Vì vậy, tôi chọn và nghiên cứu đề tài: “Kinh nghiệm dạy – ôn môn GDCD phù hợp với hình thức thi – kiểm tra trắc nghiệm”, rất mong nhận được sự góp ý của các cấp lãnh đạo, Ban giám hiệu,
Trang 1SKKN: KINH NGHIỆM DẠY – ÔN MÔN GDCD PHÙ
HỢP VỚI HÌNH THỨC THI – KIỂM TRA TRẮC NGHIỆM
Theo nghĩa chữ Hán, "trắc" có nghĩa là "đo lường", "nghiệm" là "suy xét",
"chứng thực" Trắc nghiệm xuất hiện từ thế kỉ 19, do một nhà khoa học người
Mỹ nghĩ ra nhằm đánh giá trí thông minh của con người Sau đó, hai nhà tâm lí họcngười Pháp soạn ra bộ giáo án trắc nghiệm
Trắc nghiệm khách quan không mới trên thế giới bởi đã được Kelly sử dụnglần đầu từ năm 1914 (Bracey, 2001 Thinking about the test)
Nước Mỹ đã áp dụng thi trắc nghiệm khách quan cho hầu hết các môn học ởbậc Trung học Phổ thông cũng như kiểm tra đầu vào cho xét tuyển Đại học trong
kỳ thi SAT (Scholastic Aptitude Test) từ năm 1926
Ở Việt Nam, trắc nghiệm khách quan cũng không hề mới vì đã được sửdụng từ trước năm 1975 ở miền Nam, sau đó áp dụng cho kỳ thi 3 chung từ 2006với các môn tiếng Anh, Lý, Hóa, Sinh Từ năm 2017, Bộ GD&ĐT đã thay đổiphương án thi Tốt nghiệp THPT Quốc gia (THPTQG) từ hình thức thi tự luậntruyền thống sang thi trắc nghiệm (trừ môn Văn vẫn thi theo tự luận truyền thống)
Trang 2Trong những năm gần đây, Hưng Yên đã sử dụng hình thức thi trắc nghiệm100% trong kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT đối với môn tổng hợp Môn tổnghợp gồm 50 câu hỏi trắc nghiệm của 7 môn: Lí, hóa, sinh, địa, sử, GDCD và tiếngAnh Số câu hỏi các môn cụ thể như sau: 7 câu hỏi môn lí, 6 câu hỏi môn hóa, 7câu hỏi môn sinh, 7 câu hỏi môn sử, 7 câu hỏi môn địa, 6 câu hỏi môn GDCD và
10 câu hỏi Tiếng Anh
Môn GDCD là một trong 7 môn thi tổng hợp với số lượng 6 câu hỏi trắcnghiệm khách quan tương ứng với 1,2 điểm trên tổng số điểm 10 của toàn bài Đâyđược coi là môn “gỡ” điểm trong bài thi tổng hợp Vậy để học sinh có thể làm tốtcác bài kiểm tra định kì và làm tốt phần câu hỏi môn GDCD trong bài thi tổng hợpcũng cần sự đầu tư của GV giảng dạy trong quá trình học – ôn
Qua nhiều năm dạy học, được trực tiếp giảng dạy môn GDCD ở hầu hết cáclớp bậc THCS tôi luôn mong muốn làm thế nào để học sinh của mình tiếp thu bàimột cách, hứng thú nhất, hiệu quả học tập tốt nhất Vì vậy, tôi chọn và nghiên cứu
đề tài: “Kinh nghiệm dạy – ôn môn GDCD phù hợp với hình thức thi – kiểm tra trắc nghiệm”, rất mong nhận được sự góp ý của các cấp lãnh đạo, Ban giám hiệu,
tổ chuyên môn để đề tài phát huy hiệu quả cao hơn
1 Thực trạng:
1.1 Mục tiêu của môn GDCD:
Việc dạy – học môn GDCD trong chương trình THCS cần đạt được nhữngmục tiêu cơ bản sau:
a Kiến thức
- Hiểu được những chuẩn mực đạo đức và pháp luật cơ bản, phổ thông,thiết thực, phù hợp với lứa tuổi học sinh THCS trong các quan hệ với bản thân, vớimọi người, với công việc và với môi trường sống
- Hiểu ý nghĩa của các chuẩn mực đối với sự phát triển của cá nhân và xãhội, sự cần thiết phải rèn luyện và cách thức rèn luyện để đạt được các chuẩn mựcđó
b Kỹ năng
- Biết đánh giá hành vi của bản thân và mọi người xung quanh, biết lựachọn và thực hiện cách ứng xử phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, pháp luật, vănhóa XH trong giao tiếp và hoạt động (học tập, lao động, hoạt động tập thể, vui chơigiải trí )
- Biết tổ chức việc học tập, rèn luyện của bản thân theo yêu cầu của cácchuẩn mực đã học.
Trang 3c Thái độ:
- Có thái độ đúng đắn, rõ ràng trước các hiện tượng, sự kiện đạo đức,pháp luật, văn hóa trong đời sống hàng ngày, có tình cảm trong sáng, lành mạnhđối với mọi người, đối với gia đình, nhà trường, quê hương đất nước
- Có niềm tin vào tính đúng đắn của các chuẩn mực đã học và hướng tớinhững giá trị tốt đẹp Có trách nhiệm đối với hành động của bản thân, có nhu cầu
tự điều chỉnh, tự hoàn thiện để trở thành một chủ thể xã hội tích cực, năng động
1.2 Nội dung chương trình GDCD ở THCS
Nội dung chương trình GDCD ở THCS gồm 2 phần chính: Phần giáo dụcđạo đức và giáo dục pháp luật Cụ thể:
a Những chuẩn mực đạo đức (là sự tiếp nối của những chuẩn mực hành vi đạo đức
cụ thể đã học ở tiểu học, nhưng có tính khái quát cao hơn, thể hiện những yêu cầu
cơ bản về đạo đức đối với người công dân trong giai đoạn hiện nay)
- Nội dung những quyền và nghĩa vụ của công dân được cụ thể hoá bằngnhững quy định của pháp luật Quyền của nhà nước đối với công dân thể hiện quachức năng quản lý xã hội của nhà nước
Lĩnh vực pháp luật gồm 5 chủ đề lớn sau:
Quyền của trẻ em và quyền nghĩa vụ của công dân trong gia đình
Trang 4Quyền và nghĩa vụ của công dân về giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.
Quyền và nghĩa vụ của công dân về văn hoá - giáo dục, kinh tế
Quyền tự do cơ bản của công dân
Nhà nước CHXHCNVN (quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý nhànước)
Chương trình môn GDCD được xây dựng dựa trên cơ sở các môn khoa học
cơ bản như: Đạo đức học, Luật học và một số chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước Việt Nam Môn GDCD là môn học tích hợp nhiều nội dung giáo dục xãhội cần thiết cho công dân trẻ tuổi như: giáo dục kĩ năng sống, giáo dục môitrường, giáo dục phòng tránh HIV/AIDS, Vì vậy đòi hỏi thầy cô giáo có kiếnthức rộng nhiều lĩnh vực, đặc biệt cần có kiến thức xã hội, có nghệ thuật dạy học -giáo dục và có tâm hồn trong sáng
1.3 Sự phân bố các chủ đề và mức độ giữa các lớp.
- Chương trình được xây dựng theo quan điểm tích hợp, cấu trúc chươngtrình theo nguyên tắc đồng tâm và phát triển, vì vậy các chuẩn mực đạo đức vàpháp luật được bố trí học ở tất cả các lớp (kỳ I là Đạo đức, kỳ II là Pháp luật)
- Các chủ đề được bố trí theo trật tự, từ những vấn đề có tính chất cụ thể, gầngũi với cuộc sống của học sinh, đến những vấn đề khái quát hơn, phản ánh mốiquan hệ của học sinh với môi trường hàng ngày rộng lớn
- Trong từng chủ đề có sự bố trí, sắp xếp các nội dung dạy học theo nguyêntắc phát triển từ thấp đến cao, về nhận thức cũng như yêu cầu tu dưỡng rèn luyện,phù hợp với lứa tuổi học sinh ở từng giai đoạn.
1.4 Thực trạng của việc kiểm tra – thi bằng hình thức trắc nghiệm.
Việc sử dụng các câu hỏi trắc nghiệm đã và đang được áp dụng trong các bàikiểm tra định kì và 1 số bài thi dưới hình thức 100% trắc nghiệm hoặc kết hợp giữatrắc nghiệm khách quan và tự luận Việc sử dụng kiểm tra – thi bằng hình thức trắcnghiệm khách quan đã bộc lộ những ưu điểm và tồn tại như sau:
- Đề thi mang tính bao quát cao và rộng: Nếu như thi tự luận lượng kiến thức
sẽ ít hơn, tập trung vào từng dạng và coi trọng đến cách trình bày hơn; còn đốivới thi trắc nghiệm thì ngược lại, lượng kiến thức thì vô tận, có nhiều dạng mới vàđào sâu tất cả những gì có trong sách giáo khoa, nhưng đối với thi trắc nghiệm thìkhông cần bận tâm nhiều đến cách trình bày
Trang 5- Áp lực về thời gian thi: Rút ngắn thời gian thi ít lại trong khi đó lượng kiếnthức vô cùng lớn, thí sinh nào học không chắc kiến thức sẽ không làm được dẫnđến tình trạng chọn đáp án một cách ngẫu nhiên
- Gây áp lực cho phụ huynh, học sinh và hơn hết là giáo viên: Họ phải tìmcách đổi mới phương pháp dạy, thay đổi giáo án, thay đổi cách kiểm tra, ôn tập
để làm sao cho học sinh mình có thể hiểu và nắm bắt kiến thức kịp thời, giải đềnhanh và chính xác… Nếu giáo viên không hướng dẫn kỹ thì học sinh cũng khôngbiết phải đi theo hướng nào
2 Ý nghĩa, tác dụng của phương pháp mới:
Để đạt được kết quả mục tiêu của môn GDCD ở cấp THCS, cao hơn là giáodục đạo đức, giáo dục học sinh về ý thức và hành vi, góp phần trang bị cho họcsinh kỹ năng sống, rèn luyện ý thức sống của người công dân, góp phần hình thành
và phát triển ở các em những phẩm chất và năng lực cần thiết của công dân trongmột xã hội dân chủ, công bằng, văn minh đòi hỏi người giáo viên phải thay đổi từchính nhận thức của bản thân, từ đó thay đổi phương pháp, kĩ thuật dạy học chophù hợp với hình thức kiểm tra đánh giá hiện nay
Sáng kiến kinh nghiệm của tôi sẽ tập trung vào việc đổi mới hình thức dạy,cũng như ôn tập cho học sinh để phù hợp với hình thức thi – kiểm tra trắc nghiệmhiện nay Đây là những kinh nghiệm mà tôi rút ra được qua quá trình giảng dạymôn GDCD nhiều năm của mình Sáng kiến của tôi có thể áp dụng trong việcgiảng dạy môn GDCD các khối lớp, hoặc các môn học khác có áp dụng hình thứcthi – kiểm tra trắc nghiệm Do những năm gần đây tôi được phân công dạy chủ yếumôn GDCD 9 nên những ví dụ minh họa của sáng kiến tôi sẽ tập trung vào chươngtrình GDCD 9
3 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài được tiến hành trong môn GDCD từ năm học 2017 - 2018 cho đến hếtHKI năm học 2019 - 2020 tại Trường THCS Trung Nghĩa – TP Hưng Yên
II. CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
a Cơ sở lý luận
Hình thức thi trắc nghiệm đã được áp dụng trong kì thi tuyển sinh cao đẳng,đại học từ lâu và được cụ thể hóa bằng các công văn:
Công văn số: 9643/BGD&ĐT-KT&KĐ V/v hướng dẫn tổ chức thi trắc
GD&ĐT
Trang 6Công văn số: 4821/BGDĐT-KT&KĐ V/v hướng dẫn thi trắc nghiệm ngoại ngữ năm 2006 ngày 09 tháng 06 năm 2006 của Bộ GD&ĐT.
Công văn số: 500/KTKĐCLGD V/v Chấm thi trắc nghiệm tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2009 ngày 10 tháng 07 năm 2009.
Công văn số: 5323/BGDĐT-KTKĐCLGD V/v Hướng dẫn thi trắc nghiệm ngày 14 tháng 07 năm 2009 của Bộ GD&ĐT
Công văn số: 4818/BGDĐT-KTKĐCLGD V/v tổ chức Kỳ thi THPT quốc gia
và tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy năm 2017 ngày 28 / 9/ 2016 của Bộ GD&ĐT.
Một số văn bản liên quan đến việc sử dụng hình thức thi trắc nghiệm đã đượcUBND tỉnh Hưng Yên phê duyệt, cụ thể:
Công văn số: 846/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hưng Yên, ngày 15 tháng 3
năm 2017 quyết định phê duyệt kế hoạch tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2017-2018.
Công văn số: 555/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hưng Yên, ngày 12 tháng 02
năm 2018 Quyết định phê duyệt kế hoạch tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học
2018 - 2019 tỉnh Hưng Yên.
Công văn số: 17/KH-UBND của UBND tỉnh Hưng Yên, ngày 30 tháng 01
năm 2019 về Kế hoạch tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2019 - 2020 tỉnh HY.
Công văn số: 16/KH-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên, ngày 04
tháng 02 năm 2020 về Kế hoạch tuyển sinh vào lớp 10 trung học phổ thông năm học 2020-2021 tỉnh Hưng Yên.
Trong các kế hoạch, quyết định của tỉnh Hưng Yên đã ban hành quy định cụthể về môn thi, hình thức thi THPT không chuyên như sau:
a) Môn thi
Thí sinh dự thi làm 03 bài thi: Toán, Ngữ văn, Bài thi tổng hợp (gồm 07môn: Vật lý, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân, Tiếng Anhtổng hợp trong một bài thi)
Nội dung thi trong phạm vi chương trình THCS do Bộ Giáo dục và Đào tạoban hành, chủ yếu ở lớp 9
b) Hình thức thi
- Ngữ văn: Tự luận
- Toán: 50% trắc nghiệm khách quan, 50% tự luận
Trang 7- Bài thi tổng hợp: 100% trắc nghiệm khách quan.
Xuất phát từ những cơ sở nêu trên, để đáp ứng yêu cầu, mục tiêu giáo dục
và đào tạo trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, việc nâng cao chất lượng giáo dụctrong trường trung học cơ sở cả nước nói chung và trường THCS Trung Nghĩa nóiriêng là một nhu cầu cấp thiết đặc biệt trong tình hình đổi mới căn bản và toàn diệngiáo dục hiện nay
b. Cơ sở thực tiễn
Tôi được đào tạo chuyên ngành Văn – GDCD tại trường Cao đẳng sư phạmHưng Yên Từ khi ra trường năm nào tôi cũng được phân công giảng dạy mônGDCD Trong những năm học gần đây, tôi được phân công giảng dạy chủ yếu mônGDCD 9 Khi giảng dạy tôi nhận thấy: Trong tâm niệm của của đa số phụ huynh
và học sinh vẫn còn lối suy nghĩ bộ môn GDCD là bộ môn phụ trong nhà trườngnên học sinh thường học chỉ để có đủ điểm, bỏ qua vấn đề suy ngẫm, tìm hiểuthêm kiến thức đằng sau mỗi bài học, thậm chí là học qua loa, học cho xong. Dùcác trường đã có nhiều nỗ lực và cố gắng trong đổi mới phương pháp giảng dạynhưng vẫn còn “bó khung” trong khuôn khổ của lớp học, giờ dạy nặng tính lýthuyết, thiếu những tư liệu, trích đoạn “người thật việc thật”, những tình huống
“thật”… cho nên sức thuyết phục, độ cảm xúc của bài dạy chưa cao Hơn nữa thờilượng dành cho môn GDCD chỉ có 1 tiết/ tuần mà lượng kiến thức thì khá nhiều,không chỉ riêng nội dung chính thức mà nhiều nội dung giáo dục khác nhau cũng
"bị giao" cho môn GDCD để “tích hợp” (kĩ năng sống, giáo dục bảo vệ môitrường, Giáo dục quốc phòng và An ninh, Học tập và làm theo tấm gươngđạo đức HCM…) nên việc dạy học mang nặng tính khái quát, giáo viên không cónhiều thời gian giảng dạy cặn kẽ cho học sinh những nội dung, vấn đề nào đó màhọc sinh có nhu cầu tìm hiểu sâu hơn
Trước tình hình đó thiết nghĩ để nâng cao chất lượng giảng dạy và học mônGDCD là do nhiều yếu tố quyết định, chi phối: chương trình, sách giáo khoa, giáo
án, phương pháp giảng dạy của giáo viên, ý thức, thái độ học tập của học trò.Trong đó, đổi mới phương pháp dạy học đóng vai trò then chốt Có thể khẳng định,đổi mới phương pháp giảng dạy đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay Ngườigiáo viên dạy GDCD cần khôi phục động lực học tập, khơi dậy niềm say mê, pháthuy tính năng động, gây hứng thú với học sinh bằng những giờ dạy thực sự hấpdẫn, lôi cuốn
2. Các phương pháp tiến hành và thời gian tạo giải pháp.
a Các phương pháp tiến hành.
Trang 8- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu dựa vào các Văn kiện, cácChỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Bộ giáo dục về chỉ đạo dạy học ở trườngtrung học phổ thông.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra, tổng kết kinhnghiệm dạy học và qua kinh nghiệm dạy học của bản thân; Thông qua trao đổi,thảo luận với các bạn bè đồng nghiệp và học hỏi kinh nghiệm dạy học của cácđồng chí giáo viên trong và ngoài nhà trường
- Phương pháp hỗ trợ: Thống kê số liệu, phân tích số liệu, dựa vào bảngbiểu, sơ đồ
b Thời gian tạo ra giải pháp.
Trong các năm từ năm học 2017 - 2018 đến HKI năm học 2019 - 2020 tạiTrường THCS Trung Nghĩa- Thành phố Hưng Yên
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP CỦA SÁNG KIẾN
1 Thuyết minh tính mới
Dưới đây là một số giải pháp trong quá trình lập kế hoạch, xây dựng phương
án và tiến hành và triển khai sáng kiến kinh nghiệm của bản thân tôi tại trườngTHCS Trung Nghĩa
1.1 Kinh nghiệm trong việc sử dụng sách giáo khoa môn GDCD
1.1.1 GV-HS khai thác tối đa những thông tin có trong SGK
Có thể nói tài liệu phục vụ việc dạy và học môn GDCD rất hạn chế
Đối với học sinh chỉ có 1 cuốn SGK của từng khối lớp:
Trang 9Đối với giáo viên ngoài SGK thì có thêm cuốn SGV và cuốn Thiết kế bài giảng:
Trang 10Tài liệu dạy và học rất hạn chế nhưng thông tin liên quan lại có rất nhiềutrong thực tế cuộc sống, trên các phương tiện thông tin đại chúng… Các thông tin
đó chỉ mang tính chất tham khảo bổ trợ GV và HS cần khai thác tối đa thông tin
có trong sách giáo khoa – đây là nguồn thông tin chuẩn và chính thống nhất
Trang 111.1.2 Sử dụng SGK mới xuất bản.
- Đầu năm học tôi luôn khuyến khích học sinh sử dụng sách giáo khoa mới
Vì đặc trưng của môn GDCD là luôn cập nhật những thông tin, số liệu, quy định
… mới Nếu sử dụng SGK cũ – mới không đồng bộ sẽ gây khó khăn trong quátrình khai thác kiến thức và quan trọng hơn việc tiếp cận thông tin cũ sẽ dẫn đếnsai lệch kiến thức
Ví dụ 1: Bài 12: Quyền và nghĩa vụ của công dân trong hôn nhân (SGKGDCD 9) mục 2b phần II Nội dung bài học
SGK GDCD (tái bản lần thứ 8) năm 2013 trang 42 viết:
- “ Cấm kết hôn trong những trường hợp người đang có vợ hoặc có chồng; người mất năng lực hành vi dân sự (bị bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình); giữa những người cùng dòng máu trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; giữa những người cùng giới tính.
SGK GDCD (tái bản lần thứ 14) năm 2019 trang 42 viết:
- “ Cấm kết hôn trong những trường hợp người đang có vợ hoặc có chồng; người mất năng lực hành vi dân sự (bị bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình); giữa những người cùng dòng máu trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.
- Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người có cùng giới tính.
Nguyên nhân của sự thay đổi nội dung bài học trên căn cứ vào Luật Hôn nhân vàgia đình 2014
Điều 5 Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình
1 Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
2 Cấm các hành vi sau đây:
a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
Trang 12c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;
e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;
g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;
h) Bạo lực gia đình;
i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.
Điều 8 Điều kiện kết hôn
1 Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.
2 Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
Ví dụ 2: Bài 13: Quyền tự do kinh doanh và nghĩa vụ đóng thuế (SGKGDCD 9) mục tư liệu tham khảo:
SGK GDCD 9 (tái bản lần thứ 8) năm 2013 trang 46 viết:
“Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”.
“Công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy định của PL”
(Điều 57 và 80 Hiến pháp năm 1992)
Trang 13SGK GDCD 9 (tái bản lần thứ 14) năm 2019 trang 46 viết:
“Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà PL không cấm”.
“Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định”.
(Điều 33 và 47 Hiến pháp năm 2013)
Như chúng ta đã biết Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam là văn bản có giátrị cao nhất trong hệ thống Pháp luật của Việt Nam Bản hiến pháp đang có hiệu lực
là bản năm 2013 là bản Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam được Quốc hội Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua vào sáng ngày
28 tháng 11 năm 2013 Như vậy những thông tin trong SGK cũ theo quy định củaHiến pháp 1992 không còn phù hợp nữa
Ví dụ 3: Bài 17: Nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc (SGK GDCD 9) mục tư liệu tham khảo:SGK GDCD 9 (cũ) trang 64 viết:
“ Công dân nam giới đủ 18 tuổi được gọi nhập ngũ; lứa tuổi gọi nhập ngũ
từ đủ 18 tuổi đến hết 27 tuổi” (Luật Nghĩa vụ quân sự năm 1981)
SGK GDCD 9 (tái bản lần thứ 14) năm 2019 trang 64 viết:
“Công dân nam giới đủ 18 tuổi được gọi nhập ngũ; lứa tuổi gọi nhập ngũ từ
đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi”
(Điều 12, Luật Nghĩa vụ quân sự - sửa đổi, bổ sung năm 2005)
Luật Nghĩa vụ quân sự được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam thông qua ngày 30 tháng 12 năm 1981, đã được sửa đổi, bổ sung lần thứ nhấtngày 21 tháng 12 năm 1990, lần thứ hai ngày 22 tháng 6 năm 1994 và lần thứ 3vào ngày 14 tháng 6 năm 2005. Trong “Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luậtnghĩa vụ quân sự của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số43/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005” ghi rõ:
Điều 1 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự:
1. Điều 12 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 12: Công dân nam đủ mười tám tuổi được gọi nhập ngũ; độ tuổi gọi nhập ngũ trong thời bình từ đủ mười tám tuổi đến hết hai mươi lăm tuổi”.
Như vậy thông tin trong SGK GDCD 9 cũ theo Luật Nghĩa vụ quân sự năm
1981 là không còn phù hợp
Trang 14- Trong trường hợp HS trong lớp sử dụng cả sách cũ và mới, GV phải nhấnmạnh, giải thích và yêu cầu HS tiếp nhận những thông tin mới nhất.
1.2 Kinh nghiệm dạy bài mới môn GDCD
1.2.1 Đối với giáo viên
- Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học tập vớicác hình thức đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng bài học,với đặc điểm và trình độ học sinh, với điều kiện cụ thể của lớp, trường và địaphương
- Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho học sinh được thamgia một cách tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá và lĩnh hội nộidung bài học; chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có của họcsinh; bồi dưỡng hứng thú, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập cho học sinh; giúp các em phát triển tối đa tiềm năng của bản thân
- Thiết kế và hướng dẫn học sinh thực hiện các dạng bài tập phát triển tư duy
và rèn luyện kĩ năng; hướng dẫn sử dụng các thiết bị, đồ dùng học tập; hướng dẫnhọc sinh có kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thựctiễn;
- Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lí,hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với đặc trưng của cấp học, môn học; nội dung, tínhchất của bài học; đặc điểm và trình độ HS; thời lượng dạy học và các điều kiện dạyhọc cụ thể của trường, địa phương
1.2.2 Đối với học sinh
- Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khámphá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ và hành vi đúng đắn
- Mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân; tích cực thảoluận, tranh luận, đặt câu hỏi cho bản thân, cho thày, cho bạn; biết tự đánh giá vàđánh giá các ý kiến, quan điểm, các sản phẩm hoạt động học tập của bản thân vàbạn bè
- Tích cực sử dụng thiết bị, đồ dùng học tập; thực hành vận dụng kiến thức
đã học để phân tích, đánh giá, giải quyết các tình huống và các vấn đề đặt ra từthực tiễn; xây dựng và thực hiện các kế hoạch học tập phù hợp với khả năng, điềukiện thực tế - Để làm tốt bài thi trắc nghiệm khách quan, học sinh phải chuẩn bịkiến thức lý thuyết đầy đủ
1.2.3 Không bỏ qua bất cứ 1 đơn vị kiến thức nào.
Trang 15Chương trình GDCD THCS từng khối lớp đều gồm 2 phần: đạo đức và phápluật được thiết kế như sau:
Lớp 6, 7:
1 Truyện đọc/ Thông tin sự kiện/ Quan sát ảnh…
2 Nội dung bài học
Phần đạo đức Phần Pháp luậtKhái niệm
Biểu hiện
Ý nghĩa
Cách rèn luyện
Khái niệmNội dung của quyền
Ý nghĩaCách rèn luyệnBất cứ đơn vị kiến thức nào trong bài cũng có thể trở thành dữ liệu để xâydựng câu hỏi trắc nghiệm kể cả phần thông tin hay phần tư liệu tham khảo
Ví dụ 1: Bài 6: Hợp tác cùng phát triển (GDCD 9 trang 20) phần I: Đặt vấn
đề đã đưa ra thông tin:
“Tính đến tháng 12 - 2002, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ”
(Báo cáo thống kê của Tổng cục Hải quan trình Chính phủ và các Bộ
có liên quan, ngày 31-12-2002).
Từ thông tin này có thể ra câu hỏi trắc nghiệm VD câu hỏi trắc nghiệm trong bàithi tổng hợp Kỳ thi khảo sát chất lượng lớp 9 THCS năm 2017:
Tính đến tháng 12 năm 2002, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với bao nhiêu quốc gia và vùng lãnh thổ?
Trang 16A 100 quốc gia.
B 200 quốc gia.
C 150 quốc gia.
D Trên 200 quốc gia.
Ví dụ 2: Bài 17: Nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc (GDCD 9) phần tư liệu tham khảotrang 64 viết:
“Công dân nam giới đủ 18 tuổi được gọi nhập ngũ; lứa tuổi gọi nhập ngũ từ
đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi”
(Điều 12, Luật Nghĩa vụ quân sự - sửa đổi, bổ sung năm 2005)
Dựa vào thông tin này có thể ra câu hỏi trắc nghiệm VD câu hỏi trắcnghiệm được sử dụng trong bài thi tổng hợp (Kỳ thi tuyển sinh vào 10 THPTkhông chuyên năm học 2018-2019)
Theo Luật Nghĩa vụ quân sự - sửa đổi bổ sung năm 2005, lứa tuổi gọi nhập ngũ đối với nam thanh niên là từ đủ:
Trang 17Ví dụ: Khi dạy xong tiết 1 bài “Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lícủa công dân” tôi đã đưa ra 6 câu hỏi trắc nghiệm để giúp học sinh nhớ, phân biệtcác khái niệm và các loại vi phạm pháp luật:
Câu 1: Vi phạm pháp luật hành chính được hiểu là:
A: Hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm các quan hệ về tài sản
B: Hành vi vi phạm pháp luật gây nguy hiểm cho xã hội
C: Hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm các quy tắc quản lí nhà nước màkhông phải tội phạm
D: Hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm các quan hệ kỉ luật lao động
Câu 2: Vi phạm pháp luật hình sự được hiểu là:
A: Hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm các quan hê về tài sản
B: Hành vi vi phạm đạo đức thuần phong mỹ tục
C: Hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm các quy tắc quản lí nhà nước màkhông phải tội phạm
D: Những hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị coi là tội phạm được quy địnhtại Bộ luật Hình sự
Câu 3: D 16 uổi, điều khiển xe máy 70 phân khối và không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông Hành vi của D đã vi phạm pháp luật nào dưới đây?
A : Vi phạm Luật Hành chính
B: Vi phạm pháp Luật Hình sự
C : Vi phạm pháp Luật Dân sự
D: Vi phạm nội quy trường hoc về văn hóa tham gia giao thông
Câu 4: Trong giờ làm bài thi, H đã cố tình sử dụng tài liệu để “quay” bài Giám thị phát hiện và yêu cầu H dừng làm bài Hành vi của H đã vi phạm điều gì dưới đây?
A: Vi phạm hạnh kiểm của người học sinh
Trang 18A Người lái xe uống rượu say, đâm vào người đi đường.
B Em bé 5 tuổi nghịch lửa làm cháy gian bếp nhà hàng xóm
C Đá bóng dưới lòng đường gây tai nạn giao thông
D Điều khiển xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm
Câu 6 Em hãy xác định hành vi nào sau đây vi phạm pháp luật dân sự?
A Thực hiện không đúng các quy định trong hợp đồng thuê nhà
B Trộm cắp tài sản công dân
C Lấn chiếm vỉa hè, lòng đường
D Nghỉ học không có giấy xin phép
Trong quá trình dạy học, ngoài những bài tập phần III trong SGK, giáo viêncần phải đưa thêm câu hỏi trắc nghiệm vào từng đơn vị kiến thức, từng phần nhằmgiúp học sinh củng cố sâu hơn kiến thức đã học
1.3 Kinh nghiệm ôn môn GDCD
1.3.1 Xây dựng bộ câu hỏi cho từng bài.
Trong bài thi tổng hợp của kỳ thi khảo sát chất lượng lớp 9 và Kỳ thi tuyểnsinh vào 10 THPT không chuyên chỉ áp dụng câu hỏi trắc nghiệm với môn GDCD.Nhưng trong các bài kiểm tra định kì vẫn sử dụng kết hợp cả 2 hình thức thi trắcnghiệm và tự luận Vì vậy ngay từ đầu năm học tôi đã hoàn thiện 1 cuốn tài liệudùng cho việc dạy và ôn tập môn GDCD 9 Cuốn tài liệu của tôi gồm 2 phần:
Phần 1: Bài tập trắc nghiệm.Trong phần này tôi xây dựng hệ thống câu hỏi
trắc nghiệm theo bài Các câu hỏi có nhiều cấp độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng
và cả vận dụng cao Sau phần câu hỏi từng bài tôi còn xây dựng 2 bài ôn tập tổnghợp, mỗi bài là 100 câu hỏi trắc nghiệm
Phần 2: Bài tập tình huống.Trong phần này tôi cũng đưa ra các bài tập tình huống của từng bài Các bài tập tình huống tôi tham khảo trong cuốn “Bài tập tình huống GDCD 9” (Có tài liệu kèm theo: Ôn thi GDCD 9)
1.3.2 Sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong các tiết ôn tập.
Do đặc trưng của trường, trong suốt năm học nhà trường đều dành thời gian
1 buổi/tháng cho các môn Lí, Hóa, Sinh, Sử, Địa, GDCD để ôn tập cho học sinhnên tôi đã tổ chức 1 buổi ôn tập như sau:
Phần 1: Ôn tập lí thuyết.
Trang 19Để ôn tập kiến thức các bài đã học tôi thường vận dụng kĩ thuật sơ đồ tư duy
để giúp học sinh ôn tập và hệ thống lại kiến thức
- Sơ đồ tư duy nhằm trình bày một cách rõ rang những ý tưởng mang tính kế hoạchhay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề Sơ đồ tư duy có thể viếttrên giấy, trên bảng trong, trên bảng hay thực hiện trên máy tính
- Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy Đây là cách dễ nhất để chuyển tải
thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não Nó là một phương tiện ghichép đầy sáng tạo và rất hiệu quả nhằm “Sắp xếp” ý nghĩ Việc dạy học bằng sơ đồ
tư duy đã giúp giáo viên và học sinh:
Dạy học mang lại hiệu quả cao
Phát triển tư duy logic, khả năng phân tích tổng hợp
Học sinh dễ hiểu bài, nhớ lâu, các mối quan hệ của các nội dung trong chủ
đề trở nên rõ ràng;
Phù hợp với tâm sinh lí học sinh, đơn giản
Học sinh được luyện tập phát triển, sắp xếp các ý tưởng, nội dung luôn cóthể bổ sung, phát triển, sắp xếp lại
- Cách lập sơ đồ tư duy gồm 4 bước:
Bước 1: Xác định chủ đề chính (chủ đề cần tìm hiểu) – Thường là tên bài
Bước 2: Phát triển ý tưởng tự do.Từ một chủ đề lớn, tìm ra các chủ đề nhỏliên quan (chủ đề nhỏ) Từ mỗi chủ đề nhỏ lại tìm ra những yếu tố/nội dung liênquan (Chủ đề nhỏ hơn)
Bước 3: Xem xét và thảo luận để loại bỏ nội dung trùng lặp, thiếu chính xác.Bước 4: Hoàn thiện sơ đồ tư duy tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả vềchủ đề lớn một cách đầy đủ và rõ ràng
- Một số lưu ý khi học sinh lập sơ đồ tư duy:
+ Trước khi có được các ý tưởng để vẽ được sơ đồ tư duy theo nhóm, GV cần dạy
HS cách động não để tìm ra ý tưởng theo quy trình sau :
Trang 205 Cử một thành viên ghi lại tất cả các ý tưởng
6. Khi không có thêm ý tưởng mới, bắt đầu lập sơ đồ tư duy
+ Khi vẽ sơ đồ tư duy cần hướng dẫn học sinh cách trình bày như sau:
Trang 21Sơ đồ tư duy bài: Chí công vô tư
Trang 22
Sơ đồ tư duy bài: Tự chủ
Trang 23Sơ đồ tư duy bài: Dân chủ và kỉ luật
Trang 24
Sơ đồ tư duy bài: Tình hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới
Việc sử dụng sơ đồ tư duy không chỉ được áp dụng vào các tiết ôn tập mà còn pháthuy được tác dụng ở các tiết thực hành ngoại khóa hoặc trải nghiệm sáng tạo Các
Trang 25sản phẩm sơ đồ tư duy mà học sinh đã làm thể hiện rõ sự “chuyên nghiệp” của họcsinh Học sinh không chỉ biết hệ thống kiến thức mà còn thể hiện được tài năng hội
họa của mình
Dưới đây là 1 số sơ đồ tư duy học sinh trường THCS Trung Nghĩa đã thựchiện và trình bày trong các tiết trải nghiệm sáng tạo môn GDCD 9: