Câu đối này khiển ta liên tưởng tới cặp câu đối gốc Hán vốn được coi là chuẩn mực, thường được treo trong nhà thờ họ của người Việt/Kinh, khá phổ biến ở miền Bắc:.. Tổ tôn[r]
Trang 1Miếu THIỈN Hậu ở ph ư ớ c KlấN
và sư HỖN DUNG VfiN HOÁ
Phan Thị Hoa Ly
1 Lịch sử ngôi miếu và diện mạo của nó
Nhà Bè là một trong năm huyện trực thuộc Tp Hồ Chí Minh, có diện tích 100,4km2 với số dân là 99.172 người (theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009) và mật độ dân cư là 988 người/km2 [1] Nhà Bè có cả người Kinh, Hoa, Chăm, Khơmer, Tày, Nùng sinh sống Người Kinh chiếm vị trí chủ yếu, người Hoa hiện có khoảng 480 người, người Chăm và Khơmer có khoảng 100 người, họ chủ yếu làm nghề xây dựng, còn người Tày và Nùng rất ít, khoảng 10 người, họ chủ yếu tới đây với lý do theo chồng Người Hoa tới đây từ trước 1945, song không phải di cư theo đoàn mà thường lẻ tẻ, tự phát Họ thường từ Tp Hồ Chí Minh tới và kết hôn với người Việt ờ đây, con cái trở thành người Hoa lai [số liệu của UBND huyện Nhà Bè]
Ở ấp 2 của xã có một ngôi miếu rất đơn sơ, được xây cất giữa một hồ
nước Miếu có kích thước 2m X 2,5m, xây bằng gạch, ngoài quét vôi màu
vàng, lợp ngói Cửa miếu để ngỏ, trơ ra bốn chiếc bản lề Trên khuôn cửa có dòng chữ quốc ngữ “miếu bà Thiên Hậu”, hai bên cửa là hai hàng hoa dây màu xanh ôm lấy đôi cấu đối cũng bằng chữ quốc ngữ nhưng mỗi chữ được
bố cục trong một hình tròn:
Vạn co đào huê chiêu thánh nữ
Huê khai xuân sắc hội thần tiên.
Cặp câu đối này khiến tôi liên tưởng tới đôi câu đối chữ Hán:
’ ThS., Viện Nghiên cứu văn hóa
Trang 2608 Van hóa th ờ Nữ thần - MẪU ở VlỆT NAM VÀ CHÂU Á
ngữ Những đồ thờ tự trong miếu như: bát hương, bình hoa, chén trà, rượu đều là những đồ gốm mới, không có món đồ cổ nào Ngôi miếu trông thật nhỏ bé, đơn sơ, giản dị như nhiều ngôi miếu khác của người Việt ờ Nam Bộ hiện nay, nó không đem lại cho chúng ta cảm giác về sự cổ kính Kiến trúc, vật liệu và đồ thờ cùa miếu đều là sản phẩm của văn hoá Việt hiện nay
Trong miếu, mọi thứ được bài trí đơn sơ, gọn gàng Nền miếu lát gạch men nâu, tường quét vôi vàng nhưng các bệ thờ lại quét vôi màu hồng và bức tường ờ các ban thờ thì ốp gạch men hồng Bệ thờ chính ở giữa, cao và rộng hơn, hai bên là hai bệ thờ thấp hơn, thờ binh gia của các bà [A.4] Ban thờ các binh gia đều có bát hương và khung ảnh ghi “binh gia bà” bằng chữ Hán Nôm Với cách ghi trên tấm biển và trên cửa miếu thì bà Thiên Hậu là
vị thần chính và lẽ ra phải được thờ ờ vị trí trang trọng nhất của miếu, nhung
ở đây, vị trí đó lại là nơi thờ bà cô tổ, bên trái thờ năm bà Ngũ Hành và bà Chúa Xứ còn bên phải thờ Thiên Hậu và Phật Bà Quan Âm [A.5] Tất cả đều được thờ bằng ảnh, trong đó, ảnh thờ bà cô tổ có các họa tiết, nội dung và bố cục giống hệt một tấm bài vị, chi khác là nó được làm trên chất liệu vài rồi lồng vào khung kính Dòng chữ “Cung thinh tổ cô toạ vị” được viết theo cột dọc ở giữa, chữ “tổ cô” cũng được viết với kích cỡ lớn hơn hẳn và chiếm vị trí trung tâm Hai bên là cặp câu đối bằng chữ Hán Nôm:
Tổ đức thiên niên thịnh
Cô án vạn đại vinh. [A.6]
Hai bên chiều dọc tấm bài vị là họa tiết đôi rồng quấn quanh cột, cùng chầu vào quầng lửa ờ giữa Câu đối này khiển ta liên tưởng tới cặp câu đối gốc Hán vốn được coi là chuẩn mực, thường được treo trong nhà thờ họ của người Việt/Kinh, khá phổ biến ở miền Bắc:
Tổ tông công đức thiên niên thịnh
Từ hiểu tôn hiền vạn đại vinh.
Tuy nhiên, người quản lý miếu lại khăng khăng đó là bà c ố Hỷ c ố Hỷ vốn là vị thần rừng cùa người Chăm, theo chân những người Chăm di cư từ miền Trung tới nơi này Thờ bằng bài vị cũng là một nét riêng cùa người Kinh Việc bài vị bà cô tổ được gọi là bà c ố Hỷ phản ánh thực tế cộng cư giữa người Kinh với người Chăm ở nơi này, hơn thế nữa, nó còn là một minh chứng cho sự hỗn dung tín ngưỡng của họ
Bên trái ảnh thờ cô tổ là bức ảnh năm bà Ngũ Hành, bà nào cũng có thị
nữ cầm quạt đứng hầu, giữa ảnh có dòng chữ Hán “Ngũ Hành nương nương”
Trang 3[A.7] Tiếp đó là ảnh thờ bà Chúa Xứ núi Sam [A.8], được photo từ bìa cuốn sách Tim hiểu nguồn gốc bà Chúa Xứ núi Sam, do Phân hội Nhiếp ảnh tỉnh
An Giang tái bản Bên phải ảnh bà cô tổ là ành bà Thiên Hậu có hai thị nữ cầm quạt đứng hầu [A.9], bên dưới là ảnh Phật bà Quan Âm ngồi trên toà sen [A.10] Đây là một trong số rất ít ngôi miếu thờ Thiên Hậu bằng ảnh Song, điều đáng ngạc nhiên là, đó chính là ảnh Cửu Thiên Huyền Nữ được thờ phổ biến trong những ngôi chùa Hoa ở Tp Hồ Chí Minh cũng như trong những tư liệu mô tả về nhân vật này Còn Phật Bà Quan Âm thì mang bóng dáng của một thiếu nữ Việt với khuôn mặt trái xoan, chiếc mũi dọc dừa, vóc dáng thon thả, thanh tân và làn da trắng mịn Phía dưới bệ thờ này, ngay trên nền nhà, người ta thờ thần Tài và ông Địa bằng các tượng [A.l 1], bên cạnh
đó có nhiều ảnh và tượng cúng gửi [A.12] Cúng gửi là hiện tượng những gia đình di cư đi nơi khác, không có điều kiện để tiếp tục thờ cúng hoặc do thờ cúng những vị thần đó mà làm cho họ gặp rủi ro, làm ăn không phát đạt thì người ta đem tượng hoặc ảnh tới ngôi miếu gần nhà, nhờ họ thờ cúng giúp Hiện tượng cúng gửi này khá phổ biển ở Nam Bộ
Ngoài ra, phía trước ban thờ còn có một cặp hạc cưỡi rùa và phía trên
có treo một chiếc trống lớn Đôi hạc cưỡi rùa được đặt trước ban thờ là hình ảnh phổ biến và đặc trưng trong những ngôi đình làng của người Việt Trước cửa miếu còn có ban Tiên (thờ trời đất) [A.13] và ban thờ thần Nông [A 14] Ban Tiên là một bệ thờ ngoài trời còn thần Nông thì được thờ trong ngôi miếu nhỏ xíu nằm kề bên, tên “thần Nông” được viết bằng chữ Hán bên trong miếu Vậy mà, bác Điệp nói với tôi rằng, cả ngôi miếu đó và bệ thờ bên cạnh đều là ban Tiên Thờ trời đất là một tín ngưỡng phổ biến của người Hoa Người Hoa Triều Châu cũng thờ thần Nông, người Việt/Kinh làm ruộng cũng thờ thần Nông nhưng thần Nông của người Hoa lại khác hẳn với thần Nông của người Việt Thần Nông của người Hoa là một hệ thống 8 vị thần, gọi là Bát lạc, gồm:
1 Thần Nông (dạy dân trồng lúa)
2 Thần Bưu Bửu Chiết (phụ tá cho thần Nông)
3 Thần Kênh mương
4 Thần Bờ ruộng
5 Thần Lúa
6 Thần Lúa giống
7 Thần Hổ (chống lại hươu, nai phá hoại mùa màng), thần Mèo (diệt chuột)
M iếu Thiên Hậu ở Phước Kiển và sự hỗn dung văn hóa 609
Trang 4M iếu Thiên Hậu ở Phước Kiển và sự hỗn dung văn hóa 607
Vạn cổ đào huê chiêu thánh nữ Thiên thu xuân sắc tập thần tiên.
Nghĩa là:
Muôn thuở hoa đào rước thánh nữ
Ngàn thu xuân sắc hội thản tiên.
(Trương Ngọc Tường dịch)
và băn khoăn không biết đây là một sự “gia công” hay “tam sao thất bản”? Người Việt (ở Nam Bộ) thường dùng cặp câu đối này để treo trong những nơi thờ nữ thần Còn khi thờ bà Cửu Thiên Huyền nữ thì người ta lại “gia công” câu đối gốc này thành:
Đào hoa chiêu thánh nữ Xuân sắc tạp thần tiên
Bà Cừu Thiên huyền nữ Ngũ công chúa nương nương.
Trên cùng của mỗi hàng hoa dây này có vẽ hình một chậu hoa Nền miếu được lảt gạch men màu hồng [Ảnh 1 - A l] Bên ngoài miếu người ta
xây một cái lán hình vuông, có kích thước 8m X 8m, phần dưới là tường
gạch, phần trên là lưới thép và lợp mái tôn Nền lán lát gạch men hồng và có một cửa sắt nơi lối ra vào [A.2] Lán khép kín, vừa để bảo vệ miếu, vừa là đường giới hạn khuôn viên miếu Ở đầu con đường dẫn ra miếu có biển đề bằng chữ quốc ngữ, như sau:
Huyện Nhà Bè
MTTQ xã Phước Kiền
Miếu Bà Thiên Hậu
Bà Chúa Xứ, Bà cổ, Bà Ngù Hành [A.3]
Trong đó, cụm từ “miếu bà Thiên Hậu” chiếm trọn một hàng, có kích
cõ chữ to nhất và nằm ở vị trí trung tâm của tấm biển Các dòng chữ khác đều được viết với kích cỡ nhỏ hơn Tên của các nữ thần khác (bà Chúa Xứ,
bà Cố, bà Ngủ Hành) được viết cùng một hàng với kích cỡ bằng Vi cỡ chữ của cụm từ “miếu bà Thiên Hậu” Cách trình bày của tấm biển và dòng chừ trên cửa miếu cho ta thấy vị trí trung tâm, chính yếu thuộc về bà Thiên Hậu còn các nữ thần khác dường như là thứ yếu, được phổi thờ cùng Hai bên của chiếc biển này ghi đôi câu đối như trên cửa miếu và đều viết bằng chữ quốc
Trang 5610 Van h ó a t h ờ N ữ t h ấ n - MẪU ở VlỆT NAM VÀ CHẢU Á
8 Thần Hoàng trùng thiên địch (là những côn trùng có ích để tiêu diệt những côn trùng có hại, phá hoại mùa màng)
Còn thần Nông cùa người Việt thì chi có một vị thần dạy dân trồng lúa
Như vậy, những vị thần được thờ cúng ở ngôi miếu này bao gồm: bà
cô tổ, bà Cố Hỷ, bà Thiên Hậu, Phật Bà Quan Âm, bà chúa Xứ, bà Ngũ Hành, ông Địa, thần Tài, thần Nông và Thiên Địa phụ mẫu Tập họp này bao gồm cả thần của người Kinh, người Chăm và người Hoa Nó cho thấy đã có
sự giao lưu, hội nhập tín ngưỡng giữa ba tộc người này
Hiện nay, trông coi ngôi miếu là gia đình bác Lưu Mộng Điệp, sinh năm 1942 và vợ là bà Nguyễn Thị Ký, sinh năm 1945 Người vợ chỉ biết sơ
sơ về miếu, khi chúng tôi hỏi về nguồn gốc các vị thần trong miếu thì bà nói:
“Mấy cái đó tui hổng có rành Ông xã tui làm sao thì tui theo vậy chớ hổng biết” Bà cho biết, chồng bà là người gốc Hoa, từ Chợ Lớn xuống đây sinh sống còn bà là người Việt Nói chuyện với chúng tôi, ông Điệp kể, trước kia, gia đình ông sống ở quận 4, Chợ Lớn nhưng do buôn bán không được, cảnh nhà nghèo túng nên năm 1956, cha mẹ ông đem theo đàn con (7 người) tới Phước Kiển khai hoang ruộng đất, cày cấy mưu sinh Lúc đó, ấp này chưa có
ai, dần dần mới có thêm người về đây dựng nhà, sinh sống, tạo nên xóm ấp Gần đó, có một ngôi chùa Thiên Hậu đã đổ nát Mọi người trong ấp họp nhau lại, thành lập hội miếu, bàn bạc rồi quyết định góp tiền dựng một ngôi miếu mới Miếu được xây vào khoảng năm 1965, nằm trên nền ngôi chùa cũ Song, tất cả tượng và đồ thờ trong chùa cũ đều đã bị mất và hội miếu cũng chưa có tiền mua tượng nên họ dùng giấy điều ghi tên các vị thần (bằng chữ Hán) rồi đặt lên thờ Qua năm tháng, miếu bị xuống cấp, hội miếu đã tu sửa vài lần Đen năm 2006, hội quyết định xây lại ngôi miếu khác như hiện nay Kiểu dáng kiến trúc và kích thước miếu do hội đưa ra còn đôi câu đổi và hàng hoa dây trước cửa miếu là do bác Điệp tự vẽ Miếu xây xong, bác Điệp
là người lên Chợ Lớn mua ảnh của các bà về thờ Bác nói: “Tui mua của người Tàu ở Chợ Lớn Tui kêu mua ảnh của bà nào thì họ đưa cho ảnh đó, chớ tui cũng hổng biết bà Thiên Hậu ra sao” Mọi người cho rằng, các bà đều có binh gia đi theo hộ vệ nên lập ban thờ các binh gia này Do không đâu có bán ảnh binh gia nên họ đành viết chữ lên để thờ Năm 2004, chị Ba
ở xã Tân Quy, quận 7, Tp Hồ Chí Minh đem tiến cúng đôi hạc và một ít gạch để xây miếu Từ đó, đôi hạc được thờ trong miếu
Hội miếu khi mới thành lập có hơn 10 gia đình tham gia nhưng sau đó, hai gia đình di cư đi nơi khác nên hiện nay chi còn 8 gia đinh Họ cắt phiên
Trang 6M iếu Thiên Hậu ở Phước Kiên và sự hỗn dung văn hóa 611
mỗi nhà trông coi miếu một năm Nhiệm vụ cùa người trông coi miếu là hàng ngày ra miếu dọn dẹp và hương khói Bác Điệp là hội trưởng của hội miếu này đã mấy năm nay và những ý kiến của ông có ảnh hưởng tới diện mạo cũng như hoạt động của miếu
2 Ngày vía bà Thiên Hậu
Thiên Hậu là một nữ thần biển của người Hoa, Theo các tư liệu [2], [3], [4], [5], [6], bà sinh vào ngày 23/3/960, hóa vào ngày 9/9/987 Ban đầu,
bà là vị thần cứu những tàu thuyền gặp nạn trên biển nhưng dần dần bà có thêm các chức năng: thần mưa, thần hộ đê, thần trồng trọt, thần chữa bệnh, thần sinh nở, thần chiến tranh và hàng phục yêu quái Ở Trung Quốc, bà đưọc thờ bằng tượng động (các khớp có thể cử động được, để tiện thay trang ph(ic) hoặc tượng tĩnh (các khớp cố định, không cử động được), loại tượng này thường được thờ ở những vùng không có tục thay áo cho tượng, họ để cho bụi đất bám lên tượng càng nhiều càng tốt Thiên Hậu thường được thờ cùng với hai cận vệ là Thiên Lý Nhãn và Thuận Phong Nhĩ Ngoài ra, tuỳ theo từng vùng mà bà còn được phối thờ cùng với các thần địa phương, ví
dụ, người Hải Nam thì phối thờ với hai bà Ý M ĩ nương nương và Thuỷ Vĩ Thánh nương, có nơi phối thờ với Bào Sinh Đại đế, với thần phù hộ sinh nở Trần Tĩnh Cô hay các vị thuỷ thần khác như Lý Bạch, Khuất Nguyên, Không chỉ là một nữ thần uy vọng nhất trong tín ngưỡng dân gian Trung Quốc, bà còn là vị thần của Đạo giáo và Phật giáo Người Hoa di cư đi đâu cũng mang theo tín ngưỡng của mình, trong đó tục thờ bà Thiên Hậu dường như không thể thiếu
Ở Phước Kiển, vào ngày vía bà Thiên Hậu 23/3, hội miếu không tổ chức hội hè mà chủ yếu thực hiện các nghi lễ thờ cúng Ngày 22/3, những người trong hội miếu ra dọn dẹp, bao sái các ảnh thờ và đồ thờ, đồng thời chuẩn bị hoa quả cùng các nguyên liệu để hôm sau nấu cỗ cúng Sáng sớm ngày 23/3 họ nấu cỗ cúng cho tất cả các vị thần trong miếu Ngày vía năm
bà Ngũ Hành 18/3, bà chúa Xứ và các vị thần khác cũng được gộp vào dịp này cho đỡ tốn kém Việc cúng gộp này bắt nguồn từ ý tưởng của ông Điệp
và được mọi người đồng thuận Thông thường, ở các đền, chùa, miếu khác, vào ngày vía của vị thần này thì các vị thần khác trong ngôi đền, miếu ấy cũng đều được cúng lễ, mỗi người một mâm cỗ riêng, nhưng ở Phước Kiển, người ta cúng bà Thiên Hậu, năm bà Ngũ Hành, Bà Chúa Xứ và bà
Cố Hỷ chung một mâm cỗ, bao gồm: một con vịt luộc, một miếng thịt heo luộc chừng 0,2kg, 5 bát cháo thịt heo, 5 bát chè đậu trắng, 5 đĩa xôi đậu xanh,
Trang 75 tấm bạc đại' và trầu cau, gạo muối, rượu cùng trái cây Nãm nào có điều kiện thì họ thay thế miếng thịt luộc bằng heo quay (để nguyên con) Phật bà Quan Âm được cúng riêng bàng hương hoa Ở ban thờ binh gia bà người ta cúng một đĩa tam son cùng với các món: chè, cháo, canh kiểm2, bánh bò
Đồ cúng ở ban tiên là món chay còn thần Nông thì cúng một con vịt luộc Ngoài ra còn có một mâm cúng tiền hiền, gồm: một miếng thịt heo luộc (chừng 0,2kg), cháo thịt heo, gỏi thịt heo và cà ri Mâm lễ này được đặt ở sân miếu (như cúng cô hồn - TG) Trước kia, vào dịp vía bà Thiên Hậu 23/3, hội miếu vẫn mời đoàn múa bóng rỗi (dân ở đây gọi là “đổ bóng”) đến biểu diễn nhưng từ năm 2008, một mặt, do xã không cho phép nữa, mặt khác là do tốn kém nên hội miếu đã mua chiêng và trống để đánh, thay thế múa bóng rỗi
Người Việt ở Nam Bộ có câu: “Ông cúng gà, bà cúng vịt”, nghĩa là nam thần thì cúng gà (thường là một con gà luộc) còn nữ thần thì cúng vịt (một con vịt luộc) Người Hoa thường cúng xôi nhuộm màu còn xôi đậu xanh là đồ cúng của người Việt Chè của người Hoa là chè viên, tức bánh chay của người Việt, thường được dùng cúng vào ngày rằm tháng Giêng với
ý nghĩa viên mãn (ý nghĩa này bắt nguồn từ sự đồng âm dị tự của chè viên) Người Việt thì cúng xôi chè cho các bà mụ còn cháo trắng và gạo, muối là
đồ cúng cô hồn Sự hiện diện của đồ cúng cô hồn này, phải chăng là vì người dân coi bà cô tổ là một dạng cô hồn, không có hậu duệ thờ cúng? Heo quay
là đồ cúng dành riêng cho bà Thiên Hậu nhưng năm nào không có nhiều tiền mua heo quay thì họ cúng bà một miếng thịt luộc thay thế Người Việt và người Triều Châu đều cúng trầu cau, do họ cùng nằm trong nhóm Bách Việt Người Triều Châu ở Nam Bộ thường buôn bán nông sản, có khi làm ruộng
Có thể, người Hoa ờ Phước Kiền là Hoa Triều Châu chăng? Với mâm đồ cúng phong phú này, chúng ta thấy sự hiện diện của văn hoá Việt nhiều hơn văn hoá Hoa Và cách thức cúng tập thể, gộp chung cả ngày vía và đồ cúng này là một “sáng tạo” mới của người bình dân, không ngoài mục đích giản tiện và tiết kiệm
1 Bạc đại là một loại giấy tiền để cúng cho người chết, có kích cỡ to hơn, một nửa màu vàng, một nửa màu bạc.
? Kiểm (canh kiểm): Là món chay, nguyên liệu gồm: bí đỏ, khoai (khoai gì cũng được nhưng thường chọn khoai tây vì nó có độ cứng và dẻo hơn, khó vờ khi nấu), đường, nước cốt dừa, đậu phụ, bột khoai hoặc bột báng nấu lên, múc ra bát rồi rắc lên ít đậu phụng rang bỏ vỏ Món này giống như chè nhưng không ngọt bàng chè.
Trang 8M iếu Thiên Hậu ở Phước Kiển và sự hỗn dung văn hóa 613
Thờ binh gia bà cũng là một “phát minh” mới của người dân nơi đây Ngày vía Thiên Hậu, người ta cúng các binh gia một miếng thịt heo luộc, một đĩa tam sơn, chè, cháo, cà ri1, canh kiểm và bánh bò2 Ngoại trừ đĩa tam sơn ra, các thức cúng còn lại đều là món ăn dân gian phổ biến của người Việt ở Nam
Bộ Đặc biệt, món cà ri có nguồn gốc Ấn Độ được nấu theo kiểu của người Việt cùng với các loại thực phẩm Nam Bộ rồi ăn với bánh mì thì quà là một sự hoà họp văn hoá Ấ n - Âu - Việt hết sức thú vị Lễ tam sơn3 có nguồn gốc từ lễ Thái lao (cúng vua), được dùng để cúng trời đất, Thành hoàng, Thổ thần, Thổ công (Nam Bộ gọi là Long thần) và thần Nông nhưng ở đây, người ta dùng để cúng binh gia bà, cho thấy một sự “biến báo” rất dân dã
Cũng vào ngày này, ở ban Tiên người ta cúng một đĩa tam sơn và hương hoa, còn nơi thờ thần Nông thì cúng một con vịt Thần Nông của người Trung Quốc gồm hệ thống 8 vị thần, gọi là bát lạc, nhưng ở nước ta,
hệ thống này được Việt hoá chỉ còn một vị, là thần Nông dạy dân trồng lúa Mặc dù, ờ nơi thờ này có ghi “thần Nông” bằng chữ Hán nhưng bác Điệp lại quả quyết với tôi rằng, đó cũng là ban tiên, chung với bệ thờ bên cạnh Và thần Nông được cúng bằng một con vịt luộc, có nghĩa, ờ đây, thần Nông đã được chuyển giới thành nữ hoặc được coi là mẹ lúa!
Ngoài ra, vào dịp lễ vía này, người ta còn tổ chức cúng tiên hiền Tiên hiền hay tiền hiền là những người thuộc các thế hệ ừước, có công lao khai mờ xóm ấp hoặc có công với cộng đồng, với việc xây dựng miếu Đây là một phong tục của người V iệt Đồ cúng gồm: một miếng thịt heo luộc, cháo thịt heo, gỏi thịt heo và cà ri, được bày trên mâm, đặt giữa sân miếu rồi làm lễ
1 Cà ri: là mỏn ăn có nguồn gốc Ân Độ, gồm thịt (gà hoặc vịt), măng tre, đậu phộng, khoai tây, nước cốt dừa, đường và gia vị cà ri mua sẵn ngoài chợ rồi nấu lên, thường dùng ăn với bánh mì.
2 Bánh bò: Bánh được làm từ bột gạo có pha đường và bột nở Khi hấp cách thuỷ thì bột nở
sẽ tạo các bột khí thoát lên, khiến cho miếng bánh bò có độ xốp Bánh có hình thù gì là do người ta đổ khuôn Nếu hấp trong cái xửng to thì sau khi chín cắt ra thành từng miếng nhỏ Màu sắc của bánh do người làm pha chế bột Bánh bò dùng để ăn chơi hoặc ăn sáng.
3 Tam sơn: Là cách gọi chệch của tam sanh hay tam sinh - một bộ lễ vặt gồm ba món Tam
sơn cổ nguồn gốc từ lễ Thái lao (cúng vua) Ở Trung Quốc, đồ cúng trong lễ Thái lao gồm: một con bò, một con dê và một con lợn Ờ Việt Nam, lễ này gồm: một con trâu, một con
dê, một con lợn Dân gian cúng tam sơn tượng trưng bằng một miếng thịt heo, một con gà, một con tôm Đồ cúng này thường bỏ đi sau khi cúng tế Ở Phước Kiền, tam sơn gồm: một miếng thịt heo chừng bằng ngón tay cái, một con cua biền (có thể thay thế bàng một con tôm biển) và một quả trứng vịt, tức là nó tiếp tục được dân gian hoá.
Trang 9614 Van hóa th ờ Nữ thắn • MẪU ở VlỆT NAM VÀ CHÂU Á
Vía bà năm nay (2012), hội miếu tổ chức cúng rất nghiêm cẩn, sau đó xin phép các bà cho thay tượng mới Tên của mỗi vị thần được viết bằng chữ Nho ngay chân tượng, những bức tranh thờ trước đây được hạ xuống, để tạm trên nền miếu Ông Điệp nói rằng, sắp tới, khi làm lại nền miếu mới, bác sẽ chôn những bức tranh này và những ảnh cúng gửi xuống nền đất miếu Việc thay ảnh thờ bằng tượng này là tâm nguyện cùa cha ông Điệp lúc cụ sắp mất
Cụ dặn con trai rằng, sau này, khi những ảnh thờ các bà đã cũ thì đốt đi, thay bằng tượng, viết chữ Nho chứ thờ bằng bóng kính (ảnh lồng trong khung kính - TG) không tốt Ý kiến này được mọi người trong hội miếu đồng ý thực hiện
Ngoài dịp vía bà Thiên Hậu 23/3 thì hàng tháng, vào ngày rằm và 30
âm lịch, miếu đều có ứái cây cùng hương hoa để cúng các bà Khi tôi hỏi tại sao lại cúng vào ngày 30 chứ không phải là mồng 1 đầu tháng thì ông Điệp trả lời rằng, vì mồng 1 là ngày thường Rằm tháng Giêng và rằm tháng 7 cũng cúng như vậy chứ không làm cỗ bàn gì cả Dịp tết Nguyên đán, miếu hương khói cho các bà tò ngày 30 tới mồng 4 tết Đồ cúng là trái cây, bảnh kẹo, hương hoa chứ không cúng mặn
Như vậy, có thể thấy, ờ đây, bà Thiên Hậu đã được hội nhập vào với các vị thần bản địa, được thờ cúng với nghi thức giống như các nữ thần Việt khác và hơn thế nữa, nguồn gốc, hành trạng của bà đã bị quên lãng, mất mát Người ta vẫn thờ cúng bà mặc dầu chẳng biết bà là ai Hiện tượng này không chỉ của riêng Phước Kiển mà rất phổ biến ờ huyện Nhà Bè hay Hóc Môn, Củ Chi, quận 8, nói chung là những vùng ven đô hay nông thôn - nơi người Hoa di cư lẻ tẻ, tự phát và đã hòa huyết với người Việt, trở thành người Hoa lai (hay còn gọi là người Việt gốc Hoa)
Ở phường 7, quận 8, Tp Hồ Chí Minh có miếu Vĩnh An (dân gọi là miếu Bến Đá, miếu Ngũ hành) nằm bên bến sông, thờ năm bà ngũ hành, Cửu Thiên huyền nữ, Quan Âm, Địa mẫu, thần Tài, ông Địa, trời đất, ông Hổ và bài vị “Bạch mã thái giám” nhưng ngày vía lại là 23/3 và đồ cúng là đầu heo luộc, có khi là cả con heo sống - vốn là nghi thức cúng đình của người Việt Nơi đây, xưa kia vốn là “địa bàn” của một công ty của người Hoa, công nhân cũng là người Hoa Nguyên liệu sản xuất là đá và bến sông này là nơi các tàu thuyền chở đá tới cung cấp cho công ty Họ xây dựng một ngôi miếu Thiên Hậu trên bờ sông, ngay cạnh công ty Khoảng trước năm 1945, công ty này tan rã, nhóm người Hoa cũng di cư hết Một thời gian sau, người dân trong khu vực thấy ngôi miếu đổ nát thì họp nhau lại, xây miếu mới và đưa các vị
Trang 10M iếu Thiên Hậu ở Phước Kiên và sự hỗn dung văn hóa 615
thần của mình vào đó thờ cúng Năm bà Ngũ Hành được thờ ở vị trí trung tâm và ngôi miếu có tên miếu Ngũ Hành kể từ đó Ngày vía của 5 bà là 18/3 nhưng không hiểu sao, ở đây người ta lại cúng vào 23/3 Dấu vết của Thiên Hậu không còn gi ngoại trừ cái sự nhập nhèm, “nhầm lẫn” ngày vía này Và dấu vết đó cũng khó có thể được nhận ra nếu chúng ta không tìm hiểu “lai lịch” sâu xa của ngôi miếu
Tín ngưỡng Thiên Hậu ờ Phước K.iển không phải là một hiện tượng
“độc nhất vô nhị” mà ở đây, chúng tôi đưa ra như một mẫu đại diện Nó đại diện cho dạng tín ngưỡng Thiên Hậu ờ vùng ven (ven dòng di cư của người Hoa), nơi mà người Hoa lai có số lượng nhỏ đang cộng cư với cộng đồng đa dân tộc bản địa hoặc nơi người Hoa từng sinh sống nhưng đã di cư hểt khá lâu Ở những vùng này, bà Thiên Hậu đã trở thành một nữ thần Việt, không còn mang theo nguồn gốc, hành trạng ban đầu nữa hoặc hội nhập với các vị thần bản địa như Bà Chúa Xứ, bà Đại Càn, bà Ngũ hành, bà c ố Hỷ, Nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường cho chúng tôi biết, dạng miếu Thiên Hậu như ở Phước Kiển thì Nam Bộ có hàng ngàn ngôi Tín ngưỡng Thiên Hậu trong những ngôi miếu này đã khác xa tín ngưỡng Thiên Hậu ở Trung Quốc, trở thành một tín nguỡng Thiên Hậu rất Việt Nam Nó cho thấy sự tiếp biến mạnh mẽ, sâu sắc của tín ngưỡng Thiên Hậu ở nước ta và sức mạnh bản địa hóa của văn hóa Việt, mặt khác, đó cũng là minh chứng cho vai trò hết sức quan trọng của chủ thể tín ngưỡng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
A Tài liệu tiếng Việt:
1 http://vi.wikipedia.org/wiki/Bách khoa toàn thư
B Tài liệu tiếng Trung (TS Bùi Thiên Thai dịch):
2 Lưu Tích Thành (ehủ biên): Tùng thư dân tục Trung
Q u Ổ c ^ ^ m ơ Ấ - Lí Lộ Lộ: Tín ngưỡng Ma Tổm ẵiní® , Nxb Học uyển, 1994
3 VCD Phim tài liệu: Thần biển Ma Tổ ÌỈỆÌ^ị^Ề, Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc thực hiện năm 2006