1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠCH TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HOÁ TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH THƯƠNG MẠI

43 407 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những vấn đề lý luận cơ bản về hoạch toán tiêu thụ hàng hoá trong doanh nghiệp kinh doanh thương mại
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kế toán, Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 50,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thúc qúa trình này người mua nhận được hàng, người bán nhận được tiền hay ít nhất có quyền đòi tiền, có bán được hàng doanh nghiệp mới tồn tại và mở rộng kinh doanh.Trong doanh nghiệp ti

Trang 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠCH TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HOÁ TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH THƯƠNG

- Phân công lao động xã hội và lợi thế so sánh giữa các vùng các doanh nghiệp và các quốc gia như vậy hoạt động thương mại bao gồm cả phương pháp

và lưu thông hàng hoá giữa từng quốc gia riêng biệt và giữa các quốc gia với nhau

- Trong nền kinh tế quốc dân thương mại chính là cầu nối giữa sản xuất đến tiêu dùng, hoạt động kinh doanh thương mại thực hiện chức năng chủ yếu là mua và bán, trao đổi dự trữ hàng hoá cung cấp các dịch vụ nhằm phục vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân

Hoạt động kinh doanh thương mại bao giờ cũng tuân theo cơ chế thị trường Doanh nghiệp thương mại thông qua hoạt động của mình vừa thực hiện giá trị hàng hoá vừa có các hoạt động tiêu thụ sản xuất trong khâu lưu thông Hoạt động thương mại ảnh hưởng tới cả sản xuất và lưu thông

Mỗi doanh nghiệp là một đơn vị hoạch toán độc lập, tự tổ chức, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, đối với doanh nghiệp thương mại phải tiến hành rất nhiều hoạt động để tạo nguồn hàng nhu cầu thị trường, quản lý dự trữ… trong đó bán hàng là khâu quan trọng và mấu chốt nhất Qúa trình tiêu thụ hàng bán hàng là sự thực hiện giá trị và chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá, kết

Trang 2

thúc qúa trình này người mua nhận được hàng, người bán nhận được tiền hay ít nhất có quyền đòi tiền, có bán được hàng doanh nghiệp mới tồn tại và mở rộng kinh doanh.

Trong doanh nghiệp tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng trong lưu chuyển hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại lưu chuyển hàng hoá có thể theo hai cách bán buôn, bán lẻ

- Bán buôn là bán cho đối tượng trung gian

- Bán lẻ là bán trực tiếp cho người tiêu dùng

Thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu người bán sang người mua và thu được nhiều hàng quyền đòi tiền

Tính đa dạng của hàng hoá và sự phân bố vị trí mua bán tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành mạng lưới kênh phân phối rộng khắp, tiến hành tiêu thụ hàng hoá một cách có hiệu quả tiết kiệm được chi phí và đáp ứng được nhu cầu cao nhất của thị trường

Tổ chức kinh doanh thương mại có thể theo các hình thức

Trong cơ chế thị trường việc hình thành và tồn tại doanh nghiệp thương mại là tất yếu nên công tác tổ chức hoạch toán kế toán là hết sức cần thiết để

Trang 3

quản lý và xác địnhh kết quả kinh doanh , hoạch toán xuất phát từ lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích chung của xã hội, mỗi loại hình doanh nghiệp đều có một đặc thù riêng từ những đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, hoặc toán trong doanh nghiệp thương mại khác với hoạch toán trong doanh nghiệp sản xuất cụ thể.

- Nội dung hoạch toán trong doanh nghiệp thương mại là mua vào bán ra

- Chi phí kinh doanh là toàn bộ chi phí để thực hiện nghiệp vụ mua vào bán ra

- Tổng doanh thu của doanh nghiệp kinh doanh thương mại gồm doanh thu tiêu thụ hàng hoá doanh thu từ dịch vụ các nguồn thu nhập khác

- Thu nhập của doanh nghiệp thương mại là phần chênh lệch doanh thu bán hàng và giá vốn hàng tiêu thụ (gồm giá mua và chi phí mua) thu nhập thuộc khối lượng hàng tiêu thụ và chênh lệch nói trên của từng mặt hàng

- Lợi nhuận của doanh nghiệp thương mại là chênh lệch giữa thu và chi, thuế, các khoản khác hoặc giữa thu nhập và ép lưu thông

Xuất phát từ đặc điểm kinh doanh thương mại các doanh nghiệp cần tổ chức hoặch toán cho phù hợp và lựa chọn các phương thức tiêu thụ, giao dịch để đem lại hiệu quả và lợi ích cao nhất cho doanh nghiệp và xã hội

II TIÊU THỤ HÀNG HOÁ, Ý NGHĨA, YÊU CẦU VÀ NHIỆM VỤ CỦA HOẠCH TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HOÁ.

1.Một số vấn đề chung về tiêu thụ hàng hoá

Tiêu thụ hàng hoá là khâu cuối cùng của qúa trình sản xuất kinh doanh thông qua tiêu thụ mà giá trị và giá trị sử dụng được thực hiện, hàng hoá chuyển

từ hình thái hiện vật hay hình thái tiền tệ Doanh nghiệp thu hồi được vốn bỏ ra

và vòng luân chuyển vốn được hoàn thành đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển vốn nói riêng và hiệu quả sử dụng vốn nói chung đồng thời góp phần thoả mãn nhu cầu

Trang 4

tiêu dùng của xã hội tình hình tiêu thụ sản phẩm phản ánh năng lực kinh doanh

và vòng tiêu của doanh nghiệp trên thị trường

+ Tiêu thụ nói chung :

- Tiêu thụ ra ngoài đơn vị : Là việc bán hàng cho các đơn vị khác và các cá nhân trong và ngoài doanh nghiệp

- Tiêu thụ nội bộ : Là việc bán cho các đơn vị, doanh nghiệp tùy thuộc một Công ty doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế với Nhà nước theo pháp luật quy định

Qúa trình tiêu thụ là chuyển giao hàng hoá dịch vụ cho khách hàng hàng hàng hoá được coi là tiêu thụ khi đã thu được tiền hay khách hàng chấp nhận thanht oán tiền Như vậy hoạch toán kế toán là qúa trình ghi nhận doanh thu và thực xác định kết quả kinh doanh

- Doanh thu bán hàng là số tiền doanh nghiệp được nhận (hay rõ được nhận) vì nó phát hành hàng đã bán tương ứng trong tổng doanh thu bán hàng là

số tiền ghi nhận trên hoá đơn hay hợp đồng thời điểm ghi nhận doanh thu thuộc vào phương thức bán hàng nhưng đều được xác định là khi có bằng chứng ghi nhận Doanh nghiệp có hàng hoá tiêu thụ hay chuyển giao quyền sở hữu cho khách hàng hoặc hoàn thành công việc theo hoạt động mà người mưa chấp nhận thanh toán không thuộc vào số tiền đã thu được hay chưa

Đối với đơn vị tính thuế VAT theo phương pháp khấu trừ thì trong doanh thu tiêu thụ không bao gồm thuế đều ra phải nộp còn đối với các doanh nghiệp tính thuế VAT trực tiếp hoặc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu…thì doanh thu gồm cả thuế

- Giá bán (giá đơn vị hàng bán) : Căn cứ phí doanh thu bán hàng trong kỳ thực hiện là giá bán thực tế tức căn cứ trên hoá đơn bán hàng hay giá thoả thuận giữa người mua và người bán

Trang 5

- Chiết khấu bán hàng là toàn bộ số tiền doanh nghiệp (người bán) giảm trừ cho người mua Đối với số tiền phải cho do người mua thánh toán tiền mua hàng hoá của doanh nghiệp trước thời gian quy định thanh toán được ghi trên hoá đơn hay hoạt động kinh tế

- Giảm giá hàng bán : Là số tiền người bán giảm cho người mua ngoài hoá đơn hay hợp đồng Trên giá bán đã thoả thuận do kém phẩm chất không đúng quy cách sai thời hạn quy định của hoạt động hay giảm giá mua với số lượng lớn

- Phương thức hàng bán bị trả lại : là trị giá tính theo giá hoạch toán của hàng hoá dịch vụ đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do vi phạm các điều kiện cam kết như kém phẩm chất sai quy cách, chủng loại

- Giá vốn hàng bán : Gồm cả giá mua và chi phí mua phân bố cho khối lượng hàng tiêu thụ

- Chi phí bán hàng : Là chi phí liên quan trong quá trình tiêu thụ hàng hoá, trong kỳ như chi phí tiền lương Công nhân viên bán hàng, chi phí bao bì, đời sống, chi phí bảo quản, bảo hành, dịch vụ bán hàng

- Chi phí quản lý doanh nghiệp : Là toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt động toàn doanh nghiệp mà không tách riêng ra cho bất kỳ một hoạt động nào, như chi phí quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và chi phí chung khác liên quan đến toàn doanh nghiệp

- Doanh thu thuần : Là số chênh lệch giữa tổng doanh thu bán hàng trừ đi các khoản giảm trừ như giảm giá chiết khấu, doanh thu hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt thuế xuất khẩu

- Lợi nhuận gộp (lãi thương mại hay lãi gộp) là số chênh lệch giữa kết quả kinh doanh của doanh nghiệp : là số chênh lệch giữa doanh thu thuần và giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

2 Các phương thức tiêu thụ hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại

Trang 6

Đặc điểm khác biệt giữa doanh nghiệp Thương mại và doanh nghiệp sản xuất là doanh nghiệp thương mại không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm hàng hoá

nó đóng vai trò trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng Trong cơ chế thị trường hiện nay doanh nghiệp thương mại phải vận dụng linh hoạt và phải sáng tạo các phương thức tiêu thụ để bán được nhiều hàng nhất để tạo điều kiện thuận lợi trong quan hệ mua bán doanh nghiệp thương mại phải tổ chức tiêu thụ nhiều phương pháp khác nhau để đáp ứng nhu cầu cao nhất của thị trường Hoạt động tiêu thụ trong kinh doanh thương mại gồm có 4 phương thức chính, phương thức tiêu thụ trực tiếp, phương thức chuyển hàng chờ chấp nhận, phương thức bán hàng đại lý và phương thức bán hàng trả góp, ngoài ra để phục vụ cho công tác quản lý khuyến khích đầu tư phát triển kinh doanh hay sử dụng vào một số công việc giao dịch

2.1 Phương thức bán trực tiếp.

Tiêu thụ trực tiếp là giao hàng cho khách hàng tại kho hay chuyển trực tiếp cho khách hàng ngay saukhi hàng mua về (không qua kho) của các doanh nghiệp thương mại, hàng hoá khi bàn giao cho khách hàng được chính thức coi

là tiêu thụ đơn vị bán mất quyền sở hữu có các trường hợp tiêu thụ trực tiếp sau :a) Bán buôn hàng hoá : Bán buôn hàng hoá là bán cho mạng lưới bán lẻ cho sản xuất tiêu dùng và xuất khẩu đặc điểm của bán buôn hàng hoá

- Đối tượng bán là các doanh nghiệp thương mại, doanh nghiệp sản xuất và các tổ chức kinh tế khác

- Hàng hoá có thể là vật phẩm tiêu dùng là tư liệu sản xuất

- Khối lượng hàng hoá bán ra mỗi lần thường là lớn

- Thanh toán tiền hàng chủ yếu không dùng tiền mặt

- Hàng hoá bán buôn vẫn nằm trong lĩnh vực lưu thông

* Các hình thức bán buôn hàng hoá :

Trang 7

- Bán buôn qua kho : Là trường hợp bán buôn hàng đã nhập kho và thực hiện theo hai cách bán buôn qua kho theo hình thức chuyển thẳng và bán buôn qua kho theo hình thức bên mua đều lấy hàng trực tiếp tại kho.

+ Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng theo hợp đồng : theo hình thức này giữa bên mua và bên bán phải ký hợp đồng với nhau, bên bán căn cứ vào hợp đồng đã ký và vận chuyển hàng đến địa điểm theo hợp đồng, chứng từ bán hàng gồm hoá đơn kiểm phiếu xuất kho trong đó ghi rõ số lượng và trị giá thanh toán của hàng đã gửi đi hàng hoá kiểm phiếu xuất kho gồm 3 liên : một liên lưu lại cuống ; 1 liên giao cho bên mua sau khi mua hàng ; 1 liên dùng để thanh toán

Hàng hoá gửi đi vẫn thuộc quyền sở hữu của dn1 từ khi đã thu được tiền hàng hay bên mua chấp nhận thanh toán mới được coi là tiêu thụ

+ Bán buôn qua kho với hình thức bên mua đến lấy hàng trực tiếp tại kho : theo hình thức này hai bên ký hợp đồng với nhau trong đó ghi rõ bên mua đến kho bên bán nhận hàng căn cứ vào hợp đồng ký kết bên mua rõ ủy quyền cho người tiếp nhận Khi người nhận đã nhận đủ và ký xác nhận thì số hàng được coi

là tiêu thụ chứng từ là hoá đơn hàng hoá đơn kiểm phiếu xuất kho

- Bán buon không qua kho (giao hàng thẳng không qua kho) đây là trường hợp tiêu thụ hàng hoá bán không qua kho doanh nghiệp phương thức này là ưu điểm của doanh nghiệp thương mại tiết kiệm được chi phí lưu thông, chi phí dự trữ và đẩy nhanh tốc độ vận động của hàng hoá Tuy nhiên phương thức này chỉ được thực hiện cung ứng hàng hoá có kế hoạch không hoá không cầu có sự phân loại chọn lọc hay bao gói của đơn vị có hai hình thức bán buôn không qua kho

Thứ nhất : Bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán theo hình

thức này bên bán buôn căn cứ và hợp đồng mua hàng để nhận hàng người cung cấp bán thẳng cho khách hàng không qua kho như vậy nghiệp vụ mua và bán

Trang 8

xảy ra đồng thời doanh nghiệp bán buôn vừa tiến hành với bên cung cấp vừa tiến hành với bên mua về việc thanh toán chứng từ sử dụng là hóa đơn bán hàng.

Thứ hai : Bán buôn vận chuyển thẳng không qua thanh toán thực chất đây

là hình thức môi giới Công ty bán buôn là đơn vị trung gian Doanh nghiệp ủy quyền cho bên mua trực tiếp nhận hàng và thanh toán cho bên cung cấp đồng thời doanh nghiệp được hưởng hoa hồng do bên mua và bên bán trả sau đó bên bán gửi chứng từ cho doanh nghiệp để theo dõi hợp đồng theo hình thức này doanh nghiệp không được ghi nhận nghiệp vụ mua cũng như nghiệp vụ bán.b) Bán lẻ hàng hoá : Đây là giai đoạn cuối cùng của qúa trình vận hành hàng hoá từ nơi sản xuất đến tiêu dùng kết thúc nghiệp vụ bán hàng hoá coi là ra khỏi lưu thông sang lĩnh vực tiêu dùng, và giá trị sử dụng của hàng hoá được thực hiện hàng hoá bán lẻ thường nhỏ, thanh toán ngay và hình thức thanht oán bằng tiền mặt nếu không cấp chứng từ cho từng lần

* Các cách thức bán lẻ hàng hoá :

- Bán lẻ thu tiền trực tiếp : Theo hình thức này nhân viên bán hàng chịu trách nhiệm vật chất về số lượng hàng nhập tại quầy trực tiếp thu tiền và giao hàng cho khách đồng thời ghi chép vào thẻ, quầy hàng, thẻ hàng có thể mở cho từng loại hàng, phản ánh cả về số lượng giá trị, cuối ca, cuối ngày nhân viên bán hàng kiểm tiền và hàng tồn tại quầy để xác định luồng hàng đã bán ra trong ca trong ngày rồi sau đó lập báo cáo bán hàng tiền bán hàng được nhân viên kê vào giấy nộp tiền nộp cho thủ qũy hay nộp cho Ngân hàng báo cáo bán hàng là căn

cứ để xác định doanh thu và đối chiếu số tiền đã nộp theo giấy nộp tiền

- Bán lẻ thu tiền tập trung : theo hình thức này mỗi quầy hàng cửa hàng có một nhân viên thu tiền riêng trực tiếp thu tiền của khách hàng và chịu trách nhiệm trước số tiền thu của mình Nhân viên thu ngân có trách nhiệm viết hoá đơn hoặc tích kê thu tiền giao cho khách hàng để khách hàng đến quầy nhận hàng, nhân viên bán hàng chỉ có việc giao hàng theo hoá đơn, tích kê và chịu

Trang 9

trách nhiệm về số hàng đã xuất, báo cáo bán hàng do nhân viên bán hàng lập còn giấy thu tiền do nhân viên thu ngân lập nộp lên phòng kế toán báo cáo bán hàng được lập dựa vào hoá đơn hoặc tích kê giao hàng hoặc kiểm kê hàng còn lại cuối

ca Cuối ngày để xây dựng lượng hàng hoá bán ra báo cáo bán hàng được coi là căn cứ để hoạch toán doanh thu và đối chiếu với số tiền đã nộp

- Bán hàng tự chọn : Với hình thức này người mua tự mình chọn hàng hoá

mà mình định mua và đem về bộ phận thu ngân nộp tiền, bộ phận thu ngân tính tiền nộp hoá đơn cuối ngày nộp qũy

2.2 Phương thức chuyển hàng theo hợp đồng (chuyển hàng chỉ chấp

nhận) theo hình thức này căn cứ vào hợp đồng đã ký kết bên bán chuyển hàng cho bên mua theo địa điểm đã ghi trong hoạt động bằng phương tiện vận tải tự

có hoặc sở hữu của doanh nghiệp khi người mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì số hàng trên mới được coi là tiêu thụ chứng từ sử dụng là hoá đơn hoặc hoá đơn kiêm phiếu xuất kho do doanh nghiệp lập và ghi thẻ kho hoá đơn kiêm phiếu xuất kho được lập thành 4 liên : 1 liên lưu lại cuống, 1 liên giao cho người mua đủ, 1 liên dùng để thanh toán, 1 liên thủ kho giữ

2.3 Phương thức bán hàng đại lý (ký gửi).

Đây là hình thức doanh nghiệp thương mại xuất hàng hoá nhờ bán hộ thông qua đại lý nhận đại lý cho doanh nghiệp khác để bán hộ

a) Đối với bên giao đại lý : Hàng giao cho đại lý vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp chưa được xác nhận là tiêu thụ kế toán chỉ được ghi nhận doanh thu khi nhận được tiền từ bên nhận đại lý hay quyền thu Doanh nghiệp có trách nhiệm nộp thuế với Nhà nước trên tổng giá trị hàng hoá gửi bán mà không được trừ đi phần hoa hồng đã trả cho bên nhận đại lý khoản hoa hồng mà doanh nghiệp trả cho bên nhận đại lý coi là chi phí bán hàng và hoạch toán và TK 641.b) Đối với bên nhận đại lý : Số hàng không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp phải có trách nhiệm bảo quản giữ gìn, giữ hộ và

Trang 10

được hưởng hoa hồng theo hợp đồng số hoa hồng đó chính là doanh thu của doanh nghiệp.

2.4 Phương thức bán trả góp : Đây là phương thức bán hàng thu tiền

nhiều lần khách hàng thanh toán tiền hàng lần đầu ngay khi mua phần còn lại khách hàng chấp nhận thanh toán vào các kỳ tiếp theo và phải chịu một tỷ lệ lãi xuất nhất định thực chất là bán hàng trực tiếp và cho khách hàng vay vốn thông thường số tiền phải trả ở các kỳ tiếp theo là bằng nhau trong đó một phần doanh thu gốc (tính theo bán 1 lần) và một phần lãi trả chậm tính và thu nhập hoạt động tổ chức (TK711) Vì vậy giá bán theo phương thức trả góp bao giờ cũng cao hơn giá bán thông thường theo phương thức này khi giao hàng cho người mua thì hàng hoá được coi là tiêu thụ nhưng khi nào người mua thanh toán hết tiền thì doanh nghiệp mới mấy quyền sở hữu

2.5 Phương thức tiêu thụ nội bộ

Tiêu thụ nội bộ là phương thức tiêu thụ mà việc mua bán chỉ xẩy ra giữa các đơn vị trực thuộc nhau trong cùng một doanh nghiệp thương mại tiêu thụ nội

bộ còn bao gồm các khoản hàng hoá dịch vụ xuất biến, xuất tiền lương xuất dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh

3 Phương thức tính giá vốn của khối lượng hàng hoá tiêu thụ

Trong kinh doanh Thương mại hàng hoá xuất kho tiêu thụ phải được thể hiện theo giá vốn thực tế, trị giá vốn của hàng xuất bán gồm 2 bộ phận thể hiện qua mô hình sau :

Trị giá mua của hàng tiêu thụ Chi phí mua phân bố cho hàng tiêu thụ

Trị giá vốn của hàng tiêu thụ

Để định giá thực tế của hàng hoá xuất kho kế toán phải tách riêng hai bộ phận như mô hình Hơn nữa hàng hoá mua về nhập kho có thể theo những phía thực tế khác nhau ở mỗi thời điểm khác nhau trong vùng hoạch toán nên để tính

Trang 11

chính xác giá vốn thực tế của hàng hoá tiêu thụ là rất phức tạp có thể khái quát tính giá vốn hàng hoá tiêu thụ gồm 3 bước :

Bước 1 : xác định hàng hoá tiêu thụ thụ theo từng loại và từng khách hàng Bước 2 : Xác định giá đơn vị của từng hàng xuất ra (theo đơn giá mua) Bước 3 : Phân bố chi phí thu mua cho hàng tiêu thụ theo các tiêu thức phù hợp (số lượng, trọng lượng, doanh thu, trị giá mua….) theo công thức

Tổng tiêu thức phân bổ của hàng tồn cuối kỳ và xuất bán

trong kỳ

Tuỳ điều kiện cụ thể có doanh nghiệp thương mại để xác định giá đơn vị (giá mua) của hàng xuất bán kế toán có thể áp dụng một trong các phương pháp sau, tuy nhiên trong doanh nghiệp thương mại việc lựa chọn và sử dụng phương pháp tính giá vốn hàng hoá phải nhất quán không được thay đổi trong xuất kỳ hoạch toán

a) Phương pháp tính theo giá đơn vị bình quân

Theo phương pháp này giá thực tế hàng hoá xuất kho được tính theo giá trị bình quân có thể là bình quân cả kỳ dự trữ (bình quân gia quyền) bình quân trước tháng hay bình quân theo mỗi lần nhập

+ Tính theo giá bình quân cả kỳ dự trữ (bình quân gia quyền)

Theo phương pháp này khi xuất kho hàng hoá chưa được ghi rõ ngay cuối cùng căn cứ và số tồn và số nhập kế toán tính giá thực tế bình quân và lấy g6ía

đó làm căn cứ để tính giá hàng hoá xuất trong kỳ theo công thức :

Trang 12

Giá đơn vị thực tế

bình quân cả kỳ dự

trữ

Giá trị thực tế hàng hóa tồn đầu kỳ

+ Giá trị hàng hoá

thực tế nhập trong

kỳ

Số lượng hàng hoá tồn đầu kỳ

Giá đơn vị thực tế bình quân cả kỳ dự

trữ Phương pháp tính này tuy đơn giản ít tốn công sức nhưng độ chính xác không cao hơn nữa công việc dồn vào cuối tháng, cuối kỳ nên gây ảnh hưởng tới công tác quyết toán nói chung

+ Tính theo giá trị thực tế bình quân cuối kỳ trước

Theo hình thức này trị giá thực tế của hàng xuất kho tiêu thụ kỳ này sẽ tính theo giá đơn vị bình quân kỳ trước

Giá đơn vị

bình quân

cuối kỳ

Trị giá mua hàng hoá thực tế tồn đầu kỳ

(hoặc cuối kỳ trước)

Số lượng hàng tồn đầu kỳ ( cuối kỳ trước)

Trị giá mua hàng hoá

xuất kho

= Số lượng hàng hoá xuất xuất kho x

Giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước

Phương pháp này đơn giản rẻ làm đảm bảo kịp thời của việc kế toán thích hợp với các doanh nghiệp ít có biến động về giá cả nhưng nếu có sự biến động lớn về giá giữa 2 kỳ thì việc tính toán giá hàng xuất bán không chính xác

+ Tính theo giá đơn vị bình quân mỗi lần nhập :

Theo phương thức này sau mỗi lần nhập kho giá thực tế hàng xuất bán được tính lại Trị giá hàng xuất kho tiêu thụ được tính trên cơ sở giá thực tế bình quân sau mỗi lần nhập theo thời điêmr tương ứng

Trang 13

Giá đơn vị thực tế

bình quân sau mỗi lần

nhập

Trị giá mua thực tế hàng hoá tồn trước lần

nhập (n)

+ Giá trị hàng hoá

nhập lần n

Số lượng hàng tồn trước khi nhập lần n

Giá đơn vị thực tế bình quân sau mỗi lần nhập

Phương pháp này khắc phục được nhược điểm của 2 phương pháp trên và đảm bảo tính chính xác và cập nhật tuy nhiên đối với các doanh nghiệp nhập nhiều lần trong kỳ thì phương pháp này có nhược điểm số lượng tính toán lớn và tốn nhiều công sức Cùng với xu hướng hiện đại hoá thực tế hiện nay việc ứng dụng máy vi tính vào trong kế toán trong doanh nghiệp làm cho việc tính toán chỉ nên đơn giản ngay cả khi doanh nghiệp có khối lượng nghiệp vụ nhập xuất lớn và nhiều mặt hàng khác nhau

b) Phương pháp nhập trước xuất xuất trước (FIFO)

Theo phương pháp này giải thiết rằng số lượng hào nào được nhập vào trước khi xuất hết số hàng nhập trước mới đến số hàng nhập sau theo giá thực tế của hàng mua trước để được dùng tính giá thực tế cho hàng xuất trước do vậy giá thực tế của hàng tồn kho cuối kỳ chính là giá cả hàng nhập sau cùng

Phương pháp này đảm bảo tính giá vốn của hàng mua bán ra kịp thời chính xác sát với thực tế vận động của hàng hoá và giá cả và kế toán không bị dồn vào cuối tháng song phương pháp này đòi hỏi tổ chức rất chặt chẽ hoạch toán chỉ tiêu hàng hoá tồn kho kể cả số lượng và chất lượng, giá trị theo từng mặt hàng

và tùy từng lần mà phương pháp này thích hợp với giá cả ổn định và cả xu hưởng giảm

Trang 14

c) Phương pháp nhập sau xuất trước (LIFO).

Phương pháp này sửa định hàng mua sau cùng được xuất trước vì bản chất phương pháp này giống phương pháp (FIFO) nhưng làm ngược lại phương pháp này thích hợp trong trường hợp lạm phát

d) Phương pháp tính giá thực tế đích danh

Nguyên tắc của phương pháp này là nhập kho theo giá nào thì xuất kho theo giá đó, hàng hoá được xác định theo từng lô và giữ nguyên từ lúc nhập đến lúc xuất (từ trường hợp điều chỉnh) khi xuất bán hàng hoá nào thì sẽ tính theo giá thực tế của hàng hoá đó Do vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp đặc điểm riêng hay phương pháp trực tiếp phương pháp này thường được áp dụng với các loại hàng hoá có giá trị cao và có tính tách biệt

c) Phương pháp tính giá hàng hoá tồn kho cuối kỳ trên cơ sở giá mua thực

tế lớn cuối cùng : phương pháp này được áp dụng với các doanh nghiệp tính giá hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ Theo phương pháp này đến cuối hoạch toán trước hết phải tiến hành kiểm kê số lượng hàng hoá tồn kho, sau

đó tính giá mua của hàng hoá tồn cuối kỳ theo đơn giá lần mua cuối kỳ trong kỳ đó

Trị giá mua thực

tế hàng tồn kho

= Số lượng hàng đầu kho cuối kỳ

x Đơn giá mua lần cuối

+

Trị giá mua thị trường của hàng hoá nhập trong kỳ

+

Trị giá mua thực

tế của hàng hoá tồn cuối kỳPhương pháp này tính toán đơn giản nhanh chóng nhưng độ chính xác không cao vì nó không phản ứng được biến độ về giá cả và không tinhs đến trường hợp thiếu hụt tổn thất và trường hợp trong kho còn hàng nhưng trong tài

Trang 15

khoản tổng hợp hết giá trị và ngược lại…do đó phương pháp này chỉ được vận dụng trong điều kiện không tổ chức được kế toán chi tiết theo mặt hàng

g) Phương pháp giá hoạch toán : Theo phương pháp này toàn bộ biến động giá cả hàng hoá để được tính theo giá hoạch toán (giá kế hoạch hay một loại giá

ổn định trong kỳ) ra hoạch toán là do doanh nghiệp tự quy định có tổ chức ổn định nó chỉ dùng để ghi sổ kế toán hàng ngày Chứ nó không được dùng để thanh toán hay tính giá các đối tượng tính giá hoạch toán phải được thống nhất trong kỳ hoạch toán

Trị giá hoạch toán cửa

hàng xuất kho =

Số lượng hàng hoá xuất kho

x

Đơn giá hoạch toán

Đến cuốikỳ kế toán mới tính toán để xác định giá thực tế hàng xuất bán trong kỳ việc hoạch toán được thực hiện như sau :

- Trước hết xác định hệ số giữa giá mua thực tế và giá hoạch toán của hàng hoá luân chuyển trong kỳ

Hệ số

Trị giá mức thị trường hàng hoá tồn

đầu kỳ

+

Trị giá mua thực tế hàng hoá nhập trong

kỳTrị giá hoạch toán

x

Hệ số giá

Hệ số giá có thể tính cho từng loại từng nhóm từng thứ hàng chủ yếu vào yêu cầu quản lý và trình độ quản lý của doanh nghiệp

Trang 16

4 Các phương thức thanh toán trong tiêu thụ hàng hoá

Cùng với đa phương thức bán hàng các doanh nghiệp thị trường cũng có đa phương thức thanh toán việc thanh toán theo phương thức nào là do hai bên mua

và bán thoả thuận, lựa chọn sao cho phù hợp rồi ghi vào hoạt động phương thức thanh toán thể hiện sự tín nhiệm lẫn nhau giữa hai bên đồng thời nó cũng gắn liền với sự vận động của hàng hoá và tiền vốn đảm bảo cho hai bên cùng có lợi.Việc quản lý thanh toán tiền lương rất quan trọng trong công tác kế toán nếu quản lý chặt chẽ các nghiệp vụ thanh toán để tránh được tổn thất tiền hàng giúp cho doanh nghiệp không bị chiếm dụng vốn tạo điều kiện tăng cường vòng quay của vốn, giữ uy tín với khách hàng hiện nay các doanh nghiệp thương mại

áp dụng một số hình thức thanh toán sau :

a) Thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt :

Là việc thanh toán trực tiếp giữa người bán và người mua khi nhận được hàng bên mua xuất tiền mặt tại qũy trả trực tiếp cho bên bán có thể bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ, kim qúy…

b) Thanh toán không dùng tiền mặt :

Là hình thức chuyển tiền từ tài khoản của doanh nghiệp hoặc bù trì giữa các doanh nghiệp thông qua cơ quan trung gian là ngân hàng có nhiều hình thức thanh toán không dùng tiền, một việc dùng hình thức nào là phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh và mức độ tín nhiệm lẫn nhau của các doanh nghiệp

+ Thanh toán bằng séc là chứng từ thanh toán do chủ tài khoản lập in trên mẫu của ngân hàng yêu cầu ngân hàng trích tiền từ tài khoản của mình cho người lập séc hoặc cho người được ghi chú dựa trên séc, séc thanh toán bao gồm séc chuyển khoản, séc bảo chi, séc định mức, séc chuyển tiền

+ Thanh toán bằng ủy nhiệm thu : theo hình thức này doanh nghiệp sau khi bán thì lập uỷ nhiệm thu gửi cho ngân hàng nhờ ngân hàng thu hộ số tiền Ngân

Trang 17

hàng bên mua khi nhận được chứng từ và sự đồng ý của bên mua và trích tiền từ tài khoản bên mua trả cho bên bán thông qua ngân hàng phục vụ bên bán, hình thức này áp dụng cho các doanh nghiệp tín nhiệm lẫn nhau và thường xuyên giao dịch với nhau.

+ Thanh toán bằng ủy nhiệm chi : Sau khi hàng hoá được chuyển giao người mua lập ủy nhiệm chi gửi tới ngân hàng yêu cầu ngừng ngày trích tiền từ tài khoản của mình trả cho bên bán

+ Thanh toán bù trì : theo hình thức này đơn vị vừa là người mua vừa là người bán, theo hình thức này định kỳ các bên cung ứng cho nhau theo kế hoạch cuối kỳ thông báo cho ngân hàng biết ngân hàng sẽ bù trì giữa các bên các bên chỉ nhận được hay trả phần chênh lệch

+Thanh toán bằng thư tín dụng hay tài khoản đặc biệt :

Thư tín dụng là lệnh của ngân hàng bên mua đối với ngân hàng bên bán tiến hành trả tiền cho đơn vị bán về số hàng hoá đã chuyển giao theo hợp đồng hình thức này áp dụng cho những đơn vị không tín nhiệm nhau và không cùng địa phương ngân hàng (NH)

- Tài khoản đặc biệt là : Hình thức mà đơn vị mua được phép của ngân hàng mình chuyển tiền đến ngân hàng khác để mở tài khoản để thanh toán tiền hàng với đơn vị bán

Thanh toán không dùng tiền mặt rất thuận lợi trong trường hợp bên bán và bên mua ở cách xa nhau thúc đẩy nhanh việc chấp hành kỷ luật thanh toán nói chung thanh toán qua ngân hàng được áp dụng cho những doanh nghiệp thương mại bán buôn còn đối với bán lẻ đối tượng chủ yếu là người tiêu dùng cá nhân nên thường thanh toán bằng tiền mặt

Hiện nay do việc cạnh tranh gay gắt nên rất có nhiều phương tiện thanh toán được áp dụng như thư tín dụng, séc cá nhân, tín phiếu…

Trang 18

Ngoài ra nếu đơn vị sử dụng phương thức hàng đổi hàng thì số hàng mà đơn vị đem ra trao đổi cũng là một phương thức thanh toán.

c) Thanh toán bằng nghiệp vụ ứng trước tiền hàng

Nếu như thanh toán trực tiếp hay qua ngân hàng thì người bán chỉ được nhận tiền sau khi giao hàng và ngược lại, còn thanh toán bằng nghiệp vụ ứng trước thì bốn bánh nhận được tiền trước khi xuất hàng cho bên mua tuy nhiên số tiền ứng trước nhỏ hơn trị giá số hàng và số tiền còn lại sẽ được thanh toán sau khi nhận hàng

Hình thức này được áp dụng đối với doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng có giá trị lớn, quý hiếm hoặc đơn vị bán gặp khó khăn về tình hình tài chính nhờ bên mua giúp đỡ

Việc quản lý thanh toán rất quan trọng làm sao cho vừa đảm bảo tốt mục đích quản lý tiền hàng và đáp ứng được yêu cầu của khách hàng

5 Ý nghĩa, yêu cầu và nhiệm vụ hoạch toán kế toán tiêu thụ hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại.

Tiêu thụ hàng hoá là giai đoạn cuối cùng trong lưu chuyển hàng hoá để thoả mãn yêu cầu của xã hội thông qua qúa trình tiêu thụ tính hữu ích của hàng hoá mới được thể hiện và xác định được số lượng chất lượng và thị hiếu người tiêu dùng

Tiêu thụ hàng hoá xét trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì nó còn điều hoà giữa sản xuất và tiêu dùng giữa tiền và hàng giữa khả năng và nhu cầu… đặc biệt trong cơ chế thị trường hiện nay tiêu thụ là vấn đề cần quan tâm chú trọng hơn cả và ngày càng được coi trọng

Trong điều kiện hiện nay doanh nghiệp vừa và nhỏ đang mọc lên ngày càng nhiều hàng hoá được cung cấp đa dạng và phong phú đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Do đó doanh nghiệp không dễ dàng phát triển mà phải đương đầu cạnh tranh khốc nghiệt các đối thủ ngang tài ngang sức

Trang 19

nhau thì doanh nghiệp nào nhạy bén với thị trường thì doanh nghiệp đó mới tồn tại và ngược lại sẽ bị diệt vong (phá sản).

Một doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả thì toàn bộ chi phí bỏ ra sẽ được

bù đắp bằng doanh thu tiêu thụ và có lãi từ đó doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường và chiếm đa số thị phần trên thị trường trong nước cũng như thế giới và tạo được ưu thế, uy tín trên thị trường trong nước cũng như thế giới và tạo được

ưu thế, uy tín trên thương trường Trong điều kiện hiện nay để kinh doanh có hiệu quả đạt được mục đích mong muốn thì việc hoạch toán kế toán là thực sự cần thiết, đặc biệt đối với doanh nghiệp thương mại việc hoạch toán tiêu thụ hàng hoá là khâu hết sức quan trọng trong công tác kế toán và quản lý của doanh nghiệp tạo việc hoạch toán kết quả kinh doanh giúp cho doanh nghiệp thấy được thực trạng của mình từ đó đưa ra quyết định đúng đắn về đổi mới xây dựng kế hoạch cho kỳ kinh doanh tiếp theo Chính vì vậy việc hoạch toán nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá phải đảm bảo các yêu cầu sau :

a) Tổ chức tốt hệ thống chứng từ ghi chép ban đầu và luân chuyển chứng từ hợp pháp ban đầu về nghiệp vụ tiêu thụ, tổ chức ghi chép và luân chuyển chứng

từ một cách hợp lý nhằm phản ánh được số liệu phục vụ cho công tác quản lý kinh doanh, tránh ghi chép trùng lặp phức tạp không cần thiết nâng cao hiệu quả của công tác hoạch toán, căn cứ vào các trường hợp được coi là tiêu thụ phải được phản ánh đúng đắn kịp thời doanh số tiêu thụ và tồn trong kho

b) Báo cáo kịp thời tình hình thanh toán với khách hàng theo từng loại hàng từng hợp đồng kinh tế đảm bảo đáp ứng yêu cầu quản lý của doanh nghiệp, đôn đốc việc thu nộp tiền bán hàng về doanh nghiệp tránh trường hợp tiêu cực như

sử dụng tiền hàng cho mục đích cá nhân

c) Tổ chức vận dụng tốt hệ thống tài khoản, sổ kế toán để phù hợp với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 20

Để tạo điều kiện cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho người quản lý

ra được quyết định hữu hiệu và đánh giá được chất lượng của toàn bộ quá trình kinh doanh hoặc toán nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá ở các nghiệp vụ sau

Ghi chép phản ánh đầy đủ kịp thời số lượng hàng hoá tiêu thụ ghi nhận doanh thu bán hàng và các chỉ tiêu liên quan khác của khối lượng hàng bán (giá vốn, doanh thu thuần…)

+ Phân bố chi phí mua hàng hợp lý cho số hàng đã bán và tồn cuối kỳ + Lựa chọn phương pháp và xác định đúng giá vốn hàng bán để đảm bảo

độ chính xác của chỉ tiêu lãi gộp và một số chỉ tiêu liên quan

+ Xác định kết quả bán hàng thực hiện chế độ báo cáo hàng hoá và báo cáo bán hàng, cung cấp kịp thời về tình hình tiêu thụ cho lãnh đạo doanh nghiệp phục vụ cho hoạt động kinh doanh thương mại

+ Theo dõi và phản ánh kịp thời công nợ với khách hàng

III HOẠCH TOÁN NGHIỆP VỤ TIÊU THỤ HÀNG HOÁ THEO PHƯƠNG PHÁP KÊ KHAI THƯỜNG XUYÊN.

Phương pháp này phản ánh một cách thường xuyên liên tục tình hình nhập

- xuất - tồn vật liệu, hàng hoá sau mỗi lần phát sinh nghiệp vụ nhập xuất những tài khoản phản ánh theo phương pháp này sẽ phản ánh số liệu có và tình hình tăng giảm những doanh nghiệp sử dụng phương pháp này có quy mô sản xuất kinh doanh lớn và tiến hành nhiều hoạt động kinh doanh khác nhau

1 Hệ thống chứng từ tài khoản sử dụng

1.1 Hệ thống chứng từ.

Để tiện lợi cho việc quản lý và thực hiện đúng chế độ kế toán doanh nghiệp thương mại sử dụng hệ thống chứng từ do vụ chế độ kế toán tài chính quy định phục vụ cho qúa trình tiêu thụ doanh nghiệp thương mại thường sử dụng các chứng từ sau :

Trang 21

+ Các chứng từ bán hàng : nhằm theo dõi chặt chẽ doanh thu bán hàng cung cấp dịch vụ của đơn vị và làm cơ sở ghi sổ doanh thu và sổ kế toán, liên quan đối với đơn vị bán là cơ sở để lập phiếu nhập kho và thanh toán tiền và ghi

sổ kế toán đối với đơn vị mua các chứng từ thuộc lại này gồm :

- Hoá đơn bán hàng

- Hoá đơn thuế GTGT

- Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho

- Bảng thanh toán tiền hàng đại lý (ký gửi)

- Thẻ quầy hàng

+ Chứng từ kế toán về hàng tồn kho : Theo dõi tình hình nhập - xuất - tồn hàng hoá làm căn cứ để kiểm tra tình hình tiêu dùng dự trữ hàng hoá và cung cấp thông tin cho việc quản lý hàng tồn kho chứng từ thường sử dụng là :

- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ

- Thẻ kho

- Bảng kiểm kê vật tư sản phẩm hàng hoá

+ Chứng từ kế toán về tiền tệ : Phản ánh tình hình thu chi tồn qũy các loại tiền tệ các khoản tạm ứng thanh toán tạm ứng, nhằm cung cấp những thông tin cần thiết cho kế toán và quản lý của đơn vị trong lĩnh vực tiền tệ chứng từ thường sử dụng

- Phiếu thu

- Phiếu chi

- Biên lai thu tiền

- Bảng kiểm kê qũy

1.2 Tài khoản sử dụng

Theo phương pháp này kế toán tiêu thụ dùng các tài khoản để phản ánh và theo dõi như TK 156, 157, 511, 512, 532, 632, 111, 112, 131, 151, 711,…

Ngày đăng: 31/10/2013, 09:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 4 : Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức nhật ký chung. - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠCH TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HOÁ TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH  THƯƠNG MẠI
Sơ đồ 4 Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức nhật ký chung (Trang 40)
Sơ đồ 6 : Trình tự ghi sổ kế toán theo hìnht hức nhật ký chứng từ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠCH TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HOÁ TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH  THƯƠNG MẠI
Sơ đồ 6 Trình tự ghi sổ kế toán theo hìnht hức nhật ký chứng từ (Trang 41)
Sơ đồ 5 : Trình tự ghi số kế toán theo hình thức nhật ký - sổ cái - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠCH TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HOÁ TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH  THƯƠNG MẠI
Sơ đồ 5 Trình tự ghi số kế toán theo hình thức nhật ký - sổ cái (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w