1. Trang chủ
  2. » Hoá học lớp 10

Nghiên cứu khu hệ chim và một số đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài chim thuộc họ Khướu Timaliidae ở Vườn Quốc gia Xuân Sơn

179 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 91,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

T.. JOURNAL OF SCIENCE, Nat. In this paper, w e report initial song analysing results of four small birds belonging to Timalitni tribe of Sylviinae subfamily, Syiviidae[r]

Trang 1

Đ Ạ I H Ọ C Q U Ố C G IA HÀ N Ộ I

T R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C K H O A H Ọ C T ự N H IÊ N

NGHIÊN CỨU KHU HỆ CHIM VÀ MỘT s ố ĐẶC Đ lỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA MỘT s ố LOÀI CHIM

THUỘC HỌ KHƯỚU TIMALIIDAE Ở

VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN

CN NGUYỄN QUỐC DỤNG

CN BÙI ĐẮC TUYÊNTHS TRẦN ĐỨC HẬU

CN NGUYỀN THANH HOÀNTHS HOÀNG NGỌC ICHẮC

Đ A I H O C Q U Ố C G I A H À N Õ I

t r u n g ĩ A r v TH Õ N G TIM THU V iẺ N

u p;7 J i i

H À N Ộ I - 2007

Trang 2

BÁO CÁO TÓM TẮT ĐỂ TÀI

1 Tên đề tài: Nghiên cứu khu hệ chim và một só đặc điểm sinh học, sinh

thái của một s ố loài chim thuộc họ Khướu Timaliidae ở Vườn Quốc gia Xuân Sơn

2 Mã số: QG.05.23

3 C hủ trì đề tài: PGS.TS Hà Đình Đức

TS Lé Đình Thủy ThS Ngô Xuân Tường KS.Trần Đăng Lâu ThS Hà Quý quỳnh

CN Nguyễn Quốc Dựng

CN Bùi Đắc Tuyên ThS Trần Đức Hậu

CN Nguyễn Thanh Hoàn ThS Hoàng Ngọc Khắc

5 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu:

Mục tiêu nghiên cứu:

1 Nghiên cứu về thành phần loài chim của VQG Xuân Sơn

2 Bổ sung những dẫn liệu mới về một số đặc điểm sinh học, sinh thái của một vài loài chim thuộc họ Khướu Timaliidae ở VQG Xuân Sơn

3 Xác định hiện trạng và đề xuất biện pháp bảo tồn tài nguyên chìm ở VQG Xuân Sơn

Nội dung nghiên cứu:

1 Sử dụng phương pháp lưới mờ (mist-nets), đếm điếm (point counts) trong nghiên cứu chim ở đây và so sánh kết quả nghiên cứu của hai phương pháp này

2 Điều tra, xác định một cách đầy đủ nhất về đa dạng thành phần loài chim của khu hệ

3 Tìm hiểu sự phân bô và độ phong phú của các loài chim trong khu vực

4 Nghiên cứu môi quan hệ giữa khu hệ chim VQG Xuân Sơn với các khu hệ chim khác trong vùng Tây Bắc và các nơi lân cận VQG Xuân Sơn

5 Nghiên cứu một sô đặc điểm sinh học, sinh thái học của một vài loài chim thường gặp thuộc họ Khướu Timaliidae

6 Tìm hiểu hiện trạng, những nguyên nhân gây suy thoái, từ đó đề xuất những giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên chim

6 Các kết quả đạt được:

Trang 3

1 Vê kết quả sử dụng 2 phương pháp lưới mờ và đếm điểm trong nghiên cứu thành phân loài và một sô đặc điểm sinh thái các loài chim ở VQG Xuân

Sơn.

- Bằng phương pháp lưội mò đã bắt thả được 840 cá thê của 79 loài thuộc 13

họ trong 5 bộ Trong đó, họ Chim chích Sylviidae có số loài nhiều nhất với 27 loài,

tiếp đến là họ Đớp ruổi Muscicapidae (24 loài) Đã đeo vòng mới cho 732 cá thể và

bắt lại được 108 cá thể, tỷ lệ bắt lại chim trung bình là 12,86% Các loài có số lượng

cá thể ưu thế là lách tách má xám Alcippe morrisonia, khướu bụi đầu đen Stachyris

nigriceps, khướu mào khoang cổ Yuhina custaniceps, đớp ruồi trắng Cỵornis

concretus Bổ sung thèm cho danh lục chim Việt Nam (Võ Quý, Nguyền Cử, 1995)

4 loài và bổ sung thêm vùng phán bố cho 9 loài Độ cao là một trong những yếu tô

quan trọng ảnh hưởng đến sự khác biệt về đa dạng thành phần loài chim ở đây Thời

gian hoạt động trong ngày của các loài chim phụ thuộc nhiều vào mùa và thời tiết

trong ngày

- Bằng phương pháp đếm điểm trong mùa sinh sản năm 2006 đã xác định được

107 loài với 1187 cá thể Chỉ số đa dạng H' chung cho quần xã chim ở vùng lõi là

khá cao (3,940) và khá đồng đều (J=0,834) Rừng núi Ten đa dạng hơn so với rừng

núi Cẩn cả về số lượng và thành phần loài chim Có 10 loài chiếm ưu thế, 11 loài

phổ biến, 10 loài tương đối phổ biến và 87 loài ít gặp/hiếm

- So sánh kết quả nghiên cứu bằng hai phương pháp cho thấy, phưưng pháp

lưới mờ chủ yếu dùng để bắt thả những loài chim bụi, kích thước nhỏ, di chuyển ở

tầng thấp Trong khi đó, phương pháp đếm điểm cho phép xác định nhiều loài chim

đi chuyển ở tầng cao, những loài có kích thước lớn

2 Về thành phần loài chim ỞVQG Xuân Sơn.

- Cho đến nay đã ghi nhận được ở VQG Xuân Sơn có 257 loài chim của 45 họ,

16 bộ Trong đó, bộ sẻ Passeriformes đa dạng nhất về họ với 28 họ, họ Chim chích

Sylviidae đa dạng nhất về loài với 47 loài

- Đã thống kê được 23 loài chim quý hiếm có giá trị bảo tồn bao gồm: 9 loài

trong Nghi định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ (2 loài thuộc nhóm IB, 7 loài thuộc

nhó IIB), 11 loài trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2000 (1 loài bậc E, 2 loài bậc R, X loài bậc T), 7 loài trong Danh lục Đò thê giới IƯCN năm 2006 bậc LR/lc

- So sánh về thành phần loài chim với 8 KBTTN ở vùng Tây Bắc và 1 KBTTN

ở vùng Đông Bắc liền kề về mặt địa lý cho thấy độ luơng đổng trung bình vé thành

phần loài giữa VQG Xuân Sơn và VQG Cúc Phương là cao nhất (50,44%) VQG Xuân Sơn đóng góp tới 46,81% tổng số loài chim được biết của cả 10 KBTTN được

lựa chọn để so sánh

3 Vê một số đặc điếm sinh học, sinh thái của 4 loài chim thuộc họ Khưóìi

Timaliidae ở VQG Xuân Sơn.

Trang 4

Nhiều đặc điểm sinh học, sinh thái như nhận xét về phân loại học, vùng phân

bố, đặc tính cư trú, mật độ, nơi ở và hoạt động, sinh sản, thức ăn và đặc biệt là đặc điểm âm sinh học của 4 loài chim thuộc họ Khướu Timaliidae (bao gồm: lách tách

má xám, khướu bụi đầu đen, khướu bụi vàng, chích chạch má vàng) đã được thu thập, phân tích và thảo luận

4 Về các yếu tô gáy suy thoái tài nguyên chim ỏ VQG Xuân Sơn.

Các yếu tố chủ yếu là nạn sắn bắn, bẫy chim trái phép và hệ sinh thái rừng rừng bị suy giảm, chia cắt hoặc bị mất Hiện tượng này do nhiều nguyên nhân trực tiếp và sâu xa trong đó nổi cộm là sức ép của cộng đổng địa phương lên tài nguyên rừng

7 Tinh hình kỉnh phí của đề tài:

Dự toán (đồng)

Trang 5

SUMMARY OF SCIENTIFIC RESEARCH

Title: Study on avifauna and some ecological and biological characteristic of

some species of Timaliidae family in Xuan Son National Park

Branch: Biology Code: QG.05.23

The head of the research: Assoc.Prof.Dr Ha Dinh Due

C oordinators: Postgraduated Nguyen Lan Hung Son

Dr Le Đinh Thuy MSc Ngo Xuan Tuong Eng.Tran Dang Lau MSc Ha Quy Quynh BSc Nguyen Quoc Dung BSc Bui Dac Tuyen MSc Tran Due Hau BSc Nguyen Thanh Hoan MSc Hoang Ngoc Khac

M ajor purpose: Study on birds composition of Xuan Son National Park Aid newdata of some biological, ecological characteristics of some species of Timaliidae family in Xuan Son Naitonal Park Determine the status of birds and propose solutions to conserve of birds in Xuan Son National Park

Research results and conclusions:

- With mist-nets method, 840 individuals of 79 species which belonued to 13 families in 5 orders were captured and recaptured Accentor family Sylviidae was the one which has the most numerous of species (27 species) followed by Muscicapidae family (24 species) The recapture proportion of more than one year average is 12.86% with 732 individuals were ringed and 108 individuals among which were recaptured Some species with numerous of individuals were Grey­

cheeked fulvetta Alcippe morrisonia, Grey-throated babbler Stachyris nigriceps, Striated yuhina Yuhina castaniceps and White-tailed flycatcher Cyornis concretus

In this study, we have supplemented four more species to the Checklist of the birds

of Vietnam (Vo Quy, Nguyen Cu, 1995) and supplemented more distribution areas for 9 species Altitude was one of the important factor that influenced the diversities

of bird composition species within the research area The most active time of these birds in the day depended much on the seasons and the weather condition

- With point counts method, in the breeding season in 2006, 107 species were detected with 1187 individuals over 60 point count stations in Xuan Son National Park Based on Shannon diversity index results, the bird community structure was quite high diverse (H' = 3.940) However, the bird community rarely balance with Shannon's equitability (J = 0.834) Ten forest was more diversified than Can forest

in terms of both quantity and components of birds For all 60 point counts, there

Trang 6

were 10 dominant species, 11 constant species, 10 accesory species and 87 accidental/ rare species.

- Comparing the two research methods it can be seen that the mist-nets method was mostly used to capture and recapture bush birds of small size which often move in the low layer Whereas, point counts research method helped to identified the bird species which often move in the high layer and of bigger size

- So far, it has been recorded 257 bird species which belong to 45 families, 16 orders in Xuan Son National Park Passeriformes order is the most diversified one with 28 families Accentor family Sylviidae is the most diversified one with 47 species

- 23 species of valuable and rare birds that need to be conserved have been classified including: 9 species in the Decree 32/2006/NĐ-CD of the Government (among which 2 species belong to IB group and 7 species belong to IIB group), 11 species in the Red Data Book of Vietnam, 2000 (1 species of Endangered (E), 2 species of Rare (R), 8 species of Threatened (T), 7 species of Least concern (LR/lc) in the IUCN Red List 2006

- From the comparison about the components of bird species between 8 nature reserve in the North West and I nature reserve in the East North it can be seen that the mean similarity of bird composition was highest between Xuan Son National Park and Cue Phuong National Park (50.44%) Xuan Son National Park contributed

up to 46.81% of the total number of well known bird species among all 10 nature reserve which were chosen for comparison

- Some biological and ecological characteristics such as comments on classification, distribution area, residential features, density, habitat, reproduction, food and especially, the bioacoustics features of 4 species of Timaliidac family (including Grey-cheecked fulvetta, Golden babbler, Grey-throated babbler, Striped tit babbler) were collected, analyzed and discussed to highlight the characteristics of bird species in the ecosystem of limestone mountains interpolated with the soil ones in Xuan Son National Park

- Currently, there are some factors that affect the bird resource in Xuan Son including hunting, illegal trapping and the degradation, splitting up or loss of forest system This phenomenon is caused by many direct and underlined reasons among which the pressure from the local community to the forest resource is the main one

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

1.1 Khái quát những công trình đã nghiên cứu về VQG Xuân Sơn 31.2 Khái quát điều kiện địa ỉý tự nhiên và xã hội VQG Xuân Sơn 4

II ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 16

3.1 Kết quả nghiên cứu thành phần loài chim và một sô đặc điểm sinh

thái học chim bằng phương pháp lưới mờ (mist-nets) và đếm điếm {point-

3.1.1 Kết quả nghiên cứu chim bằng phương pháp lưới mờ (mist-nets) 323.1.2 Kết quả nghiên cứu chim bằng phương pháp đếm điểm (point-

3.1.3 So sánh kết quả nghiên cứu chim giữa sử dụng phương pháp lưới

3.2.3 Các ỉoài chim quý hiếm có giá trị bảo tổn nguồn gien 513.2.4 Sự phân bô theo sinh cảnh của các loài chim ở VỌG Xuân Sơn 523.2.5 Phân tích so sánh thành phần loài chim của VQG Xuân Sơn và các

3.3 Một sô đặc điểm sinh học, sinh thái của một sô loài chim thuộc họ

3.3.1 Một số đặc điểm chung của các loài chim thuộc họ Khướu

3.3.2 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài lách tách má xám

3.3.3 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài khướu bụi đầu đen

3.3.4 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài khướu bụi vàng

Trang 8

3.3.5 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài chích chạch má vàng

3.4 Những yếu tố gây suy thoái tài nguyên chim ở VỌG Xuân Sơn và

Trang 9

MỞ ĐẨU

Các VQG và KBTTN là những khu vực có tính đa dạng sinh học cao được ưu tiên bảo vệ Do đó, những năm gần đây, nhiều hoạt động điều tra, nghiên cứu được tập trung vào các khu vực này nhằm tìm ra những dẩn liệu về tài nguyên sinh vật của Việt Nam vốn còn nhiều điều bí ẩn

Hiện nay, các nhà bảo tồn thiên nhiên thường dựa vào một số loài chim đặc trưng của hệ sinh thái như là một trong những chỉ thị sinh học đê đánh giá mức độ

đa dạng sinh học của các KBTTN Do đó, việc bảo tồn, phát triển tài nguyên chim ơ các KBTTN sẽ gặp nhiều hạn chế nếu chúng ta không có những nghiên cứu sáu và đầy đủ về khu hệ chim ở các vùng địa lý khác nhau trên đất nước ta

VQG Xuân Sơn là một VQG “trẻ” mói được chính thức chuyển hạng từ KBTTN vào ngày 17/4/2002 theo Quyết định số 49/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với tổng diện tích 15.048 ha VỌG nằm ở vị trí phía Táy của huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ VQG Xuân Sơn có hệ sinh thái rừng núi đá vôi xen núi đất gần như nguyên sinh khá đặc biệt ở vùng Tây Bắc Việt Nam và là điểm kết thúc của dãy núi Hoàng Liên, nên khu hệ chim ở đây khá đặc biệt và mang tính đặc trưng cho một khu vực ở vùng Tây Bắc trải rộng trên nhiều dạng sinh cảnh khác nhau.Cho tới nay, bên cạnh những điều tra sơ bộ thống kê thành phần loài chim ở VQG Xuân Sơn (Đỗ Tước [22, 25]; Lê Đình Thủy [8,13]; Trương Văn Lã [12]) thìchưa có một công trình nào nghiên cứu đi sâu vào đặc điểm sinh học, sinh thái củacác loài chim ở khu vực này -

Qua khảo sát, điều tra sơ bộ, chúng tôi nhận thấy tài nguyên chim ở đây kháphong phú với nhiều loài quý hiếm và còn có nhiều điều chưa được khám phá hết,

kể cả về thành phần loài Để bảo tổn và phát triển bền vững tài nguyên chim ở VQG Xuân Sơn cần thiết phải có những nghiên cứu sâu hơn về khu hệ vù dặc điểm sinh học, sinh thái của các loài chim đặc trưng của hộ sinh thái nơi đây

Trong hoàn cảnh hiện nay, việc thu mẫu chim để nghiên cứu khoa học là rất hạn chế Do đó, để nghiên cứu được nhóm động vật này, các nhà nghiên cứu chim cần phải ứng dụng những phương pháp phù hợp khắc phục được hạn chế trên Trong phạm vi đề tài nghiên cứu chim ở VQG Xuân Sơn, bén cạnh sử dụng các phương pháp điều tra truyền thống, chúng tôi có sử dụng thêm phương pháp đếm điểm (point counts) và phương pháp lưới mờ (mist-nets) để bắt thả đeo vòng đánh dâu các

Trang 10

loài chim ở khu vực nghiên cứu Đồng thòi sử dụng bộ thiết bị thu âm định hướng

chúng tôi đã bổ sung thêm các dẫn liệu mới về âm sinh học của các loài chim ở VQG Xuân Sơn

Trên cơ sở lựa chọn những phương pháp nghiên cứu chim phù hợp, chúng tôi

tiến hành đề tài "Nghiên cứu khu hệ chim và một sô đặc điểm sinh học, sinh thái của một sô loài chim thuộc họ Khướu Timaỉiidae ở Vườn Quốc gia Xuán Sơn".

Khái niệm ''khu hệ" trong đề tài được hiểu trong phạm vị hẹp đê chỉ cấu trúc thành phần loài chim của khu vực nghiên cứu Mối quan hệ giữa các loài chim trong khu hệ được bàn luận thêm trong những trường hợp cụ thể của một số loài chim trong khu vực nghiên cứu

Mục tiêu cua đề tài:

1 Nghiên cứu về thành phần loài chim của VQG Xuân Sơn

2 Bổ sung những dẫn liệu mới về một số đặc điểm sinh học, sinh thái của một vài loài chim thuộc họ Khướu Timaliidae thường gặp ớ VQG Xuân Sơn

3 Xác định hiện trạng và đề xuất biện pháp bảo tồn tài nguyên chim ở VỌG Xuân Son

Chúng tôi hy vọng rằng, các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là những cơ sớ khoa học cho công tác bảo tồn tài nguyên chim ở VQG Xuân Sơn nói riêng và tài nguyên chim của miền Bắc Việt Nam nói chung

Trang 11

I TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 KHÁI QƯÁT NHỮNG CỒNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CÚtJ VỀ VỌG XUÂN SƠN

Ngay từ những năm 1927, 1934, 1941, 1944 đã có một số người nước ngoài đến sưu tầm mẫu chim ở khu vực này như Bourret, Raimbault, Winter, Agric, Vào giữa năm 1961, đoàn sinh viên Đai học Tổng hợp Hà Nội đã tổ chức đợt thực tập nghiên cứu thiên nhiên tại xã Thục Luyện, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ Qua đợt thực tập trên, nhiều mẫu chim đã được thu, xử lý, làm mẫu nhồi và lưu giữ tại Bảo tàng Động vật, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội Một số tác giả khác như Phan Duy Cộng, Lê Diên Dực cũng đã thu được nhiều mẫu ở các xã Thục Luyện, Địch Quả, Thạch Khoán thuộc huyện Thanh Sơn

KBTTN Xuân Sơn được thành lập từ năm 1986 theo Quyết định 194/CT ngày 9/8/1986 của Hội đổng Bộ trưởng Theo quyết định đó, Chi cục Kiểm lâm tính Vinh Phú đã cho thành lập Trạm kiểm lâm Minh Đài, thuộc Hạt kiểm lâm Minh Đài Sau

đó, Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã phối hợp với Chi cục kiểm lâm Vĩnh Phú khảo sát xây dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật KBTTN Xuân Sơn năm 1992 Theo tài liệu này đã xác định được ở KBTTN Xuân Sơn có 118 loài chim [25],

Từ đó cho đến nay, có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước cũng như các đoàn công tác lâm nghiệp của địa phương và trung ương đã tới Xuân Sơn nghiên cứu

Năm 1998, trong nội dung nghiên cứu của đề tài: “Tài nguyên đa dạng sinh học khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Sơn, huyện Thanh Thanh Sơn, tinh Phú Thọ” do

Vũ Quang Mạnh chủ trì, Lê Đình Thuỷ (Viện ST & TNSV) cùng nhóm nghiên cứu

đã có 2 đợt thực địa vào tháng 5 và tháng 7/1998 Kết quả đã ghi nhận thành phần loài chim ở KBTTN Xuân Sơn có 168 loài thuộc 45 họ, 15 bộ Kết quả này đẫ được công bố trên Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, số 1/2003 [ 13Ị Tiếp đó, năm 2000, trong đề tài cấp Viện ST & TNSV, Trương Vãn Lã đà tiến hành các nghiên cứu về khu hệ chim ở Xuân Sơn và xác định được 155 loài chim 112].Sau khi được chuyển hạng lên thành VQG theo Quyết định số 49/2002/QĐ- TTg ngày 17/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ với tổng diện tích 15.048 ha, Chi cục

kiểm lâm tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện ĐT & QHR xây dựng luận chứng: "Dự án đáu tư xây àiởỉg Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ", 2003Ị26] Đỗ Tước và

Trang 12

cộng sự đã xác định được ở VQG Xuân Sơn có 240 loài chim thuộc 50 họ, 15 bộ, trong đó bao gồm 235 loài quan sát được và 5 loài có mẫu [22J.

Từ năm 2003 - 2005, đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam về "Điều tra tổng hợp tài nguyên sinh vật và hệ sinh thái Vườn Quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ" do Trần Minh Hợi (Viện ST&TNSV) chủ trì đã bước đầu xác định được ở VỌG Xuân Sơn có 182 loài chim, thuộc 47 họ và 15

bộ[8j.

Từ năm 2003 - 2006, nghiên cứu sinh Nguyễn Lân Hùng Sơn đã tiến hành thực hiện đề tài "Nghiên cứu khu hệ và một số đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài chim đặc trưng ở Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ"

Đề tài đặc biệt cấp Đại học Quốc gia Hà Nội mã sô QG.05.23 nằm trong mục tiêu hỗ trợ nghiên cứu sinh Nguyễn Lân Hùng Sơn thực hiện một phần đề tài luận án

Trong quá trình thực hiện, đề tài đã hỗ trợ sinh viên Nguyễn Thanh Vân, Khoa Sinh - Kỹ thuật Nông nghiệp, trường Đại học Sư phạm Hà Nội nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học năm 2006 với tên đề tài là "Kết quả nghiên cứu bước đầu về các loài chim hiện diện tại Vườn quốc gia Xuân Sơn bằng phương pháp mist-nets"

Như vậy, mặc dù khu hệ chim của VQG Xuán Sơn đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, song vẫn còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu rộng, sâu hơn nữa

để có thể hiểu rõ hcm về sự phong phú và đa dạng cũng như những đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài chim nơi đây

1.2 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ T ự NHIÊN VÀ XÃ HỘI VQG XUÂN SƠN

1.2.1 Ví trí địa lý, hành chính

VQG Xuân Sơn nằm về phía Tây của huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ Có toạ

độ địa lý:

+ Từ 21°30 đến 21°00 vĩ độ Bắc + Từ 104°52 đến 105°12 kinh độ Đông

- Phía Bắc giáp xã Thu Cúc, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

- Phía Nam giáp với huyện Đà Bác tỉnh Hoà Binh,

- Phía Tây giáp huyện Phù Yên tỉnh Sơn La

Trang 13

- Phía đông giáp với các xã: Tân Phú, Mỹ Thuận, Long Cốc và VTnh Tiến, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

VQG bao gồm toàn bộ diện tích của xã Xuân Sơn và 7 xã vùng đệm là: Đồng Sơn, Lai Đổng, Tân Sơn, Kiệt Sơrr, Minh Đài, Xuân Đài và Kim Thượng Đều thuộc vùng sâu vùng xa của huyện miền núi Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ, với tổng diện tích tự nhiên là: 33.687 ha, trong đó:

- Diện tích vùng lõi: 15.048 ha

- Diện tích vùng đệm: 18.639 ha

1.2 2 Địa hình địa mạo

VQG Xuân Sơn và vùng đệm nằm trong một vùng đồi núi thấp thuộc lưu vực sông Bứa, nơi kết thúc của dãy núi Hoàng Liên

Vùng đồi núi thấp này toả rộng từ hữu ngạn sông Hồng sang đến tả ngạn sông

Đà bao gồm cả huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ Sông Bứa và các chi lưu của nó toả nhiều nhánh ra gần như khắp vùng Nhìn chung, các dày đồi núi chỉ cao chừng 600­

700 m, hình dáng khá mềm mại vì chúng được cáu tạo bởi các loại đá phiến biến chất quen thuộc Cao nhất là đỉnh Voi với độ cao 1386 m, tiếp đến là núi Ten, núi Vạn đều cao trên 1200-1300 m

Các thung lũng trong vùng mở rộng và uốn lượn khá phức tạp Sự chia cắt theochiều sâu cũng khá lớn, các sườn núi khá dốc, bình quàn độ dốc là 20° khiến việc đilại trong vùng gặp nhiều khó khăn

Nhìn chung địa hình trong khư vực có những kiểu chính sau:

- Kiểu núi trung bình:

Hình thành trên đá phiến biến chất có độ cao từ 700-1368m Kiểu này phán bố chủ yếu ở phía Tây và Tây Nam VQG bao gồm phần lớn hệ đá vôi Xuân Sơn và các dãy núi đất xen kẽ Tác dụng xâm thực mạnh, độ dôc lớn trung bình 30°, mức độ chia cắt phức tạp và là đầu nguồn của hệ sông suối của sông Bứa Chiếm tỷ lệ 10.4% diện tích tự nhiên,

- Kiểu địa hình núi thấp:

Được hình thành trên các đá trầm tích lục địa nguyên uốn nếp, tác dụng xâm thực bóc mòn, thuộc địa hình này là các núi có độ cao từ 300-700m phân bô chư yếu

từ Nam, Tây Nam đến phía Bắc khu vực chiếm 25,4% diện tích

Núi ở đây có hình dạng mềm mại, đinh tròn, sườn thoải, độ dốc trung bình chi 20°, có những thung lũng mở rộng hơn ở vùng núi phía Tây Bắc

Trang 14

* Kiểu đồi cao:

Có độ cao dưới 300m, phân bố chủ yếu về phía Đông khu vực, Có hình dạng đổi lượn sóng mềm mại, được cấu tạo từ các loại đá trầm tích và biến chất hạt mịn, hiện nay đã được trồng chè xanh, chè shal và rừng nguyên liệu giấy chiếm 43,9% diện tích khu vực,

- Thung lũng và bổn địa:

Đó là những vùng trũng kiến tạo giữa núi, phân bố chủ yếu ở các xã Đồng Sơn, Lai Đồng, Tân Sơn, Xuân Đài, Minh Đài và Kim Thượng, huyện Thanh Sơn Đây là các thung lũng sông suối mở rộng, địa hình bằng phẩng, độ dốc rất thoải, trong đó có trầm tích phù sa rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp

1.2.3 Khí hậu, thuỷ văn

I.2.3.I Khí hậu

VQG Xuân Sơn và vùng độm nằm hoàn toàn trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Các số liệu qua theo dõi liên tục nhiều năm (1960-1995) của trạm khí tượng Minh Đài và Thanh Sơn được thể hiộn trong bảng phụ lục 1

+ Ngược lại, trong mùa nóng, do ánh hưởng của gió mùa Đông nam nên thời tiết luôn nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình trên 25°c, nóng nhất tà vào tháng

6 và 7 (28°C) Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối lên tới 40,7°c vào tháng 6, do chịu ảnh hưởng của gió Tây (gió Lào) khô và nóng, độ ẩm không khí có thể xuống dưới 20% trong các tháng 5,6,7

- C h ế độ mưa ẩm:

Lượng mưa đạt mức trung bình từ 1.660 mm ở trạm Thanh Sơn đến 1,826mm ớ trạm Minh Đài, Tập trung gần 9Ơ% vào mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm), hai tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8,9 hàng năm (do ảnh hường của mưa hội tụ hay có mưa bão ) thường kèm theo lũ lụt gây thiệt hại khá lớn cho mùa màng và tài sản của nhân dân

Trang 15

Mùa khô hạn từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa chỉ còn chiếm dưới 10% tổng lượng mưa trong năm, nhưng hạn hán ít xảy ra vì có mưa phùn (mỗi năm có trên 20 ngày) làm hạn chế sự khô hạn trong mùa khô.

Tháng 12 và tháng 1 là những tháng khô hanh nhất và lượng bốc hơi cũng thường lớn hơn lượng nước mưa

+ Độ ẩm không khí trong vùng bình quán đạt 86%, những tháng có mưa phùn

độ ẩm không khí đạt chỉ số cao nhất Tuy vậy, những giá trị cực đoan thấp vổ độ ám vẫn thường đo được trong thời kì khô hạn kéo dài

+ Lượng bốc hơi không cao (653mm/n) điểu đó đánh giá khả năng che phủ đất của lóp thảm thực bì còn cao, hạn chế được lượng nước bốc hơi, làm tăng lượng nước thấm, duy trì được nguồn nước ngầm trong khu vực, cung cấp cho các con sòng suối có đủ nước quanh năm

I.2.3.2 Thuỷ văn

Hệ thống sông Bứa với các chi lun của nó toả rộng ra khắp vùng Với lượng mưa khá dổi dào, trung bình năm từ 1500-2000 mm, lượng mưa cực đại có thê tới

2453 mm, nhưng có năm ít mưa chỉ đo được 1415 mm

Trong vùng này khá giàu nước, mô đun dòng chảy gần 401/s/km2 Dòng chảy cực tiểu khoảng 6-7 1/s/cm2 Địa hình lưu vực thuận lợi cho việc xây dựng các hồ thuỷ lợi để phục vụ sản xuất nông nghiệp

Sông Bứa có hai chi lưu lớn, đó là sông Mua bắt nguồn từ các vùng núi cao phía Đông huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La và sông Gian bắt nguồin từ các dãy núi cao trung bình ở ranh giới giữa Phú Thọ và Hoà Bình Hai sông này hợp nhau tại làng

Kệ Sơn, rồi đổ vào sông Hổng tạo thành Phong vực Tổng chiều dài của sông 120km, chiều rộng trung bình 200m có khả nãng vận chuyên Lâm thổ sán từ thượng nguồn về sông Hồng khá thuận lợi

VQG và các xã vùng đệm chỉ nằm trong lưu vực sông Mua Các ihung lũng do sông Mua bồi đắp khá rộng và bằng phảng, nhân dân trong vùng đã cải lạo khai phá thành các cánh đổng phì nhiêu, năng suất cây trồng không thua kém các cánh đồng miền xuôi Dân địa phương sống dọc hai bên bờ, trên các dái đất phù sa và các cánh đổng do con sông này tạo nên rất đông vui và sầm uất

1.2.4 Các phàn khu chức năng trong VQG Xuân Sưn

Trang 16

Diện tích VQG Xuân Sơn đã được phê chuẩn theo Quyết định sô 49/2002/QĐ- TTg ngày 17/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ với diện tích là 15.048 ha, được phân

ra 3 phân khu chức năng và vùng đệm (bảng 1.1)

Bảng 1.1 Tổng hợp diện tích các phân khu chức năng và vùng đệm

(Nguồn: VQG Xuân SoV, 2003)

Phân khu chức năng

Diện tích (ha)

Bảng 1.2 Tổng hợp diện tích các phân khu theo xã

(Nguồn: VQG Xiiún Sơn, 2003)

Tổng diện tích (ha)

Diện tích PKBVNN (ha)

Diện tích PKPHHST (ha)

Diện tích PKHCDV (ha)

Trang 17

VQG đã được quy hoạch có diện tích đủ lớn, bao trùm hầu hết diện tích núi đá vôi trong khu vực và rừng phòng hộ của các hệ thống sống suối thuộc đầu nguồn sông Bứa Theo quy hoạch đó đã giúp bảo tồn toàn bộ diện tích các khu rừng nguyên sinh trên núi đá vôi và các khu rừng nguyên sinh trên núi đất cùng hệ động vật đa dạng trong đó Tổng hợp diện tích các phán khu chức nãng theo đơn vị hành chính xã được thể hiện trong bảng 1.2.

1.2.5 Một sô đặc điểm chung về thực vật - động vật

I.2.5.I Một sô đặc điểm chung về thực vật

Hệ thực vật rừng

- Thành phần thực vật

Kết quả điều tra của Viện ST & TNSV vật từ năm 2003 - 2005, đã thống kê được 1.169 loài thực vật bậc cao có mạch, phán bố trong 652 chi và 176 họ [8] Trong các ngành thực vật đã ghi nhận được thì số lượng loài của ngành Mộc lan (Magnoliophyta) chiếm đa số, sau đó là ngành Dương xỉ (Polypođiophyta) rồi đến ngành Thông đất (Lycopodiophyta), ngành Thông (Pinophyta) và ít loài nhất là ngành c ỏ tháp bút (Equisetophyta)

Bảng 1.3 Sự phân bô các taxon khác nhau trong hệ thực vật VQ(Ỉ Xuân Sưn

(Nguồn: Viện VST & TNSV 2005}

Trang 18

chiếm ưu thế trong hệ thực vật VQG Xuân Sơn Ngoài ra còn có các luồng thực vật

- Luồng thứ ba: từ phía Tây và Tây Nam lại, là luồng các yếu tô Indonexia- Malayxia của vùng khô hạn Ấn Độ - Miến Điện, tiêu biểu là một số loài rụng lá như

Sâng {Pometia pinnata), họ Bàng (Combretaceae)

- Tài nguyên thực vật

Tài nguyên thực vật ở VỌG Xuân Sơn khá phong phú và có thể chia thành 5 nhóm công dụng (có loài thuộc nhiều nhóm công dụng):

- Nhóm cây cho gỗ: Đây là nhóm cây quan trọng nhất Có 191 loài là cây cho

gỗ Có thể gặp những loài gỗ quý như táu muối (Varica diospyroìdes), táu nước (Vatica suhgỉabra), chò chỉ (Parashorea chinensis), chò náu (Dipterocarpus retusus), vàng tâm (Manglietia fordiana), lát hoa (Chukrasia tahularis), trường mật (Pometia pinnata), nghiến (Excentrodendron tonkinense), Đặc biệt loài trai (Garcinia fagraeoides) còn khá nhiều ở khu vực phía bắc VQG (xã Đồng Sơn), có

cây đường kính tới 80-100cm song cũng đang bị khai thác khá trầm trọng Tại VQG

Xuân Sơn có gặp chò vẩy (Dysoxyìum hainanensis), đày là loài rất ít gập ở các tính

của Việt Nam

- Nhóm cây làm thuốc: Đây là nhóm tài nguyên phi gỗ rất quan trọng Hiện đã xác định được 566 loài được sử dụng làm thuốc, chiếm gán một nửa tổng sỏ loài thực vật ở VQG Xuân Sơn

- Nhóm cây có hoa, làm cảnh và bóng mát: Đã thống kê có khoáng 90 loài Họ thực vật có nhiều loài làm cảnh nhất là họ Lan Orchidaceae (28 loài), tiếp đến là họ Cau dừa Arecaceae (12 loài), họ Đỗ quyên Ericaceae (6 loài)

Trang 19

- Nhóm cây làm rau và có quả ăn được: Có 59 loài được sử dụng làm rau ăn và cho quả ăn được Trong các cây làm rau ăn, đáng quan tâm nhất là rau sắng (hay

còn gọi là rau ngót núi, ngót rừng, phắc van) Melientha suavis, thuộc họ Rau sắng

Opiliaceae Các cây cho quả ăn được cũng khá đa dạng và phong phú nằm trong một

số họ như Dâu tằm Moraceae, họ Cam Rutaceae, họ Bồ hòn Sapinđaceae, họ Trám Burseraceae, họ Cau Arecaceae, họ Hoa hồng Rosaceae, họ Dẻ Fagaceae, họ Thầu dầu Euphorbiaceae,

- Nhóm cây chứa tinh dầu: Đã thống kê được ở VQG Xuân Sơn có 26 loài có tinh dầu thuộc các họ: Long não Lauraceae, Na Annonaceae, Bông Malvaceae, Hoa mõm chó Scrophulariaceae, Đậu Fabaceae,

Thảm thực vật rừng

VQG Xuân Sơn nằm trong khu vực xen kẽ giữa núi đất và núi đá vôi, nên thảm thực vật rừng trong khu vực tương đối đa dạng Các loại thảm thực vật rừng dược phân chia dựa theo Thái Văn Trừng, 1972 [21]

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới:

Kiểu rừng này chiếm khoảng 12% toàn diện tích VỌG, ở đai độ cao 200 - 800m Kiểu rừng này ít nhiều bị tác động, nhưng cơ bản còn là rừng nguycn sinh, vói tầng tán khá rõ rệt Tầng ưu thế gồm các loài: táu chuối, táu nước, chò chỉ, chò nâu, cứt ngựa, trường mật, cò kén, gội, cà lồ, trâm vối, đường kínlì trung bình từ 35 -

40 cm, cao từ 18 - 25 m.

- Rừng kín thườn í> xanh nhiệt đới trên đất đá VÔI xen núi đất:

Kiểu rừng này chiếm khoảng 11% toàn diện tích VQG và phân bô tập trunc ở hai đầu dãy núi cẩn Đây là kiểu rừng hình thành từ thành phần thực vật đa dạng nhất Những loài phổ biến thường gặp rất đặc trưng như trai, mạy tèo, ô rô, nghiến, đinh, vàng anh Tầng ưu thế còn có kích thước tương đối lớn như cà lồ, trường mật,

cò kén, chò xanh, gội, nhọc, côm, thị, tung, chò náu, chò chỉ, Đường kính trung bình 40 - 50 cm, đôi khi gặp cây có đường kính lớn hơn 100 cm

- Rừng kín thường xanh á nhiệt đới trên đất đá vôi xươtìg xẩu:

Diện tích này chiếm khoảng 6% diện tích tự nhiên, phân bổ đều thành các mảng từ độ cao >800 m Từ độ cao này rừng có sự thay đổi xuất hiện các loài lá kim như sam bông, thông tre, xen kẽ là nhóm Re Cinnamomum, Dỏ Castanopsis, Chò

Camellia, Thị Diospyros, đậc biệt là 3 loài lan hài hiếm (.Pholidota hiepii, p henyrianum, p.gratixianum).

Trang 20

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp:

Kiểu rừng này có diện tích lớn nhất về cây gỗ, chiếm khoảng 15% tổng diện tích, Tuy đã bị tác động nhiều nhưng còn cơ bản tính nguyên sinh, độ tàn che 0,9%, thực vật lá rộng có đường kính lớn như các họ: Dẻ, Long não, Mộc lan, Thích, Chè,

Sên, Nhân sâm, Hoa hổng, Giền Đặc biệt có cây rau sắng Melientha suavis mọc

tương đối nhiều Đặc trưng kiểu rừng này còn có thực vật ngoại tầng có các dây leo thân gỗ to lốn như dây bàm bàm, dây trắc, ngọc anh núi, dây đòn gánh, kim cang và nhóm song mây

- Rừng thứ sinh phục hỏi sau nương rẫy:

Kiểu rừng này chiếm khoảng 11,5% diện tích tự nhiên và phán bô rải rác, Rừng thứ sinh kiểu này bao gồm: rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy nhiệt đới và rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy á nhiệt đới núi thấp Thành phần loài và cấu trúc rừng đơn giản Rừng chỉ có 1 tầng cây gỗ và có tán đều nhưng khá thưa Dưới tán rừng thảm tươi khá tốt, phát triển rậm rạp gồm các loài thuộc họ c ỏ cao, họ Cói Dưới tán rừng đã thấy xuất hiện một số loài cây gỗ mọc trở lại

- Rừng thứ sinh tre nứa:

Diện tích rừng này nàm trong vành đai rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, chiếm một điện tích nhỏ Đây cũng là kiểu phụ thứ sinh được hình thành từ rừng cây gỗ bị khai thác kiệt hoặc sau nương rẫy bị bỏ hoang, chú yếu là nứa lá nhỏ và một vài nhóm cây gỗ mọc rải rác Mật độ cây khá dày (200-220 bụi/ha), cao bình quân 5-6 m Dưới tán rừng nứa, thảm tươi rất ít phát triển, thường xuất hiện một sô loài trong họ Gừng Dây leo phổ biến là kim cang, sán dây, bìm bìm

- Trảng cỏ, trảng cây bụi, cây gổ mọc rải rúc:

Kiểu thảm này chiếm diện tích tương đối lớn (30,8% tổng diện tích tự nhiên) của VQG và phân bố rải rác khắp các khu vực ở cả 2 vành đai độ cao, tập trung hơn

cả vẫn là đai rừng nhiệt đới thuộc phía Đông của VQG Trảng cỏ gồm cỏ cao như cỏ tranh, lau, lách, cỏ chít, cỏ giác

Với diên tích chiếm rất nhỏ (0,1% diện tích tự nhicn) Rừng mới được trồng khoảng 10 năm trở lại đây, gổm loài cây Keo lai ở khu vực xã Kim Thượng (đường kính 7-8 cm, cao 8m), một số ít trồng bổ đề, song đo mới trổng nên chưa khép tán Thời gian gần đây, VỌG đã chú trọng đến khoanh nuôi bảo vệ rừng và trồng xen một số cây bản địa như lát hoa, chò chỉ, chò nâu, giổi xanh, mỡ, chò xanh

Trang 21

- Thảm cây trồng:

Chiếm khoảng 10%, nằm rải rác khắp VQG nơi có dân sinh sống quanh các

bản làng gồm: ruộng lúa nước, ruộng lúa nương, nương rẫy trồng hoa màu Đặc biệt

là cây chè khá phổ biến với nhiều giống địa phương và du nhập từ nơi khác về được

trồng từ lâu đời

Thảm thực vật của VQG là nơi ở không thể thiếu được của các loài động vật

hoang dã đã được ghi nhận Mặt khác thảm thực bì Xuân Sơn còn có ý nghĩa to lớn

trong vai trò là rừng phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn Đặc

biệt là nơi sinh thuỷ của vùng thượng nguồn sông Bứa

1.2.5.2 Một sô đặc điểm chung về động vật

Khu hệ động vật hoang dã của VQG Xuân Sơn qua những công trình nghicn

cứu trong những nãm gần đây cho thấy khá đa dạng và phong phú Theo kết quà

nghiên cứu gần đây nhất của Viện ST & TNSV, 200518], đã thống kê được 76 loài

thú thuộc 24 họ, 8 bộ v ề chim đã thống kê được 182 loài thuộc 47 họ, 15 bộ v ề

lưỡng cư, bò sát đã thống kê được 7 1 loài, thuộc 20 họ, 3 bộ (bò sát - 44 loài, 14 họ,

2 bộ; lưỡng cư - 27 loài, 6 họ, 1 bộ), v ề côn trùng cho đốn nay đã thu thập và định

tên được 551 loài thuộc 327 giống của 66 họ trong 7 bộ

So với khu hệ thú của cả nước, khu hệ thú của VQG Xuân Sơn có số loài chiếm

26,6%, số họ chiếm 64,9% và số bộ chiếm 57,1% VQG Xuân Sơn có nhiều hang

động và rừng xanh che phủ là sinh cảnh rất thuận lợi cho nhiều loài Dơi sinh sống,

mặc dù đã bị tác động nhiều nhưng nhiều loài Dơi cỏ trữ lượng còn khá cao so với

một số KBTTN khác Phân bố của các loài tập trung chủ yếu trên các sinh cảnh rừng

thường xanh trên núi đá (54 loài), rừng thường xanh trên núi đất (61 loài) Các sinh

cảnh trảng cỏ, trảng cây bụi và sinh cảnh ven sông suối, mỗi sinh cảnh chỉ cỏ 33

loài sinh sống Nơi có mật độ thú cao nhất là khu vực núi Ten và núi cẩn

Khu hệ lưỡng cư, bò sát của VQG Xuân Sơn phong phú về thành phần loài

nhưng không phong phú về sô lượng cá thể của loài Sô loài phổ biến rát thấp, gồm 4

loài là: thạch sùng đuôi sần, rắn sãi thường, ngoé và ếch cây mép trắng Trong đợtthực địa gần đây vào cuối tháng 4 năm 2006 tại VQG Xuân Sơn chúng tôi và các

cán bộ của VQG đã lần đầu tiên thu mẫu được 2 cá thể thuộc giống Tyìototriton ở

độ cao 1156m so với mặt nước biển Căn cứ vào đặc điểm hình thái, mẫu thu được

khá giống với loài cá cóc mới được mô tả Tvlototriton vietnưmensis sp.n

Khu hệ côn trùng ở VQG Xuân Sơn khá phong phú và được chia ra các nhóm

có vai trò, ý nghĩa khác nhau Nhóm côn trùng có hại chú yếu là những loài CÔI1

Trang 22

trùng có hại trong nông nghiệp Các loài côn trùng ân thực vật (cây rừng và cây bụi) phần lốm là các loài cánh cứng như họ Cerambycidae, Chrysomelidae, các loài bướm (Lepidoptera), các loài bọ xít (Heteroptera) Côn trùng có lợi ở VQG Xuăn Sơn thường gặp là các loài ong mật Các loài côn trùng ký sinh thường gập thuộc họ Ichneumonidae (Hymenoptera) Các loài côn trùng ãn thịt có các loài côn trùng cánh cứng thuộc họ Carabidae, Cooocinellidae, Cicindelidae (Coleoptera) Tống sô loài côn trùng phát hiện mới cho Việt Nam ở đây là 64 loài.

1.2.6 Một sô đặc điểm chung về xã hội - nhán văn

1.2.6.1 Dân số, dân tộc và phân bỏ dán cư

Trong VQG Xuân Sơn có 10 xóm (đơn vị tính tương đương thôn) gồm: cỏi, Lấp, Dù, Lạng, Lùng Mằng (xã Xuân Sơn), Thân (xã Đồng Sơn), Nước Thang (xã Xuân Đài), Xoan, Tân Ong, Hạ Bằng (xã Kim Thượng) Các xóm này phân bô chủ yếu dưới chân các dãy núi đá vôi và núi đất, ở độ cao từ 200-400m so với mực nước biển, tập trung ở phía Đông, một phần phía Bắc và Nam của VQG

Dân cư của các xóm này chủ yếu là 2 dán tộc chính: Dao (Mán) chiếm 65,42% và Mường chiếm 34,43% dân số Số lượng, thành phần dán tộc và số khẩu của 10 xóm được thể hiện trong bảng phụ lục 2 Trong số các xóm ớ vùng lõi của VQG Xuân Sơn, thì xóm cỏi.có sô hộ và sô khẩu đông nhất (64 hộ, 341 khẩu), tiếp đến là xóm Lạng (62 hộ, 278 khẩu), xóm Dù (37 hộ, 175 khẩu),,

1.2.6.2 Kinh tê và đời sông

- Trổng trọt: Sán phẩm nông nghiệp chủ yếu là lúa nước, lúa nương, khoai sắn,

một số sản phẩm từ chăn nuôi Lúa nước thường chỉ được cấy một vụ Việc canh tác lúa phu thuộc nhiều vào các điều kiện ngoại cảnh cộng với giống lúa khônc được cái thiện nên sản lượng thường rất thấp, không ổn định Các loại hoa màu thường chi có sắn, khoai, ngô, đậu, lạc được trổng ở những khu đất cao, bàng phảng không đủ điều kiện để làm ruộng nước

- T huỷ lợi: Một sô thung lũng thuận lợi cho việc làm thuỷ lợi tưới cho đất

trồng trọt Tuy nhiên do chưa được đầu tư nên người dân các xóm thường tự phải đắp các đập nhỏ không cô định, hoặc khơi mương nước, ống nước tự chảy để làm ruộng Những khu vực cao hơn có thể làm được ruộng nước, nhưng người dân khône

đủ khả năng đưa nước tới

- Chăn nuôi: Giống chăn nuôi ở đáy chủ yếu lù các loại giống cũ cổ truyền,

nâng suất thấp Tuy nhiên, những loại này cho thịt rát ngon như lợn Mán, gà Ri, vịt,

Trang 23

ngan, Khi cải tạo vật nuôi tăng nãng suất cần chú ý giữ lại những giống quý này Tuy chúng có năng suất khống cao, chậm lón nhưng trong tương lai chúng sẽ là những đặc sản hấp dẫn khách du lịch Trong thời gian gần đây đã có một số hộ gia đình chú ý xây dựng ao, phát triển chăn nuôi cá Tuy nhiên, sô hộ này không nhiều

Ao cá chỉ được làm tạm bợ, chưa có kĩ thuật chăn nuôi phát triển cá

- Lâm nghiệp: Sản xuất lâm nghiệp ơ đây chủ yếu là việc thu hái lâm sản tự

phát của nhân dân Trước đây lâm sản chính do người dân khai thác từ rừng là gỗ, các loại động vật phục vụ làm nhà và nguồn thực phẩm, đôi khi trở thành hàng hoá

Từ khi thành ỉập KBTTN, hiện tượng săn bắn và khai thác gỗ đã giảm Các sản phẩm lâm nghiệp người dân thu hái chủ yếu là mật ong, song mây, sa nhân, lá cọ, các loài cây thuốc, Tuy nhiên, trong quá trình thu hái không có định mức nên các nguồn tài nguyên này cũng đã suy giảm

- Đường gmo thông: Trước đây khu vực này hoàn toàn tách biệt với bên ngoài

do không có đường cho xe cơ giới tới được Từ năm 2000, tỉnh đã quyết định đầu tư xây dựng đường cấp phối từ Minh Đài tói xóm Dù (Xuân Sơn) Cho đốn năm 2006 một phần lớn đường trong dự án này đã được hoàn thành

- Y tế: Hiện nay trong khu vực VQG có trạm y tế được xây mới, đóng tại trung

tâm xã Xuân Sơn (xóm Dù) Trạm có 4 giường bệnh, 1 y sỷ, 2 y tá Mỗi xóm có 01

y tá xóm Cơ sở, dụng cụ khám chữa bệnh còn rất đơn sơ

- Giáo dục: Hầu hết các xã có trường mẫu giáo, tiểu học và trường trung học

cơ sở, giáo viên hầu hết là người trên địa bàn huyện Trên 90% học sinh trong độ tuổi tiểu học được đến trường Tuy nhiên, số học sinh trong độ tuổi trung học cơ sở chỉ khoảng 50% được đến trường, trung học phổ thông chí có 25% Hđu hết các phòng học và phòng ở của giáo viên đều là nhà tạm, chỉ có phòng học ở xóm Lấp và xóm Dù mới được xây đựng kiên cố

Trang 24

II ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u

2.1 ĐỊA ĐIỂM, THÒI GIAN NGHIÊN c ú u

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện tại VQG Xuân Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ với toạ độ địa lý:

Từ 21°30 đến 21°00 vĩ độ Bắc

Từ 104°52 đến 105°Ĩ2 kinh độ Đông

Để xác định các tuyến điều tra, chúng tôi tiến hành phân tích trên bản đổ địa hình và quy hoạch VQG Xuân Sơn, căn cứ vào hiện trạng thảm thực vật, các kiểu sinh cảnh mà trong đó quyết định đến sự phân bô của các loài chim Chúng tôi đã xây dựng 5 tuyến điều tra thực địa như sau:

- Tuyến ỉ (3,7 km): Từ xóm Dù (tọa độ: 21°07'29"N - 104°57'28"E) đến xóm Lấp (tọa độ: 21°08'39"N - 104°56'45"E) và đến xóm cỏi (tọa độ: 21°09'39"N - I04°56'45"E);

- Tuyến 2 (5,3 km): Từ xóm Dù đến xóm Lạng (tọa độ: 21°06'19"N - 104°57'27"E) và đến xóm Lùng Mằng (tọa độ: 21n05'26"N - 105o56'06"E);

- Tuyến 3 (3,5 km): Từ xóm Dù lên đỉnh núi Ten (tọa độ: 21°06'49"N - 104°56’03"E);

- Tuyến 4 (4 km): Từ xóm cỏi lên khu vực trại núi cẩn (tọa độ: 21°09'04"N - 104°54’26"E);

- Tuyến 5 (7,3 km): Từ xóm cỏ i đến bến Thân, xã Đồng Sơn (tọa độ: 211110’24"N và 104°53'E) ■

Tuyến được chúng tồi tiến hành khảo sát ít nhất là 2 lẩn Việc điều tra theo các tuyến chủ yếu nhằm xác định thành phần loài và sự phán bô của các loài chim theo sinh cảnh

Qua quá trình khảo sát điều tra tuyến và nghiên cứu sinh cảnh, chúng tôi đã lựa chọn 4 khu vực đặt trại để nghiên cứu chim bằng phương pháp lưới mờ (mist-ncts), trong đó 3 trại ở khu vực núi Ten và 1 trại ở khu vực núi cẩn Các trại được đặt trong các khu vực rừng còn giữ được tính nguyên sinh khá cao

Trang 25

Ở khu vực núi Ten, 3 trại được đặt ở 3 khoảng độ cao khác nhau Tại khu vực trại 1 (tọa độ: 21°06’24" - 21°06’38"N và 104054'56" - 104°55'08"E), các lưới mờ được đặt ở độ cao từ 960 - 1150m, khu vực này giáp ranh với tỉnh Hòa Bình Tại đó, một số lưới được đặt trên những dồng núi xuyên qua các thảm rừng lùn trên núi với các loài thực vật thuộc các họ Đỗ quyên, Dẻ, Re, Hoa hồng cao dưới 5 m với các cành nhánh xum xuê và các loài địa y đeo bám, cùng với tầng thảm mục dầy phía dưới Trại 2 ở độ cao thấp hơn (790 - 890 m), có tọa độ: 21°06'14" - 21°06'21"N và 104°55’41" - 104°55'52"E) Xung quanh khu vực trại 2, các lưới được phân bô trên

cả dông núi Moong Chó, đồng thời trải xuống gần phía suối ở dưói, đặt ngang trên các sườn núi đất và đá Thực vật ở đây chủ yếu là các cây gỗ từ trung bình đến lớn, dọc suối nước có sự phát triển của nhóm Quyết lớn Trại 3 được đật ở độ cao 730 -

820 m và có tọa độ: 21°06'05M - 21°06'15"N và 104°56'43" - 104°56'5rE Khu vực này gần với xóm Dù Thảm thực vật rừng ở trại 3 có độ che phủ khá tốt, được chia làm 4 tầng Tầng ưu thế sinh thái cao 15-3ơm do nhiều loài cây lá rộng thường xanh tạo thành Tầng cây gỗ dưới tán cao 5-15 m; ngoài các cây COI1 của tầng trên, CÒI) có nhiều loài cây gỗ nhỏ khác thuộc các họ Thị, Na, Chè Tầng cây bụi bao gồm chủ yếu là các loài trong các họ Cà phê, Mua, Cau dừa Tầng thảm tươi, ngoài dương xỉ, còn có ráy, thiên niên kiện, lá dong, hương bài Tuy nhiên, nhiều khoảng rừng cũng đã bị chặt phá, tạo nên các thể khảm với sự xen kẽ của một số rừng nứa, rừng chuối

Ớ khu vực núi cẩn do địa hình núi đá hiểm trở, đi lại khó khăn và việc dựng lưới, thu lưới cũng không dễ dàng nên chúng tôi chỉ đặt một trại ở giữa dãy núi này với độ cao 670 - 740 m, tọa độ: 21°08'57" - 21°09’06"N và I04°54'18" - 104°54'32"E Rừng ở đây chia thành 4 tầng Trong đó, tầng ưu thế sinh thái cao khoảng 18-30m với một số cây như: sáng, trai, bứa đá, cà lồ Táng dưới tán rừng cao khoảng 5-15 m chủ yếu là các loài gỗ nhỏ và các cây nhỏ tầng trên Tầng cây bụi thường thưa thớt, chủ yếu là các loài cao dưới 5 m như găng, hồng bì rừng, đu đù rừng Tầng thảm tươi không đổng đều, thường gặp một số ioài trong các họ Đay, Thu hải đường, Bóng nước, Ráy, Gừng, Dương xỉ

Đ A I H J C Quốc GIA HÀ N Ô I

Trang 26

Hình 2.1 Bản đồ định hướng vị trí VQG Xuân Sơn trẽn bản đồ vùng phân bô chim Việt Nam (Võ Quỷ, Nguyễn Cử, 1995)

Trang 27

Hình 2.2 Bản đồ quy hoạch Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ

(Nguồn: Viện ĐT & QHR)

Trang 29

Tại khu vực xung quanh mỗi trại ở núi Ten, chúng tôi đã xây dựng và đánh dấu

10 điểm đếm chim theo phương pháp đếm điểm (point counts) xen kẽ trong khu vực đặt lưới Tại khu vực xung quanh trại núi cẩn, chúng tôi đã xây dựng và đánh dấu

30 điểm đếm chim tại cùng một khu vực nằm bên trong và ngoài khu vực dựng lưới

mờ Tổng số điểm đếm chim ở VQG Xuân Sơn là 60 điểm

2.1.2 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành trong hai nãm 2005 - 2006 Trong suốt thời gian nghiên cứu, chúng tôi đã tổ chức 7 đợt khảo sát thực địa, tổng số thời gian là 80 ngày Thời gian của mỗi đợt khảo sát được trình bày ở bảng 2.1

Bảng 2.1 Thời gian và địa diêm nghiên cứu thực dịa Đợt

nghiên

cứu

ngày Các điểm nghiên cứu

Đợt 1 24/11 - 2/12/2005 9 Điều tra tuyến; bắt thả, đeo vòng và đếm

chim tại trại 2 núi Ten

Đợt 2 7/1 - 22/1/2006 16 Bắt thả, deo vòng chim ở 3 trụi núi Ten

Đợt 3 6/3 - 14/3/2006 9 Bắt thả, đeo vòng chim ở 3 trại núi Ten và I

trại núi cẩn; đếm chim tại các điểm đếm

Đợt 4 26/4 - 3/5/2006 8 Đếm chim tại các điếm đếm

Đợt 5 3 /6 - 14/6/2006 12 Bắt thả, đeo vòng chim ở 3 trại núi Ten;

đếm chim tại các điểm đếm

Đợt 7 23 /9 - 10/10/2006 18 Bất thả, đeo vòng chim ở 3 trại núi Ten và 1

trại núi cẩn

Khoảng thời gian giữa các đợt nghiên cứu thực địa, chúng tôi dã phôi hợp với cán bộ VQG, kiểm lâm cũng như dân địa phương thu thập các thông tin và mẫu vật liên quan

Sau mỗi đợt nghiên cứu tại thực địa, chúng tôi tiến hành xử lý, phán tích mau vật thu thập được bao gồm làm mẫu nhồi, xử lý các di vật thu được ngoài thực địa cũng như trong dân, so sánh các mẫu thu được với mẫu lưu tại Bảo tàng Sinh vật -

Trang 30

trường Đại học Sư phạm Hà Nôi, Bảo tàng Động vật trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN, Bảo tàng Động vật Viện ST & TNSV, Bảo tàng Tài nguyên rừng -V iện Đ T & Q H R

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ú u

2.2.1 Phương pháp quan sát chim ngoài thiên nhiên

Đây là phương pháp nghiên cứu cơ bản truyền thống trong nghiên cứu chim nói riêng cũng như động vật hoang dã nói chung Các kỹ năng cơ bản trong phương pháp này được chúng tôi tham khảo các hướng dẫn trong một sổ tài liệu ở trong và ngoài nước [1,4,6,7,29,54]

Việc nghiên cứu chim ngoài thiên nhiên đòi hỏi người quan sát phải có những kiến thức nhất định về phân loại thông qua quá trình tìm hiểu, tích luỹ kiến thức từ các tài liệu tham khảo, các mẫu lưu giữ trong bảo tàng và cả qua thực tế quan sát, đối chiếu thông qua các mẫu sống tại các cửa hàng chim cảnh, tập dượt định loại trong thiên nhiên tại những địa điểm dễ quan sát thông qua hướng dẫn của các chuyên gia nghiên cứu chim giàu kinh nghiệm, Một trong các phương pháp rất có hiệu quả cho nghiên cứu chim là sử dụng các bãng âm thanh về tiếng kêu và tiếng hót của các loài chim, điều này sẽ giúp ích cho việc phát hiện và định loại các loài chim khó quan sát, giúp ích rất nhiều cho việc định loại chính xác hơn các loài chim quan sát được

Bên cạnh những kiến thức, kinh nghiệm, người quan sát cần có những trang thiết bị nghiên cứu trợ giúp cho quá trình nghiên cứu Trong các đợt nghiên cứu thực địa tại VQG Xuân Sơn, chúng tôi sử dụng ống nhòm Swarovski SLC 7x42, telescope (quan sát chim ở những vùng rộng, tầm nhìn xa), máy GPS Garmin 12 để xác định toạ độ, máy ảnh số Sony PC-10, 5.0, máy ảnh Nikon tele 300mm

Quan sát nhận biết chim ngoài thiên nhiên được thực hiện như sau:

Quan sát trực tiếp bằng mắt thường khi tiếp cận dược chim ở cự ly gần Khi đi quan sát, người quan sát cần nguỵ trang màu sắc quần áo phù hợp với màu sắc của thảm cây rừng, quần áo không gây tiếng động khi di chuyển và không quan sát đôi diện với hướng mặt trời vì bị chói mắt

Trang 31

Quan sát bằng ống nhòm Đây là phương pháp được áp dụng rộng rãi khi quan sát chim trong thiên nhiên ở khắp các địa hình, đặc biệt với độ phóng đại lớn có thể

quan sát các loài trên cao, sống ở tầng tán cao hơn, khó tiếp cận.

Có thể nhận biết chim qua tiếng hót và tiếng kêu của từng loài, sử dụng các băng ghi âm để thu hút chim đến gần, dễ quan sát hay là để khẳng định sự tồn tại hay không tồn tại của một loài nào đó mà ta quan tâm trong khu vực nghiên cứu Cũng có thể bắt chước tiếng kêu, tiếng hót của một số loài chim đế gọi chúng đến

Để hiệu quả và có độ chính xác cao trong định loại, việc kết hợp các phương pháp trên là rất cần thiết Phương pháp này sẽ trang bị thêm cho người nghiên cứu về sinh cảnh, tập tính sống (theó bầy, dàn; khả nãng di chuyển sự phân bô' theo tầng tán, ) , kết hợp với các phương pháp khác, đặc biệt là phương pháp lưới mờ (mist- nest) để có thể nghiên cứu xác định hiện trạng của quần xã chim và đề xuất các biện pháp quản lý và bảo tổn tối ưu nhất cho các KBTTN

2.2.2 Phương pháp đếm điểm (point-counts)

Phương pháp này chỉ áp dụng nghiên cứu chim trong mùa sinh sản, khi các yếu tố môi trường thuận lợi và kéo theo sự thay đổi các kích thích tố và tập tính của các loài chim[150] Tính toán số lượng chim trong mùa sinh sản theo phương pháp IPA được mô tả bởi Blondel, Ferry & Frochot ( 1970)[69,72], bổ sung thêm bởi Ferry (1976)[73J, Jean Joachim (1995)[74| Nguyên lý của việc đếm chim trong mùa sinh sản là thực hiện đếm lập tại một số điểm nhất định trong khu vực nghicn cứu Điều này sẽ cho phép chúng ta đánh giá được độ phong phú của mỗi loài bởi tần suất quan sát ngẫu nhiên được các loài chim (Spitz, 1983)f75 Ị Với mỗi nước, tùy theo đặc điểm của từng vùng với mật độ chim khác nhau mà sử dụng khoang thời gian đếm khác nhau cho phù hợp ở Anh và Mỹ, thời gian đếm được lựa chọn

có thể là 5 hoặc 10 phút (Fuller and Langslow, 19K4)[40] Phương pháp này cũng đả được sử dụng đê tính toán kích cở quần thể, hiện trạng và sự phân bố của chim rừng

ở VQG Chu Yang Sin, Đắc Lak Trong khi đó ở Pháp, các nhà điểu học sử dụng thời gian đếm theo phương pháp tính toán chỉ số phong phú trưng bình ÍPA (Index d'Abondance Ponctuel) là 20 phút cho mỗi điểm Qua khảo sát thực địa ở VQG Xuân Sơn, chúng tôi lựa chọn thời gian đếm cho mỗi điểm chính xác là 20 phút và chia thành 4 khoảng thời gian, mỗi khoảng tương ứng 5 phút Trong suốt thời gian đếm, mọi thông tin về sự xuất hiện hay biến mất, vị trí, hoạt động kêu, hót của lát củ

Trang 32

các loài chim đều được ghi nhận với khoảng cách không hạn chế phù hợp với khả năng của người quan sát Thời gian tốt nhất cho đếm chim là vào buổi sáng sớm, kéo dài cho tới khi nào hoạt động kêu, hót của chim ít dần Những loài chim không xác định được chính xác tới loài thì có thể ghi nhận ở bậc phân loại gần nhất có thế cùng

với những đặc điểm ghi chú về loài Ví dụ: Chích?, Đớp ruồi?, Pellorneuml Điều

này nhấn mạnh ràng các dữ liệu ghi nhận được là rất quan trọng và sử dụng đê tham khảo nhằm xác định các loài một cách chính xác trong các lần đếm sau đó

Với mỗi loài xác định được, mỗi một lần đếm được quy đổi ra số lượng cá thể của loài theo quy ước thống nhất sau:

- 1 tiếng hót của con đực hoặc 1 đôi chim quan sát được hoặc một tổ của loài

đó quan sát được thì được tính là 2 cá thể

- 1 cá thể chim quan sát được hoặc một tiếng kêu của loài đó thì được tính là

2.2.3 Phương pháp lưới mờ (mist-nets)

Một hệ thống 10 lưới mờ được dựng xung quanh mỗi trại nghiên cứu ở VQG Xuân Sơn để bắt thả chim Sử dụng lưới mờ là một kỹ thuật hiện đại trong quản lý quần thể trợ giúp tốt cho việc đánh giá cấu trúc thành phần loài, mối quan hệ độ phong phú giữa các loài, kích cỡ quần thể, mô tả hiện trạng quần thể bao gồm khả năng sinh sản, phát triển và mức độ sống sót [38]

Các lưới mờ (rnist-nets) được sử dụng nghiên cứu là loại 4 tay lưới, dài 12 m, cao 2.6 m, mắt lưới 30 mm của Italia sản xuất (do BTLSTN quốc gia Paris, Pháp cung cấp) được dựng bởi hai cọc tại mỗi điểm thu mẫu Lưới được sử dụng từ 7-12 tiếng mỗi ngày, bắt đầu từ 5 - 6 h đến 17h30 - 18h30, tùy theo mùa và điều kiện thời tiết cho phép

Tại VQG Xuân Sơn, chúng tôi tiến hành sử dụng phương pháp mist-nets để nghiên cứu chim vào thời điểm hai mùa khác nhau trong năm (cuối mùa dông và giữa mùa xuân) Trong mỗi đợt nghiên cứu, chúng tôi đã dựng 10 lưới theo 3 khu vực trại khác nhau, tương ứng với 3 khoảng độ cao khác nhau ờ khu vực núi Ten Tại

Trang 33

mỗi trại, các lưới được dựng cắt qua các sinh cảnh đặc trưng của rừng ở khoảng độ cao đó và khoảng cách giữa các lưói cũng không quá xa nhau để đảm bảo cho việc

đi thăm lưới được thường xuyên

Buổi tối lưới được đóng lại để tránh bị dơi và các loài thú nhỏ ăn đêm đến phá lưới Bên cạnh đó, những lúc thời tiết không thuận lợi như mưa, gió to thì lưới cũng được đóng lại

Các lưới được kiểm tra thường xuyên, cứ 30-40 phút lưới được kiểm tra một lần Những ngày rét buốt, thời gian sau mỗi lần kiểm tra được rút ngắn lại đê tránh hiện tượng chim bị tổn thương hoặc chết do dính trên lưới quá lâu

Chim được gỡ ra khỏi lưới một cách nhẹ nhàng và đúng kỹ thuật để Iránh làm chim bị tổn thương Tất cả các cá thể chim được bắt lần đầu đều được đánh dấu hoặc đeo vòng tuỳ điều kiện cụ thể, đòng thời được mô tả các đặc điểm hình thái và sinh học như định tên, xác định hiện trạng tuổi (dựa theo đặc điểm của bộ lông, màu sắc của mỏ, mép mỏ ), tình trạng sinh sản (dựa vào đặc điểm của lỗ huyệt), giới tính (với các loài có sự khác nhau về màu sắc của bộ lông giữa cá thê đực và cái), trọng lượng, chiều dài cánh và các thông tin ghi chú khác

Trọng lượng của chim được xác định bằng cán điện tử, đơn vị là gam Chiều dài cánh được đo bằng thưóc đo cánh chuyên dụng chữ L, đơn vị là milimét

Để xác định các loài chim ngoài thực địa chúng tôi có tham khảo một sô sách hướng dẫn về nhận dạng loài chim khu vực Đông Nam Á và Việt Nam có hình vẽ màu được chỉ dẫn rất chi tiết [4,17,44,46,56,66|

Trong phương pháp lưới mờ, một vấn đề được đặc biệt quan tâm đó là kỹ thuật

gỡ chim ra khỏi lưới Kỹ thuật này đã được chúng tôi tập huấn kỹ cho các thành vicn trong nhóm nghiên cứu trước khi thực hiện ngoài thực địa Bởi lẽ, nếu không được hướng dẫn về kĩ thuật thì dẫn đến người thực hiện sẽ đê chim dễ dàng thoát lưới, bay

đi hoặc thậm chí có thể gây chết chim trong trường hợp chim bắt được bị rối chặt vào lưới hay lưới bị thắt, xoắn

Để gỡ chim ra khỏi lưới, điều đầu tiên cần kiểm tra xem chim bay vào lưới từ hướng nào Dễ dàng xác định được khi quan sát phần đuôi của chim nằm ở mặt nào của lưới thì đó sẽ là hướng chim bay vào lưới, sau đó gỡ chim ra từ hướng chim bay vào lưói, Khi gỡ nên rất từ từ, tránh làm mạnh tay Kỹ thuật gỡ sẽ không giống nhau

Trang 34

với tất cả các loài Do vậy, cần phải lựa chọn kỹ thuật nào phù hợp nhất cho mỗi loài mắc lưới.

Ở Việt Nam, trong thời gian trước đây, có một số nhà khoa học của Nga, Nhật Bản, Thuỵ điển có mang một số vòng của mình khi đến nghiên cứu và đeo vòng cho chim thu được ở Việt Nam Tuy nhiên, vòng riêng cho chim ở Việt Nam thì chưa có đơn vị nào trong nước sản xuất Trong đề tài nghiên cứu của chúng tôi, áp dụng phương pháp lưới mờ ở VQG Xuân Sơn, lần đầu tiên chúng tôi sử dụng vòng kim loại có mã chữ và số của Bảo tàng Sinh vật, trường ĐHSPHN,

Tuỳ theo kích thước chân của mỗi nhóm chim mà chúng tôi lựa chọn loại vòng

có kích thước thích hợp để đeo đánh dấu Hiện tại, chúng tôi sử dụng một số loại vòng cụ thể như sau:

Loại vòng s (d=2mm, h=3.1mm): sử dụng với các loài chim cữ chân nhỏ như chim chích

Loại vòng M (d=2.4mm, h=3.2mm): sử dụng với các loài chim cỡ trung bình như lách tách, khướu nhỏ, đớp ruồi

Loại vòng X (d=3.8mm, h=3mm): sử dụng với chim cỡ lớn hơn như hoét, cành cạch

Loại vòng L (d=5.4mm, h=5.5mm): sử dụng với chim cỡ to như hoét xanh.Loại vòng VN_B (d=9.5, h=7mm): sử dụng với những loại chim rất to như cú, nuốc

2.2.4 Phương pháp thông kê sinh học

Các số liệu thu thập được ngoài thực địa được ghi chép cẩn thận và nhập vào chương trình Microsoft Excel để xử lý thống kê sinh học

Chỉ số đa dạng Shannon - Wiener được tính theo công thức:

H' = - I pi.ln(pi)Trong đó: pi là tỷ trọng của loài i được thể hiện bàng tỷ lệ giữa tổng số cá thể của loài đó so với tổng số cá thể của tất cả các loài; ln là lôgarít tự nhiên; X biểu diễn tổng pi.ln(pi) cho tất cả các loài

Chỉ số đổng đều được tính theo công thức:

J = H'/Hmax

Trang 35

s = c/(a+b-c)Trong đó: S: hệ số chung; a: tổng số loài có trong quần xã A; b: tổng sốloài có trong quần xã B; c: tổng số loài có mật chung trong hai quần xã A và B.

Từ dó cũng có thể suy ra chỉ số khác biệt là 1-S

Với kết quả tính được trong bảng ma trận trên, chúng tôi tiến hành xây dựng biểu đồ cây phát sinh bàng cách sử dụng phần mềm MINITAB version 12.2,

2.2.5 Phương pháp xáy dựng bẳD đồ nghiên cứu

Trên cơ sở bản đồ địa hình, thảm thực vật, phán khu chức năng của VQG Xuán Sơn do Trung tâm tài nguyên Môi trường, Viện Điều Ira Quy hoạch rừng thực hiện năm 2001, chúng tôi tiến hành sử dụng chương trình Maplnfor để nhập dữ liệu toạ

độ các điểm đặt lưới tại VQG Xuân Sơn Các toạ độ đặt lưới được chúng tôi thu ngoài thực địa bằng máy định vị toàn cầu GPS Garmin 12 Qua xử lý bằng chương trình Maplnfor , chúng tôi xây dựng được bản đồ thể hiện các vị trí đặt lưới mờ (mist-nets) và các điểm đếm chim (point counts) tại VQG Xuân Sơn Ánh khu vực nghiên cứu chụp từ vệ tinh được chúng tôi lấy từ chương trình Earth Googlc xây dựng năm 2006

2.2.6 Phương pháp nghiên cứu âm sinh học

Hầu hết các loài chim giao tiếp sinh học với nhau nhờ sử dụng tiếng kêu được tạo thành bởi một chuỗi tín hiệu âm thanh nghe được Âm thanh chim phát ra có thể biêu hiện giới tính, xác định lãnh thổ của loài, duy trì liên lạc giữa các cá thể cùng loài hoặc khác loài trong các đàn hỗn hợp, cảnh báo nguy hiểm và có thê biêu thị nhiều điều khác nữa [28,43,47], Tiếng kêu và tiếng hót có thể dược lặp lại và mang tính bẩm sinh như ở hầu hết các loài chim không thuộc bộ sẻ hoặc học được trong

Trang 36

quá trình phát triển cá thể và tương tác với môi trường ở hầu hết các loài trong bộ sẻ [57].

Khái niệm tiếng hót thường được định dạng cho những tiếng chim có giai điệu hoàn chỉnh, trong khi tiếng kêu có thể hình dung là những âm đơn lẻ, rời rạc và không có tính nhạc Một số loài chỉ có một giọng hót, trong khi nhiều loài khác lại

có nhiều giọng hót và phụ thuộc vào từng giai đoạn trong mùa sinh sản, mức độ bị kích thích, phụ thuộc vào tuổi và kinh nghiệm tích lũy của từng cá thể, phụ thuộc vào cách thức phát âm (hót khi đậu hay khi bay), [45,67]

Với những người xem chim và các nhà điểu học thì nhận dạng được tiếng kêu, tiếng hót của các loài chim là vô cùng quan trọng Trong rừng mưa nhiệt đới, với thảm thực vật rừng dày đặc, nhiều tầng, việc quan sát bị hạn chế thì việc nhận dạng qua tiếng chim sẽ giúp xác định tốt hơn cấu trúc thành phần loài, mật độ, độ phong phú của các loài trong quần xã [47]

Để thu âm tiếng chim ngoài thực địa, chúng tôi sử dụng bộ thiết bị micrô thu định hướng parabolc chuyên nghiệp Telinga PRO-4PIP của Thụy Điển, kết nối đổng

bộ với máy ghi âm mini-disc Sony MZRH910 của Nhật bản Thiết bị này cho phép loại bỏ bớt tạp âm tạo ra do khoảng cách từ vị trí ngưừi thu đến nguồn âm chim phát

ra Tiếng kêu và đặc biệt là tiếng hót của chim là một tổ hợp âm phức tạp được kết hợp, biến đổi theo thời gian và không gian nên với ngưỡng nghe của con người, dôi khi chúng ta chỉ nhận biết được phần nào âm thanh đó

Một phương pháp cơ bản truyền thống để mô tả tiếng chim là sử dụng một loạt

âm tiết của con người với nhiều ký tự quy ước Tuy nhiên, phương pháp này gặp rất nhiều hạn chế, bởi cũng một tiếng chim được mô tả nhưng mỗi người khi xem có thể hiểu và hình dung một cách khác nhau [461

Để phân tích ám thanh, hiện nay, người ta thường mô phỏng âm thanh dưới dạng âm đổ hay ảnh phổ (sonagrams hay spectrograms) Trong đó, trục hoành là thời gian tính bằng giây (s) Trục tung là tần số âm thanh tính bằng đơn vị kHz (kiloHertz) Các file tiếng chim thu ngoài thực địa được đưa về phòng thí nghiệm phân tích dựa trên phần mềm Praat version 4.2.05 cùa hai tác giả Paul Boersma và David Weenink thuộc Viện khoa học ngữ âm, Trường Đại học Amsterdam Hà Lan Tiếng kêu tiếng hót của mỗi cá thế được phân biệt bởi 3 yếu tố chính, đó là: tần số

âm (pitch), năng lượng âm (intensity) và ám sắc (quality) Chúng tôi mô tả tiếng

Trang 37

kêu, tiếng hót của các loài chim trong nghiên cứu này theo phương pháp của Rasmussen và Anderton, 2005 [55].

3.3.7 Phương pháp phán tích thức ăn

Khi tiến hành nghiên cứu thức ăn của chim rừng, chúng tôi áp dụng một số phương pháp truyền thống để phân tích định tính và định lượng

Quan sát, theo dõi ngoài thiên nhiên:

- Quan sát theo tuyến để phát hiện ngẫu nhiên chim đang ăn thức ăn gì Đồng thời xác định những dấu vết của chim để lại trên cây, hoa, lá, quả đế xác định nguồn thức ăn của các loài chim

- Bố trí các điểm quan sát tại các cây có quả, họng nước, nơi chim thường tới để dễ quan sát và xác định các loài chim ăn loại thức ãn đó

- Xác định thức ăn qua phân Trong phân một số loài chim có thế còn lại những phần thức ăn không tiêu hóa được, qua đó có thể xác định một số thành phần thức ăn

- Việc quan sát ngoài thiên nhiên được tiến hành quanh năm

- Tham khảo thêm kinh nghiệm, kiến thức của cộng đổng dân địa phương khi tìm hiểu thành phần thức ăn của một số loài chim

Phân tích thức ăn trong dạ dày:

Hiện nay việc thu mẫu chim là rất hạn chế, nên các mẫu dạ dày thu được đểphân tích là không nhiều Trong quá trình nghiên cứu ở VQG Xuân Sơn, chúng tỏi

đã giải phẫu và phân tích dạ dày của một số mẫu chim thu được từ người dân địa phương sãn bẫy trộm trong rừng và một số mẫu chúng tôi thu bàng lưới mừ đế hổ sung cho mẫu của bảo tàng phục vụ nghiên cứu và giảng dạy

Với các mẫu dạ dày được thu ngoài thực địa, chúng tôi tiến hành tiêm và ngâm

dạ dày vào dung dịch formol 4% và mang về phòng thí nghiệm phán tích

Tại phòng thí nghiệm, các dạ dày thu ngoài thực địa được inổ và tiến hànhphân tích thức ăn Sử dụng chậu thủy tinh chứa nước tinh khiết để sàng lọc thức ăn vào trong đó Sử dụng iốt đế kiểm tra tinh bột, dùng xu-đăng để kiểm tra mỡ Phán

thức ăn thô còn lại trên rây lọc được tách ra, ước tính tý lệ °ĩ( của từng loại thức ăn

Phân tích thức ăn theo từng nhóm động vật, thực vặl Với các nhóm động vật không xương sống, chúng tôi đã phối hợp với các chuyên gia của Irường Đại học Sư phạm

Trang 38

Hà Nội và Viện ST & TNSV hỗ trợ định loại Với các nhóm thực vật, chúng tôi có nhờ các chuyên gia của Viện ĐT & QHR kết hợp tra cứu thêm một số tài liệu về cây rừng Việt Nam [10].

2.2.5 Hệ thống học định loại chim

Cho tới nay, hệ thống phân loại chim vẫn tuân thủ những nguyên tắc phân loại

động vật cơ bản được để xuất bởi Mayr [14] Danh lục chim thế giới (The world birds checklist) của Monroe và Sibley (1993) dựa trên hệ thòng phân loại được đề

xuất bởi Sibley-Ahlquist-Monroe (SAM), dựa trên nhiều kết quả phân tích ADN thay thế phương pháp định loại truyền thống là dựa vào phân loại hình thái Vì thể

nó có nhiều điểm khác với hệ thống phân loại trước đây của Wetmore (1930) Tuy nhiên, kể cả những hệ thống phân loại sau này khi đã cập nhật những kết quả phân tích ADN thì hệ thống của SAM cũng hoàn chỉnh và chính xác hơn (như Peters 1934-1987, Merony et al 1975, Clements 1981, Howard and Moore 1980, 1991) Vì thế hầu hết các sách hướng dẫn nghiên cứu chim và danh lục chim hiện nay trên thế giới thường dùng hệ thống phân loại học, thứ bậc taxon và Irình tự danh pháp của SAM Hê thống này cũng được Võ Quý, Nguyễn Cử sử dụng trong xây dựng tài liệu

Danh lục Chim Việt Nam (1995)[17].

Năm 1996, Inskipp et al [41] đã xuất bản Danh lục chim cho vùng Phương Đông (Oriental region) Danh lục này về cơ bản giống với hệ thống của SAM trừ một số trường hợp được thay đổi về cấp độ của loài và tên tiếng Anh Danh lục này được chấp nhận và sử dụng trong hầu hết các sách hướng dẫn quan sát nhận biết chim ở vùng Phương Đông trong những nằm gần đây (như Grimmett 1999, Robson

2000, MacKinnon and Phillipp 2000, Kennedy 2000) Nhìn chung nó khá cập nhật hơn Monroe and Sibley (1993)

Trong trường hợp nghiên cứu chim ở VQG Xuân Sơn, chúng tôi lựa chọn sắp xếp danh lục chim theo Inskipp et al 1996141 ] về tên khoa học, thứ bậc tuxon và tên tiếng Anh Đáng chú ý trong hệ thống này, bậc tribe được hiểu là bậc phân loại dưới phân loài và chúng tôi tạm dịch sang tiếng Việt là tộc Chúng tôi cũng cập nhật thêm một số kết quả mới phân tích ADN về sự thay đổi giông của một sô loài dựa Iheo những kết quả nghiên cứu gần đây Ví dụ như loài khướu mào bụng trắng trước đáy

thuộc giống Yuhinu ( Yuhina zantholeuca), nay chuyển thành giông Erpornis 132,331

Trang 39

và tên khoa học mới sẽ là Erpornis zantholeuca Theo hệ thống của Inskipp et al.,

1996 thì họ Khướu Timaliidae trong hệ thống của Monroe và Sibley ( ỉ 993) trước đây được xếp nằm trong họ Chim chích Syỉviidae và nhóm khướu nhỏ được đặt trong tộc Timaliini thuộc phân họ Chim chích Sylviinac

Về tên phổ thông của các loài chúng tôi lấy theo tài liệu của Võ Quý, Nguyễn

Cử 1995[17] Những trường hợp riêng, chúng tôi sẽ có ihảo luận thêm

Trong quá trình định loại các mẫu chim, đặc biệt là các mẫu chim bổ sung cho Danh lục chim Việt Nam [46J, chúng tôi có tham khảo thêm ý kiến của các chuyên gia trong và ngoài nước như: GS Võ Quý, TS Nguyễn Cử, ông Lê Trọng Trải, ông

Đỗ Tước, ông Jonathan c Eames, TS Eric Pasquet, TS Jean Joachim, TS Robert p Prys - Jones, ông Craig Robson, ông Mark p Adams

Trang 40

III KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u

3.1 KẾT QUẢ NGHIÊN c ú u THÀNH PHAN l o à i v à m ộ t s ố ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI HỌC CHIM BẰNG PHƯƠNG PHÁP LUỚI MỜ (MIST-NETS)

VÀ ĐẾM ĐIỂM (POINT-COUNTS) TẠI VQG XUÂN SƠN

3.1.1 Kết quả nghiên cứu chim bằng phương pháp lưới mờ (mist-nets) 3.1.1.1 Thành phần loài chim đưực bắt thá bằng lưới mờ tại VQG Xuân Sơn

10 lưới mờ (mist-nets) đã được đặt ở hai khu vực rừng được bảo vệ tốt và còn giữ được tính nguyên sinh là khu vực rừng núi Ten và rừng núi cẩn trong suốt các thời điểm khác nhau trong năm Bàng hệ thống lưới này chúng tôi đã tiến hành bắt thả và đánh dấu các loài chim hoạt động trong khu vực nghiên cứu

Bảng 3.1 Cấu trúc của thành phần loài chim được bắt íhả bằng

phương pháp lưới mờ tại VQG Xuân Sơn

Bảng 3.1 cho thấy tổng số cTiim được bắt thả là 840 cá thể của 79 loài thuộc 13

họ trong 5 bộ Bộ sẻ Passeriformes là bộ đa dạng nhất về họ (71 họ, chiếm 89,88% tổng số họ) và về loài (821 loài, chiếm 97,73% tổng số loài) Bộ Nuốc Trogoniformes và bộ Bổ câu Columbiformes là hai bộ chỉ thu được một loài duy nhất Trong 79 họ thu được thì họ Chim chích Sylviidae có số loài Iihiều nhất, với 27 loài, chiếm 34,18% tổng sô loài, trong đó 14 loài thuộc phán họ Chim chích Acrocephalinae và 13 loài thuộc phân họ Khướu nhỏ Sylviinac Họ có số lượng loài

Ngày đăng: 03/02/2021, 16:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] E.A. Armstrong, A study o f bird, song, Oxford University Press, London, 1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A study o f bird, song
[2] J. MacKinnon, K. Phillipps, A field guide to the birds of China, Oxford Press, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A field guide to the birds of China
[3] Võ Quý, Sinh học những loài chim thường gặp ở Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật,Hà Nội, 1971. ' Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học những loài chim thường gặp ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
[4] P C. Rasmussen and J ,c . Anderton, Birds of South Asia, the Ripley Guide, Volume 2: Atributes an d Status, Lynx Edicions, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Birds of South Asia, the Ripley Guide, Volume 2: Atributes an d Status
[5] G. Robson, A field guide to the birds of South * East Asia (Thailand, Peninsular M alaysia, Singapore, Myanmar, Laos, Vietnam, Camodia), New Holland Publishers(UK) Ltd, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A field guide to the birds of South * East Asia (Thailand, Peninsular M alaysia, Singapore, Myanmar, Laos, Vietnam, Camodia)
[6] M. Strange, A Photographic Guide to the Birds of Southeast Asia (including the Philippines & Borneo), Christopher Helm, London, 2002.TẠP CHl KHOA HỌC ĐHQGHN. KHTN & CN. T.XXII. s ố 3C PT- 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Photographic Guide to the Birds of Southeast Asia (including the Philippines & Borneo)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w