1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bảo tồn nguồn gen một số loài động thực vật quý hiếm ở vườn quốc gia Tam Đảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và du lịch sinh thái

199 186 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 199
Dung lượng 92,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mấy năm gần đây đa dạng côn trùng của vườn Quốc gia Tam Đảo được các nhà côn trùng học trong nước cũng như nước ngoài quan tâm đáng kể... Đa dạng sinh học có nhiều giá tr[r]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự N H IÊ N

BẢO TỔN NGUỔN GEN MỘT s ố LOÀI ĐỘNG

NHẰM PHỤC VỤ CHO CÔNG TÁC NGHIÊN c ứ u

GIẢNG DẠY VÀ DU LỊCH SINH THÁI

MÃ SỐ: QG - 03 - 08

CHỦ NHIỆM ĐỂ TÀI: PGS,TS TRẦN NINH

Trang 2

Tên đề tài:

BẢO TỔN NGUỒN GEN MỘT s ố LOÀI ĐỘNG THựC VẬT QUÝ HIẾM Ở VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐAO NHẰM PHỤC VỤ CHO CÔNG TÁC NGHIÊN c ứ u , GIẢNG DẠY VÀ DU LỊCH SINH THÁI

Mã số: QG -03 -08

Chủ trì đề tài: Trần Ninh

Học hàm, học vị, chuyên môn: PGS.TS Thực vật học

Chức vụ:

Đơn vị công tác: Khoa Sinh học, ĐHKHTN Hà Nội

Địa chỉ: 118 E Đường Đai An, Học viện An ninh Nhân dân

Đơn vị phối hợp: Vườn Quốc gia Tam Đảo

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Đặt vấn đ ề 1

Chương 1: Tổng quan tài liệu 3

1.1 Đa dạng sinh học 3

1.1.1 Đa dạng thực vật 3

1.1.2 Đa dạng động vật có xương sống 4

1.1.3 Đa dạng cồn trùng ở cạn 5

Chương 2: Điều kiện tự nhiên VQG Tam Đ ảo 6

2.1 Vài nét khái quát về VQG Tam Đ ảo 6

2.2 Yếu tố thổ nhưỡng 6

2.3 Yếu tố khí hậu 8

Chương 3: Đôi tượng và phương pháp nghiên cứu 9

3.1.Đối tượng 9

3.2 Phương pháp nghiên cứu 9

3.2.1 Nghiên cứu thực đ ịa 9

3.2.1.1 Thực vật 9

3.2.1.2 Động vật có xương sống 9

3.2.1.2.1.Nhóm Lưỡng cư - Bò sát 9

3.2.1.2.2 Nhóm Chim - Thú 9

3.2.1.3 Côn trùng 10

3.2.2 Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 10

3.2.2.1 Thực v ậ t 10

3.2.2.2 Động vật có xương sống 10

3.2.2.3 Côn trùng 11

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo lu ận 12

4.1 Đa dạng sinh học của VQG Tam Đ ảo 12

Trang 4

4.1.1.1.1 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới 12

4.1.1.1.2.Rùng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp 13

4.1.1.1.3.Rừng cây lùn trên các đỉnh nú i 13

4.1.1.1.4 Rừng tre nứa 13

4.1.1.1.5 Rừng phục hổi sau khai thác 13

4.1.1.1.6 Rừng trổng 13

4.1.1.1.7 Trảng cây bụ i 14

4.1.1.1.8 Trảng c ỏ 14

4.1.1.2 Đa dạng loài 14

4.1.1.3 Đa dạng về sử dụng 15

4.1.2 Đa dạng động vật có xương sống 15

4.1.2.1.Đa dạng và phân bố của các nhóm ĐVCXS ở c ạ n 15

4.1.2.1.1 Lưỡng cư 15

4.1.2.1.2 Bò sát 16

4.1.2.1.3 Chim 16

4 1.2.1.4 Động vật có vú 16

4.1.2.2.Giá trị quý hiếm của các nhóm ĐVCXS 17

4.1.3 Đa dạng côn trùng 17

4.1.3.1 Đa dạng loài 17

4 ỉ.3.2 Đa dạng taxon bậc họ 19

4.2 Các taxon mới cho vườn QG Tam Đ ảo 21

4.3 Bảo tổn nguồn gen một số loài động thực vật quý hiếm 22

4.3.1 Danh lục các loài được bảo tồ n 24

4.3.2 Mô tả các loài bảo tổn 24

4.3.3 Các biện pháp bảo tổ n 33

4.3.3.1 Bảo tồn nguyên vị 34

4.3.3.2 Bảo tồn chuyển v ị 37

4.3.3.2.1 Giâm cành trong vườn ươm 37

4.3.3.2.2 Xây đựng khu sưu tập trà 42

4.3.4 Bảo tổn phục vụ cho du lịch sinh thái 44

4.3.4.1 Các điểm du lịch sinh thái 45

4.3.4.2 Các tuyến đu lịch 48

Trang 5

Kết luận và kiến nghị 50 Tài liệu tham khảo 52 Phụ lục

Phụ lục 1 Danh lục các loài rêu VQG Tam Đảo

Phụ lục 2 Danh lục các loài thực vật có mạch VQG Tam Đảo

Phụ lục 3 Danh lục các loài lưỡng thê VQG Tam Đảo

Phụlục 4 Danh lục các loài bò sát VQG Tam Đảo

Phụ lục 5 Danh lục các loài chim VQG Tam Đảo

Phụ lục 6 Danh lục các loài thú VQG Tam Đảo

Phụ lục 7 Danh lục các loài côn trùng trên cạn VQG Tam Đảo

Phụ lục 8 Các công trình đã hoàn thành liên quan đến đề tài

Trang 6

sự nghiệp, các công tác nghiên cứu khoa học được các cơ quan có trách nhiệm của vườn quan tâm Từ ngày thành lập đến nay nhiều nhà khoa học trong nước cũng như nước ngoài thuộc nhiểu lĩnh vực khác nhau đã đặt chân đến vườn Quốc gia Tam Đảo nhằm nghiên cứu tính đa dạng sinh học của vườn, phát hiện các loài động thực vật quý hiếm cũng như các loài đặc hữu của Tam Đảo để có kế hoạch bảo vệ nguổn gen của các loài động thực vặt quý hiếm có nguy cơ bị tiêu diệt.

Tài nguyên rừng của vườn quốc gia Tam Đảo vồ cùng phong phú và đa dạng Theo kết quả điều tra của các nhà nghiên cứu thuộc Khoa Sinh học ĐHKHTN Hà Nội, Viện Sinh thái và Tài nguyên, Đại học Lâm Nghiệp và Viện điều tra quy hoạch rừng hệ động thực vật vườn quốc gia Tam Đảo khá phong phú Số loài thực vật không dưới 1000 loài cùng với hàng trăm loài động vật có xương sống, côn trùng tạo nên tính phong phu đa dạng sinh học của vườn Quốc gia Tam Đảo Trong số các loài đã phát hiện có ở Tam Đảo nhiều loài quý hiếm

và đặc hữu của rừng núi Tam Đảo mà còn cho Việt Nam Nhiều loài đã được ghi vào sách đỏ của Việt Nam Rừng núi Tam Đảo không chỉ là nơi sinh sống của nhiều loài động thực vật quý hiếm mà còn được du khách trong nước cũng như nước ngoài biết đến từ lâu là khu nghỉ mát Tam Đảo nổi tiếng và thơ mộng; khu danh lam thắng cảnh Tây Thiên kỳ thú tựa lưng vào ba đỉnh núi cao nhất: Thiên Trị, Thạch Bàn và Phù Nghĩa tạo thành thế vững chãi như đỡ lấy trời Rừng núi Tam Đảo còn có Thác Bạc trắng xoá nằm giữa thảm rừng xanh nhiệt đới cùng với hàng chục đền chùa cổ xây dựng từ những năm đầu của thế ký XV để thờ cúng những người con có công với đất nước

1

Trang 7

Tuy rừng của vườn Quốc gia Tam Đảo đa dạng về sinh cảnh, đa dạng loài vả đa dạng

về sử dụng nhưng vườn lại có một khu du lịch với thị trấn Tam Đảo ở trung tâm; khu danh lam tháng cảnh phía Tây và khu nghĩ mát Núi Cốc ở phía Đông Bắc Các khu dịch với trên

50 nhà nghỉ và khách sạn Hàng năm có hàng ngàn khách du lịch trong nước và hàng chục khách nước ngoài đến thăm viếng và nghỉ ngơi Để phục vụ cho các nhà hàng nhiều loài động vật quý hiếm như Lợn rừng, Cầy vòi, Sơn dương, Nhím, Gà rừng bị săn bắn vả được sử dụng như món ăn đặc sản trong các nhà hàng, khách sạn Các loài cây cảnh quý hiếm như lan hài Tam Đảo, Lan Gấm, Trà hoa vàng hay động vật hiếm như Rùa núi, Cua bay hay các loài Bướm đẹp bị nhân dân địa phương khai thác đến cạn kiệt để bán cho khách du lịch

Trong mấy năm qua nghiên cứu đa dạng sinh học của vườn nói chung và bảo tổn các loài cây có ích như các loài làm thuốc nói riêng được một số tổ chức trong nước vả quốc tế quan tâm Bên cạnh những loài mới được phát hiện lại có nhiều loài đang bị đe doạ bị tiêu diệt vì nhiểu lý do khác nhau trong đó có sự khai thác không có ý thức của con ngưòi Một loài bị mất đi là một nguổn gen bị mất đi mãi mãi Hiện nay đời sống cửa nhân dân mỗi ngảy được cải thiện cả về vật chất, tinh thần và kiến thức Nhân dân ta có truyến thống lâu đời về văn hoá và giàu lòng yêu thiên nhiên Việc tìm ra các loài có giá trị kinh tế cao để bảo tổn và phát triển chúng là mong muốn của nhiều người Đất nước ta đang trong thời kỳ mở cửa để đón các bạn bè bốn phương qua lại giao lưu Việc giới thiệu các loài quý hiếm một mặt giúp nhân dân sở tại có ý thức bảo vệ chúng mặt khác sẽ thu hút số khách đến tham quan du lịch sinh thái Điều đó sẽ góp phần không nhỏ đến nguồn thu nhập của nhân dân địa phương Với

những suy nghĩ như vậy chúng tôi thực hiện đề tài “Bảo tồn nguồn gen mật sô loài động

thực vật quý hiếm ở vườn Quốc gia Tam Đảo nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu,

giảng dạy và du lịch sinh thái ”

Trang 8

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Vườn Quốc gia Tam Đảo đã trải qua quá trình tiến hoá lâu dài như bao nơi khác trên lãnh thổ của nước ta để tạo nên sự đa dạng sinh học và tồn tại qua hàng triệu năm Song chỉ trong khoảng thời gian vài trăm năm con người đã làm cho thiên nhiên vùng Tam Đảo biến đổi nhiều, đa dạng sinh học bị thất thoát và suy giảm Rất đáng mừng trong nhiều thập kỷ gần đây các vấn đề liên quan đến đa dạng sinh học được nhiều cơ quan và các nhà nghiên cứu sinh học chú ý Nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đa dạng sinh học đa dạng sinh học liên quan đến Tam Đảo được công bố Các kết quả liên quan đến nhiều đối tượng thuộc các ngành sinh học khác nhau và được công bố trong nhiều công trình khác nhau Những tài liệu đó là nguồn tư liệu quý cho chúng tôi khi thực hiện đề tài

1.1 Đa dạng sinh học

1.1.1 Đa dạng thực vật

Vườn Quốc gia Tam Đảo nằm không xa thủ đô Hà Nội, phương tiện giao thông thuận lợi; khu hệ thực vật lại phong phú nên từ lâu các nhà thực vật ngoài nước cũng như trong nước đã có nhiều khảo cứu và nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến khu hệ thực vật của vườn đã được công bố Công trình nổi tiếng và là nền tảng để đánh giá đa dạng sinh học của Việt Nam nói chung và Tam Đảo nói riêng đó là bộ thực vật chí Đông Dương do Lecomte chủ biên (1907 “ 1952) Công trình đã cồng bố hơn 5000 loài thực vật bậc cao thu thập được trtên bán đảo Đông Dương trong đó có nhiều loài phát hiện được ở Tam Đảo như Denrobium tamdaoensis, Tectaria tamdaoensis Để có luận chứng thành lập vườn Quốc gia Tam Đảo từ năm 1992 Viện Điều tra quy hoạch rừng thuộc Tổng cục lâm nghiệp nay là Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tiến hành điều tra, thu thập thực vật Tam Đảo Kết quả là 490 loài thực vật thuộc 344 chi của 130 họ được ghi nhận gặp ở Tam Đảo Kể từ khi có luận chứng khoa học (1992) đến năm 1996 khi vườn Quốc gia Tam Đảo chính thức thành lập, nhiều cuộc khảo sát thực vật đã được tiến hành Trên cơ sỏ của bộ thực chí Đông Dương nhiều công trình liên quan đến Tam Đảo được các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm đến như Lê Kim Biên, Võ Vãn Chi, Nguyễn thị Kim Đào, Nguyễn Tiến Hiệp, Vũ Xuân Phương,v.v Những số liệu liên quan đến khu hệ thực vật Tam Đảo chỉ được đề cập đến trong những công trình tổng quan về thực vật Việt Nam như “ Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” của Võ Văn Chi và cộng sự; “Họ Na Việt Nam” của Nguyễn Tiến Bân; “Họ Verbei^ceae” của Vũ Xuân Phương; “Cây

cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ Từ những kết quả nghiên cứu của các nhà thực vật học thuộc Viện điều tra quy hoạch rừng, Viện Sinh thái & Tài Nguyên, Đại học Lâm nghiệp,

3

Trang 9

Khoa Sinh học ĐHKHTN Hà Nội và một số chuyên gia thực vật nưỏc ngoài khu hệ thực vật Tam Đảo gồm 1238 loài thực vật có mạch thuộc 478 chi của 176 họ.

Năm 1997 Trần Ninh, chủ trì đề tài đã tiến hành nghiên cứu các loài chè hoang dại của vườn Quốc gia Tam Đảo Tác giả cùng với giáo sư Hakoda (ĐHNN Nhật Bản) đã công

bố 2 loài trà mới cho Khoa học: Camellia crassiphylla; Camellia rubriflora Tiếp đó vào năm 2001 loài trà mới cho khoa học là Camellia tamdaoensis được hai tác giả trên thu thập ở vườn Quốc gia Tam Đảo Năm 2003 Trần Ninh lại cổng bố loài trà hoa vàng mới Camellia

hakodae thu được ở phía Đông Bắc của vườn Một ngành thực vật bậc cao khác có ý nghĩa

quan trọng trong cấu trúc của rừng nhiệt đới nhưng các nhà thực vật Việt Nam không quan tâm đó là ngành Rêu Thực ra nhiều loài Rêu của Tam Đảo đã được một số tác giả không phải là nhà thực vật người Pháp như Petelot, Eberhardt thu thập từ những năm cuối của thế kỷ

19 Kết quả đã được các nhà thực học Pháp ( Hen ry, R; Paris, E.G.; Theriot,I.; Tixier p.v.v.) công bố trên các tạp chí nước ngoài Trần Ninh là người Việt Nam đầu tiên đi sâu tìm hiểu các loài Rêu Năm 1993 trong tạp chí “Bryologist” của Mỹ tác giả đã công bố 178 loài Rêu gặp ở Tam Đảo, trong đó có 3 loài mới cho khoa học và nhiều loài đặc hữu cho Tam Đảo

1.1.2 Đa dạng động vật có xương sỏng

Do có khu nghỉ mát và đường giao thông thuận lợi nên khu hệ động vật có xương sống vùng núi Tam đảo đã được nghiên cứu khá sớm Những nghiên cứu đầu tiên chủ yếu do người nước ngoài tiến hành như: Pellegrin (1910), Delacour (1931), Osgood (1932), Bourrett (1934-1943), W

Những nghiên cứa do các nhà khoa học Việt Nam tiến hành chỉ được thực hiện sau

1954 Nghiên cứu đầu tiên tại khu vực Tam Đảo do đoàn cán bộ Khoa Sinh vật, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội thực hiện vào năm 1962 đã xác định được 119 loài Chim, 45 loài Thú

và một số loài Lưỡng cư, Bò sát

Trong luận chứng khoa học của Dự án đầu tư, Viện Điều tra Quy hoạch Rừng (1992)

đã ghi nhận có 58 loài thú, 158 loài chim, 46 loài bò sát và 19 loài ếch nhái tại Vườn Quốc

gia Tam Đảo Nhiều loài trong số đó đã được liệt kê trong Sách Đỏ Việĩ Nam Một trong

những loài động vật nổi tiếng nhất phân bố ở Vườn Quốc gia Tam Đảo là Cá cóc Tam Đảo

Paramesoiriton deloustali, là một loài bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu và là loài đặc hữu

miền Bắc Việt Nam (Anon, 1993)

Ngoài ra, có một số nghiên cứu khác được tiến hành tại vùng Tam Đảo về từng khu hộ động vật có xương sổng như Chim (ICBP, 1989), Thú (Lê Vũ Khôi, 1993) và Bò sát, Lưỡng cư (Nguyễn Vãn Sáng, 1993) Năm 2000 Lê Nguyên Ngật đã tiến hành nghiên cứu một số tập tính của cá Cóc Tam Đảo trong bể kính Kết quả sẽ giúp ích nhiều trong quá trình bảo tồn tài liệu quý hiếm này Lê Vũ Khôi (2003) đã tiến hành so sánh tính đa dạng của các thú phân bố

ở một số khu bảo tổn của Việt Nam (Ba Bể, Na Hang, Ba Vì, Cúc Phương, Cát Bà, Bến En và

và Tam Đảo) tác nhận thấy số loài thú của vườn Quốc gia Tam Đảo là 62 loài thuộc 21 họ

Trang 10

thuộc 7 bộ Trong số đó có 15 loài được liệt kê là các loài quý và hiếm Năm 2003 Lê Nguyên Ngật đẩ thống kê các loài rùa trong 9 Khu bảo tồn và vườn Quốc gia của Việt Nam Theo tác giả vườn Quốc gia Tam Đảo có số lượng rùa nhiều thứ hai (10 loài) sau Pù Mát (15 loài).

1.1.3 Đa dạng cỏn trùng ở cạn

Vườn Quốc gia Tam Đảo nổi tiếng không chỉ là khu du lịch hấp dẫn khách trong nước cũng như nước ngoài, mà còn là nơi có khu hệ động thực vật hết sức phong phú Tam Đảo có nhiều động vật quý hiếm, đặc biệt là khu hệ côn trùng độc đáo được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước cũng như thương gia nước ngoài quan tâm Nhiều số liệu được công bố gần đây về khu hệ cồn trùng như côn trùng Cánh vảy (Lepidoptera) của Spitzer (1991), Khuất Đăng Long (1992), về Trichoptera của Malicky (1995) v.v cho thấy tính chất đa dạng và đặc trưng của khu hệ côn trùng Tam Đảo Mấy năm gần đây đa dạng côn trùng của vườn Quốc gia Tam Đảo được các nhà côn trùng học trong nước cũng như nước ngoài quan tâm đáng kể Các công trình đáng chú ý có thể kể đến: Bùi Công Hiển và Đặng Ngọc Anh đã điều tra côn trùng ở Tam Đảo trong hai năm 2001 và 2002 Theo các tác giả ở Tam Đảo có 474 loài Năm

2005 Khuất Đãng Long và Vũ Quang Côn đã phân tích tính đa dạng sinhhọc của hai nhóm côn trùng ở Tam Đảo Trong số đó tổng họ Bướm phượng (Papilionidae) có số loài là 114

Rõ ràng khu hệ côn trùng ỏ vườn Quốc gia Tam Đảo phong phú Tuy nhiên trong thời gian qua thành phần các loài côn trùng chịu nhiều biến đổi do sự thay đổi sinh cảnh trong quá trình mở rộng khu nghỉ mát Tam Đảo và tình hình khai thác vì lý do thương mại

5

Trang 11

CHƯƠNG 2

ĐIỂU KIỆN T ự NHIÊN VƯỜN Q u ố c GIA TAM ĐẢO

2.1 Vài nét khái quát về vườn quốc gia Tam Đảo

Theo Quyết định Số 41/TTg ngày 24/01/1977 của Thủ tướng Chính phủ, Tam Đảo được thành lập một khu bảo tổn thiên nhiên có diện tích 19.000 ha Năm 1993, Viện Điều tra Quy hoạch Rừng đã xây dựng dự án đầu tư cho Tam Đảo, trong đó đề xuất chuyển phân hạng quản lý từ khu bảo tổn thiên nhiên lên thành Vườn Quốc gia Tổng diện tích Vườn Quốc gia

đề xuất trong bản dự án đầu tư này là 36.883 ha, trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 17.295 ha, phân khu phục hổi sinh thái là 17.286 ha, và phân khu hành chính dịch vụ là 2.302 ha (Anon, 1993) Ngày 06/03/1996, dự án đầu tư đã được Thủ tướng Chính phủ phê

^■’Vệt theo Quyết định Số 136/TTg.Sau đó, ngàyl5/05/1996, Ban quản lý Vườn Quốc gÌPi cũng đã được Bộ Lâm nghiệp (trước đây) cho phép thành lập Tam Đảo được liệt kê trong danh lục đề xuất các khu rừng đặc dụng Việt Nam, đến ngày 15 tháng 6 năm 1996 vườn:

Quốcgia TamĐảo được chính thức thành lậỹvới diện tích 36.883, trong đó có 23.333 ha đất có

rừng (Cục Kiểm lâm 1998) Vườn Quốc gia Tam Đảo nằm trong 21()21' - 21(142' vĩ độ Bắc và 105°23' - 105°44' kinh độ Đông, thuộc địa phận của các huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang), Đại Từ (tỉnh Thái Nguyên) và Lập Thạch, Tam Đảo và Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phú) Vườn Quốc gia nằm trong khối núi chạy theo hướng đông bắc - tây nam Khối núi này bị tách thành hai vùng núi cao ở phía bắc và phía tây bởi những vùng đứt gãy có độ cao thấp hơn Đỉnh cao nhất là dãy núi Tam Đảo là đỉnh Nord có độ cao 1.592 m, nơi giao điểm của 3 tỉnh Tiếp theo là 3 đỉnh nổi tiếng: Thạch Bàn (1.388 m), Thiên Thị (1.376 m), Rùng Rình (Phù Nghĩa) (1.300 m) Điểm thấp nhất của Vườn Quốc gia là khoảng 100 m (ảnh 1)

Vườn Quốc gia Tam Đảo nằm trong vùng phân thuỷ của hai con sông chính: ở phía đông bắc của khối núi là lưu vực sông Công, trong khi phía tây nam của khối núi nằm trong đường phân thủy của sông Đáy Hầu hết các sồng suối bên trong Vườn Quốc gia đều dốc và chảy xiết Tam Đảo có khí hậu nhiệt đới gió mùa; lượng mưa trung bình hàng năm đạt đến 2.800 mm và tập trung trong mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 với khoảng 90% tổng lượng mưa của năm Trong mùa khô, lượng mưa và độ ẩm ở các đai cao rất thấp làm cho những vùng này rất dễ bị cháy

Theo dự án đầu tư, Vườn Quốc gia Tam Đảo có 21.981 ha rừng tự nhiên và 1.351 ha rừng trổng

Vườn Quốc gia Tam Đảo được ghi nhận là một trong những nơi có mức độ đa dạng của các loài côn trùng cao nhất Việt Nam (Anon, 1991) Mối đe doạ lớn nhất gây ra mất rừng và suy thoái rừng ở Vườn Quốc gia Tam Đảo là việc chặt gỗ trộm và cháy rừng Rừng ở

Trang 12

B ản đồ địa hình dãy núi Tam Đ ảo.

Trang 13

Tam Đảo đã từng bị khai thác chọn trong nhiều năm Trước năm 1985, những hoạt động nàv chỉ diễn ra ở mức độ thấp do các hành động chặt gỗ bất hợp pháp bị xử phát nặng Tuy nhiên,

từ năm 1991 cho đến trước khi thành lập Ban quản lý Vườn, việc khai thác gỗ chọn tăng nhanh, phản ánh sự gia tăng nhu cầu về gỗ trong thời gian này Hoạt động chặt gỗ thường là

ở quy mô nhỏ do người dân địa phương và vùng phụ cận tiến hành (ảnh 2) Cháy rừng cũng

đã phá hủy một số diện tích rừng ở mọi đai độ cao Mặc dù, sau khi thành lập Ban quản lý Vườn, tình trạng khai thác gỗ, củi, săn bắn và các hoạt động bất hợp pháp khác đã giảm nhưng vẫn còn tiếp diễn Săn bắn trộm là một trong những mối hiểm họa lớn đối với các quần thể thú ở Vườn Quốc gia Tam Đảo Các loài động vật hoang dã vẫn còn được bán trong các nhà hàng ở thị trấn Tam Đảo Quần thể của một số loài côn trùng đang bị đe dọa do bị người dân địa phương bầy bắt để bán cho dân sưu tập và du khách Cây thuốc và phong lan cũng bị khai thác để bán cho du khách Quần thể Cá cóc Tam Đảo cũng bị đe doạ nghiêm trọng đo mất môi trường sống, bị bắt bán cho người nuôi làm cảnh (loài này có bán ở hàng cá cảnh trong chợ Đổng Xuân, Hà Nội), đặc biệt là do ô nhiễm tại các khe suối nơi chúng sinh sống Phần lớn các mối đe doạ này đều liên quan trực tiếp đến việc phát triển hoạt động du lịch trong Vườn Quốc gia chưa kiểm soát được triệt để

Thị trấn Tam Đảo ở độ cao 950 m, nằm bên trong ranh giới Vườn Quốc gia Tam Đảo

và thuộc vùng đệm, vốn được xây dựng làm trạm quan thám và nơi nghỉ ngơi cho quan chức thực dân Pháp từ đầu thế XX Trong những năm gần đây, vùng này đã được khôi phục làm điểm du lịch và hiện nay thu hút hàng nghìn du khách trong và ngoài nước mỗi nãm Nhiều khách sạn, nhà hàng đã và đang được xây dung (ảnh 3 &4) Nếu được quy hoạch tốt, du lịch

có thể trở thành một nguồn thu quan trọng cho Vườn Quốc gia và đóng góp tích cực vào việc bảo tổn tính đa dạng sinh học của vườn Tuy nhiên, với sự xuất hiện của một số quán ăn sử dụng thịt thú rừng, việc buôn bán côn trùng, cây phong lan và lâm sản khác, sự tăng nhu cầu

về củi đốt, việc phát triển du lịch đã và đang gây ra những tác động tiêu cực đối vói môi trường nói chung và đa dạng sinh học nói riêng Điều cần lun tâm là ngoài giá trị là nơi cư trú của các loài động vật trong một khu bảo tổn thiên nhiên quan trọng, là cảnh quan không thể thiếu của một khu du lịch, rừng ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nguồn nưóc cho các cộng đồng dân cư sinh sống ở những vùng xung quanh

2.2 Yếu tò thổ nhưỡng

ở Vườn Quổc gia Tam Đảo đã điều tra xác định được 4 loại đất chính sau:

- Đất Feralit mùn vàng nhạt phát triển đá Macma axit kết tinh chua như Rhyolit, Daxit,

G ranite loại đất này xuất hiện ở độ cao từ 700m trở lên, có diện tích 8.968 ha, chiếm 24,31% diện tích của vườn

Trang 14

•> 9

Anh 1: Ba đỉnh núi cao nhất của VQG Tam Đảo

Ảnh 1: Khai thác gỗ trong những năm 90

Trang 16

- Đất Feralit mùn vàng đỏ phân bố trên núi thấp, phát triển trên đá Macma kết tinh chua như: Rhyolit, Granite loại đất này có diện tích 9.292 ha, chiếm 25,19% diện tích của vườn và xuất hiện ở độ cao 400m - 700m.

- Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên nhiều loại đá khác nhau, loại đất này thường thấy ở độ cao 100 - 400m, có diện tích 17.606 ha, chiếm 47,33% diện tích của Vườn

- Đất dốc tụ và phù sa: loại đất này có ở độ cao từ 100m trở xuống, thường thấy ở ven chân núi, thung lũng hẹp, ven sông suối lớn, có diện tích 1.107 ha, chiếm 2,76% diện tích của Vườn

2.3 Yếu tỗ khí hậu

Vườn Tam Đảo nằm trong vùng khí hậu ẩm nhiệt đới, mưa mùa vùng núi Với dãy núi cao, chạy dài hơn 80 km, tạo ra hai sườn Đồng và Tây rõ rệt, có lượng mưa hàng năm khác nhau và tạo nên các tiểu vùng khí hậu khác nhau Đây cũng là yếu tố quan trọng trong việc tạo ra hai đai khí hậu nóng ẩm, nhiệt đới mưa mùa từ độ cao 700 - 800m trở xuống và đai khí hậu á nhiệt đới mưa mùa ở độ cao từ 800m trở lên, cung như một số khu vực có nhiệt độ, lượng mưa rất khác nhau của Tam Đảo

B ả n g 1 S ố liệu khí tượng c ủ a các trạm tro n g khu vực T am Đ ả o

Tuyên Quang

T rạm Vĩnh Yên

T rạm

Đ ại Từ

Trạm Tam Đ ảo

Do có sự khác nhau về đất đai và khí hậu giữa các vùng cộng vói sự tác động của con người

đã tạo ra các hoàn cảnh lập địa khác nhau, đây là nguyên nhân chính để tạo ra sự đa dạng về các hệ sinh thái rừng, các quần xã sinh học và đa dạng về loài của rừng Tam Đảo

8

Trang 17

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Do các đối tượng có những đặc tính khác nhau nên chúng được tiến hành nghiên cứu trong những hoàn cảnh phù hợp khác nhau và phải có các phương pháp nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên đối với các đối tượng thực vật và động vật thì phương pháp nghên cứu ngoài thực địa là quan trọng hàng đầu

3.2.1 Nghiên cứu thực địa

3.2.1.1 Thực vật

-Thu thập tài liệu và hồi cứu các kết quả nghiên cứu đã có liên quan đến thực vật

-Tiến hành các đợt khảo sát thực địa để thu thập mẫu vật Để tiến hành thu thập mẫu vật chúng tồi chọn thời gian thích hợp, đó là mùa ra hoa, kết quả của đa số các loài thực vật Để thu mẫu được tối đa chúng tôi phải lập các tuyến sao cho các tuyến phải cắt qua tẩt các kiểu thảm thực vật đặc trưng của vườn

sọ, xương chi, xương sườn, móng, vuốt thú, các mẫu nhồi chim thú, hoặc các mẫu ngâmtrong nhà như rắn, tác kè ngâm rượu, các mẫu ngâm thằn lằn, ếch nhái, Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong các đợt khảo sát này đều là những phương pháp thồng dụng theo từng nhóm chuyên môn

3.2.1.2.1 Nhóm Lưỡng cư-Bò sát

Tiến hành quan sát và thu mẫu dọc theo tuyến đại diện cho các loại sinh cảnh khác nhau, nhưng chủ yếu là nhận diện qua quan sát thực địa và điểu tra trong dân kèm theo bộ ảnh màu, sách ảnh minh họa và tham khảo các tài liệu có liên quan Trong quá trình thực địa, ngoài quan sát trực tiếp, chúng tôi còn xác định một số loài thông qua tiếng kêu

3.2.Ỉ.2.2 Nhóm Chim-Thú

-Sun tầm mẫu vật: sử dụng bảy sập, bẫy lổng để bắt các loại thú nhỏ

Trang 18

-Điều tra thực địa: quan sát trực tiếp các loài động vật gặp trên tuyến khảo sát Trong quá trình quan sát, định loại các loài chim có tham khảo hình vẽ và mô tả trong các tài liệu

“Chim Việt Nam” của Nguyễn Cử và cộng sự, 2000; “A field guide to the birds of South-East Asia” của Ben King; “ Chim Việt Nam - Hình thái và Phân loại” Tập 1 và tập 2 của Võ Quý,

1975, 1981.

Phỏng vấn: Phỏng vấn những người dân sống trong khu vực nghiên cứu, những người có kinh nghiệm và có hiểu biết về các loài động vật trong vùng, về hiện trạng cũng như biến động qua các thời kỳ Các cuộc phỏng vấn được thực hiện với những câu hỏi mở, có sử dụng các hình ảnh màu; những thông tin được kiểm tra kỹ, có độ tin cậy cao mới được sử dụng trong kết quả nghiên cứu

3.2.1.3 Côn trùng

-Thống kê và cập nhật kế thừa các kết quả điều tra của các tác giả trước đây đã công bố, đổng thời khi có điều kiện sẽ tiến hành kiểm tra đối chiếu với mẫu vật thu được của người dân địa phương, đặc biệt là một số nhóm côn trùng cánh cứng và cánh vảy

-Sử dụng các dụng cụ chuyên dùng tùy theo từng nhóm côn trùng khác nhau để thu thập mẫu côn trùng theo phương pháp phổ biến điều tra côn trùng ngoài tự nhiên hiện nay (McGavin, 1997) Thu mẫu theo tuyến ở các độ cao và các kiểu sinh cảnh khác nhau Với các côn trùng bay hoặc sống trên cây, chúng tôi sử dụng vợt côn trùng để thu thập Mẫu vật thu được được đựng trong lọ độc ( có Cloroform) hoặc cho vào túi bướm sau đó được bảo quản tạm thời trong đệm bông cho hết đợt điều tra Với các côn trùng sống trong gỗ hoặc trong đất như mối chẳng hạn, sử dụng hộp nhựa, tuốc nơ vít và panh mềm cho công việc thu mẫu Các mẫu thu được đựng trong các lọ nhỏ có chứa cồn 75-80% Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng bãy đèn hoặc bả hấp dẫn côn trùng, thuận lợi cho việc thu thập chúng

3.2.2 Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

3.2.2.1 Thực vật

Các phương pháp mà chúng tôi sử dụng đã được nhiều tác giả như Võ Văn Chi, Nguyền Nghĩa Thìn giới thiệu trong các công trình liên quan đến đa dạng thực vặt Có thể tóm tắt các bước tiến hành như sau:

-Bảo quản, xử lý mẫu vật thực vật

Trang 19

bảo quản và lưu giữ tại Bảo tàng Động vật, Khoa sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên.

Việc định tên và định loại mẫu vật cũng như đánh giá giá trị của khu hệ dựa vào các khoá định loại Lưỡng cư, khoá định loại Bò sát của GS Đào Văn Tiến (1977 - 1979), tài liệu định loại Herpteloptera of China của Adler (1993), danh lục lưỡng cư bò sát của Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc, 1996 và một sô' sách hướng dẫn khác

3.2.2.3 Côn trùng

Để bảo quản mẫu được tốt, chúng tôi sử dụng các phương pháp xử lý khác nhau tùy theo từng nhóm côn trùng Với côn trùng cánh cứng, cánh khác, cánh thẳng, cánh giống chúng tôi xử lý bằng 2 cách: thứ nhất là ngâm mẫu trong cồn nồng độ 75-80% trước khi đưa

về làm tiêu bản tại phòng thí nghiệm Cách này thường làm mất mầu tự nhiên ở một số côn trùng Thứ 2 là dùng đệm bông để giữ mẫu, tuy nhiên nếu không bảo quản tốt mẫu sẽ dễ hỏng (mốc hoặc thối), sử dụng các tài liệu phân loại của các nhóm để tiến hành định loại

Trang 20

CHƯƠNG 4

KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u VÀ THẢO LUẬN

4 1 Đa dạng sinh học của vườn quốc giaTam đảo

Đa dạng sinh học mới được đề cập từ những năm của thập kỷ tám mươi của thế kỷ

20 Đa dạng sinh học được hiểu như là sự giàu có, phong phú và đa dạng về thành phần loài, các hệ sinh thái và nguyên liệu di truyền Đa dạng sinh học là nguồn tài nguyên quý giá nhất, dựa vào đó mà sinh giới trong đó có con người mới tổn tại và phát triển một cách phồn thịnh

và bền vững Đa dạng sinh học có nhiều giá trị đối với con người cũng như tự nhiên, đó là:

1 Các hệ sinh thái là cơ sở tồn tại cho mọi sự sống, duy trì sự ổn định, màu mỡ của đất đai

và tính mềm dẻo của sinh quyển

2 Các hệ sinh thái tự nhiên trên quả đất hạn chế sự xói mòn của đất, bờ biển, điều tiết dòng chảy, duy trì cuộc sống cho hàng trăm ngàn loài sinh vật

3 Nhiều loài thực vật cung cấp thức ãn cho người và gia súc, làm thuốc chữa bệnh, lấy gỗ làm các vật liệu xây dựng hay làm cây cảnh

4 Các hệ sinh thái còn tạo nên giá trị thảm mĩ, nguồn cảm hứng cho nhân loại

Do những giá trị của đa dạng sinh học mà con người không thể thờ ơ vói nó, càng không được quyền gây nên sự thất thoát và suy giảm đa dạng sinh học Đáng tiếc chúng ta đang có nhiều tác động xấu đến đa dạng sinh học

4.1.1 Đa dạng thực vật

Trên cơ sở những kết quả do nhiều nhà thực vật cung cấp cùng với các kết quả của các thành viên của để tài, chúng tôi được đưa ra một số kết quả nghiên cứu về đa dạng thực vật của Tam Đảo

4.1.1.1 Đ a d ạ n g c á c t h ả m t h ự c v ậ t

Theo kết quả điều tra của chúng tôi cho thấy ở Tam Đảo có 8 kiểu thảm thực vặt khác nhau mà mỗi kiểu thường đại diện cho một loại hình lập địa và tương ứng có một tổ thành loài cây nhất định

4.1.1.1.1 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

Kiểu rừng này bao phủ phần lớn diện tích của vùng núi Tam Đảo và phân bố ở độ cao

dưới 800 m, với nhiều tầng tán và nhiều loài có giá trị kinh tế như: Chò chỉ (Shorea

chinensis), Giổi (Micheỉia sp.), Trường mật (Pavieasia annam ensis)

12

Trang 21

4.1.1.1.2 Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp (ảnh 5)

Kiểu rừng này phân bố từ độ cao 800m trở lên Thực vật ỏ đây gổm các loài trong họ

Re (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Chè (Theaceae), họ Mộc lan (M agnoliaceae) Từ độ

cao 1000m trở lên xuất hiện một số loài thuộc ngành Thông như: Thông nàng (Dacrycarpus

imbricatus), Thông tre (Podocarpus neriifolius), Kim giao (Nageia fleuryi), Pơ mu (Fokieria hodginsii) Dưới tán kiểu rừng này thường có các loài Vầu đắng, Sạt gai và các loài cây bụi

thuộc họ Cà phê (Rubiaceae), Đơn nem (Myrsinaceae), Thẩu dầu (Euphorbiaceae)

4 1.1.1.3 Rừng cây lùn trên các đỉnh núi (ảnh 6)

Là kiểu phụ đặc thù của rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi cao Thực vật chủ yếu gồm các loài thuộc họ Đỗ quyên (Ericaceae), họ Re (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae),

họ Hổi (Illiciaceae) Kiểu rừng này xuất hiện trên các đỉnh núi cao từ 1000m trở lên

4.1.1.1.4 Rừng tre nứa (ảnh 7)

ở Vườn Quốc gia Tam Đảo rừng tre nứa không có nhiều (khoảng 884 ha) và thường phân bố trên 800m, có các loài tiêu biểu Vầu, Sặt gai

4.1.1.1.5 Rừng phục hồi sau nương rẩy, sau khai thác

Trước khi thành lập Vườn quốc gia Tam Đảo, rừng ở đây chỉ được bảo vệ từ độ cao 400m trở lên, dưới 400m là rừng kinh tế, các lâm trường đã khai thác gỗ với cường độ cao và một phần diện tích ở đây được làm nương rảy Ngày nay diện tích này được bảo vệ phục hồi

vói các loài cây như Dung {Sympỉocos sp.), Màng tang {Liísea cubeba), Ba soi (Macaranga

denticulaía)

4.1.1.1.6 Rừng trồng (ảnh 8)

Rừng trổng ở Tam Đảo đã có từ thời Pháp thuộc, loài cây chủ yếu được trồng ờ đây là

Thông đuôi ngựa (Pmus massoniana), Lim xanh {Erythrophỉoeum fordii) Từ những năm sáu mươi của thế kỷ 20 Ngàhn lâm nghiệp đã nhiều ha rừng Bạch đàn lá liễu (Eucalyptus

excerta) cùng Bạch đàn đỏ {Eucalyptus robusỉa) ở các vùng đệm của vườn Sau một thời gian

hai loài Bạch đàn này sinh trưởng không tốt nên sau này nhiều vùng, hai loài này được thay

thế dần bời laòi Bạch đàn khác là Eucalyptus camaldulensis Loài này tỏ ra thích hợp với

điểu kiện khí hậu và đất đai của Tam Đảo.Trên các vùng đất tương đối thoái hoá được che

phủ bời các loài Keo lá tràm cAcacia auriculiformis) hay Tai tượng (Acacia mangium) Các

loài Keo trên được trổng thuần loại hay trồng hỗn hợp vói Bạch đần Nhìn chung các loài Keo tỏ ra phát triển tốt, tán cây dày có tác dụng che phủ và cải tạo đất tốt

Trang 22

Ảnh 5: Rừng kín thường xanh á nhiệt đới núi thấp

Trang 24

4.1.1.1.7 Trdng cây bụi

Kiểu này thường xuất hiện ở nơi rừng đã bị chặt phá, khô hạn, nhiều ánh sáng Các loài

thường gặp ở đây là Thầu táu (Aporosa dioica), Thao kén đực (Heỉicteres angustifolia), Thao kén cái (Heỉicteres hirsuta), Me rừng (Phyllanthus embrica), Thổ mật (Bridelia tomentosa).

4.1.1.1.8 Trảng cỏ

Loại này được hình thành trên các kiểu rừng đã bị khai thác, đất bị thoái hóa mạnh Trong Vườn Quốc gia Tam Đảo gặp loại trảng cỏ cao và trảng cỏ thấp Các loài gặp ở đây

gồm Lách (Saccharum sponíaneum), Chít Ợ hysanolem a m axim a), c ỏ lào (Eupatorium

odoratum), c ỏ tranh (ỉm peraĩa cyỉindrỉca), c ỏ đắng (Paspalum scrobiculatum), c ỏ sâu róm (Setaria viridis),v.v.

Qua bảng trên chúng ta nhận thấy ngành Ngọc lan có số loài nhiều nhất (1149 loài

chiếm tỷlệ 80 %), tiếp đó là ngành Rêu (197 loài, 13,72 %) Ngành Tháp bút có sô loài ít

Trang 25

4.1.1.3 Đa dạng về sử dụng

Nhìn chung, hệ thực vật Tam Đảo khá phong phú và phân bố trên nhiều sinh cảnh khác nhau từ trảng cỏ, cây bụi đến các loài cây gỗ trên núi đất Theo số liệu tổng hợp điều tra của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật - Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Lâm nghiệp và Viện Điều tra Quy hoạch rừng thì Vườn Quốc gia Tam Đảo trước đây cũng như điều tra của chúng tôi, hiện nay số loài thực vật đã biết là 1436 loài thực vật thuộc 741 chi thuộc 219 họ Các loài được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau

Bảng 3 Phân chia các loài thực vật Tam Đảo theo giá trị

Trong só các loài thực vật của VQG Tam Đảo có 68 loài đặc hữu và 58 loài quý hiếm được ghi vào sách đỏ của Việt Nam hay theo tiêu chuẩn của IƯCN cần được bảo tổn và bảo

vệ như: Lan hài tam đảo (Paphiopediỉum gratrixianum ),Hoàng thảo hoa vàng {Dendrobium

chrysanthum; ảnh 10), Trà vàng hakoda (Camellia hakodae; ảnh 9), Trà vàng ginbe (Camellia gilberti), Trà vàng Tam đảo (Camellia tamdaoensis), Trà vàng pêtêlô (Camellia peteìotii), Hoa tiên (Asarum petelotii), Chùy hoa leo (Moỉas tamdaoensis), v.v.

4 1.2 Đa dạng động vật có xương sông

Để đánh giá lại tính đa dạng các nhóm động vật có xương sống tại Vườn Quốc gia Tam Đảo và các khu vực lân cặn, trong khuôn khổ đề tài “Đa dạng sinh học Vườn Quốc gia Tam Đảo”, trong thời gian 2003-2004, chúng tôi đã tiến hành kiểm kê, điều tra, khảo sát lại thành phần loài và hiện trạng phân bố của chúng trong khu vực nghiên cứu, đồng thời kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có từ trước đến nay

4.1.2.1 Đa dạng và phân bỗ của các nhóm động vật có xương sỗng ở cạn

4.1.2.1.1 Lưỡng cư

Tổng sổ loài ếch nhái phát hiện được ở Vườn quốc gia Tam Đảo là 61 loài thuộc 8 họ,

3 bộ nhưng 59 loài thuộc bộ Không đuồi Bộ Có đuôi và bộ Khổng chân chỉ có mỗi bộ 1 loài Nơi phân bố theo sinh cảnh và đai cao của từng loài được dẫn ra ở phụ lục 3 Nhìn chung, đa

Trang 26

Ảnh 10: Lan Hoàng Điệp - Dendrobium chrysanĩhum

Trang 27

số loài đều xuất hiện dưới tán rừng hoặc các tản cây bụi ven suối hoặc hổ nước và chủ yếu ở

So với số loài Bò sát Vườn Quốc gia Tam Đảo trong Luận chứng khoa học Dự án đầu

tư của Viện Điểu tra Quy hoạch Rừng (1992) đã ghi nhận được (46 loài) và số loài công bố Nguyền Văn Sáng (1993) là 75 loài thì số loài kiểm tra phát hiện lần này (96 loài) cao hơn Phân bố của từng loài theo sinh cảnh và đai cao cũng được dẫn ra ở Phụ lục 3

Trang 28

Ảnh 12: Rùa Sa nhân - Pyxidea mouhpti

Trang 30

4.1.2.2 Gỉá trị quý hiếm của các nhóm động vật có xương sống (ảnh 14)

Theo danh lục Sách Đỏ Việt Nam (2000), ở VQG Tam Đảo có 60 loài động vật có xương sống quý hiếm được phân hạng đủ các cấp, từ bậc T đến bậc E (bảng 1) Chiếm số lượng và cũng là có tỷ lệ cao nhất về số loài quý hiếm là Động vật có vú và Bò sát Sự suy giảm số lượng của chúng dẫn đến tình trạng bị đe dọa tiêu diệt ở Vườn Quốc gia Tam Đảo chủ yếu do tình trạng săn bắt chưa được kiểm soát triệt để từ trước đến nay

Bảng 4 Số loài động vật có xương sống quý hiếm ở ở Vườn Quốc gia Tam Đảo có tên

trong Sách Đỏ Việt Nam (2000)

Duy trì nguồn gen và bảo vệ đa dạng sinh học nói chung và côn trùng nói riêng đang

là mối quan tâm của nhiều nhà khoa học và quản lý hiện nay Để có cơ sở cho việc đề suất biện pháp bảo tổn hữu hiệu, hợp lý trước hết phải có những số liệu đầy đủ về đa dạng sinh học Sau hai năm thực hiện đề tài chúng tôi ghi nhận các kết quả sau về đa dạng côn trùng của vườn Quốc gia Tam Đảo

4.1.3.1.Đa dạng loài

Qua các tài liệu đã được công bố cũng như các kết quả thu được qua các đợt điều tra khảo sát chúng tôi đã thống kê được 584 loài thuộc 6 bộ, 37 họ, 333 giông (phụ lục 1, bảng 1)

, ; A , h - 7 ' C í u O C ' ' I ^ U N G T Ì M h õ N G Ti n 1 Mi, -

17

Trang 31

Bảng 5: Sô lượng loài của các họ thuộc một sỗ bộ cỗn trùng

tại Vườn Quốc gia Tam Đảo

Trong số các bộ điều tra, bộ cánh cứng (Colleoptera) và bộ Cánh vảy (Lepidoptera)

có sổ lượng giống và loài nhiều nhất (224 loài và 192 loài chiếm 38,5% và 32,8% tống số loài điều tra), tiếp đến là bộ Cánh khác (Heteroptera) (85 loài bằng 14,7%) Các bộ còn lại (bộ Cánh thảng, bộ Cánh giống và bộ Cánh đều) có số lượng loài thu được ít nhất (28 loài, 16 loài và 38 loài tương ứng vói 4,8%, 2,7% và 6,5%) (bảng 5)

Trang 32

loài điều tra), tiếp đến là bộ Cánh khác (Heteroptera) (85 loài bằng 14,7%) Các bộ còn lại (bộ Cánh thẳng, bộ Cánh giống và bộ Cánh đều) có số lượng loài thu được ít nhất (28 loài, 16 loài và 38 loài tương ứng với 4,8%, 2,7% và 6,5%) (bảng 5).

4.1.3.2.Đa dạng của taxon bậc họ

Kết quả nghiên cứu đa dạng Taxon bậc họ được chúng tôi trình bày ở bảng

Bảng 6: Cấu trúc ỉhành phần phân loại của một sỗ bộ cồn trùng

giống Số loài

Giống /họ

do điều kiện thời gian và tài liệu chuyên mồn còn hạn chế, chúng tôi mới chỉ thống kê được khoảng 1/6 số bộ với các họ, giống và loài Cổng việc điều tra đa dạng sinh học tại VQG Tam Đảo nói chung và lớp côn trùng nói riêng còn phải được tiếp tục trong tương lai

Đáng chú ý là, trong số những bộ đã được điều tra có 2 bộ (Lepidoptera, Coleoptera)

chiếm tỉ lệ cao với các đại diện thuộc các họ bướm phượng (Papilionidae), như Papilio,

19

Trang 33

Troides, Teinopalpus hay đại diện thuộc các họ Lucanidae và Scarabaeidae như Lucanus, Neoluccmus, Prosopocoilus, Nipponnodorcus, Corpis,

Hình ỉ: Tỉ lệ giưa sỗ lượng các bậc phản loại (gỉỗng /họ và loài /giống) ở

một sỗ bộ côn trùng tại VQG Tam Đảo

Onthophagus đã và đang được du khách nước ngoài đến trao đổi mua bán Có những con

bướm phượng như Teinopalpus sp đã có lúc lên tới giá hàng triệu đồng Những con bọ cánh

cứng như con “Ba cục” con “cua bay” (Cherotonus sp.) hay “mện nhung” thuộc họ Lucanidae và Scarabaeidae lúc được giá có thể bán dược năm chục hay hàng trãm ngàn đổng, thậm chí năm sáu trăm ngàn đồng một con (cua bay) Có thể nói nhiều loài côn trùng quý hiếm thuộc bộ Lepidoptera và Coleoptera chỉ phổ biến ở rừng rừng già hoặc rừng nguyên sinh Tam Đảo Điều này một phần nào cũng được thể hiện qua kết quả phân tích trên qua tỉ

lệ giống/họ và loài /giống đã đề cập đến ở trên

Do có lợi ích kinh tế như vậy mà trong nhiều năm qua người dân địa phương ở xung quanh khu vực Tam Đảo đã dùng mọi phương pháp săn bắt côn trùng cho mục đích thương mại Gần đây hiện tượng này đã giảm đi nhưng vẫn chưa chấm dứt hẳn Hoạt động săn bắt côn trùng một mặt đã làm giảm số lượng cá thể của các loài côn trùng quý hiếm, mặt khác đáng lưu ý hơn là phá vỡ các sinh cảnh nơi ở và sinh sống của các loài côn trùng như phá rừng dặt bãy đèn, chặt phá các cây chủ sẽ dẫn đến làm suy giảm nhanh chóng hơn, thậm chí có thể làm biến mất một số loài côn trùng Ngoài ra một tác động khác có tính chất dây chuyền mà

ít người quan tâm tới đó là nhiểu loài côn trùng như mối (isoptera), kiến (Formicidae), các

Trang 35

loài sâu (Lepidoptera hoặc Coleoptera .) là thức ãn không thể thiêu của các loài chim, thú, lưỡng cư, bò sát S ự tồn tại của nhiều nhóm ĐVCXS phụ thuộc rất nhiều vào nguồn thức ăn giầu dinh dưỡng này Cùng với các sinh vật đất khác, các nhóm côn trùng như mối, bọ hung, collem bola đang góp phần không nhỏ trong việc làm giàu thành phần đất rừng.

Như vậy, để bảo tồn và duy trì đa dạng sinh học của vườn Quốc gia Tam Đảo không chỉ quan tâm đến các nhóm ĐVCXS mà cần làm cho người đân và các cấp chính quyền có nhận thức đúng về vai trò của côn trùng nói chung trong hộ sinh thái để nâng cao ý thức bảo vệ rừng, nơi ở và sinh sống của côn trùng-nguồn thức ăn của nhóm ĐVCXS, đồng thời là tác nhân không thể thiếu đang ngày đêm làm giàu cho đất rừng

4.2.CÉC taxon mới cho vườn quốc gia tam đảo

Trong quá trình tiến hành thực hiện đề tài, các thành viên của đề tài đã thu thập nhiều mẫu thực vật trong đó đa sô' thuộc lớp Địa tiền (Hepaticae) của ngành Rêu (100 mẫu) Đối với các tiêu bản thuộc ngành Rêu sau khi tiến hành định toại cùng với sự giúp đỡ của nhà rêu học người Hung - GS TSKH Pócs Tamás Kết quả được 19 loài Địa tiền được định danh Ngoài ra một số tiêu bản thuộc họ Chè (Theaceae) được chủ trì đề tài xác định Kết quả đã xác định được 21 loài mới cho Tam Đảo Danh lục các loài mới được ghi trong bảng 7

Bảng 7: C ác loài mới tìm thấy ở vườn Q uốc gia Tam Đảo

I Lớp Địa Tiền - Hepatỉcae (Bryophyta)

(Tayl.) Schust

M archantiaceae

15 M archantia papillata Raddi ssp grossibarba (St.) M archantiaceae

Trang 36

II Lớp Ngọc Lan - Magnoliopsida

Trong số 22 loài mới lần đầu tiên thu được ở Tam Đảo, có 2 loài và 1 phân loài là mới

cho Việt Nam, đó là: Conocephalum japonicum (Thunb.) Grolle, Pleurozia acỉnosa (Mitt.) Trev.và Marchantia papillata Raddi ssp grossibarba (St.) Bischl.

4.3.Bảo tồn nguồn gen một số loài động thực vật quý và hiếm

Đa dạng sinh học là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại Đáng tiếc trong thời gian dài con người đã khai thác không thương tiếc nhiều loài động thực vật để phục vụ cho cuộc sống hàng ngày Sự khai thác không có ý thức đó đã dẫn đến nhiều khu rừng bị phá huỷ, nhiều loài động thực vật bị tuyệt chủng hay đang có nguy cơ bị tiêu diệt Vườn Quốc gia Tam Đảo trước đây cũng nằm trong khung cảnh như vậy Từ năm 1990 trở về trước việc khai thác các loài động thực vật ở Tam Đảo diễn ra một cách tự do Việc khai thác gỗ diễn ra trong một thời gian dài đã làm cho nhiều khu rùng rậm trở thành thảm cây bụi hay trảng cỏ Quá trình thu hẹp thảm thực vật rừng ảnh hưởng không nhỏ đến nơi cư trú của nhiều nhóm động vật như các laòi thú quý, chim và côn trùng Sau khi Tam Đảo trở thành vườn Quốc gia, trở thành nơi bảo vệ đa dạng sinh học thì việc khai thác bị nghiêm cấm Khác với các vườn Quốc gia khác, vườn Quốc gia Tam Đảo nằm tiếp giáp của ba tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang và Bắc Thái Trên đất của vườn lại có 6 dân tộc sông quy tụ trong các làng bản rải đều quanh vườn Cuộc sống của các bà con dân tộc thiểu còn nhiều khó khăn và nhiều gia đình sống nhờ vào việc khai thác trộm gỗ, củi, măng, lâm sản và thú rừng Một đặc điểm đặc thù mà ít vườn Quốc gia ở nước ta có được

đó là có khu nghỉ mát Tam Đảo, khu đền chùa Tây Thiên nằm sâu trong phạm vi vườn Ngoài ra nằm sát địa phận vườn còn có hai khu nghỉ mát khác là Đại Lải và Núi Cốc Khu nghỉ mát Tam Đảo đã được người Pháp xây dựng từ những nãm đầu của thế kỷ 20 với gần

150 khách sạn lớn nhỏ Trong những năm đầu kháng chiến chống pháp, thực hiện chủ trương

“Tiêu thổ kháng chiến” phần lớn khách sạn bị phá huỷ Sau hoà bình lập lại khu nghỉ mát Tam Đảo dần dần được khồi phục lại và cho đến nay đã có hơn 50 khách sạn và nhà nghi Cùng với khu nghỉ mát Tam Đảo, tại các khu du lịch Núi Cốc, Đại Lải và ngay khu linh

22

Trang 37

thiêng Tây Thiên một số nhà nghỉ cũng đã và đang hoạt động Hoạt động du lịch đã gây ảnh hưởng xấu đến đa dạng sinh học của vườn Nhà nghỉ, khách sạn hình thành kéo theo sự ra đời hàng loạt các nhà hàng ăn uống giải khát Khách du lịch đến nghỉ mát ở Tam Đảo làm tăng nguồn thu ngân sách cho địa phương, tạo cống ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho cộng đồng địa phương nhưng nó cũng gây ảnh hưởng không nhỏ cho việc bảo tồn đa dạng sinh học của vườn Nhu cầu của khách du lịch làm phát sinh, kích thích các hoạt động buôn bán các loài động vật quý hiếm làm các món ãn đặc sản, các loài cây cảnh hay côn trùng quý hiếm Nhiệm vụ quan trọng của vườn Quốc gia Tam Đảo là bảo tồn đa dạng sinh học Để thực hiện được mục tiêu trên, vườn đặt công tác bảo vệ rừng, quản lý chặt chẽ việc khai thác ỉâm thổ sản trong rừng Để bảo vệ sinh cảnh, nơi sinh sống của các loài động vật hoang dã, nhiều khu rừng trồng trên các vùng đất bị khai thác kiệt quệ từ trước Các khu rừng tự nhiên được bảo

vệ nghiêm ngặt Những việc làm tích cực của vườn cùng với sự hỗ trợ của công đồng dân cư sống trong các vùng đệm đã có tác dụng tốt đến công tác bảo vệ đa dạng sinh học của vườn Qua nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, dựa vào tiêu chuẩn quốc tế và chính phủ nhiều loài động thực vật được xem là quý, hiếm cho vườn Quốc gia Tam Đảo Theo tài liệu giới thiệu về vườn Quốc gia Tam Đảo (2001), khu hệ động thực vật của vườn có hơn 60

loài thực vật; 59 loài động vật có xương sống và 01 loài thuộc động vật không xương sống là

các loài quý hiếm và cần được bảo vệ Tuy danh lục còn bỏ sót nhiều loài nhất là động vật có xương sống, nhưng đây cũng là cũng là cố gắng đáng kể của vườn trong quá trình bảo tồn các loài Từ năm 1997 đến năm 2002 vườn đã có hợp tác khoa học với trung tâm bảo tồn cây thuốc dân tộc của Mỹ (CREDEP) và tổ chức bảo tổn các vườn thực vật quốc tế (BGCI) thực hiện đề án: “Bảo tồn và phát triển bền vững các loài cây có ích của vườn Quốc gia Tam Đảo” Kết quả của đề án đã thống kê được 631 loài thực vật thuộc 121 họ, 308 chi Trong số đó: 361 cây làm thuốc; 86 loài làm rau ăn; 104 cây ăn quả và 116 cây cho sợi Đề án cũng

đã thiết lập trong phạm vi của vườn một khu khoảng 01 ha để trồng một số cây dùng làm thuốc thu thập ở các vùng khác nhau của vườn Để góp phần vào công tác bảo tồn các loài quý hiếm của vườn Quốc gia Tam Đảo, chúng tôi đã lựa chọn một số loài động thực vật theo chúng tôi là quý, hiếm nhằm bảo tồn nguồn gen quý hiếm phục vụ cho công tác nghiên cứu, học tập của sinh viên cũng như du lịch sinh thái Chúng tôi chọn các loài theo tiêu chuẩn sau:

1 Loài được ghi trong sách đỏ Viêt Nam

2 Loài có khu phân bố hẹp

3 Nơi sống đang bị đe doạ

4 Loài có ý nghĩa kinh tế đối với nhân dàn địa phương

5 Loài phân bố dọc theo các tuyến du lịch sinh thái

6 Loài để cho sinh viên học tập, nghiên cứu

Trên các tiêu chuẩn đặt ra chứng tôi chọn các loài sau đây để bảo tổn:

Trang 38

4.3.1 Danh lục các loài được bảo tồn

Để phục vụ cho cồng tác nghiên cứu, học tập của sinh viên cũng như du lịch sinh thái Dựa theo sáu tiêu chuẩn đã nêu trên chúng tôi đưa ra danh lục các loài cần bảo tổn trình bày

ở bảng 8

Bảng 8: Danh lục các loài cần bảo tồn

NGÀNH DƯƠNG x ỉ - PTERIDOPHYTA

NGÀNH NGỌC LAN - MAGNOLIOPHYTA

Kitamira

Chè san

8 Camellia tamdaoensis Ninh & Hakoda PT1 NIrà vàng lam đáoN r 11 .1 9

LỚP BÒ SÁT - REPTILIA

CÔN TRÙNG - INSECTA

4.3.2.MÔ tả các loài cần bảo tồn

1 Dương xí mộc - Cyathea contam inans Cop (ảnh 17)

Trang 39

Hình 17: Dương xĩ mộc - Cyathea contam inant

Trang 40

Phân bố: Ngoài Tam Đảo loài này còn gặp ở Lào Cai, Bắc Thái và nhiều nơi ở Trung bộ Việt

Nam.

Sinh học: Cây mọc trong rừng thường xanh ở độ cao từTj00m đến 1200 m

Tình trạng: Loài này đang bị khai thác để làm giá thể nuôi trồng các loài cây cảnh Phần lớn các cây to, dáng đẹp dọc các đường mòn trong rừng đang bị người dân địa phương đốn hạ đem về bán cho các chủ khách sạn, nhà nghỉ hay chủ các vườn cây cảnh Theo tiêu chuẩn mức độ bảo tồn của IUNC đây là loài đang bị đe doạ (T)

2.Cây Lim xanh - Erythrophloeum fordii Oliv (ảnh 18)

Ngành Ngọc Lan - Magnoliophyta

Họ Đậu - Fabaceae

Cây gỗ lớn, cao 20-25 m; nhánh non phủ nhiều lông, nhẵn ở các nhánh trưởng thành

Lá kép lông chim gồm 8-12 lá chét hình xoan ngọn giáo, dài 5-7 cm có đầu nhọn; gốc lá nhọ hay tù và bất đối xứng Cụm hoa hình chùm ở ngọn, có lông mềm,trục cụm hoa dài khoảng

10 cm Hoa đều lưỡng tính Hoa có cuống dài 2mm lá đài hình trái xoan- tam giác; cánh hoa hình bầu dục dài; nhị gồm 10 chiếc; bầu có lông Bầu một ô chứa 20 noãn xếp thành hai dãy Quả đậu thuôn, dài 15-20 cm, rộng 3-4 cm, màu nâu Hạt trong quả khoảng 10 hạt hinh dẹp dài 12-15mm, màu nâu sảm

Phân bố: Tại vườn quốc gia Tam Đảo Lim xanh còn gặp trên diện tích lớn ở xóm Đổng Lĩnh

xã Đại Đình huyện Tam Đảo và diện tích nhỏ cạnh trụ sỏ của vườn Ngoài Tam Đảo Lim xanh còn gặp ở nhiều địa phương như Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, Hà Tây, Thanh Hoá, Nghệ An và Quảng Trị Lim xanh còn gặp ở Nam Trung Quốc

Sinh học: Cây mọc trong rừng rậm miền núi ở độ cao dưới 300m Khi còn non là loại cây ưa bóng, tái sinh tốt trong râm mát dưới tán rừng Cây Lim ra hoa tháng 4-5, có quả từ tháng 7 năm trước đến tháng 2 năm sau

Tinh trạng: Tại khu vực núi Tam Đảo có hai rừng Lim tồn tại ở Xã Đại Đình và xã Hổ Sơn Sau khi khu rừng cấm Tam Đảo được thành lập (1977) do việc bảo vệ rừng chưa nghiêm ngặt nẽn việc phá rừng thường xẩy ra Nhiều loài cây gỗ quý trong đó cây lim bị chặt hạ, cắt nhỏ thành khúc bán chỉ vài chục ngàn đồng Sau khi vườn Quốc gia Tam Đảo thành lập công tác bảo vệ rừng Lim Tam Đảo được chú ý Hình thức giao khoán rừng lim cho một số hộ dân địa phương ở xã Đại Đình tỏ ra có hiệu quả Hiện tượng khai thác trộm cây lim không còn nữa Theo chúng tôi rừng lim ở Đai Đình thuộc vườn Quốc gia Tam Đảo là khu rừng lim đẹp của nước ta

Giá trị kinh tế: Lim xanh là cây gỗ quý thuộc vào loại tứ thiết (Đinh, Lim, Sến, Táu).Gổ lim rất bền, không bị mối mọt, được dùng trong kiến trúc, xây dựng cầu cống, làm ván sàn, tà vẹt

và đồ dùng trang trí trong nhà v ỏ cây Lim chứa tanin nên cũng được dùng làm nguyên liệu thuộc da và nhuộm, v ỏ cây chứa nhiều alcaloid nên dùng tên độc hay gây mê cục bộ Trên

25

Ngày đăng: 03/02/2021, 14:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. H a tto ri S., N otes on th e Asiatic species of th e g e n u s F r u lla n ia , H e p a tic a e V .J. H a tt. Bot. Lab. 38: 1974, p p .185-221 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Notes on the Asiatic species of the genus Frullania
Tác giả: Hattori S
Nhà XB: V.J. Hatt. Bot. Lab.
Năm: 1974
2. Jovet- Ast, B.& Tixier. p., Hepatiques du Viet Nam. Rev.Bryol. et Lichen., 31, 1962, pp. 23-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hepaniques du Viet Nam
Tác giả: Jovet- Ast, B., Tixier, P
Nhà XB: Rev. Bryol. et Lichen.
Năm: 1962
3. Poes Tamas. The genus Porella in Viet Nam. J. Hatt. Bot. Lab.31, 1968, pp.65-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The genus Porella in Viet Nam
Tác giả: Poes Tamas
Nhà XB: J. Hatt. Bot. Lab.
Năm: 1968
4. So, M. L. , M o s s e s a n d l i v e r w o r t s of H o n g K ong. I, H eavenly People Depot , H o n g K o n g , 1995, 162p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mosses and liverworts of Hong Kong
Tác giả: So, M. L
Nhà XB: Heavenly People Depot
Năm: 1995
5. So, M. L. & Z h u , R. L., M o s s e s a n d l i v e r w o r t s of H o n g K o n g . II, Heavenly People D opot , H o n gKong, 1996, 130p.VNU. JOURNAL OF SCIENCE, Nat., Sci.. & Tech., T .x x , N02AP,, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mosses and liverworts of Hong Kong
Tác giả: So, M. L., Zhu, R. L
Nhà XB: Heavenly People Depot
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w