Đặt vắn đề: Phẫu thuật ổ bụng là m ột phương phâp điều trị hiệu quà, tuy nhiên vẫn có những ảnh hưởng đàng kể đến sức khỏe của bệnh nhân. Trong đó, sự tổn tại của mệt mỏi sau phẫu t[r]
Trang 1Mối liên quan giữa số lần đâm kim qua da với
NKH liên quan đến catheter TMTT
Khi đưa vào phân tích đơn biến để tìm mối liên
quan giữa số lần đâm kim qua da trên 3 íần với tinh
trạng NKH liên quan catheter TMTT chúng tôi thu
được kết quả với p=0,014 Trong nghiên cứu Lê Bảo
a U a l / Ả f D t t A i l H A ỉ n a f l» t t/A> i KN — A F Q 1 D l ur^í/**
I l U y o U F i y U I I U K S Í C j u a i u C / i i y i ụ V U i u — u v * r | O j D U w w
đầu cho thấy có sự ảnh hưởng từ sổ lần đâm kim qua
da trong thủ thuật đặt catheíe TMTT đến NK Những
BN có số iần đâm kim qua da trên 3 lần khi làm thù
thuật đặt catheter TMTT có nguy cơ NK cao gấp 9,2
lần so vởi những BN có số lần đấm kim qua da dưới 3
lần Điều này có thể được giải thích là do khỉ làm ỉhù
thuật đâm kim nhiều lần làm tổn thương nhiều mô
mềm, gây tụ máu, giầm nuôi dưỡng tại chỗ gây viêm,
phù ne vùng chân catheter dẫn đến nguy cơ NK cao
Thêm nữa do nhóm bệnh nhân trong nghiên cứu đa
phần là trẻ sơ sinh có cân nặng dưới 5kg chiếm phần
lớn nên khi tiến hành thu thuật đặt catheter TMTT gặp
nhiều khó khăn hơn những đối tượng bệnh nhân khác
Mối Hên quan giữa tình trạng chân catheter với
NKH Hên quan đến c atheter TMTT
Nhiễm khuẩn và tổn thương viêm ờ vùng chân
catheter như nề đỏ, chảy dịch, mủ là điều kiện thuận
lợi cho vi khuẩn xâm nhập qua đường hầm vào mạch
máu gây tình trạng nhiễm khuẩn huyết Trong 70 bệnh
nhân nghiên cứu có 9 BN có biểu hiện nề viêm chân
catheter thi có 6 BN có kết quả cấy dương tính
(66,67%), mối liên quan này có ý nghĩa với p<0,05 Lê
Bảo Huỵ cũng nghiên cứu cho thấy 54% chân catheter
sưng nế và 40% bị ri dịch đều mắc NK catheter TMTT
(p<0,05) [3].Chăm sóc catheter TMTT được đánh giá
cao trong việc duy trì, phòng tránh NK catheter TMTT
Thay băng, chăm sóc da, sát khuẩn da vị trí ổâm kim
cần được quan tâm hơn để phòng tránh nguy cơ NK
từ chân catheter vào đầu trong catheter cũng như
mạch máu Khi thấy các biểu hiện bất thường này thì
nên rút bỏ ngay catheter để giảm thiểu tinh trạng NK
nặng thêm trên BN
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 70 bệnh nhân được đặt catheter
TMTT tại khoa Hồi sức Ngoại khoa -Bệnh viện Nhi
Trung ương từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2014 chúng
tôi rút ra một số kết luận s a u :
1 Tình trạng nhiễm khuẩn catheter TMTT:
- Tỷ lệ BN bị NK catheter TMTT lồ 20%
- t ỷ lệ NK catheter TMTT: 17,63 c a /1000 ngày iưu
catheter
- Vi khuẩn thường gặp là Acinetobacter (85,7%)
- Tỷ lệ bị NK chân catheter TMTT là 12,9%
2 Các yếu tổ liên quan đến nhiễm khuẩn
catheter TMTT
- Số lần đâm kim qua da trên 3 lần, p = 0,0001
- Tổn thương viêm chân catheter TMTT, p = 0,0001 TÀI LIỆU THAM KHẢO
*1 Mri T T 1 I N y I I 1 iQ f r p m Mị ỉ I 'ỉỳ v * * ' * • ỈU V • ' t í i * •ư j t " > • » H ■ rir\r> D h i v r y n n M nC /r th T h j
Diệp và cộng sự (2007), "Đặc điểm dịch tễ học nhiễm khuần huyết trên trẻ sơ sinh tại khoa Hồi sức tăng cường Sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng 1”, Hội nghị khoa học điều dưỡng Bệnh viện Nhi Đồng 1
2 Vũ Thị Hang (2005), “Nghiên cứu về nhiễm trùng
đo catheter tĩnh mạch trung ương tại khoa Hồi sức tích
cực - Bệnh viện Việt Đức”, Kỷ yếu Hội nghị khoa học
điều dưỡng nồng cao chốt lượng chăm sóc ngữời bệnh trong ngoại khoa lần thứ nhất - Bệnh viện Việt Đức, trg 67-76.
3 Lê Bảo Huy (2013), “Khảo sát tình hlnh nhiễm khuẩn huyết íiên quan catheter tĩnh mạch trung tâm tại khoa Hồi sức tích cực chống độc - Bệnh viện Thống Nhát Tp Hồ Chí Minh", Hội nghị Hồi sức cấ p cứu Thành phố Hồ Chí Minh, lần thứ J4
4 Bộ y tế (2012), “Hướng dẫn phòng ngừa nhiễm khuẩn huyết trên người bệnh đặt catheter trong lòng mạch”, Quyết định số 3671/QD-BYT
5 Nguyễn Ngọc Sao, Lê Thị Binh (2014), “Tình trạng nhiễm khuẩii mắc phải trên bệnh nhân có đặt catheter tĩnh mạch trung tâm tại Bệnh viện Bạch mai",
Tạp chí Y học Việt Nam, trg 4-9.
6 Andrea M, Kline RN (2005), “Pediatric Catheter-
related Bloodstream infections”, AACN Advanced
Critical Cam, Vol 16, Number 2, pages 185-198.
7 Chopdekar K, Chande c et al (2011), “Central venous catheter-related blood stream infection rate in critical care units in a tertiary care, teaching hospital in
Mumbai”, Indian Journal o f Critical Cam Medicine, vol
29, issue 2, pages 169-171.
8 Chuengchitraks s, Sirithangkul s , staworn
D, Laohapand c (2010), “Impact of new practice guideline to prevent catheter-related blood stream infection (CRBSI): experience at the Pediatric Intensive Care Unit of Phramongkutklao Hospital”, Med Assoc Thai, Vol 93, pages 79-83
9.CDC (2011), “Guidelines for the Prevention of Intravascuiar Catheter-Related Infections
10 Marcelo L Abramczyk; Werther B Carvalho et
al (2003), “Nosocomial infection in a pediatric intensive
care unit in a developing country”, Brazilian Journal o f
Infectious Diseases, vol 7,no 6
MỐI LIÊN QUAN GIỮA ĐAU VÀ MỆT MỎI SAU MỎ TRÊN BỆNH NHÂN PHẪU THUẬT Ổ BỤNG TẠI ĐĂK LĂK
ThS Chu Thị Giang Thanh (Bộ môn Điều dưỡng, Đại học Tây Nguyên).
TÓM TẮT:
Đặt vắn đề: Phẫu thuật ổ bụng là m ột phương phâp điều trị hiệu quà, tuy nhiên vẫn có những ảnh hưởng đàng
kể đến sức khỏe của bệnh nhân Trong đó, sự tổn tại của mệt mỏi sau phẫu thuật là nguyên nhân dẫn đến các biển chứng nguy hiểm: nhiễm trùng, tắc ruột.:.
Trang 2Mục tiêu nghiên cứu:
1) Mô tà tình trạng mệt m ỏi trên bệnh nhân sau phẫu thuật ổ bụng tại Đăk Lăk.
2) Xấc định mối liên quan giữa đau và tình trạng mệt mỏi sau phẫu thuật của bệnh nhàn.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cằt ngang, được thực hiện trên 90 bệnh nhân hậu phẫu ngày thứ 3 tại bệnh viện đa khoa tỉnh Đăk Lăk Thu thập số liẹu ơựa trên bọ câu hỏi đã được thiết kế sắn
Số liệu được phân tích bằng phương pháp thống kê mô tă và phân tích tương quan Pearson’s thônq qua phần
Két quả: Bệnh nhân có mức độ cao của sự mệt mỏi sau phẫu thuật (M = 95.94; SD = 14.72) 100% người tham gia đều phải chịu đựng đau trong ba ngày đầu tiên sau khi phẫu thuật, điểm trùng bình mức độ đau là 5.19 (SD = 1.39; Ngưỡng: 3-10) Đau sau mổ có m ối tương quan thuận với tình trạng mệt m ỏi sau mổ (r = 54 p < 01).
Kết luận: Đau sau mổ có mối liên quan vừa phải với tình trạng mệt mỏi sau mổ Vì vậy, điều dưỡng cẩn thiết iập ra kế hoạch chăm sóc và các can thiệp cụ thể để cài thiện tinh trạng này.
Từ khóa: Đau, mệt mỏi sau mồ, phẫu thuật bụng.
ASSOCIATION BETWEEN PAIN AND POSTOPERATIVE FATIGUE AMONG PATIENTS UNDERGOING ABDOMINAL SURGERY IN DAK LAK
Chu Thi Giang Thanh (Nursing Department, Tay Nguyen University)
SUMMARY
Backgrounds: Abdominal surgery is an effective form o f treatment, however it can significantly impact the patient's health and well-being Particularly, the existence o f postoperative fatigue can cause the serious complications: infection, bowel obstruction Therefore, the purposes o f this study were: 1) describe postoperative fatigue among patients undergoing abdominal surgery in Dak Lak; 2) determine the relationship between pain and postoperative fatigue in such patients.
Materials and methods: Cross-sectional descriptive study with 90 abdominal surgical patients who were on 3^ postoperative day at Dak Lak General Hospital Data were collected by using the prepared questionnaires Data were analyzed by descriptive statistics, and Pearson’s correlation coefficients statistics via SPSS 17.0 program Results: Patients had high level o f postoperative fatigue (M = 95.94; SD = 14.72) 100% o f subjects suffered from pain during the first three days after surgery with average pain intensity score was 5.19 (SD - 1.39; Range: 3-10) Pain has a positive correlation with postoperative fatigue (r= 54, p <.01).
Conclusions: Postoperative pain has moderate correlation with postoperative fatigue Thus, nurses should establish care plans and nursing interventions to improve this situation.
Keyw ords: Pain, postoperative fatigue, abdominal surgery.
Đ Ặ T V Â N Đ Ề : suy giảm của bệnh nhân về khả năng phục hồi và Hiện nay, phẫu thuật ổ bụng đang là một trong thám gia vào các công việc bình thường hoặc các hoạt
những phương pháp điêù trị thường gặp ở hầu hết các động đời sống hàng ngày Quan sát trên bệnh nhân bệnh viện trên toàn thế giới Theo Datamonitor ngay sau phẫu thuật, mệt mỏi íà một trong những healthcare ước tính cổ đến 7,4 triệu ca phẫu thuật nguyên nhan dẫn đến giảm vận động sau mổ, chậm bụng trong năm 2010 ổã được thực hiện ở 7 quốc gia phục hồi chức năng, giảm khả năng hoạt động tổng lớn trên thế giới, bao gồm: Mỹ, Nhật, Pháp, Đức, Ý, thể, suy giàm chức nang thể chất, và trì hoắn trờ lại Nga, và Anh [4J Con số này dự kiến sẽ tâng lên đến íàm việc binh thường cũng như các hoạt ổộng đời 8,1 triệu ca phâu thuật trong năm 2020 Tài liệu hiện sổng hàng ngày sau khi xuất viện Hơn nữa, mệt mỏi
có cho thấy số lượng bệnh nhân phẫu thuật ổ bụng rát cũng có lien quan đến những vấn đề tâm lý: cảm giác cao ở các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam Tại ihấí vọng, trầm cảm, và gặp khó khăn trong việc tập bệnh viện đa khoa tình Đẳk Lắk, số lượng bệnh nhân trung chú ý
phâu thuậí ổ bụng chiếm 41% trong tổng số bệnh Như vậy, mệt mỏi sau phẫu thuật ảnh hưởng đáng nhân phẫu thuật năm 2014 kể chất lượng cuộc sống cùa người bệnh do sự phục
^ Mặc dù phâụ thuật là một phương pháp điều trị hồi chậm hơn, dẫn đến kéo dài thời gian nằm viện, và hiệu quả, tuy nhiên nó vẫn có những ảnh hương đáng giảm Sự tương tác xã hội Hơn thế nưa, mệt mỏi cung
kể đến sức khỏe của bệnh nhân Rất nhiều các triệu lam tăng gánh nặng cho những người chắm sóc; đồi chứng khác nhau sau phâu thuật được bệnh nhân kể hỏi nhu cầu cao hơn ở đội ngũ chăm sóc y tế, và iàm
lại như khó chịu, buồn nôn, nôn ói, đau, mệt mỏi, lo âu tăng chi phí chi ỉrả cho các dịch vụ ỵ tế
hay trầm cảm, không thoải mái, rối ioạn giấc ngủ Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk ià bệnh viện lớn Nghiên cứu trước đây đã nêu rằng 92% bệnh nhân mổ nhất của khu vực Tây Nguyên Tại đây, một số lượng bụng phàn nàn về việc gia tăng mệt moi trong thời ỉớn bệnh nhân trải qua phẫu thuật bụng mỗi năm gian hậu phâụ [10] Cụ the hơn, bệnh nhân hậu phẫu ổ Trước tỉnh hỉnh này, mệt mỏi sau phẫu thuật tồn tại như bụng phải chịu đựng mệt mỏi ờ mức độ trung binh một thách thức iớn đổi với ngườỉ điều dưỡng ngoại trong ba ngày đầu tiên sau phâu thuật [2] khoa khí chăm sóc những bệnh nhân này Chính V! vậy, Mệt mỏi sau phẫu thuật được định nghĩa ỉà một nghiên cứu này được tiến hanh nhằm mục đích: cảm giác suy nhược, mất năng lượng, hoặc kiệt sức 1) Mô tà tinh trạng mệt mỏi trên bệnh nhân sau sau phẫu thuật Những yếu tố này có thể dẫn đến sự phẫu thuật ổ bụng tậi Đăk iă k
2 0 7
Trang 3-2) Xác định mối liên quan giữa đau và tình trạng
mệt mỏi sau phẫu thuật cua bệnh nhân
"Từ đó có những giải pháp nhằm hạn chế và quản
lý tốt hơn triệu chứng này ở bệnh nhân sau phẫu thuật
bụng, nâng cao chất lượng chăm sóc và sự hài lòng
cua người bệnh đối với công tác y tể
Đ ỗi TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIỀN CỨU:
1 Đổi tư ợ ng nghiên cứu:
- Mầu chọn: Tat cả bệnh nhân hậu phẫu ổ bụng
ngày thứ 3, mổ chương trinh, đang thèo dõi điều trị tại
khoa Ngoại tổng quát - bệnh viện đa khoa tình Đăk
Lăk
- Loại trừ:
Bệnh nhân đa chấn thương
Nhữnp người có biến chứng sau mổ: nhiễm trùng,
xuất huyet
Thời gian nghiên cứu: từ thổng 07 năm 2015 đến
hết tháng 09 năm 2015
2 Phương pháp nghiên cứu:
- Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang mô tả
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:
+ Cỡ mẫu nghiên cứu (n) được tính theo công thức
của Tabachnick & Fidell [12]: n > 50 + 8M
Trên thực tế có 90 bệnh nhân tham gia nghiên cứu
- Cách thức chọn mẫu:xchọn mẫu ngẫu nhiên
3 Thu thập và x ử lỷ s ổ liệu:
- Quá trình thu thập số liệu dựa trên bộ câu hỏi
nghiên cứu, gồm các biến số:
+ Đau: sử dụng thang đo Numeric Pain Rating
Scale [6] Thang đo là một đường thẳng với các điểm
mốc tương ứng từ 0-10, điểm số cao hơn tương ứng
với mửc độ đau nhiều hơn
+ Mệt mỏi sau mổ: được đo bằng cách sử dụng bộ
câu hỏi Identity- Consequence Fatigue Scale, gồm 25
câu với thang điềm Likert dao động từ 1-6 [8] Tổng
điểm cao hơn chì ra mức độ nhiều hơn của sự mệt
mỏi và những ảnh hưởng của tình trạng đó lên hoạt
ổộng của bệnh nhân
- Số liệu thu thập được mã hóa và xử íý với phép
thống kê mô tả, phép phân tích tương quan Pearson
thông qua phần mềm thống kê SPSS 17.0
KEJ QUẢ:
1 Tỷ lệ các loại phẫu thuật:
Bảng i Tỷ iệ bệnh nhân’ phẫu thuật tại các cơ
quan (n - 90)
Vi trí cơ quan phẫu ỉhuâí Số BN (n) Tỷ lệ (%)
Gan, ống- tủi mật, đường mật 22 24.5
Mức độ đau
So lượnq
lươnq
íươnq
% Không
đau
Clgn ừípK khủng
f V I / u n AV/1 I w / ư i u t I I IC4111 V^IU UUW4 1^1 IU I V I 1»V* đựng đau trong ba ngày đầu tiên sau khi phẫu thuật
Cụ thể, vào ngày đầu tiên, 56.7% số bệnh nhân đau kinh khủng, 43.3% đau vừa Đối với ngày thứ 2, đa số bệnh nhân có cảm nhận đau vừa (61.1%), 25.6% đau kinh khùng, và đau nhẹ là 13.3% Vào ngày hậu phẫu thứ ba, 57.8% số người tham gia có đau nhẹ, còn lại 42.2% đau vừa
Bảng 3: Mức độ đau trong 3 ngày đàu sau mổ Biển
Ngưởng Điếm trung
bình (M)
SD Mức độ
LK
thuyết Thực tế Đau sau
mổ
0 -1 0 3 -1 0 5.19 1.39 Trung
bình Dựa trển số liệu ghi nhận được trong 3 ngày, điếm trung bình mức độ đau trong 3 ngày đầu sau mổ ià
5.19 (SD = 1.39; Ngưỡng: 3-10) C6 nghĩa là mức độ
trung bình
3 Mức độ mệỉ mỏi 3 ngày đầu sau mổ:
Mệt mỏi sau mồ
trung binh (M)
SD
Lý thuyết Thực tế Tòng điêm 25-150 6 5
-126
95.94 14.72 Xác định tình
trang mệt mỏi
9 -5 4 1 9 -4 7 33.35 7.5 Hậu quả cùa
mệt mỏi
16-96 3 3-85 62.59 10.88
trung bình cua mâu ià 95.94 (SD = 14.72), được xem
ià mức độ cao Trong đó, về khía cạnh xác định tình
trạng mệt mỏi, điểm trung bình của mẫu ià 33.35 (SD
= 7.5), và khía cạnh hậu quả của mệt mỏi íà 62.59 (SD
= 10 . 88 ).
ngày đầu sau mổ:
Bảng 5: Mối liên quan giữa đau và mệt mỏi 3 ngày đầu sau mồ
Đau sau mổ Mêt mỏi sau mố
Nhận xét: Tỷ lệ bệnh' nhân phẫu thuật ờ ruột non/
ruột già ià cao nhất (43.3%) Sau đó là phẫu thuật tại
gan, ống-túi mật, đừờng mật (24.5%); phẫu thuật dạ
dày- tá tràng (21.1%); phẫu thuật tại tụy (6.7%); phẫu
thuật lách (4.4%)
** = p < 01
Nhận xét: Đau sau mổ có mối tương quan thuận
với tình trạng mệt mỏi sau mổ (r= 54, p < 01)
BAN LUẬN:
Trong nghiên cứu này, bệnh nhân có mức độ cao
của sự mệt mỏi sau phẫu thuật {M = 95.94; SD =
14.72) Kết quả của nghiên cứu này cũng tương tự với các nghiên cứu trước đây[5j [15] Tác giả Long báo cáo rang 100% các bệnh nhân bị mệt mỏi trong suổt
Trang 4những bệnh nhân phẫu thuật đường tiêu hóa[15]
Nghiên cứu cùa tác giả Trang ở nhưng bệnh nhân
phẫu ỉhuật 2 chi dưới [13] cho thấy rằng, điểm trung
bình của sự mệt mỏl ià 86.58 (SD = 15.06), tháp hơn
so với những bệnh nhân phẫu thuật bụng trong nghiên
cứu này
Điều này có thể iý giải bởi một số lý do như sau
Thứ nhất, phần lởn bệnh nhân có bệnh iý tại hệ thống
tiêu hóa, như vậy họ phải đối mặt với triệu chứng riêng
của bệnh trong một thời gian dài như: nôn ói, phân
sống, khó tiêu Tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến
dinh dưỡng thiếu hụt và giảm trương lực cơ Thứ hai,
do quá trình phẫu thuậỉ, việc tổn thương mô ờ thành
bụng kết hợp với sử dụng thuốc gây mè ỉoồn thân sẽ
kích hoại phản ứng sinh iý tích hợp với nội tiết tố,
chuyển hóa, huyết học và các thành phần miễn dịch
Thứ ba, bệnh nhân sau phẫu thuật có suy giảm đáng
kể về sự hấp thu oxy tối đa và khả năng thích ứng của
nhịp tim Kết hợp vởi sự trầm trọng thêm bởi giảm vận
động và dinh dưỡng thiếu hụt do phẫu thuật lớn, bệnh
nhân sẽ cần nhiều năng lượng hơn để thực hiện hoại
động, do đó dẫn đến cảm giác mệt mỏi [10]
Liên quan đến mức đọ đau, 100% bệnh nhân trải
qua tình trạng đau vừa phải (43.3%) đến đau kinh
khủng (56.7%) vào ngày thứ nhất sau khi phẫu thuật
với so điểm trúng binh là 7.0 (SD = 1.65) Trong những
ngày sau, mức độ đau giảm dần với điểm trung binh là
5.23 (SD = 1.42) vào ngày thứ hai, và 3.34 (SD = 1.38)
vào ngày thứ ba hậu phẫu Kết quả nghiên cứu này
cao hơn so với một số nghiên cứu khác, Svensson và
cộng sự [11] với 88% bệnh nhân bị đau vừa hoặc đau
kinh khủng tại một số thời điểm và 7% trong số họ báo
cáo rằng đau không thể chịu đựng trong 24 giờ đầu
tiên sau phẫu thuật Điểm trung bình của các cơn đau
là 5.43 vao ngày đầu tiên, là 4.11 vào ngày thứ hai, và
2.46 vào ngày thứ ba sau khi phẫu thuật bụng [3] ở
một nghiên cứu khác trên bệnh nhân cắt bỏ toan bộ
tuyến tiền íiệt, điểm đau trung bỉnh là 40mm (SD = 29)
trong hai ngày đầu tiên, và vào ngày thứ ba là 20mm
(SD = 26) [14]
Điều nay hoàn toàn phù hợp, bời đau xuất hiện ở
bệnh nhân hậu phẫu !à kết quả của điều trị bởi sự tổn
thương các mô, dây thần kinh và phủ tạng Khi tổn
thương bắt đầu lành lại, mức độ đau sẽ giam xuống
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu này cũng cho thấy rằng
vấn đề quản lý đau hiệu quả cần được quan tâm chu
trọng hơn nữa Các công trình nghiên cứu trên thế giới
đã khuyến cáo rằng việc sử dụng thuốc giảm đau
nhóm opioid liên tục mỗi 4 giờ sau phẫu thuật và
những ngày sau đó là phương pháp tốt nhất [1]
Nghien cứu này cũng chi ra rằng đau sáu phẫu
thuật là yếu tố tướng quan thuận với tình trạng mệt
mỏi của bệnh nhân (r - 0.54; p < 0.01) Kết qua này
cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Long [5] với hệ
số tương quan r = 0.39 (p <0.01) vào ngày 1, và r
-0.19 (p < 0.05) vào ngày thứ 2 hậu phẫu; và cũng cao
hơn so với nghiên cứu của Montgomery và cộng sự [7]
với r - 0.36 (p <0.001) Ngoài ra, tác giả
Puranasamriddhi [9] đã nêu rang đau là yếu tố dự báo
quan trọng của sự mệt mỏi sau phẫu thuạt (p ~ (X28, p
<0.01).về mặt !ý thuyết, yếu tố sinh lý bao gồm tổng
íhể các hoạỉ động binh thường của hệ thống cơ thể
Sự hiện diện cùa bất kỳ bệnh iý như chấn thương hay thay đổi mưc năng lượng của cơ thể có khả năng ảnh hưởng đến mức độ diên biến của các triệu chứng Trong trường hợp này, mệt mỏi sau phẫu thuật là một triệu chứng bị ảnh hưởng bởi yếu tố sinh iý là đau Có nghĩa ià, cac bệnh nhân có mức độ đau nhiều hơn thỉ tinh trạng mệt mỏi sau phẫu thuật sẽ nặng hơn, vì đau
là nguyên nhân dẫn đến việc bệnh nhân rối loạn giấc ngủ, io lắng, sợ hãi và trầm cảm Mặt khác, các tác động của thuốc gây mê tĩnh mạch và các thuốc giảm đau sau phẫu thuật cũng góp phần làm gia tăng sự mệí mỏi
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:
1 Kết luận
100% người tham gia cảm thấy mệt mỏi ở mức độ cao trong suốt ba ngày sau phẫu thuật bụnẹ
Đau sau mổ là mọt trong những yếu ỉo sinh lý có
liên quan với tinh trạng mệt mỏi sau mồ (r - .54, p <
.01).
2 Kiến n g h ị
Đối với thực hành lâm sàng:
1 Điều dưỡng cần được nâng cao kiến thức liên quan đến mệt moi sau phẳu thuật và các yếu ìố ảnh hường của nó trên bệnh nhân phẫu thuật bụng
2 Điều dưỡng nên thiết lập các can thiệp đều dưỡng hoặc chương trình chăm sóc nhằm niục tiêu giảm mệt mỏi sau phẫu thuật thông qua các phương pháp quản lý đau hiệu quả
Đối với giảng dạy lý thuyết:
- Giảng viên/giẩo viên nên cung cấp thêm thông tin
để sinh viên/ học sinh điều dưỡng hiểu thêm về mệt mỏi sau phẫu thuật và các yếu tố tác động Từ đó, đề
ra các phương pháp thích hợp để đánh giá, ngăn ngừa và quản ìý mệt mỏi ở bệnh nhân sau phẫu thuật bụng
Đối với các nghiên cứu khác:
- Cần thêm những nghiên cứu với mục đích làm rõ những yếu tố khác có liên quan đến tinh trạng mệt mỏi sau phau thuật
- Nghiên cứu can thiệp để giảm mệt mỏi sau phẫu thuật bang cách can thiẹp vào các yếu tố liên quán là rất cần thiết
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Argoff, c E (2014) Recent management
advances in acute postoperative pain Pain Practice,
14(5), 477-487
2 Bunnag, c (2004) A survey of fatigue in post abdominal surgery patients (Unpubiished thesis) Mahidol University, Bangkok, Thailand
3 Chaikla, A (2002) Pain experience, pain
management and pain outcomes in post abdominal operation patients (Unpublished Master's thesis)
Mahidol University, Bangkok, Thailand
4 Datamonitor healthcare (2011) Epidemiology: major abdominal surgery - a key risk factor for deep vein thrombosis and pulmonary embolism http://store.datamonitorheaiihcare.com/Product/
5 Long, N H (2010) Factors related to
postoperative symptoms among patients undergoing abdominal surgery (Unpublished thesis) Burapha
2 0 9
Trang 5-University, ChonBuri, Thailand.
6 McCaffery, M., & Beebe, A (1989) Pain: Clinical
manual for nursing practice S t Louis, MO: Mosby
Elsevier
7 Montgomery, G H., Schnur, J B., Erblich, J.,
Diefenbach, M A., & Bovbjerg, D H (2010)
Presurgery psychological factors predict pain, nausea,
and fatigue one week after breast cancer surgery
Journal o f Pain and Symptom Management, 39(6),
1043-1052
8 Paddison, J s., Booth, R J., Hill, A G-, &
Cameron, L D (2006) Comprehensive assessment of
peri-operative fatigue: development of the Identiiy-
Consequence Fatigue Scale Journal of
Psychosomatic Research, 60(6), 615-622.
9 Puranasamriddhi s (2009) Fatigue and factors
related to fatigue after hysterectomy (Unpublished
Master’s thesis) Mahidol University, Bangkok,
Thailand
10 Rubin, G J., Hardy, R., & Hotopf, M (2004) A
systematic review and meta analysis of the incidence
and severity of postoperative fatigue Journal of
Psychosomatic Research, 57(3), 317-326.
11 Svensson, I., Sjostrom, B., & Haljamae, H
(2000) Assessment of pain experience after elective
surgery Journal o f Pain and Symptom Management,
20(3), 193-201
12 Tabachnick, B G., & Fideli, L s (2001) Using
multivariate statistic (5med.) Boston: MA: Allyn &
Bacon/ Pearson Education
13 Trang, N T T (2015) Factors predictina
postoperative fatigue among patients with closed fracture o f leg undergoing internal fixation in Khanh Hoa General Hospital, Vietnam (Unpublished thesis)
Burapha University, ChonBuri, Thailand
14 Wickstrom, K., Nordberg, G., & Johansson, F (2005) Predictors and barriers to adequate treatment
of postoperative pain after radical prostatectomy
AcutePain, 7,167-176.
15 Yu, J., Zhuang, c L., Shao, s J., Liu, s., Chen,
w z., Chen, B c., Shen, X., & Yu, z (2015) Risk
factors for postoperative fatigue after gastrointestinal
surgery Journal o f Surgical Research, 194(1), 114-
119
16 Zaion, M L (2004) Correlates of recovery among older adults after major abdominal surgery
Nursing Research, 53(2), 99-106.
Tác g iả : Mai Thị Lan Anh
(Phó giám đốc Trung tâm thực hành Tiền lâm sàng, trường Đại học điều dường Nam Định)
Người hướng dẫn: PGS TS Nujjaree C haim ongkol (Trưởng khoa Điều dường, trường Đại học Burapha, Thái Lan)
Yunee Pongjaturawit,
Trường bộ môn điều dưỡng nhi, Khoa điều ơưỡng, trường Đ ại học Burapha, Thái Lan
TÓM TẮT
Mục đích của nghiên cứu này là đề đánh giá mức độ gánh nặng và mối liên quan của nó với khả năng tự chăm sóc của trẻ, quá trình chăm sốc và hỗ trợ xã hội cho những người chăm sóc trẻ bị bệnh tự kỷ Đây ià một nghiên cứu mô tả cắt ngang đưực tiến hành tại Bệnh viện Nhi Trung ương, Hà Nội, Việt Nam Dữ liệu được thu thập từ tháng hai đến tháng tư năm 2015 Phương pháp lấy mẫu thuận tiện được sử dụng để thu thập chỉn mươi người chăm sóc trẻ mắc bệnh tự kỷ Công cụ nghiên cứu bao gồm một bảng câu hỏi về thông tin chung của người chăm sóc và trẻ; 20 câu hỏi ve khả năng tự chăm sóc bản thân của trẻ; 12 câu hỏỉ về hỗ trợ xã hội và 21 câu về gánh nặng chăm sóc Phương pháp thống kê mô tả và hệ số tương quan Pearson được sử dụng để phân tích dữ liệu
Kết quả nghiên cứu cho tháy tuổi trung bình của mẫu ià 36,70 tuổi (SD = 7,03) và trung bình số năm chăm sóc cho trẻ tự kỷ ià 7.40 năm (SD = 2,13) Điềm số trung bình khả năng tự chăm sóc bản thân của trẻ theo quan điềm của người chăm sóc là 2.72, hỗ trợ xã hội là 3,59 và ờ mức độ vừa phải Điểm số trung bình gánh nặng
chăm sóc là 3.72 và ở mức cao Có mối tương quan nghịch giữa gánh nặng chăm sóc và khả năng tự chăm sóc
của trẻ (r = -.53, p < 001) và hỗ trợ xã hội (r =-.23, p <0,05) Tuy nhiên, thời gian chăm sóc không có tương quan đáng kể về mặt thống kê với gánh nặng cham sóc (p> 0,05)
Những phát hiện này cho thấy rằng điều dưỡng và các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho gia đình
và trẻ em mắc bệnh tự kỷ nên chú ý nhiều hơn vào việc cải thiện khả năng íự chăm sóc bản thân của trẻ và tăng cường hỗ trợ xã hội, nhằm làm giảm gánh nặng cho những người chăm sóc cho trè tự kỷ
FACTORS RELATED TO BURDEN AMONG CAREGIVERS OF CHILDREN WITH AUTISM IN VIETNAM
A uthor: Mai Thi Lan Anh (Vice director of Pre-ciinicai Practice Center, Namdinh University of Nursing)
A dvisory com m ittee:
- Assoc Prof Dr Nujjaree Chaimongkol (Dean of Faculty of Nursing, Burapha University, Thailand)
-Assist Prof Dr Yunee Pongjaturawit (Head of Pediatric Department, Faculty of Nursing, Burapha University, Thailand)