1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam sang các nước ASEAN trong khuôn khổ Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)

186 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 186
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1.Về mặt lý luận Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về ĐTTTRNN và xây dựng mô hình đánh giá các yếu tố tác động đến ĐTTT của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN trong bối cảnh thực thi AEC. Đặc biệt, các chỉ tiêu như độ mở cửa, thuế suất đã được điều chỉnh thay đổi của điều kiện của thị trường chung AEC. Một số yếu tố khác tác động tới thu hút vốn đầu tư của nước tiếp nhận như GDP, GDP/người, chỉ số tài nguyên thiên nhiên/GDP, chỉ số lao động, rủi ro chính trị... được sử dụng phân tích tới mức độ hấp dẫn đầu tư. Đây là đóng góp quan trọng của luận án so với các nghiên cứu trước mặc dù các yếu tố đánh giá không thay đổi nhưng bối cảnh mới thì vai trò của các yếu tố đã được đánh giá và điều chỉnh lại. 1.2.Về mặt thực tiễn Thứ nhất, luận án đã phân tích tình hình đầu tư của một số quốc gia châu Á đầu tư sang ASEAN như Nhật Bản, Singapore, Malaysia. Đây là bài học kinh nghiệm quan trọng cho cơ quan lập chính sách xây dựng hệ thống khung chính sách phù hợp hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam sẽ tiến hành đầu tư sang ASEAN trong thời gian tới. Thứ hai, luận án đã chỉ ra những kết quả, hạn chế và tìm ra nguyên nhân thông qua phân tích thực trạng ĐTTT của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN giai đoạn 1991-2019. Trong đó, luận án tiến hành đánh giá những khác biệt về thực trạng ĐTTT của doanh nghiệp trong nước sang ASEAN trước và sau khi thực thi AEC. Thứ ba, Luận án đã đề xuất các giải pháp, nhóm giải pháp mới, phù hợp với thực tiễn của AEC nhằm thúc đẩy ĐTTT của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. 2. Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án Luận án đạt được một số kết quả sau: Thứ nhất, Luận án đã hệ thống cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài; Xây dựng mô hình các yếu tố tác động đến đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN; Những kinh nghiệm đầu tư từ những cường quốc như Nhật Bản, Singapore, Malaisia sẽ là những bài học đáng quý để các doanh nghiệp Việt Nam có thể điều chỉnh hoạt động đầu tư ra nước ngoài, mà cụ thể là sang thị trường ASEAN. Thứ hai, từ phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN thời gian qua cho thấy hoạt động này đã có một số đóng góp như, đem lại một số lợi ích kinh tế xã hội, giúp Việt Nam tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực, doanh nghiệp Việt Nam tham gia mạnh mẽ hơn vào chuỗi phân công lao động trong khu vực và góp phần tạo ra thế 1 hệ doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh trong khu vực. Tuy nhiên, việc đầu tư sang khu vực ASEAN trong thời gian trước và sau khi AEC có hiệu lực cho thấy, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thực sự đầu tư có hiệu quả trong khu vực ASEAN, tỷ lệ vốn triển khai còn thấp, hình thức đầu tư hạn chế, thiếu tính liên kết, chưa tạo ra hệ thống đầu tư bài bản giữa các doanh nghiệp Việt Nam, điều này dẫn tới nhiều doanh nghiệp chưa tận dụng được các cơ hội mà AEC mang tới. Số lượng dự án đầu tư sau khi AEC được thành lập giảm hẳn và đi vào chiều sâu với một số doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực cốt lõi hơn là đầu tư dàn trải. Thứ ba, nghiên cứu mô hình trọng lực trong đầu tư cho thấy: các yếu tố chi phí sản xuất (cơ sở hạ tầng, tỷ giá hối đoái, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và rủi ro chính trị) có tác động tiêu cực đến đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN. Các yếu tố như GDP bình quân, độ mở của nền kinh tế, nguồn tài nguyên thiên nhiên, chỉ số năng suất lao động, và sự giống nhau về điều kiện kinh tế giữa Việt Nam và các nước tiếp nhận đầu tư có tác động tích cực, thúc đẩy đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường ASEAN. Do độ trễ của các chính sách kinh tế, nên cam kết về AEC không có tác động nhiều đến việc thúc đẩy đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN, song các Hiệp định thương mại và đầu tư có hiệu lực trước đó đều có tác động tích cực đến thúc đẩy đầu tư của Việt Nam. Thứ tư, từ các phân tích trên cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam cần tính tới các bài toán về nghiên cứu thị trường, tăng cường liên kết trong và ngoài nước để tạo ra chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng trong đầu tư ra nước ngoài, thay vì chỉ đầu tư riêng lẻ như hiện nay. Các mô hình kinh doanh cũng cần đa dạng, tính tới các tác động từ các Hiệp định đầu tư và thương mại tự do trong ASEAN, cũng như xu hướng tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đang dần hiện hữu trong đời sống kinh tế của các quốc gia. Đây là cơ sở để Chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam có thể điều chỉnh các công cụ về chính sách, chiến lược đầu tư nhằm thúc đẩy đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài, nhất là tại thị trường ASEAN./.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

-o0o -

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÊN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN:

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM SANG CÁC NƯỚC ASEAN TRONG KHUÔN KHỔ

CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (AEC)

Nghiên cứu sinh : Trịnh Quang Hưng

Người hướng dẫn khoa học : PGS,TS Lê Thị Thu Thủy

Hà Nội - 2021

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS,TS Lê Thị Thu Thủy đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Ngoại thương, Khoa Sau Đại học, Viện Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Bộ môn Kinh tế và Quản lý đã quan tâm, tham gia góp ý kiến và hỗ trợ tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thiện luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn Cục Đầu tư nước ngoài, Tổng cục Thống kê (Bộ

Kế hoạch và Đầu tư), các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện cung cấp tài liệu, thông tin về hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam, làm cơ sở quan trọng cho tôi nghiên cứu hoàn thành luận

án

Tôi cũng gửi lời cảm ơn trân trọng tới Phòng Quản lý Đào tạo nơi tôi công tác đã quan tâm hỗ trợ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thành luận án

Cuối cùng, tôi xin trân trọng cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè

và các đồng nghiệp đã luôn quan tâm, cổ vũ, động viên, tiếp thêm nghị lực cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thiện luận án này./

Hà Nội, tháng 01 năm 2021

Tác giả luận án

Trịnh Quang Hưng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là Trịnh Quang Hưng, tác giả luận án tiến sĩ: “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam sang các nước ASEAN trong khuôn khổ Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)” Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên

cứu độc lập của riêng tôi Các số liệu được nêu và trích dẫn trong luận án là chính xác và trung thực Những kết quả nghiên cứu của luận án chưa từng được công bố trong các công trình khác./

Hà Nội, tháng 01 năm 2021

Tác giả luận án

Trịnh Quang Hưng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ix

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ix

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 3

2.1.Mục tiêu nghiên cứu 3

2.2.Câu hỏi nghiên cứu 3

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1.Đối tượng nghiên cứu 3

3.2.Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

4.1.Phương pháp tiếp cận 4

4.2.Nguồn và phương pháp thu thập dữ liệu 4

4.3.Khung phân tích 5

4.4.Phương pháp ước lượng mô hình dữ liệu mảng 5

4.5 Phương pháp xử lý dữ liệu 6

5.Những đóng góp mới của luận án 6

5.1.Về mặt lý luận 6

5.2.Về mặt thực tiễn 7

6.Kết cấu của luận án 7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ CỦA LUẬN ÁN 9

1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

1.1.1 Các nghiên cứu lý thuyết về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các nước đang phát triển và nền kinh tế chuyển đổi 9

Trang 5

1.1.2.Các công trình nghiên cứu về hoạt động đầu tư trực tiếp của các doanh

nghiệp Việt Nam ra nước ngoài 14

1.2.Sự kế thừa các công trình nghiên cứu trước và khoảng trống nghiên cứu của luận án 27

1.2.1.Sự kế thừa các công trình nghiên cứu trước 27

1.2.2.Khoảng trống nghiên cứu của luận án 28

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI TRONG KHUÔN KHỔ AEC VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 29

2.1.Tổng quan về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 29

2.1.1.Một số khái niệm về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 29

2.1.2.Một số lý thuyết điển hình về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 32

2.1.3 Các yếu tố tác động đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và mô hình các yếu tố tác động 40

2.2 Một số vấn đề về Cộng đồng Kinh tế ASEAN 48

2.2.1 Khái quát về ASEAN và Cộng đồng Kinh tế ASEAN 48

2.2.2.Các hiệp định về đầu tư trong ASEAN 51

2.3 Tình hình đầu tư của một số quốc gia châu Á sang ASEAN và gợi ý cho Việt Nam 55

2.3.1 ĐTTT của Nhật Bản sang ASEAN 55

2.3.2 ĐTTT của Singapore sang ASEAN 58

2.3.3 ĐTTT của Malaysia sang ASEAN 61

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM SANG ASEAN TRONG KHUÔN KHỔ AEC 65

3.1.Phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN 65

3.1.1 Theo địa điểm đầu tư 65

3.1.2.Theo giai đoạn đầu tư 71

3.1.3.Theo lĩnh vực đầu tư 74

3.1.4 Theo hình thức đầu tư và theo sở hữu của công ty mẹ ở Việt Nam 80

Trang 6

3.2.Đánh giá tình hình đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam sang

ASEAN 83

3.2.1 Kết quả đạt được 83

3.2.2.Một số hạn chế và nguyên nhân 89

CHƯƠNG 4 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM SANG ASEAN TRONG KHUÔN KHỔ AEC 102

4.1 Mô hình tác động 102

4.1.1 Cơ sở lý thuyết về mô hình 102

4.1.2 Xây dựng mô hình 103

4.2 Phân tích các yếu tố tác động đến đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN trong khuôn khổ AEC 105

4.2.1.Mô tả về các biến trong mô hình 105

4.2.2.Kết quả ước lượng mô hình và kết luận rút ra từ mô hình 119

CHƯƠNG 5: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM SANG ASEAN ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030 126

5.1 Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi đầu tư sang ASEAN trong bối cảnh AEC 126

5.1.1.Cơ hội 126

5.1.2.Thách thức 127

5.2.Mục tiêu, định hướng của các doanh nghiệp Việt Nam và quan điểm của nhà nước thúc đẩy đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN 128

5.2.1.Mục tiêu 128

5.2.2.Định hướng 128

5.2.3.Quan điểm của nhà nước 130

5.3.Đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy đầu tư trực tiếp sang ASEAN cho các doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 132

5.3.1.Chủ động xây dựng chiến lược đầu tư có hiệu quả, chuẩn bị kỹ các điều kiện trước khi đầu tư và chiến lược kinh doanh 132

Trang 7

5.3.2.Chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh 138 5.3.3.Đa dạng hóa các hình thức đầu tư 141 5.3.4.Tăng cường hợp tác với các tổ chức của Việt Nam ở trong và ngoài nước 142 5.3.5.Tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp đối với nhà nước và xã hội 143 5.3.6.Tăng cường khai thác cơ hội đầu tư từ AEC 144

5.4.Kiến nghị đối với Nhà nước 146

5.4.1.Xây dựng kế hoạch chiến lược tổng thể cấp quốc gia về đầu tư sang ASEAN gắn với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước 146 5.4.2.Các giải pháp hỗ trợ đầu tư trực tiếp sang ASEAN 146 5.4.3.Các giải pháp nâng cao công tác quản lý nhà nước về hoạt động ĐTTT sang ASEAN trong bối cảnh thực thi AEC 150 5.4.4.Tăng cường xúc tiến đầu tư sang ASEAN 152 5.4.5.Kết hợp hiệu quả giữa đầu tư trực tiếp và hỗ trợ phát triển không chính thức của Việt Nam sang ASEAN 153

KẾT LUẬN 155 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA

ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 158 TÀI LIỆU THAM KHẢO 160 PHỤ LỤC 174

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CHỮ

AEC ASEAN Economic Community Cộng đồng kinh tế ASEAN ASEAN Association of Southeast

Asian Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á AVIL Association of Vietnam

Investors in Lao

Hiệp hội các nhà đầu tư Việt Nam sang Lào AVIC Association of Vietnam

Investors in Cambodia

Hiệp hội các nhà đầu tư Việt Nam sang Campuchia AVIM Association of Vietnam

song phương

Bộ KH&ĐT Ministry of Planning and

Investment Bộ Kế hoạch và Đầu tư CLMV Cambodia-Laos-Myanmar-

Vietnam

Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam

ĐTTTRNN

(OFDI)

Outward Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội IIAs International Investment

Agreements Các hiệp định đầu tư quốc tế

NT National Treatment Nguyên tắc đối xử quốc gia MFN Most Favoured Nation Nguyên tắc Tối huệ quốc ODA Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức OECD Organisation for Economic

Cooperation and Development

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế TNCs Transnational Corporations Tập đoàn xuyên quốc gia MNCs Multinational Corporations Công ty đa quốc gia UNCTAD United Nations of Conference

on Trade and Development

Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển WIR World Investment Report Báo cáo đầu tư thế giới WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1.Tổng hợp về biến số trong mô hình 47

Bảng 3.1.Đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN 65 Bảng 3.2 Đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN theo tình trạng hiệu lực của dự án đầu tư giai đoạn 1991-2019 67 Bảng 3.3.Đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN theo giai đoạn đầu tư giai đoạn 1991-2019 71 Bảng 3.4 Đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN theo lĩnh vực đầu tư và các giai đoạn đầu tư giai đoạn 1991-2019 75 Bảng 3.5.Đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN 79 Bảng 3.6.Đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN theo hình thức đầu tư giai đoạn 1991-2019 81 Bảng 3.7 Đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN theo hình thức sở hữu công ty mẹ ở Việt Nam giai đoạn 1991-2019 82

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1.Đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN theo địa điểm đầu tư giai đoạn 1991-2019 66 Biểu đồ 3.2.Cơ cấu đầu tư trực tiếp củacác doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN theo số dự án giai đoạn 1991-2019 (%) 68

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1 Khung phân tích của luận án 5

Hình 2.1.Các hình thức mở rộng ra thị trường nước ngoài 36 Hình 2.2.Quá trình hình thành và phát triển AEC 50

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra rất mạnh mẽ đã tác động sâu rộng tới tăng trưởng kinh tế của các nước trên thế giới với đặc trưng là sự phát triển hoạt động đầu tư quốc tế Phần lớn dòng vốn đầu tư vẫn chủ yếu từ các nước có nền kinh tế phát triển, nhưng trong thời gian gần đây, hoạt động đầu tư quốc tế của các nước đang phát triển và các nền kinh tế mới nổi cũng đang gia tăng mạnh mẽ, đang trở thành một bộ phận quan trọng của dòng đầu tư quốc tế, chiếm khoảng 37% dòng vốn đầu tư ra nước ngoài năm 2019 (World Investment Report, 2020) Nguyên nhân

là các nước đều nhận thức được vai trò của đầu tư quốc tế đem lại nhiều cơ hội cho

cả nước đi đầu tư và chủ đầu tư (đầu tư ra nước ngoài) Cụ thể, các nước đi đầu tư

có thể khai thác thị trường ở nước tiếp nhận đầu tư, bảo đảm được nguồn cung ứng nguyên liệu đầu vào giá rẻ (nhân công, nguồn lợi tự nhiên), tạo sự ảnh hưởng đối với nước tiếp nhận đầu tư theo hướng có lợi cho mình trong những vấn đề quốc tế (Vũ Chí Lộc, 2012) Chính vì thế, các nước có dòng vốn ĐTRNN lớn đều quan tâm đều tích cực thúc đẩy việc hình thành các khung pháp lý song phương, đa phương trong các lĩnh vực đầu tư, thương mại, sở hữu trí tuệ nhằm mục đích mở đường và tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi, an toàn cho doanh nghiệp khi triển khai các hoạt động đầu tư ở nước ngoài

Quá trình hợp tác kinh tế của ASEAN được đẩy mạnh từ năm 1992, nhằm tăng cường thương mại, thu hút đầu tư và hợp tác khu vực, các nước ASEAN đã ký tuyên bố thành lập thị trường chung ASEAN – AEC vào ngày 22/11/2015 với mục tiêu hình thành thị trường đơn nhất, tự do thương mại và đầu tư Nhà đầu tư có thể tham gia các dự án đầu tư đa dạng trên toàn khu vực một cách thuận lợi hơn do khuôn khổ phát lý và quy định trở nên minh bạch, các hạn chế về vốn góp nước ngoài được nới lỏng và qui định bảo hộ đầu tư hiệu quả hơn Đặc biệt, doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội đầu tư trong khu vực với độ ổn định, minh bạch cao và rủi ro thấp hơn Với quy mô thị trường hơn 600 triệu người dùng và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) khoảng 3 nghìn tỷ USD, đứng vị trí thứ 5 trên thế giới năm 2018 về GDP, ASEAN luôn là một trong những ưu tiên chiến lược trong các hoạt động

Trang 12

thương mại và đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam Để tận dụng được các cơ hội

mà AEC đã mang lại, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã tích cực đầu tư sang khu vực ASEAN trong nhiều lĩnh vực khác nhau Chính phủ Việt Nam cũng có những thay đổi về chính sách đầu tư, theo hướng tăng cường hỗ trợ về mặt chính sách cho các doanh nghiệp trong nước thực hiện ĐTRNN từng bước được hoàn thiện Số liệu thống kê cho thấy từ năm 1991-2019, tổng số dự án ĐTTT của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN liên tục tăng, lũy kế đạt 791 dự án, tổng số vốn là 11,23 tỷ USD, quy mô bình quân của mỗi dự án đạt 14,1 triệu USD (Cục ĐTNN-Bộ KH&ĐT, 2019)

Tuy nhiên, những thành quả đạt được của các doanh nghiệp Việt Nam khi đầu

tư sang ASEAN thực tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của Việt Nam và đối tác Hàng loạt các dự án đầu tư giai đoạn trước đó bị thua lỗ, phải giải thể và rút

về nước, nhiều nước đối tác cũng đã thắt chặt lại chính sách đầu tư, nhất là trong các ngành khai khoáng, khai thác tài nguyên thiên nhiên Nhiều dự án đình đám của một số đại gia Việt Nam cũng bị ngừng trệ hoặc thực hiện kém hiệu quả Khi AEC được thành lập, nhiều cơ hội được mở ra đối với các doanh nghiệp Việt Nam, song thách thức cũng lớn hơn trước khi có rất nhiều đối thủ cạnh tranh lớn trong nội bộ khối cũng sẽ được hưởng những ưu đãi từ AEC Bên cạnh đó, những thay đổi về chính sách đầu tư ra nước ngoài ở Việt Nam và tình hình tái cơ cấu nền kinh tế tại Việt Nam trong thời gian qua đã làm thay đổi cục diện về đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam Cơ hội đầu tư luôn sẵn có, nhất là khi các hiệp định đầu tư trong AEC đã tạo ra điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nội bộ khối Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng có thể tận dụng tốt các cơ hội đầu tư trên thị trường nước ngoài

Với những lý do trên đây, tác giả đã lựa chọn đề tài “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN trong khuôn khổ Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)”, nhằm xác định các lợi thế và khó khăn của Việt Nam khi

đầu tư sang ASEAN trong bối cảnh thực thi AEC Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp thúc đẩy đầu tư sang ASEAN nhằm khai thác các cơ hội thị trường, nguồn nguyên liệu đầu vào, phục vụ tăng trưởng trong nước trong những năm tới

Trang 13

2.Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

2.1.Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là phân tích, đánh giá hoạt động đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN trong bối cảnh cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được hình thành cuối năm 2015 Từ đó, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư trực tiếp sang ASEAN đến năm 2025, định hướng đến năm 2030

2.2.Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của luận án, tác giả trả lời lần lượt các câu hỏi nghiên cứu sau:

Thứ nhất, thực trạng ĐTTT của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN

như thế nào?

Thứ hai, ĐTTT của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN chịu tác động

của những yếu tố nào?

Thứ ba, các doanh nghiệp Việt Nam cần có những giải pháp chủ yếu nào để

đẩy mạnh ĐTTT sang ASEAN trong khuôn khổ AEC đến năm 2025, định hướng đến năm 2030?

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là ĐTTT của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN

3.2.Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Luận án nghiên cứu ĐTTT của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN, không đề cập đến đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam dưới hình thức đầu tư gián tiếp sang ASEAN và đầu tư sang các khu vực khác trên thế giới

- Thời gian nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN trong giai đoạn từ 2016 trở đi (đến năm 2019) trong so sánh với FDI của giai đoạn trước đó (1991-2015) Thời điểm năm

Trang 14

1991 là thời điểm khi Việt Nam bắt đầu có dự án đầu tư sang ASEAN, bởi vậy NCS lấy mốc thời gian này để nghiên cứu Một số dữ liệu liên quan đã được cập nhật đến năm 2019 Tuy nhiên, do nhiều dữ liệu trong mô hình chưa được các nguồn chính thống cập nhật đến năm 2018 và 2019, nên việc phân tích mô hình tác động chỉ sử dụng dữ liệu đến năm 2017 Đây cũng có thể coi là một hạn chế của Luận án

- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng ĐTTT của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN Xây dựng mô hình ước lượng ảnh hưởng của việc thành lập AEC và các yếu tố khác đến ĐTTT của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN Trên cơ sở đánh giá được các yếu tố tác động đến ĐTTT của doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN, tác giả đề xuất các giải pháp thúc đẩy ĐTTT của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN đến năm 2025 và định hướng đến năm

2030

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1.Phương pháp tiếp cận

Luận án dựa trên cơ sở phân tích các yếu tố kéo và yếu tố đẩy (ở góc độ của

cả nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư) tác động đến dòng vốn đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN Dựa trên việc đánh giá các yếu tố tác động đến ĐTTT, từ đó đánh giá các cơ hội và thách thức mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể gặp phải khi đầu tư sang ASEAN trong bối cảnh AEC đã có hiệu lực từ năm 2015

4.2.Nguồn và phương pháp thu thập dữ liệu

Các dữ liệu chủ yếu là thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn chính thức khác nhau, bao gồm các báo cáo và dữ liệu về các dự án ĐTTT của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Tổng cục Thống kê, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Ban Thư ký ASEAN và một số doanh nghiệp của Việt Nam đầu

tư sang ASEAN Các số liệu được lấy từ năm 1991 đến năm 2019 Dữ liệu này nhằm mục đích đánh giá thực trạng về ĐTTT của Việt Nam trên thị trường ASEAN, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư của

Trang 15

các doanh nghiệp Việt Nam sang khu vực ASEAN, nhất là trong bối cảnh AEC đã được thành lập

Bên cạnh đó, để đo lường các yếu tố tác động đến ĐTTT của doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN, tác giả đã sử dụng các dữ liệu từ World Bank của mười quốc gia ASEAN giai đoạn 1991-2019, như GDP bình quân đầu người, chỉ số cơ sở

hạ tầng, chỉ số độ mở của nền kinh tế, chỉ số giá quy đổi theo tỷ giá hối đoái, chỉ số tài nguyên thiên nhiên trên GDP, mức thuế suất đối với thu nhập doanh nghiệp, chỉ

số về lao động, chỉ số về rủi ro chính trị của nước tiếp nhận đầu tư và các biến giả

4.3.Khung phân tích

Luận án được thực hiện theo khung phân tích dưới đây:

(Nguồn: Tác giả xây dựng)

4.4.Phương pháp ước lượng mô hình dữ liệu mảng

Trong đó, động cơ ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam đều chịu ảnh hưởng từ hai nhóm yếu tố: yếu tố từ nước chủ đầu tư – từ góc độ của Việt Nam (yếu

tố đẩy) và nhóm yếu tố từ thị trường ASEN (yếu tố kéo) Bên cạnh đó, các cam kết

OFDI

Yếu tố kéo Yếu tố đẩy

-Nguồn lực (tài nguyên, năng suất lao động, cơ sở hạ tầng,

- Chính sách của nước tiếp nhận (tỷ giá, thuế TNDN, độ mở của nền kinh tế)

Hình 1 Khung phân tích của luận án

Các yếu tố môi trường quốc tế, cam kết quốc tế liên quan đến đầu tư

Trang 16

quốc tế cũng có thể ảnh hưởng đến các hoạt động ĐTTTRNN Trên cơ sở đó tác giả

sẽ phân tích riêng biệt thành hai mô hình tác động đến ĐTTTRNN của Việt Nam

sang ASEAN Mô hình thứ nhất, phân tích dưới góc độ của yếu tố đẩy, khi chính

sách của nhà nước và các yếu tố của nền kinh tế có thể tạo ra điều kiện thuận lợi

thôi thúc các doanh nghiệp đi đầu tư ra nước ngoài Mô hình thứ hai, phân tích dưới

góc độ của yếu tố kéo, khi các yếu tố về điều kiện về thị trường kinh doanh thuận lợi tại nước tiếp nhận như chi phí sản xuất, nhân lực, tài nguyên và chính sách tại thị trường tiếp nhận có thể tác động tới hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp Góc độ thứ hai cho thấy doanh nghiệp sẽ đi đầu tư tại những nơi nào có chi phí thấp hoặc hiệu quả kinh doanh tốt hơn, hoạt động đầu tư cũng sẽ khác nhau theo các nhóm nước tiếp nhận đầu tư khác nhau Trong 2 mô hình trên, các biến về cam kết quốc tế liên quan đến đầu tư trong ASEAN và yếu tố trình độ kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư

sẽ được xem là các biến kiểm soát Kết quả phân tích từ hai mô hình sẽ là gợi ý cho các đề xuất giải pháp trong chương 5 Theo đó, các yếu tố đẩy liên quan chủ yếu đến nhóm giải pháp ở góc độ vĩ mô và các yếu tố kéo liên quan đến nhóm giải pháp

vi mô

4.5 Phương pháp xử lý dữ liệu

Để tính toán mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến ĐTTT của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN, tác giả đã sử dụng mô hình ước lượng theo phương pháp hồi quy dữ liệu mảng với sự trợ giúp của phần mềm Stata

5.Những đóng góp mới của luận án

Trên cơ sở các nghiên cứu về hoạt động ĐTTT của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN, luận án có một số đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn, cụ thể như sau:

5.1.Về mặt lý luận

Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về ĐTTTRNN và xây dựng mô hình đánh giá các yếu tố tác động đến ĐTTT của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN trong bối cảnh thực thi AEC Đặc biệt, các chỉ tiêu như độ mở cửa, thuế suất đã được điều chỉnh thay đổi của điều kiện của thị trường chung AEC Một số yếu tố khác tác động tới thu hút vốn đầu tư của nước tiếp nhận như GDP,

Trang 17

GDP/người, chỉ số tài nguyên thiên nhiên/GDP, chỉ số lao động, rủi ro chính trị… được sử dụng phân tích tới mức độ hấp dẫn đầu tư Đây là đóng góp quan trọng của luận án so với các nghiên cứu trước mặc dù các yếu tố đánh giá không thay đổi nhưng bối cảnh mới thì vai trò của các yếu tố đã được đánh giá và điều chỉnh lại

5.2.Về mặt thực tiễn

Thứ nhất, luận án đã phân tích tình hình đầu tư của một số quốc gia châu Á

đầu tư sang ASEAN như Nhật Bản, Singapore, Malaysia Đây là bài học kinh nghiệm quan trọng cho cơ quan lập chính sách xây dựng hệ thống khung chính sách phù hợp hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam tiến hành đầu tư sang ASEAN trong thời gian tới

Thứ hai, luận án đã chỉ ra những kết quả, hạn chế và tìm ra nguyên nhân

thông qua phân tích thực trạng ĐTTT của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN giai đoạn 1991-2019 Trong đó, luận án tiến hành đánh giá những khác biệt về thực trạng ĐTTT của doanh nghiệp trong nước sang ASEAN trước và sau khi thực thi AEC

Thứ ba, luận án đã đề xuất các giải pháp, nhóm giải pháp mới, phù hợp với

thực tiễn của AEC nhằm thúc đẩy ĐTTT của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN đến năm 2025, định hướng đến năm 2030

6.Kết cấu của luận án

Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, luận án bao gồm năm chương:

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến chủ đề

của luận án

Chương 2: Cơ sở lý luận về đầu tư đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong khuôn khổ AEC và kinh nghiệm quốc tế

Chương 3: Phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt

Nam sang ASEAN trong khuôn khổ AEC

Chương 4: Những yếu tố tác động tới đầu tư trực tiếp sang ASEAN của các

doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN trong khuôn khổ AEC

Trang 18

Chương 5: Đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy đầu tư trực tiếp sang ASEAN

của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN đến năm 2025, định hướng đến năm

2030

Trang 19

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN

QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ CỦA LUẬN ÁN

1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Các nghiên cứu lý thuyết về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các nước đang phát triển và nền kinh tế chuyển đổi

Trong số các lý thuyết tìm cách lý giải về đầu tư quốc tế, các lý thuyết dựa trên những lý giải về tổ chức doanh nghiệp hiện có ảnh hưởng lớn nhất Những lý giải về tổ chức doanh nghiệp của FDI bắt nguồn từ luận án tiến sĩ nổi tiếng của Hymer hoàn thành năm 1960, công bố năm 1978 Trong luận án của mình, trước tiên Hymer phân biệt giữa đầu tư chứng khoán và ĐTTT, kết luận rằng các giả thuyết về trao đổi vốn thông qua thị trường chứng khoán lý giải sự di chuyển vốn quốc tế không phù hợp với sự phân bố vốn thực tế của các MNC và không thể lý giải nguyên nhân của FDI Hymer đưa ra một nền tảng mới về cách lý giải vi mô đối với FDI bằng cách chỉ ra rằng FDI không phân bố một cách ngẫu nhiên giữa các ngành công nghiệp và rằng các điều kiện cạnh tranh, đặc biệt là các điều kiện về thị trường sản phẩm, ảnh hưởng rất lớn đến dòng vốn FDI Áp dụng lý thuyết về tổ chức doanh nghiệp, Hymer chỉ ra rằng nếu các MNC nước ngoài hoàn toàn giống với các doanh nghiệp trong nước sẽ chẳng tìm thấy lợi ích gì khi thâm nhập vào thị trường nước đó, vì rõ ràng chúng phải trả những chi phí phụ trội khi kinh doanh ở những nước khác, ví dụ như phí liên lạc và vận chuyển, chi phí cao hơn cho nhân viên làm việc ở nước ngoài, rào cản về ngôn ngữ, hải quan và phải hoạt động ngoài mạng lưới kinh doanh nội địa (đây là những bất lợi của công ty khi đầu tư ra nước ngoài) Vậy nên Hymer cho rằng để các MNC tiến hành sản xuất ở nước ngoài cần

có một số lợi thế sở hữu riêng như nhãn hiệu nổi tiếng, công nghệ cao hơn và được bảo hộ, kỹ năng quản lý hoặc chi phí thấp hơn nhờ mở rộng quy mô…những lợi thế này để bù lại những bất lợi mà doanh nghiệp phải đương đầu trong cạnh tranh với các công ty khác ở nước sở tại

Việc doanh nghiệp quyết định sẽ khai thác các lợi thế này bằng cách cấp giấy phép sử dụng công nghệ cao cho đối tác (cấp license) hoặc FDI phụ thuộc vào bản

Trang 20

chất của các lợi thế và mức độ không hoàn hảo của các thị trường đối với các lợi thế

mà doanh nghiệp nắm giữ Sự không hoàn hảo càng cao thì doanh nghiệp càng có

xu hướng lựa chọn FDI và kiểm soát hoạt động hơn là tiến hành những giao dịch

thương mại thông thường Như vậy, Hymer đã đề cập đến nhân tố về lợi thế sở hữu của doanh nghiệp song chưa đề cập đến lợi thế về địa điểm cũng như tác động của

ĐTTTRNN

Tiếp đó lý thuyết về Vòng đời quốc tế sản phẩm của Vernon (1966) giải thích các yếu tố quyết định đến thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế và mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và đầu tư quốc tế Lý thuyết này được S.Hirsch (1976) phát triển tiếp trên trên cơ sở nghiên cứu các doanh nghiệp của Mỹ Theo đó, mối quan hệ đầu tư quốc tế và thương mại quốc tế, coi đầu tư quốc tế là một giai đoạn tự nhiên trong vòng đời sản phẩm Lý thuyết này cho thấy vai trò của các phát minh, sáng chế trong thương mại và đầu tư quốc tế bằng cách phân tích quá trình quốc tế hóa sản xuất theo các giai đoạn nối tiếp nhau Hai ý tưởng làm căn cứ xuất phát của

lý thuyết này là: (i) Mỗi sản phẩm có một vòng đời, xuất hiện-tăng trưởng chững lại-suy giảm tương ứng với quy trình xâm nhập-tăng trưởng-bão hòa-suy giảm; (ii) Vòng đời này dài hay ngắn tùy thuộc từng sản phẩm Ban đầu phần lớn các sản phẩm mới được sản xuất tại nước phát minh ra nó và được xuất khẩu đi các nước khác Nhưng khi các sản phẩm mới đã được chấp nhận rộng rãi trên thị trường thế giới thì sản xuất bắt đầu được tiến hành ở các nước khác Và theo lý thuyết này, kết quả rất có thể là sản phẩm sau đó sẽ được xuất khẩu trở lại nước phát minh ra

mạnh-nó Cụ thể, vòng đời quốc tế của sản phẩm gồm 3 giai đoạn: (i) Sản phẩm mới xuất hiện cần thông tin phản hồi nhanh và được bán ở trong nước phát minh ra sản phẩm, xuất khẩu không đáng kể; (ii) Sản phẩm chín muồi, nhu cầu tăng, xuất khẩu tăng mạnh, các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước xuất hiện, FDI xuất hiện; (iii) Sản phẩm và quy trình sản xuất được tiêu chuẩn hóa, thị trường ổn định, hàng hóa trở nên thông dụng, các doanh nghiệp chịu áp lực giảm chi phí càng nhiều càng tốt để tăng lợi nhuận hoặc giảm giá để tăng năng lực cạnh tranh, FDI tiếp tục phát triển

Để khắc phục hạn chế của Lý thuyết Vòng đời quốc tế của sản phẩm của Vernon, một số nhà kinh tế học khác đề xuất mở rộng các giả thuyết của Vernon bằng cách đưa thêm các chi phí khác ngoài chi phí lao động vào để lý giải hiện

Trang 21

tượng FDI của tất cả các nước phát triển Lý thuyết vòng đời sản phẩm chưa đề cập đến các yếu tố khác như lợi thế địa điểm cũng có tác động đến đầu tư ra nước ngoài

Buckley và Casson (1976) phát triển lý thuyết nội bộ hóa để lý giải sự phát triển của các MNC trên cơ sở lý thuyết về chi phí giao dịch Theo quan sát của Buckley và Casson, để các MNC thâm nhập các thị trường nước ngoài thông qua FDI hơn là thông qua các hình thức kinh doanh khác, như xuất khẩu hoặc cấp license, cần phải có một số lợi thế về nội bộ hóa, nghĩa là cần có các lợi ích kinh tế gắn việc doanh nghiệp khai thác một cơ hội thị trường thông qua các hoạt động trong nội bộ hơn là thông qua các giao dịch bên ngoài (các hoạt động thương mại thông thường) Cách tiếp cận nội bộ hóa gắn với ý tưởng về sự không hoàn hảo của thị trường do Hymer đề xuất và mở rộng hơn để đưa ra cách lý giải về sự tồn tại của các MNC vượt qua biên giới quốc gia Lý thuyết này cho rằng đương đầu với sự không hoàn hảo của thị trường các tài sản vô hình và thông tin, doanh nghiệp có xu hướng nội bộ hóa các hoạt động để giảm đến mức thấp nhất các chi phí giao dịch và tăng hiệu quả sản xuất

Tổng hợp các yếu tố chính của nhiều công trình khác chỉ ra ba điều kiện cần thiết để một doanh nghiệp tiến hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, Dunning (1977, 1988) trên cơ sở kết hợp các giả thuyết về tổ chức doanh nghiệp, nội bộ hóa và lợi thế địa điểm để lý giải về đầu tư quốc tế Theo tác giả nên đầu tư dưới hình thức FDI khi cả ba yếu tố lợi thế về địa điểm, lợi thế về quyền sở hữu và lợi thế về nội bộ hóa được thỏa mãn Ba yếu tố trên được kết hợp trong một mô hình có tên gọi OLI, trong đó O (Owership advantages) là lợi thế về quyền sở hữu, L (Location advantages) là lợi thế về địa điểm và I (Internalization advantages) là lợi thế về nội

bộ hóa

MNC sẽ so sánh giữa những điểm lợi và điểm bất lợi của các hình thức trên

và lựa chọn hình thức nào có lợi thế nhất cho mình Theo các giả thuyết về nội bộ hóa, FDI sẽ được sử dụng nhằm thay thế các giao dịch trên các thị trường bằng các giao dịch nội bộ khi các nhà đầu tư thấy các giao dịch nội bộ sẽ ít tốn kém, an toàn

và khả thi hơn các giao dịch trên thị trường bên ngoài Điều này thường xảy ra do

sự không hoàn hảo của thị trường các yếu tố đầu vào của sản xuất Sự không hoàn

Trang 22

hảo của thị trường xuất phát từ hai nhóm nguyên nhân chủ yếu, đó là những yếu kém tự nhiên và những yếu kém về cơ cấu của thị trường

Như vậy, khi thị trường bên ngoài không hoàn hảo, các doanh nghiệp sẽ có được lợi thế nội bộ hóa khi lựa chọn FDI là hình thức xâm nhập thị trường nước ngoài Lợi thế này sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí và khắc phục những rào cản, rủi ro do sự không hoàn hảo của thị trường bên ngoài gây ra (rào cản thuế quan

và phi thuế quan, biến động bất thường của thị trường hàng hóa bên ngoài…) Chính các lợi thế nội bộ hóa giúp các MNC tiến hành hoạt động kinh doanh đồng

bộ và hoàn chỉnh, sản xuất ở nhiều nước và sử dụng thương mại trong nội bộ doanh nghiệp để lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ và các yếu tố vô hình giữa các chi nhánh của chúng

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng mặc dù nội bộ hóa đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng phải trả những chi phí nhất định cho quá trình liên kết kinh doanh Một trong những chi phí quan trọng nhất đó là chi phí quản lý, nghĩa là chi phí điều hành một doanh nghiệp lớn với nhiều công ty thành viên hợp tác trong cùng ngành hoặc trong cùng ngành có tính chất bạn hàng của nhau, các doanh nghiệp này có thị

trường nội bộ rất phức tạp về hàng hóa, dịch vụ và các tài sản vô hình Thứ hai, việc

liên kết kinh doanh trên toàn cầu đòi hỏi các nguồn tài chính khổng lồ mà có thể không có sẵn đối với doanh nghiệp hoặc chỉ sẵn có với chi phí cao hơn so với các

hình thức khác Thứ ba, các phương pháp kinh doanh mới có thể kéo theo những

đòi hỏi đặc biệt hoặc các tài sản chuyên dụng mà MNC không có, khi đó doanh nghiệp có thể chọn các hình thức xâm nhập khác

Khi đã có lợi thế về quyền sở hữu và lợi thế nội bộ hóa, các doanh nghiệp sẽ còn phải cân nhắc để chọn địa điểm đầu tư trực tiếp ở nước nào có lợi nhất cho việc phát huy hai lợi thế trên Vấn đề này sẽ được giải đáp thông qua các đánh giá về lợi thế địa điểm hay còn gọi là lợi thế riêng của nước nhận đầu tư với chủ đầu tư Sau

lý thuyết OLI, Dunning đã phát triển lên lý thuyết IDP (Investment Development Path) để giải thích hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo lý thuyết này, quá

trình phát triển của các nước được chia ra thành 5 giai đoạn:

Trang 23

Giai đoạn 1: Lợi thế L của một nước ít hấp dẫn, luồng vào FDI không đáng

kể do hạn chế của thị trường trong nước: thu nhập thấp, cơ sở hạ tầng lạc hậu, giáo dục yếu kém, lao động không có kỹ năng…và hiếm khi thấy luồng ra FDI

Giai đoạn 2: Luồng vào của FDI bắt đầu tăng do lợi thế L đã hấp dẫn các nhà

đầu tư: sức mua trong nước bắt đầu tăng, cơ sở hạ tầng đã được cải thiện…FDI trong bước này chủ yếu là đầu tư vào sản xuất để thay thế nhập khẩu và những ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên hoặc sản xuất ra nguyên vật liệu, sản phẩm

sơ chế Luồng ra của FDI trong giai đoạn này không đáng kể

Giai đoạn 3: Luồng vào của FDI bắt đầu giảm và luồng ra lại bắt đầu tăng

Khả năng kỹ thuật của nước sở tại đã tiến tới sản xuất sản phẩm được tiêu chuẩn hoá Mặt khác lợi thế về lao động giảm dần, nên phải chuyển đầu tư sang những nước có lợi thế tương đương đối về lao động nhằm tìm kiếm thị trường hoặc giành những tài sản chiến lược để bảo vệ lợi thế O Trong giai đoạn này, luồng vào của FDI tập trung vào những ngành thay thế nhập khẩu có hiệu quả

Giai đoạn 4: Lợi thế O của các công ty trong nước tăng lên Những công

nghệ sử dụng nhiều lao động dần dần được thay thế bởi công nghệ sử dụng nhiều vốn Mặt khác chi phí vốn trở nên rẻ hơn chi phí lao động Kết quả là, lợi thế L của đất nước sẽ chuyển sang các tài sản FDI từ các nước đang phát triển ở bước 4 sẽ vào nước này để tìm kiếm những tài sản trên hoặc từ các nước kém phát triển hơn nhằm tìm kiếm thị trường và đặt quan hệ thương mại Trong bước này các công ty trong nước vẫn thích thực hiện FDI ra nước ngoài hơn là xuất khẩu sản phẩm, bởi vì

họ có thể khai thác lợi thế I của mình Do vậy, luồng vào và luồng ra của FDI vẫn tăng, nhưng luồng ra sẽ nhanh hơn

Giai đoạn 5: Luồng ra và luồng vào của FDI tiếp tục và khối lượng tương tự

nhau Luồng vào từ các nước có mức độ phát triển thấp hơn với mục đích tìm kiếm thị trường và kiến thức; hoặc từ các nước đang phát triển ở bước 4 và 5 để tìm kiếm sản xuất có hiệu quả Do vậy luồng ra và luồng vào là tương tự

Mô hình OLI giải thích hiện tượng FDI theo trạng thái tĩnh, trong khi lý thuyết IDP lại xem xét hiện tượng FDI trong trạng thái động với sự thay đổi các lợi thế này trong từng bước phát triển Lý thuyết này cùng với mô hình OLI là thích

Trang 24

hợp nhất để giải thích hiện tượng FDI trên toàn thế giới, tất nhiên trong đó có Việt Nam

Như vậy, lý thuyết OLI và IDP của Dunning là lý thuyết có thể giải thích tại sao doanh nghiệp lại tiến hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, đồng thời cũng chỉ

ra các nhóm nhân tố tác động đến ĐTTTRNN Những lý thuyết này được tác giả tiếp thu có chọn lọc trong nghiên cứu của mình

1.1.2.Các công trình nghiên cứu về hoạt động đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài

1.1.2.1.Các công trình nghiên cứu về đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài

Hiện có một số công trình là luận án tiến sỹ đã nghiên cứu về vấn đề này, trong đó, đáng chú ý là công trình của hai tác giả: Vũ Thị Minh Ngọc và Nguyễn Thị Nhung

Trong luận án tiến sĩ của mình về “Đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài”, Vũ Thị Minh Ngọc (2016) nghiên cứu tiếp cận trên góc độ quản lý nhà nước để phân tích hoạt

động quản lý nhà nước và đổi mới quản lý nhà nước trong lĩnh vực ĐTTTRNN, từ

đó, đưa ra các giải pháp đổi mới quản lý nhà nước đối với ĐTTTRNN trong bối

cảnh kinh tế mới Về mặt thời gian, công trình nghiên cứu hoạt động ĐTRNN của

các doanh nghiệp Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2014, đồng thời nghiên cứu hệ

thống quản lý nhà nước về lĩnh vực ĐTTTRNN từ năm 1999 đến 2016 Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính như duy vật

biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh Những đóng góp mới của công trình này thể hiện ở một vài điểm như sau: (1)

Đã tổng quan cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp

ra nước ngoài, trong đó nêu rõ các mục tiêu, phương pháp quản lý, nội dung và mô hình quản lý đối với hoạt động ĐTTTRNN; (2) Tổng kết một số bài học thành công

và chưa thành công từ kinh nghiệm đổi mới quản lý nhà nước đối với ĐTTTRNN của một số quốc gia châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan Đây

là cơ sở quan trọng để đối chiếu và so sánh để đánh giá hoạt động đổi mới quản lý

Trang 25

nhà nước tại Việt Nam; (3) Đi sâu phân tích tình hình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam từ năm 1991-2014 Quá trình đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động ĐTTTRNN tại Việt Nam Công trình đã sử dụng các số liệu điều tra thu thập được để đánh giá đổi mới quản lý nhà nước, dưới nhiều góc độ: cơ quan quản lý, các doanh nghiệp, các chuyên gia kinh tế ; (4) Đã phân tích bối cảnh kinh tế thế giới, khu vực và Việt Nam, xu hướng đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam tác động đến sự đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động ĐTTTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam Đây là cơ sở để thực hiện đồng bộ các giải pháp đổi mới quản lý nhà nước trong hoạt động ĐTTTRNN

Sau đó năm 2017, trong công trình nghiên cứu về “Vai trò của nhà nước với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập”, tác

giả Nguyễn Thị Nhung đã tập trung nghiên cứu vai trò quản lý của nhà nước đến hoạt động ĐTTTRNN của các doanh nghiệp bao gồm: (i) nhà nước tạo hành lang pháp lý cho hoạt động ĐTTTRNN; (ii) nhà nước tạo lập, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về hoạt động ĐTTTRNN; (iii) nhà nước định hướng và điều tiết các chính sách vĩ mô liên quan đến hoạt động ĐTTTRNN; (iv) nhà nước hỗ trợ hoạt động

ĐTTTRNN Về thời gian nghiên cứu, nghiên cứu thực trạng vai trò của nhà nước đến hoạt động ĐTTTRNN từ năm 1991 đến 2015 Về phương pháp nghiên cứu,

Ngoài phương pháp thống kê mô tả để nghiên cứu thực trạng vai trò nhà nước với hoạt động ĐTTTRNN của Việt Nam, tác giả sử dụng phương pháp phân tích định lượng để đánh giá ảnh hưởng, mức độ tác động của các vai trò của nhà nước với hoạt động ĐTTTRNN của các doanh nghiệp; để kiểm định các giả thuyết đã đưa ra, Thông qua phương pháp mô hình cấu trúc (SEM), phần mềm SPSS và AMOS Kết

quả đạt được của nghiên cứu thể hiện: Thứ nhất, hoạt động ĐTTTRNN của Việt

Nam ngày càng gia tăng mạnh mẽ, các doanh nghiệp Việt Nam mạnh dạn đầu tư trong những lĩnh vực có thế mạnh, gắn với xu hướng phát triển của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 Mặc dù hoạt động ĐTTTRNN chưa có được các hiệu quả rõ

nét, nhưng đã chuyển dịch theo hướng tích cực hơn Thứ hai, thông qua kết quả

điều tra và kiểm chứng bằng công cụ định lượng đã chỉ ra: (i) có sự tác động thuận chiều của nhà nước trong các vai trò tạo lập, mở rộng quan hệ quốc tế, vai trò điều tiết chính sách vĩ mô và nhà nước thực hiện các chính sách hỗ trợ đến hoạt động

Trang 26

ĐTTTRNN Trong đó, vai trò nhà nước hỗ trợ hoạt động ĐTTTRNN có ảnh hưởng mạnh nhất đến hoạt động ĐTTTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam và (ii) các doanh nghiệp đánh giá chưa cao vai trò định hướng của nhà nước, vai trò cung cấp thông tin về môi trường đầu tư cũng như vai trò hỗ trợ của cáccơ quan đại diện

ngoại giao ở nước ngoài đối với ĐTTTRNN của DNVN trong thời gian qua Thứ

ba, vai trò quản lý nhà nước với hoạt động ĐTTTRNN cần được điều chỉnh linh

hoạt theo lộ trình, hạn chế sử dụng các biện pháp hành chính để can thiệp vào công

tác quản lý nhà nước với hoạt động ĐTTTRNN Thứ tư, nhà nước cần quan tâm hỗ

trợ hơn các doanh nghiệp có dự án ĐTTTRNN tại những khu vực biên giới có ảnh hưởng đến vấn đề quốc phòng an ninh của quốc gia

Tuy nhiên, hai công trình nghiên cứu trên lại xuất phát ở góc độ phân tích của quản lý nhà nước, chưa đứng ở góc độ của các doanh nghiệp để phân tích, bởi vậy, về phạm vi nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trên không trùng lặp với phạm vi nghiên cứu trong Luận án này

Ngoài ra, có nhiều công trình được thể hiện dưới hình thức sách tham khảo, các bài báo, đề cập đến tình hình đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài nói chung Có thể điểm qua một số công trình như: Luận án Tiến sĩ kinh

tế của Nguyễn Hữu Huy Nhựt, trường Đại học Kinh tế Tp.Hồ Chí Minh, 2011,

Chiến lược đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế; Bài viết của Trương Tiến Sĩ đăng trên Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, số 37+38/2009, 20 năm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam Thực trạng và triển vọng

Đây là các công trình nghiên cứu về đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài nói chung, có đề cập hoặc đề cập rất ít về ĐTTT của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN, hầu hết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính

Trang 27

1.1.2.2.Các công trình nghiên cứu về đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN trong khuôn khổ AEC

Liên quan đến đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN

và liên quan tới AEC, đáng chú ý là bài viết của các tác giả Vũ Thị Minh Ngọc, Vũ Thị Lan, Trần Nam Trung và Trịnh Quang Hưng

Vũ Thị Minh Ngọc (2006) “Phân tích thực trạng và các giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang các nước Đông Nam Á” thấy rằng đầu tư trực

tiếp nước ngoài là một xu thế tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế hiện nay Các nước trên thế giới ngoài việc cải thiện môi trường đầu tư trong nước nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, cũng đồng thời xúc tiến đầu tư ra nước ngoài nhằm tận dụng

sự ưu đãi đầu tư ở các môi trường khác Điều này, một mặt, giúp cho các nước chủ đầu tư giữ được thị trường cung cấp nguyên liệu, thị trường tiêu thụ hàng hóa, mặt khác, gây ảnh hưởng đến nước tiếp nhận đầu tư Các quá trình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thực chất chỉ là hai mặt của một vấn đề, đó là đầu tư trực tiếp nước ngoài Việc đầu tư ra nước ngoài hay nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ đem lại những tác động tích cực đối với từng quốc gia Vấn

đề nằm ở chỗ mỗi quốc gia sẽ có chiến lược như thế nào để những hoạt động này đem lại hiệu quả cao nhất cho nền kinh tế của mình Đối với Việt Nam, theo xu hướng chung này, ngoài việc tích cực trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, thì cũng đồng thời nên khuyến khích các doanh nghiệp trong nước có đủ tiềm lực về tài chính và công nghệ đầu tư ra nước ngoài Hiện nay, tiềm lực của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu thì việc lựa chọn một môi trường đầu tư vừa sức với mình là điều cần thiết và khôn ngoan Thị trường Đông Nam Á là một thị trường tiềm năng, được các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao, đồng thời cũng là thị trường có những đặc điểm gần tương đồng và có quan hệ gần gũi với Việt Nam

Do vậy, đầu tư vào thị trường này, các doanh nghiệp sẽ hạn chế được rủi ro hơn Đây cũng là một thị trường quan trọng để làm bàn đạp giúp các doanh nghiệp Việt Nam tiến sâu sang các thị trường khác

Vũ Thị Lan (2015) nghiên cứu về “Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam vào một số nước ASEAN: Thực trạng và giải pháp” đã phân tích về các yếu tố

ảnh hưởng đến hoạt động ĐTTTRNN của Việt Nam, khái quát như sau: ĐTRNN

Trang 28

của Việt Nam chịu sự tác động chủ yếu của hai nhóm yếu tố: yếu tố đẩy và yếu tố kéo Các yếu tố đẩy bao gồm: (1) Mục tiêu hay động cơ của các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó, mục tiêu tìm kiếm thị trường, tài nguyên và tìm kiếm hiệu quả là các mục tiêu rõ nét nhất; (2) Vai trò của Chính phủ Việt Nam đối với hoạt động ĐTRNN của các doanh nghiệp, thể hiện qua các quy định pháp lý do Chính phủ ban hành để hướng dẫn, quy định về hoạt động đầu tư ra nước ngoài Các quy định đó vừa là cơ sở pháp lý vừa là động lực có tác dụng thúc đẩy các nhà đầu tư; (3) Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế vĩ mô, đó là tăng trưởng kinh tế trong nước và áp lực cạnh tranh của thị trường nội địa Tuy không có tác động trực tiếp nhưng hai yếu tố này tạo ra các tác động gián tiếp góp phần thúc đẩy ĐTRNN của Việt Nam Yếu tố kéo có tác động thu hút đầu tư của Việt Nam bao gồm: (1) Thị trường tiêu thụ rộng lớn của của quốc gia tiếp nhận đầu tư; (2) Sự gần kề về khoảng cách địa lý, nguồn nguyên liệu dồi dào và nguồn lao động giá rẻ ở quốc gia tiếp nhận vốn Ngoài ra, một yếu tố đặc biệt ảnh hưởng đến đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam là mối quan hệ hữu nghị lâu đời giữa Việt Nam và một số nước trong khu vực như Lào, Campuchia Đây vừa là yếu tố kéo và đồng thời cũng là yếu

tố thúc đẩy hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam

Trần Nam Trung (2016) nghiên cứu về “Quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang Campuchia”, chỉ nêu nên các nhân tố ảnh hưởng đến quản

lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mà không phân tích chi tiết, cụ thể Các nhân tố từ phía chính phủ nước đi đầu tư gồm: (1) Chính sách tài chính, tiền tệ, xuất nhập khẩu và quản lý ngoại hối Các chính sách này có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn, khả năng luân chuyển vốn của nhà đầu tư; (2) Các hoạt động hỗ trợ, thúc đẩy ĐTTTRNN của chính phủ cũng đóng vai trò quan trọng Việc ký kết các hiệp định song phương, đa phương có ý nghĩa to lớn là cơ sở pháp

lý quan trọng tạo ra sân chơi bình đẳng, minh bạch cho các nhà đầu tư, cũng như đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư trong quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh ở nước nhận đầu tư Các nhân tố từ phía quốc gia nhận đầu tư gồm: (1) Sự ổn định chính trị, kinh tế, xã hội; (2) Các yếu tố về tài nguyên, điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý; (3) Các yếu tố về môi trường pháp lý, cơ chế chính sách, thủ tục hành chình; (4) Các yếu tố về cơ sở hạ tầng, điện, đường, trường ; (5) Vị thế các quốc gia nhận

Trang 29

đầu tư; (6) Mối quan hệ chính trị, văn hóa, kinh tế giữa các quốc gia nhận đầu tư với các quốc gia tiến hành ĐTTTRNN Các nhân tố từ phía doanh nghiệp tiến hành hoạt động đầu tư gồm: (1) Năng lực tài chính; (2) Trình độ khoa học công nghệ; (3) Năng lựu cạnh tranh của doanh nghiệp; (4) Nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán

bộ có trình độ quản lý sản xuất kinh doanh

Trên cơ sở tham khảo từ các nghiên cứu trước, tác giả Trịnh Quang Hưng

(2017) nghiên cứu về Đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam sang các nước ASEAN trong khuôn khổ AEC: Những vấn đề đặt ra và khuyến nghị, làm rõ hơn một

số vấn đề về: Nội dung hợp tác đầu tư trong ASEAN:với AEC, đặc biệt Hiệp định ACIA, Việt Nam cùng với các quốc gia trong và ngoài ASEAN khác có một khuôn khổ pháp lý toàn diện và đáng tin cậy hơn nhằm thuận lợi hóa và định hướng hoạt động đầu tư cũng như bảo đảm lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) khi đầu tư tại thị trường ASEAN; Chính sách đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam: dù còn nhiều ý kiến về việc liệu có nên hay không khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài trong bối cảnh nền kinh

tế đang cần rất nhiều vốn đầu tư, nhưng nhìn chung Chính phủ khuyến khích hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt tại các nước láng giềng trong khu vực Đông Nam Á như Lào, Campuchia và Myanmar; tác giả nghiên cứu những khó khăn, thách thức doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt khi đầu tư sang các nước ASEAN trong khuôn khổ AEC như hạn chế về năng lực cạnh tranh và khả năng mở rộng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam, các doanh nghiệp Việt Nam dường như chưa dành sự chú ý, quan tâm đúng mức đến AEC, chính sách đầu tư ra nước ngoài và các hình thức hỗ trợ, khuyến khích cho doanh nghiệp của Việt Nam còn nhiều hạn chế, bất cập…; một số vấn đề đặt ra và khuyến nghị đối với hoạt động đầu tư sang các nước ASEAN trong khuôn khổ AEC những năm tiếp theo

Như đã phân tích ở trên, mặc dù đã có một vài tác giả nghiên cứu về ĐTTT của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài nói chung và sang ASEAN nói riêng nhưng chưa có tác giả nào đề cập đến ĐTTT của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN trong bối cảnh mới khi thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để phân tích, dự báo Các số liệu mới chỉ

Trang 30

dừng lại ở vốn đăng ký, chưa đưa ra được số vốn thực hiện, hiệu quả đầu tư, lợi nhuận khi thực hiện dự án đầu tư Chưa phân tích được những cam kết về đầu tư trong khuôn khổ AEC tác động đến đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN

1.1.2.3 Các công trình nghiên cứu về yếu tố tác động đến đầu tư ra nước ngoài

* Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

Các nghiên cứu về động cơ đầu tư trực tiếp ra nước ngoài: Theo lý thuyết

chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài, hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp có thể khái quát trong mô hình chiết trung của Dunning Ba động lực chính trong hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh là để tìm kiếm thị trường ở nước ngoài; tìm kiếm sự hiệu quả (ví dụ như để giảm thiểu chi phí); tìm kiếm nguồn lực sản xuất như một chiến lược tài sản (Dunning 1977, 1993); xác định tài nguyên, lao động và định hướng thị trường như ba động cơ chính đằng sau quá trình đầu tư quốc

tế của một công ty (Kojima 1975, 1985) Nói chung, “hầu hết các lý thuyết đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đều cho rằng, các lựa chọn đầu tư ra nước ngoài của một công ty đều là do nỗ lực muốn khai thác lợi thế riêng của công ty đó trên các thị trường nước ngoài” (Han-Sheng Lei, Yung-Shuan Chen, 2011)

Các nghiên cứu thực nghiệm về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở một số quốc gia cho thấy, cả các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển, đã góp phần củng cố cho những kết luận của dòng lý thuyết đầu tư trực tiếp ra nước ngoài truyền thống, đồng thời có những phát hiện mới về các yếu tố ảnh hưởng, thúc đẩy cũng như những lợi thế của doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Lecraw (1977) và Wells (1983) chỉ ra rằng, các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển thường có sức mạnh ở các ngành cạnh tranh về giá thay vì công nghệ tiến tiến hoặc sự khác biệt về sản phẩm

Nghiên cứu của Hiratsuka (2006) “Outward FDI from and intraregional FDI

in ASEAN: Trends and drivers”, chỉ ra các nước khu vực ASEAN thường đầu tư

vào các nước láng giềng trong khu vực ASEAN và Đông Á trước, sau đó mới đến các thị trường rộng lớn hơn Yếu tố quyết định để thúc đẩy họ đầu tư ra nước ngoài

đó là chi phí lao động và đất đai ở những nước mà họ đầu tư rẻ hơn Thái Lan,

Trang 31

Malaysia và Singapore là ba nước thành công nhất trong việc đầu tư ra nước ngoài

do đã đa dạng hóa lĩnh vực đầu tư với số vốn tăng nhanh Chính phủ Malaysia luôn khuyến khích các doanh nghiệp kể cả doanh nghiệp vừa và nhỏ mở rộng ra bên ngoài thông qua sự hỗ trợ của các cơ quan chuyên trách, thường xuyên mở cửa đối với cả dòng vốn vào lẫn dòng vốn ra và xem đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một trong những chiến lược tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước Còn đối với Singapore, chính phủ thực hiện ưu đãi thuế và ưu đãi tài chính cho các công ty Tất cả các công ty đầu tư ra nước ngoài mà có được lợi nhuận và các doanh nghiệp đầu tư vào các nước chưa có hiệp định bảo hộ đầu tư với Singapore đều được miễn thuế

Bên cạnh đó, UNCTAD (2007) “Global players from emerging markets: strengthen enterprise competitiveness through outward investment”, trong đó có

khá nhiều bài viết của nhiều tác giả về xu hướng ĐTTTRNN của các quốc gia đang phát triển như Trung Quốc, Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc Trong bài viết, các tác giả cũng đã nhấn mạnh việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có nhiều tác động tích cực hơn tiêu cực, trong đó, các doanh nghiệp có thể nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng cao hình ảnh của mình ở bình diện quốc tế Chính vì vậy, các quốc gia thường

sử dụng nhiều biện pháp hỗ trợ từ chính sách để hiện thực hóa “giấc mơ đi ra toàn cầu” của các doanh nghiệp trong nước

Ngoài ra, nghiên cứu của Anwar và Mughal (2014) “Why do Russian firms invest abroad? A firm level analysis” về ĐTTTRNN của Nga giai đoạn 1999-2003,

sử dụng lý thuyết OLI để xem xét các nhân tố: GDP bình quân đầu người, xuất khẩu, thể chế tác động thế nào tới đầu tư ra nước ngoài của Nga Số liệu được sử dụng là dữ liệu thứ cấp từ WB, OECD Kết quả của nghiên cứu cho thấy GDP bình quân đầu người, xuất khẩu có quan hệ thuận với ĐTTTRNN của Nga, còn nhân tố thể chế của nước nhận đầu tư không có tác dụng đối với dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của Nga Tác giả còn chỉ ra rằng, ĐTTTRNN của Nga có mục tiêu tìm kiếm thị trường, tài nguyên và công nghệ ở nước ngoài, còn mục tiêu tìm kiếm hiệu quả không phải là nhân tố quan trọng đối với hoạt động ĐTTTRNN của Nga Nghiên cứu đã sử dụng lý thuyết OLI, phân tích định lượng để từ đó tìm ra các nhân

tố tác động đến hoạt động ĐTTTRNN của Nga

Trang 32

* Các công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam

Trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Hải Đăng, 2012, Đầu tư của cá các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tác

giả tập trung nghiên cứu đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt

Nam dưới góc độ kinh tế chính trị, hoạt động ĐTTTRNN của các doanh nghiệp

Việt Nam trong mối quan hệ tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau giữa hoạt động ĐTTTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Giữa lợi ích kinh tế thuần túy của doanh nghiệp với lợi ích chung liên quan đến chính trị, quan hệ đối ngoại, an ninh, quốc phòng Từ đó đưa ra những quan điểm, định hướng, những giải pháp khả thi, không chỉ mang lại lợi ích thuần túy cho

các doanh nghiệp mà còn phải đảm bảo lợi ích chung của đất nước Về thời gian nghiên cứu, công trình nghiên cứu đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2011 Về phương pháp nghiên cứu, trên

quan điểm của kinh tế chính trị, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính chủ yếu là duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và nghiên cứu kinh nghiệm của các nước Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp thống kê, mô tả và phương pháp

dự báo kinh tế Dưới góc độ kinh tế chính trị, công trình có một số đóng góp mới đáng kể là: (1) Hệ thống hóa được những vấn đề lý luận về hoạt động ĐTTTRNN của các doanh nghiệp và lựa chọn một mô hình lý thuyết cụ thể để luận giải những vấn đề liên quan đến ĐTTTRNN; (2) Phân tích đánh giá ảnh hưởng của hoạt động ĐTTTRNN đối với lợi ích và sự phát triển của các doanh nghiệp, cũng như tác động của đầu tư ra nước ngoài đối với lợi ích chung của quốc gia, sự phát triển kinh tế trong nước và những vấn đề chính trị, quốc phòng, an ninh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam; (3) Phân tích được các nhân tố tác động đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp, đặc biệt là các nhân tố có liên quan đến khung khổ chính sách, pháp luật, sự quản lý, điều tiết của nhà nước Việt Nam; (4) Đưa ra một số quan điểm định hướng và các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ĐTTTRNN, đảm bảo lợi ích của quốc gia và lợi ích của các doanh nghiệp Việt Nam Phân tích về các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động ĐTTTRNN

của các doanh nghiệp, tác giả cũng đã phân tích rõ nhân tố đẩy là môi trường kinh

doanh của nước chủ đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (bao gồm: chính sách kinh tế vĩ

Trang 33

mô, các hoạt động thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài, tiềm lực kinh tế, khoa học-công

nghệ); nhân tố kéo là môi trường kinh doanh của nước nhận đầu tư (bao gồm tình

hình chính trị, chính sách, pháp luật, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển của nền kinh tế, đặc điểm phát triển văn hóa, xã hội); Các nhân tố thuộc về môi trường quốc tế (bao gồm: xu hướng đối thoại chính trị giữa các nước, sự phát triển của các liên kết khu vực và quốc tế, tăng trưởng của các TNCs, tốc độ toàn cầu hóa)

Ở góc độ nghiên cứu khác, công trình nghiên cứu “Các nhân tố thúc đẩy đầu

tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc”, Nguyễn Thị Ngọc Mai, 2016, Hàn Quốc

là quốc gia đang phát triển với số vốn ĐTTRNN lớn thứ 13 trên thế giới vào năm

2014 và ngày càng tăng, đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của đất nước Bằng phương pháp nghiên cứu định tính tác giả đã phân tích các nhân tố chính thúc đẩy ĐTTRNN của Hàn Quốc từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Kết

quả cho thấy, các nhân tố thúc đẩy ĐTTRNN của Hàn Quốc gồm: Thứ nhất, là quy

mô thị trường và rào cản thương mại Lấy ví dụ như Samsung trong giai đoạn đầu tiên của ĐTTTRNN của Hàn Quốc đã truy cập vào thị trường các đang phát triển như Việt Nam nhằm sản xuất ti vi, màn hình ti vi và các thiết bị gia dụng khác rồi bán cho thị trường Việt Nam Bên cạnh đó các công ty đa quốc gia của Hàn Quốc thành lập các chi nhánh ở nước ngoài nhằm tránh được rào cản thương mại ở nước

nhận đầu tư Thứ hai, là chi phí sản xuất Các doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư vào

châu Á với mục đích tìm kiếm lao động có chi phí thấp để giảm bớt chi phí sản xuất Trung Quốc là địa điểm đầu tư đầu tiên của Hàn Quốc bởi chi phí lao động ở

Trung Quốc thấp hơn nhiều so với chi phí lao động ở Hàn Quốc Thứ ba, là yếu tố

công nghệ Thường công nghệ là lợi thế đặc thù quan trọng mà các công ty đa quốc gia ở các nước phát triển mới có được lợi thế này Trong khi ở các nước đang phát triển, sự thiếu hụt về công nghệ rất cao, bởi vậy các doanh nghiệp ĐTRNN được coi như là một phương thức để vượt qua điểm bất lợi này hay nói cách khác ĐTRNN

như là một cách để doanh nghiệp có được lợi thế cần thiết ở nước ngoài Thứ tư,

chính sách của Chính phủ là nhân tố quan trọng thúc đẩy ĐTRNN của Hàn Quốc Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện các chính sách với sự thay đổi qua từng giai đoạn

Trang 34

Công trình nghiên cứu về Trung Quốc, “Các nhân tố thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc”, Nguyễn Thị Ngọc Mai, 2016, Trung Quốc là

quốc gia ĐTTTRNN lớn thứ ba thế giới năm 2014 Bài viết cũng đã phân tích,

nghiên cứu các nhân tố chính thúc đẩy ĐTTTRNN của Trung Quốc Thứ nhất, đó là

sự thiếu hụt nguồn năng lượng và tài nguyên thiên nhiên khiến Trung Quốc ĐTTTRNN nhằm bù đắp sự thiếu hụt này Từ năm 1993, Trung Quốc đã mở rộng đầu tư vào xăng dầu và khí ga ở châu Phi và châu Á khi có sự thâm hụt thương mại

trong nước đối với loại hàng hóa này Thứ hai, đó là sự thiếu hụt về khoa học và

công nghệ đã thúc đẩy Trung Quốc ĐTTTRNN để tìm kiếm công nghệ Một doanh nghiệp rất thành công trong việc ĐTTTRNN với mục tiêu tìm kiếm công nghệ đó là

Haier Thứ ba, tác động nhiều nhất đến dòng ĐTTTRNN của Trung Quốc đó là

chính sách của Chính phủ Trung Quốc Theo đó, Chính phủ Trung Quốc từ hạn chế đến tạo thuận lợi rồi đến khuyến khích ĐTTTRNN theo nhiều giai đoạn khác nhau phụ thuộc vào tình hình thực tế Phương pháp nghiên cứu được dùng là phương pháp nghiên cứu định tính

Nguyễn Thị Ngọc Mai (2016), trong luận án tiến sĩ “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam: Nhân tố tác động và hàm ý chính sách” đề cập đến những

nhân tố nào tác động tới ĐTTTRNN của Việt Nam Tác giả đã sử dụng kết hợp giữa các phương pháp nghiên cứu định tính (phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp phân tích tổng hợp và so sánh) với phương pháp nghiên cứu định lượng (ước lượng mô hình panel) và phương pháp nghiên cứu điển hình để trả lời các câu hỏi nghiên cứu, trong đó tập trung phân tích các nhân tố tác động đến dòng vốn ĐTRNN của Việt Nam Các phương pháp nghiên cứu có độ tin cậy cao, đảm bảo tính hiện đại Những mặt đạt được của công trình nghiên cứu: (1) Về lý thuyết, tác giả đã phân tích, chỉ ra những nhân tố tác động đến ĐTTTRNN của một quốc gia, trong đó đã nhấn mạnh đến các lý thuyết OLI, IDP là những lý thuyết nền tảng để phân tích đánh giá tác động của các nhân tố đối với hoạt động ĐTRNN của một quốc gia; (2) Tác giả đã phân tích, làm rõ thực trạng ĐTTTRNN của Việt Nam, phân tích các nhân tố tác động đến ĐTTTRNN của Việt Nam theo ba cách: phân tích định tính, phân tích trường hợp điển hình, phân tích định lượng bằng mô hình hồi quy dữ liệu mảng, từ đó có những nhận xét đánh giá về tác động tích cực và tác

Trang 35

động cản trở của các nhân tố này tới ĐTRNN của Việt Nam Từ đó đưa ra một số gợi ý chính sách đối với hoạt động ĐTTTNN của Việt Nam nhằm khắc phục những nhân tố cản trở, phát huy những nhân tố tích cực thúc đẩy dòng vốn ĐTTTRNN của Việt Nam Ngoài những mặt đạt được, công trình nghiên cứu còn số một số mặt hạn chế: (1) Tác giả đã thu hẹp phạm vi nghiên cứu các nhân tố ở nước đi đầu tư mà không đề cập đến các nhân tố phía nước tiếp nhận đầu tư là không hợp lý khi các nhân tố sau này lại rât quan trọng như yếu tố thị trường, chi phí lao động, nguồn lợi khoáng sản, thể chế chính sách, các yếu tố hài hòa lợi ích của bên đầu tư và tiếp nhận đầu tư…; (2) Không nghiên cứu sâu về các nhân tố tác động tới hiệu quả, hướng đầu tư hay lĩnh vực đầu tư, xu hướng ngành nghề…(3) Các giải pháp chưa gắn chặt với những phân tích về những nhân tố tác động tới dòng vốn ĐTTTRNN của Việt Nam

Liên quan đến khu vực ASEAN, công trình nghiên cứu của Trần Thị Ngọc

Quyên, 2016, “Hài hòa khung chính sách đầu tư theo hướng phát triển bền vững (IPFSD) trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và gợi ý cho Việt Nam”, tác giả

lại phân tích tới những nhân tố ảnh hưởng đến chính sách đầu tư hướng đến phát

triển bền vững tại ASEAN thời gian qua, theo đó, các nhân tố đó là: Nhân tố thứ nhất, Những thay đổi nền tảng trong bối cảnh chung của hoạt động đầu tư Hiện

nay, các quốc gia đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi là những địa điểm đầu tiên được lựa chọn khi các chủ đầu tư tiến hành FDI và tầm quan trọng của

nhóm nước tiếp nhận này ngày càng gia tăng; Nhân tố thứ hai, Chính phủ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế và định hướng chính sách đầu tư; Nhân

tố thứ ba, Gia tăng nhu cầu phối hợp chính sách đầu tư toàn cầu Trong lĩnh vực đầu

tư, có nhiều hướng tăng cường phối hợp giữa các quốc gia ở phạm vi quốc tế sẽ giúp họ tránh khỏi xu hướng bảo hộ và phân biệt đối xử với các nhà đầu tư nước

ngoài; Nhân tố thứ tư, Xuất hiện thế hệ mới “chính sách đầu tư”; Nhân tố thứ năm,

Hội nhập sâu rộng giữa các nền kinh tế tại ASEAN Trong hơn 20 năm qua, ASEAN đã có nhiều Hiệp định liên quan đến phát triển dịch vụ và các nội dung đều

hướng tới thuận lợi hóa đầu tư; Nhân tố thứ sáu, Biến đổi khí hậu đã ngày càng ảnh

hưởng đến sự phát triển của các quốc gia tại ASEAN

Trang 36

Liên quan đến thu hút ĐTTT tại khu vực ASEAN và AEC, đáng chú ý là

công trình của Nguyễn Xuân Thiên, 2013, “Những nhân tố tác động tới việc thu hút FDI ở các nước ASEAN hiện nay”, tác giả nêu lên trong bối cảnh mới toàn cầu hóa

và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu sắc, Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập, điều đó sẽ tác động đến sức thu hút FDI vào các nước ASEAN Bài viết chỉ rõ môi trường đầu tư nói chung và đặc biệt là môi trường FDI nói riêng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các nhà đầu tư nước ngoài Một môi trường đầu tư hấp dẫn, tính cạnh tranh cao sẽ có sức thu hút các đối tác tăng cường đầu tư vào các thị trường mục tiêu đã được xác định Bên cạnh những nhân tố cấu thành điểm mạnh của môi trường FDI ở ASEAN với tư cách là Hiệp hội, từng nước ASEAN cũng có những điểm mạnh, nổi bật có sức thu hút FDI, nhưng cũng có những nhân tố yếu kém làm cản trở hoặc hạn chế đến thu hút FDI Nước nào có môi trường FDI hấp dẫn, có sức thu hút thì quy mô và ảnh hưởng của FDI sẽ lớn hơn Thấy rõ tác động của các nhân tố tạo thành môi trường FDI ở các nước ASEAN là hết sức cần thiết trong khuôn khổ AEC Để tăng cường thu hút FDI có chất lượng nhằm phát triển kinh tế bền vững, các nước ASEAN cần phát huy các yếu tố tích cực và giảm thiểu các yếu tố hạn chế nhất là các yếu tố chủ quan làm ảnh hưởng đến môi trường FDI của từng nước nói riêng và cộng đồng nói chung Kinh nghiệm của các nước trong việc đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Như vậy, cho đến nay, đã có một vài công trình nghiên cứu về cácyếu tố tác động đến ĐTTTRNN trên thế giới, song chưa có nghiên cứu nào đề cập về các yếu

tố tác động đến ĐTTT của các doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN

Trên cơ sở tổng quan các công trình khoa học, trên bình diện quốc gia và quốc tế, có thể thấy rằng số lượng các công trình nghiên cứu về ĐTTTRNN là khá phong phú, đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau cả về học thuật lẫn giá trị trong thực tiễn Bên cạnh đó, đã có một số công trình nghiên cứu về thực trạng hoạt động ĐTTTRNN và các yếu tố tác động đến hoạt động này, song do đặc thù từng nghiên cứu, đặc thù quốc gia mà các nghiên cứu đó chỉ nghiên cứu, đề cập tới một số yếu

tố có tác đống đến hoạt động ĐTTTRNN ở nước đi đầu tư Hơn nữa, hầu hết các nghiên cứu đó là nghiên cứu định tính Như vậy, hiện chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu đầy đủ, sâu rộng về ĐTTT của các doanh nghiệp Việt Nam sang

Trang 37

ASEAN và các yếu tố tác động tới hoạt động này, đặc biệt trong bối cảnh mới khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN được thành lập ngày 31/12/2015 Đó chính là những gợi mở để nghiên cứu sinh hình thành ý tưởng nghiên cứu mới

1.2.Sự kế thừa các công trình nghiên cứu trước và khoảng trống nghiên cứu của luận án

1.2.1.Sự kế thừa các công trình nghiên cứu trước

Từ các công trình nghiên cứu của các tác giả trước, luận án kế thừa một số kết quả sau:

Thứ nhất, lý thuyết OLI và IDP là lý thuyết gần nhất giải thích được các yếu

tố tác động đến hoạt động ĐTTTRNN, do đó, luận án sử dụng lý thuyết này làm cơ

sở cho phân tích các nhân tố tác động đến ĐTTT của Việt Nam sang ASEAN Ngoài ra, dựa vào mô hình này, tác giả tiếp cận ở góc độ của cả yếu tố kéo và yếu tố đẩy, nghĩa là đứng dưới góc độ của nước chủ đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư

Thứ hai, có nhiều yếu tố tác động đến ĐTTTRNN ở nước đi đầu tư, song sự

phân chia các nhân tố thành bốn nhóm của UNCTAD (2006, 2010) gồm: nhóm yếu

tố điều kiện thị trường và thương mại, nhóm yếu tố chính sách chính phủ, nhóm yếu

tố chi phí sản xuất, nhóm yếu tố điều kiện kinh doanh là tổng quát nhất Do vậy, luận án sẽ kế thừa các nhân tố này để phân tích các nhân tố tác động đến ĐTTT của Việt Nam sang ASEAN

Thứ ba, để có kết quả về các yếu tố tác động ĐTTT của Việt Nam sang

ASEAN, luận án sẽ kế thừa phương pháp mà các công trình nghiên cứu trước đã sử dụng gồm mô hình hồi quy dữ liệu bảng và trường hợp điển hình

Thứ tư, luận án kế thừa các nghiên cứu về bài học kinh nghiệm của Nhật

Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc khi đầu tư sang ASEAN để từ đó làm bài học cho Việt Nam

Thứ năm, các công trình nghiên cứu về thực trạng, chính sách và vai trò của

nhà nước với hoạt động ĐTTTRNN là những tài liệu rất hữu ích cho vấn đề nghiên cứu Do vậy, luận án sẽ kế thừa những nội dung này để đưa ra các giải pháp, nhóm

Trang 38

giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động ĐTTT của Việt Nam sang ASEAN đến năm

2025, định hướng đến năm 2030

1.2.2.Khoảng trống nghiên cứu của luận án

Từ tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây cho thấy còn một số các hạn chế, khoảng trống, đó là:

Thứ nhất, một vài công trình nghiên cứu của Việt Nam về ĐTTTRNN nhưng

chỉ là nghiên cứu định tính, thiếu những phân tích định lượng để hỗ trợ cho các kết luận một cách thuyết phục

Thứ hai, các công trình nghiên cứu thực nghiệm ở nước ngoài, đã đề cập các

yếu tố tác động đến ĐTTTRNN của một số quốc gia như Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc Tuy nhiên, hiện chưa có nghiên cứu nào tiến hành đánh giá ĐTRNN của Việt Nam sang ASEAN trong bối cảnh mới là AEC được thành lập cuối năm 2015 Môi trường đầu tư và thương mại giữa các nước trong khu vực đã có những thay đổi quan trọng cần có đánh giá và phân tích chuyên sâu để xác định hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN sẽ chịu ảnh hưởng của những nhân tố nào Đây chính là lí do tác giả luận án sử dụng một số bài học kinh nghiệm của các quốc gia này để áp dụng cho trường hợp Việt Nam

Thứ ba, các công trình nghiên cứu trước chưa lượng hoá các yếu tố ảnh

hưởng tới đầu tư sang ASEAN của các doanh nghiệp Việt Nam

Thứ tư, việc chỉ ra nguyên nhân thành công và chưa thành công của hoạt

động ĐTTT sang ASEAN thời gian qua của các doanh nghiệp Việt Nam cần gắn với môi trường mới AEC– mức độ hội nhập sâu rộng của Việt Nam vào nền kinh tế khu vực

Thứ năm, việc phân tích hoạt động ĐTTTRNN chưa được phân tích trên

quan điểm lợi thế động của cả hai phía, nhà đầu tư và nước nhận đầu tư theo cách tiếp cận hiện đại, lợi thế trong không gian toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, tốc độ di chuyển cao và độ rủi ro lớn Phương pháp tiếp cận này cho phép xây dựng những khuyến nghị về chính sách thúc đẩy ĐTTT sang ASEAN đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 phù hợp và có tính khả thi

Trang 39

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI TRONG KHUÔN KHỔ AEC VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 2.1.Tổng quan về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

2.1.1.Một số khái niệm về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

2.1.1.1.Khái niệm

Theo Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (1993), “đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”

Tổ chức thương mại thế giới WTO (1996) cho rằng “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài xuất hiện khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở nước khác (nước tiếp nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là yếu tố để phân biệt đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với các công cụ tài chính khác”

UNTAD (1998) định nghĩa “đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được định nghĩa

là một khoản đầu tư trong thời gian dài, phản ánh lợi ích lâu dài và sự kiểm soát của một công ty ở trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hay công ty mẹ) đối với công ty con ở nền kinh tế khác”

Theo quan điểm của John Dunning (2008): “đầu tư trực tiếp ra nước ngoài phải có dự di chuyển tài sản hay sản phẩm trung gian, bao gồm vốn tài chính, chuyên gia quản lý, công nghệ…và không bao gồm bất kỳ sự thay đổi nào về sở hữu hay quyền kiểm soát các quyết định về việc sử dụng các nguồn lực nằm trong tay nhà đầu tư.”

Ở Việt Nam, Luật đầu tư 2020 đã đưa ra các khái niệm: Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ Việt

Nam ra nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư

Khái niệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được quy định trong Nghị định số

83/2015/NĐ-CP, theo đó, Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn;

hoặc thanh toán mua một phần hoặc toàn bộ cơ sở kinh doanh; hoặc xác lập quyền

Trang 40

sở hữu để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh ngoài lãnh thổ Việt Nam; đồng thời trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó

Từ những khái niệm trên, có thể hiểu một cách khái quát đầu tư trực tiếp ra

nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam như sau: “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn; hoặc thanh toán mua một phần hoặc toàn bộ

cơ sở kinh doanh; hoặc xác lập quyền sở hữu để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh ngoài lãnh thổ Việt Nam; đồng thời trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu

tư đó nhằm thu được lợi nhuận”

2.1.1.2.Đặc điểm

Thứ nhất, FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm

lợi nhuận Khi thừa vốn tương đối ở trong nước và khi thị trường trong nước đã bão hòa, các doanh nghiệp thường lựa chọn đầu tư ra nước ngoài nhằm hưởng tỷ suất lợi nhuận cao hơn Đây cũng là một trong những điểm và V.I.Lê Nin đã từng khẳng định: Xuất khẩu tư bản quốc tế xảy ra là do tư bản trong nước bị thừa tương đối do lợi nhuận (hay hiệu quả đầu tư) trong nước giảm sút nên cần xuất khẩu tư bản ra nước ngoài để tìm kiếm lợi nhuận cao hơn Theo quy định pháp luật của nhiều nước, FDI là đầu tư tư nhân Tuy nhiên, luật pháp của một số nước, trong đó có Việt Nam, quy định FDI có thể có sự tham gia góp vốn của Nhà nước Dù chủ thể là tư nhân hay Nhà nước, cũng cần khẳng định FDI có mục đích ưu tiên hàng đầu là lợi nhuận Các nước nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển cần phải đặc biệt lưu

ý điều này khi tiến hành thu hút FDI Các nước tiếp nhận vốn FDI cần phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp

lý để hướng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của nước mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư

Thứ hai, các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu

trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư Luật các nước thường quy định không giống nhau về vấn đề này Tỷ lệ góp vốn của các chủ

Ngày đăng: 03/02/2021, 15:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Luật số 03 /2016/QH14, Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6, Phụ lục 4 về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 03 /2016/QH14
13. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2016, Thông tư số số: 12/2016/TT-NHNN ngày 29/06/2016 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2016
14. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2018, Thông tư số số: 31/2018/TT-NHNN ngày 18/12/2018 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2018
15. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2018, Thông tư 36/2018/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay để đầu tư ra nước ngoài của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2018
16. Bộ Tài chính, 2011, Thông tư số 104/2011/TT-BTC ngày 12/07/2011 về sửa đổi, bổ sung Thông tư số 11/2010/TT-BTC ngày 19/01/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà đầu tư Việt Nam đầu tư ra nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính, 2011
17. Bộ Tài chính, 2013, Thông tư số: 205/2013/TT-BTC ngày 24/12/2013 về việc hướng dẫn thực hiện các hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản giữa Việt Nam với các nước và vùng lãnh thổ có hiệu lực thi hành tại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính, 2013
19. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2018, Hướng dẫn số 7176/BKHĐT-ĐTNN ngày 10/10/2018 về việc hướng dẫn xây dựng chương trình xúc tiến đầu tư năm 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2018
20. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2018, Hướng dẫn số 03/2018/TT-BKHĐT ngày 17/10/2018 hướng dẫn và ban hành mẫu văn bản thực hiện thủ tục đầu tư ra nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2018
31. Trường Đại học Kinh tế quốc dân, 2015, Giáo trình Lý thuyết mô hình toán kinh tế, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý thuyết mô hình toán kinh tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân
32. Đào Kim Anh, Trịnh Quang Hưng, 2017, Hiện tượng Treaty shopping trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế: Phân tích vụ việc Philip Morris kiện Chính phủ Úc và liên hệ với Việt Nam, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 92 (3/2017), trang 57-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tượng Treaty shopping trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế: Phân tích vụ việc Philip Morris kiện Chính phủ Úc và liên hệ với Việt Nam
34. Nguyễn Hải Đăng, 2012, Đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án Tiến sĩ kinh tế, trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
35. Nguyễn Thị Việt Hoa, 2015, Điều chỉnh hành lang pháp lý đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài hướng tới xây dựng Cộng đồng ASEAN, Kỷ yếu hội thảo:ASEAN-Việt Nam-Hoa Kỳ: 20 năm hợp tác và phát triển, trang 153-162 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh hành lang pháp lý đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài hướng tới xây dựng Cộng đồng ASEAN
46. Bích Diệp, Báo điện tử Dân trí, https://dantri.com.vn/kinh-doanh/viet-nam-se-tiep-tuc-quan-chat-dong-von-ra-nuoc-ngoai-20160813091808788.htmtruycậpngày22/05/2020 Link
48. Hiền Hòa, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, http://www.dangcongsan.vn/kinh-te/kinh-te-tu-nhan-tung-buoc-khang-dinh-vai-tro-quan-trong-cua-nen-kinh-te-520953.html truy cập ngày 05/05/2019 Link
49. Nguyễn Mạnh Hùng, 2017, http://ictnews.vn/kinh-doanh/doanh-nghiep/ceo-viettel-mot-dieu-se-khong-thay-doi-la-khat-vong-viettel-luon-chay-khong-ngung-146978.ict truy cập ngày 23/05/2020 Link
51. Nguyễn Quang Việt, 2017, Tổng cục giáo dục nghề nghiệp-Bộ Lao động thương binh và xã hội,http://gdnn.gov.vn/AIAdmin/News/View/tabid/66/newsid/26542/seo/Thoa-thuan-cong-nhan-lan-nhau-ve-nghe-nghiep-trong-ASEAN--Co-che-va-tien-trinh-thuc-hien/Default.aspx truy cập ngày 04/08/2017 Link
60. VCCI, 2016, Doanh nghiệp và tự do hóa thương mại, Trung tâm WTO và hội nhập-Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, http://www.trungtamwto.vn/download/16529/Tom%20luoc%20AEC.pdf truy cập ngày 15/4/2017 Link
62. IPCS, 2018, Xu hướng đầu tư ra nước ngoài của một số nước châu Á tại Việt Nam, truy cập tại địa chỉ http://www.ipcs.vn/vn/xu-huong-dau-tu-ra-nuoc-ngoai-cua-mot-so-nuoc-chau-a-tai-viet-nam-W1809.htm, ngày truy cập 26/1/2021 Link
64. Báo cáo đầu tư thế giới-World Investment Report 1998, 2006, 2010, 2019, 2020: https://worldinvestmentreport.unctad.org Link
65. Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư: http://fia.mpi.gov.vn 66. Bộ Kế hoạch và Đầu tư: http://www.mpi.gov.vn Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w