Mặt khác, cũng cần phải có những quy định nhằm tạo các điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong quá trình giao dịch, mua bán chứng khoán (đặt lệnh mua bán chứng kho[r]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIÊN CỦA VIỆC XÂY DỤNG
LUẬT VỂ CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHÚNG
KHOÁN Ở VIỆT NAM
(Đề tài nghiên cứu cơ bản KHXHNV cấp Đại học quốc gia Hà nội)
L A , H Ọ C Q U O C g ia h a NOi
TRƯNG TÂM THÒ NG TIN THU VIỂN
Ữ T / 4 CK
C hủ trì đề tài: TS Lê T hị Thu Thuỷ
Tham gia thực hiện đề tài: TS Nguyễn A nh Sơn
Trang 2MỤC LỤC
Phần mở đầu
Chương l ĩ Tổng quan về chứng khoán, thị trường chứng khoán và sự cần thiết phải ban hành Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt nam
1.1 Khái niệm về thị trường chúng khoán và chứng khoán
1.2 Bản chất, vai trò thị trường chứng khoán trong nền kinh tế thị trường1.3 Tác động của pháp luật tới thị trường chứng khoán
1.4 Sự cần thiết phải ban hành Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt nam
Chương 2: Kinh nghiệm xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở một số nước trên thế giới và thực trạng pháp luật điều chỉnh về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt nam
2.1 Kinh nghiệm xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt nam2.2 Thực trạng pháp luật điều chỉnh về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt nam
2.2.1 Các qui định về chủ thể quản lý thị trường chứng khoán
2.2.2 Các qui định về hoạt động phát hành chứng khoán
2.2.3 Các qui định về hoạt động kinh doanh, giao dịch chứng khoán
2.2.4 Các qui định về xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp phát sinh trên thị trường chứng khoán
Chương 3: Phương hướng xây dựng và những nội dung chủ yếu của Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
uv su ty mụn vu utụv tiên của việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
2
Trang 3L'ơ Sơ ly luận vă thục tỉẽn cùa việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
3.1 Những định hướng xây đụng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt nam
3.2 Những nguyên tắc khi xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán
3.3 Những thuận lợi và khó khăn khi xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán
3.4 Những nội dung chủ yếu của Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Phần Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ v i n của Đảng đã nêu rõ:
"Phát triển thị trường vốn, thu hút các nguồn vốn trung, dài hạn qua Ngân hàng
và các tổ chức tài chính để đáp ứng nhu cầu cho vay đầu tư phát triển; chuẩn bị các điều kiện cần thiết để từng bước xây dựng thị trường chứng khoán phù hợp với điều kiện Việt Nam và định hướng phát triển kinh tế- xã hội của đất nước ”
Ngay từ năm 1992, Chính phủ đã quan tâm đến việc xây dựng thị trường chứng khoán ở Việt Nam, ngày 28/11/1996, Chính phủ đã ban hành Nghị định 75/CP về việc thành lập Uỷ ban chứng khoán với mục đích để thúc đẩy sự hình thành và phát triển thị trường chứng khoán và quản lý các hoạt động chứng
khoán ở Việt Nam Ngày 11/7/1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 48/CP về
chứng khoán và thị trường chứng khoán Văn bản này có ý nghĩa quan trọng làm
cơ sở pháp lý cho việc vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán, một hình
thức thị trường có tổ chức ban đầu nhằm đáp ứng huy động vốn dài hạn cho các doanh nghiệp, tạo điều kiện để các doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá có thể đưa cổ phiếu, trái phiếu có chất lượng vào giao dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Sau Nghị định 48/CP, một loạt các văn bản hướng dẫn thi hành đã
ra đời, tạo thành một hành lang pháp lý làm cơ sở cho thị trường chứng khoán ở
Việt Nam hoạt động
Để hoạt động của thị trường chứng khoán phát triển lành mạnh, đạt hiệu quả, thì ngoài việc chuẩn bị các điều kiện cần và đủ khác, một điều kiện hết sức quan trọng đó là phải xác lập chế độ pháp lý, định ra khung pháp lý đầy đủ, an toàn cho thị trường chứng khoán hoạt động Mặc dù trước đó, nhiều văn bản pháp luật được Nhà nước ban hành về thị trường chứng khoán, song xét về mặt tổng thể, chế độ pháp lý về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở nước ta
Cơ sớ lý luận và thực tiễn của việc xảy dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
4
Trang 5thể hiộn chỉ là một số bước đi ban đầu, còn thiếu nhiều yếu tố của một thị trường chúng khoán thực thụ trong nền kinh tế thị trường.
Bởi vậy, viộc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật cho thị trường chứng khoán nói chung và việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán- tâm điểm của khung pháp luật cho thị trường chứng khoán nói riêng là một đòi hỏi khách quan, bức xúc Điều này cũng được khẳng định bởi Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 163/2003/QĐ - TTg ngày 05/8/2003 phê duyệt chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2010: " Hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường chứng khoán: Ban hành đổng
bộ hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động thị trường chứng khoán theo hướng bao quát, toàn diện và phù hợp với thực tiễn thị trường Xây dựng Luật chứng khoán trình Quốc hội thông qua vào năm 2005"
Từ các vấn để trên, đặt ra yêu cầu cần thiết phải tổng hợp, nghiên cứu trên cơ sở lý luận và thực tiễn, tiến tới xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam, đảm bảo cơ sở pháp lý cho hoạt động của thị trường chứng khoán lành mạnh, hiệu quả
Đề tài: "Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Luật về chứng
khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam' được tiến hành nghiên cứu từ
các yêu cầu khách quan đã nói ở trên
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài:
vể chứng khoán và TTCK đã có rất nhiều công trình nghiên cứu dưới dạng bài báo, sách chuyên khảo, đề tài như: "Vai trò của công ty chứng khoán trong hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán cho khách hàng"- Đề tài cấp cơ sở - Chủ nhiệm đề tài: Th.s Trần Quốc Tuấn - UBCKNN, 2002; "Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng và phát triển hiệp hội chứng khoán Việt Nam" - Đề tài cấp
Bộ do Th.s Bùi Thị Thanh Hương làm chủ nhiệm đề tài - Hà nội, 2001; "Những
Cơ sở lý luận vá thực tiến của việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Trang 6đặc trưng cơ bản và các giải pháp phát triển thị trường chứng khoán Việt nam" -
Đề tài cấp cơ sở - Chủ nhiệm đề tài: Bùi Nguyên Hoàn - 1999; Nguyễn Việt Hà:
"Để nâng cao hiệu lực của các văn bản pháp luật cần một khung pháp lý đầy đủ
và đổng bộ hơn về chứng khoán và thị trường chứng khoán" - Tạp chí: Chứng khoán, số 8, Tháng 8/2002; TS Trần Thị Minh Châu: "Thị trường chứng khoán
và những điều kiện kinh tế - xã hội hình thành và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt nam" - NXB Chính trị Quốc gia, 2003
Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách toàn diện về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Luật về chứng khoán và TTCK ở Việt Nam; có sự tham khảo kinh nghiệm xây dựng Luật về chứng khoán ở một số nước trên thế giới (như ở Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc ), trên cơ sở đó kiến nghị những nội dung cần điều chỉnh trong Luật này để từ đó có những định hướng trong việc xây dựng Luật về chứng koán và TTCK ở Việt Nam vẫn là một nhu cầu cấp thiết, nhằm hoàn thiện pháp luật về thị trường chứng khoán nói riêng và pháp luật về kinh tế nói chung
3 Mục tiêu của đề tài:
Đề tài tập trung làm rõ các vấn đề sau đây:
- Làm rõ về nội dung cơ bản của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, vai trò của Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán đối với sự phát triển của TTCK ở Việt nam
- Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam qui định về chứng khoán và thị trường chứng khoán
- Đưa ra một số cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó đề xuất kiến nghị để xây dựng những nội dung cơ bản của Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
6
c ơ sớ lỹ luận và thực tíển của việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chóng khoán ở Việt Nam
Trang 7Đề tài tập trung nghiên cứu các qui đinh của pháp luật về chứng khoán và
thị trường chứng khoán ở Việt Nam, có sự so sánh, đối chiếu với các qui định
của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở một số nước như:
Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc (đặc biột là Luật về chứng khoán).Trên cơ sở đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam về chứng khoán và TTCK, kinh nghiệm các nước về xây dựng Luật chúng khoán, cũng như quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta trong định hướng phát triển nền kinh tế, định hướng phát triển thị trường chứng khoán, đề tài đưa ra những kiến nghị về những nguyên tắc xây dựng Luật về chứng khoán và TTCK ở Việt nam và nội dung chính của Luật này
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu sử dụngtrong đề tài:
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trên cơ sở học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Ngoài ra, các phương pháp nghiên cứu cụ thể cũng được áp dụng như phương pháp luật học so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê,
6 Những đóng góp của đề tài:
Đề tài là một công trình nghiên cứu tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Luật về chứng khoán và TTCK ở Việt Nam Đề tài sẽ phục vụ cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về thị trường chứng khoán ở Việt Nam nói chung và việc soạn thảo, ban hành Luật về chứng khoán và TTCK
ở Việt Nam trong giai đoạn sắp tới nói riêng; Ngoài ra, đề tài là nguồn tài liệu tham khảo quí báu cho những ai quan tâm đến thị trường chứng khoán, cho các học viên cao học, nghiên cứu sinh, sinh viên chuyên ngành Luật kinh tế
7 Bô cục của đề tài:
Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nem
Trang 8Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được chia ra làm ba chương:
Chương 1: Tổng quan về chứng khoán, thị trường chứng khoán và sự cần thiết phải ban hành Luật vê chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Chương 2: kinh nghiệm xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở một số nước trên thế giới và thực trạng pháp luật điểu chỉnh về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt nam
Chương 3: Phương hướng xảy dựng và những nội dung chủ yếu của Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
8
Trang 9CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỂ CHÚNG KHOÁN, THỊ TRƯỜNG CHÚNG KHOÁN VÀ KINH NGHIỆM XÂY DỤNG LUẬT VỂ CHÚNG* « •
KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỦNG KHOÁN Ở MỘT s ố NƯỚC TRÊN
THẾ GIỚI
1.1 Khái niệm về thị trường chứng khoán và chứng khoán:
1.1.1 Khái niệm thị trường chứng khoán:
Theo cách hiểu thông thường thì thị trường chứng khoán là một loại thị trường vốn dài hạn và là bộ phận của thị trường tài chính, nơi trao đổi, mua bán các loại chứng khoán dài hạn: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quĩ đầu tư, các loại chứng khoán phái sinh Kinh nghiệm các nước trong khu vực hai thập kỷ qua cho thấy cần phải thông qua nhiều biện pháp để khuyến khích phát triển thị trường vốn, trong đó có những biện pháp phát triển thị trường tín dụng dài hạn
và những biện pháp phát triển thị trường chứng khoán
Có quan điểm cho rằng: "Nếu ta coi đổng tiền là những giọt máu của nền kinh tế, thì muốn cho hết thảy mọi đổng tiền trong xã hội đến được với các tế bào kinh tế, một cơ thể nền kinh tế hoàn chỉnh phải có "hai con tim": con tim
ngân hàng và con tim thị trường chứng khoán l Nói chung, mỗi tổ chức có thể
tiến hành hoạt động huy động vốn bằng nhiều phương thức khác nhau như huy động sự đóng góp của các thành viên hiện hữu, vay ngân hàng, phát hành chứng khoán Trong đó, phát hành chứng khoán là một phương thức quan trọng có những ưu điểm nhất định so với các phương thức khác.2 Chính vì vậy, người ta gọi thị trường chứng khoán là thị trường huy động vốn dài hạn chủ yếu thông qua hoạt động phát hành chứng khoán của các tổ chức phát hành
1 Đề tài: Những đặc trưng cơ bản và những giải pháp phát triển thị trường chứng khoán Việt nam, Chủ nhiệm để tài: Bùi Nguyên Hoàn, - UBCKNN - 1999, Tr 5.
2 Huy động vốn bằng phát hành chứng khoán có các ưu điểm so với vay ngân hàng: Huy động được nguồn vốn dài hạn; không nhất thiết phải có tài sản đảm bảo; gắn kết người đầu tư với tổ chức phát hành: nâng cao chất lượng các báo cáo tài chính của công ty
«-</ sơ iy luụn vu mục tiên của việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Trang 10Tuy nhiên, hiện nay trong các tài liệu nghiên cứu về chứng khoán và thị trường chứng khoán tổn tại rất nhiều đinh nghĩa khác nhau về thị trường chứng khoán Thị trường chúng khoán có thể được hiểu là "nơi giao dịch chứng khoán
và công cụ tài chính có liên quan" và thị trường chứng khoán gắn với cụm từ" Securities M arket3; Quan điểm khác lại giải thích thị trường chứng khoán "là thuật ngữ chung để chỉ hoạt động giao dịch có tổ chức đối với chứng khoán thông qua Sở giao dịch chứng khoán " và gắn thị trường chứng khoán với cụm từ
"Stock Market" Hay nói cách khác, thị trường chứng khoán là một thị trường có
tổ chức, là nơi các chứng khoán được mua bán tuân theo những quy tắc đã ấn định 4 Một số các tác giả khác lại cho rằng: "Thị trường chứng khoán là nơi các chứng khoán được phát hành và trao đổi Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường vốn do đặc tính của chứng khoán trong việc huy động vốn dài hạn 5"
Thị trường chứng khoán cũng được định nghĩa là tổng hợp những mối quan hệ kinh tế phát sinh từ việc phát hành và trao đổi chứng khoán giữa các chủ thể khác nhau 6
Các định nghĩa khác nhau về thị trường chứng khoán cho ta thấy, thị trường chứng khoán là hạt nhân trung tâm của thị trường tài chính, hoạt động theo những nguyên tắc riêng biệt, là cầu nối giữa cung và cầu về vốn dài hạn, giữa người mua và người bán chứng khoán
Theo qui định của pháp luật hiện hành ở Việt Nam về chứng khoán và thị
trường chứng khoán thì không có khái niệm thị trường chứng khoán, mà chỉ có khái niệm TTGDCK Nhưng theo chúng tôi, một thị trường hàng hoá nói chung
Cơ sớ lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ỞViệt Nam
■
’ Bùi Nguyên Hoàn - GS Raymon L Chiang (Chù biên): Thuật ngữ thông dụng về chứng khoán và thị trường chứng khoán NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội, 1998, Tr 151.
4 Theo "Longman - Dictionary of Business English - 1985
■' Trường Đại học Tài chính - kế toán: Thị trường chứng khoán; NXB Tài chính, Hà nội, 1998 Tr 8.
6 Xem "Thị trường chứng khoán" - Chủ biên: V.A Galanova A.I.Baxova - Matxcơva 1998 - tr 93.
10
Trang 11được định nghĩa là nơi người bán và người mua gặp gỡ, trao đổi, mua bán hàng
hóa và giá cả hình thành theo qui luật cung cầu
Chính vì vậy, thị trưởng chứng khoán ỉà một thị trường mà ở nơi đố người
ta mua, bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời.
Thị trường chứng khoán là yếu tố không thể thiếu được của nền kinh tế
thị trường phát triển Một thị trường nói chung bao giờ cũng diễn ra các hoạt
động mua bán, trao đổi hàng hoá Thi trường chứng khoán không nằm ngoài
mục đích trên Điểm chung giữa thị trường chứng khoán và thị trường hàng hoá
thông thường được thể hiện ở chỗ: giá cả của hàng hoá trên hai thị trường này
đều được hình thành trên cơ sở cung cầu hàng hoá đó Nhưng thị trường chứng
khoán khác với thị trường hàng hoá thông thường ở chỗ:
- Các giao dịch chứng khoán diễn ra trên thị trường chứng khoán phải có
sự tham gia của các trung gian tài chính làm mồi giới và những hàng hoá của thị
trường là những hàng hoá đặc biệt Đó là cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ có
nguồn gốc chứng khoán, trong đó, cổ phiếu và trái phiếu là các chứng khoán đã
tổn tại lâu đời nhất Ngày nay, ngoài cổ phiếu và trái phiếu là loại chứng khoán
chủ yếu, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường nảy sinh nhiều loại
chứng khoán mới rất đa dạng, đó là các công cụ phái sinh từ chứng khoán như:
quyền lựa chọn, chứng quyền, hợp đồng tương lai Mặt khác, cùng với sự phát
triển của khoa học, thay vì việc phát hành các loại chứng khoán để huy động
vốn dưới dạng giấy tờ, người ta còn có thể phi vật chất hoá chứng khoán dưới
dạng bút toán ghi sổ Các loại chứng khoán có thể mua và bán rất nhiều, không
hạn chế về số lần giao dịch Trong khi đó, hàng hoá thông thường không phải là
chứng khoán chỉ có thể được bán và mua một lẩn hoặc một vài lần mà thôi
- Thị trường chứng khoán là một thiết chế phức tạp, hết sức nhạy cảm, đầy tính rủi ro, với những quy luật chi phối khắc nghiệt, sâu sắc và ảnh hưởng
toàn diện đối với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia Tuỳ thuộc
Cơ sả lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trưởng
chứng khoán ở Việt Nam
Trang 12vào trình độ phát triển của nền kinh tế, thị trường của mỗi nước mà thị trường chứng khoán có tác động, ảnh hưởng khác nhau đến thị trường quốc tế.
Trong quá trình phát triển thị trường chứng khoán ở các nước có nền sản xuất và lưu thông hàng hoá lâu đời như Mỹ, Anh, Pháp nơi đó thị trường chứng khoán tồn tại dưới hai hình thức: thị trường chứng khoán có tổ chức và thị trường chứng khoán phi tổ chức
Hình thái điển hình của thị trường chứng khoán có tổ chức là SGDCK Mọi việc mua, bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán phải tiến hành trong SGDCK thông qua các thành viên của sở giao dịch theo Qui chế của SGDCK SGDCK có thể là tổ chức thuộc sở hữu nhà nước, là doanh nghiệp được thành lập dưới dạng công ty cổ phần hoặc là một hiệp hội và đều có tư cách pháp nhân Ví dụ như ở Mỹ có Sở giao dịch chứng khoán New York, ở Nhật có Sở giao dịch chứng khoán Tokyo, ở Anh có Sở giao dịch chứng khoán London
Thị trường chứng khoán phi tổ chức là một thị trường không có hình thái
tổ chức tồn tại, nó có thể là bất cứ nơi nào mà tại đó người mua và người bán trực tiếp gặp nhau để tiến hành giao dịch Nơi đó có thể là quầy giao dịch ở ngân hàng bất kỳ nào đó Thị trường hình thành như thế gọi là thị trường giao dịch qua quầy (Over - the - counter: OTC) "Thị trường OTC là thị trường không
có trung tâm giao dịch tập trung, đó là một mạng lưới các nhà môi giới và tự doanh chứng khoán mua bán với nhau và với các nhà đầu tư, các hoạt động giao dịch của thị trường OTC được diễn ra tại các quầy (sàn giao dịch) của các ngân hàng và công ty chứng khoán"7
Tuy nhiên, yếu tố căn bản để khẳng định thị trường chứng khoán ra đời là
ở chỗ: đã xuất hiện các giao dịch cổ phiếu, trái phiếu Chính vì vậy, mặc dù đã
có cổ phiếu, trái phiếu, những việc mua đi bán lại chưa trở thành hiện thực, thậm
7 Giáo trình Thị trường chứng khoán - Trường Đại học kinh tế quốc dân - Chù biên: PGS.TS Nguyẻn Ván Nam, PGS TS Vương Trọng Nghĩa - NXB Tài chính năm 2003, ư 102.
12
CO' sơ iy mạn va tnục nen của việc xăy dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Trang 13w au ty mụn vu m ạc nen cua nẹc xay dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
chí dù đã có các giao dịch nhung chỉ mang tính tự phát thì thị trường chứng khoán vẫn còn trong hình thái sơ khai Một thị trường chứng khoán hoàn chỉnh được nói tới khi thị trường chứng khoán tập trung chính thức thành lập Thị trường chúng khoán tập trung được coi là hạt nhân của thị trường chứng khoán Mặc dù vậy, giao dịch trên thị trường phi tập trung vẫn được coi trọng Giao dịch trên thị trường phi tập trung là sự bổ sung, mở rộng cho các giao dịch trên
Sở giao dịch chứng khoán
1.1.2 Khái niệm chứng khoán:
Khi nói tới bất kỳ một loại thị trường nào, bên cạnh việc xác định chủ thể tham gia, người ta phải xác định đối tượng giao dịch trên thị trường đó là gì Điều này có nghĩa là phải xác định hàng hoá được giao dịch trên thị trường
Theo qui định của Nghị định 144/2003/NĐ - CP thì "hàng hoá giao dịch trên thị trường chứng khoán bao gồm các loại chứng khoán: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quĩ đầu tư, các loại chứng khoán khác"
Hiện nay trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm chứng khoán với các cách liệt kê thành phần của nó, và tương ứng là các nội dung các mối quan hệ kinh tế Nhũng quan điểm chính bao gồm:
8 Xem Banking Term inology - Wash American Bankers Association - 1989 - p.319.
9 Xem P W yckoff The Language o f Wall Street - N ew York, Hopkison and Blake - 1973 -
p 193.
Trang 14i,'ơ sơ lý luận và thực tiên cửa việc xây đựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
+ Cổ phiếu, cũng như trái phiếu và các giấy tờ xác nhận nợ '°.
+ Giấy chứng nhận đầu tư được trình bày dưới dạng cổ phiếu hay trái phiếu11
+ Các chứng chỉ chứng nhận quyền đối với tài sản và trên cơ sở xác nhận
đó có thể thực hiện việc chuyển giao hoặc thực hiện quyền đối với tài sản Nói tóm lại chứng khoán là: Thẻ bảo hiểm, Giấy biên lai nhận chở hàng lên tàu, giấy kho vận hàng và các giấy tờ tương tự 12
+ Giấy tờ có yêu cầu về tài sản hữu hình 13
+ Giấy tờ xác nhận quyền tài sản hoặc quyền thu lợi nhuận 14
Từ các định nghĩa trên, theo chúng tôi: “chứng khoán là chứng chỉ ghi rõ quyền tài sản thể hiện quyền chủ nợ và quyền sở hữu và trên cơ sở xác nhận đó
có thể thực hiện việc chuyển giao hoặc thực hiện quyền đối với tài sản” Còn trên phương diện tài chính, chứng khoán là tài sản nợ, là bằng chứng của quyền tài sản, nên gọi là chứng khoán có giá Người sở hữu chứng khoán có quyền tự
do sở hữu và chuyển nhượng
10 Xem Glossary o f Fudicairy Tems - Wash., American Bankers Association - 1968 - p.38.
11 Xem Peưick G Hanson Dictionary o f Banking and Finance - London, Pulman Publishing Ltd -
1 9 8 5 - p 575.
12 Eugene F Brigham, Louis c Gapenski Intermediate Financial Management - N ew York, the Dryden Press - 1985 - p.92.
13 5 Xem Securities Market in Japan - Tokyo, Japan Securities Ressearch Institute - p 251.
14 World Bank Glossary - W ash., The Wolrd Bank - 1991 - p.93.
14
Trang 15Cơ sở lý luận và thực tiên cúa việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Từ định nghĩa tổng quát trên ta thấy những dấu hiệu pháp lý cơ bản của chứng khoán bao gồm:
1 Chứng khoán xác nhận quyền sở hữu tài sản nhất định Từ dấu hiệu pháp lý cơ bản này giúp chúng ta phân biệt giữa chứng khoán với tem bưu điện
và tem thuế, cũng như tiền bạc bởi vì những giấy tờ này không thể hiện quyền gì
2 Sự cần thiết của việc xuất trình chứng khoán để thực hiện các quyền được thể hiện trong chứng khoán Từ dấu hiệu pháp lý cơ bản này giúp chũng ta phân biệt chứng khoán với các giấy tờ ghi nợ bình thường, bởi vì người cho vay
có thể nhận nợ mà không đòi hỏi việc xuất trình giấy chứng nhận nợ và trao cho người vay giấy xoá nợ nếu người đi vay trả hết nợ
3 Mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời giữa chứng khoán và các quyền đi kèm theo với nó, và khi sử dụng hoặc chuyển giao chứng khoán cũng đồng nghĩa với việc cho phép sử dụng hoặc chuyển giao các quyền “được ghi nhận trong chứng khoán” Nói một cách khác “quyền phát sinh từ chứng khoán
đi liền với quyền đối với chứng khoán” và đồng thời “quyền đối với chứng khoán đi liền với quyền phát sinh từ chứng khoán”
Ngoài ra, chứng khoán còn có đặc trưng bởi tính đích thực công khai, có nghĩa là suy đoán các quyền và lợi ích hợp pháp khác từ việc sở hữu chứng khoán cho dù các quyền và lợi ích này không được ghi trong chứng khoán
Theo pháp luật Việt Nam, “Chứng khoán ỉà chứng chỉ hoặc bút toán ghi
sổ, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sỏ hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành” 13.
15 Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 144/CP ngày 28 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Trang 16Ngoài ra, chứng khoán còn có đặc trưng bởi tính đích thực công khai, có nghĩa là suy đoán các quyền và lợi ích hợp pháp khác từ việc sở hữu chứng khoán cho dù các quyền và lợi ích này không được ghi trong chứng khoán.
Theo pháp luật Việt Nam, “Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi
sổ, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vôh của tổ chức phát hành” 15.
Theo chúng tôi, định nghĩa chứng khoán này chưa nêu được hết các dấu hiệu pháp lý cơ bản của chứng khoán, cụ thể là: sự cần thiết của việc xuất trình chứng khoán để thực hiện các quyền được thể hiện trong chứng khoán và mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời giữa chứng khoán và các quyền đi kèm với nó
Bộ luật Dân sự Liên bang Nga ngày 21 tháng 10 năm 1994 (Khoản 1 Điều 142) đưa ra khái niệm chứng khoán thành công hơn cả về phương diện pháp lý: “Chứng khoán là chứng chỉ xác nhận quyền tài sản, được lập tuân thủ cách trình bày đã được quy định với những nội dung bắt buộc mà khi xuất trình chính chứng chỉ thì mới thực hiện hoặc chuyển giao được các quyền ghi trong chứng chỉ" Điều luật này cũng chỉ ra rằng: Chuyển giao chứng khoán cũng có nghĩa là chuyển giao tất cả các quyền tài sản do chứng khoán xác nhận Chính định nghĩa này đã chứa đựng tính chất đặc trưng cơ bản nhất của chứng khoán
Khác với pháp luật Việt Nam và pháp luật Liên bang Nga, pháp luật của các nước phương Tây, nơi chứng khoán có lịch sử hình thành và lưu thông hàng thế kỷ, đã có cách diễn đạt rất đơn giản về chứng khoán Theo Luật Dân sự Thuỵ Sỹ: “Chứng khoán là tất cả các giấy tờ mà các quyền liên quan đến nó không thể thực hiện hoặc chuyển giao cho người khác nếu như không xuất trình giấy tờ đó” Thực tế và học thuyết của Pháp, Cộng hoà liên bang Đức cũng xuất
15 Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 144/CP ngày 28 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
c ơ sớ lý luận và thực tiên cửa việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ổ Việt Nam
16
Trang 17Lơ Sơ ty mạn va inuc nen cua việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
phát từ định nghĩa chứng khoán tương tự Bằng cách này các nhà lập pháp phương Tây làm phong phú các dấu hiệu pháp lý và tính chất đặc trưng cơ bản của chứng khoán và như vậy họ cho rằng chứng khoán là những giấy tờ được trình bày không có những mục nhất định Điều này được minh chứng trong khái niệm chứng khoán có từ ngữ “giấy tờ bất kỳ” Khái niệm về chứng khoán như vậy không thể áp dụng ở những nước có thị trường chứng khoán mới được hình thành như ở Việt Nam, bởi vì nếu khái niệm chứng khoán ở các nước phương Tây đưa vào áp đụng tại thị trường chứng khoán mới được hình thành sẽ tạo ra cơ sở cho việc lạm dụng bừa bãi và gây nhầm lẫn do pháp luật điều chỉnh chứng khoán và thị trường chứng khoán ở đây chưa được hình thành đầy đủ và đồng bộ
Trên cơ sở phân tích dưới góc độ pháp lý khái niệm chứng khoán theo pháp luật của nhiều nước khác nhau cho phép chúng ta đưa ra định nghĩa chứng
khoán như sau: “Chứng khoán là giấy tờ được lập có các mục bắt buộc và việc
xuất trình là cần thiết để thực hiện các quyền được thể hiện trong chứng khoán” Theo quan điểm của chúng tôi khái niệm chứng khoán như vậy mới
phản ánh được hầu hết bản chất tương ứng của chứng khoán
Cổ phiếu là một loại chứng khoán do công ty cổ phần phát hành chứng nhận việc góp vốn vào công ty của các cổ đông
Trong Thông tư số 02/2001/TT - UBCK ngày 28/9/2001 hướng dẫn Nghị định số 48/1998/NĐ - CP ngày 11/7/1998 về phát hành cổ phiếu, trái phiếu ra
công chúng có quy định: “CỔ phiếu là một loại chứng khoán phát hành dưới
dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của công ty cổ phần” Định
nghĩa này cũng được tiếp thu và thể hiện tại Điều 59 Luật Doanh nghiệp năm1999
I £>AI HỌ C QUỐC GIA HÀ I V tpung Tâm th ô n g tin thư v i e
Trang 18Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận một khoản nợ của người của
người phát hành ra nó, trong đó cam kết sẽ trả khoản nợ kèm với tiền lãi trong một thời gian nhất đỉnh
Thông tư số 02/2001/TT - UBCK ngày 28/9/2001 định nghĩa: ‘Trái phiếu
là một loại chứng khoán phát hành dưới hình thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi
sổ xác nhận nghĩa vụ trả nợ (bao gồm cả gốc lẫn lãi) của tổ chức phát hành trái phiếu với người sở hữu trái phiếu”.
Khác với các hình thức vay nợ khác, trái phiếu có khả năng trao đổi Chủ
sở hữu trái phiếu cho người phát hành vay vốn bằng cách mua trái phiếu, có quyền giữ lại nó hoặc bán đi bất cứ lúc nào mà không phải chờ tới khi đáo hạn Còn trong trường hợp khi Ngân hàng cho vay một khoản tiền thì Ngân hàng phải ghi vào trong sổ sách và lưu giữ cho tới khi khoản nợ đó được thanh toán,
do đó có mối quan hệ ràng buộc hơn giữa người đi vay và người cho vay
Qua phân tích định nghĩa về “Cổ phiếu” và “Trái phiếu” nêu trên ta nhận thấy sự khác biệt cơ bản nhất giữa cổ phiếu và trái phiếu được thể hiện ở chỗ: Người sở hữu trái phiếu là trái chủ hay chủ nợ của người phát hành vì trái phiếu
là chứng thư xác nhận nợ Người sở hữu trái phiếu sẽ nhận lại khoản nợ kèm với tiền lãi đã được ghi trong trái phiếu khi phát hành Còn người sở hữu cổ phiếu là
cổ đông của người phát hành, là thành viên của người phát hành và được sở hữu một phần lợi nhuận của người phát hành dưới hình thức lãi cổ phiếu
Chứng chỉ quỹ đầu tư là loại chứng khoán do công ty quản lý quỹ đại diện cho một quỹ đầu tư chứng khoán phát hành, xác nhận quyền hưởng lợi của người đầu tư đối với Quỹ 16
c ơ sỡ lý luạn va mục nên cúa việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chúng khoán ở Việt Nam
16 Khoản 6 Điểu 2 Quy chế Tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và cống ty quản lý quỹ (Ban hành kèm theo Quyết định sô 05 - 1998/QĐ- UBCK3 ngày 13/10/1998 của Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước).
18
Trang 19c ơ sở lý iuận vã thục tiên của việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường
chứng khoán ở Việt Nam
Trong thực tế song song tồn tại với chứng khoán là các chứng từ tài
chính (chứng quyền, bảo chứng phiếu, hợp đồng quyến lựa chọn) được ra đòi từ
giao dịch chứng khoán và được chuyển đổi sang chứng khoán qua hành vi mua
bán, cho nên người ta gọi là chứng từ có nguồn gốc từ chứng khoán Mặc dù
trong Nghị định 144/NĐ - CP/2003 về chứng khoán và thị trường chứng khoán
đã thể hiện khái niệm "chứng quyền" 11, tuy vậy, hàng hoá giao dịch chủ yếu
trên TTGDCK T.P Hồ Chí Minh hiện nay chủ yếu là cổ phiếu và trái phiếu (trái
phiếu ngân hàng và trái phiếu Chính phủ) Trong đó, hoạt động giao dịch trái
phiếu không thu hút được sự quan tâm của công chúng đầu tư Điều này cũng
tương tự như đối với chứng chỉ quĩ đầu tư Có thể nói, trong thời gian hơn ba
năm hoạt động vừa qua của TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh, hoạt động giao
dịch trái phiếu Chính phủ hầu như bị đóng băng Nguyên nhân là đo: lãi suất trái
phiếu thấp hơn so với mặt bằng lãi suất chung, không tạo được sức hấp dẫn đối
với các nhà đầu tư; các tổ chức tài chính tín dụng và các ngân hàng thương mại
trúng thầu trong các đợt thầu nắm giữ trái phiếu không bán ra; trong thời gian
đầu mức phí khá cao (0,5 %), mặc dù sau đó đã được UBCKNN kịp thời điều
chỉnh nhưng vẫn không kích thích được các nhà đầu tư tham gia vì mức sinh lời
của các trái phiếu này quá thấp nên rất khó bán ngay cả khi có nhu cầu bán ra
Có thể nói, việc định danh chứng khoán có ý nghĩa hết sức quan trọng,
tạo cơ sở pháp lý cho việc xác định một loại giấy tờ nào đó có phải là chứng
khoán hay không, thông qua đó đảm bảo chất lượng các loại chứng khoán, uy
tín cho nhà phát hành và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư
1.2 Bản chất, vai trò thị trường chứng khoán trong nền kinh tế thị trường
1.2.1 Bản chất của thị trường chứng khoán:
17 Chứng quyền là một loại chứng khoán được phát hành kèm theo trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho phép
người nam giữ chứng khoán đó được quyển mua một khối lượng cổ phiếu phổ thống nhất định theo môt giá đã
được xác định trước trong một thời kỳ nhất định.
Trang 20Cùng với sự vận động phát triển của các quan hộ kinh tế xã hội, khái niệm
về thị trường chứng khoán cũng có sự thay đổi Song, bản chất của thị trường
chúng khoán thì không thay đổi Các chủ thể khi tham gia thị trường chứng
khoán với tư cách là người đầu tư, họ là chủ sở hữu chứng khoán và khi tham gia
với tư cách là người sử dụng vốn, họ là người thực hiện chức năng kinh doanh
Về bản chất, thị trường chúng khoán không chỉ phản ánh các quan hộ trao đổi
mua bán một số lượng chứng khoán nhất định mà là mua bán quyền sở hữu
chứng khoán (quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và vốn bằng tiền), hay nói cách
khác, là nơi mua bán quyền sở hữu về vốn Bởi vậy, có thể nói thị trường chứng
khoán là hình thức phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá
1.2.2 Vai trò của thị trường chứng khoán.
Phát triển thị trường vốn nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng
nhu là một đòi hỏi tất yếu của tất cả các nước khi muốn phát triển nền kinh tế
theo hướng thị trường Lịch sử phát triển nền kinh tế thị trường của các quốc gia
phát triển đã khẳng định thị trường chứng khoán ngày càng có vai trò quan
trọng trong quá trình vận hành nền kinh tế mỗi quốc gia cũng như trong hệ
thống kinh tế toàn cầu Đối với Việt Nam, để phục vụ cho quá trình đổi mới
nền kinh tế, tạo các tiền đề để kinh tế quan trọng đưa đất nước ta đến năm 2020
cơ bản là một nước công nghiệp như Đại hội Đảng VIII đã đề ra thì việc xây
dựng, phát triển và hoàn thiện thị trường tài chính là hết sức cần thiết Trong đó,
một yếu tố không thể thiếu là xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền
sản xuất hàng hoá phát triển, điều hoà vốn, khuyến khích sử dụng vốn có hiệu
quả và là công cụ để Nhà nước thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ
* Thị trường chứng khoán là công cụ thu hút mọi nguồn vốn cho đầu tư sản xuất kinh doanh.
Lff Sơ ty luạn va thạc tiền của việc xảy dựng Luật vê' chứng khoán và thị trường
chứng khoán ò Việt Nam
20
Trang 21Thị trường chứng khoán ra đời là nơi thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn nhàn rỗi hoặc tạm thời nhàn rỗi vào đầu tư sản xuất kinh doanh, thu hút vốn đầu
tư nước ngoài tạo thành nguồn vốn khổng lồ tài trợ cho nền kinh tế mà các định chế tài chính khác không làm được Thị trường chứng khoán tạo cơ hội cho các doanh nghiệp có vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh thu nhiều lợi nhuận Nó là một định chế tài chính, thông qua các công cụ cổ phiếu, trái phiếu, các loại chứng khoán khác, cho phép các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, tín dụng, Chính phủ, Chính quyền địa phương huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong
xã hội, đưa vào đầu tư phát triển Từ lâu, các nhà doanh nghiệp lớn của thế giới
đã khẳng định: không thể triển khai các dự án tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nếu không tập hợp được những nguồn vốn khổng lồ mà người tập hợp có toàn quyền sử dụng cho những mục tiêu trung và dài hạn Thị trường chứng khoán có vai trò đó, cái mà ngành ngân hàng với phương thức kinh doanh ăn chắc không thể làm được"18
Thị trường chứng khoán là "bà đỡ" cho các dự án kinh doanh tiến bộ nhất
đi vào cuộc sống, là biện pháp chủ yếu của việc giải phóng năng lực sản xuất, cái mà hơn một thập kỷ nay đã được thử nghiệm và được khẳng định trong hầu hết các công ty kinh doanh thành đạt nhất thế giới
Có thể khẳng định thị trường chứng khoán đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường đất nước ta, bởi vì:
Để phát triển chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước ta thành hiện thực một trong các yếu tố quan trọng hàng đầu là phải có nguồn vốn cho đầu tư phát triển Trước hết cần lưu ý rằng, việc huy động vốn là công việc của người
sử dụng vốn, chủ yếu là của các doanh nghiệp và của Chính phủ Trong một
18 Thị trường chứng khoán và công ty cổ phần, Viện nghiên cứu khoa học thị trường giá cả, Hà Nội 1989 Tr 98*
t ơ sơ ty mạn va mục nen cua vực xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Trang 22thời gian khá dài, kể từ khi Việt Nam có Luật đầu tư nước ngoài, chúng ta đã
gần như tập trung qua nhiều vào việc thu hút nguồn vốn nước ngoài, mà phần
nào đó lãng quên nguồn vốn trong nước Mãi đến những năm gần đây, chúng ta
mới bắt đầu chú trọng tới nguồn vốn trong nước Việc huy động nguồn vốn
trong nước về góc độ nào đó còn khó khăn hơn huy động nguồn vốn nước ngoài
bởi chúng ta còn quá thiếu một hệ thống cơ sở hạ tầng về tài chính để tập trung
và chuyển tải các đồng vốn nằm phân tán, rải rác trong công chúng đến những
doanh nghiệp cần vốn Để khắc phục được nhược điểm này thì việc xây dựng và
hình thành thị trường chứng khoán là một trong những cơ sở hạ tầng đó Việc
xậy dựng thị trường chứng khoán một mặt tạo cơ hội cho các doanh nghiệp lựa
chọn hình thức huy động vốn không chỉ phụ thuộc nặng nề vào hệ thống các
ngân hàng thương mại với các thủ tục rườm rà, nặng nề, độc quyền, với thời
hạn quá ngắn ngủi không đủ để hồi phục sản x u ất Mặt khác, thị trường chứng
khoán còn giúp cho Chính phủ và các doanh nghiệp huy động được nguồn vốn
dài hạn tối đa trực tiếp từ công chúng cho mục tiêu phát triển kinh tế và phát
triển sản xuất Trong qua trình phát triển kinh tế cảu nước ta, thị trường chứng
khoán cùng với hệ thống ngân hàng sẽ tạo một nên một hệ thống tài chính đủ
mạnh, cung cấp các nguồn vốn trung, dài hạn cho nên kinh tế Đến giai đoạn
phát triển lớn hơn, qui mò hơn, thị trường chứng khoán sẽ thu hút không chỉ
nguồn vốn trong nước mà thu hút một nguồn vốn lớn từ nước ngoài cho công
cuộc xây dựng phát triển đất nước
* Thị trường chứng khoán khuyến khích người dân tiết kiệm để đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Uff sơ lý luận vă thực tien cùa việc xáy dựng Luật về chứng khoán và thị trường
chứng khoán ở Việt Nam
22
Trang 23Cơ sở lý luận và thục tiên cùa việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường
chứng khoán ở Việt Nam
Vdi việc mua bán chứng khoán một cách dễ dàng trên thị trường chứng
khoán, nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong dân cư được sử dụng một cách linh
hoạt hơn, tạo ra lợi nhuận, tránh tình trạng "vốn chết" Thi trường chứng khoán
được xem là cầu nối vô hình giữa người có vốn và người cần vốn Thị trường
chứng khoán là kênh điều hoà các nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, giải
quyết linh hoạt nhu cầu về vốn giữa các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế
* Thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả hơn, đồng thời là công cụ để Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ.
Thị trường chứng khoán kích thích các doanh nghiệp làm ăn đàng hoàng
hiệu quả hơn Dân chúng chỉ mua những chứng khoán của các công ty làm ăn
có lãi Thị trường chứng khoán buộc các doanh nghiệp phải công khai thông tin
về báo cáo tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh, quản trị doanh nghiệp, qua
đó công chúng có cơ hội đánh giá khả năng kinh doanh của các doanh nghiệp
để lựa chọn đầu tư Vì vậy, muốn tồn tại được không có cách nào khác là doanh
nghiệp phải làm sao để sử dụng đồng vốn có hiệu quả nhất
Đối với Nhà nước, Thị trường chứng khoán là một công cụ để Nhà nước
thực hiện chương trình phát triển kinh tế xã hội của mình
Thông qua Thị trường chứng khoán, Nhà nước vay tiền trong dân chúng
để cùng Ngân sách Nhà nước thực hiện các biện pháp đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng giải quyết những thâm hụt ngân sách tạm thời Đồng thời qua Thị trường
chứng khoán, Nhà nước kiểm soát một phần lượng tiền tệ trong lưu thông và
phần nào có tác dụng kiềm chế lạm phát khuyến khích đầu tư, thực hiện chính
sách phát triển kinh tế xã hội của mình
Trang 24Nhà nước luôn là "con nợ" lớn nhất của mỗi quốc gia Những công trình
cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội, tư nhân không làm được hoặc không
làm, trong điều kiện bội chi ngân sách thì chỉ có thể thực hiện được bằng cách
phát hành trái phiếu có mục đích của Nhà nước (Chính phủ và chính quyền địa
phương)
Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng, không có TTCK thì Nhà nước cũng
phát hành được trái phiếu, nhưng đó chỉ là những trái phiếu ngắn hoặc trung
hạn, và nói chung việc phát hành sẽ khó khăn, vì khả năng thanh khoản của Trái
phiếu là không đơn giản Có TTCK với thị trường phát hành tập trung và thị
trường mua đi bán lại có tổ chức thì việc phát hành trái phiếu dài hạn của Nhà
nước sẽ thuận lợi hom nhiều
* Thị trường chứng khoán là công cụ đánh giá doanh nghiệp, đánh giá và phản ánh nền kinh tế.
Thông qua giá cổ phiếu, trái phiếu của doanh nghiệp trên Thị trường
chứng khoán, người đầu tư biết được khả năng kinh doanh của doanh nghiệp
Trị giá cổ phiếu cao biểu hiện doanh nghiệp đó làm ăn có hiệu quả và thu hút
được người đầu tư Ngược lại giá cổ phiếu trên thị trường thấp hơn mệnh giá
chứng tỏ việc kinh doanh của doanh nghiệp không tốt, nếu doanh nghiệp không
có biện pháp, chính sách kinh doanh tốt thì sẽ đi tới phá sản Triển vọng tương
lai của các doanh nghiệp cũng được thể hiện một cách trực tiếp trên thị trường
giá cổ phiếu và sự diễn biến quá trình biến động thị trường giá cổ phiếu của
công ty
* Thị trường chứng khoán là bà đỡ cho việc thực hiện chương trình cổ
phần hoá
u ơ sơ lỹ luận vá thực tiền cửa việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trưởng
ehống khoán ồ Việt Nam
24
Trang 25Ở Việt Nam, chủ trương cổ phần hoá được khởi xướng từ năm 1987,
nhưng đến năm 1992 mói được thực hiện thí điểm và đến năm 1998 mới triển khai rộng rãi Trải qua hơn mười năm thực hiện, công tác cổ phần hoá diễn ra
hết sức chậm chạp Công cuộc cổ phần hoá không th ể diễn ra một cách
mạnh m ẽ nếu không có thị trường chứng khoán.
Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là quá trình chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, nhằm huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong công chúng để đưa vào hoạt động đầu tư cổ phần hoá tạo ra các chủ thể và hàng hoá cho thị trường chứng khoán hoạt động và trong sự hoạt động của mình, thị trường chứng khoán lại có tác động trở lại, thu thúc đẩy quá trình cổ phần hoá diễn ra một cách mạu lẹ hơn và hiệu quả hơn bởi tính lỏng hay còn gọi là tính thanh khoản cao của nó
1.3 Tác động của pháp luật tới thị trường chứng khoán
Luật pháp là một công cụ rất hữu hiệu có thể quyết định tới sự phát triển của thị trường chứng khoán ở mỗi nước Điều này đã được chứng minh bởi lịch
sử phát triển hàng trăm năm của thị trường chứng khoán trên thế giới Trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển thị trường chứng khoán trên thế giới đã vắng bóng sự điều chỉnh của pháp luật cũng như các cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán Thị trường hình thành một cách tự phát
và được quản lý bởi các tổ chức tự quản như Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán Bên cạnh những ưu điểm, thuận lợi nhất định, hình thức quản lý này cũng chứa đựng những rủi ro lớn cho người đầu tư và là một trong các nguyên nhân làm cho thị trường chứng khoán hoạt động không công bằng, dẫn đến các cuộc khủng hoảng trên thị trường tài chính [điển hình là cuộc khủng hoảng tài chính (trong đó có thị trường chứng khoán) năm 1929 - 1933] Các tổ chức tự quản chỉ quan tâm tới quyền lợi của các thành viên thuộc tổ chức mình mà không quan tâm hoặc trong những trường hợp nhất định đã xâm phạm đến
Cơ tở lý luận và thực tiền của việc xây dựng Luật về chúng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Trang 26quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác Chính vì vậy, để giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán (đặc biệt chủ thể là người đầu tư), các nước có thị trường chứng khoán đã ban hành các vãn bản pháp luật để điều chỉnh thị trường chứng khoán và thiết lập cơ quan quản lý, giám sát của Nhà nước đối với thị trường này19 Hay nói cách khác, kinh nghiệm từ các cuộc khủng hoảng thị trường chứng khoán những năm đầu thế kỷ XX đã khẳng định: Khồng thể có một thị trường chứng khoán phát triển khi chưa có luật pháp, dù là một hệ thống pháp luật đơn giản.
Để các quy định của pháp luật được thực thi một cách triệt để, đáp ứng được vai trò quản lý, điều tiết thị trường chứng khoán, các nước tiến hành thành lập các cơ quan quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán Một trong những chức năng cơ bản của cơ quan quản lý nhà nước là ban hành các văn bản pháp luật về thị trường chứng khoán, đổng thời giám sát, thanh tra việc chấp hành pháp luật trong lĩnh vực thị trường chứng khoán
Thông qua pháp hệ thống pháp luật, Nhà nước tác động đến tất cả các chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán, từ cơ quan quản lý Nhà nước đến các tổ chức phát hành, tổ chức kinh doanh - dịch vụ chứng khoán và nhà đầu tư chứng khoán Pháp luật điều chỉnh thị trường chứng khoán nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi để mọi chủ thể tham gia các quan hệ trên thị trường chứng khoán khai thác tốt nhất những đặc tính ưu việt, những thế mạnh của kinh tế thị trường và hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực của nó
Tác động của pháp luật đối với thị trường chứng khoán được thể hiện qua các nội dung sau:
Cơ sở lý luận và ttiụe tiền của việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
19 Ví du ờ Mỹ sau sư kiện "ngày thứ 3 đen tối" (28/10/1929) Quôc hội Mỹ đã ban hành Luật chứng khoán nãm
1933 vằ Luật giao dịch chứng khoán năm 1934.
26
Trang 2713.1 Tác động của pháp luật trong việc xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Để TTCK hoạt động ổn định, hiệu quả, cần có sự quản lý của Nhà nước
Kinh nghiệm TTCK các nước phát triển đã cho thấy sự quản lý, tác động của Nhà nước đối với sự hình thành và phát triển của TTCK có ý nghĩa rất quan trọng, có tính định hướng cho sự vận hành và phát triển của TTCK trong tương lai Pháp luật, trước hết phải là cơ sở quan trọng để Nhà nước tiến hành xây dựng và hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán Pháp luật quy định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan quản lý Nhà nước trong việc xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán, quy định sự phối kết hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình khi tham gia quản lý Nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán
Trên cơ sở các quy định của pháp luật, cơ quan quản lý Nhà nước tiến hành cấp giấy phép phát hành chứng khoán cho các tổ chức phát hành chứng khoán và giấy phép kinh doanh cho tổ chức kinh doanh chứng khoán; quản lý, giám sát, thanh tra đối vối hoạt động của các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán
1.3.2 Tác động của pháp luật đối với sở giao dịch chứng khoán.
Sở giao dịch chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán các loại chứng khoán có điều kiện, đáp ứng được các tiêu chuẩn nhất định, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép niêm yết Pháp luật quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Sở giao dịch chứng khoán trong việc: tổ chức, quản lý, điều hành việc mua bán chứng khoán; quản lý, điều hành hệ thống giao dịch chúng khoán: tổ chức, quản lý, điều hành và cung cấp các dịch vụ để hỗ trợ hoạt động giao dịch chứng khoán; kiểm tra, giám sát đối các hoạt động giao dich
Cơ tở íý luận và thực tiễn của việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường ehứng khoán ở Việt Nam
Trang 28chứng khoán trên Sở giao dịch ; xét niêm yết chứng khoán trên sở giao dịch; kiểm tra, giám sát các hoạt động công bố thông tin.
1.3.3 Tác động của pháp luật đối với tổ chức phát hành chứng khoán và hoạt động phát hành chứng khoán.
Pháp luật quy định các điều kiện cần thiết để tổ chức được phép phát hành chứng khoán ra công chúng; hình thức, mệnh giá và phương thức phân phối chứng khoán ; thời hạn chào bán chứng khoán Ngoài ra, pháp luật quy định những trường hợp cụ thể khi tổ chức phát hành vi phạm thì có thể bị đình chỉ phát hành hoặc bị thu hồi giấy phép phát hành; quy định việc các tổ chứcc phát hành phải báo cáo cho cơ quan quản lý Nhà nước về kết quả phát hành chứng khoán và báo cáo định kỳ về tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của mình; nghĩa vụ chịu sự thanh tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các biện pháp xử lý khi tổ chức phát hành vi phạm Tất cả các chứng khoán khi phát hành ra công chúng và niêm yết trên Sở giao dịch đều phải đáp ứng được các quy định, điều kiện của pháp luật, nhằm bảo vộ về chất lượng, số lượng và thời hạn phát hành chứng khoán
1.3.4 Tác động của pháp luật đối với tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán và hoạt động giao dịch chứng khoán.
Ở các nước có TTCK phát triển, công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và TTCK nói riêng Nhờ các công ty chứng khoán, cổ phiếu, trái phiếu, các chứng khoán phái sinh được lưu thông buôn bán trên TTCK Công ty chứng khoán tham gia trên TTCK với
tư cách: là chiếc cầu nối giữa nhà đầu tư và tổ chức phát hành, là nhà tạo lập thị trường hay nhà đầu tư tham gia vào thị trường (khi mua, bán chứng khoán cho chính mình), và là người cung cấp các dịch vụ cần thiết cho TTCK Pháp luật quy định các điều kiện để các tổ chức được xét cấp giấy phép kinh doanh chứng
Cơ sở lý luận và thực tiên cửa việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
28
Trang 29khoán (điều kiện về vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật, con người, )', các quy định, quy
tắc, tiêu chuẩn mà tổ chức kinh doanh chứng khoán phải tuân thủ khi tiến hằnh các hoạt động kinh doanh chúng khoán; các trường hợp đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép hoạt động của công ty chứng khoán; chế độ thông tin, báo cáo của công ty chứng khoán; Nghĩa vụ chịu sự thanh tra, giấm sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các biện pháp xử lý khi tổ chức kinh doanh chứng khoán vi phạm
Ngoài ra, pháp luật là công cụ hữu hiệu đảm bảo cho hoạt động giao dịch chứng khoán diễn ra an toàn, ổn đinh và hiệu quả Giao dịch chứng khoán
là việc mua bán chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung 20 Hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị trường đảm bảo tính thanh khoản cho chứng khoán Pháp luật qui định cụ thể thời gian giao dịch, phương thức giao dịch, thiết lập hệ thống quản lý, giám sát giao dịch chứng khoán, đảm bảo cho hoạt động giao dịch chứng khoán được diễn ra công minh, đúng pháp luật
1.3.5 Tác động của pháp luật đối với các nhà đầu tư chứng khoán
Hoạt động của TTCK có sôi động hay không phần lớn phụ thuộc vào sự tham gia của ácc nhà đầu tư Nhà đầu tư tham gia vào TTCK rất đa dạng, gồm: doanh nghiệp, công ty tài chính, ngân hàng, công ty bảo hiểm, các tổ chức khác
và cá nhân Pháp luật quy định những yêu cầu đối với nhà đầu tư khi tham gia giao dịch chứng khoán; những quy định về tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào chứng khoán hoặc tham gia thành lập công ty chứng khoán liên doanh Vai trò của nhà đầu tư rất quan trọng đối với việc hình thành
và phát triển thị trường chứng khoán, vì vậy pháp luật thường đưa ra nhiều quy định chặt chẽ nhằm bảo vệ các nhà đầu tư và làm cho các nhà đầu tư an tâm khi đầu tư vào chứng khoán
Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường ekứng khoản ở Việt Nam
20 Điều 2 Nghị định 48 về chứng khoán và TTCK năm 1998.
Trang 301.3.6 Pháp ỉuật quy định các hành vỉ bị cấm và hạn chế trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Để thị trường chứng khoán hoạt động một cách công bằng, minh bạch và
hiệu quả pháp luật phải đưa ra các quy định nhằm cấm hoặc hạn chế các chủ
thể khi tham gia thị trường chứng khoán khôg được thực hiện Đồng thời pháp
luật cũng quy định những biện pháp xử phát nghiêm minh đối những tổ chức,
cá nhân cố tình thực hiện các hành vi đã bị pháp luật cám và hạn chế
Như vậy, hệ thống pháp luật về TTCK đóng vai trò rất to lớn đối với sự vận hành của TTCK Sự cần thiết tác động của pháp luật đối với sự hình thành
và phát triển của TTCK vừa là yêu cầu đòi hỏi nội tại của TTCK, vừa xuất phát
từ chức năng quản lý xã hôi của Nhà nước nhằm mục đích chung là đưa TTCK
từng bước đi vào ổn định, vận hành một cách có hiệu quả, hạn chế các rủi ro,
bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và tạo động lực phát triển cho
nền kinh tế
1.4 Sự cần thiết phải ban hành Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt nam
Thị trường chứng khoán không thể vận hành và phát triển mạnh mẽ nếu
không có một khuôn khổ pháp lý cần thiết cho tổ chức và hoạt động của thị
trường chứng khoán
Thông thường, thị trường chứng khoán ở mỗi nước có bước phát triển từ thấp đến cao, từ qui mô nhỏ và vừa đến qui mô lớn, do vậy luật pháp cũng phải
thay đổi để phù hợp với tiến trình phát triển của thị trường chứng khoán Tuy
nhiên, phụ thuộc vào đặc điểm phát triển kinh tế, xã hội, qui mô, hình thức tổ
chức của thị trường chứng khoán ở các quốc gia mà hệ thống pháp luật cũng
được ban hành không giống nhau Có những nước ban hành văn bản pháp luật bao trùm các lĩnh vực của thị trường chứng khoán (như Nhật Bản, Thái Lan,
Cơ sở lý luận và thực tiễn cửa việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường
chứng khoán ở Việt Nam
30
Trang 31Hàn Quốc ), nhung ngược lại, có những nước, ban hành pháp luật đơn hành điều chỉnh một lĩnh vực nhất định của thị trường chứng khoán (Như Mỹ, Trung Quốc ), hoặc một số nước xây dựng Luật chứng khoán hay Luật công ty điều chỉnh cả việc phát hành chứng khoán ra công chúng và phát hành riêng lẻ (như/ Ay
chứng khoán Khi thị trường chứng khoán đã phát triển ở một giai đoạn nhất
định thì việc ban hành Luật chuyên ngành (Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán) là hết sức cần thiết Quyết định số 163/2003/QĐ - TTg về việc phê duyệt chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm
2010, đã đề ra mục tiêu: "Ban hành đồng bộ hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động thị trường chứng khoán theo hướng bao quát, toàn diện và phù hợp với thị trường Xây dựng Luật chứng khoán trình Quốc hội thông qua vào năm 2005"
Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán (nếu ban hành) sẽ là văn bản pháp luật có hiệu lực cao nhất, là cơ sở pháp lý quan trọng nhất điều chỉnh hoạt động của thị trường chứng khoán Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán thể hiện tính quyền lực và tính thực thi cao Ngoài ra, việc xây dựng Luật
về thị trường chứng khoán tạo ra một môi trường pháp lý ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán cũng như mọi tổ chức,
Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Luật vẽ' chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Trang 32ữắ nhân tham gia hoạt động trên thị trường, là cơ sở để thu hút người đầu tư
(tiong đó đặc biệt quan trọng phải kể đến thu hút đầu tư nước ngoài) tham gia vào thị trường chúng khoán, là tiền đề thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển và biến nó "thực sự trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn hữu hiệu phục vụ cho đầu tư phát triển kinh tế, đồng thời góp phần hình thành đồng bộ các yếu tố thị trường và hoàn thiện thị trường tài chính trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa"21 Mặt khác, thị trường chứng khoán là một lĩnh vực rất nhạy cảm đối với nền kinh tế của mỗi nước, là "phong vũ biểu"của nền kinh tế, nên kinh nghiệm các nước trên thế giới (Mỹ, Nhật, Trung Quốc ) cho thấy điều chỉnh lĩnh vực này phải được thể hiện bằng Luật chứ không phải bằng một văn bản dưới Luật Đây là Luật chuyên ngành về chứng khoán và thị trường chứng khoán nên các qui định của nó được ưu tiên áp dụng trong lĩnh vực chứng khoán Với những ưu điểm nổi bật này của Luật về thị trường chứng khoán so vói các văn bản pháp luật khác về chứng khoán nhưng có hiệu lực pháp lý thấp hơn, việc xây dựng Luật về thị trường chứng khoán trong giai đoạn hiện nay là một đòi hỏi mang tính cấp thiết
Xét thực trạng hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động của thị trường chứng khoán hiện nay thì văn bản pháp luật có giá trị cao nhất là Nghị định 144/2003/NĐ - CP ngày 28/11/2003 về chứng khoán và thị trường chứng khoán (thay thế Nghị định 48/1998/NĐ - CP ngày 11/8/1998) So với Nghị định 48, Nghị định 144 có phạm vi điều chỉnh tương đối rộng (liên quan đến sự mở rộng phạm vi quản lý đối với hoạt động phát hành chứng khoán
ra công chúng; qui định thủ tục đăng ký phát hành chứng khoán ra công chúng thay cho cơ chế cấp phép phát hành; phân định rõ điều kiện niêm yết và điều
kiện phát hành chứng khoán; nới lỏng điều kiện niêm yết chứng khoán để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Nhà nước sau khi cổ phần hoá có thể niêm yết
21 Theo kết luân của Thủ tướng Chính phủ Phan Vãn Khải tại buổi làm việc với UBCKNN ngày 4/8/2003 - Tạp chí Chứng khôán - Sô' 8/2003 - Tr 3.
Cơ gà lý luận và thực tiễn cửa việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường ữhứng khoán ở Việt Nam
32
Trang 33chứng khoán ngay; qui định bổ sung đối tượng phải công bố thông tin là công ty chứng khoán (bên cạnh các đối tượng là tổ chức niêm yết, công ty quản lý quĩ,
và Trung tâm giao dịch chứng klíoán); bổ sung thêm loại hình Quỹ đầu tư chứng khoán bằng vốn góp của các thành viên; cụ thể hoá các hành vi bị cấm trên thị trường chứng khoán) Viộc ban hành Nghị định 144 đã đánh dấu một bước quan ữọng trong quá trình hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam, là cơ sở pháp lý quan trọng bảo đảm cho thi trường hoạt động an toàn, công bằng, hiệu quả, bảo vộ quyền lợi nhà đầu tư Tuy nhiên, do
sự phát triển của nền kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng và để phù hợp với định hướng chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2010 như đã nói ở trên thì việc ban hành Nghị định 144 và sau đó là hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành cũng chưa tạo ra được môi trường pháp lý đầy đủ, đồng bộ và ổn định để điều chỉnh mọi hoạt động trên thị trường
chứng khoán Theo quan điểm của chúng tôi, thì ở Việt Nam vào thời điểm cuối
năm 2003 chỉ nên ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 48 là vừa đủ
và năm 2005 sẽ ban hành Luật về thị trường chứng khoán Bởi lẽ, hiệu lực pháp
lý của các văn bản dưới luật (Nghị định) không cao, khó giải quyết triệt để
những mâu thuẫn, xung đột với các văn bản pháp luật khác có liên quan Thêm
vào đó, vấn đề phát hành và kinh doanh chứng khoán là những hoạt động có liên quan đến rất nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau Do đó, khung pháp luật về chứng khoán
và thị trường chứng khoán bao gồm những bộ phận cấu thành thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật có đặc trưng và cơ chế điều chỉnh khác nhau, trong đó có những qui định của cả pháp luật dân sự (liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu chứng khoán ), pháp luật hành chính, hình sự (liên quan đến việc xử phạt vi phạm pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ) Do vậy, một văn bản pháp luật ở mức Nghị định dù chi tiết đến đâu chắc chắn cũng khó có thể điềuchỉnh được hết các quan hệ liên quan trong lĩnh vực thị trường chứng khoán
Cơ MỞ lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Trang 34Với tính ổn định và hiệu lực pháp lý cao, Luật về chúng khoán và thị trường chúng khoán cùng các văn bản pháp luật khác về thị trường chứng khoán
sẽ tạo môi trường pháp lý hết sức thuận lợi cho sự vận hành và phát triển của Thị trường chứng khoán Vì vậy, việc ban hành Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán với những quy định chặt chẽ, phù hợp sẽ là động cho thị trường chứng khoán phát triển
Bên cạnh đó, chúng ta đang chủ trương xây dựng một Nhà nước pháp quyền, với phương châm Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật và thông qua pháp luật Chính vì vậy, trong thòi gian vừa qua, chúng ta đã chú trọng đến việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việc ban hành Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán cũng nhằm mục đích từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế nói riêng
Cơ sở lý luận vả thạc tiễn của việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường ehđtng khoán ở Việt Nam
34
Trang 35Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường ckỂÉng khoán ở Việt Nam
CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM XÂY DựNG LUẬT VỂ CHÚNG KHOÁN
VÀ THỊ TRƯỜNG CHÚNG KHOÁN Ở MỘT s ố NƯỚC TRÊN THÊ GIỚI VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỂU CHỈNH VỂ CHÚNG• * •KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHÚNG KHOÁN Ở VIỆT NAM
2.1 Kinh nghiệm xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán
ở một sô'nước trên th ế giới và bài học kỉnh nghiệm cho Việt nam
Nghiên cứu mô hình thị trường chứng khoán của các nước trên thế giới cho thấy, tương thích với mỗi mô hình thị trường là sự hiện diện và vận động của khung pháp luật phù hợp được chi phối bởi các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của thị trường chứng khoán Để có thị trường chứng khoán hoạt động có hiộu quả, đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật với mục tiêu cụ thể; các quy tắc giám sát công khai, khung pháp lý rõ ràng và cơ quan quản lý có cơ cấu thích hợp, đủ khả năng thực thi chính sách
Qua nghiên cứu pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở một số nước trên thế giới, có thể nói rằng, cách thức tổ chức mô hình thị trường
Trang 36cũng như hệ thống pháp lý làm cơ sở cho hoạt động của thị trường chứng khoán rất phong phú và đa dạng Cách thức tổ chức ở mỗi quốc gia tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội và cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước.
Các nước trong quá trình xây dụng và phát triển thị trường chứng khoán đều chú trọng đến việc ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh đối với thị trường chứng khoán Thực tế đã chứng minh, những nước có thị trường chứng khoán phát triển là những nước có hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh Tuy nhiên, không phải bất cứ nước có thị trường chứng khoán phát triển ngay một lúc đã có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, mà để đạt được kết quả đó họ cũng phải trải qua một thời gian tương đối dài Trong giai đoạn đầu phát triển thị trường chứng khoán, các văn bản pháp luật thường chỉ dừng ở cấp Chính phủ
ban hành ( như Nghị định, sắc lệnh, ) và sau đó các nước mới xây dựng các
luật về thị trường chứng khoán trên cơ sở các văn bản pháp luật hiện hành, sau
khi đã trải qua một thời gian thử nghiệm {như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái
Lan, Trung Quốc, ).
Đối với một số nước đang phát triển, cơ sở pháp lý cho hoạt động của TTCK thường là văn bản dưới luật (Pháp lệnh hoặc Nghị định), ví dụ như ở Inđônêxia
Tuy nhiên, không phải tất cả các nước có thị trường chứng khoán giống nhau thì sẽ có hệ thống pháp luật về thị trường chứng khoán giống nhau Do só
sự khác nhau về mức độ phát triển vĩ mô của nền kinh tế, về trình độ phát triển tài chính, tiền tệ, thị trường chứng khoán, vào việc lựa chọn mô hình hệ thống quản lý đối với thị trường chứng khoán cũng như sự khác nhau về xã hội, văn hoá, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, tâm lý của từng dân tộc Vì vậy
mà mỗi nước khi xây dựng thị trường chứng khoán sẽ theo mô hình riêng của mình Đồng thời các nước cũng xây dựng một hệ thống pháp luật về thị trường
Cơ gở tỷ luận và thực tiễn của việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
36
Trang 37chứng khoán phù hợp với các điều kiện về kinh tế, cơ chế quản lý, trình độ phát triển thị trường chứng khoán của nước mình,
Mặc dù được xây dựng đưới nhiều hình thức, quan điểm khác nhau,
nhưng nhìn chung các vãn bản pháp luật về thị trường chứng khoán ở các nước
khi xây dụng đều phải dựa trên những nguyên tắc nhất định và mục tiêu đều nhằm hướng tói điều chỉnh các nhóm chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán, sở giao dịch chứng khoán, các tổ chức phát hành chứng khoán, tổ chức kinh doanh- dịch vụ chứng khoán, nhà đầu tư chứng khoán Các quy định đó đều nhằm bảo vộ các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia thị trường chứng khoán, đảm bảo thị trường chứng khoán hoạt động an toàn, cồng bằng, minh bạch và hiộu quả
Hiện nay pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của TTCK một số nước trên thế giới có thể được khái quát như sau:
Ở Mỹ, văn bản pháp luật chủ yếu và trực tiếp điều chỉnh hoạt động của TTCK là Luật chứng khoán năm 1933, Luật giao dịch chứng khoán nãm 1934 Luật chứng khoán qui định về phát hành chứng khoán, còn Luật giao dịch chứng khoán điều chỉnh việc mua bán chứng khoán đã phát hành Ngoài ra, Luật này còn qui định chế độ đãng ký, báo cáo cũng như các qui định chống đầu cơ, mua bán nội gián Ngoài các vãn bản trên, Mỹ còn có các Luật khác hỗ trợ việc quản
lý TTCK như: Luật công ty đầu tư (1940), Luật bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán (1970), Luật tín thác
Ở Anh, Đạo luật về dịch vụ tài chính năm 1986 đã tạo ra khung khổ pháp lý cho các hoạt động trên TTCK
ở Nhật Bản, có Luật chứng khoán năm 1948, Luật công ty chứng khoán năm 1971, Luật tín thác đầu tư chứng khoán năm 1957, Luật quản lý tư vấn đầu
tư chứng khoán năm 1986 tạo thành khung pháp lý cho hoạt động của TTCK
Cơ Mồ lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường chổng khoán ở Việt Nam
Trang 38Tại Đức, hệ thống pháp lý trong lĩnh vực TTCK được ban hành dưới hình thức một hệ thống luật đơn hành: Luật khuyến khích thị trường tài chính năm
1994, Luật kinh doanh chứng khoán , Luật Sở giao dịch chứng khoán, Luật thanh toán và bù trừ, lưu giữ chúng khoán, Luật ngân hàng, Luật công ty
Tại Hàn Quốc có Luật chứng khoán và giao dịch chứng khoán ban hành năm 1962, sửa đổi vào năm 1994, Luật thương mại ban hành năm 1962, sửa đổi năm 1992, Luật kiểm toán độc lập ban hành năm 1980, sửa đổi năm 1993, Luật đầu tư tín thác chứng khoán của Hàn Quốc ban hành vào năm 1969 và sửa đổi nãm 1976 Có thể nói, đây là các văn bản khá hoàn chỉnh và chuẩn mực, có thể tham khảo trong quá trình xây dựng pháp luật về TTCK ở Việt Nam
Ở Trung Quốc, Luật chứng khoán được ban hành năm 1998 là văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh về chứng khoán và TTCK
Ở Malaysia, khung pháp luật điều tiết TTCK gồm các Luật công ty năm
1965, Luật chứng khoán năm 1985, Luật lưu giữ chứng khoán năm 1991, Luật
Uỷ ban chứng khoán năm 1993, Luật giao dịch hợp đồng tương lai năm 1993
Để tiện cho quá trình nghiên cứu, phân tích, chúng ta tìm hiểu kinh nghiệm xây dựng pháp luật về thị trường chứng khoán của một số nước theo nhóm chủ thể chủ yếu tham gia trên thị trường chứng khoán:
2.1.1 Qui định về chủ thể quản lý thị trường chứng khoán
Trong nền kinh tế thị trường, việc quản lý TTCK được tổ chức thực hiện
ở nhiều cấp độ khác nhau, theo hệ thống các đơn vị hành chính hoặc theo cơ cấu
tổ chức TTCK là một phạm trù đặc biệt, do đó các cơ quan quản lý TTCK cũng
có những đặc thù riêng Theo thông lệ chung trên thế giới thì chủ thể quản lý TTCK được phân thành hai nhóm: là cơ quan quản lý Nhà nước về TTCK và các
tổ chức tự quản (Sở giao dịch chứng khoán, Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán) Pháp luật các nước thường đưa ra các quy định nhằm phân tích về chức
38
Cơ sở lý luận và thực tiễn cửa việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường ềMmg khoứn ỞViệt Nam
Trang 39Dăng, nhiệm vụ giữa các chủ thể trong việc quản lý, điều hành, giám sát, thanh tra thị trường chứng khoán.
* Cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán.
Lịch sử tồn tại và phát triển thị trường chứng khoán đã chứng kiến nhiều
mồ hình tổ chức cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán; cơ quan quản lý nhà nước chuyên trách, độc lập, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Quốc hội
hoặc Chính phủ {như Mỹ, Đức, Pháp, Canada, úc, Phiỉippin, Malaysia) ; cơ
quan quản lý nhà nước trực thuộc một bộ, ngành khác (thường là trực thuộc Bộ Tài chính hay ngân hàng Nhà nước nhưc trước đây Anh, Nhật Bản, Inđonêxia)
hoặc độc lập một cách cách tương đối ( không trực thuộc bộ, ngành khác nhưng
các quyết định quan trọng về thị trường chứng khoán lại do Bộ, ngành khác quyết định, như hiện nay ở Nhật bản, Hàn Quốc) hoặc cũng có thể do nhiều cơ
quan đảm nhiệm ( mỗi cơ quan phụ trách một lĩnh vực nhất định như trước đây
ở Trung Quốc, Anh) Việc quyết định cơ quan quản lý nhà nước được thành lập
theo mô hình nào là tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của từng nước, nhưng nhìn chung các cơ quan này là cơ quan quản lý chuyên ngành của Nhà nước trong lĩnh vực của TTCK, quyết định các vấn đề liên quan đến chứng khoán như: phát hành, mua bán, bảo lãnh Bên cạnh đó, cơ quan này đều thực hiện một số chức năng, nhiệm vụ cơ bản, đó là: quản lý, giám sát và thanh tra toàn bộ các hoạt động của TTCK
Thị trường chứng khoán Mỹ: Mỹ có cơ quan quản lý nhà nước về
chứng khoán thuộc loại lâu năm và có kinh nghiệm hàng đầu trên thế giới Saukhi thị trường chứng khoán sụp đổ vào năm 1929, cùng với việc thông qua Luậtchứng khoán năm 1933 và Luật giao dịch chứng khoán năm 1934, Ưỷ banChứng khoán Mỹ (SEC) được thành lập năm 1934 để thực hiện Luật chứngkhoán liên bang và bảo vệ các nhà đầu tư thông qua việc bảo đảm thị trườngchứng khoán hoạt động công bằng, trung thực và những người hành nghề kinh
Cơ sở lý ỉuận vá thực tiễn của việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường
ckứng khoán ở v ụ t Nam
Trang 40doanh- dịch vụ chúng khoán tuân thủ đúng pháp luật và quy chế áp dụng Uỷ ban chứng khoán Mỹ là cơ quan quản lý chuyên trách độc lập, có quyền lực cao nhất trong việc quản lý TTCK Mỹ Chức năng chính của SEC là ban hành các qui chế, qui định về TTCK, có quyền thanh tra, kiểm tra và truy tố các tổ chức kinh doanh chứng khoán vi phạm pháp luật, quản lý, cấp hoặc thu hồi giấy phép đối với các Sở giao dịch chứng khoán, Công ty môi giới, nhà giao dịch, công ty đầu tư Đứng đầu SEC là Chủ tịch và 04 uỷ viên Hội đồng do Tổng thống bổ nhiộm với nhiệm kỳ xen kẽ 5 năm, có sự tham khảo và đồng ý của Nghị viện
Mỹ Các uỷ viên Hội đồng không bị bãi nhiệm nếu không có lý do uỷ ban Chứng khoán Mỹ là cơ quan độc lập với các Bộ khác của Chính phủ và chịu sự giám sát trực tiếp của Quốc hội
Thị trường chứng khoán Anh Quốc: Theo Đạo luật về dịch vụ tài
chính năm 1986, Ban chứng khoán và đầu tư được thành lập Ban chứng khoán
và đầu tư có thẩm quyền quản lý các hoạt động chứng khoán và đầu tư thông qua hệ thống tổ chức tự quản, tự hạch toán thông qua thu phí và chịu sự giám sát của Bộ Thương mại và công nghiệp Bất cứ tổ chức, cá nhân nào thực hiện kinh doanh chứng khoán cũng phải chịu sự quản lý, giám sát của Ban chứng khoán
và đầu tư Mặt khác, Ngân hàng trung ương Anh cũng có vai trò quan trọng trong việc thiết lập các tiêu chuẩn tài chính đối với các định chế tài chính và kiểm soát việc phát hành trái phiếu bằng đổng Bảng Anh trên thị trường chứng khoán trong nước và quốc tế
Thị trường chứng khoán Nhật Bản: Trước đây Nhật bản không có cơ quan quản lý nhà nước riêng về thị trường chứng khoán mà chức năng này được giao cho Vụ Chứng khoán thuộc Bộ Tài chính đảm nhận Thực tiễn hoạt động TTCK đã minh chứng, TTCK Nhật Bản gặp nhiều khó khăn nếu không có một
cơ quan quản lý nhà nước về TTCK Việc tập trung quản lý TTCK vào mọt Bộ
sẽ tạo ra sự phức tạp cho Bộ quản lý; Quyết địnhđối với thị trường thường chậm
Cơ sở lý luận và thực tiến của việc xây dựng Luật về chứng khoán và thị trường ekứng khoán ở Việt Nam
40