Vì vậy, chúng ta phải tìm nguồn gốc, động lực của sự phát triển xã hội trong hoạt động của con người... Có thế phân..[r]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, B ồ i DUỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ĐỂ TÀI KHCN CẤP ĐHQGHN DO TRUNG TÂM QUẢN LÝ
TỔNG QUAN ĐỂ TÀI
MỐI QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ NHÂN VÀ LỢI ÍCH
TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1 TS Lẽ Văn Lực - T rung tâm Đ T B D G V LLC T
2 PG S.TS N guyễn Thế K iệt - Học viện C hính trị - H ành chính Q uốc gia H CM
3 TS Đ oàn Thị M inh O anh - T rung tâm ĐT, B D G V L L C T
O A H O C QUỐC GíA H À NỎ
ĩ R Ư N G _ r à I TH0NG r , N T H Ự v j N
1 / Or «
Ha Nội 2008
Trang 281
89
116119
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1: LỢ I ÍCH CÁ NHÀN, LỢI ÍCH XÃ HỘI VÀ Q U A N HỆ GIỮA
CHÚNG
Quan điểm Macxít về lợi ích và vai trò của lợi ích
Quan điểm Macxít về lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội và mối quan
hệ giữa chúng
Chương 2: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ NHÂN VÀ
LỢI ÍCH XÃ HỘI TRONG NỂN k i n h t ê t h ị t r ư ờ n g đ ị n h
HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Thực trạng mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội ở
Việt Nam hiện nay
Chương 3: M Ộ T SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU GIẢI Q U Y ẾT MÂU
TH UẪN GIỮA LƠI ÍCH CÁ NHÂN VÀ LỢI ÍCH XÃ HỘI Ở
VIỆT NAM H IỆN NAY
Những quan điểm, nguyên tắc cơ bản giải quyết mâu thuẫn giữa lợi
ích cá nhân và lợi ích xã hội ở Việt Nam hiện nay
Một số giải pháp chủ yếu giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích cá
nhân và lợi ích xã hội ở Việt Nam hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3là động lực sâ i xa, cuối cùng của quá trình vận động xã hội, lị:h sử.
Quan điểm biện chứng về sự phát triển nói chung, về sự phát triển xã hội nói riêng của T riết học Mác - Lênin là quan điểm về sự phát triển bền vững Sự phát triển bền vững đó chỉ có được dựa trên nền tảng giải quyết tốt những mối quan hệ xã hội Theo quan điểm của Triết học M ác - Lênin, lợi ích là cơ sở của các mối quan hệ xã hội Do vậy, xét đến cùng, chỉ có thể tìm được động lực thúc đẩy sự phát triển bển vững của xã hội, nếu giải quyết được vấn đề lợi ích
và mối quan hệ lợi ích
Hiện nay, nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH Đ ất nước đứng trước nhiều vận hội mới, xong cũng không tránh khỏi phải đối đầu với nhiều thách thức, khó khăn Vấn đề đặt ra lúc này là làm th ế nào để tận dụng, tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, đẩy nhanh được tốc độ phát triển, tránh nguy cơ tụt hậu, đảm bảo phát triển nhanh nhưng bền vững, giữ được sự ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ đúng định hướng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH Đầy
Trang 4là m ột bài toán khó, đòi hỏi nhiều quyết tâm , nỗ lực, đòi hỏi có những nhận thức và định hướng đúng đắn Để thực hiện điểu đó, chúng ta cần và phải phát huy tối đa vai trò động lực của các lợi ích, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các lợi ích, trong đó đặc biệt chú ý đến m ối quan hộ giữa lợi ích cá nhân -
lợi ích xã hội
Hơn 20 năm đổi mới, với sự phấn đấu cao độ của toàn Đảng, toàn dân, chúng ta đã đạt được những bước phát triển đáng kể, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế và giữ được sự ổn định chính trị - xã hội Đ iều đó chứng tỏ rằng, trong những chừng mực nhất định, vấn đề lợi ích, mối quan hệ lợi ích đã được Đảng, Nhà nước quan tâm giải quyết, tạo động lực phát triển cho xã hội
Tuy nhiên, cũ n g cần nhận thức một thực tê rằng, thời gian qua c ũ n | đã nảy sinh nhiều vấn đề bất câp liên quan đến tăng trưởng kinh tế, môi trườne sinh thái, các vấn để xã hội Việc điều chỉnh cơ cấu lợi ích, nhằ m thúc đấy, sử dung tính tích cực eúa con người, tao sự phát triển nhanh, ổn đinh, bốn vững ớ nước ta hiện nay là hoàn toàn cần thiết, nếu k h ôn g m uố n nói là bức thiết
Từ nh ữn g yêu cầu lý luận và thực tiễn đó, ch ún g tôi chọn chú đê cho đc tài nghiên cứu kh oa học của mình là: “M ôi quan hệ giữa lợi ích cá nhan và lợi ích x ã hội trong nền kinh tê thị trường đinh hướììg x ã hội chủ nghĩa o Việt N am hiện n a y ”.
2 T ìn h h ìn h n g h iên cứu đề tài
Vấn đề lợi ích đã từ lâu thu hút sự qu an tâm của các nhà Triết học và khoa học xã hội theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin Đặc biệt, tronc thời gian nửa cuối n hữ ng nă m 70, 80 (XX), vấn đề được nghiên cứu, thảo luân khá sôi nổi ở cả trong nước và nước ngoài Kết q u ả là đã có một số lượng lớn, sách, bài viết được côn g bố với nhiều góc độ và phạm vi nghiên cứu Có thế phân
Trang 5chia các cồng trình nghiên cứu này thành các nhóm sau:
Các công trình của các nhà nghiên cứu trong nước
- Sách chuyên khảo:
“Chủ n gh ĩa x ã hội và cá n h â n ', Lê Xu ân Vũ, N x b Chính trị quốc gia,
2001 ; “M ố i q u a n h ệ p h á p lý giữa cá nhâ n công d â n với n h à nướ c", Trần
Ngọc Đường, Chu V ăn Thành, N xb Chính trị quốc gia, 2001; “Lợỉ ích xã hội
và p h á p lu ậ t” , N x b Công an nhân dân, 2002; “Bàn vê cá c lợi ích kinh t ể \ tập
thể tác giả, N xb Sự thật, 1982; “Xây dựng chủ nghĩa x ã hội ở Việt Nam - vấn
đ ề nguồn gốc và đ ộ n g lực” , Lê Hữu Tầng, N xb K ho a h ọc xã hội, 1991; “V ề sự kết hợp các lợi ích k in h t ể \ Vũ Hữu Ngoạn - K h ổ ng Doãn Hợi, Nxb Thông tin
lý luận, 1986; "L ợ i ích - động lực phớ t triển x ã hội” , Ng u y ễn Linh Khiêu, Nxb
Khoa học xã hội, 1998
Trong cu ố n “C h ủ nghĩa x ã liội và cá /ìh â n '\ tác giã Lé Xuân Vũ dã đê
cập đến vân đề môi quan hệ giữa cá nhân và xã hội nói chu ng và trong chú nghĩa xã hội nói riêng, sự cần thiết phải xoá bỏ đối lập giữa cá nhân và xã hội, tạo điểu kiên ch o cá nhân phát triển toàn diên trong chú nghĩa xã hỏi Theo Lé Xuân Vũ, n g u ồ n gốc của những sai lầm trong nhàn thức về chủ nghĩa xã hội thời kỳ trước đây n ằm ở việc chúng ta đã đem đối lập cá nhân với xã hội Và vì vây, cần phải xem xét mối quan hệ ây một các biên chứng, xoá bỏ sư đối lập ây,
Các tác giả Trần Ngọc Đường, Chu Văn Thàn h thông qua cuốn sách
“M ố i quan /lệ p h á p lý giữa cá nhân cỏnsị dân với nhà nước" đã đi sâu nghiên
cứu bàn chất mối qu an hệ giữa cá nhân công dân và nhà nước; q u yề n lợi, nghĩa
vụ cơ bản của c ô n g dân theo Hiến pháp nă m 1992; n hữ ng đ ả m bảo pháp lý trong việc thực hiện mối quan hệ giữa nhà nước và cá nh ân cô n g dân Trên cơ
sở ấy, các tác giả đi tới kết luận ràng, chỉ có giải quyết hài hoà giữa lợi ích của
Trang 6công dân và lợi ích của Nhà nước thì mói đảm bảo sự phát triển của xã hội, mới xây dựng được m ột xã hội pháp luật.
các lợi ích kinh t ể ' lại chuyên bàn về các lợi ích kinh tế, trong đó chú trọng
đến sự kết hợp ba lợi ích trong cơ chế khoán sản phẩm Tuy nhiên, các tác giả cũng chưa bàn nhiều về các lợi ích khác và quan hệ lợi ích giữa chúng
Trong cuốn sách “Bàn về các lợi ích kinh t ể \ tập thể tác giả đã đi tới
đồng nhất qu an đ i ể m về vai trò, vị trí của lợi ích kinh tế, sự tồn tại khách quan của lợi ích kinh tế Tác giả Lê Xuân Tùng k h ẳ n g định: “ Lợi ích kinh tê tồn tại không tuỳ thuộc ở chỗ người ta có nhận thức được nó hay không, mà do địa vị của họ trong hệ thố ng sản xuất - • ã hội quy định Vì vậy, về bản chất, phải khắng định rằng, lợi ích kinh tế tồn tai khác h q u a n ” [tr 95] Còn tác giá Vũ Hữu Ngoan viết: “ Lợi ích kinh tê là một phạm trù kinh tê khác h quan, là hình thức biểu hiện trước hết các quan hê sán xuất, nó không tuỳ thuộc vào ý chí lòng ham m u ô n của con người” [ tr 62] Còn xét trên góc độ quan hê sán xuất, khi viết vể lợi ích kinh tế, tác giá Đào Duy Tù n g chi rõ: “ Lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện những quan điểm kinh tế, quan hệ giữa người với người trong sản x u ấ t ” [tr 94],
Tác giá Lê Hữu Tầng trong cuốn ' íX á \ dựng chú nghĩa x ã hội ờ Việt
N a m - vấn đ ê n guồn gốc và độiiịỉ lực", đã có m ộ t sự trình bày khá sâu sác vê
vân để lợi ích Ô n g ch o răng, “ xét vể mặt bản chất, lợi ích chính là môt quan
hệ - quan hệ giữa các sự vạt, hiện tượng của t h ế giới bên ngoài với nhu cầu của chủ thể; còn về mặt nội dung, lợi ích là cái thoả m ã n nhu cầu, đáp ứng lại nhu cáu ” [tr 38],
Với góc độ tiếp cận từ khía cạnh pháp luật, PGS.TS luật học Võ Khánh
Vinh với c ô n g trình nghiên cứu “Lợi ích x ã h ộ i và p h á p lu ậ t" đã làm sáng to
Trang 7các đặc điểm của sự tác động lẫn nhau giữa lợi ích xã hội và của pháp luật trong xã hội V iệt Nam hiện nay Do giói hạn nghiên cứu của công trình, tác giả cũng chưa đi sâu làm rõ vấn đề lợi ích cá nhân, mối tương quan của nó đối với các loại lợi ích khác trong xã hội V iệt Nam hiện nay.
M ột cuốn sách chuyên khảo rất đáng chú ý là cuốn “Lợi ích - động lực phát triển x ã hội” của tác giả Nguyễn Linh K hiếu Tác giả đã bỏ nhiều tâm sức
để nghiên cứu vấn đề lợi ích với vai trò là động lực phát triển xã hội, sau đó đi sâu nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa m ột số loại lợi ích chủ yếu với tư các là động phát triển của xã hội, trên cơ sở đó nêu lên vấn đề sử dụng vai trò động lực của lợi ích trong thực tiễn cách m ạng Việt Nam Trong công trình
của mình, tác giả đã dàv công khảo cứu các công trình của các nhà nghiên cứu nước ngoài (chú yếu là của các nhà khoa học Liên Xô cũ) và trong nước, (lưa
ra những luận giải của mình, kẽ thừa có phê phán kết q u ả của những nhà nghiên cứu đi trước Đóng góp chú yêu của cuốn sách này là ớ chỗ nó đã góp thêm một tiếng nói đé kháng định rằng, “ nhu cầu- lợi ích - mục đích - hoai
đ ộ n g ” chính là chuỗi quy định nhan quà dần dát con người ta vào hành đô ng " [tr 187], Tác giá cũng chi ra rằng: “Vấn đề cơ bán là phái làm thế nào tao ra một cơ c h ế kết hợp hài hoà môi quan hệ giữa các lơi ích” [tr 189-190], “ nghĩa
là tạo ra mối quan hệ thống nhất và hài hoà giữa cá nhân và xã hôi Chi có thế, mới có thê tạo lập đươc một sự phát triển bền vững - tăng trường manh mẽ vé kinh tế và tiến bộ xã hội" [ tr.l90Ị Tuy nhiên, do k h uôn khổ nghiến cứu, vấn
đề các giải pháp để giai quyết mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội mới được tác giả đé cạp ớ mức độ hạn hẹp
- L uận văn, luận án
+ Luận văn:
“H ệ thống lợi ích kinh té và các quan hệ p h â n p h ố i trong việc thực hiện chiến lược ổn đ ịn h vù phát triển kinh t ế - x ã hội", Ung Thị Mỹ Lệ; “Q uan hệ
Trang 8lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội trong điêu kiện kinh tê thị trường ở Việt Nam hiện n à y ', Đặng Quang Định; “M ột vài suy nghĩ vê vấn đẻ lợi ích với việc giáo dục tư tưởng hiện nay ở nước ta ”, Trần Xuân Lợi.
Trong luận văn “Hệ thống lợi ích kinh t ế và các quan hệ phán phối trong việc thực hiện chiến lược Ổn định và phát triển kinh t ế - xã hội”, tác giả
Ung Thị Mỹ Lệ đã phân tích m ột số lợi ích cơ bản, m ối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, đồng thời đưa ra một số biện pháp trong lĩnh vực tài chính, nhằm đảm bảo các lợi ích kinh tế trong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc gia và các nguồn tài chính khác
Tác giả Đặ n g Q u an g Định trong luận văn: “Q uan hê lợi ích ạiữa các
íịiai c ấ p , tấnq lớp x ã h ội trong điêu kiện kinh t ế thi ĩrườnq ớ Việt Nơi>ỉ hiện
u a V \ sau khi khảo cứu quan hê lợi ích, những mâu thuần và xu hướng biến
dộng của các quan hệ lợi ích trong nền kinh tế thị trường ớ nước ta hiện nay
đã nêu lên một sô quan điểm, giải pháp, nhằm giải quyết các mâu thuẫn lơi ích giữa các giai cấp và tầng lớp trong xã hội, tạo động lực cho sư phát triến của xã hội
+ Luận án:
" N h u c á n , lợi ích - íỉộnạ lực sâu xa của s ự p h á t triển xã hội", Hoàne
Vãn Luân; " \ ’a i trò độ n g lực của lợi ích kinh t ế dối với s ự nghiệp x â y dựm> cỉtíĩ
nước trong thời kỳ q u á độ lên chú nạhĩa x ã hội ở V iệt N a m hiện n a y ", Đỗ Nhật
Tân; “Q u a n hệ lợi ích kinh t ế của x ã hội, của tập t h ể vù cá nhân người lao
dộng trong chặng đườnạ đâu tiên của thời kỳ q u á đ ộ lên chú nghĩa x ã hội ờ Việt N a m " , Ngu yễn Đức Bách; “Q uan hệ lợi ích giữa các thành p h à n kinh té irony thôi kỳ quá độ lén chít nghĩa x à hội ỞViệt N a m hiện nay", Vũ Thị Tô Vân.
Trong luận án: " N h u câu, lơi ích - động lực sáu x a của s ư p h á t triển x ã
hội", tác giả H o àn g Vãn Luân đã làm rõ khái niệm phá t triển xã hội bén vững,
Trang 9quá trình hình thành lợi ích trên cơ sở phân cơng lao động và vai trị động lực của lợi ích, tính tất yếu điều chỉnh các quan hệ lợi ích, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội Đ ĩng gĩp chính của tác giả luận án là ở chỗ, tác giả
đã phân tích những nguyên tắc, cơng cụ và biện pháp điều chỉnh lợi ích, ứng dụng vào quá trình điều chỉnh các quan hệ lợi ích cơ bản như quan hệ giữa lợi ích vật chất - lợi ích tinh thần; giữa lợi ích chung và lợi ích riêng; giữa lợi ích trước m ắt và lợi ích lâu dài Trên cơ sở khảo sát tổng hợp các quan hệ lợi ích
đĩ, tác giả phân tích vài trị của các chính sách kinh tế - xã hội trong việc điều chỉnh các quan hệ lợi ích ở nước ta hiện nay; đồng thời, đưa ra một sơ biện pháp và phương pháp nhằm kết hợp các quan hệ lợi ích và xác định lợi ích
chính đán g trong nh ữn g điểu kiện, hồn c ảnh và nhiệm vụ lịch sử cụ thể
- C á c bài báo, tạp chí
“Giải q u y ế t dú/iíỊ dá/ì, hài hó các qu a n hệ lơi ích, độ n g lực lo lớn cua
sự p h á t triển kinh t ế - x ã hội", Nguyễn Đình Gấm Tạp chí Nghiên cứu con
người, sơ 1-2004; " V á n đẽ điêu chỉnh c ơ cấu lợi ích tronu, sư phát triển xã
hội" Hồng Vãn Luân, Tạp chí Triết học, sơ 1 (2/2003); “ 1'7 trí và vai trị cua lơi ích trong h o ạ t độniỊ của con /Iị!iứn'\ Ng uy ễn Thê Nghĩa, Tap chí Triết hoc,
sơ 3 (9/1994); "L ơ i ích kinh tẽ và vãn dê p h á t triển cị n g tíổììiị ứ nước ta tron#
ỊỊÌai đoạ n hiện n a y ”, Dương Thị Liễu, Tap ch í Triết học, số 3 (6/1996);
Nguyễn Linh Khi ếu với các bài: “ K nqhĩa của nhu câu, lợi ích vù tri thức dổi
với hoạt động củ a con người ”, Tạp chí Cộng sản, số 3/199 2 và "Lợi ích với tư cách là m ối q u a n hệ x ã hội", Tạp chí Triết học, số 1/1998, “ Mĩ/ qua n hệ iỊĨữa lợi ích l iêng và lợi ích chung trong sự p h á t triển củ a x ã hội ta n ỵ ủ y n a y '\ Tạp
chí Triết học, s ố 1/1994
Các cơ n g trình trên đã nghiên cứu lợi ích ớ nhiều kh ía cạnh khác nhau
n h ư hệ thống lợi ích trong xã hội, vai trị của lợi ích trong các mối quan hệ xã
Trang 10hội, lợi ích với tư cách là động lực của sự phát triển xã hội, hoặc tiếp cận vấn
đề lợi ích dưới những khía cạnh, góc độ cụ thể như: Lợi ích kinh tế, lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần
Các công trình của những nhà nghiên cứu nước ngoài
Vấn đề lợi ích là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm, trong đó đặc biệt và chủ yếu phải kể đến những nhà khoa học Liên Xô (cũ) Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Liên Xô (cũ) về động
lực phát triển xã hội, về lợi ích, quan hệ giữa các lợi ích rộ lên vào những năm
70, 80 (XX) trong điều kiện nền kinh tê Liên Xô (cũ) đan g có dấu hiệu trì trệ, khủng hoảng và xuất hiện những quan điểm, xu thê cải tổ, cải cách Có thể kê
ra hi ng loạt những tên tuổi nổi tiếng như:
“Xíĩ hội x ã hội chủ nghĩa: Các vấn đê của hiện chứng p h á t triển ”,
B.I.Xixicalov, Nxb Tư tướng, M, 1973; “Các m âu ỉhuan biện chứng và /ìhữiií!
(íộniỊ lực cứa chít nạtũa xã hội", V.V.Xtolianov, Nxb Tư tương, M, 1979;
“Q uyết íỉiììh luận x ã hột: Vấn íỉc dộng lực ( ủa sự p h á t triển x ã hôi", L.I
Trinakova, Nxb Chính trị, M, 1985; "Lợi ích", K.B Isabenkov, Nxb Makhascala, 1972; “N h ữ n g vấn ch’ x ã hội qu a n trọng", A.s Aizikovic, Tap chí Triết học, 1975; “C ơ c h ế tác dộfií> của nhữniỊ q u y luật x ã h ộ i và những vết í t ố
chú c/uan'\ V I, Pripinov, Nxb Dusambe, 1972; "K há i n iệm lợi ích", N.A
Gnilinxki, N xb Kh o a học xã hội, M, 1985; " C h ù nghĩa d u y vật lịch s ử '\ D.ỉ Chesnocov, M, 1975; “C hù nghĩa du y vật biên c h ứ n g ” , G s Arepheva, Nxb Chính trị, M, 1986; “Vị trí của lơi ích trong hệ thống d ộ n g lưc p h á t triển x ã
hội", A.M Dicoviski, Nxb Khoa học xã hội, M 1987; “N h u cầu, lợi ích giá trị", A.F Jackevich, N xb Khoa hoc xã hội, M, 1994; "'Vấn đ é các ỈỢi ích xã hội trong chủ ngliĩa M á c " , V.N Luvrienco, Nxb Khoa học xã hối, M 1985.
Trang 11Khi bàn về lợi ích, các nhà nghiên cứu Liên Xô đã có những cách tiêp cận khác nhau K.B Isabenkov trong công trình “Lpì ích" đã đi sâu nhận thức
lại vấn đề lợi ích theo chủ nghĩa Mác và cho thấy: “Chủ nghĩa Mác hiểu lợi ích như là nhu cầu khách quan được ch ế định bởi vị trí xã hội của m ột cá nhân, một dân tộc, m ột nhóm xã hội nào đ ó ” [tr 12] Còn nhà triết học V.I Pripinov thì cho rằng, “ lợi ích là sự phản ánh chủ quan những nhu cầu tổn tại khách quan” (sách “C ơ c h ế tác động của những quy luật xã hội và những yểu tô chú quan”, tr 93] N.A G nilinxki trong cuốn “Khái niệm lợi ích ” coi “lợi ích là
mối quan hệ lựa chọn đã được nhân thức của nhu cầu ” [tr 16] Một sô tác gỉả
khác thì lại c h o lợi ích là “hình thức chủ quan thể hiện các quan hệ kinh tê khách q u a n ”
Ngoài n h ữ n g định nghĩa như trên về lợi ích, trong các nhà nghiên cứu Liên Xô cũng tổn tại những quan niệm theo chiều hướng k h ác trong vân đê lợi
ích Theo D.ỉ C h es noc ov (sách “Chu nạỉìĩa d u y vật lịch s i r ) thì "lợi ích là mói
kiện sông c ủ a x ã h ộ i và đ ố i VỚI c á c nhu c ầ u hiện c ó c ủ a m ìn h, là m ố i quan hc
kích thích, tác đ ộ ng đến tập thể hay cá nhân mỗi người, n h á m dam báo điêu kiện thuận lợi cho đời sông và sự phát triển của cá nhân hay tâp thế, đâu tranh với những điểu kiện cản trớ sự tổn tại và phát triển củ a h ọ ” [tr 127] G.s Arepheva thì nhìn thấy lợi ích “được quy định bới mối q u a n hệ hiên thực khách quan giữa tình trạng hoàn cánh sông và nhu cầu xã hội của chủ thể" [tr 188], Còn V.N Lavrienco lại kháng định: “ Lợi ích là mối quan hê xã hói
khách quan của của sự tự khẳng đmh xã hội của chủ th ể” (sách ‘T ú / Ỉ dé cúc lợi
ích x ã hội tron ạ chú lỉiịlũa M ác", tr 30].
Một nhà triết học rất nổi tiếng của Liên Xó (cũ) - một ch uyê n gia
nghiên cứu về vấn để lợi ích - A.F, Jackevich trong cón g trình “N h u câu, lợi
Trang 12ích, giá trị” của m ình thì khẳng định: “Lợi ích xã hội là phạm trù triết học- xã
hội học, chỉ quan hệ định hướng khách quan về nội dung của chủ thể (người
m ang) đối với việc đảm bảo những điều kiện tồn tại, hoạt động và phát triển của m ình” [tr 117] A.M Dicoviski cũng đã nói một cách cụ thể hơn: “ Lợi ích phản ánh m âu thuẫn giữa nhu cầu và việc thoả m ãn nhu cầu, nó là sự định hướng hoạt động sản xuất của con người” (sách “ V7 trí của lợi ích trong hệ thông động lực phát triển x ã hội” , tr 83].
Cùng với việc trình bày các quan điểm của m ình về lợi ích, các tác giả
cũng chỉ ra tính chất của lợi ích Và giữa các nhà kh o a học cũng tồn tại nhữngnhận thức khác nhau về tính chất của lợi ích
Các nhà khoa học phương Tây, đặc biệt là các nf à tâm lý học hành vi đã
có nhiều công trình nghiên cứu vé nhu cầu - lợi ích của con người như thuyết
1Phân cấp nhu c â u " của A Maslov; thuyết “ĐộníỊ c ơ thúc d â y theo hy \'ỌHỊ>"
cứa V.H Vroom; thuyết “H a i yen tỏ" của F Herzberg Các tác giá này chu
yêu đề cập đến nh ữn g nhu cầu, lợi ích cá nhân và đểu COI đó là những động cơ thúc đẩy con người hoạt động Còn Alain Laurent trong côn g trình nghiên cứu
"Lịch sử cớ n h ú n luận", đã để cáp đến định nghĩa và phân tích vé cá nhân
luân; đổng thời, trình bày những chặng đường lớn về lịch sử trí tuệ cùa cá nhãn luận, đưa ra nh ững nhận định về các nhân tố của cá trình cá nhân hoá đời sông
xã hội mà nó bao trùm Đây là một công trình chuyên kháo công phu, gợi m ở cho giới nghiên cứu những vấn để tuy không mới mé, song vẩn mang tính cáp thiết, cần đươc ngh iên cứu sâu hơn
Khi khảo cứu nhửng công trình nghiên cứu vé vấn đê lợi ích, quan hệ các lợi ích, ch ứ ng tôi nhận thây răng, các công trình đã ng hi ên cứu nhiều vấn
để thuộc về, hoặ c liên qu an đến lợi ích với nhiều góc đô tiếp cân khác nhau
Trang 13Song, vẫn chưa có m ột công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về môì quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện nển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, dưới góc độ triết học như đề tài chúng tôi đã lựa chọn.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
biệt là nền kinh tê thị trường định hướng X H C N trong giai đoạn hiện nay
N hiệm vụ nghiên cứu
Đế thực hiện m ục đích trên, đề tài có các nhiệm vu sau:
- Làm rõ quan điểm của Triết học Mác - Lẻniii về lợi ích, lơi ích cá nhãn, lợi ích xã hội và môi quan hê của chúng
- Phân tích thực trạng môi quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hôi trone điểu kiện nền kinh tế thị trường định hướng XH C N ở Việt Nam hiên nay, chì ra những ưu đi ểm và bất cập của mối quan hệ ây, cũng như nguyên nhân những bất cập, tồn tại
- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu giải quyết mối quan hệ lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong việc xây đựng nền kinh tê thị trường đinh hướng XHC N ở Việt N a m hiện nay
4 Đối tư ợ n g và p h ạ m vi nghiên cứu
Đói tượng nghiên cứu
Đối tượng n gh iên cứu của đề tài là mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và
Trang 14lợi ích xã hội trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên những quan điểm , tư tưởng của chủ nghĩa Mác - L ênin, tư tưởng Hồ Chí M inh, các quan điểm , đường lối chủ trương của Đ ảng, N hà nước về mối quan hệ lợi ích, quá trình kết hợp, khuyến khích lợi ích
Đề tài được triển khai, nghiên cứu trên cơ sở của vận dụng phương pháp
luận biện chứng và các phương pháp như: Phương pháp lịch sử - logic; phương pháp trừu tượng - cụ thể; phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp so sánh và hệ thống hoá Ngoài ra, các phươne pháp khác nh ư đói c.iiếu, thống kê,., cũng được vận dụ ng đê giải quyết nội dun g nghiên cứu của đề tài
- Làm rõ nhữ ng ưu điểm và bất cập, hạn chê và nguyê n nhân của nó trong quan hê giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xả hôi ờ Việt Nam hiện nay
- Đề xuất một sô giải pháp giải quyết những mâu thuẫn trong quan hê lơi ích cá nhàn - lợi ích xã hội, nh ằm thúc đẩy hơn nữa việc xây dựng nền kinh
tế thị trường định hư ớng X H C N ở Việt Nam
Trang 15- Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu hay phục vụ công tác giảng dạy T riết học, hoặc những môn học có liên quan
7 Kết cấu lớn của đề tài
Ngoài phần m ở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài gồm có
3 chương và 6 tiết:
Chương 1 Q uan hệ cá nhân - xã hội và mối quan hệ giữa lợi ích cá
nhân và lợi ích xã hội
Chương 2 Thực trạng mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 Một sô giải pháp chủ yếu giải quyết mối puan hệ giữa lợi ích
cá nhân và lợi ích xã hội ở Việt Nam hiện nay
Trang 16Sự phát triển của xã hội bị quy định bởi tổng thể các điều kiện tự nhiên
và xã hội Nhưng suy cho cùng, sự phát triển đó là kết quả của những hoat động có ý thức của con ngưòi đang theo đuổi những lợi ích nhất định Chính vì thế, lợi ích chiếm vị trí, vai trò quan trọng trong hoạt động của con người và
trong sự phát triển của xã h )i
Lợi ích của con người tổn tại khách quan, được quy định bới vai trò và
vị trí của họ trong hệ thông san xuất xã hội, mà trước hết bới quan hệ trực tiẻp đối với tư liệu sán xuất Lợi ích là một động lực cơ han chi phối con nu ười hành đông Lợi ích là một động lực trong hoạt động của con người và trone sự
Với tư cách là một phạm trù quan trọng, lợi ích thể hiện thái đỏ tích cực của con người đối với th ế giới bao quanh họ Dưới tác động cùa lợi ích, thái dỏ của con người đôi với thê giới xung quanh có được tính hướng đích Lơi ích !à động lực bên trong chuyên động các hành vi của con người Khi hoạt dỏng,
Trang 17quyết như th ế nào? Chỉ khi nào đặt vấn đề đúng và đích thực, thì mới có thê giải quyết đúng được vấn đề lợi ích như bản thân vốn có của nó trong sự tổn tại
và phát triển tất yếu của con người và xã hội con người
T rong lịch sử tư tưởng khoa học, các nhà nghiên cứu đã chú ý đến ý nghĩa to lớn của lợi ích trong các hành vi của cá nhân, lẫn trong các hiện tượng
và sự kiện lịch sử rộng lớn Nhưng không phải các ch ế độ chính trị - xã hội và các học thuyết triết học đều đã quan tâm tới lợi ích chính đáng của con người
và ]ý giải đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, giữa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, giữa nghĩa vụ và quyền lợi Trong xã hội nguyên thuỷ, con người cá nhân và lợi ích cá nhân bị đồng nhất, hoà tan với
con người xã hội, lợi ích xã hộ Đến xã hội có giai cấp, các học thuyết tôn giáo và duy tâm thời cổ đại và trung cổ không bao giờ đứng vé phía lơi ích cá nhân chính đá n g của con người Chủ nghĩa duy vật thê kỷ XVIII đã cố cáng giái thích răng, đông cơ chi phôi hành vi không phái là nghĩa vụ đạo đức trừu tượng, mà là lợi ích cua bán thân ho Song chủ nghĩa duy vật thê ky XVIII đã sai lầm khi giãi thích con người và sự phát triển xã hội kh ó ne phái băng C|U\ luật lợi ích, đã đồng nhất con người cá nhân tư sàn với con người nói chung, đồng nhất lợi ích cá nhàn tư sản và lợi ích giai cấp tư sán với lợi ích xã hội đổng nhất lợi ích cá nhân với nghĩa vụ đạo đức Nh ư vậy, lợi ích và đời sống người lao đ ộ n g bị đẩy xuống hàng thứ yếu, thậm chí ng ang hàng với công cu, phương tiện và con người không được coi là chủ thê sáng tạo, năng đỏng trong các quá trình lịch sử
Các nhà kinh điên của chủ nghĩa Mác - Lênin, khi đánh giá mang tính chất phê phán các quan điểm trước đây vé lợi ích, đã làm phong phú và phát triển lý luận về lợi ích trên nền nhạn thức có cơ sớ kh oa hoc Với quan niệm, triết học k h ô n g chỉ giải thích th ế giới, mà quan trọng hơn là cài tạo thế giới, c
Trang 18Mác đã đem tới cho triết học m ột sinh khí mới trong vấn đề kiến giải về lợi ích của con người.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa M ác - Lênin đã chú ý đến ý nghĩa đặc biệt của lợi ích trong diễn biến phức tạp của hoạt động con người Theo c Mác, “đời sống xã hội về thực chất là có tính chất thực tiễn” [52, tr 258] c , Mác cho rằng, “bản chất của con người không là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã h ộ i” [52, tr 257], Ph, Ãngghen cũng nhấn mạnh: Mọi quan hệ xã hội, suy cho cùng là quan hệ về lợi ích Cho nên, giải thích hành vi của con người không phải căn cứ vào ý thức, mà là vào nhu cầu và lợi ích của
họ Theo ( Mác, tiển để đầu tiên của lịch sử nhân loại cĩ nhiên là sự tổn tại của những cá nhân sốn g và “muốn sống được thì trước hết cẩn phải có thức ăn, nước uống, nhà ớ, qu ẩn áo và một vài thứ khác nữa” [52, tr 256] Rỏ ràng, lơi ích lớn nhất và đầu tiên của con người - cá nhân và xã hội - trước hét là sự tốn tại với việc thoá mãn những nhu cầu cúa đời sông vật chất - kinh té, nghĩa là
có tính chất hiện thực, sau đó, với vai trò của chú thế sáng tao mục đích, có V thức, con người có nh ữn g lợi ích mới về tinh thần, đao đức, đao lý Với lôgíc
đó, c Mác đã xem xét vùn để lợi ích trong tính xuyên suốt của đời sống xã hội, trên cơ sờ hiện thực của những mối quan hê khách quan của lưc lương sán xuất và quan hệ sản xuất; đã xem xét sự vận động, chuyên hoá giữa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, giữa lợi ích cá nhân - lợi ích xã hội và xem xét lợi ích như là một độ ng lực thúc đẩy mọi sự vận động của lịch sử c Mác cũng đã chỉ
ra rang, m uô n đ e m lại lợi ích đích thực cho con người, trước hết là người lao động, thì phái xoá bỏ cái nguyên nhân sâu xa của nó - đó là c h ế độ chiếm hữu
tư nhân tư bán chủ nghĩ a về tư liệu sản xuất
Trang 19Với tư cách là một phạm trù triết học, tư tưởng về lợi ích được c Mác thể hiện trong nhiều tác phẩm của mình Theo c M ác, trong nhận thức, người
ta thường đổng nhất lợi ích với nhu cầu, hoặc lẫn lộn khi xem xét sự hoạt động
và vai trò của nó Thật ra, đây là những khái niệm đồng loại, gần nhau, nhưng không giống nhau c M ác đã chỉ ra rằng, luật pháp và sự thể hiện những lợi ích chung và nhu cầu chung, bắt nguồn từ m ột phương thức sản xuất nhất định,
ở đây, các thuật ngữ “nhu cầu” và “lợi ích” được dùng với vai trò hoạt động giống nhau, nhưng rõ ràng chúng không đổng nhất c M ác và Ph Ăngghen
chỉ rõ: Lợi ích - đó là cái móc nối các thành viên của xã hội công dân lại với
nhau Lợi ích là cái kích thích hành vi của con người, là động lực để phát triển sản xuất, tăng cường những hoạt động c ỉa các giai cấp, thúc đẩy cuộc đâu
tranh giai cấp, là độ n g lực phát triển toàn xả hội Lợi ích có tính khách quan, là phạm trù có tính chất chù thế xác định Nhưng một sô đặc điểm và thuộc tính
đó của lơi ích, trong phạm vi nhất định nào đó, thì nó cũng là cái vòn có cứa nhu cầu Điểu này khiến cho lợi ích và nhu cáu trớ thành những phạm trù cùng loại Vậy, nhu cầu có quan hệ với lợi ích như th ế nào? Lợi ích được định nghĩa như thế nào? Thực chất của lợi ích là gì? Biểu hiện vù vai trò độn g lực cua nó
ra sao? Rõ ràng, m u ôn trá lời được những câu hỏi này, cần phải xuất phát từ nhu cầu, phải xét x em cái gì thúc dẩy con người hành độn g? Một điều đã đươc khẳng định là: Lợi ích trước hết và lớn nhất của con người là sự tổn tai Muôn vậy, con người phải được thoả mãn những nhu cầu, trước hết là vật chất và trong quá trình trình đó, luôn nảy sinh những nhu cầu mới Con người ý thức được điều đó, do đó, luôn theo đuổi nhữne muc đích đặt ra Bằn? cách đó, con người đã duy trì sự tổn tại của mình và làm ra lịch sử Rõ ràng, chính mục đích thúc đẩy con người hành động Nhưng vấn đề là ở chỗ: Cái gì là nhân tó trực tiếp thức đẩy, tạo nên mục đích của con người? Ph Ả n g g h e n khẳng định, chí
Trang 20có con người có ý thức mới có khả năng đặt ra mục đích và hoạt động để thực hiện nó M ục đích là hình ảnh vé một kết quả m ong m uốn nào đó, mà con người hướng sự hoạt động của mình để đạt tới Cho nên, với ý nghĩa là hình
ảnh, thì mục đích là nhân tố thuộc ý thức Nhưng ý thức chẳng qua là sự phản ánh thê giới khách quan và đầu óc con người Như vậy, nếu không có những điều kiện khách quan thì cũng không thể có những mục đích cụ thể nhất định của con người Con người là một “thực thể song trùng” để tồn tại và phát triển Con người bao giờ cũng phải thực hiện một quá trình trao đổi liên tục với thế giới xung quanh, có khi dưới dạng vật chất, có khi dưới dạng tinh thần - nhầm giải toả trạng thái “thiếu hụt” hay “dư thừa” của bản thân Nói như Hêghen, đó
là quá trình khôi phục trạng thái mất cân bằng giữa chủ thể và khách thể, Đó chính là q u í trình biên chứng của con người với môi t r ư ờ i g khách quan, thể hiện mối quan hệ phán ánh nhữnu nhu cẩu cúa con người với điếu kiện khách
quan Cho nên, suy cho cùng, nhu cẩu là những đòi hỏi của con người dối với
điểu kiên khách quan nhất định, nhầm đám báo sự tồn tại và phát (riếu cửa mình Khi xuất hiện, nhu cầu bao giờ cũng thôi thúc chú thế hoạt dộng thoá mãn chúng Đây là quá trình giai quyết mâu thuần giữa con người và mỏi trường khách quan Nhu cầu, theo nghĩa chung nhất, là mối quan hẻ mâu thuẫn giữa con người với hoàn cành Nhưng kỊiồng phải bất kỳ mâu thuẫn nào, hay trạng thái mất cân bằng nào nơi chủ thể cũng đều là nhu cáu mà chỉ những mâu thuần hay trang thái nào đặt chủ thể trước vân để tổn tai, phát triển hay ngược lại mới là nhu cầu thực sư Khi nhu cầu xuất hiện sư phản ánh đối tượng đổ thoả mãn nhu cầu, cùng như phương tiện, phương thức và những khá
năng hiện thực để thoà mãn nhu cáu vào trong đáu óc chủ thể, thì tạo nén m ục
íỉich Và khi đó, m ục đích trở thành động cơ tư tưởng bẽn trong, trực tiếp thỏi
thúc chủ thể hoạt động Theo Ph Ảngghen, người ta thường quen giải thích
Trang 21rằng, “hành vi của m ình là do tư duy của m ình quyết định, trong khi đáng lẽ ra người ta phải giải thích rằng, hành vi của m ình là do nhu cầu của m ình quyết định” [58, tr 493] Như vậy, có thể nói, hoạt động thực tiễn của con người xuất phát từ m ục đích M ục đích đó được nảy sinh từ nhu cầu và có nhu cầu là
do tác động của các điều kiện bên ngoài, trong đó, tác động quan trọng nhất là hoạt động sản xuất vật chất Xuất phát từ nhu cầu, con người hoạt động sản xuất vật chất X uất phát từ nhu cầu, con người hoạt động cho sự tồn tại và phát triển, đã làm ra lịch sử, trong đó có lịch sử của chính bản thân m ình Vậy, lợi ích nằm ở đâu? Phải chăng nhu cầu mà ta đang nói tới chính là lợi ích? Theo
c Mác, th ứ n h ấ t , “ lợi ích trước hết tổn tại trong hiện th ực ” , ở trong bản thân
môi quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của các cá nhân, g iữ'1 các cá nhân tham gia
lao động “ xã h ộ i ” ; th ứ hai, “ nó tôn tại trong khái n i ệ m ” , ơ đây c Mác đã
phác thao và chỉ ra mối quan hệ căn bán nhất của các hiện tượng của hiện thực
và nhân thức Rõ ràng, phạm trù lợi ích hình thành trong quá trình phát triến lịch sử của nhận thức, trên cơ sớ thực tiễn xã hội c Mác đã chí ra địa hạt tổn tại của lợi ích là cả trong hiện thực và trong khái niêm Điều này cho tháy, trong thực tế, có m ục đích, nhưng hiện thưc còn phải có phương tiện nữa hoạt động đích thực, nếu k hổ ng mục đích mới chỉ là muc đích Do đó, định nghía
vể lợi ích nám trong phương tiện thoá mãn nhu cầu của chú thể hành đóng Khái niệm lợi ích phải được hiểu và trình bày trong mối quan hê với nhu cáu Bới, nhu cẩu b ao giờ cũng đặt ra việc hoạt động để thoả mãn nó Đối với đ ô n s vật thì các nhu cầu củ a chú ng thực sự là mối quan hệ trực tiếp giữa cơ thể và môi trường xung quan h Do đó, tính chất của sự thoả m ãn nhu cầu cũng mang tính trực tiếp Song, con người là con người của xã hội, nén mọi nhu cầu đều mang tính người và m an g tính người ở những mức độ khác nhau (tuỳ thuộc vào chất lượng xã hội và trình độ văn hoá của con người), Cho nén có thể nói
Trang 22không có bất kỳ hành vi thoả mãn nhu cầu nào của con người là mang tính trực tiếp thuần tuý chỉ của m ột cá thể Bất kỳ sự thoả m ãn nhu cầu nằo của con người cũng m ang m ột hàm lượng xã hội nhất định Và để thoả mãn, phải thông
m ình, chủ thể đứng trước m ột hiện thực (chủ quan, khách quan) cần phải lựa chọn phương thức nào đó để thực hiện Như vậy, quan hệ nhu cầu và việc thoả mãn nhu cầu không còn là mối quan hệ mang tính trực tiếp nữa Đê thoả mãn cùng một nhu cầu với cùng những đối tượng thoả mãn nhu cầu ấy, các chủ thê
khác nhau buộc phải thực hiện một loạt các quan hệ xã hội khác nhau, như là những khâu trung gian tất yếu trong quá trình đi tới thoả m ãn những nhu cầu cấp bách, tất yếu của mình Và tuỳ từng trường hợp cụ thể, m à mối quan hê đó của các chủ thê nhu cầu CC thể hơp tác hay đấu tranh với nhau Vậy là cung với sự phát triển xã hội và sự phái triển bàn thân cá nhân, mà một lúc nào đó, ờ một hoàn cánh nào đó, quan hệ nhu cầu đã chuyển sang một quan hệ khác Đó
là quan hệ của những chú thế có cùng một nhu cầu giống nhau, cùng dôi tượng thoa mãn các nhu cầu ây và với điểu kiện sinh sông của họ trong viéc thực hiện những nhu cầu cấp bách của mình - đó là quan hê lợi ích Từ đáv cho thây: Quan hộ lợi ích náy sinh trước hết trên cơ sở quan hệ nhu câu cua con người Nó là điếm xuất phát (lựa chọn) để hướng vào sự thoả mãn nhu cáu Cho nên, c Mác đã cẩn trọng khi nói “ lợi ích trước hết tồn tại trong hiện thực” Và đối tượng thoà mãn lợi ích, mặc dù thể hiện trong những quan hệ cu thể rất khác nhau, nhưng xét đến cùng, chúng chỉ là những kháu trung gian nhầm đat tới đôi tượng để thoả mãn nhu cầu mà thỏi Khi nói “ lơi ích tốn tại trong khái n i ệ m ” , c Mác nhấn mạnh đến một thực tế là k hô ng phải nhu cáu nào cũng cũng làm này sinh quan hệ lợi ích, mà chì nhu cầu tất yếu, nhu cáu thực tế - mà n hữ ng nhu cầu ây kh ông thể trực tiếp thực hiện đươc mới làm xuất
Trang 23hiện quan hệ lợi ích c M ác đã nhận xét: “X ã hội - bất cứ dưới hình thức nào -
là gì? Nó là sản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa người với người” [52, tr 788] Do đó, lợi ích là m ột quan hệ xã hội
Nói m ột cách tổng quát, nhu cầu, sau khi nảy sinh là động lực ban đầu hết sức quan trọng, thúc đẩy con người hành động, nhằm tìm phương tiện thoả mãn nhu cầu Phương tiện thoả mãn nhu cầu ấy, đối với chủ thê hành động, chính là lợi ích Cho nên, lợi ích gắn bó hết sức chặt chẽ với nhu cầu Nếu chỉ xét riêng quan hệ nhu cầu, thì logic của nó là: Nhu cầu - hoạt động thoả mãn - đối tượnq thoả mãn nhu cầu Còn nếu xét nhu cầu với tư cách là cơ sở xuất
hiện lợi ích thì logic c ủ a nó là: N hu cầu - lợi ích - đ ố i tượng thoả mãn nhu cần
Ớ đây, một điều hết sức hiển nhiên là quan hệ lợi ích chỉ xuất hiện 'ron g khâu hoạt động thoả m ãn nhu cầu Lợi ích chính là nhu cầu đã đươc nhận thức (lơi ích của chú thê - là sự tác động lẫn nhau giữa các nhu cáu cúa chủ thế đó) Như vậy nhu cẩu và lợi ích không phải là những khái niệm đổng nhất, nhưng cũng khổng phải là nhữ ng khái niệm hoàn toàn tách biệt nhau vê mặt nội dung: Lơi ích chín h là cái thoá mãn nhu cầu cái đá p ứng nhu cáu Vì vậy, nó chỉ có nghĩa là lợi ích khi được đăt trong mối quan hệ với nhu cầu Ngoài mối quan hệ đó ra, cái được coi là lợi ích sẽ không còn là lợi ích nữa Cho nên, trẽn thực tế, cùng một sự vật, cùng một hiện tượng, đối với chú thể này là lợi ích nhưng đối với chủ thể khác lại không phải là lợi ích Đây là cơ sở phương pháp luận cho chúng ta n gh iên cứu các lợi ích cụ thể và mối quan hệ xà hội của chúng Còn xét về mặt bản chất, lợi ích là một quan hệ xã hội - quan hê lơi ích giữa các sự vật, hiện tượng của thẻ giới bên ngoài với nhu cẩu của chu thể, còn
về mặt nội dung, lợi ích là cái thoá mãn nhu cầu, đ áp ứng nhu cầu Mói quan
hệ giữa sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài với nhu cầu của chủ thể hành động là mối qu an hệ k h ác h quan, không tuỳ thuộc gì vào ý m u ô n chú quan cúa
Trang 24chủ thể nhận thức VI lẽ đó, cần tìm lợi ích thực sự của chủ thể hành động trong các mối quan hệ giữa nhu cầu của chủ thể đó với sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh chủ thể, tức là trong mối quan hệ giữa chủ thể đó với các điều kiện tổn tại và phát triển của nó, chứ không phải ngoài mối quan hệ ấy Nói m ột cách chung nhất, trong mối quan hệ giữa nhu cầu và lợi ích, nhu cầu quyết định cái đối với chủ thể là lợi ích, dó đó nó là cơ sở của lợi ích; còn lợi ích, ngược lại, xuất phát từ nhu cầu, dựa trên nhu cầu, là sự thể hiện của nhu cầu.
Như vậy, lợi ích với tư cách là một phạm trù triết học, trước hết, nó xuất phát từ hiện thực, nhưng đó là hiện thực được nhân cách hoá một cách phổ quát nhất c M ác viết: “ Mặt khác, dó những nhu cầu riêng của tôi quyết định
và cưỡng c h ế tôi, cho nên kh ông phải cái gì khác, mà chỉ có bản chất của riêng tôi, tức là toàn bộ các nhu cáu và ham thích cùa tôi, thực hiện sự cưỡng ch ế đôi với tôi (nói cách khác, lợi ích của tôi biểu hiện dưới hình thức phán xa tống
q u át ” [52 tr 192J Luận điểm nàv cùa c Mác đã vạch rõ bán chất, tính chất của lợi ích, mối quan hệ biện chứng của lợi ích với nhu cáu Đây cũng là một cách định nghĩa khác về lợi ích c Mác đã kh ông đổ ng nhất lợi ích với nhu cầu, với tổng sô giản đơn các nhu cẩu, mà là tổng thể các nhu cầu, tức là hẹ thông các mối liên hệ lần nhau và những sự tác đ ô n g lẫn nhau giữa các nhu cầu 0 đây, c M ác k h ôn g đề cập đến những lợi ích cụ thể (kinh tế, chính trị, văn hoá và các lợi ích khác), mà ông nghiên cứu bản chất con người nói chung, tức là tổng thể các nhu cầu tự nhiên và xã hội của con người Vì vây, lợi ích biểu hiện tổng thê đó, cũn g là lợi ích nói chung, tách ra khỏi các hình thức cu thể (như là những cái riêng), nằm dưới hình thức “ phản xạ tổng q u á t ” Cho nên, lợi ích nói chun g, với tính cách là biếu hiện trừu tượng của toàn bộ hệ thông các lợi ích xã hội, là một phạm trù hiên thưc Nó biểu hiện những đặc điểm ch un g nhất c ủ a tất cá và của bất kỳ lợi ích nào Bằng phương pháp đi từ
Trang 25trừu tượng đến cụ thể, các nhà kinh điển của chủ nghĩa M ác - Lênin đã sử dụng rộng rãi các khái niệm lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị và các lợi ích khác
- các lợi ích biểu hiện m ột cách tương ứng với tổng thể những nhu cầu kinh tế, chính trị, văn hoá và các lợi ích này biểu hiện không phải dưới hình thức “phản
xạ tổng q u át” , m à dưới các hình thức đặc biệt, trong đó biểu hiện các loại nhu cầu tương ứng Nhưng nguyên nhân của sự tồn tại cái chung trong các phạm trù xã hội khác nhau, trước hết là ở chỗ, tất cả các phạm trù đó đều biểu hiện những m ặt khác nhau của sự tổn tại và phát triển của cùng một chủ thể, tức là con người xã hội; sau đó, tất cả các phạm trù xã hội đều trực tiếp, hoặc xét đến cùng, đều là do sản xuất vật chất quyết định N guồn gốc của sự thống nhất của
tất cả các sự vật, chẳ ng những trong tự nhiên, mà trong xã hội loài người, là tính vật chất Cho nên, lợi ích kinh tế được xe m là hạt nhân, là cơ sớ của toàn
bộ hệ thông các lợi ích xã hội; các lơi ích kinh tế tác đông có tính chất quyết đinh đến các mặt khác của đời s on s xã hội
1.1.2 Vai trò củ a lợi ích
Con người luôn luôn tổn tại vận động phát triển gắn với một hẻ thống các nhu cáu hiện thực Do đó, lợi ích - bản thân nó đã phàn ánh vai trò trưc tiếp, dẻ nhận thây: Hệ thống lợi ích là cái đáp ứng hệ thống nhu cầu Và khi nhu cầu được đáp ứng, thì trên thực tế nó đã trở thanh động cơ - cái thôi thúc con người ta hành động Song, để có lợi ích, thì quá trình này phải trải qua một loat các sự vân đỏng
đa dạng, phức tap Thành thử, để con người hành động được và hành đông có hiếu quả, cần phải xem xét con người như một nhân tố, ngoài lơi ích, còn có viêc tác động tới nhân cách thông qua quá trình tổ chức quản lý, quá trình hoạt động thưc tiễn Cho nên, đê nhấn manh và kháng định vai trò động lực của lợi ích cần xem xét nó trong một hệ thông các động lực chi phối sự hoạt động của con người, thúc đẩy sự phát triển và cải biên lịch sử
Trang 26Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, hệ thống động lực thúc đẩy hoạt động của con người và toàn bộ lịch sử là hoàn cảnh kinh tế - xã hội, phương thức sản xuất và trao đổi, sự phân công lao động, sự phát triển của lực lượng sản xuất, mâu thuẫn, đấu tranh giai cấp, các cuộc cách mạng và cách mạng
xã hội, nhu cầu và lợi ích Như vậy, cần phải thấy tác động nhân - quả của các yếu
tố trên, cần phải thấy tất cả các yếu tố đó đều gắn chặt với con người, thông qua hoạt động của con người, ừong đó, nhu cầu và ỉọti ích là những nhân tố gắn chặt nhất Do vậy, nó đóng vai t ò là động lực đặc biệt nhất, từ đó, “con người làm ra lịch sử của mình vô luận và lịch sử này diễn ra như thê nào” [55, tr 410] Khi phê phán chủ nghĩa duy vật trước kia và cả “triết học về lịch sử” [55, tr 408] của
Hêghen, Ph.Ảngghen đã chỉ ra: Động lực thực tê cuối cùng của lịch sử không phủi
là ở hệ tư tường triết học, ở những động cơ bên ngoài, ở c ộng cơ của những cá nhân riêng le (ké ca những vĩ nhân xuất sắc), mà chính là những đồng cơ làm cho quán chúng đông đáo, những giai cấp và dân tộc trọn vẹn, chuyển đông lâu dài, đưa đến những biên đổi lịch sử vĩ đại “Động lực cua toàn bộ lích sứ chính là cuôc đâu tranh của ba giai cáp lớn đó và những xung đột về quyển lợi của họ" [55, tr 410] và
“nguồn gốc vấn đề trước hết là những lợi ích kinh tê mà quyền lực chính trị phai phuc vu với rư cách phương tiên” [55 tr 410] Như vậy, mọi vãn động của lịch sử
dù dưới hình thức như thế nào, xét đến cùng, đều xoay quanh vân đề giải phóne vân để lợi ích mà trước hết là lợi ích kinh tế Cho nên, mỗi một thế hệ loài người đểu dành một phán thời gian lớn hơn của toàn bộ cuộc đời mình cho nó và chính đây cũng là tiền đề nhân - quả cho mọi hoạt động sáng tạo và phát triển Ph Ảngghen rất có lý khi cho rằng, phải giải thích hành vi của con người là nhu cầu và lợi ích cùa họ quyết định c Mác nhấn mạnh: Tất cả những gì mà con người đâu
tranh để giành lấy, đều đính liền với lợi ích của họ Còn V.I Lênin thì cho răng, những lợi ích thúc đẩy đời sông, sự phát triển của các dán tộc
Trang 27Như vậy, trên đây chúng ta đã xem xét lợi ích có vai trò động lực cho mọi hoạt động lịch sử của con người Song, trong hiện thực, đối với chủ thể, nó có cơ chế vận động như thế nào? Ph.Ăngghen cho rằng, “không thể trách được là tất cả cái gì thúc đẩy con người hoạt động đều phải thông qua đầu óc con người” [55, tr 384] Như đã trình bày, lọi ích xuất hiện trong hệ thống các quan hộ xã hội, là mối quan hệ xã hội đặc biệt, đóng vai trò là động lực trực tiếp thôi thúc chủ thể xã hội hoạt động Để thực hiện được vai trò đó, lợi ích vói tư cách là những lực lượng thuộc chủ thể, thành một lực lượng bên trong thúc đẩy sự hoạt động của chủ thể Đối với nhu cầu, hình ảnh về đối tượng thoả mãn nó (cùng các khả năng khách
quan, phương thức và phương tiện thực hiện sự thoả mãn đó) được phản ánh vào trong chú t i e hoạt động một cách trực tiếp thành mục đích Và khi đó, mục đích trực tiếp trở thành động cơ bên trong thôi thúc chủ thê hoat động Còn đôi với lợi ích, mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng thoả mãn lơi ích lại đươc dặt trong một phức hợp quan hệ Chú thể nhu cáu - lợi ích - mục đích - hoạt độne, nhầm đat nhu cáu (đối tượng thou mãn nhu cầu) Như vậy, để đạt được lợi ích, thì chú thể lơi ích không chì nhận thức về đối tượng thoá mãn lợi ích ở V nghía dang thức đôi tượng của nhu cầu, mà điều cơ bản là đẽ dạt được lợi ích thực sự, chủ thế phai nhận thức một cách đầy đủ mối quan hệ của anh ta với những người cùng tham gia quan hẻ lơi ích và những khả năng thưc tếhi cn thưc Cho nén, lơi ích và nhận thức lợi ích là hai khía cạnh khác nhau, trong đó, nhân thức lơi ích đóng vai trò là khâu chuyển tiếp trung gian đến lợi ích đích thực Đây là điều có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong thực tiền, là một quá trình, nói như V.I Lênin, đối với người nông dân, trước hết phải để cho họ kịp suy nghĩ trên luống cày của ho đã Lợi ích là cái bị phán ánh, mang tính chất chủ quan Nhận thức lợi ích không sinh ra được lợi ích, mà chỉ
là sự phản ánh lợi ích vào trong hành động của chủ thể Vì vậy, khống thể mong muốn tuỳ tiện lợi ích này, hay lợi ích khác, mà thực hiện lợi ích là thực hiện mối
Trang 28quan hệ khách quan của đời sống xã hội Mặt khác, làm thế nào để chuyển được
đo đó, sẽ chuyển lợi ích thành động cơ, định hướng cho hoạt động của con người Cho nên, c Mác đã xem xét lợi ích với tư cách là nhân tố khách quan của sự phát triển xã hội, lợi ích tổn tại trong hiện thực, không phụ thuộc vào ý thức, nhưng nó lại tạo nên sức m anh động lực, bởi vì, nó được phản ánh trong tư tưởng và được tiếp nhận dưới hình thức nhân tố động cơ Từ đó, trên cơ sở các lợi ích khách quan mà hình thành các ỉợi ích chủ quan Lợi ích chủ quan trở thành nhân tố trực tiếp thúc
đẩy sự hoạt động của con người và khi lợi ích được nhận thức sẽ định hướng nhận thức nhu cầu và điều kiện khách quan Đến lượt mình, nó xác định sự tìm kiếm phương thức, con đường, phương tiện để giải quyết nh'mg vấn đề của thực tiễn Trong quá trình nhận thức, đánh giá và tham gia các quan hê để thưc hiện lơi ích tính tích cưc xã hội của chủ thể được bôc lộ
Tóm lại, có những quan hệ trong đời sống xã hội dẫn đến sư hoat động của
C O I 1 người trưc tiếp (từ nhu cầu - mục đích - hành động), nhung do tính chất cúa sư phát triển trong bán thân con người và xã hội loài người, đa số các hoạt đông đêu từ logic: Nhu cẩu - lợi ích - mục đích - hành đông Nhu cầu ở đây mang tính chất, V nghĩa động lực khới đầu, gián tiếp Và nó chỉ có thê thực hiện ý nghĩa đông lực cùa mình thông qua lợi ích Cho nên, lợi ích (và nhận thức lợi ích) là một khâu vô cùng quan trọng trong chuỗi quyết định sự hoat động của con người, chuyển hoá các điều kiện khách quan thành động cơ tư tưởnR bén trong (trực tiếp trở thành đông lực bên trong), trực tiếp thúc đẩy con người hành động Vì vậy, nó là khâu cán được đặc biệt quan tâm trong sợ dày chuyển dải! tới chỗ khơi dậy và nuỏi dưỡng tính tích cực của con người và thône qua tính tích cực ấy mà thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Trang 291.2 QUAN ĐIỂM MACXÍT VỂ LỢI ÍCH CÁ NHÂN, LỢI ÍCH XẢ HÔI VÀ L MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÚNG
1.2.1 Lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
Lợi ích có nhiều loại Tuỳ theo các tiêu chí khác nhau, người ta đả phân lợi
ích ra làm nhiều loại khác nhau
Căn cứ vào lĩnh vực của đời sống xã hội, người ta phân chia lợi ích thành lợi
ích kinh tế, văn hoá, chính trị, hay nói khái quát hơn là lợi ích vật chất và lợi ích
tinh thần
Căn cứ vào tính chất của chú thể lợi ích, có thể phân chia lợi ích thành lợi
ích cá nhân và ì (ũ ÍCIÌ tập thể, lợi ích giai cấp, lợi ích dán tộc, lợi ích xà hội, hay
nói gọn lai là Ị (ri ích riêng và lựi ích chung.
Căn cứ vào thời gian tổn tại cùa lợi ích có thê phàn chi lơi ích thành loi ích
trước mắỉ và hri ích lâu dùi.
Cán cứ vào tầm quan trọng cua lơi ích có thế thành lọi ích căn hán và lợi
ích khôn {ị căn b á n , lọi íclì cấp bách và ỉợi ích không cáp bách.
Xét theo tính chất cúa các hiện pháp thực hiện lợi ích, có the phán lợi ích
thành lợi ích chính dátìíỊ và lợi ích khôn % chính đúng.
ơ đây, khi phàn chia lợi ích, cán chú ý hai vấn để: T h ứ nhất, sư phán chia lợi
ích tuỳ thuôc vào các cách tiếp cận, cũng như các tiêu chí khác nhau; thứ hai, khi
đề cập đến các căn cứ, nguyên tắc phân loại lợi ích, cần phải bàn đến tiêu chuẩn cơ
bản để phân loại lợi ích - đó là mức độ ảnh hưởng của các lợi ích đến sư tiến bộ xã
hội Trên cơ sớ đó, lợi ích không tuỲ thuộc vào việc ai là chù thế của chíine, ò lĩnh
vực nào của đời sống xã hội chúng dược thể hiên và chúng có lĩnh vực hoạt động
sáu và rộng như thế nào - tất cả đều hoặc là tiến bộ, hoác là khỏng phù hợp với sự
Trang 30tiến bộ của xã hội Phân loại lọi ích như vậy, sẽ tạo điều kiện cho việc giải quyết tốt những nhiệm vụ cụ thể cho sự phát triển của xã hội.
Cũng cần nhận thấy rằng, do dựa vào một mặt, hoặc một tiêu chí nhất định trong các quan hệ lợi ích để phân loại, nên sự phân loại lợi ích này chỉ mang tính tương đối Trên thực tế, các loại ỉợi ích này luôn lôn tồn tại trong sự đan xen, tác động qua lại và cùng tổn tại trong các chủ thể lợi ích Có lúc lợi ích vật chất nổi trộim, có lúc lợi ích tinh thần được ưu tiên, hay ngược lại điều này hoàn toàn tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, vào từng chủ thể nhất đinh Điều đó cho thấy, quan
hệ lợi ích là quan hệ nhiều thứ bậc, nhiều cấp độ, nhiều tầng nấc, nhiều chiều canh
và có những tính chất khác nhau Và do vậy, khi nghiên cứu quan hệ lợi ích, chúng
ta cần có quan điểrn lịch sử cụ thê và quan điểm toàn diện
Như đã trình bày, trên cơ sớ của các quan hệ xã hội, có nhiểu lơi ích khác nhau được xuất hiện Hệ thông các lợi ích là sán phẩm, là sư thế hiện của
hệ thống các quan hệ của xã hội mang tính khác h quan Hơti nữa, tính khách quan của hệ thông đó được quyéi định bời tính khách quan của từng lợi ích riêng biệt, ơ đây, khi nghiên cứu các nguyên tắc, căn cứ đế phân chia lơi ích
xã hội, có thê dựa vào một trong những nguy ên tác cơ bán là tính chát cúa chu thể lợi ích và lĩnh vực biểu hiện của chúng đê phân chia lợi ích mang tính khái quát nhất Ở đây, c h ú n g tôi đi sâu nghiên cứu lợi ích cá nhân và lơi ích xà hôi (bao gồm các lợi ích vật chất, các lợi ích tinh thần, các lợi ích chính tri mà trong, đó dù là lợi ích cá nhân hay lợi ích xã hội thì cũ n e nằm trong, mang những tính chất ấy của lĩnh vực biểu hiện mốt cách phổ quát nhất)
Có quan đ iể m ch o rằng, c Mác k hô ng quan tâm đến lợi ích cá nhân của con người Điều này là hoàn toàn Ihiếu cơ sớ và kh ông đúng đắn c Mác luôn xem xét vấn đề con người cá nhân - xã hội một cách rất biện chứng Ph
Trang 31Ả ngghen nói: “ Con người là con vật có xương sống, trong ấy, thiên nhiên đạt tới ý thức về m ìn h ” [55, tr 250] Đó là cái chung trừu tượng Ông còn chỉ rõ, phải đi vào lịch sử mới thấy cái chung cụ thể - “với con người, chúng ta đi vào lịch sử” [55, tr 189] Và lịch sử đó đã chứng m inh rằng, con người là con người của cá nhân - cá thể, đồng thời cũng là con người xã hội - con người giai cấp, cộng đồng, con người loài người - như c M ác đã nói: “Xã hội là xã hội riêng biệt của từng giai đoạn lịch sử, đồng thời nó là xã hội của toàn thể loài
người Xã hội nói c h u n g phát triển cụ thể trong lịch sử loài người Con người là
con người riêng biệt của từng thời đại, từng tập đoàn xã hội nhất định, đồng
thời, nó cũng là con người nói chung, phát triển trong toàn thể lịch sử loài người, con người phổ cập cụ thể" 52, tr, 397] Xuất phát từ một nguyên lý
n hân văn VI d a L m à Kant đã nêu ra: Con người kh ông thể là phương tiện cho cái gì cá, nó bao giờ cũng là mục đích tự thân, c Mác cho rằng, con ncười là tiền để thường trực của lịch sử ne ười, đông thời nó cũng là sán pham và kết quá cúa lịch sử ây và con người chì là tiên để với tư cách là sán phấm và kct quá của bán thân nó c Mác nói rỏ: Xã hội là biểu hiên tống hợp nhừnu liên
hệ, quan hệ giữa những con người với nhau Chính xuất phát từ quan niệm như vậy về con người, c ho nên theo c Mác, lợi ích cá nhân và lợi ích xã hòi luỏn xuất hiện và vận đ ộ n g trong mối quan hê biện chứ ng với nhau Ph Ángghen cũng cho rằng: X e m xét con người hiện thực sinh động, phải xét người đó trong lịch sử của họ, m à hành độn g đầu tiên, danh từ diễn đạt đầu tiên cua COÍ1 người là “ nhu c ầ u ” , “ nhu cầu hàng n g à y ” N h ư vậy, con người ớ đây là con người cá nhãn với nh ữn g nhu cáu thường ngày và chính đáng cúa mình Con người có nhu cáu p ho ng phú, đổiiii thời cũng là con người có nhu cáu về toàn
bộ sự toàn vẹn c ủ a những biểu hiện sinh hoạt của con người - “con neười, trong đó sự thực hiện của bản thân nó biểu hiện ra như là tính tát yếu bcn
Trang 32trong, như là sự thiếu thốn” [49, tr 142], phải bù đắp, phải đáp ứng 0 chỗ khác, c M ác cũng chỉ ra: “Con người thì luôn luôn cần có sự giúp đỡ của những người khác, nhưng nếu tưởng sẽ được những người khác giúp đỡ chỉ vì thiện ý của họ, thì điều đó là không có được” [49, tr 167], mà “trong quan hệ với những người khác, chúng ta không chỉ kêu gọi tính nhân loại của họ, mà còn kêu gọi tính ích kỷ của họ nữa Không bao giờ chúng ta nói với họ về những nhu cầu của chúng ta, mà bao giờ chúng ta cũng nói về lợi ích của họ” [49 tr 167] Cho nên, “ lợi ích chính là sự chiếm hữu tính hiện thực của con
người - đó chính là hiệu lực của con người và sự khổ não của con người (bời vì
sự khổ não của con người được quan niệm theo ý nghĩa nhân tính) là một trong những phương thức mà COI1 người dùng để tri liấc cái tôi của m ình'' [49, tr
ì 90] Đây là những cơ sở hết sức xác đáng cho thấy Mác rất chú ý đến lợi ích
Trang 33Trong xã hội chúng ta, các lợi ích cá nhân được biểu hiện ở sự mong
m uốn nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, nghề nghiệp và làm thoả mãn những nhu cầu vật chất nhất định Sự quan tâm vật chất của cá nhân là bộ phận cấu thành quan trọng nhất của lợi ích cá nhân Tuy vậy, các lợi ích cá nhân rộng hơn các lọi ích vật chất Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, chi phí cho việc làm thoả m ãn các nhu cầu tinh thần ngày càng lớn và trong một số trường hợp chiếm phần lớn trong tổng sô' thu nhập của con người
Các lợi ích cá nhân của các thành viên xã hội có thể là cơ bản, thiết yếu
và có thể k h ô n g cơ bản, k hô ng thiết yếu, có thể là lâu dài và hàng ngày Lợi
ích cơ bản và thiết yếu gắn liền với lợi ích chung của xã hội Chỉ có trên cơ sở
sự phồn vinh, no ấm của xã hội mới có được sự phồn vinh, no ấm của cá nhân, mới có khả năng làm thoả mãn đầy đủ nhất các nhu cầu vật chất, tinh thần của đời sống cá nh ân riêng biệt
Đối với cá nhãn, các lợi ích chung được mọi người tiếp nhận là hình thức cụ thể của “ lợi ích cá n h â n ” Thực chất của các nhu cẩu như vậv dường như bị che kín và các nhu cầu đó đặc trưng cho tất cả mọi người, được thẻ hiện
chính ờ chỗ rằng, đó là các nhu cầu cùa cá nhân và chúng thế hiên lợi ích cá nhân.
Do đó, lợi ích cá nhân là sự thống nhất của hai mặt: Của các lợi ích cơ bản, cốt tử của cá nhân (phù hợp với các lợi ích chu ng và lợi ích giai cấp) và của các lợi ích cá thể (có thể phù hợp với lợi ích chung, lợi ích giai cấp và cũng
có thể là k h ôn g phù hợp với các lợi ích đó; có thể mâu thuẫn không những với các lợi ích chu n g , mà còn sự biểu hiện cụ thể cúa các lợi ích đó, tức là với lợi
ích cơ bản, s ố ng còn của chính cá nhân), ở đây, cần phân biệt các lơi ích cá
nhân với cá c lợi ích củ a cá nhân Các lợi ích của cá nhân rộng hơn các lợi ích
cá nhân Chúng bao gồm lợi ích cá nhân, nhung không chỉ quy về lợi ích cá nhân
Trang 34Bản chất củ a con người với tư cách là tổng hoà các mối quan hệ xã hội được phản ánh trước hết trong các lợi ích của cá nhân, nhưng bởi vì nội dung của các nhân rộng hơn nhiều, do đó, các lợi ích cá nhân cá thể trực tiếp, duy nhất Như vậy, cơ cấu của lợi ích của cá nhân thể hiện với tư cách là sự thống nhất của lợi ích chung (các lợi ích xã hội), của lợi ích riêng (các lợi ích giai cấp, lợi ích nhóm ), các lợi ích đon nhất (các lợi ích cá thể duy nhất) Ngoài ra, các lợi ích của các cá nhân cũng được phân loại theo từng lĩnh vực biểu hiện của chúng (các lợi ích vật chất, tinh thần, chính trị - xã hội, đạo đức, thẩm mỹ) Nhưng tất cả các lợi ích đó và các lĩnh vực thể hiện của chúng không tách rời nhau, mà có m ối liên hệ lẫn nhau, thâm nhập lẫn nhau.
N h ư vậy, lợi ích của cá nhân là sự thống nhất biện chứng của các lợi ích cộng đồng, mà cá nhân đó là thành viên và của các lợi ích cá nhân Sự phụ thuộc lẫn nhau của tổn tại xã hội và của tồn tại cá nhân con người được phản ánh trong tính biện chứ ng của hai mặt đó
Lợi ích chỉ tồn tại trong đời sống xã hội và luôn gắn liện với các chủ thể nhất định Các chủ thê này có thê là các cá nhân riéng lẻ, cũng có thê là các nhóm xã hội hay cả một cộn g đổng xã hội So với từng cá nhân riéng lẻ, thì nhóm là một tập thể, một “cái c h u n g ” , trong đó mỗi cá nhân riêng lẻ chỉ là một cái “ riên g” , một bộ phận hợp thành của nó Tuy nhiên, nếu so cả cộng đổng xã hội thì n h ó m lại là một “cái r iê n g ’, một bộ phận của cái chung lớn hơn cả cộng đ ổ n g xã hội Vì vậy, sự phân biệt c h u n g hay riêng; cá nhân hay xã hội ở đây chỉ m a n g tính tương đối và chúng chỉ có nghĩa vụ là c h u n2 hay riêng trong một tương q u a n rất cụ thể với nhau
Nếu ký hiệu m ộ t cộn g đồng xã hội nhất định (cộng đồng đó có thể là một nhó m, một tập thể, mộ t giai cấp, một dân tộc, hay toàn xã hội) là A và các
bộ phận hợp th àn h củ a nó (bộ phận hợp thành đó có thể là cá nhân trong
Trang 35nhóm , nhóm , tập thể) là A l, thì lợi ích riêng, lợi ích cá nhân là lợi ích gắn liền với từng chủ thể A I và hướng vào thoả m ãn nhu cầu riêng của chính AI đó, còn lợi ích chung, lợi ích xã hội là lợi ích gắn liền với chủ thể A và hướng vào thoả m ãn các nhu cầu chung của tất cả các A I hợp thành A.
Có thể diễn đạt theo cách khác: Nếu như lợi ích cá nhân là lợi ích gắn liền với từng chủ thể cụ thể và dùng để thoả m ãn nhu cầu riêng tư, cụ thể của chủ thể đó, thì lợi ích x ã hội là những lợi ích của một cộng đồng xã hội nhất
định và dùng để thoả mãn những nhu cầu chung, hay cả m ột hệ thống nhu cầu của các chủ thể
Ở đây, c ũ n g cần lưu ý ràng, lợi ích xã hội kh ông phải là sự phản ánh đơn thuần trực tiếp các lợi ích của từng cá nhân như là một tập hợp rời rạc, mà
nó là sự phản ánh một cách tổng thể những lợi ích đặc trưng của toàn thê cộng đồng xã hội Ph Ản gh en viết: “ Lợi ích tập thể này kh ôn g chi tổn tại trong tưởng tượng, với tư cách là “ lợi ích c h u n g ” , m à trước hết, tồn tại trong hiện thực, với tư cách là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các cá nhân có phân công lao động lẫn n h a u ” [51, tr 55], Do đó, lợi ích xã hội cần được hiểu là sự quan tâm chung đối với các hoạt động nhất định, nhầ m làm thoả m ãn các nhu cầu chung V.I L ên in đã nhiều lần nói về sự hiện có các lợi ích của toàn bộ sự phát triển xã hội Ch ẳ n g hạn, ông khẳng định rằng, sự lật đổ c h ế độ chuyên chế là cần thiết, tất yêu “ vì lợi ích không những của giai cấp cô ng nhân, mà của cả
toàn bộ sự phát triển xã hội nữa” [36, tr 278]
Khi vạch ra hệ thống lợi ích cấp bách của từng cá nhân hay xã hội,
ch úng ta cần phải kh ảo sát nội dung và tính chất của chú ng để chỉ ra những lợi ích nào sẽ th am gia vào việc thúc đẩy sự phát triển ch u n g của xã hội
Đ ể hình th àn h lợi ích xã hội, cần phải tạo ra nh ững điều kiện khách quan nhất định Trước hết, các điều kiện khách quan nh ư vậy là sở hữu xã hội
Trang 36đối với tư liệu sản xuất và địa vị bình đẳng của tất cả các thành viên xã hội do
sở hữu đó m ang lại, quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa các giai cấp, nhóm
xã hội
Trong xã hội ta, lợi ích xã hội của nhân dân là thống nhất với lợi ích của tất cả các nhóm xã hội, của cá nhân Nội dung chính của chúng là sự quan tâm đối với việc củng cố c h ế độ xã hội chủ nghĩa Các lợi ích đó được thực hiện trong hoạt động của tất cả các cá nhân xã hội, nhằm tăng thêm sở hữu xã hội chủ nghĩa, tiếp tục hoàn thiện sản xuất xã hội, củng cố liên m inh giai cấp công nhân, nông dân, trí thức và việc nàng cao trình trình độ cuộc sống của nhân dân, trình độ vãn hoá, giáo dục của họ
1.2 2 Quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
Xã hội bao giờ cũn g do những con người cụ thê hoạt độn g và quan hệ tác động qua lại theo một phương thức nhất định tạo thành Nhũng con người
cu thể tạo thành xã hội không phải là con người trừu tượng, mà là những cá nhân hiên thực Đ ây là tiền đề xuất phát của mọi quan điểm duy vát về lịch sứ.C.Mác đã kh ẳn g định: “ N hữ ng tiền đề xuất phát của ch ún g tôi không phải là những tiền đề tuỳ tiện, k h ô ng phải là giáo điểu; đó là nhữ ng tiền đề hiện thực
mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thổi Đ ó là những cá nhân hiện thực, là hoạt độ ng của họ và những điều kiện sinh hoat vât chất của họ, những điều kiện m à họ thấy có sẩn, cũng như những điều kiện do hoạt động chính họ tạo ra N h ư vậy, nhữ ng tiền đề ấy là có thể ki ểm ngh iệm được bằng con đường kinh n g h i ệ m thuần t u y ” [54, tr 28-29] Đ ổ n g thời, những cá nhân
cụ thể chỉ có thể tổn tại và phát triển trong một tập thể, một cộng đồng xã hội nhất định N h ư vậy, cá nh ân chỉ tổn tại khi cộng đồ n g tồn tai và ngược lại Để tồn tại và phát triển, cá nhân và cộng đổng xã hội phải đ ả m bảo được những lợi ích nhất định
Trang 37c M ác đã đặt vấn đề một cách biện chứng con người cá nhân với con người xã hội, lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội - đây mới là bề sâu của lợi ích
cá nhân, mới là cái biểu đạt một cách biện chứng, sâu sắc nhất của lợi ích cá nhân Ô ng cho rằng, “xã hội với tính cách là m ột sự trừu tượng với cá nhân Cá nhân là m ột thực thể xã hội, cái đặc thù cá nhân chỉ là “phương thức tổn tại của sinh hoạt cá n h ân ” thôi, cũng như sinh hoạt xã hội là đặc thù đối với sinh hoạt cá nhân vậy, cá nhân chỉ là sự tồn tại cá nhân theo nghĩa là “ một tổng thể trong quan niệm , m ột tồn tại chủ quan của xã hội đang được tư duy và đang được cảm g iác” , cũng giống như trong hiện thực, nó tồn tại một mật như là sự trực quan tổn tại xã hội và sự hưởng thụ ấy một cách hiện thực, và mặt khác,
như tổng thể của biểu hiện sinh hoạt con ngư ời” [49, tr 131] Cho nên về mặt triết học, kh ông thể xe m xét lợi íc h cá nhân tách rời lợi ích xã hội Biện chứng của sự mâu thuẫn và thống nhất dó có ý nghĩa tuyệt đối Điều này luôn luôn xuất phát từ hiện thực của sự vận động xã hội, của lý tính và ngôn ngữ Bản thân các cá nhân ho àn toàn bị phân công lao độ n g chi phối, và do đó, họ ớ vào hoàn cảnh hoàn toàn phụ thuộc nhau Vì vậy, “đối với con người, ý thức vé sư tất yếu phải quan hệ với những người xung qu anh đấu bước đầu của ý thức vé
sự thật là nói c h u n g con người sông trong xã hội, đành rằng, xét cụ thể hơn thì
“ hoạt độ ng xã hội và hưởng thụ xà hội” tồn tại hoàn toàn k h ông phải chỉ dưới hình thức hoạt đ ộ n g tập thê trực tiếp và dưới hình thức hưởng thụ tập thể trực tiếp” [49, tr 131] c Mác đã lưu ý rằng, lợi ích cá nhân do các điều kiện khách quan của xã hội sinh ra, chứ kh ông phải do bản chất của cá nhân sinh
ra Ông viết: “Thực chất vấn đề là ở chỗ bản thân lợi ích cá nhân đã là lợi ích
về mặt xã hội rồi và lợi ích ấy chỉ có thể đạt được trong những điểu kiện do xã hội tạo ra và th ôn g q ua những phương tiện do xã hội cung cấp, nghĩa là lợi ích
ấy gắn liền với sự tái sản xuất ra những điều kiện và những phương tiện ấy Đó
Trang 38là lợi ích của những cá nhân, nhưng nội dung của nó, cũng như hình thức và các biện pháp thực hiện nó đều xuất phát từ những điều kiện xã hội độc lập với cá nhân” [62, tr 164].
Xã hội - theo c M ác, luồn luôn là m ột hệ thống m ở và bất cứ hình thức nào đều là sản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa người và người Mỗi cá nhân hay m ỗi giai cấp nhất định, trong những điều kiện xã hội xác định, luôn luôn thể hiện m ình với tư cách là chủ thể hoạt động, theo tiếng gọi của nhu cẩu
và lợi ích Vì vậy, họ buộc phải lựa chọn những quan hộ, những khả năng khách quan và chủ quan nhất định, để khẳng định nhân cách và vị trí của mình Đây chính là cốt lõi của sự vận động của lịch sử Trong xã hội có giai
cấp, thì lợi ích giai cấ p và lợi ích xã hội lúc đầu có thê du n g hoà nhau, nhưng
đó chỉ là tạm thời và xu hướng là có tính chất đối kháng Đỉnh cao của sự đối kháng đó là cách m ạ n g xã hội v ổ ý nghĩa này thì đấu tranh giai cấp đươc coi
là động lực, n h ằ m tìm ra cách kết hợp biện chứ ng mới, phù hợp giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội Chính vì vậy, trong thực tiễn lịch sử, Nhà nước luôn luôn tìm cách can thiệp, nhầm dung hoà (ớ một mức độ nào đó) lợi ích cá nhân (ở đây là cá nh ân giai cấp) và lợi ích xã hội Nếu không coi trọng điểu đó, thì Nhà nước kh ó có thể đứng vững được c M ác đã phân định rach ròi hai phương diện là cá nhân “ lệ thuộc điều kiện giai cấ p” và cá nhân “nhân c á c h ” , đồng thời chỉ ra rằng, m u ốn kết hợp được lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội một cách triệt để nhất, thì phải xoá bỏ diều kiện giai cấp, để đạt tới “ sự phát triển tự
do của mỗi người là điểu kiện cho sự phát triển tự do cho tất cả mọi người”
Các nhà k inh điển của chủ nghĩa M ác - Lênin luôn luôn trăn trở vé vấn
đề này ở bước qu á độ lịch sử của chủ nghĩa xã hội, Ph Ăng gh en đã nhấn mạnh rằng: Chủ n g h ĩ a xã hội không tước đoạt sở hữu cá nhân của một ai cả,
mà chỉ tước bỏ việc sử dụ ng sở hữu cá nhân - cái dùng để nó dịch lao độn g cùa
Trang 39người khác T rong logic sự vận động của lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, Ph
Ả ngghen đã rất khoa học và nhân đạo khi nhận xét: “Nếu như chúng ta không tôn trọng lòng m ong m uốn hạnh phúc đó của những người khác, thì những người đó sẽ phản kháng lại và phá lòng m ong m uốn hạnh phúc đó cùa chúng ta” và ‘nếu như con người chỉ chăm lo đến bản thân m ình, thì lòng mong muốn hạnh phúc của họ chỉ được thoả mãn trong những trường hợp rất hãn hữu và hoàn toàn không có lợi cho họ hay cho người k h ác” [55, tr 392-393] c Mác cũng kết luận: K hi lợi ích cá nhân kết hợp được với lợi ích xã hội, thì “nhu cầu
và sự hưởng thụ vật phẩm m ất bản tính ích kỷ của nó, còn tự nhiên thì mất tính
có ích trắng trợn của nó Vì sự lợi ích trở thành sự ích lợi của con người” [49,
tr 135]
Nh ư đâ trình bày ở trên, lợi ích luôn luôn gắn liền với nnững chủ thể nhất định N hữ n g chủ thê này có thể là những cá nhân riêng lẻ, cũng có thể là các nhóm xã hội, hay cá một cộng đồng xã hội Chính vì vây, lợi ích cú nhân
và lợi ích xã hội cán dược xem xét một cách tương đối trong các quan hê xác định, trong đó, lợi ích cá nhân là cái đáp ứng nhu cầu của cá nhân; lơi ích xã hội là cái đáp ứng nhu cầu của cộng đổng xã hội
Cơ sở để x em xet mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội là sự tác động qua lại biện chứng giữa cá nhân và cộng đổng xã hội; giữa yếu tô và
hệ thống trong cấu trúc hệ thống của cơ thê xã hội
Đối với mỗi con người, lợi ích riêng của bản thân thường bao giờ cũng
có ý nghĩa quyế t định trực tiếp, thôi thúc anh ta hành động Khi con người làm một cái gì đó, thì thường cái đó gắn liền với một nhu cầu hay một lợi ích cụ thể nào đó Đ ú n g n h ư C.M ác đã từng chỉ rỏ, “ không ai có thể làm một cái gì nếu kh ông đ ồ n g thời làm cái đó vì một nhu cầu (hay lợi ích) nào đó của m ì n h ” [54, tr 361] Sở dĩ n h ư vậy là vì đổi với mỗi con người, lợi ích riêng của người
Trang 40đó là lợi ích dễ được nhận biết hơn cả, sau đó mới đến lợi ích cùa gia đình, tiếp theo là lợi ích của tập thể gần gũi với anh ta, tiếp nữa mới đến lợi ích của các cộng đồng lớn hơn.
Nhưng như đã trình bày, cá nhân bao giờ cũng là thành viên của một cộng đồng nhất định, gắn bó m ật thiết với cộng đồng ấy M ột mặt, anh ta góp phần tạo nên sự tổn và phát triển của cộng đổng, m ặt khác, đời sống của anh ta cũng bị quy định hết sức chặt chẽ bởi sự tồn tại và phát triển của cộng đồng xã hội Nói m ột cách khác, bản thân các cộng đồng tổn tại là bởi sự tổn tại của các cá nhân cùng quan hệ qua lại giữa họ và các cá nhân cũng bị quy định bởi
cộng đồ ng của mình Điều đó có nghĩa là việc thực hiện các lợi ích cá nhân hay lợi ích xã hội bao giờ cũng có ảnh hưởng qua lại với nhau Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội có ý nghĩa quy ết định không chỉ với sự
phát triển của từng cá nhân, mà còn đối với sự phát triển của toàn xả hội
Mối quan hệ của cá nhân và xã hội là hết sức đa dang Do đó, mối quan
hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội cũng rất đa dạng
Thôn g thường, lợi ích cá nhân bao giờ cũn g là động lực trực tiếp và mạnh mẽ nhất, thúc đẩy hoạt đ ộ n e của cá nhân Vì thế, có thê nói, nó là cơ sở
đê thực hiện lợi ích xã hội (nếu như lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội có c hu n s bản chất, nằm trên cùn g một tuyến Ngược lại, lợi ích xã hội trong trường hợp này lại là điều kiện và đó ng vai trò định hướng trong việc thực hiện lợi ích cá nhân, Cho nên, khi x e m xét mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, cần xem xét m ộ t trong các mối quan hệ căn bản của một cá nhân với cả cộng đồng xã hội Là sản ph ẩm của các quan hệ con người, xã hội vừa tổn tại như một cơ thể tự nhi ên tự điều chỉnh, vừa tổn tại trên cơ sở được tổ chức và điếu hành bởi hệ th ốn g các n g u yê n tắc được thiết lập bởi sự thoả thuán hay áp đãt