầu và các quy luật khác của nền kinh

tế thị trường

+ Về sở hữu: Trang trại có nhiều hình thức sở hữu khác nhau, sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể hoặc sở hữu tu nhân

+ Phương thức sản xuất: Kinh tế trang trại cũng hoàn toàn tuân theo các tác động

và chi phối của nền kinh tế thị trường, sự thay đổi lớn lao của quan hệ sản xuất xã hội đã tạo điều kiên và động lực mạnh mẽ thúc đẩy hình thức nông nghiệp tập trung chuyển lên

Trang 12

một trình độ mới, cao hơn Nhu cầu của xã hội cũng khiến mức đầu tư về kỹ thuật, kinh

tế, tổ chức của các trang trại cao hơn nhiều so với phương thức sản xuất nhỏ, phân tán

Để làm rõ khái niệm về trang trại, trước hết chúng ta cần phân biệt 2 thuật ngữ “trang trại” và “kinh tế trang trại” Kinh tế trang trại là nói đến mặt kinh tế của trang trại, là tổng thể các yếu tố vật chất của sản xuất và các quan hệ kinh tế nẩy sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động của trang trại; còn trang trại là nơi kết hợp các yếu tố vật chất của sản xuất và là chủ thể của các mối quan hệ kinh tế đó Hay nói một cách khác khái niệm

về trang trại rộng hơn khái niệm về kinh tế trang trại

Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở vì trang trại là đơn vị trực tiếp sản xuất

ra những sản phẩm vật chất cần thiết cho xã hội bao gồm nông, lâm, thuỷ sản, đồng thời quá trình kinh tế trong trang trại cũng là quá trình khép kín với các khâu của quá trình tái sản xuất luôn k ế tiếp nhau, bao gồm: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng

Các học giả trên thế giới khi nghiên cứư về kinh tế trang trại đã đưa ra những quan điểm sau đây:

Các Mác đã so sánh và phân biệt: Người chủ trang trại bán ra thị trường hầu hết sản phẩm làm ra , còn người tiểu nông thì tự dùng đại bộ phẩm sản phẩm sản xuất được, mua bán càng ít càng tôt

Ông cũng cho rằng trong sản xuất nông nghiệp, mô hình kinh tế trang trại có vai trò hết sức quan trọng và thường mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn: “ Ngay ở nước Anh với nền công nghiệp phát triển, hình thức sản xuất có lợi nhất không phải là các xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn m à là các trang trại gia đình dùng lao động làm thuê” [13 ].Theo tác giả Phạm M inh Đức (1997): “Trang trại là m ột loại hình sản xuất nông nghiệp hàng hoá của hộ, do m ột người chủ hộ có khả năng đón nhận những cơ hội thuận lợi, từ đó huy động thêm vốn và lao động, trang bị tư liệu sản xuất, lựa chọn công nghệ sản xuất thích hợp, tiến hành tổ chức sản xuất và dịch vụ những sản phẩm theo yêu cầu của thị trường nhằm thu được những lợi nhuận cao” [1 1 ]

Trang 13

Trần Đức (1998) cho rằng: “Trang trại là chủ lực của tổ chức là nông nghiệp của các

nước tư bản cũng như các nước đang phát triển và theo các nhà khoa học khẳng định đó

là tổ chức sản xuất kinh doanh của nhiều nước trên thế giới trong thập kỷ 21” [ 12 ]

Nguyền Thế Nhã (1999): “Trang trại là một hình thức sản xuất cơ sở trong nông,lâm, ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền

sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy

mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường” [ 3 ]

Nguyễn Phượng Vỹ (1999): “Trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế trong nông - lâm - ngư nghiệp phổ biến, được hình thành trên cơ sở kinh tế nhưng mang tính chất sản xuất hàng hoá ” [ 3 ]

Lê Trọng (2000) “Trang trại là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở, là doanh nghiệp trực tiếp tổ chức sản xuất ra nông sản hàng hoá dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động

xã hội, được chủ trại đầu tư vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầu hết sức lao động và trang

bị tư liệu sản xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường, được Nhà nước bảo hộ theo luật định” [ 3 ]

Có nhiều khái niệm khác nhau về trang trại nhưng chúng tôi thống nhất trên quan điểm của nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính Phủ cho rằng bản chất của trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nền nông nghiệp nông thôn chủ yếu dựa vào hộ gia đình Kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp hàng hoá (bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản) có quy mô (về đất đai, vốn, lao động, thu nhập) tương đối cao hơn mức trung bình của kinh tế hộ gia đình tại địa phương, tương ứng với từng ngành nghề cụ thể Không nên đề cập tới các hình thức huy động các nguồn lực (đất đai, lao động, vốn ) khi đưa ra khái niệm trang trại nhưng việc huy động và sử dụng các nguồn lực đó phải đảm bảo tính hợp pháp, được Nhà nước bảo hộ và các chủ trang trại phải tự chịu trách nhiệm trước việc huy động và sử dụng các nguồn lực đó Ngoài hoat động nông nghiệp thì các hoạt động khác như các ngành nghề dịch vụ cũng

Trang 14

cần được tính vào lĩnh vực và phạm vi hoạt động của trang trại để đảm bảo tính hệ thống của mô hình kinh tế này.

Từ những nhận thức trên, từ kinh nghiệm thực tiễn của trang trại nước ta cũng như các

nước trên thế giới, khái niệm trang trại có thể hiểu như sau: Trang trại là một hình thức tổ

chức kinh t ế nông, lâm, ngư nghiệp được hình thành trên cơ sở kinh t ế hộ nhưng mang tính chất sản xuất hàng hoá rõ rệt, cố sự tập trung tích tụ cao hơn về các yếu tô' sản xuất, có nhu cầu cao hơn về thị trường, về khoa học công nghệ, có giá trị, tỷ xuất hàng hoá và thu nhập cao hơn so với mức bình quân của các hộ gia đình trong vùng.

Trong điều kiện kinh tế thị trường, trang trại mang đầy đủ và thể hiện rõ nét những đặc điểm nêu trong khái niệm trên Tuy nhiên ở mỗi nước trong giai đoạn cụ thể, tuỳ theo điều kiện và trình độ phát triển mà những đặc điểm trên có thể biểu hiện ở những mức độ khác nhau Ở nước ta nền kinh tế nói chung, kinh tế nông nghiệp nói riêng đang trong giai đoạn chuyển từ tự cung tự cấp sang trình độ sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường Do vậy các đặc điểm của trang trại nêu trên cũng chưa được thể hiện rõ nét như ở các nước có trình độ sản xuất hàng hoá cao trong sản xuất nông nghiệp

1.1.2 Các mô hình kinh tế trang trại

Việc phân loại các loại hình trang trại phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khác nhau có mang tính chất quyết định đến hướng phát triển và quy mô của trang trại, qua nghiên cứu thực tế các nhà khoa học đã dựa trên các tiêu chí sau để phân loại trang trại:

- Phân loại theo cơ cấu thu nhập: là hình thức phổ biến thường được phân biệt theo thu nhập từ nông, lâm nghiệp là chủ yếu (trang trại thuần nông)

- Phân loại theo cơ cấu sử dụng đất đai: Cơ cấu sản xuất được xác định căn cứ vào điều kiện tự nhiên, trình độ sản xuất và đặc điểm thị trường của từng khu vực Theo cách phân loại này, có nhiều trang trại khác nhau mang tính chất kinh doanh tổng hợp: kết hợp nông nghiệp với tiểu thủ công nghiệp (các nước châu Á), nông nghiệp kết hợp với lâm nghiệp (các nước châu Âu), ơ các nước mà nông nghiệp phát triển đến trình độ cao như

Mỹ, Pháp, Anh, Đức thì cơ cấu sản xuất theo hướng chuyên môn hoá trong trồng trọt, chăn nuôi và cảnh quan sinh thái du lịch

Trang 15

- Phân loại theo hình thức quản lý: Phân theo loại này có trang trại gia đình, trang trại liên doanh và trang trại hợp doanh kiểu cổ phần.

- Phân loại theo hình thức sở hữu tư liệu sản xuất: đặc trưng chủ yếu của cách phân loại này là: người chủ trang trại có sở hữu toàn bộ hay 1 phần số tư liệu sản xuất từ đất đai, công cụ máy móc, lao động thường được xuất hiện ở Mỹ, Nhật

- Phân loại theo phương thức điều hành sản xuất: Đối với các nước có diện tích trang trại và quy mô sản xuất nhỏ thì chủ trang trại phần lớn là người trực tiếp quản lý, điều hành các công việc của trang trại gắn liền với nông thôn, gia đình Nhưng ở một số nước có nền nông nghiệp phát triển người chủ và gia đình không ở trong trang trại nhưng vẫn trực tiếp điều hành trang trại, điều hành trang trại theo kiểu thường xuyên hoặc định kỳ Cũng

có trường hợp người chủ trang trại thuê người khác điều hành quản lý

Hiện nay trên thế giới cũng như ở nước ta các mô hình trang trại được xây dựng dựa trên các tiêu chí đã liệt kê ở trên, tuy nhiên ở mỗi quốc gia việc lựa chọn cho mình mô hình phù hợp nhất còn phụ thuộc và điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng khu vực,

cò thể phân ra một số mô hình trang trại cơ bản sau:

- Trang trại gia đình: Đây là hình thức trang trại phổ biền nhất tại Việt Nam hiện nay cũng như hầu hết ở các nước thuộc khu vực châu Á VI quy mô trang trại thường nhỏ, hơn nữa

do phong tục, tập quán kinh doanh của người dân châu Á thường tập trung theo hệ thống những người cùng huyết thống mà chủ yếu là trong cùng một gia đình, đây là kiểu trang trại độc lập về sản xuất và kinh doanh, người chịu trách nhiệm quản lý là người có năng lực về chuyên môn, nhậy bén với nhu cầu của thị trường và có những am hiểu nhất định về kỹ thuật Thông thường, trong mô hình trang trại hộ gia đình, người quản lý là chủ hộ

- Trang trại liên doanh: Là loại trang trại được hình thành do vài trang trại hợp lai thành Những trang trại này thường có chung loại hình kinh doanh (cùng trồng một loại cây, hoặc nuôi cùng một loại con), có vị trí ở gần nhau với mục đích tăng thêm khả năng

về vốn và cơ sở vật chất để có thể cạnh tranh với các trang trại khác Ban quản lý và người lao động trong các loại trang trại này thường là người thân, cùng huyết thống, nói chung là những người trong cùng dòng tộc Hiện nay loại hình trang trai này đang phát

Trang 16

triển mạnh ở khu vực châu Á, ở Việt Nam do quỹ đất hẹp nên việc kết hợp các trang trại nhỏ thành 1 trang trại lớn đang được coi là một trong những phương án tối ưu vì có thể tận dụng tối đa mức đầu tư của Nhà nước.

- Trang trại hợp doanh theo cổ phần: Là loại trang trại được tổ chức theo 1 công ty

cổ phần, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm Loại trang trại này thường có quy mô lớn và nguồn lao động chủ yếu là thuê Sự khác biệt giữa trang trại hợp doanh gia đình và phi gia đình là cổ phần của trang trại hợp doanh gia đình không bán trên thị trường chứng khoán còn hợp doanh khác thì có bán trên thị trường chứng khoán Hình thức trang trại này hiện nay đã xuất hiện ở Việt Nam sau khi có luật đất đai năm 1993, một số nông trường của nhà nước (nông trường chè, cà phê, cao s u ) đã áp dụng hình thức cổ phần hoá m à cổ đông chính là nhân viên của nông trường, việc thuê đất của nông trường được áp dụng theo luật đất đai về thời hạn và các quy định khác Nông trường có trách nhiệm đầu tư về giống, kỹ thuật và đầu ra cho sản phẩm còn các cổ đông thì chụi trách nhiệm về m ặt chăm sóc theo đúng yêu cầu của các nhà chuyên môn

- Trang trại uỷ thác: Là loại hình mà chủ trang trại uỷ quyền sử dụng cho người khác theo từng vụ hay liên tục trong nhiều vụ khi họ trong một thời gian nào đó không có nhu cầu kinh doanh loại hình này mà vẫn muốn bảo toàn về đất đai và các cơ sở hạ tầng khác Đây cũng là một biện pháp tích cực vừa chống lãng phí đất, vừa có thể tạo thành những trang trại lớn mở rộng quy mô sản xuất

Đặc điểm cơ bản của sản xuất nông nghiệp khác với sản xuất công nghiệp là nó tác động vào sinh vật, bị phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, gặp nhiều rủi ro, do đó không phù hợp với hình thức sản xuất tập trung, quy mô lớn và việc sử dụng lao động tập trung chỉ đem lại hiệu quả kinh tế thấp Hiệu quả kinh tế của các mô hình trang trại trên thế giới và

ở Việt Nam chứng m inh rằng kinh doanh trang trại gia đình chiếm tỷ trọng lớn tuyệt đối

về đất canh tác cũng như khối lượng nông sản sản xuất ra

Các loại hình trang trại ở trên ngoài sự khác biệt về tính chất và quy mô sở hữu, còn

có sự khác nhau về tính chất và quy mô sử dụng lao động Trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường tất cả các loại hình trang trại trên đều cần được khuyến

Trang 17

khích phát triển ở nước ta, tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay cần ưu tiên phát triển kinh

tế trang trại gia đình hơn vì ở nước ta loại hình trang trại này là loại hình chủ yếu trong nông nghiệp, lại gần gũi với kinh tế nông hộ và là một con đường quan trọng để đưa kinh

tế nông hộ nước ta đi lên sản xuất hàng hoá và góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trong quá trình tiến lên của trang trại gia đình, nó không đối lập với kinh tế hợp tác

và kinh tế nhà nước; ngược lại, nó đòi hỏi phải tham gia vào quá trình hợp tác sản xuất bằng những hình thức phong phú và đa dạng, thực hiện liên kết, liên doanh giữa các tổ chức kinh tế nhằm tăng thêm năng lực sản xuất của bản thân Điều đó nói lên tính chất mềm dẻo của kinh tế trang trại có khả năng dung nạp các hình thức sở hữu khác nhau (từ

cá thể, đến tập thể và quốc doanh), các quy mô sản xuất khác nhau (từ nhỏ đến lớn), các trình độ khoa học công nghệ khác nhau (từ thô sơ đến hiện đại) Những đặc trưng trên đã làm cho trang trại gia đình trở thành một tổ chức sản xuất hàng hoá có khả năng thích ứng trước những biến động của thời tiết cũng như của thị trường để đạt tới m ột chi phí sản xuất thấp và hiệu quả kinh tế cao Với ưu thế đó, trang trại gia đinh có khả năng điều chỉnh một cách linh hoạt cơ cấu sản xuất, cơ cấu sản phẩm và cơ cấu kinh doanh để đáp ứng những đòi hỏi về thị hiếu của người tiêu dùng và tạo ra lợi thế cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường

1.1.3 Xu hướng ph át triển các mô hình trang trại

Hiện nay các mô hình trang trại ngày càng khẳng định vai trò của chúng trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân Hiệu quả mà kinh tế trang trại m ang lại đã đóng góp một phần không nhỏ trong nguồn thu kinh tế của nhà nước Tuỳ từng khu vực, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội mà xây dựng cho địa phương mình những mô hình trang trại hợp lý, mang lại hiệu quả kinh tế cao và góp phần bảo vệ môi trường

Đối với các vùng đồng bằng: Với diện tích đất canh tác không lớn trong khi đó dân cư

lai đông, diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp bình quân trên đầu ngưồi thấp nên quy

mô trang trại vùng này thường nhỏ, nhưng mô hình trang tại ở các khu vực này thường rất

đa dạng và phong phú Các trang tại thường kết hợp theo hướng kinh doanh tổng hợp vừa trồng trọt vừa chăn nuôi Do những vùng này có điều kiện tự nhiên và xã hội tương đối

Trang 18

phát triển: thị trường tiêu thụ rộng lớn, sự vận chuyển, đi lại dễ dàng nên các sản phẩm

thường bán tươi không qua ch ế biến Tuy nhiên do yêu cầu của sản xuất và thị trường

hiện nay cũng đã xuất hiện những cơ sở sản xuất chế biến nhằm đáp ứng nhu cầu xuất

khẩu, hoặc sản phẩm có thời gian sử dụng lâu hơn như vải, nhãn, dứa, mít sấy khô hoặc

đóng hộp, dưa chuột, cà chua muối đã mang lại hiệu quả kinh tế cao và mở rộng thị

trường tiêu thụ

Đối với vùng ven biển: Đặc điểm tự nhiên vùng này là diện tích đất canh tác thấp, tính

chất thổ nhưỡng của đất thường bị mặn hoặc lợ vì vậy cây trổng thường cho năng xuất

thấp và có ít chủng loại cây thích hợp với những loại đất này Trong những năm gần đây

vùng này có xu hướng phát triển nhiêu mô hình trang trại nuôi trồng thuỷ sản nước mặn,

nước lợ cho thu nhập rất cao có thị trường tiêu thụ rất lớn cả trong nước và xuất khẩu

Đối với vùng đồi núi\ Vùng này thường có diện tích đất rộng, tỷ lệ đất lâm nghiệp lớn,

vì vậy các trang tại lâm nghiệp, chăn nuôi và cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm phát

triển rất nhanh Diện tích các trang trại cây lâm nghiệp và cây công nghiệp thường lớn,

các trang trại cây ăn quả có diện tích nhỏ hơn nhưng thường lại cho thu nhập cao hơn

Trong những năm gần đây, một loại mô hình trang trại mới xuất hiện tại những khu vực

có cảnh quan đẹp, hoặc khí hậu ôn hoà có khả năng phát triển du lịch sinh thái nên một

số trang trại thường phát triển theo hướng vườn cây kết hợp với du lịch sinh thái

1.1.4 Trang trại ở một s ố nước trên th ế giới

Trên thế giới, trang trại đã được hình thành và phát triển từ hơn 2 thế kỷ nay và

giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia Tuy nhiên, tuỳ điều kịên

và đặc điểm của từng nước m à số lượng và quy mô của các trang trại có sự khác nhau

Qua nghiên cứu có thể rút ra m ột số bài học kinh nghiệm về phát triển kinh tế trang trại

trên thế giới như sau:

* Thời kỳ bắt đầu công nghiệp hoá số lượng trang trại nhiều, quy mô nhỏ, khi công nghiệp phát triển đến trình độ cao thì số lượng trang trại giảm nhưng quy mô lại

tăng Trang trại có thể và có điều kiện phát triển ở hầu hết các lĩnh vực sản xuất nông,

lâm, ngư nghiệp và ở tất cả các vùng khác nhau của lãnh thổ như đổi núi, đổng bằng, ven

biển ở hầu hết các nước, trang trại là hình thức tổ chức sản xuất giữ vị trí xung kích

Trang 19

trong qua trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn và trở thành lực lượng chủ lực khi nền kinh tế phát triển đến giai đoạn cao.

* Trang trại có thể phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau như tư bản tư nhân,

cổ phần, liên doanh, uỷ th á c , tuy nhiên trang trại gia đình vẫn là loại hình thức thích hợp, phổ biến nhất (trang trại gia đình chiếm tới 80-90% tổng số trang trại trên thế giới)

* Hầu hết các trang trại đều sử dụng lao động gia đình là chủ yếu, ngoài ra còn có thể thuê mướn thêm lao động bên ngoài theo yêu cầu của sản xuất kinh doanh

* Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại không hoàn toàn phụ thuộc vào quy mô đất đai, lao động vì năng xuất, chất lượng của sản phẩm còn chịu ảnh hưởng rất lớn của việc áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới cũng như trình độ năng lực tổ chức quản lý của chủ trang trại

* Vốn kinh doanh trong trang trại được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau ngoài nguồn vốn tự có, chủ trang trại còn có thể huy động thêm từ nhiều nguồn vốn khác như vay tín dụng ngân hàng, vay tư nhân, liên doanh, liên k ế t

* Trong nền kinh tế thị trường, các trang trại còn có thể hợp tác, liên kết với nhau

để thực hiện các khâu công việc trong quá trình sản xuất, mua bán vật tư, nguyên liệu hoặc tiêu thụ sản phẩm

* Vai trò của Chính phủ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình hình thành

và phát triển của các trang trại thông qua các chính sách vĩ mô như chính sách giá cả, thị trường, chính sách th u ế

B ảng 1 Sỏ lượng, d iện tích và quy mồ tra n g trạ i tại m ột số nước ch âu Á

Trang 20

Bảng 2 Số lượng, diện tích và quy mô trang trại tại một số nước châu Âu

Qua nghiên cứu quá trình phát triển trang trại ở một số nước và qua số liệu thể hiện tại bảng 1 và 2 ta nhận thấy xu hướng phát triển trang trại của các nước có nhiều điểm khác nhau:

Đối với các nước có nền công nghiệp phát triển thì số lượng trang trại có xu hướng giảm nhưng diện tích lại tăng lên: Mỹ giảm từ 5.648.000 trang trại năm 1950 còn1.925.000 trang trại năm 1992 nhưng diện tích lại tăng từ 86 ha năm 1950 lên 198,7 ha năm 1992 Các nước khác như Anh, Pháp, Đức, Hà Lan thì xu hướng phát triển cũng tương tự, số lượng trang trại giảm trong vòng 50 năm qua ở mức 2,6 - 2,1 % / năm và diện tích tăng ở mức 2% / năm Tuy số lượng giảm nhưng kinh tế trang trại tại những nước này cũng góp phần không nhỏ trong nguồn thu của kinh tế Quốc dân

Tuy là nước ở châu Á, diện tích đất nhỏ nhưng Nhật Bản là nước có kinh tế trang trại phát triển vào bậc nhất châu Á 6.176.000 năm 1950 và 3.691.000 năm 1993, giảm 2,1%, diện tích đất trung bình trong mỗi trang trại cũng tuân theo quy luật chung 0,8 ha/ trang trại năm 1950 và 1,38 ha/ trang trại năm 1993 tăng 1,3% Đài Loan và Hàn Quốc là 2

Trang 21

nước có diện tích bình quân mỗi trang trại không lớn vì diộn tích đất tự nhiên nhỏ, vì vậy tuy số lượng trang trại giảm từ 744.000 trang trại năm 1955 xuống 739.000 năm 1988 ở Đài Loan và từ 2.249.000 trang trại năm 1953 xuống 1.172.000 ở Hàn Quốc nhưng quy

mô mỗi trang trại cũng không tăng nhiều lắm 0,20 % ở Đài Loan và 0,90 % tại Hàn

Quốc

1.2 Nghiên cứu quá trình hỉnh thành trang trại ở Việt Nam

Ở Viột Nam các điền trang, thái ấp đã xuất hiện từ thời Lý - Trần, đến các đồn điền thời Lê, thời Nguyễn và thời Pháp thuộc Các ấp trại và các nông, lâm trường quốc doanh của Việt Nam dân chủ cộng hoà, các hợp tác xã từ đầu thập kỷ 60 đến cuối thập kỷ 80, ngoài ra còn phải kể đến các hộ kinh tế tiểu nông mà thời nào cũng có

1.2.1 Các trang trại thời L ý -Trần

Nhà Lý rồi tiếp đến nhà Trần đã đóng vai trò tích cực trong lịch sử nước ta, nhiều chủ chương, chính sách kinh tế như bán công điền thành tư điền, ban cấp thái ấp, cho phép vương hầu, tôn thất lập điền trang Đ ều có ý nghĩa qua trọng trong việc xác lập nhanh chóng các thế lực qúi tộc và địa chủ phong kiến

Chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất là cơ sở kinh tế cho chế độ chuyên chế tập trung dưới thời Lý - Trần Bên cạnh ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước, do nhà nước trực tiếpquản lý, còn có ruộng đất công của làng xã, loại này cũng thuộc sỏ hữu của Nhà nước(đồng sở hữu) Làng xã lúc bấy giờ có nhiều ruộng công, năm 1254, triều đình ra lệnh công khai bán ruộng công thành ruộng tư Ruộng đất tư nhân thường có thái ấp, điền trang, ruộng đất của nhà chùa, ruộng đất tư hữu của địa chủ, ruộng đất của tiểu nông.Chính sách ban cấp ruộng đất và bổng lộc của nhà Trần được thi hành dưới hình thức tiêu biểu nhất là thái ấp Thái ấp là chính sách kinh tế quan trọng nhất của nhà Trần nhằm tạo ra cơ sở xá hội cho chế độ phong kiến Theo những tại liệu còn lại thì quy mô thái ấp bằng khoảng 1/2 làng, về lực lượng lao động thì phần lớn là gia nô Tuy nhiên thái ấp rấtphân tán, nằm giữa vùng ruộng đất công thuộc sở hữu nhà nước, ở nước ta thái ấp chí

Trang 22

chiếm một diện tích nhỏ so với ruộng đất và dân cư trong cả nước, nó không có khả năng tạo ra một mối liên kết kinh tế xã hội riêng biệt, đối lập với triều đình.

Điền trang được hình thành và phát triển từ thế kỷ thứ XI, năm 1266, nhà Trần quyết định “cho các vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập những người siêu tán không có sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn ruộng hoang làm điền trang” Nhờ quyết định đó, diện tích canh tác được mở rộng, thế lực của quý tộc được củng cố Cuối thế kỷ XIV, tổng diện tích điền trang có thể đã chiếm một tỷ lệ quan trọng trong tổng diện tích của nhà nước và đó là lý do Hồ Quý Ly đặt ra chính sách “hạn danh điền” , thực chất là hạn chế quyền sở hữu về ruộng đất

Ngoài ra thời Lý-Trần còn tham gia tích cực vào việc dựng chùa , đúc chuông, tô tượng để nuôi số sư tăng, thiện nam tín nữ và đua nhau bỏ tiền, cúng khá nhiều ruộng đất cho nhà chùa Nhà chùa trở thành địa chủ lớn, số ruộng đất cúng tặng cho nhà chùa biến thành một loại tài sản tư hữu thực sự của nhà chùa

1.2.2 Các loại đồn điển phon g kiến

Quá trình hình thành các đồn điền đã xuất hiện từ thời Lý - Trần, tuy nhiên mãi đến triều Lê Thánh Tông mới chính thức mở rộng quy mô, thành lập các sở đồn điền nhằm mục đích phát triển sản xuất nông nghiệp và tăng cường việc cung cấp lương thực Ruộng đất ở các sở đồn điền thuộc sở hữu và quản lý trực tiếp của nhà nước trung ương, không ban cấp đồn điền cho quan lại

Qua mấy thế kỷ, đặc biệt là thế kỷ XIX, đồn điền đóng vai trò quan trọng về các mặt kinh tế, quân sự, chính trị và xã hội Khi thức dân Pháp sang xàm lược Nam Kỳ, chính những người dân đồn điền đã nổi dậy cầm vũ khí chống Pháp, đồn điền là nơi đã nẩy sinh

ra những chiến sỹ và cấp chỉ huy cho các cuộc khởi nghĩa Trương Định, Thủ Khoa Huân, chính vì tinh thần chiến đấu của các dân đồn điền mà thực dân Pháp đã ra lệnh bãi bỏ chế

Trang 23

Năm 1930, tổng diện tích đồn điền trồng lúa là 28,5 vạn ha, chủ đồn điền dùng hình thức phát canh thu tô cho chính những hộ nông dân m à chúng đã cướp đoạt ruộng đất của

họ Thời kỳ này phương thức canh tác còn lạc hậu, nông cụ thô sơ, ruộng đất còn manh mún vì vậy thu nhập từ trang trại trồng lúa không cao Những đồn điền trồng cây công nghiệp tại các vùng đất xám và đỏ thuộc miền Đông Nam Kỳ phát triển tương đối nhanh, bọn chủ đồn điền đưa vào hệ thống canh tác một số cây trồng mới, bắt đầu dùng máy móc và một số hệ thống canh tác tiến bộ, về kỹ thuật và chế biến sản phẩm Tuy nhiên với thủ đoạn chủ yếu để bòn rút lợi nhuận tối đa và chế độ thi hành lao động khổ sai đối với hàng vạn phu đồn điền, vì thế sản lượng chỉ bằng 1,2% giá trị sản lượng lúa Chăn nuôi cũng được chú ý nhằm tăng sức kéo, thực phẩm và phân bón

Nhưng trong bối cảnh của nền sản xuất lúc bấy giờ đường lối của thực dân Pháp trước sau vẫn không thay đổi là sử dụng giai cấp địa chủ phong kiến làm chỗ dựa cho chế độ thuộc địa, các chế độ bóc lột đa dạng làm cho nông dân lao động ngày càng bị phá sản , ruộng đất ngày càng tập trung vào tay địa chủ Cho đến trước cách mạng tháng Tám năm

1945, giai cấp địa chủ chỉ bằng 9% số chủ ruộng của cả nước nhưng lại chiếm trên 50%

diện tích đất canh tác

1.2.4 Các nông, lâm trường quốc doanh sau Cách mạng Tháng Tám

Từ Cách m ạng Tháng 8 - 1945 đến năm 1975: ở m iền Nam các loại đồn điền Tư bản thực dân tồn tại ở những vùng địch tạm chiếm Ở vùng giải phóng đồn điền của thưc dân Pháp và địa chủ phản động được đem chia cho nông dân không ruộng và chuyển một số thành cơ sở sản xuất nông nghiệp của Nhà nước

Sau giải phóng miền Nam, những đồn điền trang trại kiểu TBCN đã được Nhà nước tịch thu và chuyển thành những nông trường Quốc doanh Tuy nhiên việc áp dụng mô hình xây dựng nền kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng mang nặng tính kế hoạch tập trung , chỉ có 2 hình thức chủ yếu là Hợp tác xã nông nghiệp và Nông trường Quốc doanh đã bộc lộ những khuyết điểm cần được sủa chữa Năng xuất đất đai và năng xuất lao động thấp do cơ chế quản lý cũ, không đem lại hiệu quả kinh tế cao Hiệu quả sử dụno đồnơ vốn thấp, bình quân hộ số sinh lợi của của vốn cố định là 5%

Trang 24

Vốn thiếu nhưng đất đai lại thừa, trong các nông trường còn khoảng 200.000 đến300.000 ha đất chưa sử dụng Phương hướng sản xuất của nhiều nông trường không rõ ràng hoặc quy hoạch không sát đúng Muốn thoát khỏi khó khăn nông trường phải thay đổi cơ cấu cho phù hợp với lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế và đáp ứng với nhu cầu của thị trường.

Trong quá trình đổi mới nhiều mô hình mới xuất hiện trên các vùng và trong các ngành hàng hoá khác nhau Các mô hình này đã áp dụng rộng rãi các hình thức khoán đến các hộ công, nhân viên và các gia đình ngoại nông trường, tiến hành thử nghiệm việc giao quyển sử dụng ổn định lâu dài đất đai Có thể nói việc ra đời của luật đất đai năm

1993 và các chính sách khác có liên quan đã mở ra một trang mới cho lịch sử phát triển nông nghiệp nói chung và các mô hình trang trại nói riêng

1.3 Đánh giá quá trình p h á t triển trang trại sau năm 1993

Quá trình phát triển nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam trước năm 1988 có mối quan

hệ mật thiết đến quá trình hình thành và phát triển hình thức sản xuất nông nghiệp tập

trung hợp tác xã Cho đến trước năm 1975, 97,4 % các mô hình sản xuất nông nghiệp đã

trở thành các hợp tác xã nông nghiệp với quy mô lớn và chiếm đến 90% diện tích đất nông nghiệp Trong các hợp tác xã nông nghiệp, nhà nước là chủ sở hữu về đất đai và các

tư liệu sản xuất khác Các hợp tác xã nông nghiệp thường có quy mồ từ 200 đến 500 ha đối với khu vực đồng bằng và đối với các khu vực miền núi thì quy mô về diện tích thường lớn gấp 3, 4 lần

Cùng vói sự phát triển của các nông trường của Nhà nước, các hợp tác xã nông nghiệp

đã trở thành những đối tượng sử dụng đất cơ bản trong kinh tế nồng nghiệp Vào năm 1980 sau giải phóng, ở các tỉnh phía Nam đã có 2689 các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp và

11530 các tổ sản xuất nhỏ Diện tích trung bình của các hợp tác xã là 312 ha, gồm khoảng

520 gia đình nông nghiệp Tuy nhiên việc áp dụng các mô hình xây dựng nền kinh tế nồng nghiệp mang nặng tính k ế hoạch, tập trung - chỉ có 2 hình thức chủ yếu là nông trường Quốc doanh và hợp tác xã nông nghiệp nên đã bộc lộ những khiếm khuyết sau:

1 Tiền công lao động được tính theo ngày công lao động chứ không được tính theo sản phẩm, vì vậy không thúc đẩy được năng xuất lao động

Trang 25

2 Trình độ lãnh đạo yếu kém đã gây ra nhiều sai lệch trong quản lý cũng như chỉ đạo sản xuất dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng.

3 Việc cho người dân thuê đất trong thời gian ngắn đã kiến mức đầu tư cho đất kém ngược lai người dân sử dụng đất với mục đích “vắt kiệt” độ phì của đất làm cho đất nhanh bạc mầu và thoái hoá

Để khắc phục những nhược điểm của nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, từ đại hội VI (12/1986) với mục tiêu “nền kinh tế nhiều thành phần” và “gia đình xã viên trở thành những đơn vị kinh tế tự chủ” nhà nước đã tiến hành một loạt những thay đổi về sử dụng đất mà cụ thể là một số những văn bản sau có liên quan đến quá trình sủ dụng đất nói chung và sử dụng đất trong mô hình trang trại nói riêng:

+ Nghị quyết sô' 10-NQ/TƯ ngày 5/4/1988 của Bộ Chính Trị về “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”

+ Luật đất đai được thông qua ngày 14/7/1993

+ Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của CP ban hành “Quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp”

+ Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp được Quốc hội thông qua ngày 10/7/1993.+ Nghị định số 74/ CP ngày 25/10/1993 của Chính phủ “Quy định chi tiết thi hành luật thuế sử dụng đất nông nghiệp”

+ Luật sửa đổi, bổ xung một số điều của luật đất đai được quốc hội thông qua ngày 02/12/1998

+ Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28/8/1999 của CP về sử đổi, bổứung một số điều của bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài và mục đích sản xuất nông nghiệp

+ Nghị định số 163/1999/ NĐ-CP ngày 16/11/1999 của CP về “ giao đất, cho thuê đất làm lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp”

Trang 26

+ Nghị quyết của CP về kinh tế trang trại số 03/2000/ NQ-CP ngày 02/2/2000, đã nêu rõ quan điểm và các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại nên kinh tế trang trại tại các địa phương đã có sự chuyển biến lớn , nhiều trang trại mới được hình thành và các chủ trang trại đã yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, tích tụ thêm đất đai, thu hút lao động, nâng cao trình độ kỹ thuật và năng lực quản lý, tạo thêm nguồn vốn đầu tư cho việc phát triển sản xuất.

+ Nghị quyết hội nghị ban BCHTW Đảng lần thứ năm khoá IX ngày 18/3/2002 [1] nêu rõ ”Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế hộ, kinh tế trang trại phát triển sản xuất hàng hoá với quy mô ngày càng lớn” Nghị quyết của BCHTW Đảng lần thứ 7 khoá IX về đổi mới chính sách đất đai [1] trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã nhấn mạnh vai trò của phát triển kinh tế trang trại trong việc phát triển thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn

Trên cơ sở các nghị quyết, chính sách của Chính phủ ban hành, một số tỉnh đã vận dụng và chủ động ban hành một số chính sách cụ thể phù hợp với tình hình của địa phương nhằm tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho kinh tế trang trại phát triển, cụ thể như:

- Đã chỉ đạo các ngành, các cấp ở địa phương tiến hành điều tra, phân loại, xác định số lượng và loại hình trang trại để nhận định, đánh giá hiệu quả của trang trại từ đó

có định hướng sử dụng đất nông, lâm nghiệp một cách có hiệu quả với mục đích phát triển trang trại trên địa bàn huyện, tỉnh

- Các tỉnh, thành phố đã tích cực chỉ đạo xây dựng quy hoạch phát triển trang trại gắn liền với quy hoạch phát triển kinh tế trang trại của địa phương đến năm 2010 hoặc 2015

- Cùng với việc triển khai các Nghị quyết của CP về trang trại, với nhiều hình thức

và bằng các phương pháp khác nhau như thông tin, tuyên truyền đến các tầng lớp nhân dân, nhất là đến với các chủ trang trại Nhiều địa phương đã tổ chức tập huấn kỹ thuật nông, lâm nghiệp; tổ chức bồi dưỡng ngắn hạn về tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh trang trại, tổ chức tham quan thực tập trong và ngoài nước cho các chủ trang trại

Trang 27

Theo số liệu điều tra của Bộ NN&PTNT, hiện nay cả nước có 60716 trang trại, tập

trung chủ yếu ở các tỉnh Đ ồng Bằng Sông Cửu Long 31,6% và nơi có số liệu trang trại ít

nhất là Đồng Bằng Sông Hồng (4,7%) Số liệu cụ thể được thể hiện ở bảng 3

Bảng 3 Số lượng và diện tích các trang trại qua 1 số năm

Số trang trại 5125 13246 90167 52554 55852 60761Diện tích (ha) 22946 58282 396282 - - 369.549

Nguồn Bộ Nông nghiệp-Phát triển Nông thôn 2003 [3 Ị

Qua số liệu thống kê ở bảng 3 chúng ta thấy năm 1989 số lượng trang trại trên cả nước chỉ có 5125 trang trại, nhưng chỉ sau có 3 năm số lượng trang trại đã lên tới 13246, gấp 2.3 lần so với năm 1989 Đến năm 1999 sau khi có các Nghị quyết về việc giao đất nông nghiệp (năm 1993) và đất lâm nghiệp (năm 1999) cho các hộ gia đình sử dụng ổn định và lâu dài, số lượng trai trại đã tăng nhanh một cách đáng kể, gấp 6,8 lần so với năm

1992 và 17.6 lần so với năm 1989 Cùng với việc tăng số lượng thì việc diện tích của các trang trại cũng tăng lên đáng kể Trong thời gian từ 1989 đến 1992, đã tăng từ 22.946 ha lên 58.282 ha, đến năm 1999 tăng đến 396.282 ha gấp 6,81 lần so với năm 1992 và 17,29 lần so với năm 1989 Năm 2002 cả nước có 60.761 trang trại, tăng 4.909 trang trại so với năm 2001 và 8.207 trang trại so với năm 2000

Nguyên nhân chủ yếu khiến số lượng trang trại năm 2000 giảm so với năm 1999 là việc Chính phủ ban hành Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP về kinh tế trang trại [3] và thông

tư liên tịch số 69/2000nTL T/B N N -TC T K , ngày 23/6/2000 của Bộ NN&PTNT và TCTK: Hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại, trong đó quy định rõ điều kiện về đất đai, về nguồn thu Đã có nhiều trang trại không đáp ứng được những tiêu chí đã đề ra, tuy nhiên việc quy định những tiêu chí trên cũng còn nhiều điều bất cập VI diện tích đất nông nghiệp của nước ta nhỏ, có nhiều trang trại nếu tính theo diện tích thì không đủ so với quy định nhưng doanh thu hàng nãm lại vượt so VỚI chỉ tiêu đề ra, điều này khiến cho các trang trại phải chịu thiệt thòi trong việc nhận được sự đầu tư của Nhà nước để phát triển kinh tế trang trại của mình

Trang 28

Bảng 4 Tình hình sử dụng đất đai của trang trại trong cả nước năm 2002

Đơn vị: ha, %

Loại đ ấ t C ả nước

(*)

T ra n g trạ i(**)

So sán h

1 Diện tích đất nông nghiệp 9.406.783 300.353 3,19

- Đất trồng cây hàng nãm 5.977.614 137.715 2,30

- Đất trồng cây lâu nãm + cây ăn quả 1.990.530 96.081 4,83

- Đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 553.393 66.458 12,01

2 Đất lâm nghiệp có rừng trồng 2.036.758 69.295 3,40

Nguồn: (*): Tổng cục Địa chính, (**): Bộ N N & P T N T

Theo số liệu tại bảng 4, hiện nay diện tích đất nông,lâm nghiệp của các trang trại trong cả nước đang sử dụng thống kê được là 369.549 ha, tăng 90.848 ha so với năm

2001 (278.701 ha) và tăng 107.305 ha so với năm 2000 (262.244 ha)

Diện tích đất nông, lâm nghiệp của các trang trại cả nước chiếm 3,23% so với diện tích đất nông, lâm nghiệp cả nước Trong đó diện tích đất trồng cây hàng năm chiếm chiếm 3,19% so với diện tích đất cây hàng năm cả nước, diện tích đất trồng cây lâu năm

và cây ăn quả chiếm 2,30% so với diện tích đất trồng cây lâu năm và cây ăn quả cả nước, diện tích đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản chiếm 12,01% so với diện tích đất m ặt nước nuôi trổng thuỷ sản cả nước Diện tích đất của các trang trại lâm nghiệp có rừng trồng chỉ chiếm 3,40% diện tích đất lâm nghiệp có rừng trổng cả nước, điều này mở ra 1 hướng đi mới cho kinh tế trang trại vùng đổi núi nhằm tận dụng hết khả năng đất đai của tự nhiên, phát triển các mô hình kinh tế trang trại cây lâm nghiệp và cây ăn quả

Trên cở sở đất đai được giao, vốn tự có kết hợp với sức lao động của gia đình hoặc thuê thêm lao động, các chủ trang trại đã lựa chọn hướng kinh doanh sản xuất hàng hoá trên cơ sở phát triển chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổng hợp với phương châm lấy ngắn nuôi dài, khai thác tổng hợp các tiềm năng sẵn có để có thể phát triển kinh tế,

Trang 29

định hình sản xuất mô hình trang trại Các hướng hoạt động chủ yếu của các trang trại là nông nghiệp bao gồm cây lương thực như lúa hoặc cây hàng năm như mía, cây ăn quả như vải, nhãn, na, m ận cây công nghiệp như chè, cà phê, cao su và nuôi trồng thuỷ sản được thể hiện qua bảng 5.

Việc phân bố số lượng các trang trại theo các vùng lãnh thổ cũng phản ánh đúng thực trạng của quá trình sản xuất nông nghiệp ở nước ta Các tỉnh m iền Đông Nam bộ và Đồng Bằng Sông Cửu long có số lượng trang trại nhiều nhất 31140 và 12703 đa phần là trang trại trồng cây hàng năm, cây ăn quả Đối với khu vực Đ ồng Bằng Sông Cửu Long

do có diện tích đất mặt nước lớn nên các trang trại nuôi trồng thuỷ sản chiếm đến 57,13%

số trang trại của vùng (17789 trang trại) Tiếp đến là khu vực Tây Nguyên với 6028 trang trại , chủ yếu là trang trại cây lâu năm và các loại cây công nghiệp như chè, cà phê, cao

su, hồ tiêu

Khu vực Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ do điều kiện tự nhiên có đường bờ biển dài nên ở đây các trang trại nuôi trồng thuỷ sản (nước mặn và nước lợ) chiếm phần lớn, tuy nhiên đối với Bắc Trung Bộ thì diện tích rừng cũng khá lớn nên các trang trại lâm nghiệp chiếm tới 30,36% vì diện tích đất đồi núi ở các tỉnh phía Bắc khá lớn Do đặc điểm địa hình của lãnh thổ cho nên khu vực vùng Tây Bắc số lượng trang trại ít nhất chủ yếu tập trung vào các trang trại cây lâu năm (30,39%) Đồng bằng sông Hồng có 1829 trang trại, các trang trại nuôi trồng thuỷ sản chiếm phần lớn 56,21% Vùng đông Bắc có 2987 trang trại tập trung ở các mô hình trang trại trồng cây lâu năm và trang trại lâm nghiệp

Qua số liệu chúng ta cũng nhận thấy các trang trại trồng cây hàng năm vẫn chiếm số lượng nhiều nhất 21798 (35,87% ), tiếp đến là các trang trại cây lâu năm và nuôi trồng thuỷ sản Mô hình trang trại lâm nghiệp và sản xuất - kinh doanh tổng hợp chiếm sỏ' lượng ít nhất 2,68% và 3,30% , điều này cũng m ở ra 1 hướng đi mới cho các mô hình trang trại của nước ta nhằm phát triển ngành lâm nghiệp và các trang trại khác vừa sản xuất, vừa kinh doanh, chế biến sản phẩm hoặc, dịch vụ

Trang 30

Bảng 5 Sô lượng và loại hình sử dụng đất của trang trại cả nước

T rang trại trồng cây LN

Trang trại chăn nuôi

T rang trại lảm nghiệp

Trang trại nuôi trồng TS

TKSố

Trang 31

Diộn tích của các trang trại cũng phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện tự nhiên, kinh

tế xã hội của từng khu vực, tuy nhiên hướng sản xuất cũng có ảnh hưởng lớn đến quy mô của trang trại Việc lựa chọn diện tích hợp lý cho các mô hình trang trại khác nhau cũng mang lại cũng mang lại hiệu quả kinh tế khác nhau vì nó ảnh hưởng đến các chi phí về sản xuất, đầu tư, lao động Diện tích các trang trại phân theo hướng sản xuất được thê hiện ở bảng 6

Bảng 6 Diện tích trang trại theo hướng sản xuất

đơn vị tính: ha

Các loại đất

Lươngthực

Cây ăn quả

Lâmnghiệp

Chãnnuôi

NTthuỷsản

Cácloạikhác

Đất ở 0.084 0,067 0.045 CỊ038 0,047 0.079

Đ ất cây hàng năm 4,645 0,357 0.669 0 J 8 0 0.435 0,633 Đất cây công nghiệp 0,345 0.680 0.636 0,119 0,023 1,254 Đất cãy lâu năm 0,285 3,619 0,338 0,293 0,244 0.168 Cây phục vụ chăn nuôi 0,012 0.0 ỉ 0 0.033 1,175 0.002 0.029 Đất rừng 1,059 1,367 ỉ 8,410 0,681 ỉ 080 0,236 Đất mặt nước 0,149 0,076 0.242 0.035 7,385 0,234

Nguồn Bộ N ông nghiệp-Phát triển Nông thôn 2003 [3 ]

Phụ thuộc vào tính chất sản xuất của từng loại trang trại mà nhu cầu về đất trang trại cũng rất khác nhau, qua bảng 6 chúng ta nhận thấy rằng diện tích đất cùa trang trại trồng cây lâm nghiệp là nhiều nhất và sau cùng là đất dành cho các trang trại chăn nuôi Một trong những đặc điểm cùa các trang trại chăn nuôi ở nước ta là gia súc, gia cầm thường được chăn thả tự nhiên ở trong rừng hoặc các khu vực đất trống Đặc thù khí hậu của Việt Nam ưu đãi cho cây cối xanh tốt 4 mùa, vì vậy thức ăn dự trữ cho gia súc, gia cầm không lớn vì thế đất dành cho trổng các loại rau, cỏ chiếm diện tích không nhiều

Trang 32

Căn cứ vào số lượng trang trại hiện có cho từng vùng và diện tích bình quân của các loại trang trại, căn cứ vào đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng chúng ta có thể tiến hành quy hoạch cho vùng kinh tế đặc thù khác nhau, hay nói m ột cách khác là các đặc khu kinh tế, nhằm mục đích tạo ra thị trường cạnh tranh rộng lớn mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất Muốn được như vậy Nhà nước phải có kế hoạch cụ thể cho từng khu vực, trồng cây gì, nuôi con gì, số lượng bao n hiêu đồng thời có chính sách đầu tư hợp lý và bao tiêu sản phẩm của các trang trại.

Hiện nay những quy định, quy chế cho trang trại chưa được đầy đủ, việc phát triển kinh

tế trang trại phần lớn còn thụ động mà mang tính chất của sản xuất hộ gia đình vì vậy đã có những thiệt hại rất lớn đến giá trị của hàng hoá sản xuất ra: bị ép giá, không có quy trình

kỹ thuật chế biến sản phẩm, thị trường xuất khẩu còn hạn hẹp, mặt hàng còn đơn điệu, nãm thì quá thiếu, năm thì lại quá thừa sản phẩm V iệc tạo ra những quy định bắt buộc cho kinh tế trang trại là một việc làm cấp thiết của các cấp lãnh đạo, tạo ra cơ sở pháp lý để tiến tới một nền kinh tế trang trại cạnh tranh lành mạnh và mang lại hiệu quả cao

B ảng 7 H iện tr ạ n g sử dụng đ ấ t đai của tra n g trạ i cả nước

_ Đ ơn vị tính: ha

Vùng Tổng số Đất

nôngnghiệp

Đất trổng cây hàng năm

Đất trồng cây CN LN + cây ăn quả

Đất mặt nước NTTS

Đất [âm nghiệp

có rừng trồng

Cả nước 369549 300254 137715 96081 66458 69295Đồng bằng sông Hồng 15992 13257 1510 1703 10044 2735Vùng Đông Bắc 32763 13899 1410 4780 7709 18864

Bắc Trung Bộ 34679 13696 4454 4663 4579 20983Nam Trung Bộ 19640 13317 8462 3193 1662 6323Tây Nguyên 34182 31211 4144 26514 553 2971Đông Nam Bộ 81899 75565 22581 50274 2710 6334

ĐB sông Cửu long 148384 138681 94863 4646

.

39172 9703

Trang 33

Bảng 8 Tình hình sử dụng lao động của trang trại cả nước

Đ ơn vị tính: lũ

T ổ n g số

L Đ th am gia sản

x u ất c ủ a

T T

S Ố L Đ

b ìn h q u ân tro n g 1

T T

L ao đ ộ n g

củ a hộ chủ tran g trại

L ao độn g của hô chủ BQ trên 1 TT

L ao độn gthuê

m ướnthư ờ ng

x u y ê n

L Đ thuê

m ướn thường

x u y ê n BQ trên 1 TT

L ao động thuê

m ướn thời vụ quy đổi

m uthờqujBQTT

374701 6 168634 2,8 6 0 8 8 0 1 145187 2,43ằng Sông 15210 8 43 3 0 2,4 4 4 4 2 2 6438 3,5

Trang 34

Đặc thù trang trại của nước ta là trang trại theo kiểu gia đình vì vậy số lượng lao động trong mối trang trại không nhiều, bình quân 5-8 người, các vùng đồng bằng sống Hổng

và Đông Nam bộ có số lao động bình quân trong 1 trang trại nhiều nhất (8 người), có vùng núi như Tây Bắc và Tây Nguyên yêu cầu lao động ít hơn vì ở những khu vực này các mô hình trang trại phần lớn là cây lâu nãm và lâm nghiệp vì vậy yêu cầu về lao động trong mỗi trang trại không phải là nhiều Số lao động trong trang trại từ 5-8 thưòng tính thêm cả người thuê theo thời vụ gieo trồng hay thu hoach, còn nếu không tính gia đình chủ trang trại thì thường chỉ có 2-3 lao động trong 1 trang trại Điều đó chứng tỏ sô' lao động làm thuê trong các trang trại chưa nhiều, nó cũng nói lên quy mô sản xuất trong các trang trại của nước ta chưa cao

Bảng 9 Kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại

Thu nhập bình quân

1 trang trại

Cả nước 5360992 4965894 81,7 1905849 35,2Đồng bằng sông

Hồng

260393 246084 134,5 85782 46,9Vùng Đông Bắc 149741 128008 42,9 79986 26,8Vùng Tây Bắc 8418 6924 49,8 3872 27,9Bắc Trung Bộ 186671 166382 55,0 76785 25,4Nam Trung Bộ 388499 376856 129,5 125241 43,1Tây Nguyên 465347 426432 70,7 143099 23,7Đông Nam Bộ 1249836 1191153 93,8 461253 36,3

ĐB sông Cửu long 2652087 2424055 77,8 929831 29,9

Nguồn Bộ Nông nghiệp-Phát triển N ông thôn 2003 ì 3 J

Qua phân tích các bảng 9 đã rút ra kết luận rằng kinh tế trang trại chủ yếu tập trung vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, vì thể nguồn thu của các trang trại tập trung vào các lĩnh vực trên Tổng giá trị sản xuất bình quân 1 trang trại là

Trang 35

35.2 triệu đồng, trong đó nguồn thu từ lĩnh vực nông nghiệp là lớn nhất, sau đó đến lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Phân bổ trang trại theo các vùng kinh tế cho thấy:

Các trang trại phía Bắc có mức thu nhập không đồng đều, tại các tỉnh vùng đồng bằng tuy diện tích dất canh tác ít hơn nhưng lại có lợi thế về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị kỹ thuật

và nhất là đất là khu vục đồng bằng nên việc bao tiêu sản phẩm rất nhanh chóng và thuận lợi.Trang trại ở các tỉnh miền Trung, doanh thu phụ thuộc và lợi thế vị trí của từng vùng: Vùng Trung bộ có doanh thu thấp nhất vì không có những lợi thế về đất đai và khí hậu, thu nhập chủ yếu là từ các trang trại nuôi trồng thuỷ sản và trồng trọt; Các vùng duyên hải miền Trung và Trung bộ thì việc phát triển các trang trại cây công nghiệp như chè, cà phê, cao su đã mang lại những nguồn thu rất cao, đặc biệt vùng duyên hải miền Trung với lợi thế đường bờ biển dài và chính sách xuất khẩu các hàng thuỷ, hải sản sang các nước khác được Nhà nước hết sức quan tâm vì vậy thu nhập chính là sản xuất thuỷ sản

Các trang trại thuộc khu vực phía Nam có doanh thu khá cao, vùng Đông Nam Bộ đạt36.3 triệu chủ yếu từ lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi còn các trang trại vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long thì các trang trại trồng trọt và nuôi trồng thuỷ sản lại là nguồn thu chính Như vậy tổng thu của các trang trại phụ thuộc vào từng vùng (vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên) và hướng kinh doanh của các trang trại, nhìn chung các trang trại vùng núi phía Bắc, Khu 4 cũ có quy mô tổng thu nhập thấp hơn các trang trại ở Tây Nguyên, Duyên Hải Miền Trung và Đông Nam Bộ Quy mô các trang trại chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản lớn hơn các trang trại có hướng trồng trọt

Qua bảng trên, ta cũng nhận thấy thu nhập từ các trang trại lâm nghiệp là thấp nhất do các nguyên nhân khách quan và chủ quan sau: Các trang trại lâm nghiệp, thời gian để trang trại cho thu nhập thường lâu (từ 10 năm) điều đó yêu cầu các trang trại phải bỏ vốn đầu tư nhiều, tuy nhiên giá trị sản phẩm lâm nghiệp lại thấp chính vì thế thu nhập không cao

Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sản phẩm của kinh tế trang trại đã không dừng ở mức tự cung, tự cấp như trước hoặc chỉ để trao đổi hàng hoá thiết yếu cho sinh hoạt hàng ngày mà đã mang tính chất hàng hoá Nền kinh tế thị trường với những quy luật cung cầu khắt khe đã khiến nền kinh tế trang trại phải cải tiến rất nhiều về trang thiết bị, trình độ thâm canh cây trồng, tãng vụ nhằm đạt hiệu quả cao nhất

Trang 36

Bên cạnh đó quá trình thu m ua và chế biến sản phẩm cũng đã được hình thành và phát triển nhanh chóng nhằm phục vụ nhu cầu của thị trường Việc lập k ế hoạch, quy hoạch cho quá trình sử dụng đất và tổ chức sản xuất được đặt lên hàng đầu, nó phải phù hợp với mục tiêu phát triển của xã, huyện, tỉnh và cả nước

1.4 Vai trò và vị trí của trang trại trong quá trình p h á t triển nền kinh t ế quốc dân

ở giai đoạn công nghiệp hóa

Đây là hướng phát triển tất yếu của nền kinh tế thị trường và mở rộng quy mô sản xuất trong tất cả các ngành kinh tế nói chungvà kinh tế nông nghiệp nói riêng Việc hình thành các mô hình trang trại thuộc các lĩnh vực sản xuất khác nhau đã m ở ra cho người lao động các hướng kinh doanh mới: tận dụng được những nguồn tài nguyên thiên nhiên

và các cơ sở vật chất có sẵn, tận dụng được nguồn vốn (nếu như trước vốn bị phân tán cho nhiều mục đích khác nhau thì nay được tập trung vào 1 hoặc 2 hướng chính) đồng thời cũng tận dụng được nguồn lao động dồi dào trong gia đình và các chính sách ưu đãi quan trọng khác của Nhà nước nhằm phát triển kinh tế trang trại

Về mặt kinh tế, nguồn thu từ kinh tế trang trại trong vòng 10 năm trở lại đây đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế Quốc dân Có thể nhận thấy có đến hơn 30% các hộ gia đình sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay có

xu hướng mở rộng sản xuất cho gia đình mình về cả hướng sản xuất, cả quy mô để trở thành các trang trại theo đúng tiêu chí về trang trại mà nhà nước đề ra Việc các gia đình

có diện tích sản xuất không lớn đã kết hợp với nhau hoặc tìm cách m ua lại của các hộ nông dân khác không có nhu cầu sản xuất nông nghiệp để có diện tích rộng hơn đã rất phổ biến tại những khu vực có diện tích sản xuất nông nghiệp không lớn

Các chương trình phát triển diện tích rừng cũng làm xuất hiện những mô hình trang trại trồng rừng, m ang lại hiệu quả kinh tế khá cao Việc tận dụng đất trống vào trồng rừng, trổng các loại cây ăn quả không chỉ mang ý nghĩa về m ặt kinh tế m à còn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên Các loại hình trang trại khác như chăn nuôi hoặc nuôi trồng thuỷ sản cũng góp phần quan trọng vào nguồn thu của Nhà nước đổng thời mở ra những hướng sản xuất mới cho người

Trang 37

lao động, tận dụng được những khu vực chưa được khai thác, đổng thời môi trường của các dải đất ven biển cũng được cải thiện, được đầu tư và phát triển.

Quy hoạch sử dụng đất cho mô hình trang trại cũng là một trong một trong những mục tiêu chính của việc lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất của Nhà nước Quy hoạch sử dụng đất cho mô hình trang trại là sự kết hợp giữa quy hoạch sử dụng đất theo dơn vị hành chính (xã, huyện, tỉnh, cả nước), đồng thời cũng không nằm ngoài mục tiêu phát triển của quy hoạch sử dụng đất theo mục tiêu phát triển (các đặc khu) của loại hình sử dụng đó với mục đích giảm tối đa các chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế

Quá trình nghiên cứu sự hình thành và phát triển của các mô hình trang trại trong thời

kỳ đổi mới, có thể rút ra những kết luận sơ bộ như sau:

Hiện nay việc phát triển kinh tế trang trại và vai trò của mô hình này trong quá trình phát triển nền kinh tế Quốc dân đã được Nhà nước hết sức quan tâm , các chủ trương, chính sách của Nhà nước về đầu tư, tín dụng, về vốn, lao động và cơ sở vật chất nhằm phát triển mô hình trang trại đã dần dần được cải thiện rất nhiều:

- Về chính sách: Một loạt những văn bản, nghị định của Nhà nước về trang trại đã

được ban hành nhằm giúp người nông dân có thể tận dụng một cách tối đa các nguồn ỉực sẵn có của gia đình và địa phương Hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức được nhà nước giao đất sử dụng ổn định và lâu dài với các quyền như: chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa

kế, thế chấp, cho thuê, cho thuê lại và góp vốn kinh doanh đã tạo cho người dân một hành lang pháp lý để phát triển kinh tế nông hộ ở nước ta, tiến thêm m ột bước mới trở thành các mô hình trang trại đầu tiên ở nước ta

- Trong Nghị quyết của Chính phủ về kinh tế trang trại số 03/2000/NQ-CP ngày 2/2/2000 khi đề cập đến chính sách lao động cũng khẳng định: “N hà nước khuyến khích

và tạo điều kiện hỗ trợ để các chủ trang trại mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tạo được nhiều việc làm cho lao động nông thôn, ưu tiên lao động của các hộ nồng dân không có đất, thiếu đất sản xuất nông nghiệp, hộ nghèo thiếu việc làm Chủ trang trại được thuê lao động không hạn chế về mặt số lượng, trả công lao động trên cơ sở thoả thuận với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động

Trang 38

- v ề đầu tư và tín dụng: Hiện nay vấn đề vốn cho sản xuất đang được coi là vấn đề có

tầm quan trọng hàng đầu Ý thức được vai trò hết sức quan trọng của kinh tế trang trại trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân nên nhà nướcđã ban hành một loạt những chính sách đầu tư về cơ sở hạ tầng, về vốn, giống, phân bón và các trang thiết bị kỹ thuật khác Đồng thời việc nâng cao trình độ canh tác, quản lý cho người dân cũng được quan tâm Hiện nay ngành ngân hàng đã thiết lập được cả một hệ thống tín dụng rộng lớn phục vụ phát triển ngành nông nghiêp nông thôn Đ ã có một số trang trại lớn và trung bình được vay vốn từ những quỹ túi dụng trên nhằm phát triển rộng hơn quy mô sản xuất nông nghiệp

- Về thị trường: Kinh tế trang trại mang tính chất hàng hoá, chính vì vậy thiếu những thông tin về thị trường thì kinh tế trang trại không thể phát huy được vai trò của nó và không mang lại hiệu quả kinh tế như mong muốn Hiện nay nhà nước đang có những chính sách rất cụ thể và rõ ràng nhằm thông tin đến cho người dân những tin tức mới nhất về thị trường để tránh những thiệt hại, rủi ro không đáng có về giá cả, về thời vụ Đặc biệt là khu vực m iền núi, hệ thống giao thông chưa được thuận lợi thì việc thông báo,

dự báo cho người dân về những thông tin trên thị trường là một việc làm cấp bách và được nhiều ngành quan tâm

- Về trang thiết bị khoa học kỹ thuật: Đây cũng là một trong những điểm yếu không

chỉ đối với nền nông nghiệp nói chung mà còn cả của nền kinh tế trang trại nói riêng Sự yếu kém, lạc hậu của các trang thiết bị kỹ thuật đã gây ra những thiệt hại không nhỏ, đặc biệt đối với mô hình trang trại vì số lượng cây trồng được tập trung trên một quy mô diện tích lớn, điều này đồng nghĩa với thời gian thu hoạch của toàn bộ cây trồng này gần như cùng m ột lúc, vì vậy việc bảo quản và chế biến sản phẩm có ý nghĩa quyết định về hiệu quả kinh tế của loại cây trồng đó

Hiện nay nhà nước cũng đang có những chính sách đầu tư rất cụ thể cho từng khu vực, từng mô hình trang trại khác nhau Đối với các trang trại trồng các cây hàng năm, cây lâu năm và cây ăn quả thì các thiết bị chế biến như đóng hộp, làm lạnh, sấy khô hoặc các loại thuốc bảo vệ thực vật nhằm giúp cho các loại rau, củ, quả có thể bảo quản trong thời hạn lâu hơn Đối với các mô hình trang trại chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản thì các trang thiết bị kỹ thuật cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng,vì sản phẩm thu

Trang 39

được là loại thực phẩm tươi sống vì vậy yêu cầu về bảo quản và chế biến tại chỗ được đặt

lên hàng đầu

Tuy nhiên hiện nay hầu hết các trang trại đều gặp phải khó khăn trong việc tiêu thụ

sản phẩm, đặc biệt tại các tỉnh m iền núi với hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông còn nhiều

yếu kém Các chính sách của N hà nước về trang trại còn có nhiều bất cập, đặc biệt trong việc xác định các tiêu chí của m ột trang trại để từ đó có những chính sách về đầu tư và tín dụng được hợp lý, đảm bảo công bằng và tránh những thất thoát không đáng có Việc tạo cho các mô hình trang trại m ột cơ sở pháp lý rõ ràng cũng chưa đáp ứng thoả đáng được với yêu cầu của người dân, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tuy đã khá đầy

đủ những việc cập nhật thông tin về thay đổi mục đích sử dụng, về diện tích đất, về sự chuyển đổi, chuyển nhượng giữa các chủ sử dụng chưa được cập nhật một cách kịp thời

- Về quy hoạch phát triển kinh tế trang trại: Kinh tế trang trại phát trển khá nhanh, đa dạng về loại hình Tuy nhiên, số lượng trang trại đạt tiêu chí theo quy định tại Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK, ngày 23/6/2000 của Bộ NN&PTNT và TCTK đã giảm đáng kể so với số lượng trang trại theo báo cáo của các địa phương đầu năm 2000 Việc xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế trang trại đã được triển khai ở nhiều địa phương, nhưng nhìn chung tiến trình thực hiện còn chậm, nên nhiều nơi, sự hình thành và phát triển trang trại còn mang tính tự phát, quy hoạch phát triển trang trại còn chưa gắn với quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế, xã hội của địa phương, chưa gắn với qũy hoạch xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện hoặc chưa gắn với các chương trình phát triển kinh tế, xã hội khác như định canh, định cư, xoá đói giảm nghèo

Quy hoạch sử dụng đất cho m ô hình trang trại cũng còn nhiều bất cập và thường đi sau quy hoạch của người dân vì vậy tính đồng bộ và khả năng quản lý ở tầm vĩ mô chưa cao, ảnh hưởng đến thu nhập kinh tế của mô hình này Đặc trưng cơ bản của trang tại nươc ta là được hình thành từ hộ gia đình, chính vì vậy trang trại gia đình chiếm phần lớn trong các mô hình trang trại ở nước ta Hiện nay một phân lớn các trang trại, đặc biệt là trang trại trổng trọt và nuôi trồng thuỷ sản còn thiếu các quy hoạch chi tiết (trồng cây gì, nuôi con gì, số lượng bao nhiêu, quy mô ) chính vì vậy, nơi thì thừa, nơi thì thiếu đã dẫn

Trang 40

đến việc giá thành sản phẩm không cao, bị ép giá, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được trên thị trường.

Ngày đăng: 03/02/2021, 16:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w