So với những tiêu chuẩn quốc tế đó, thì hệ thống luật pháp của Việt Nam nói chung và pháp luật Lao động nói riêng chưa thực sự được xây dựng dựa trên những yêu cầu củ[r]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU K H O A
H Ọ C CẤ P ĐẠI H Ọ C Q U Ố C GIA H À NỘI
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRONG
TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TÊ QUỐC TÊ
Chủ trì đ ề tài: TS GVC Lê Thị H oài Thu
Đ A I H O C Q U Ố C G IA H À N Ộ I
TRUNG TẨM THÒNG TIN THƯ VỈỆN
DT / ị± 1
HÀ NỘI - 12/2007
Trang 24
41020
24
31313133
3541444457
68
727275
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẨU PHẨN I: HỘI NHẬP KINH TẾ THÊ GIỚI VÀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
Tác động của hội nhập kinh tế thế giới
Thị trường lao động Việt Nam trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Quan hệ giữa Việt Nam với Tổ chức lao động quốc tế
Thách thức đối với pháp luật lao động Việt Nam trước nhu cẩu hội nhập kinh
tế thế giới
PHẨN II: KHÁI QUÁT HỆ THỐNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT
NAM TRƯỚC BỐI CẢNH TOÀN CẨU HOÁ VÀ HỘI NHẬP KINH TÊ
THÊ GIỚI
Lược sử hệ thống pháp luật lao động Việt Nam
Hệ thống pháp luật lao động Việt Nam trước khi đổi mới (1945-1985)
Hệ thống pháp luật lao động Việt Nam từ khi đổi mới đến nay (1986-đến nay)
Quan hệ lao động dưới góc độ là đối tượng điều chỉnh của luật Lao động Việt
Nam
Phương pháp điều chỉnh của luật Lao động Việt Nam
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật lao động Việt Nam
Bảo vệ người lao động
Bảo vệ người sử dụng lao động
Vai trò điều tiết của pháp luật lao động đối với lợi ích các bên trong quan hệ
lao động
Luật Lao động với vấn đề cơ chế ba bên
Quan niệm cơ chế ba bên
Vai trò cúa cơ chế ba bên
Cơ chế ba bên ở Việt Nam
Trang 3PHẦN m : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
1 Đánh giá chung về hệ thống pháp luật lao động Việt Nam hiện hành 82
PHẦN IV: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam trong điều kiện hiện
2 Hoàn thiện các quy định cụ thể của pháp luật lao động trong điều kiện hiện
CÁC BÀI VIẾT ĐẢ ĐƯỢC CÔNG B ố LIÊN QUAN ĐẾN ĐỂ TÀI 111
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
/ Tính cấp thiết của đ ề tài
Hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đời sống của đại bộ phận nhân dân được cải thiện và tăng tiến rõ rệt Phù hợp với xu thế chung của thời đại, Nhà nước Việt Nam chủ trương tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Toàn cầu hoá là một quá trình khách quan, là bước phát triển của lực lượng sản xuất và nền kinh tế thị trường thế giới ở mức độ cao Thực hiện đường lối đổi mới kinh tế theo hướng mở cửa, hội nhập quốc tế của Đảng, nãm 1995 Việt Nam
đã làm đơn xin gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Toàn cầu hoá đặt
ra cho nước ta có nhiều cơ hội để phát triển như: mở rộng thị trường giao lưu hàng hoá, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nội địa, tranh thủ vốn đầu tư, khoa học công nghệ từ bên ngoài để nâng cao năng lực trình độ sản xuất đạt mức tăng trưởng cao, góp phần phát triển phúc lợi xã hội, xoá đói giảm nghèo
Nước ta còn là một nước nghèo, kém phát triển, sức cạnh iranh của hàng hoá trên thị trường còn thấp Trong điều kiện mở cửa giảm thuế, tự do đầu tư phát triển doanh nghiệp và thương mại sẽ tác động lớn đến thị trường lao động và người làm công ăn lương Gia nhập WTO, thị trường lao động Việt Nam sẽ thông thoáng hơn nhưng cũng có nhiều biến động Nguy cơ mất việc làm của người lao động là rất lớn, đặc biệt là bộ phận nhóm người lao động yếu thế trong
xã hội: người tàn tật, phụ nữ, trẻ em Những người lao động làm công việc giản đơn khi bị mất việc khó có cơ hội tìm được việc làm mới
Hành trang của Việt Nam khi gia nhập WTO trong lĩnh vực luật Lao động đang từng bước được hoàn thiện Một loạt các văn bản pháp luật lao động được ban hành có tác dụng rất lớn đối với việc xác lập và duy trì quan hệ lao động và giải quyết các vấn đề liên quan Những vấn đề quan trọng nhất như: hợp đổng lao động, thoả ước lao động tập thể, quyền cồng đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động, giải quyết tranh chấp lao động và đình công đã được cụ thể hoá trong các vãn bản pháp luật từ thông tư của các bộ đến các văn bán luật của Quốc hội
đã thể hiện rõ quan điểm đổi mới trong lĩnh vực pháp luật lao động Bộ luật Lao động được Quốc hội thông qua ngày 23/06/1994, đến nay bộ luật đã được sửa
Trang 5đổi bổ sung ba lần vào các năm 2002, 2006 và năm 2007 Bộ luật Lao động đã thể hiện rõ mong muốn của xã hội trong sự nghiệp đổi mới đất nước, đổi mới pháp chế, nhằm xây dựng một Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam Các quy định của pháp luật lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành đã đi đúng hướng chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời đã đáp ứng được một cách cơ bản những yêu cầu điều chỉnh quan hệ lao động-xã hội theo những nguyên tắc tối quan trọng là: bảo vệ người lao động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, đảm bảo sự thoả thuận của các bên trong quan hệ lao động và kết hợp hài hoà chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong lĩnh vực lao động Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập, cũng như yêu cầu khách quan của thực tiễn đời sống lao động, có thể thấy luật Lao động Việt Nam còn bộc lộ một
số nhược điểm như: Hệ thống pháp luật lao động chưa mang tính pháp điển hoá cao; Nhiều quy định của pháp luật lao động còn mang nặng tính chính sách; Các văn bản pháp luật được ban hành ở những thời điểm khác nhau, không đồng bộ thiếu tính thống nhất Với những lý do cơ bản nêu trên, chúng tôi chọn đề tài:
“ Hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam tro n g tiến trìn h hội n h ập kinh tế
quốc tế” với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả của luật Lao động trong
tình hình hiện nay, đồng thời để pháp luật lao động Việt Nam có thể hoà nhập với hệ thống pháp luật và thông lệ quốc tế
2 M ục tiêu nghiên cứu của đ ề tài
- Đề tài nghiên cứu tác động của hội nhập kinh tế thế giới và những thách
thức đối với pháp luật lao động Việt Nam
- Nghiên cứu những nội dung cơ bản của pháp luật lao động Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, trên cơ sở đó chỉ ra lợi ích của các bên trong quan hộ lao động
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật lao động Việt Nam trong những năm qua
để từ đó thấy được sự bất cập cả về mặt lập pháp cũng như về thực tiễn thực hiện
- Trên cơ sở những vấn đề có tính lý luận và thực trạng pháp luật lao động Việt Nam để tài đưa ra một số nhận xét và phương hướng nhằm hoàn thiện pháp luật lao động trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới
3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 6Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác và những quan điểm đường lối của Đàng và Nhà nước ta về kinh tế thị trường, lao động và các vấn đề liên quan Đổng thời các quy định của Hiến pháp, của luật Lao động được sử dụng với tư cách là cơ sở pháp lý cho quá trình nghiên cứu Ngoài ra, các phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với từng lĩnh vực của đề tài cũng được sử dụng trong quá trình nghiên cứu như: phương pháp lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh
4 Bô cục của đê tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liêu tham khảo đề tài được chia làm
Phẩn Iĩĩ: Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam hiện hành
Phán IV: Hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế
Trang 7PHẦN I HỘI NHẬP KINH TÊ THÊ GIỚI VÀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐỎI VỚI
PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
1 Tác động của hội nhập kinh tế thế giói
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) mà tiền thân là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) được thành lập ngày 15/04/1994 tại Maroc và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1995 Sau hơn 11 năm, qua các vòng đàn phánđa phương và song phương với 28 nước và tổ chức khu vực (Liên minh châu Âu), ngày 07/11/2006, tại trụ sở của WTO ở Geneve (Thụy Sĩ) đã diễn ra buổi lễ long trọng kết nạp Việt Nam làm thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại lớn
nhất hành tinh này Là một tổ chức thương mại quốc tế lớn nhất thế giới, WTO
CÓ150 nước thành viền trong đó tổng trị giá trao đổi thương mại của giữa các nước thành viên chiếm hơn 90% toàn bộ thương mại quốc t ế (www.wto.ors) Tổng sản lượng quốc dân của các nước trong WTO đã vượt mức 23.000 tỷ USD
và chiếm hơn 93% tổng sản lượng quốc tế.
Với nguyên tắc xuyên suốt là tự do hoá thương mại, mục tiêu của WTO là bảo đảm đầy đủ việc làm, nâng cao mức sống, mức thu nhập, nhu cầu một cách bền vững, phát triển việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của thế giới và mở rộng sản xuất, trao đổi hàng hoá, việc tích cực và khẩn trương gia nhập WTO của Việt Nam hiện nay là xu thế khách quan trong tiến trình hội nhập của kinh tế quốc tế
Kể từ sau đại hội Đảng lần thứ VI và các kỳ đại hội tiếp theo đó, với sự nghiệp đổi mới, chủ trương đa phương hoá, từng bước tiến hành tự do hoá các hoạt động kinh tế mở cửa thị trường và tham gia vào các tổ chức và thể chế kinh
tế khu vực và thế giới, Việt Nam đã thu được những kết quả quan trọng như ổn định và phát triển nền kinh tế và đối ngoại được mở rộng, vị thế của quốc gia được nâng lên Việt Nam hiện nay là thành viên tích cực của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), và diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Binh Dương (APEC) và diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) Cũng nhờ hội nhập quốc tế
Trang 8mà theo Cục đầu tư nước ngoài thuộc Bộ kế hoạch và đầu tư, tính đến ngày 22/09/2007 đã có 1.045 dự án đầu tư nước ngoài được cấp mới kể từ đầu năm nay với tổng mức đầu tư là 8,3 tỉ USD đồng thòi có 274 lượt dự án tăng vốn với tổng số vốn tăng thêm là 1,3 tỉ USD, tăng gần 40% so với cùng kỳ năm trước cả
về số lượng dự án và tổng vốn đăng ký Tổ chức thương mại thế giới (WTO) với quy mô thương mại lớn nhất và thực hiện chính sách tự do hoá thương mại giữa các quốc gia, việc gia nhập WTO là một bước đi quan trọng tiếp theo trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Hơn nữa, thực tế cho thấy hầu hết các quốc gia cảm thấy rằng họ có vị thế cao hom khi gia nhập WTO, điều này được thể hiện trong chính sách các nước thành viên của WTO Bằng cách tham gia vào WTO, các nước nhỏ như Việt Nam cũng tự động được hưởng những lợi ích mà tất cả các nước thành viên khác trong WTO dành cho nhau Mặc dù các nước này hoàn toàn có thể không gia nhập WTO mà vẫn tiến hành thương mại quốc tế bằng đàm phán Hiệp định Thương mại song phương với các nước khác, tuy nhiên để thực hiện được các cuộc đàm phán công bằng, các nước này phải có tiềm lực kinh tế, vị thế chính trị lớn Trong đàm phán song phương, các nước nhỏ thường yếu thế hơn và chịu nhiều thiệt thòi trong thương mại, đây cũng là vấn đề mà Việt Nam phải đối mặt Gia nhập WTO có thể giúp các nước nhỏ tăng khả năng thương lượng của mình bằng cách tạo nên một liên minh với các nước khác cùng có lợi và tự động được hưởng quy chế về MFN, NT và bình đẳng trong cạnh tranh
T h ứ n h ấ t, hàng hoá của Việt Nam khi thâm nhập thị trường của các nước
thành viên của WTO sẽ được bình đẳng như hàng hoá các nước thành viên và được đối xử bình đẳng như hàng hoá ở nước sở tại do được hưởng MFN và NT Việc gia nhập WTO cũng giúp Việt Nam được hưởng ngay lập tức và vô điều kiện thành tựu cắt giảm thuế đa phương của WTO trong 50 năm qua Cơ hội này mang lại lợi ích nhiều nhất cho hai ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đó là nông nghiệp và may mặc Hơn nữa việc mở rộng thị trường đã làm cho hàng hoá của Việt Nam có mặt trên nhiều thị trường quốc tế, kể cả thị trường khó tính như Bắc Mỹ, EU, Nhật Bản Chính các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu đã thu
' Xem: Báo lao động, số ru ngày 28/09/2007.
Trang 9hút giải quyết cho người lao động từ khâu sản xuất chế-biến-tiêu thụ Mở rộng hoạt động xuất khẩu đã phát huy được lợi thế của nước ta là những ngành nông nghiệp: nuôi trồng, chế biến thuỷ hải sản, sản xuất và chế biến lương thực, rau, hoa quả, chăn nuôi, các loại cây công nghiệp các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như may mặc, dệt, da giầy, lắp giáp xe máy, ti vi
Là một nước nông nghiệp với xuất khẩu gạo đứng thứ ba trên thế giới, Việt Nam sẽ có nhiều thị trường xuất khẩu gạo và thị trường đối với nông phẩm hơn vì các hạn chế về định lượng đối với gạo và nông phẩm sẽ được chuyển thành thuế và theo hiệp định nông nghiệp, thuế sẽ phải cắt giảm Khi các thị trường gạo và nông sản mở cửa Việt Nam sẽ có lợi nhiều hơn đặc biệt là thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc Là một nước nghèo đang phát triển, theo Hiệp định nông nghiệp, Việt Nam không phải đưa ra các cam kết giảm trợ cấp xuất khẩu nông sản (trong khi đó mức cắt giảm trợ cấp xuất khẩu nông sản đối với các nước phát triển và đang phát triển khác tương ứng là 36% trong vòng 6 năm qua và 24% trong vòng 10 năm qua) Việt Nam cũng bị yêu cầu cắt giảm hỗ trợ sản xuất trong nước cho nông dân (các nước nông nghiệp phải cắt giảm 20% mức hỗ trợ trong nước trong thời gian 6 năm, các nước đang phát triển khác là 13,3% trong vòng 10 năm) Tuy nhiên, nếu hàng hoá của Việt Nam là hàng hoá cạnh tranh thì những sự miễn trừ nói trên sẽ bị loại bỏ trong vòng 8 năm
Hiệp định về hàng dệt may (ATC) đã được ký kết và quy định rõ chương trình nhất thể hoá các sản phẩm dệt may vào hệ thống thương mại đa biên Việc
thực thi Hiệp định này được tiến hành theo 2 kênh Thứ nhất, đưa một số sản
phẩm vào sự điều chỉnh của cơ chế thương mại đa biên và một khi các sản phẩm
đã được nhất thể hoá thì không phải chịu sự hạn chế về số lượng nữa Thứ hai,
nới lỏng các hạn chế về số lượng đối với các sản phẩm còn lại Hàng dệt may là một trong những mặt hàng chủ lực của Việt Nam Hơn nữa còn là mạt hàng mà Việt Nam có lợi thế so sánh trong việc sử dụng nhiều lao động Trở thành thành viên của WTO, Việt Nam sẽ được hưởng những lợi thế do Hiệp định về hàng dệt may (ATC) tại vòng đàm phán Urugoay và không phải chịu các hạn chê' MFA khi xuất khẩu hàng dệt may cúa mình sang các nước thành viên
Trang 10T h ứ hai, Việt Nam có quyền thương lượng và khiếu nại với các cường
quốc thương mại một cách công bằng hơn khi có tranh chấp (DSB) của WTO là
cơ quan trọng tài duy nhất và giải quyết các mâu thuẫn thương mại mang tính xây dựng Từ ngày thành lập đến nay, WTO đã giải quyết hơn 200 vụ tranh chấp thương mại giữa các quốc gia thành viên Khi có tranh chấp, DSB khuyến khích
và cho phép các nước thành viên đàm phán để đi đến một biện pháp hoà giải Nếu thất bại, một ban giải quyết tranh chấp sẽ được thành lập để phân xử và nhờ một cơ quan kháng án đưa ra quyết định cuối cùng (uỷ ban kháng nghị) Tất cả các phán quyết cuối cùng này phải được các bên có liên quan chấp thuận Nếu kết quả giải quyết tranh chấp không được thi hành nghiêm túc, bên có quyền lợi
bị vi phạm có thể áp dụng những biện pháp trả đũa Việt thiết lập toà án quốc tế này đã nâng cao hiệu quả của hệ thống thương mại đa phương Bằng việc đưa những luật lệ chung vào thế giới thương mại
T h ứ ba, hoạt động của WTO hoàn toàn dựa trên những nguyên tắc chung
chứ khổng phải là sức mạnh, cho nên đã thật sự làm giảm bớt một số bất bình đẳng, giúp cho các nước nhỏ có nhiều tiếng nói hơn và đồng thời cũng giải thoát cho các nước lớn khỏi sự phức tạp trong việc thoả thuận các hiệp định thương mại đối với vô số đối tác thương mại của họ Thêm vào đó, các nước nhỏ có thể hoạt động hiệu quả hơn nếu họ tận dụng những cơ hội để thành lập các liên minh
và góp sức chung các nguồn lực Việc gia nhập WTO giúp Việt Nam có được tiếng nói bình đẳng hơn và giảm bớt nhiều những chi phí nguồn lực cho việc đàm phán song phương với các nước đối tác
T h ứ tư, gia nhập WTO giúp chúng ta nâng cao chất lượng cuộc sống,
mang lại nhiều sự lựa chọn hàng hoá cho người tiêu dùng, cũng như tiết kiệm được cho họ nhiêu nguồn lực và chi phí Nếu huỷ bỏ các thuế quan, các nhà kinh
tế dự tính rằng thế giới có thể được thêm khoảng 23 tỷ USD một năm, trong đó
có khoảng 8 tỷ USD cho các nước đang phát triển WTO cũng đem đến cho người tiêu dùng nhiều sự lựa chọn hơn theo đó là phạm vi đối tác, chất lượng số lượng hàng hoá để lựa chọn cũng rộng hơn Chất lượng của hàng sản xuất nội địa
có thể nâng lên do chính sự cạnh tranh từ hàng nhập khẩu Hơn nữa, hàng nhập khẩu còn được sử dụng làm nguyên liệu, linh kiện và thiết bị cho sản xuất trong
Trang 11nước dẫn tới mở rộng phạm vi của các thành phẩm và dịch vụ do các nhà sản
xuất trong nước làm
T h ứ năm, Việc gia nhập WTO sẽ buộc chính phủ hoạt động có hiệu quả
và thận trọng hơn khi ra các quyết sách về kinh tế Việt Nam phải cam kết áp
dụng và giám sát hệ thống luật của mình theo các nguyên tắc quốc tế: Minh
bạch, hợp lý, công bằng và đổng bộ Gia nhập WTO Việt Nam phải tăng cường
thực hiện cải cách kinh tế vĩ mô (trong chính sách tài chính và tiền tệ) để sao cho
đáp ứng được những yêu cầu của quá trình tự do hoá thương mại, vừa có thể
tranh thủ được tối đa những lợi ích mà nó mang lại Đổng thòi, Việt Nam phải
cho phép và thực sự khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân phát triển nhằm tạo ra
những lực lượng kinh tế mạnh có khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế Đối
với các nhà doanh nghiệp và đầu tư, cơ hội này được đồng nghĩa với sự ổn định
cao hơn và rõ ràng hơn về các điều kiện thương mại, các chính sách của Nhà
nước
Tác động tích cực của toàn cầu hoá có ảnh hưởng rất lớn đến lao động -
việc làm của Việt Nam:
- Luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước ta tăng Từ năm 1987 khi Quốc hội lần đầu tiên thông qua Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài, đặc biệt
những năm sau đó, khi bình thường hoá quan hệ kinh tế với nhiều nước và tổ
chức tài chính quốc tế, luồng vốn FDI vào Việt Nam ngày càng tăng nhiều hơn,
góp phần giải quyết nhiều việc làm ở nước ta, Các nhà đầu tư nước ngoài đã
thành lập các doanh nghiệp sản xuất, trong đó các doanh nghiệp trong khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế mở đã tạo thêm nhiều ngành nghề mới, thu hút
và giải quyết nhiều lao động “Tính đến cuối tháng 10/2006, cả nước có 6.761 dự
án còn hiệu lực với tổng số vốn đầu tư đãng ký 57,3 tỷ USD, vốn thực hiện (của các dự án còn hoạt động) đạt 28,5 tỷ USD Các doanh nghiệp FDI đã trực tiếp tạo việc làm cho trên 1,1 triệu lao động và gián tiếp tạo việc làm cho hàng triệu lao động khác Sô' lao động này chủ yếu làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất và đa số là lao động từ nông thôn Điều này đã góp phần thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu lao động, xoá đói giảm nghèo của Việt Nam Trong số những lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp FDI có tới 75,72% tập trung
Trang 12ở các khu công nghiệp vùng Đông nam bộ, trong đó gần 23% làm việc tại Đổng Nai, trên 13% tại TP Hồ Chí Minh, khoảng 9% tại Bình Dưcmg” 2
- Việt Nam gia nhập WTO với những cam kết thực hiện các luật lệ liên quan đến thương mại và đầu tư của tổ chức này sẽ làm tăng lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư của ta Các doanh nghiệp có nhiều điều kiện phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu ngành nghề, phục vụ xuất khẩu thông qua mở rộng thị trường quốc tế, nhờ đó giải quyết được nhiều việc làm cho người lao động Sẽ có nhiều dự án đầu tư có qui mô lớn của nước ngoài vào Việt Nam với trang thiết bị công nghệ hiện đại và một đội ngũ lao động quốc tế có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, qua đó giúp cho người lao động có nhiều cơ hội tiếp cận với phương thức quản lý hiện đại, thông tin thị trường và công nghệ tiên tiến Cơ hội có việc làm đến với người Việt Nam ở nhiều lĩnh vực mới như: khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, khu vực dịch vụ, khu vực doanh nghiệp vừa
và nhỏ nhưng cạnh tranh sẽ quyết liệt hơn và có khả năng giảm cơ hội việc làm
ở những ngành được sự bảo hộ của Nhà nước và ở khu vực doanh nghiệp Nhà nước Khu vực nông nghiệp cũng chịu sự tác động cạnh tranh về chất lượng sản phẩm và việc đô thị hoá, công nghiệp hoá nông thôn sẽ làm cho một bộ phận nông dân mất đất giảm cơ hội việc làm v ề tổng thể, người lao động sẽ có nhiều
cơ hội việc làm hơn với chất lượng cao hơn và có thể có một bộ phận lao động sẽ
bị mất việc làm
- Hội nhập làm thay đổi tư duy và hành động của Việt Nam trong hoạt động xuất khẩu lao động Trước đây “hợp tác lao động” với các nước xã hội chủ nghĩa được nhìn nhận và thay bằng cụm từ “xuất khẩu lao động” đã làm cho chúng ta hiểu rõ cơ chế thị trường trong đó có hoạt động xuất khấu Xuất khẩu lao động trước hết, cần phải hiểu và xuất khẩu kiến thức, văn hoá, sức lực, sức lao động của người lao động đi làm việc ở nước ngoài Chính lực lượng xuất khẩu lao động này hàng năm mang về cho đất nước trên 1,6 tỷ ƯSD/năm (theo con sỏ' chính thức) đã góp phần nâng cao thu nhập đời sống cho gia đình họ Số tiền này không chỉ góp phần tăng GDP cho Việt Nam, mà một lượng tiền được gửi về đã được đầu tư sản xuất thu hút được nhiều lao động ở cả địa bàn nồng
2 Nguồn: Báo cáo cùa Bộ kè hoạch và đầu tư năm 2006.
Trang 13thôn và thành thị Tuy nhiên, trước yêu cầu hội nhập và cạnh tranh gay gắt với các nước, lĩnh vực xuất khẩu lao động của Việt Nam vẫn còn gặp nhiều thách thức Điều đáng nói là, lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài vẫn chủ yếu
là lao động giản đơn hoặc có tay nghề thấp, lại phải cạnh tranh với một số nước
có nguồn lao động tương tự nên tiền lương và thu nhập còn thấp Chất lượng lao động khi ra nước ngoài làm việc còn thấp là một trong những nguy cơ tiềm ẩn về khả năng mất thị trường và giảm khả năng cạnh tranh của lao động Việt Nam so với các nước trong khu vực Ngoài ra, một điều đáng ỉo ngại nữa đối với lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc là tình trạng phá vỡ hợp đồng vẫn còn diễn ra nhưng chưa có giải pháp hữu hiệu để giải quyết
Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế cũng góp phần làm cho thị trường hoạt động tích cực hơn, thúc đẩy tính vươn lên của người lao động, nâng cao tính cạnh tranh của các loại hình doanh nghiệp của các thành phần kinh tế Đặc biệt làm cho bản thân người lao động “thấy mình” rõ hơn, nếu không tự rèn luyện, trước hết về thể chất và năng ỉực sẽ bị đào thải Điều đó thể hiện trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Ngày nay nhiều sản phẩm đã mang hàm lượng trí tuệ rất cao, người lao động khổng thể làm được nếu không được đào tạo bài bản và công phu Như vậy có thể nói chính toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế đã tạo ra động lực, yêu cầu và cũng đòi hỏi những thách thức cho người lao động trong quá trình sản xuất
2 Thị trường lao động Việt Nam trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Gia nhập WTO, liệu thị trường lao động Việt Nam có đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của quá trình tự do hoá thương mại hay không? Có thể thấy bức tranh toàn cảnh về thị trường lao động Việt Nam qua một sô' đặc điểm sau:
Đặc điểm thứ nhất: Thị trường lao động Việt Nam đang ở trong giai đoạn
mất cân đối cung cẩu, nhìn chung cung lớn hơn cầu cả về qui mô và cơ cấu.
Hiện tại, số lao động chưa có việc làm ở nước ta rất lớn Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị năm 2005 là 5,13%, tý lệ thời gian lao động được sứ dụng ở khu vực nông thôn là 79,34% \ Lực lượng lao động phân bố không đồng đều vẫn tập
’ Ban chỉ đạo điểu tra Lao dỏng - việc làm Trung ương (2005), Báo cáo kết q u ả điều tra lao dộng - viéc làm linh
Trang 14trung chủ yếu ở nông thôn Năm 2005, lực lượng lao động từ đủ 15 tuổi trở lên của cả nước là 44.385 nghìn người, trong đó khu vực thành thị có 10.549,3 nghìn người, chiếm 24,4%; nông thôn có 32.706 nghìn người chiếm 75,6% lực lượng lao động toàn quốc 4 Tình trạng thiếu việc làm ngày càng tăng ở khu vực nông thôn do việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp phục vụ cho quá trình đô thị hoá và phát triển các khu công nghiệp tập trung, trong khi đó người lao động sống ở những vùng này chưa kịp được đào tạo để chuyển đổi nghề và tạo việc làm khác, đã dẫn đến thiếu việc làm Tốc độ đô thị hoá nhanh ở khu vực thành thị, cùng với sự chênh lệch lớn về thu nhập giữa thành thị và nông thôn cũng tạo ra một sự di chuyển lao động tự do từ nông thôn ra các đô thị, chủ yếu làm việc ở những khu vực phi chính thức, gây ra rất nhiều vấn đề nhức nhối như:
ăn, ở, đi lại, sinh hoạt, tệ nạn xã hội, sức khoẻ người lao động và bản thân họ cũng rơi vào tình trạng yếu thế, luôn chịu thiệt thòi
Lực lượng lao động ở nước ta tăng nhanh về số lượng lao động nhưng chất lượng còn hạn chế Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ tuy nhiều nhưng còn yếu về trình độ, bất cập về cơ cấu Bên cạnh đó, cơ cấu đào tạo lao động vẫn đang trong quĩ đạo mất cân đối nghiêm trọng, chưa chuyển kịp với nền kinh tế thị trường Tình trạng “thầy” nhiều hcm “thợ” , sô' lao động có trình độ bậc cao còn quá ít, đào tạo không gắn với nhu cầu của thị trường là một trong các nguyên nhân cơ bản làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp, đặc biệt là lực lượng lao động trẻ.Tinh trạng cơ cấu bất hợp lý còn thể hiện ở chỗ số người có trình độ chuyên môn kỹ thuật phân bố không đều giữa các vùng, các ngành và khu vực Những người có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thường tập trung ở các đô thị lớn, khu công nghiệp còn vùng nông thôn, nhất là miền núi, hải đảo, các ngành nông, lâm, ngư nghiệp thì lại rất thiếu Sự thiếu hụt cả vể số lượng và chất lượng của đội ngũ lao động trí thức đang ỉà một thách thức đối với sự phát triển đất nước.Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng này là sự bất hợp lý
về cơ cấu đào tạo ngành nghề Theo sô' liệu của Bộ giáo dục và Đào tạo công bố ngày 15/11/1999 tính riêng trong số 103.519 sinh viên công lập, tỷ lệ của các khối chuyên ngành như sau: khối sư phạm: 39,24%, khối kỹ thuật: 17,36%; khối
4 N guyền T rọng Phu (2005), "Kết q uá đicu tra Lao động-V iệc làm 1/7/2004 ", T hông tin thị trường lao động (10)
Tr.4.
Trang 15kinh tế: 13,07%; khối khoa học cơ bản: 7,07%; khối nông nghiệp: 5,05%; khối y dược: 2,03%; khối Luật: 1,98%; khối quốc phòng, công an: 1,12%; khối thể dục thể thao: 1,4%; khối nghệ thuật: 1,6%; còn lại là các khối khác Từ những số liệu trên đây cho thấy: tỷ lệ sinh viên học nông nghiệp (kể cả lâm nghiệp và nghề cá) chỉ chiếm 5,05% tổng số sinh viên công lập, tỷ lệ này quá thấp so với yêu cầu của một nước mà nền nông nghiệp là chủ yếu như nước ta Tuy nhiên, trong thực
tế tỷ lệ lao động đã qua đào tạo không tìm được việc làm hoặc làm việc trái ngành, trái nghề rất lớn Hơn nữa, thực tế không phải tất cả lao động có trình độ đều đáp ứng yêu cầu của công việc Do vậy, hiện nay mặc dù cung lớn hơn cầu, nhưng số lao động kỹ thuật, thợ lành nghề và lao động quản lý vẫn rất thiếu Trong khi nhiều doanh nghiệp, nhất là các khu công nghiệp ở nông thôn nước ta đang rất cần số lao động có kỹ năng tay nghề và trình độ chuyên môn kỹ thuật thì cũng có không ít lao động đã qua đào tạo ở trình độ trung học chuyên nghiệp
và cao đẳng, đại học trong tình trạng thất nghiệp Nhiều ngành nghề mới xuất hiện, đòi hỏi trình độ kỹ thuật và công nghệ cao (lập trình viên, mỹ thuật công nghiệp, thợ lắp ráp và vận hành máy móc hiện đại, thợ chế biến lương thực, thực phẩm ) nhưng đào tạo không theo kịp Ngược lại, có một số ngành chỗ làm việc ít, nhưng lại đào tạo quá đông, nhiều người đăng ký xin việc, song không được tiếp nhận dẫn đến sự căng thẳng trong thị trường lao động (hiện tượng này thể hiện rất rõ trong các hội chợ việc làm vừa qua) Điều này cho thấy có một bộ phận không nhỏ lực lượng lao động sẽ không thể tìm được việc làm, phải chịu thất nghiệp, thiếu việc làm
Theo kết quả “Điều tra lao động việc làm” của Bộ Lao động Thương binh và
Xã hội tính đến 01/07/2005, trong tổng số 42,7 triệu người của lực lượng lao động chỉ có 24,8% có trình độ chuyên môn kỹ thuật tính từ sơ cấp/chứng chỉ chưa đạt chỉ tiêu của một nước công nghiệp ở trình độ thấp Trong đó, tỷ lệ đã qua đào tạo nghề bao gồm: đào tạo nghề ngắn hạn và dài hạn không phân biệt có hay không có chứng chỉ hoặc bằng nghề và tốt nghiệp sơ cấp là 16,3%; trung học chuyên nghiệp là 4,4% và tốt nghiệp cao đẳng, đại học trở lên là 4,16% Chính vì vậy, khi gia nhập WTO, thị trường lao động Việt Nam sẽ thiếu hụt trầm trọng lao động có trình độ và kỹ năng cao Do đó, lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực nói
Trang 16chung, dạy nghề nói riêng phải được đổi mới một cách toàn diện cả về nội dung, chương trình, phương pháp và cơ cấu đào tạo nhằm đáp ứng yêu cẩu của thị tnrờng lao động.
Nhìn chung, cầu về lao động trên thị trường lao động nước ta còn hạn chế, sức hút của cầu còn thấp hơn cung rất nhiều Thi trường lao động nước ta thể hiện rõ nét trạng thái mất cân bằng và cơ cấu lạc hậu Thực tế hiện nay nơi có khả năng giải quyết việc làm nhiều nhất là khu vực kinh tế ngoài Nhà nước
Đại bộ phận cung nằm trong khu vực nông nghiệp nhưng nông nghiệp lại đứng trước trạng thái thiếu việc làm, năng suất thấp Tình trạng đó gây lãng phí các nguồn nhân lực, kể cả nguồn nhân lực đã có học vấn Sự mất cân bằng nghiêm trọng giữa cung và cầu của thị trường lao động làm nảy sinh nhiều vấn
đề kinh tế xã hội, tạo lực cản cho quá trình phát triển kinh tế
Đặc điểm thứ hai: Thị trường ỉao động Việt Nam mang tính tự phát cao, phân tán và chia cắt, mối quan hệ cung-cầu đang còn lỏng lẻo.
Hiện nay, do tác động của thị trường cùng với những qui định nhằm đảm bảo quyền tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc cũng như quyền tự do thuê mướn, sử dụng lao động của công dân đã tạo nên sự di chuyển các dòng lao động trên thị trường lao động nước ta tương đối thuận tiện, dễ dàng Sự vận động này là cần thiết cho thị trường lao động và bước đầu đã hướng theo các qui luật của thị trường, góp phần điều chỉnh cung cầu từ nơi thừa đến nơi thiếu, làm giảm sức ép việc làm trong cả nước Do tác động của các yếu tố, như điều kiện sống, khả năng tìm việc, mức tiền công và khả năng phát triển tương lai đ ã tạo ra các dòng di chuyển lao động từ nông thôn ra thành phố, từ miền ngược xuống miền xuôi, từ miền Bắc vào miền Nam, từ khu vực kinh tế quốc doanh sang các thành phần kinh tế khác (chủ yếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) và tham gia thị trường lao động quốc tế thông qua xuất khẩu lao độ n g .Bên cạnh đó, tính linh hoạt của thị trường lao động ợ nước ta còn thấp, thể hiện qua khả năng dịch chuyển lao động còn rất kém, chủ yếu do các thể chế pháp luật liên quan đến thị trường lao động (như chính sách về hộ khẩu, bảo hiểm, tuyển dụng, sa thải trả lương ) còn cứng nhắc, chưa phù hợp với tình hình mới Ngoài ra, người lao động vẫn còn có tư tưởng muốn bám vào Nhà nước và chưa có đủ năng lực và
Trang 17trình độ, cũng như thiếu sự tự tin cần thiết, để cạnh tranh trên thị trường lao động trong nước và quốc tế.
Là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, tốc độ di chuyển lao động Việt Nam sẽ tăng nhanh Bên cạnh việc giúp cho người lao động có thể tìm kiếm việc làm nhanh hơn và nâng cao thu nhập, nhưng mặt trái của nó là hiện tượng”chảy máu chất xám” Đây là một thực tế khách quan, bởi các nước phát triển với các chế độ, chính sách ưu đãi, đặc biệt là chế độ trả công lao động cao
sẽ tạo ra sức thu hút đối với lao động có trình độ, chuyên môn cao
Sự di chuyển lao động trên đây đã tạo cho thị trường lao động ở nước ta đang
có sự phân mảng lớn Đó là sự phân mảng giữa lao động ở thành thị với lao động
ở nông thôn; giữa lao động chính thức và lao động phi chính thức; giữa lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước với lao động trong khu vực dân doanh; giữa lao động hiện đại với lao động truyền thống; kể cả sự phân mảng thị trường lao động giữa các bộ, ngành khác nhau Sự chênh lệch giữa thị trường lao động thành thị với thị trường lao động ở nông thôn được thể hiện khá rõ nét Nếu so với người lao động ở nông thôn, lao động ở thành thị được hưởng nhiều phúc lợi
xã hội hơn Con cái của người lao động sống ở thành thị có nhiều điều kiện về giáo dục, đào tạo và do vậy có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm hơn Trong khi đó lao động ở nông thôn hầu như không được hưởng (hoặc hưởng rất ít một số dạng phúc lợi xã hội như : nhà ở, dịch vụ y t ế Lao động ở nông thôn thường có thu nhập thấp và không ổn định, ít có cơ hội được tiếp xúc với các tiến bộ khoa học công nghệ nên cơ may tìm kiếm việc làm của họ là rất khó khăn
Vì vậy khoảng gần 60% lực lượng này sống ở thành thị và phần lớn họ có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, an sinh xã hội cũng như các điều kiện lao động tốt hơn nhiều so với khu vực thị trường không chính thức Trong thị trường phi chính thức các quan hệ lao động không bị điều chỉnh bởi luật Lao động mà tuân theo các yếu tố nội tại của thị trường Trong thị trường này, sự di chuyển của lao động tự do hơn, các mối quan
hệ lao động có tính chất tạm thời và ngắn hạn 5 Lao động trong thị trường phi chính thức thường bao gồm các hộ gia đình ở nông thôn, các doanh nghiệp nhỏ
' N guyẻn Thị Lan Hương (2002), Tlỉị Irưởng lao động V iệt N a m định hướng và p h á t triển, NXB Lao dông-X ă
Trang 18và rất nhỏ (dưới 10 lao động), những người kinh doanh cá thể ở thành thị Họ tìm kiếm thu nhập từ các hoạt động dịch vụ, lao động có tính chất phường hội hoặc lao động trong các hộ gia đình Những người làm việc trong thị trường lao động phi chính thức thường thu nhập bấp bênh, không có bảo hiểm xã hội Tuy nhiên, đây vẫn là loại thị trường năng động nhất của thị trường lao động Việt Nam và hiện tại đang tạo ra nhiều việc làm cho xã hội.
Sự phân mảng thị trường lao động ở nước ta đã làm cho tình hình thất nghiệp rất khó kiểm soát, Hiện nay, thị trường lao động Việt Nam đang phải đối mặt với các dạng thất nghiệp như: thất nghiệp do chuyển đổi cơ cấu, thất nghiệp tự nguyện, thất nghiệp tạm thời Thực trạng trên đây cũng đặt ra nhiều vấn đề cần được nghiên cứu, chọn lựa trong việc xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam sao cho phù hợp
Đặc điểm thứ ba: Thị trường lao động Việt Nam là một thị trường dang được
hình thành và chuyển đổi mạnh
Trước đây, trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, lao động được sắp xếp làm việc theo chỉ tiêu hành chính, với chế độ biên chế suốt đời và trả công lao động theo kiểu bình quân chủ nghĩa Trong khu vực kinh tế chính thức, khái niệm “việc làm đầy đủ” bao trùm và thất nghiệp cũng không được đề cập v ề mặt nhận thức, lao động không được coi là thứ hàng hoá đặc biệt và do vậy không được “mua” , “bán” trên thị trường Tính cơ động, cường độ di chuyển yếu
Trang 19định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, trong đó việc tiếp tục hoàn thiện, phát triển thị trường lao động đã được coi là một trong những định hướng cơ bản của kế hoạch 5 năm 2006-2010 và là một trong những khâu cơ bản để hình thành đồng bộ các yếu tố thị trường “Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, tạo môi trường thông suốt để phát triển thị trường lao động, gắn kết cung cầu lao động Đa dạng hoá các hình thức giao dịch việc làm, bảo đảm quyền của người lao động lựa chọn chỗ làm việc Thực hiện rộng rãi chế độ hợp đổng lao động bảo đảm quyền lợi hợp pháp đổng lao động của cả người lao động và người sử dụng lao động; thực hiện chế độ bảo hiểm và trợ cấp thất nghiệp Tâng cường hệ thống thông tin, thống kê thị trường lao động Đẩy mạnh xuất khẩu lao động và tăng cường quản
lý nhà nước đối với hoạt động này” 6
Bộ luật Lao động được ban hành đã tạo ra một hành lang pháp lý cho thị trường lao động nước ta hoạt động, thông qua việc công nhận quyền tự do mua, bán sức lao động trên thị trường Điểu 16 Bộ luật Lao động đã ghi rõ: “Người lao động có quyển làm việc cho bất kỳ người sử đụng lao động nào và ở bất kỳ chỗ nào mà pháp luật không cấm” và “Người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức dịch vụ việc làm để tuyển chọn lao động, có quyền tăng giảm lao động phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh theo qui định của pháp luật” Như vậy, quyền tự do tìm việc làm và quyền lựa chọn người làm việc cho mình là hai yếu tố cơ bản tạo ra quan hệ cung cầu trên thị trường lao động Thực tế cho thấy, thể lực và ý thức kỷ luật của người lao động Việt Nam vẫn còn thấp nên các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thường e ngại khi tuyển chọn lao động dù rằng họ vẫn công nhận rằng công nhân Việt Nam giỏi về tay nghề
Bên cạnh đó, hội nhập kinh tế thế giới sẽ kéo theo cầu về lao động qua đào tạo luôn tăng nhanh hơn mức cung, điều này dẫn đến giá cả đối với lao động có tay nghề hoặc chuyên môn tăng nhanh hơn Và, khoảng cách chênh lệch về tiền lương hoặc tiền công giữa hai loại lao động này là khá lớn, phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ rệt
Sự ra đời của hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm là cầu nối giữa người lao động và người sử dụng lao động Các trung tâm này đang chiếm giữ vai trò ngày
6 Đáng cộng sán Việt Nam (2006), Ván kiện Đ ại hội đại biểu toàn quốc lán th ứ X NXB C h ín h trị quốc gia H à
Trang 20càng quan trọng trong việc tổ chức thực hiện các giao dịch trên thị trường lao động Vì đang trong quá trình hình thành nên thị trường lao động ở nước ta còn chưa đồng bộ Có thể nói là quá trình trao đổi hàng hoá sức lao động ở nước ta còn mang tính chất ngẫu nhiên, phiến diện và không ổn định Tính ngẫu nhiên thể hiện ở chỗ: hệ thống dịch vụ việc làm kém phát triển nên người cần bán sức lao động và người cần mua không gặp nhau Từ tính ngẫu nhiên và không nhất quán như vậy, nên giá cả hàng hoá sức lao động cũng dao động với những khoảng cách rất lớn, làm cho việc trao đổi nhiều khi không ngang giá.
Lực lượng lao động ở nước ta trong những năm gần đây đã liên tục tăng với tốc độ cao, tính trung bình mỗi năm lực lượng lao động tăng thêm 1,2 triệu người7, một mặt tạo nguồn lực lớn cho phát triển đất nước nhưng cũng tạo ra áp lực lớn về đào tạo nghề và giải quyết việc làm Ngoài ra, quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm
tỷ lệ lao động trong khu vực nông - lâm - ngư nghiệp, nếu như năm 1996, tỷ lệ lao động có việc làm trong khu vực nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tương ứng là 69,8%; 10,55% và 19,65% tỷ lệ này năm 2005 là 56,8%; 17,9% và 25,3% 8 Đây là thách thức không nhỏ trong việc huy động nguồn lực giải quyết các vấn để lao động và việc làm Thách thức này cũng trở nên gay gắt hơn khi chúng ta thực hiện tiến trình hội nhập với khu vực và thế giới Chính vì vậy, tình trạng thiếu việc làm và dư thừa lao động càng trở nên bức
xúc Hiện tại, lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp còn chiếm khoảng
60% tổng s ố lao động làm việc trong các ngành kinh t ể quốc dân của cả nước
Trong công nghiệp và xây dựng, chiếm gần 17%, dịch vụ chiếm trên 23% 9 Con
số trên đây cho thấy: cơ cấu lao động chắc chắn sẽ thay đổi theo hướng lao động trong nông nghiệp ngày càng giảm, lao động trong ngành dịch vụ và công nghiệp ngày càng tăng Tỷ lệ người lao động làm công ăn lương tăng cao Theo kết quả điểu tra mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê năm 2005 tính chung cả nước
7 Đ áng cộng sán V iệt Nam (2006), Vãn kiện D ại hội đại biểu toàn quốc làn th ứ X , NXB C hính trị quốc gia Hà
Nội, T r.243, Tr.244.
* Trần Hữu Hoàn (2000), "H oàn thiện thê chẻ'thị trường lao dộng V iệt N a m trong những năm gán d ã y " T hóng
lin thị trường lao động (3), Tr I
° Đinh T rọng Tháng (2003), "Vai irò cùa tliị trường lao động trong s ự nghiệp p h á i triển nguồn nhún lực ở Việt
N am liiện n ay" Thõng tin thị trường lao động ( I ), T r.l 3.
17
Đ AI HO C Q U Ố C G IA HÀ NÔI
TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIÊN
Trang 21có 11.106,6 nghìn người làm công ăn lương chiếm 25,6% và 32.350 nghìn người không làm công ăn lương chiếm 74,4% trong tổng số lao động đang làm việc Thị trường lao động phát triển không đồng đều, tập trung chủ yếu ở khu vực phía Nam, vùng có tỷ lệ ỉao động làm công ăn lương lớn nhất ở Đông Nam Bộ (44%), Duyên hải Nam Trung bộ (27,9%), Đổng bằng sông Cửu Long (26,7%) và thấp nhất là Tây Bắc (9,2%).
Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị có
xu hướng giảm dần qua các năm, từ 6,13% năm 2001 xuống còn 5,35% năm
2005, song vẫn cao so với khu vực nông thôn ‘° Đây là thách thức đối với sự phát triển kinh tế nói chung, cũng như phát triển nguồn nhân lực nói riêng ở nước ta
Thị trường lao động nước ta đang hình thành và phát triển, đây là cơ hội để người lao động tìm kiếm việc làm và thu nhập Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc
tế thì sự khắt khe của thị trường này rất lớn Nếu người lao động không tự đào tạo, nâng cao trình độ tay nghề, kỷ luật lao động, đạo đức nghề nghiệp thì người lao động khó có thể tự khẳng định mình trong thị trường lao động Trong thị trường lao động tìm được việc làm phù hợp đã khó nhưng giữ được chỗ làm việc càng khó hơn Việc hoàn thiện cơ chế thị trường, đổi mới công cụ quản lý Nhà nước trong lĩnh vực lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho các yếu tố của thị trường lao động phát triển là một vấn đề lớn, phức tạp đòi hỏi phải sớm hoàn thiện đồng bộ các chế độ, chính sách về lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp thôi việc, thất nghiệp tạo môi trường pháp lý bình đẳng, công bằng đối với người lao động cũng như người sử dụng lao động khi tham gia các hoạt động lao động
Qua phân rích một sô' đặc điểm của thị trường lao động Việt Nam chúng ta
có th ể đưa ra một sô' nhận xét sau:
Thị trường lao động nước ta vẫn đang trong quá trình hình thành và phát triển Chất lượng lao động còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế Tinh trạng thừa-thiếu lao động giả tạo đã và đang nổi lên như một vấn đề
Lẻ Duy Đ ổng (2006, ■T h ự c trạng thị trường lao đ ộ n g ở V iệ i N am và phương hướng p h á t triền giai đoạn 2 0 0 Ị-
Trang 22bức xúc đòi hỏi cần phải được tập trung giải quyết Lao động dôi dư trong các doanh nghiệp thuộc một vài thành phần kinh tế đang là bài toán nan giải Hơn nữa, phân bố lao động còn nhiều bất cập, không đồng đều, gây bất lợi cho khu vực nông thôn, các vùng kém phát triển.
Thị trường lao động Việt Nam có một đặc trưng nổi bật là sự mất cân đối nghiêm trọng giữa cung và cầu về lao động, việc làm, cả về tổng thể và cơ cấu
Sự mất cân đối này gây ra tình trạng thất nghiệp cao ở thành thị và thiếu việc làm
ở nông thôn Do đó, người lao động thường ở thế rất yếu khi tham gia thị trường lao động
Thị trường lao động bị chia cắt do yếu tố hạ tầng cơ sở chậm phát triển cũng như các chính sách thị trường chưa đồng bộ và kém hiệu quả Đây là nguyên nhân tạo ra các mảng thị trường lao động khác nhau như: thị trường lao động chính thức; phi chính thức; thị trường thành thị-nông thôn; thị trường khu vực Nhà nước-ngoài Nhà nước dẫn đến khó nắm bắt cung cầu lao động một cách khái quát Hiện tượng phân mảng thị trường nói trên đang là yếu tố cản trở tính linh hoạt của thị trường lao động Các mảng thị trường này tương đối độc lập với nhau gây ra hậu quả là các nhóm dân cư thường bị bó buộc vào làm việc ở trong một các mảng thị trường đó Người ngoại tỉnh khó tìm được công việc vừa ý tại các khu vực đô thị, nếu không nói là họ thường phải trả những giá rất đắt để có được một công việc rẻ mạt ở thành phố Người làm các công việc ở thị trường lao động phi chính thức khó thâm nhập vào thị trường chính thức, nhất là khu vực kinh tế Nhà nước
Gia nhập WTO là tranh thủ lợi thế, những cơ hội để đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm đạt mức tăng trưởng GDP cao và tăng nhu cầu sử dụng lao động Tự do hoá thương mại sẽ làm tăng qui mô, năng lực sản xuất kinh doanh, do vậy tạo ra nhiều việc làm hơn, nhu cầu sử dụng lao động tăng, đời sống người lao động nói riêng và cộng đồng nói chung được cải thiện rõ rệt Tuy nhiên, toàn cầu hoá và hội nhập luôn mang hai mặt của cuộc sống Nó có tác động sâu rộng đến sự tãng trưởng và phát triển của nền kinh tế nưóc ta, trong đó
có thị trường lao động Do đó, cần phải nhận thức được cả hai mặt đó để có chiến lược thích hợp đối phó với những thách thức và tận dụng cơ hội nhằm hạn chế
Trang 23đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực đến thị trường lao động trong nước Chính vì thế, hoàn thiện môi trường pháp lý cho sự hình thành, phát triển lành mạnh thị trường lao động theo hướng đa dạng hoá các hình thực tìm việc làm, giới thiệu việc làm và tuyển chọn lao động, khuyến khích mở rộng thị trường lao động có hàm lượng chất xám cao, bảo đảm quyển và lợi ích hợp hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động.
3 Quan hệ giữa Việt Nam với tổ chức Iaơ động quốc tế (ILO)- xu thế của hội nhập
T ổ chức lao động quốc t ế — gọi tắt tiếng Anh là ILO (International Labour
O rganization), theo tiếng Pháp là OIT (Organisation Internationale du Travail)
là tổ chức quốc tế liên chính phủ thành lập vào năm 1919 theo quyết định của Hội nghị hoà bình Pari Tháng 4/1919 phiên họp toàn thể của Hội nghị hoà bình Pari đã thông qua điều lệ ILO, trong đó xác định rõ những nguyên tắc cơ bản về
tổ chức và hoạt động của ILO như: tôn chỉ, mục đích, cơ cấu, tổ chức, hoạt động Cũng tại hội nghị này đã thông qua Hiến chương lao động Tháng 4/1944 tại kỳ họp thứ 26, Hội nghị toàn thể ILO tại Phi-la-đen-phia (Mỹ) đã thông qua một bản tuyên ngôn (gọi là Tuyên ngôn Phi-la-đen-phia) Tuyên ngôn này được coi là phụ lục bổ sung cho điều lệ ILO, trong đó đã cụ thể hoá thêm mục đích, nhiệm vụ của ILO và nghĩa vụ của các nước thành viên Điều lệ năm 1919 và Tuyên ngôn Phi-la-đen-phia 1944 đã khẳng định lĩnh vực hoạt động của ILO là rất đa dạng và phong phú Từ 43 nước thành viên đầu tiên đến nay số thành viên của ILO là 181 nước (tính đến hết tháng 6/2007) ILO tuy là một cơ quan liên chính phủ nhưng thành phần của các nước tham gia gồm ba bên: đại điện Chính phủ, đại diện giới lao động, đại diện giới sử dụng lao động
Chức năng cơ bản của ILO là ra các nghị quyết dưới hình thức là công ước và khuyến nghị về các vấn đề lao động Chỉ những nước thành viên ILO phê chuẩn công ước mới chịu sự ràng buộc về nghĩa vụ pháp lý, nghĩa là khi đã có hiệu lực thì nước đã phê chuẩn phải áp dụng nội dung của công ước trong pháp luật và thực tiễn của nước mình Nếu những quy định nào của pháp luật quốc gia không phù hợp với nội dung công ước thì phải sửa đổi, bổ sung, trừ những quy định nào
có lợi hơn cho người lao động trong pháp luật quốc gia so với công ước
Trang 24Về khuyến nghị, khi một vấn đề thấy chưa thể thông qua dưới hình thức công ước thì được thông qua dưới hình thức khuyến nghị, v ề nội dung, khuyến nghị thường cụ thể hơn công ước; về pháp lý thì khuyến nghị không đòi hỏi có sự phê chuẩn của các nước thành viên mà chỉ những quy phạm có tính chất mẫu Điều
lệ ILO cũng quy định một thể chế kiểm tra việc áp dụng các công ước và khuyên nghị đối với các nước thành viên, đặc biệt là sự kiểm tra của các tiểu ban chuyên môn của ILO trong việc thực hiện các công ước đã phê chuẩn
Quan hệ giữa Việt Nam với T ổ chức lao động quốc tê có thê thấy qua những
giai đoạn sau:
- Năm 1950 chính quyền Bảo Đại đã chính thức gia nhập ILO Sau năm
1954, chính quyền nguỵ Sài Gòn thừa kế tư cách thành viên ILO của chính quyền Bảo Đại cho tới năm 1975
- Năm 1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, chế độ Sài Gòn bị lật đổ nên tư cách thành viên ILO mặc nhiên chấm dứt
- Ngày 26/01/1980 Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam đã làm đơn xin gia nhập ILO và trở thành thành viên chính thức của Tổ chức lao động quốc tế Năm
1983 vì nhiều lý do, Việt Nam đã không tham gia các hoạt động ILO
- Tháng 5/1992 do tình hình có nhiều biến chuyển, Việt Nam đã thông báo việc tiếp tục hoạt động trở lại vào tháng 6/1992, đoàn đại biểu Việt Nam sau nhiều năm đã tham dự Hội nghị toàn thể hàng năm lần thứ 79 tại Giơ-ne-vơ.Nhằm thúc đẩy mối quan hệ hợp tác, Chính phủ Việt Nam và ILO đã ký Hiệp định về việc thành lập Văn phòng ILO tại Việt Nam Văn phòng ILO tại Hà Nội chính thức được thành lập vào ngày 17/02/2003 Mục đích hoạt động của ILO tại Việt Nam là nhằm hỗ trợ và tư vấn về các vấn đề lao động, chủ yếu trong
4 lĩnh vực: Xây dựng năng lực, thể chế; thị trường lao động, việc làm và thu nhập; bảo hiểm xã hội và đối thoại xã hội
- Xây dựng năng lực, thể chế: Hỗ trợ Việt Nam tăng cường khuôn khổ pháp
lý, thể chế; hỗ trợ thành lập và thực hiện các chính sách quốc gia về lao động dựa trên các tiêu chuẩn lao động quốc tế Cụ thể: ILO hỗ trợ Việt Nam
Những công ước của ỉ LO mà Việt Nam phê chuẩn
Trang 25Việc lựa chọn các công ước để phê chuẩn là một công việc phức tạp, lâu dài, hơn nữa chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm nên việc phê chuẩn phải tiên hành một cách thận trọng và từng bước.
Theo đề nghị cảu Chính phủ, Chủ tịch nước đã ra quyết định số 193/QĐ/CTN ngày 30/05/1994; Quyết định số 796/QĐ/CTN ngày 26/08/1997; Quyết định số 169/QĐ/CTN ngày 17/11/2000 và Quyết định số 148/QĐ/CTN ngày 31/01/2007
về việc phê chuẩn 17 công ước của Tổ chức lao động quốc tế, bao gồm các cồng ước sau:
- Công ước số 5: Công ước quy định tuổi tối thiểu của trẻ em được vào làm việc trong các công việc công nghiệp (1919)
- Công ước sô' 6: Công ước về làm việc ban đêm của trẻ em trong công nghiệp (1919),
- Công ước sô' 14: Công ước về áp dụng nghỉ hàng tuần trong các cơ sở công nghiệp (1921)
- Công ước sô' 27: Công ước về ghi trọng lượng trên các kiện hàng lớn chở bằng tàu (1929)
- Công ước số 45: Công ước về sử dụng phụ nữ vào những công việc dưới mặt đất trong hầm mỏ (1935)
- Công ước số 80: Công ước về việc xét lại một phần các công ước đã được thông qua trong kỳ họp đẩu, nhằm thống nhất lại các quy định về việc Hội đồng quản trị văn phòng lao động quốc tế chuẩn bị bản báo cáo về việc áp dụng công
- Công ước số 81: Công ước vể Thanh tra lao động trong công nghiệp và thương mại (1947)
- Công ước số: 116: Công ước về việc xét lại một phần các cổng ước đã được Hội nghị toàn thể của Tổ chức lao động quốc tế thông qua trong 32 kỳ họp đầu nhằm thống nhất lại các quy định về việc Hội đồng quản trị văn phòng lao động quốc tế chuẩn bị bản báo cáo về việc áp dụng công ước
- Công ước sô' 120: Công ước về vệ sinh trong thương mại và văn phòng (1964)
Trang 26- Công ước số 123: Cồng ước về tuổi tối thiểu được làm việc dưới mặt đất trong hẩm mỏ (1965).
- Công ước số 124: Công ước về việc kiểm tra y tế cho thiếu niên làm việc dưới mặt đất trong hầm mỏ (1965)
- Công ước số 155: Công ước về an toàn lao động, vệ sinh lao động và môi trường làm việc (1981)
- Công ước sô' 100: Công ước về trả công bình đảng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau (1951)
- Công ước số 111: Công ước về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp (1958)
- Công ước số 182: Công ước vể nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (2000)
- Công ước số 138: Công ước về tuổi tối thiểu được đi làm việc (1973)
- Công ước số 29: Công ước về lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc (1930).Như vậy, trong hơn 180 công ước của ILo đã thông qua, số lượng công ướcđược Việt Nam phê chuẩn chiếm một tỷ lệ rất khiêm tốn Trong tương lai, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam sẽ nghiên cứu để phê chuẩn tiếp những công ước của ILO có nội dung phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của Việt Nam, hội nhập với thị trường lao động thế giới
Nhằm thúc đẩy mối quan hệ hợp tác, Chính phủ Việt Nam và ILO đã ký Hiệp định về việc thiết lập Văn phòng ILO tại Việt Nam Văn phòng ILO tại Hà Nội chính thức được thành lập vào ngày 17/02/2003 Mục đích hoạt động của ILO tại Việt Nam là nhằm hỗ trợ và tư vấn về lao động, chủ yếu trong 4 lĩnh vực: Xây dựng nãng lực, thể chế; thị trường lao động, việc làm và thu nhập; bảo hiểm
xã hội và đối thoại xã hội
- Xây dựng năng lực, thể chế: Hỗ trợ Việt Nam tăng cường khuôn khổ pháp
lý, thể chế; hỗ trợ thành lập và thực hiện các chính sách quốc gia về lao động dựa trên các tiêu chuẩn lao động quốc tế Cụ thể: ILO hỗ trợ Việt Nam soạn thảo Bộ luật Lao động 1994 và sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động năm 2002; soạn thảo Luật Bảo hiểm thất nghiệp, Luật Bảo hiểm xã hội; phổ biến thông tin về các công ước, khuyến nghị của ILO; tãng cường hệ thống quản lý lao động, thanh tra
Trang 27lao động; tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật về chính sách và đào tạo bình đẳng về giới; thực hiện k ế hoạch hành động quốc gia về phòng chống và xoá bỏ lao động trẻ
- Thị trường lao động, việc làm và thu nhập: Tập trung vào việc hỗ trợ, phát triển chính sách việc làm và chiến lược phát triển phù hợp để có được việc làm
và thu nhập trong bối cảnh Việt Nam chuyển đổi nền kinh tế Cụ thể, ILO hỗ trợ phân tích chính sách và thị trường lao động; tăng cường năng lực thể chế của các trung tâm dịch vụ việc làm; chương trình toàn cầu của ILO về việc làm nhiều và tốt hơn cho phụ nữ; hỗ trợ tổ chức các hội chợ việc làm; hỗ trợ xúc tiến phát triển các doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ; hỗ trợ nghiên cứu, đào tạo, phổ bién thông tin vấn đề về giới
- Bảo hiểm xã hội: Có hai nhóm hoạt động được triển khai trong lĩnh vực này, đó là các hoạt động tăng cường môi trường lao động, an toàn vệ sinh, phòng chống các tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các hoạt động trong hệ thống bảo hiểm xã hội chính thức
- Đối thoại xã hội: Thông qua các hình thức tư vấn, các hoạt động đào tạo, dự
án nhằm nâng cao năng lực của các đối tác xã hội để tham gia vào đối thoại xã hội hai bên, ba bên góp phần đẩy mạnh việc thành lập hệ thống quan hệ lao động lành mạnh ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi kinh tế
- Trong lĩnh vực đình công: Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho rằng, quyền đinh công là một trong những biện pháp thiết yếu để người lao động và các tổ chức đại diện của họ có thể sử dụng để xúc tiến và bảo vệ các lợi ích kinh tế và
xã hội của mình, không chỉ nhằm đạt tới những điều kiện làm việc tốt hơn hoặc
có những yêu cầu tập thể mang tính chất nghề nghiệp, mà còn nhằm tìm ra những giải pháp cho các vấn đề chính sách kinh tế và xã hội và các vấn đề lao động loại nào mà người lao động trực tiếp quan tâm
4 Thách thức đối với pháp luật Lao động Việt Nam trước nhu cầu hội nhập kinh tế thê giới
Khi trở thành thành viên của WTO, Việt Nam phải cam kết thực hiện những tiêu chuẩn quốc tế về sự minh bạch, tính đồng bộ, tính công bằng và tính hợp lý Các luật, quy định và các quyết định của toà án liên quan đến thương mại cần
Trang 28phải được công bố công khai để cho công chúng và thế giới biết trước khi chúng
có hiệu lực Mọi yêu cầu về thông tin, thắc mắc và bình luận đều có thể được giải đáp Tính đồng bộ có nghĩa là các chính quyền địa phương không được đưa
ra những đạo luật riêng không thống nhất với những quy định của WTO, tức là chính quyền địa phương phải tuân thủ các nguyên tắc của WTO Tính công bằng yêu cầu khồng chấp nhận bất cứ sự thiên vị nào trong việc thực hiện luật pháp
Để tuân thủ tính đổng bộ và tính công bằng, các đạo luật cũng phải mang tính chất hợp lý, phù hợp So với những tiêu chuẩn quốc tế đó, thì hệ thống luật pháp của Việt Nam nói chung và pháp luật Lao động nói riêng chưa thực sự được xây dựng dựa trên những yêu cầu của nền kinh tế thị trường Điểu này, có thể thấy rõ không chỉ can thiệp của nhiều yếu tố hành chính trong các qui định của pháp luật, mà cả ở cách tiếp cận của pháp luật lao động đối với những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường cũng như nguyên tắc không phân biệt đối xử, nguyên tắc nền tảng của WTO Do đó, khi gia nhập nền kinh tế thế giới, pháp luật Lao động Việt Nam phải căn cứ vào bản chất, qui luật của thị trường lao động và đáp ứng những yêu cầu nội tại của nó Toàn cầu hoá, đòi hỏi pháp luật Lao động phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản sau đây:
- Tạo môi trường pháp lý cho sự phát triển năng động của thị trường sức lao động
Toàn cầu hoá đặt ra cho nước ta có nhiều cơ hội để phát triển như: mở rộng thị trường giao lưu hàng hoá, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nội địa, tranh thủ vốn đầu tư, khoa học công nghệ từ bên ngoài để nâng cao năng lực trình độ sản xuất đạt mức tăng trưởng cao, góp phần phát triển phúc lợi xã hội, xoá đói giảm nghèo
Nước ta còn là một nước nghèo, kém phát triển, sức canh tranh của hàng hoá trên thị trường còn thấp Trong điều kiện mở cửa giảm thuế, tự do đầu tư phát triển doanh nghiệp và thương mại sẽ tác động lớn đến thị trường lao động và người làm công ãn lương Gia nhập WTO, thị trường lao động Việt Nam sẽ thông thoáng hơn nhưng cũng có nhiều biến động Nguy cơ mất việc làm của người lao động ỉà rất lớn, đặc biệt là bộ phận nhóm người lao động yếu thế trong
Trang 29xã hội: người tàn tật, phụ nữ, trẻ em Những người lao động làm công việc giản đơn khi bị mất việc khó có cơ hội tìm được việc làm mới.
Là thành viên của WTO sẽ giúp Việt Nam đạt được mức tăng trưởng GDP cao và điều này đồng nghĩa với việc hàng hoá của nước ta có mặt trên nhiều thị trường quốc tế, kể cả những thị trường khó tính như Bắc Mỹ, EƯ, Nhật Bản Chính vì thế sẽ tăng cơ hội tạo thêm việc làm ở một số ngành nghề như: dệt may, da giày, xây dựng, nuôi trồng, chế biến thuỷ hải sản Ngoài ra, để xâm nhập vào thị trường đa quốc gia đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước cần mở rộng quy mô hoạt động sẽ làm phát sinh các ngành nghề mới, tăng cơ hội tạo thêm việc ỉàm cho người lao động Cơ hội đến vói thị trường lao động Việt Nam
là rất lớn
Hội nhập kinh tế thế giới sẽ tạo ra sự đi chuyển ỉao động trong nước diễn ra với mức sôi động theo các hướng: từ nông thôn ra đô thị, từ khu vực kinh tế này sang khu vực kinh tế khác, từ miền này sang miền khác và di chuyển lao động quốc tế, xuất khẩu lao động là hướng giải quyết việc làm mang lại hiệu quả kinh
Tham gia vào làng WTO, thị trường lao động Việt Nam sẽ có điều kiện giao lưu với nền văn minh nhân loại, tiếp cận với tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản ỉý hiện đại Đây chính là cơ hội tạo ra sự đột phá đối với thị trường lao động trong nước, tạo ra những biến đổi lớn về chất lượng đội ngũ lao động Chính sự tham gia vào thị trường lao động quốc tế sẽ bộc lộ những yếu kém của người lao động Việt Nam Đó là thể lực, chất lượng lao động, trong
Trang 30đó phải kể đến văn hoá lao động của người Việt Nam chưa cao Qúa trình toàn cầu hoá này sẽ giúp cho thị trường lao động Việt Nam có tư duy mới về đội ngũ người lao động từ cán bộ lãnh đạo đến từng công nhân có trình độ, có năng lực,
có phẩm chất trong việc làm
Hội nhập cũng làm thay đổi cả tư duy và hành động của Việt Nam trong hoạt động xuất khẩu lao động Lâu nay chúng ta chỉ quan tâm làm thế nào để xuất khẩu được lao động càng nhiều càng tốt, không quan tâm đến đào tạo, đặc biệt là không chú trọng kế hoạch dài hạn Thực tế cho thấy, do nhiều người lao động khi làm việc ở nước ngoài vẫn không có nghề, khi về nước lại không tìm được việc làm, với số vốn ít ỏi họ tự xoay sở, vật lộn với cuộc sống gặp rất nhiều khó khăn Trong thời đại toàn cầu hoá các dòng di chuyển lao động qua biên giới nó phức tạp hơn ta tưởng và ngày càng mang đậm chất “toàn cầu hoá” Có thể thấy
Cùng với những thuận lợi về kinh tế là điều không thể phủ nhận được, việc tham gia sâu rộng hơn vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thông qua tư cách
Trang 31thành viên WTO cũng sẽ đặt ra cho chúng ta nhiều vấn đề gay cấn về mặt xã hội
mà thị trường lao động là một vấn đề như thế ! Do đó, Nhà nước cần có chính sách và các giải pháp để tạo điều kiện và hỗ trợ cho thị trường lao động phát triển
- Bảo vệ người lao động
Tham gia hội nhập, Việt Nam phải chấp nhận một sự cải cách mạnh mẽ Với một thực trạng như thị trường lao động hiện nay, khi tham gia hội nhập, chúng ta
sẽ đối diện với nhiều khó khăn, thách thức cả trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế ở cấp độ doanh nghiệp và trực tiếp đối với người lao động Cùng với cơ hội mở cửa thị trường tiêu thụ khi rõ bỏ các hàng rào thuế quan và phi quan thuế, các doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài có tiềm lực mạnh về vốn, công nghệ, trình độ quản lý Trong cuộc đua sức này, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung còn gặp rất nhiều khó khăn, nếu như họ không có những quyết sách thay đổi cho phù hợp Việc thu hẹp sản xuất hoặc cơ cấu lại quá trình kinh doanh hay phá sản với một số doanh nghiệp là hệ quả tất yếu dẫn đến một
bộ phận người lao động thất nghiệp Với những lao động mà tay nghề chưa đạt trình độ cao hoặc thậm chí lao động không nghề thì tìm kiếm việc làm là một thách thức đối với họ Ngoài ra, để nâng cao năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp sẽ phải giảm nhu cầu về lao động phổ thông hoặc lao động chất lượng thấp tăng hàm lượng đối với lao động chất lượng cao Đây sẽ là một áp lực cho thị trường lao động Việt Nam khi phần lớn lao động còn ở trình độ thấp, nguồn nhân lực chất lượng cao còn quá mỏng Trong bối cảnh hội nhập sâu như hiện nay chất lượng lao động thấp đã dẫn đến nhiều hệ luỵ cho bản thân người lao động, người sử dụng lao động và gây cản trở cho sự phát triển kinh tế của đất nước Chính vì thế các qui định của pháp luật lao động phải cụ thể, phù hợp với nhận thức của xã hội, điều kiện cơ sở kinh tế và xu hướng hội nhập Hiện nay nhu cầu thuê mướn lao động quản lý không còn là một hiện tượng hy hữu và ngay cả doanh nghiệp Nhà nước, về lâu dài không thể duy trì cơ chế bổ nhiệm như hiện nay mà cũng cần chuyển sang cơ chế hợp đổng với các chức danh lãnh đạo trong doanh nghiệp nếu muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động Do
đó, việc hình thành một thể chế thị trường nhân lực quản lý với đội ngũ các nhân
Trang 32tài được thị trường đánh giá tuyển chọn và giới thiệu Vì thế pháp luật lao động không chỉ đưa ra các tiêu chí để các bên thiết lập quan hệ mà còn phải có những quy định liên quan đến sự cạnh tranh công bằng trong thị trường lao động với loại đối tượng này.
Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều cơ hội và lợi ích cho bản thân người lao động Họ sẽ có nhiều lựa chọn hơn về nghề nghiệp và công việc Họ có quyền lựa chọn những nơi làm việc có thu nhập cao nếu người lao động có năng lực tốt Trên thị trường lao động có sự cạnh tranh vềưu thế đối với những người lao động có trình độ chuyên môn cao sẽ trở thành “nguồn lực quí hiếm” mà các doanh nghiệp săn lùng Tuy nhiên, họ cũng đứng trước những thách thức như nguy cơ mất việc làm; thiếu điều kiện nâng cao khả năng làm việc; điều kiện và môi trường làm việc hạn chế đây là những vấn đề đang đặt ra với pháp luật lao động, nhất là việc thực hiện các tiêu chuẩn lao động quốc tế Cũng cần phải hiểu rằng, các tiêu chuẩn lao động cơ bản tuy không nằm trong cam kết nhung luôn
đi cùng với thương mại quốc tế, các tiêu chuẩn đó gồm: loại trừ và không sử dụng lao động trẻ em; loại trừ và không sử dụng lao động cưỡng bức; bình đẳng trong công việc Đây là những tiêu chuẩn cần thực hiện thường xuyên ở tất cả các lĩnh vực trên phạm vi cả nước
- Tác động đến tiền lương
Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế sẽ đem đến sự đa dạng hơn vể điều kiện làm việc, cơ hội phát triển và cả những cạnh tranh về việc làm và thu nhập trên thị trường lao động Khoảng cách về trình độ, năng lực làm việc, tay nghề, kỹ năng
và thu nhập sẽ mở rộng ra, dãn cách nhiều hơn Những người có trình độ thấp sẽ rất khó tìm kiếm hay duy trì hoặc ổn định được việc làm và thu nhập Theo điều tra của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam thực hiện tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cho thấy nhóm lao động phổ thông và trình độ tay nghề thấp
có thu nhập thấp nhất, còn nhóm lao động kỹ thuật và cán bộ quản lý doanh nghiệp có thu nhập cao nhất, mức chênh lệch giữa hai nhóm này có thể đạt từ 5 -
10 lần Sự phân hoá thu nhập ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở phía nam lớn hơn các doanh nghiệp thuộc khu vực phía bấc Sự chênh lệch về
11 Xem: "Lao động, việc làm tién lư ơng" Báo diẽn tử Thõng lấn xã V iệt N am , ngùy 12 tháng 9 năm 2007
Trang 33tiền lương thu nhập càng lớn sẽ tạo ra khoảng cách dài giữa giàu-nghèo trong xã hội Như trên đã phân tích, vấn đề bảo vệ ngưcri lao động là yêu cầu quan trọng đối vói mỗi quốc gia, hơn nữa trong quan hệ lao động, người lao động luôn ở tình trạng thế yếu hơn Do vậy cần có sự can thiệp của Nhà nước bằng pháp luật vào tiền lương một cách phù hợp Trong bối cảnh toàn cầu hoá, pháp luật lao động chỉ quy định mức tiền lương tối thiểu nhằm ngăn ngừa và hạn chế sự bóc lột quá đáng từ phía người sử dụng lao động, hoàn toàn không sử dụng mức lương tối thiểu để khống chế mức lương do thị trường lao động quyết định Khi
đó có thể có nhiều mức lương tối thiểu trên thị trường lao động nhưng đó không phải là lương do Nhà nước qui định mà do sản phẩm của việc thương lượng giữa các bên Chỉ có như vậy mới đảm bảo được nguyên tắc của cơ chế thị trường mà WTO yêu cầu
Hội nhập nền kinh tế thế giới sẽ đem lại sự thay đổi liên tục về mặt cơ cấu của nền kinh tế, và điều này sẽ tạo ra cục diện kẻ thắng người thua giữa các khu vực kinh tế và giữa các chủ thể kinh tế Nếu không được dự báo và quản lý chặt chẽ, quá trình này có thể dẫn đến những xung đột giữa các bên trong quan hệ lao động - người lao động và người sử dụng lao động Mặc dù, tranh chấp về lao động là sản phẩm tự nhiên của nền kinh tế thị trường, các vụ tranh chấp thường xuyên trong khu vực ngoài quốc doanh có thể ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển kinh tế và sự ổn định chính trị của Việt Nam, làm xấu đi môi trường đầu tư
và gây ra các gián đoạn trong quá trình sản xuất Vấn đề đặt ra đối với các bên lúc này là cần tham gia để góp phần thực hiện tốt cơ chế ba bên: cùng quyết định, cùng cộng tác, cùng phối hợp giữa ba đối tác xã hội, đó là Chính phủ, người lao động và người sử dụng lao động Do vậy, việc nghiên cứu để đánh giá việc thực hiện pháp luật lao động trong giai đoạn hội nhập WTO hiện nay là rất cần thiết và cấp bách
Trang 34PHẦN II KHÁI QUÁT HỆ THỐNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRƯỚC BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ THÊ GIỚI
1 Lược sử hệ thống p h áp luật lao động Việt Nam
1.1 Hệ thống pháp luậ lao độngt Việt Nam trước khi đổi mới (1945 -1 9 8 5 )
Do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, cùng với cơ chế quản lý kinh tế hành chính bao cấp, trong thời kỳ này Nhà nước với tư cách là người chủ sử dụng lao động lớn nhất trực tiếp sắp xếp việc làm cho người dân Với sự độc tôn của hai thành phần kinh tế: quốc doanh và tập thể nên người dân chỉ làm việc ở hai khu vực kinh tế này mới coi là có việc làm Quan hệ lao động mang nặng tính chất hành chính, đó là mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước, Tuy vậy, cơ chế hành chính, bao cấp đã phát huy tác dụng trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, đã phát huy được mọi nguồn lực phục vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Nhưng mặt khác, chiến tranh cũng đã góp phần làm trầm trọng thêm những nhược điểm vốn có của cơ chế hành chính, bao cấp, nhất là việc kéo dài nhiều năm cơ chế này sau khi chiến tranh kết thúc làm kìm hãm sự phát triển kinh tế, phát sinh nhiều tiêu cực trong xã hội Có thể thấy qua các giai đoạn sau:
- Từ năm 1945 - 1954, đây là giai đoạn pháp luật lao động Việt Nam ra đời phục vụ cho việc củng cố chính quyền cách mạng và công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Sự ra đời bản Hiến pháp nãm 1946 đã giành các Điều 9, 13,14 qui định về lao động Trong thời kỳ này phải kể đến một số sắc lệnh tiêu biểu như: sắc lệnh số 29/SL (12/03/1947) quy định những sự giao dịch về việc làm công giữa các chủ tư nhân Việt Nam hay người ngoại quốc và các công nhân Việt Nam làm việc tại các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và các nhà làm nghề tự do; sắc lệnh số 76/SL (20/05/1950) quy định chế độ công chức; sắc lệnh
số 77/SL (22/05/1950) quy định chế độ công nhân Có thể nói, pháp luật Lao động trong những năm kháng chiến chống Pháp đã tập trung vào việc củng cố chính quyền cách mạng dân chủ nhân dân non trẻ, bước đầu tạo ra đội ngũ cồng nhân viên chức nhà nước, nhất là lực lượng quân nhân quốc phòng Song do
Trang 35hoàn cảnh đất nước có chiến tranh nên các văn bản trên không áp dụng được hoặc có áp dụng chỉ được một phần.
- Từ năm 1955 - 1985: Đây là giai đoạn pháp luật lao động Việt Nam phục
vụ công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam, xây dựng đất nước thống nhất Pháp luật Lao động nước ta tập trung chủ yếu vào khu vực kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể và các cơ quan Nhà nước
Các văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành, bao gồm: Luật Công đoàn ban hành ngày 05/11/1957 được thực hiện trong suốt thời gian từ năm 1960 đến năm
1985 Sau đó là sự ra đời của bản Hiến pháp năm 1959 đã qui định các nguyên tắc cơ bản trong lĩnh vực lao động và quản lý lao động, đó là các Điều 21, 30,
31, 32, 39 làm cơ sở để Chính phủ đã ban hành một loạt các Nghị định như: Nghị định số 181/CP (18/12/1960) ban hành Điều lệ tạm thời về bảo hộ lao động; Nghị định số 218/CP (27/12/1961) ban hành Điều lệ tạm thời về bảo hiểm
xã hội đối với công nhân, viên chức nhà nước; Nghị định số 24/CP (13/03/1963) ban hành Điều lệ tuyển dụng và cho thôi việc đối với công nhân viên chức nhà nước; Nghị định số 172/CP (21/11/1963) quy định chế độ ký kết hợp đồng tập thể trong các xí nghiệp, cơ quan nhà nước; Nghị định số 195/CP (31/12/1964) ban hành Điều lệ kỷ luật lao động trong các xí nghiệp, cơ quan nhà nước; Nghị định số 49/CP (09/04/1968) quy định chế độ trách nhiệm vật chất của công nhân, viên chức nhà nước Các văn bản dưới luật, qui định về các chế độ, chính sách lao động, xã hội do cơ quan hành pháp ban hành, con số đã lên tới hàng ngàn đã hình thành nên một số chế định cơ bản của luật Lao động Việt Nam, như chế định tuyển dụng và cho thôi việc,*thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi, bảo hộ lao động, kỷ luật lao động, hợp đồng tập thể Hầu hết các Nghị định này đã có hiệu lực thực hiện đến tận cuối những năm tám mươi của thế kỷ trước
Trên cơ sở những quy định của Hiến pháp năm 1980 về lao động bao gồm các Điều 10, 31, 32, 58, 59, 60, 63, 74, 78, 79 đã tạo điều kiện cho việc ban hành một loạt các Quyết định, Nghị định, đưa pháp luật Lao động Việt Nam bước sang một giai đoạn mới Các văn bản trong thời kỳ này đã bao quát được nhiều chế định của luật Lao động và qui định chi tiết hơn trước Tiêu biểu như:
Trang 36Nghị định số 120/HĐBT (08/10/1984) quy định về nhiệm vụ và bộ máy của Tổng cục dạy nghề; Nghị định số 235/HĐBT (18/09/1985) về cải tiến chế độ tiền lương của công nhân viên chức và lực lượng vũ trang; Nghị định số 236/HĐBT (18/09/1985) về bổ sung và sửa đổi một số chế độ chính sách về bảo hiểm xã hội Với các Nghị định này, pháp luật Lao động đã có một bước chuyển đáp ứng với tình hình mới, như công tác dạy nghề được chú trọng hơn, hệ thống tiền lương của các chức vụ bầu cử, hành chính sự nghiệp, sản xuất kinh doanh và lực lượng vũ trang được phân biệt rõ, tách dần chế độ đãi ngộ ra khỏi tiền lương.
Có thể nói luật Lao động Việt Nam trong giai đoạn này có phạm vi điều chỉnh tập trung trong khu vực kinh tế quốc doanh Phạm vi áp dụng của từng văn bản được giới hạn rõ trong cụm từ “đối với công nhân viên chức nhà nước” hoặc
là “trong các xí nghiệp, công, nông, lâm trường quốc doanh” Phương pháp điều chỉnh phổ biến của luật Lao động Việt Nam trong thời kỳ này là mệnh lệnh hành chính Thể hiện ở mấy điểm sau:
* Quan hệ lao động cá nhân phát sinh trên cơ sở quyết định hành chính
* Quan hệ lao động tập thể chỉ mang tính hình thức
* Việc làm và các mối quan hệ lao động được đổng nhất với vào biên chếnhà nước
* Tiền lương không khuyến khích được người lao động
* Các tranh chấp lao động được giải quyết bằng con đường khiếu nại, tố cáo của công dân
Một đặc điểm nổi bật nhất của pháp luật Lao động giai đoạn này chính là sản phẩm của nền kinh tế tập trung, bao cấp, chỉ điều chỉnh mối quan hệ lao động của CNVC Nhà nước, nên dần dần đã bộc lộ nhiều nhược điểm, tác dụng ngày càng hạn chế và cuối giai đoạn đã lâm vào tình trạng khủng hoảng trong tình trạng khủng hoảng chung về kinh tế- xã hội của đất nước
1.2 Hệ thống pháp luật lao động Việt Nam từ khi đổi mới đến nay
Đây là giai đoạn pháp luật Lao động Việt Nam trên bước đường đổi mới trưởng thành và hội nhập Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam đã đánh dấu mốc quan trọng trên tiến trình đổi mới toàn diện, trong đó có đổi mới
tư duy pháp lý Đường lối đổi mới đo Đại hội VI đề ra đã được Đại hội VII VIII
Trang 37IX, X bổ sung và phát triển nhằm thích ứng với yêu cầu tình hình trong nước và quốc tế Thể chế hoá chủ trương chính sách của Đảng, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) đã đề ra phương hướng, xác định các nguyên tắc đổi mới toàn diện đất nước đã tạo ra nhiều nhân tố thuận lợi cho việc đổi mới sự điều chỉnh toàn bộ hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật Lao động Một loạt các văn bản pháp luật trong lĩnh vực này được ban hành phù hợp với quỹ đạo của nền kinh tế thị trường như: Quyết định số 217/HĐBT (14/11/1987) về chính sách đổi mới kế hoạch và hạch toán kinh doanh đối với các xí nghiệp quốc doanh, luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (29/12/1987); Nghị định số 50/HĐBT (22/03/1988) ban hành điều lệ xí nghiệp quốc doanh; Quyết định số 176/HĐBT (09/10/1989) về sắp xếp lại lao động trong các đơn vị kinh tế quốc doanh Luật Công đoàn (30/06/1990); Pháp lệnh hợp đồng lao động (30/08/1990); Nghị định
số 233/HĐBT (22/06/1990) ban hành qui chế lao động trong các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài; Luật doanh nghiệp tư nhân và luật công ty ngày 21/12/1990; Nghị định số 25/CP và số 26/CP ngày 23/05/1993 qui định về chế
độ tiền lương mới của công chức, viên chức hành chính sự nghiệp và trong các doanh nghiệp; Nghị định 43/CP (22/06/1993) qui định tạm thời chế độ bảo hiểm
xã hội Những văn bản pháp lý nói trên đã đặt nền tảng cho việc tiếp cận cơ chế thị trường, mở ra việc thiết lập một loại quan hệ lao động mới: quan hệ lao động mới giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động trên cơ
sở giao kết hợp đồng lao động Hệ thống pháp luật Lao động được ban hành trong thời gian này đã có xu hướng rõ ràng trong việc tách các quan hệ giữa cồng chức, viên chức và cơ quan hành chính sự nghiệp, quản lý nhà nước ra khỏi pháp luật Lao động, tạo tiền đề thuận lợi và quan trọng cho việc ban hành bộ luật Lao động và các văn bản pháp luật khác tiếp theo
Quá trình áp dụng những vãn bản có tính chất thí điểm này đã cho nhiều kinh nghiệm, tạo tiền đề kinh tế, xã hội, và pháp lý cho việc ra đời Bộ luật Lao động (23/06/1994) Bộ luật của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động được ban hành (11/04/1996) cũng đã tách tố tụng lao động ra khỏi tố tụng hành chính Với Bộ luật Lao động năm 1994 (sửa đổi bổ sung năm 2002) và Pháp lệnh thủ tục giải
Trang 38quyết các tranh chấp lao động năm 1996, cùng hàng chục Nghị định hướng dẫn thi hành, hệ thống pháp luật lao động nước ta đã có bước trưởng thành đáng kể Luật lao động đã trở thành một ngành luật lớn có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế- xã hội ở nước ta.
Với sự ra đời và chính thức có hiệu lực của Bộ luật Tố tụng dân sự, các qui định về giải quyết tranh chấp lao động trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động cũng hết hiệu lực Tuy nhiên, phần các qui định về đình công do chưa có văn bản thay thế nên vẫn tiếp tục áp dụng trong thực tế Những qui định của Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung năm 2002 và Phần thứ hai của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động đã ghi nhận quyền đình cồng của tập thể lao động; qui định thủ tục tiến hành đình công và thủ tục giải quyết các cuộc đình công tại Toà án Trong quá trình thực hiện, Pháp lệnh đã tạo điều kiện để người lao động bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình; nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc giải quyết các tranh chấp lao động Một số qui định của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp lao động tập thể và đình công còn chưa phù hợp thực tiễn như: chưa quy định rõ ràng tranh chấp lao động tập thể về quyền tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, chưa giải thích rõ thuật ngữ về đình công; chưa có cơ chế thích hợp; hiệu quả cho việc giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền và tranh chấp lao động tập thể về lợi ích; trình tự, thủ tục đình công còn phức tạp, khó thực hiện; chưa có quy định bảo đảm quyền lợi của người sử dụng lao động khi có thiệt hại
do cuộc đình công bất hợp pháp Từ tình hình trên, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung tại Chương XIV của Bộ luật Lao động về giải quyết tranh chấp lao động và đình công Chính vì vậy, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XI (ngày 29/11/2006)
đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung Chương XIV của Bộ luật Lao động về giải quyết tranh chấp lao động
2 Q uan hệ lao động dưới góc độ là đối tượng điều ch ỉn h của lu ật Lao động Việt Nam
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta hiện nay tồn tại nhiều loại hình có liên quan đến việc sứ dụng lao động Đó là, quan hệ lao động trong các cơ quan Nhà nước, trong các hợp tác xã, tổ chức xã hội, trong các
Trang 39doanh nghiệp đủ loại, lao động giúp việc gia đình, lao động có yếu tố nước ngoài Trong điều kiện của nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, các loại quan hệ về sử dụng lao động sẽ ngày càng trở lên phong phú,
đa dạng và phức tạp, chúng đan xen và chuyển hoá vào nhau
- Nhóm thứ nhất, nhóm quan hệ lao động trong cơ quan Nhà nước Với tư
cách là công chức Nhà nước, những người vào làm việc trong các cơ quan Nhà nước, họ vừa là người lao động, vừa là người đại diện cho quyền lực Nhà nước
Tư cách “kép” này của công chức Nhà nước bị chi phối bởi chính những yêu cầu khách quan của việc tổ chức và điều hành bộ máy Nhà nước mang tính chất công quyền Do vậy, việc xác lập và thực hiện “quan hệ lao động” là một trong những yếu tố thuộc về công vụ Nhà nước, phải theo một chế độ riêng, bao gồm từ việc tuyển dụng, bổ nhiệm, thăng thưởng, thuyên chuyển v.v cho đến việc kỷ luật, giải quyết khiếu nại Loại quan hệ lao động này được xác lập chủ yếu trên cơ sở tuyển dụng bằng một quyết định hành chính, chứ không phải trên cơ sở thoả thuận giữa các bên - trên cơ sở giao kết hợp đổng lao động Tất cả những chế độ
có liên quan đến điều kiện lao động, chế độ hưởng thụ của người công chức như thời gian làm việc, kỷ luật lao động, tiền lương đều do Nhà nước trực tiếp qui định, hầu như có rất ít “đất” cho sự thoả thuận, “mặc cả” Như vậy, nhóm quan
hệ lao động trong các cơ quan Nhà nước mang nặng tính quyền uy và phục tùng, nên chúng thuộc đối tượng của ngành luật hành chính (do quy chế công chức hoặc qui chế riêng điều chỉnh) Tương tự như vậy, các quan hệ lao động thuộc lực lượng vũ trang, các đại biểu dân cử sẽ do Luật nghĩa vụ quân sự, Luật Nhà nước điều chỉnh
- Nhóm thứ hai, nhóm quan hệ ỉao động trong các hợp tác xã Hợp tác xã các
loại là những tổ chức kinh tế tập thể do các xã viên tự nguyện lập ra Quan hệ lao động giữa xã viên và hợp tác xã hình thành không phải bằng con đường tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc ký kết hợp đổng lao động, mà bằng con đường làm đơn xin
ra nhập và kết nạp thành viên Do tính chất đặc thù của hợp tác xã, mà các xã viên vừa là người lao động, vừa là chủ sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu vừa
là thành viên cơ quan quản lý cao nhất (Đại hội xã viên) Nói một cách khác quan hệ hợp tác xã là quan hệ nội bộ, bao gồm một thể tổng hợp không tách rời
Trang 40giữa quan hộ lao động với quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối Chính do sự chi phối của những tính chất, đặc điểm riêng của tổ chức kinh
tế tập thể, mà quan hệ lao động trong các hợp tác xã sẽ do ngành luật hợp tác xã điều chỉnh Tương tự như vậy, quan hệ lao động trong các tổ chức xã hội cũng do những qui chế hoặc điều lệ tương ứng điều chỉnh
- Nhóm thứ ba, nhóm quan hệ lao động “làm công ăn lương” Trong nền kinh
tế thị trường, sức lao động là hàng hoá đặc biệt Trong khuôn khổ của pháp luật, mọi tổ chức, cá nhân có quyền tự do sản xuất, kinh doanh và thuê mướn lao động phù hợp với nhu cầu của mình Họ có thể trở thành người sử đụng lao động Còn những công dân, có khả năng lao động, có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng nào, ở bất kỳ nơi đâu mà pháp luật không cấm Hợp đồng lao động là hình thức pháp lý hữu hiệu nhất để hình thành nên mối quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động Trong thực tiễn đòi sống, loại quan hệ làm công ăn lương có nhiều tên gọi khác nhau như: quan hệ chủ - thợ, quan hệ thuê mướn lao động, quan hệ lao động hợp đổng Nhưng về bản chất, đây là quan hệ tuyển dụng (tuyển chọn và sử dụng) lao động giữa một bên (người sử dụng lao động) đại diện cho người nắm giữ tư liệu sản xuất, vốn, trình độ quản lý và một bên (người lao động) đại diện cho sức lao động xã hội Đây là hai lực lượng chủ yếu trong xã hội, một khi được liên kết với nhau sẽ tạo ra nhiều của cải cho xã hội Do vậy, quan hệ lao động làm công ăn lương được xem như loại quan hệ lao động tiêu biểu trong nền kinh tế thị trường, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, đô thị hoá Ở đó, mọi quan hệ kinh tế nói chung, và quan hệ lao động nói riêng, đều mang mầu sắc của quan hệ hàng hoá - tiền tệ
Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ lao động này sẽ ngày càng phát triển bởi sản xuất kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh đòi hỏi phải tập trung vốn ở một mức độ nhất định và vốn phải được giao cho người có năng lực và được đào tạo nghiệp vụ kinh doanh để làm ăn có hiệu quả Những người có ít vốn cũng sẽ chọn hình thức kinh doanh gián tiếp (mua cổ phiếu để hưởng lãi) còn bản thân
họ vẫn tham gia quan hệ lao động để hưởng lương, ở các vùng nông thôn, nông dân tuy có ruộng nhưng thiếu vốn hoặc thiếu kinh nghiệm làm ăn rồi cũng sẽ nhượng quyền sử dụng đất cho người khác để trở thành người làm công cho