1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

Mẫu Liễu Thanh Sam: Bước đầu nghiên cứu về nhóm văn bản chép sự tích Liễu Hạnh công chúa xuất hiện từ thời Lý

16 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ruyền thuyết về những lần hóa sinh của Mau Liễu, chẳng hạn tam hóa tam sinh (hay hóa sinh tam thế), là một trong những trụ cột cơ bản để làm hình thành tín ngưỡng thờ Mẩu Liễu -[r]

Trang 1

MẦU u lu THANH SAM: BƯỚC otiu NGHIỈN cứu vế

xuất HlễN Từ THỜI IV

ruyền thuyết về những lần hóa sinh của Mau Liễu, chẳng hạn tam hóa tam sinh (hay hóa sinh tam thế), là một trong những trụ cột cơ bản để làm hình thành tín ngưỡng thờ Mẩu Liễu - vị thần trung tâm trong hệ thống tín ngưỡng tứ phủ ở Việt Nam Bằng việc phát hiện ra nhóm văn bản Quảng Cung linh từ (Phủ Nấp) ở Nam Định gần đây, học giới biết đến lớp truyền thuyết về lần giáng sinh đầu tiên của Mầu Liễu vào năm Thiệu Bình 1 đời Lê Thái Tông (1434) trong một gia đỉnh hiếm muộn họ Phạm ở Trần Xá (Vi Nhuế/Quảng Nạp) Lớp truyền thuyết này, ngoài cuốn Cát thiên tam thế thực lục được soạn và in khắc gỗ vào đầu thập niên 1910, đang còn để lại nhiều nghi vấn về tính xác thực của những di vật mang niên đại sớm, nhưng

đã đẩy thời điểm giáng trần lần đầu tiên của Mẩu Liễu sớm hơn tới cả một thế ki, nếu so với định thuyết trước nay gắn với lớp truyền thuyết Phủ Giày (lớp này có quan hệ sâu sắc với tác phẩm Vân Cát thần nữ truyện do Đoàn Thị Điểm soạn vào khoảng thập niên 1740, kể rằng Mau Liễu giáng trần lần đầu tiên vào năm Thiên Hựu 1 đời Lê Anh Tông, tức năm 1557, vào một gia đình hiếm muộn họ Lê) Phủ Giày và Phủ Nấp vốn đều thuộc vào phủ Nghĩa Hưng tinh Nam Định trước đây, cách nhau khoảng 10 km [Dương Văn Vượng 2010, Chu Xuân Giao 2010]

Gần đây, chúng tôi phát hiện một nhóm văn bản tiếp tục đẩy thời điểm giáng trần lần đầu tiên của Mầu Liễu sớm hơn nhóm văn bản của Phủ Nấp,

Chu Xuân Giao

* ThS., Viện Nghiên cứu văn hóa (Viện Hàn lâm Khoa học xă hội Việt Nam).

Trang 2

lén tận thời Lí, gắn với những cuộc viễn chinh của Đại Việt về phía nam Đó

là cuốn Thanh Sam xã thần tích viết tay (chưa được khắc in), được cho là soạn bởi Nguyễn Bính vào năm Hồng Phúc 1 đời Lê Anh Tông (1572) và sao lại bởi Nguyễn Hiền vào năm Vĩnh Hựu 11 đời Lê Ý Tông (1745) Thần tích hiện được lưu giữ ở hai nơi: đền Thanh Sam ở xã Trường Thịnh huyện ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội), và Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Đây là nhóm văn bản chưa từng được biết đến trước nay trong nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mau nói chung và Mầu Liễu nói riêng

Bài viết này giới thiệu những nét chính về nội dung của thần tích Thanh Sam và hiện trạng của đền Thanh Sam tại huyện ứ n g Hòa, qua đó, đưa ra những nhận định bước đầu về ý nghĩa của lớp truyền thuyết Mầu Liễu Thanh Sam trong bức tranh chung về tín ngưỡng thờ Mẩu Liễu ở Việt Nam

1 Tóm lược nội dung thần tích Mẩu Liễu Thanh Sam

Thanh Sam xã thần tích st (thần tích của xã Thanh Sam) bản viết tay gồm 22 trang, được đóng chung vào tập Hà Đông tỉnh Sơn Lãng huyện Bạch Sam tổng các xã thần tích ƯJ Ệị ệế ÉJ hiện lưu tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm với kí hiệu AE.a2/47 Tư liệu

có lẽ được Học viện Viễn đông Bác cổ (EFEO) sao chép về từ bản lưu ở địa phương vào đầu thể kì XX Tạm gọi bản đang lưu ờ Viện Nghiên cứu Hán Nôm là nhóm văn bản A (hi vọng là sẽ có thêm những văn bản khác bổ sung cho thần tích trong nhóm văn bản này)

Ở địa phương, tức tại đền Thanh Sam ngày nay, theo lời của người thủ đền hiện nay1 và bảng giới thiệu treo trong khuôn viên đền hiện nay, cũng như ghi chép cùa tác giả Trần Duy Phương, thì còn lưu giữ được: 1 Thần phả do Hàn lâm viện Đông các đại học sỹ Nguyễn Bính phụng soạn vào năm Hồrig Phúc nguyên niên (1572-1573)”; 2 Hòm sắc của hai vị thánh (“thánh cả” là Trần Quảng Uy còn 3 đạo, “thánh mẫu” là Liễu Hạnh còn 7 đạo) có niên đại thuộc thế ki XVI-XVIII; 3 Cuốn diễn ca sự tích gồm hơn một trăm câu, có nội dung ca ngợi công đức Mầu Liễu [Trần Duy Phương 2005 : 10;

Tư liệu quốc ngữ tại thực địa 1] Tạm gọi nhóm tư liệu ở địa phương này là nhóm văn bản B

Ở thời điểm hiện tại, chúng tôi mới tiếp cận và khảo sát được nhóm văn bản A Vì vậy, bản tóm lược nội dung thần tích Thanh Sam ờ dưới đây

1 Thù từ hiện nay là ông Nguyễn Duy Chinh (sinh năm 1944), đã trông coi đền Thanh Sam nhiều năm (theo lời ông, đa được khoảng 9 năm).

Trang 3

328 Van hó a th ờ N ữ th ấ n - MẪU ở V lỆT NAM VA CHÂU A

là dựa chính vào bản A và tư liệu tiếng Việt đã xuất bản gần đây của Trần Duy Phương [Trần Duy Phương 2005 : 10-20] Nội dung thần tích có thể tạm phân thành 6 đoạn như sau

Đoạn 1: Xuất thân: Hai anh em Trần Quảng Uy và Trần Liễu Nương

ờ phủ Quốc Oai thời Lí

Vào thời Lí, ở làng Quả Hối huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai, có vợ chồng ông bà Trần Minh Thiện - Nguyễn Thị Sương sống với nhau như cặp uyên ương, nhân hậu, phúc đức, được mọi người kính trọng Hiềm một nỗi, ông bà tuổi đã cao mà vẫn chưa có con Hai người đi cầu tự khắp nơi

Lòng thành kính của ông bà đã động đến trời cao Ông bà gặp được tiên ông chỉ cho mảnh đất linh với thế long chầu hổ phục, phượng hoàng đậu, nếu táng mả tổ vào đó sẽ có phúc lộc dài lâu Ông bà làm theo đúng lời tiên ông mách bảo

Lạ thay, từ hôm đó, trong nhà thay đổi: sinh khí vượng, đồ vật bỗng trờ nên ấm áp Một hôm bà Sương nằm mơ, thấy giữa nhà xuất hiện một hổ lang sẳc màu rực rỡ, tiếng gầm vang như xé nát màn đêm, kinh động cả một vùng yên tĩnh Bà kể lại cho chồng nghe, ông Thiện cho đó là điềm lành Quả nhiên, sau 11 tháng mang thai, đến ngày 10 tháng giêng năm Canh Thìn, vào giữa đêm thanh gió mát, bà Sinh trờ dạ rồi sinh được một bé trai Bé trai này

có tướng mạo khác thường: đầu hùm, hàm én, mắt phượng, mày ngài, Ông

bà đặt tên con là Trần Quảng Uy

Ba năm sau, ông Thiện lại nằm mơ, thấy căn nhà mình rực lên màu, đỏ

- thứ ánh sáng dịu chưa thấy bao giờ Trong ánh sáng kì ảo đó, một con chim khổng tước bay lượn trên cao rồi đạu xuống nóc nhà Trong nháy mắt, con chim ấy biến thành con rắn trắng bò vào giường ông Sau đó, một cụ giả xuất hiện, tay cụ cầm cây liễu trên bụng bà Sương Ông muốn ngăn lại, nhưng bàn tay ông nhỏ bé và yếu ớt, chỉ còn biết quờ quạng trong đêm tối Từ hôm

đo, bà Sương thấy trong người khác thường, rồi mang thai Sau 10 tháng, bà sinh hạ một bé gái Khi đặt tên con, nhớ hình ảnh cụ già tay cầm cây liễu trước đây, nên chọn tên là Trần Liễu Nương

Năm Liễu Nương vừa tuổi trăng tròn, cũng là lúc cha mẹ theo nhau về trời Nỗi niềm thương cha nhớ mẹ đã thôi thúc hai anh em chăm chi học hành Đoạn 2: Gặp vua Lí ở Thăng Long và được phong là Liễu Hạnh công chúa

Mùa xuân năm đó, hai anh em nhà họ Trần rủ nhau du ngoạn chốn kinh thành Vua Lí trông thấy Liễu Nương xinh đẹp mà đem lòng yêu thương, bèn rước về cung Vua phong Liễu Nương là Liễu Hạnh công chúa.

Trang 4

M â u Liễu Thanh Sam: bước đầu nghiên cứu 329

Sau đó, vua lập Liễu Hạnh công chúa là hoàng hậu Trần Quảng Uy được phong làm tướng quân

Đoạn 3: Trần Quàng Uy có công đánh giặc được ban vùng đất Hoa Sam (Thanh Sam ngày nay)

Lúc bấy giờ, đất nước thanh bình Nhân một chuyến tuần du, vua cùng hoàng hậu đến xã Hoa Sam huyện Sơn Minh phủ ứng Thiên, thấy cảnh và người hữu tình, liền truyền lệnh cho quan quân dựng hành cung Vua cùng hoàng hậu và Trần Quảng Uy ở đó

Ba năm sau, bờ cõi phía nam bị xầm lấn Nhà vua cầm quân ra trận Quảng Uy được phong làm tướng dẫn hai đạo quân về miến Sơn Nam để phối họp với quân nhà vua, mở một trận quyết chiến

Sau khi thắng trận trở về, vua tôi mở hội mừng công, Trần Quảng Uy được vua ban cho vùng đất Hoa Sam để làm thang mộc ấp

Đoạn 4: Hoàng hậu Liễu Hạnh ra trận giúp vua Lí

Một thời gian sau, giặc ở phía nam lại xâm lấn bờ cõi Đại Việt Nhà vua tuyển mộ hàng ngàn người con ờ huyện Sơn Minh vào chiến trường châu Hoan đánh giặc Vua Lí bị quân giặc vây hãm Hoàng hậu biết tin, liền sửa lễ cầu xin trời đất, rồi cũng tập hợp binh lính, ra trận và giải cứu nhà vua Nhà vua, hoàng hậu, Quảng Uy đã làm quân giặc hoảng loạn, bỏ chạy

Núi sông trở lại bình yên Vua Lí mờ hội khao thưởng quân sĩ Trần Quảng Uy được phong vương Hoàng hậu được ban rất nhiều vàng bạc, ruộng đất, nhưng bà đã mang phát lộc muôn dân và giành một phần cho Hoa Sam Hai anh em thường du ngoạn khắp nơi, cùng nhau đàm đạo thỉ ca

Đoạn 5: Hai anh em nối nhau qua đời vào đầu tháng 3

Sau khi đi du ngoạn, vào ngày mồng 3 tháng 3, hai anh em hoàng hậu trờ về làng Quả Hổi bái yết gia tiên, thăm hỏi họ hàng, rồi lên núi Sài Sơn thăm mộ phần tổ tiên Tại đây, hoàng hậu đã theo tiên ông về thượng giới

Thương nhớ em, ba ngày sau, tức vào ngày mồng 6 tháng 3, Trần Quảng Ưy cũng theo bước đường mây về trời

Đoạn 6: Được phong tặng mĩ tự để thờ phụng, và phù trợ cho đất nước

Sau khi hai anh em hoàng hậu qua đời, nhớ công ơn của hai vị, dân làng Hoa Sam dựng một ngôi đền để thờ phụng Vua Lí phong Quảng Uy là

Vĩ liệt hoang tế linh thông đại vương. Đồng thời, cũng phong hoàng hậu là

Trang 5

330 Van h ó a th ờ Nữ th ắ n - MẪU ở VlỆT NAM VÀ CHÂU Á

Vương phi Hoàng hậu Liễu Hạnh thuần mĩ công chúa ĩE ặB ii:/p ttĩí?

Tương truyền, sau này, khi tiến quân đánh giặc Nguyên Mông, nghe tin ở Thanh Sam có ngôi đền linh ứng, vua Trần Thái Tông liền sửa lễ đến nơi cầu độ Quân Trần được âm linh phù trợ mà nhanh chóng đánh tan quân xâm lược Các bậc đế vương kế tiếp cũng tìm về đền Thanh Sam cầu đảo Để trả ơn công phù trợ, các đời đều ban sấc phong và tiền bạc sửa sang ngôi đền phụng thờ hai vị

2 Đền Mẩu Liễu Thanh Sam ngày nay

Hình 1: Tòa chính điện của đền Mầu Thanh Sam (tháng 8/2012)1

Đền Thanh Sam ngày nay nằm trong Khu du tích Lịch sử Văn hóa chùa và đền Mau Thanh Sam thuộc làng Thanh Sam xã Trường Thịnh huyện

1 Ngoài nhừng ảnh có chú thích riêng, tất cả ảnh trong bài này là của tác giả.

2 Bằng công nhận số 423, do Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin Nguyền Khoa Điềm ký ngà>

29 tháng 3 năm 1997.

Trang 6

ứ ng Hòa, cách trung tâm Hà Nội hơn 30 km (theo đường quốc lộ 21B) Chùa và đền nằm trong cùng một khu vực, cùng được nhận Bằng công nhận

Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia vào năm 19972 Chùa Thanh Sam có tên chữ là Quang Linh tự là một ngôi chùa cổ, còn lưu giữ nhiều hiện vật được xem có niên đại đời Trần Cạnh chùa là đền Thanh Sam Người dân trong vùng thường gọi là “đền Thanh Sam”, “đền Mẩu Thanh Sam”, “đền Mau Liễu”, “đền Mầu Liễu Thanh Sam” Một số di vật (chuông đồng, hoành phi, đại tự, ) trong chính điện thì ghi “Thánh Mau linh từ” hay “Thượng đẳng tối linh từ” Tam quan của ngôi đền thì ghi ba chữ “Khôn tại càniệíEỆẾ” Kiến trúc hiện thấy của ngôi đền đã được trùng tu gần đây nhất vào năm 2002 [Tư liệu quốc ngữ tại thực địa 1,2]

Tòa chính điện của ngôi đền có diện tích không lớn (xem Hình 1). Di vật mà chúng tôi được tiếp cận trong chính điện đều có niên đại cuối triều Nguyễn (đồ thờ tự bằng gỗ, hoành phi, đại tự, câu đối, bia đá, mộc bản, ) Thủ từ thì cho biết là ngôi đền từng đã bị mất di vật gỗ, rất may các đồ thờ tự bằng đồng thì luôn được bảo quản cẩn thận nên không hề gì (đồ thờ tự bằng đồng chi được mang ra sử dụng vào dịp lễ hội, còn bình thường được cất giữ một nơi bí mật)

Có hai điểm đáng chú ý như sau trong cấu trúc và cách bài trí và hiện tại của tòa chính điện đền Thanh Sam

Một là, tòa chính điện có hậu cung gồm hai lớp với hai lần cửa Lớp trong của hậu cung, tức điểm sâu nhất của tòa chính điện, là nơi thờ Thánh

Cả (Trần Quảng Uy); trước đây, có tượng thờ, nhưng khoảng 5 năm trước đã chuyển về thờ ở đình làng Thanh Sam, nay chỉ còn bệ thợ Lớp ngoài của hậu cung, tức lớp hậu cung trước nơi thờ Thánh Cả trước đây, là nơi thờ Thánh Mẩu (Trần Liễu Nương, tức Liễu Hạnh) Hiện có tượng Thánh Mầu mặc áo màu đỏ ngồi trong ngai Trước tượng có một hòm đựng sắc cũng được phủ vải đỏ thêu kim tuyến

Nếu đi từ ngoài cửa vào bên trong tòa chính điện, sẽ thấy thứ tự bốn lớp ban thờ trong chính điện như sau (xem Hình 2): 1 Ban Thinh Phật (ở ngoài cùng, bên dưới có hạ ban thờ ngũ hổ, hai bên có tả ban và hữu ban); 2 Ban Công đồng (ở sau Ban Thinh Phật); 3 Ban thờ Đức Thánh Mẩu (lớp, hậu cung thứ nhất, có lần cửa hậu cung thứ nhất để ngăn cách với bên ngoài); 4 Ban thờ Đức Thánh Cả (lóp hậu cung thứ hai, có lần cửa hậu cung thứ hai)

Hai là, ở phía dưới mỗi điểm đặt tượng thờ trong hai lớp hậu cung đều

có một giếng nước Tức là: trước đây, có hai pho tượng ở hai lớp hậu cung,

Trang 7

332 Van h ó a th ờ Nữ th án - MẪU ở VlỆT NAM VA CHÁU Á

thì ở dưới mỗi chiếc bàn đặt tượng là một chiếc giếng Tương truyền nước ở hai chiếc giếng trong hậu cung liên thông với sông ở bên ngoài xa, nếu thả một quả cam xuống giếng thì sẽ thấy nó trôi ra sông Hiện nay, cả hai giếng đều đã được lấp cát, giếng không có nước Thành giếng được xây bằng gạch theo hình vuông, độ sâu từ mặt cát lên mặt thành giếng khoảng trên Im Hai chiếc giếng này còn được gọi là “giếng âm dương”

Đức Thánh Cả

Hình 2: Lược đồ mặt bằng bên trong tòa chính điện (nhìn từ ngoài vào trong)

về lễ tiết hiện đang thực hiện hàng năm tại đền, thì thủ từ cho biết: độc đáo nhất là cứ vào đêm giao thừa thì các vị trong ban khánh tiết của làng sẽ đọc ngọc phả của ngôi đền ở bên trong chính điện Trước đây là đọc bản chữ Hán, nay thì đọc bản quốc ngữ (tuy nhiên, qua phỏng vấn hồi cố thì khoảng

từ năm 2010 đến nay, người ta không đọc ngọc phả vào đêm giao thừa)

Theo thủ từ, hàng năm có hai lần lễ hội lớn Lần thứ nhất là vào tháng giêng, từ ngày mồng 9 đến ngày 16, để kỉ niệm ngày sinh của Thánh Mầu (ngày mồng 10) Lần thứ hai là vào tháng 3, từ ngày mồng 1 đến ngày mồng

6, để kỉ niệm ngày hóa của hai vị thánh (ngày mồng 3 và ngày mồng 6)

“Dân làng tổ chức tế lễ; lễ vật dâng lên Mầu Liễu là các đồ chay: hương hoa, oản quả, xôi bánh; dâng lên tướng Quảng Uy có gà, trâu, lợn, tùy theo lòng thành và thu hoạch mùa màng của dân Phần vui có ca hát, đặc biệt có tục

Trang 8

hầu bóng thu hút được nhiều người đến dự hội Theo tục hèm ở đây, người vào lễ không được mặc sắc phục màu vàng và màu hồng để tỏ lòng tôn kính hai vị thánh Vì màu vàng, hồng xưa kia chi dành riêng cho nhà vua và hoàng hậu” [Trần Duy Phương 2005 : 21-22]

Hình 3 a-b: Tượng Mầu Liễu (3a-bên trái: năm 2012; 3b-bên phải: năm 2005)1

Theo thù từ, vào ngày mồng 3 tháng 3, người đến lễ rất đông, mà nhiều nhất là người từ Hòa Bình xuống (hơn cả số khách đến từ Hà Nội) Thường thì ngày đó, phía nhà đền tổ chức thụ lộc với khoảng 150 mâm cỗ (tức khoảng 900 dự cỗ) Sang ngày mồng 4 thì thường có những lễ hầu đồng lớn

do các bà đồng có tiếng ờ địa phương phụ trách

Ngoài hai lễ lớn trên, trong một năm, cũng giống như nhiều đền phủ khác, tại đây cũng có các lễ thuộc “việc làng tứ quí”, là: thượng nguyên (ngày 10 tháng 2), vào hè (ngày 10 tháng 5), ra hè (ngày 10 tháng 7), cơm mới (10 tháng 10) Hàng tháng thỉ người đến lễ đông vào các ngày mồng một và rằm, còn ngày thường thì ít khách vãng lai

3 Suy nghĩ bước đầu về Mấu Liễu Thanh Sam trong bức tranh chung về tín ngưỡng thờ Mẩu Liễu ở Việt Nam

Mẩu Liễu trong truyền thuyết Mẩu Liễu Thanh Sam như đã thuật lại ờ trên có một số điểm chung với truyền thuyết Mầu Liễu chúng ta biết rộng rãi

1 3a-bên trái là ảnh của tác giả bài viết; 3b-bên phải là ảnh lấy từ trang bìa của Trần Duy Phương 2005.

Trang 9

334 Van h ó a th ờ NữTHẴN - MẴU ở V iệ t NAM VẢ CHÂU Á

trước nay (chủ yểu là nhóm văn bản liên quan đến Đoàn Thị Điểm mà trung tâm là Vân Cát thần nữ truyện trong cuốn Truyền kỳ tân phá in khắc gỗ nàm 1811; và nhóm văn bản liên quan đến Phù Nấp mới được phát hiện gần đây

mà trung tâm là cuốn Cát thiên tam thế thục lục in khắc gỗ năm 1913) Có thể thấy các điểm sau Một là, được sinh ra trong một gia đình hiếm muộn Cha mẹ cao tuổi mà chưa có con, đi khắp nơi để cầu tự Lòng thành kính cùa ông bà thấu đến trời xanh, nên cuối cùng đã được toại nguyện Hai là, lúc sinh thời, nổi danh tài sắc Ba là, được ban danh hiệu là Liễu Hạnh công chúa Bổn là, mất vào ngày mồng 3 tháng 3

Trước nay, giới nghiên cứu thường cho rằng sự xuất hiện của Liễu Hạnh công chúa là bắt đầu từ thời Lê hay Lê - Mạc (có thể là đầu đời Lê Thái Tổ, đầu đời Lê Thái Tông, hay đầu đời Lê Anh Tông tùy theo văn bản, ), nhưng “không tư liệu nào nói Mẩu sinh ra dưới thời Trần” [Trần Quốc Vượng 2004] Nay, không chi ờ thời Trần, mà chúng ta còn thấy cả thần tích về Mầu Liễu với tục danh là Trần Liễu Nương xuất hiện ở tận thời

Lí Sự xuất hiện sớm, đến mức, có thể nói là, ngoài sức tường tượng nói chung của các nhà nghiên cứu

Tuy không rõ là vào thời vua Lí nào, nhưng Trần Liễu Nương đã kết duyên cùng vua Lí khi tình cờ gặp gỡ tại vùng Hồ Tây Khi về cung, Trần Liễu Nương được phong là Liễu Hạnh công chúa, sau lại được phong hoàng hậu (ừong thần tích, có cả cách gọi là “Hoàng hậu Liễu Hạnh công chúa

Khi qua đời, ngài được vua Lí phong làm Vương phi Hoàng hậu Liễu Hạnh thuần mĩ công chúa E E Ộ S H /o^P ĩírM H ^âĩ- Mau Liễu ở thời Lí còn xuất hiện cùng với người anh trai là Trần Quảng Uy, từng cùng vua Lí và anh trai tham gia chiến trận đánh dẹp ở phía nam Đại Việt lúc đó Ngôi đền Thanh Sam vốn có tượng thờ cả hai anh em với hai lớp hậu cung như đã trình bày ờ trên

Điểm đánh chú ý về mặt văn bản là, thần tích Mẩu Liễu Thanh Sam được cho là do Nguyễn Bính soạn, và sau này, được Nguyễn Hiền sao lại

Cụ thể là: 1 Ở đầu thần tích ghi “Thanh Sam xã thần tích, Việt Thường thị Vương phi Hoàng hậu, Quảng Uy đại vương ngọc phả cổ lục, Nam nữ tạp chi đệ lục bộ, Quốc triều Lễ bộ chính bàn” (Thần tích xã Thanh Sam, Ngọc phả cổ lục về Vương phi Hoàng hậu của Việt Thường thị, Bộ thứ 6 thuộc tạp chi Nam Nữ, chính bản của bộ Lễ); 2 Ở cuối thần tích ghi “Hồng Phúc nguyên niên quí thu cốc đán, Hàn Lâm viện Đông các đại học sĩ thần Nguyễn Bính phụng soạn; Vĩnh Hựu thập nhất niên trọng đông cát nhật

Trang 10

M â u Liễu Thanh Sam: bước đầu nghiên cứu 335

Quàn giám bách thần tri điện hùng lĩnh thiếu khanh thần Nguyễn Hiền tải tuân cựu bàn thừa sao” (Vào ngày tốt cuối thu năm Hồng Phúc thứ nhất -

1572 - Hàn Lâm viện Đông các đại học sĩ là Nguyễn Bính phụng soạn; vào ngày lành cuối đông năm Vĩnh Hựu thứ mười một - 1745 - Quản giám bách thần tri điện hùng lĩnh thiếu khanh là Nguyễn Hiền sao lại theo đúng bản cũ)

Trong các thần tích về Mẫu Liễu mà chúng tôi từng được tiếp xúc và khảo sát, thì có một số là do Nguyễn Bính soạn thời Hồng Phúc Các thần tích ghi do Nguyễn Bính soạn thường thuật sự xuất hiện của Mầu Liễu ở thời

Lê tại xã An Thái phủ Nghĩa Hưng Chẳng hạn, một ví dụ gần gũi, là thần tích của xã Thành Vật - một xã cùng nằm trong một tổng với xã Thanh Sam (hai xã đều thuộc tổng Bạch Sam huyện Sơn Lãng tỉnh Hà Đông trước đây)

Do cùng một tổng, nên thần tích của xã Thành Vật mang tiêu đề Thành Vật

xã thần tích cũng nằm trong tập Hà Đông tinh Sơn Lãng huyện Bạch Sam tổng'các xã thần tích M Ĩ Ệ C í É i ' u đ a n g lưu tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm với kí hiệu AE.a2/47 Thần tích của

xã Thành Vật có một phần thuật về sự tích Liễu Hạnh, cũng do Nguyễn Bính viết và Nguyễn Hiền sao, nhưng là Liễu Hạnh của phủ Nghĩa Hưng ờ thời Hồng Đức Tức là, ở trong cùng tổng Bạch Sam, chúng ta đã thấy có hai dòng thần tích về Mầu Liễu: một dòng gắn với phủ Nghĩa Hưng ở thời Lê, một dòng gắn với phủ Quốc Oai và phủ ứ ng Thiên thời Lí Vì sao lại song song tồn tại hai dòng thần tích như vậy trong một phạm vi không gian hẹp, của chi một tổng, thì cần có những khảo cửu chuyên biệt tiếp theo

Ở đây, với sự xuất hiện của thần tích Mẩu Liễu Thanh Sam gắn với khung cảnh nước Đại Việt thời Lí, và sự liên đới của thần tích này với hai nhân vật nổi tiếng trong việc biên lục thần tích của Đại Việt thời Hậu Lê (Nguyễn Bính, Nguyễn Hiền), cho chúng tôi ba sở đắc chính để làm việc như sau Xin trình bày về ba sở đắc này để đóng lại bài viểt mang tính khơi mào này

Thứ nhất, trước nay, trong các nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mầu Liễu ở Việt Nam, nhất là ở những nghiên cứu có khảo sát.nguồn truyền bản của truyền thuyết (của Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Huyên, Durand, Trương Đình Hòe, Onishi, Olga, Trần ích Nguyên, ), chúng ta chưa thấy sự xuất hiện của Thanh Sam xã thần tích. Chẳng hạn, ngay gần đây, Trần ích Nguyên thực hiện một tổng quan khá công phu về tư liệu Hán Nôm liên quan đến truyền thuyết Mẩu Liễu, ừong đó có phần thần tích [Trần ích Nguyên 2007 : 163-164; Trần ích Nguyên 2010: 201-203] Mặc dù ông đã

Ngày đăng: 03/02/2021, 15:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w