1. Trang chủ
  2. » Sinh học lớp 12

Báo chí của giới trí thức Việt Nam trong những năm 1939 - 1945

166 147 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 63,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phận sự Iiọsẽlrọn vẹn khi học dã hieu bài... phằix dôncỊ Ithđìt loại như.[r]

Trang 1

ĐẠI HỌC Q U Ố C (ỈIA HÀ NỘI

T R Ư Ờ N G DẠI H O C K H O A IIỌC XÃ HỘI VẢ N H Â N VẤN

0 T / 3 66

C H Ủ T R Ì ị)K T Ả I : I MS P H Ạ M Đ Ì N H L Â N

C Á N B Ộ V H Ó ỉ H Ó P N Í Ỉ H I K N C Ứ U : I S 1 R A N V Ă N LA

HÀ NỘI, 12-2003

Trang 2

MỤC LỤC

M Ở Đ Ầ U 5

Ị L ý do chọn đ ề tài 5

2 Tình hình nghiên cứu 9

3 Phương p h áp nghiên cứu 9

4 M ục tiêu và nội (ỉung nghiên cứu 10

5 Lực lượng tham g ia 10

6 Dô cục của đ ề tài / 1

C HƯ Ơ NG 1 NHỮNG TIẾN ĐÉ CHO s ư PHÁT TRIỂN BÁO CHÍ TRÍ THỬCVIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1939-1945 13

1.1 Khái quát báo chí trong thời kỳ Mặl trận Dân chủ ĐôngDương 1936-1939 13

1.2 Những biến động lớn của th ế giới và Đông Dương có ảnh hưởng lới báo chí của giới trí thức giai đoạn 1939-1945 20

1.3 Lực lượng trí thức-nhân tố quyết định sự trưởng thành của báo chí giới trí thức giai đoạn 1939-1945 28

CHƯ Ơ NG 2 GIÁ TRỊ NỒI DUNG CHUYỂN TẢI TRÊN TẠP CHÍ THANH NGHỊ, TẠP CHÍ TRI TÂN VÀ BÁO KHOA HỌC 33

2.1 T Ạ P CHÍ TH A N H N G H Ị 33

2.1.1 Tạp chí Thanh Nghị-Khuynh hướng tân học của lớp Ihanh niên trí thức m ớ i 33

2.1.2 Những nội dung chủ yếu 38

2.1.3 Những cây hút chủ lực 41

2.1.4 Đặc điểm của Thanh N ghị 43

Trang 3

2.2 T Ạ P C H Í TRI T Ả N 44

2.2.1 Tạp chí Tri Tân-Khuynh hướng tìm trong vốn cổ để m ang lại lợi ích thực tiễ n 44

2.2.2 Những nội dung chủ y ế u 46

2.2.3 Những cây hút chủ lực 49

2.2.4 Đ ặc điểm của Tri T â n 53

2.3 HÁO K H O A H Ọ C 53

2.3.1 Báo Khoa Học - Chuyên tâm phổ hiến kiến thức khoa học CƯ bản và khoa học thường t h ứ c 54

2.3.2 Những nội dung chủ y ế u 56

2.3.2.1 Báo Khoa Học phổ biến kiến thức khoa học cơ b ả n 56

2.3.2.2 Báo K hoa Học với phương pháp đặt danh từ khoa học bằng liếng V iệt 58

2.3,3 Những cây bút chủ lực 61

CH Ư Ơ N G 3 MỘT VÀI ĐÁNH GIÁ VỀ NGHỆ THUẬT LÀM BÁO CỦA TẠP CHÍ THANH NGHỊ, TẠP CHÍ TRI TÂN VÀ BÁO KHOA HỌC 66

3.1 Hoạt động của tòa so ạ n 66

3.2 Vấn đề xây dựng tạp chí và tổ chức trang b áo 68

3.3 Nghệ thuật sử dụng m ột số thể loại 74

3.3.1 Thể loại T in 74

3.3.2 Thể loại Phỏng vấn 76

3.3.3 Thể loại Điều tra 79

3.4 Phong cách của các tờ b á o 82

3.4.1 Tạp chí Tri Tân-Chuyên san về văn hóa-văn học-lịch sử 82

3.4.2 Tạp chí Thanh Nghị-Nơi biểu đạt lư iưởng của lớp trí thức m ớ i 84

3.4.3 Báo Khoa Học-TỜ báo chuyên biệl phổ biến kiến thức khoa h ọ c 85

Trang 4

KẾT LU Ậ N 88

TÀI LỈỆU T H A M K IIẢ O 92

PHU L U C 95

Trang 5

MỞ ĐẤU

I LÝ DO CHỌ N Đ Ể t à i

Lịch sử báo chí quốc ngữ Việt Nam trước 1945 ra đời và phát triển

trong môi trường thuộc địa, chịu sự chi phối của nhà cầm quyền Pháp ớ Đông

Dương và của quan lại Nam triều Tuy nhiên, báo chí Việi Nam lại có sự phái

triển nhanh, đa dạng về toại hình, phong phú về nội dung, từng bước đi của

báo chí gắn chặt với sự biến ihiên của lịch sử dân tộc giai đoạn cận hiện đại

Buổi đầu hoạt dộng báo chí chỉ là những tờ công báo chủ yếu phục vụ cho

quân đội viễn chinh Pháp lừng bước xâm lược nước ta Sau đỏ báo chí còn là

công cụ làm ăn kinh doanh của m ột số chức sắc chủ thầu Sau khi thực dân

Pháp căn bản xâm chiếm toàn bộ nước ta, đạt ch ế độ cai trị thì háo chí thực sự

là công cụ tuyên truyền văn hóa của chủ nghía lliực dân Tuy nhiên do sự phân

hóa xã hội trong từng thời kỳ, trong từng giai đoạn, báo chí cũng phái triển

theo những khuynh hướng khác nhau, đặc biệt sau T h ế chiến lần thứ nhất và

thời kỳ Pháp hắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai Những

mâu thuẫn về quyền lợi kinh tế, về sinh hoạt vãn hóa lư tưửng dẫn đến mâu

thuẫn trong các khuynh hướng hoại động báo chí Đ ặc biệt, năm 1925 xuất

hiện dòng báo chí cách mạng của giai cấp vô sản đã diễn ra cuộc đấu tranh

gay gắt giữa một nền báo chí thực dân và m ột nền báo chí yêu nước và cách

mạng mà thực chấl là cuộc đấu Iranh lư tưởng, văn hóa giữa báo chí vô sản,

tiến bộ với báo chí không cách mạng

T ạp chí xuấl bản định kỳ manh nha xuấl hiện lừ cuối ihế kỷ XIX với sự

ra đời tờ T hông Loại Khóa Trình (1888) do Trương Vĩnh Ký quản lý, nhưng

phải đôn 1913 với dung mạo tờ Đông Dương tạp chí và 1917 với lạp chí Nam

Phong thì lạp chí có chỗ đứng trong sinh hoạt báo chí Việl Nam đương thời

Tạp chí trử thành công cụ, phương liện hữu hiệu trong việc chuyển lái thông

Trang 6

tin các vấn đề văn hóa Tây Au và khảo cứu các vấn đổ văn hóa phương Đông

nham m ục đích tuyên truyền vãn hóa Pháp , gây dựng mộl linh thần phục

Pháp đô đạl lới mục đích cai Irị hàng văn hóa đối với các nước thuộc địa Đống

Dương, đặc hiệt là Việt Nam của llụrc dân Pháp

Tuy nhiên, “mặc dù bị che mắt chi đổ lại một Irường nhìn rất hạn hẹp đồ

phòng nó đưa chiếc xe đi chệch hướng, con ngựa vãn có cuộc sống riêng luân

theo những quy luật của bản thân nỏ Báo chí Việt Nam sau khi định hình, luy

vẫn chịu sự chi phối của nhà cầm quyền trong khuôn khổ pháp lý thực (lân cực

kỳ phản dân chủ, vẫn phát triển theo quy luật nội tại của nỏ với tư cách là

những phương liện thông Ún có những người hiên lập và có công chúng riêng

cúa m ình” (1 -3)

Chính vì vậy háo chí Việt Nam Irước 1945 đã đỏng góp mội phần quan

trọng trong liến trình phái Iriển văn hỏa dân tộc, Ihúe đáy quá trình liếp xúc

văn hóa Đông-Tây; phổ biến kiến thức; lạo cho xã hội Việt Nam m ột lối sống

mới, một cách nhìn mới về Ihốgiới quan, về sự vận động của tự nhiên, của xã

hội đương thời Chính sách truyền bá văn hóa Tây Âu nhằm mục đích xây

dựng m ột c h ế độ cai trị hằng văn hóa đã mang lại mộl hệ quả lớn lao, góp

phần không nhỏ vào việc xây dựng một đời sống văn hỏa mới

Về loại hình, ngoài các lờ công háo han đẩu, các tờ báo xuấl bản Iheo

luần, kỳ, các tờ tạp chí lần lượt xuấl hiện Từ những năm đầu thế kỷ XX, loại

hình lạp chí ngày càng phát triển và thu hút nhiều cây bút xuấl thân từ các

thành phần giai cấp khác nhau, nguồn đào tạo khác nhau tham gia Điều bidu

hiện rõ nhất là các lờ báo, các tạp chí đã dành nhiều trang viếl và hút lực cho

một lĩnh vực nào đỏ phục vụ đôi iưựng nào đỏ, trong đó các lờ háo, lạp chí

mang tính cách văn hóa, khoa học, xã hội chiếm ưu ihố Người tiên phong

phải kể đến Tản Đà Nguyễn Khác Hiếu với tờ An Nam tạp chí (1926-1933)

Trên linh ihần cổ vũ cho phong trào chấn hưng dân lộc, khuyến khích con

dường làm ăn cùa giai cấp tư sản dân tộc, iưởng rằng bản háo An Nam sẽ

Trang 7

chuyên tâm về Ihông lin kinh tế, Irái lại An Nam lại đặl một điểm nhấn trong liên trình phái lrió’n háo chí Việl Nam Đó là lờ báo đẩu liên lliiên về ihông tin

các vấn đổ văn hóa văn học Nhà thư Tản Đà không chí viốl háo m à còn là

người tổ chức làm báo, ông đã cấy lên An Nam hai chuyên mục: “ Việt Nam

nhị thập thế kỷ - Xã hội thiển đàm ký” ; “ Việt Nam nhị thập ihế kỷ - Xã hội

ba đào k ý ” để đăng tải những bài viếl về cuộc sống của lớp người dưới đáy xã

hội, vẽ nên những hức Iranh hiện ihựe ảm đạm mà chính sách “khai h ỏ a” của

thực dân Pháp đã mang lại Cũng lừ hai chuyên mục này, là nơi khởi đầu cho

m ột số nhà văn hiện thực phè phán dã thành danh như Nguyễn Công Hoan,

Ngô Tất TỐ

Tiếp An Nam tạp chí, trong những nãm thập kỷ ba mươi hàng loạt tờ

háo mang yếu tính văn hóa văn học lần lượt ra đời như Tiểu thuyết lliứ Năm,

Tiểu thuyết thứ Hai, Tiểu thuyết thứ Bảy, Tao Đàn Đ ặc biệt các tờ báo

Phong hóa, Ngày nay là mảnh đất riêng của nhóm Tự Lực văn đoàn, với hàng

loạt tác phẩm vãn chương dề cao cái lôi, tự do cá nhân, liến công vào dinh lũy

tiến trình phát triển vãn học nước nhà

Giai đoạn 1939-1945, với hối cảnh xã hội Việt Nam trong thế chiến thứ

hai I l l ực dân Pháp và chủ nghía phát xít Nhật bát tay nhau lìm cách bóc lột

nhân dân la, làm cho dân la lam vào cảnh “một cổ hai tròng” Sự phân hóa sâu

sắc trong sinh hoạt chính trị tư tướng đã dẫn đến phân hóa trong giới trí thức

m ột cách rõ rệt Cũng phải cần nói Ihêm rằng, đày là giai đoạn mà giới trí thức

Việt Nam đồng đảo chưa từng có lừ Irước lới nay và phong phú về ngành nghề

đào tạo Mọ bao gồm nhiều lớp người khác nhau Thứ nhất, lớp trí ihức cựu

học, trưởng thành những năm đầu Ihế kỷ XX, linh thông Hán học có liếp Ihu

Tây học và họ cũng bắt nhịp với cuộc liếp xúc văn hóa Đ ông-Tây đầu thế kỷ

Thứ hai, lớp trí thức tân học, lớp trí thức mới được đào tạo Irong hệ thống

trường học chính của chính phủ Bảo hộ, một số được đào tạo ử chính Pháp, họ

hoàn toàn liếp thu văn hóa Tây Âu, có nhiệt huyốl, linh thàn yêu nước Ihương

Trang 8

nòi Thứ ba, lớp trí thức Tây học, phần lớn được đào tạo ở chính Pháp các

ngành khoa học tự nhiên và các irường kỹ lliuậl, kỹ nghệ Phần lớn lầng lớp trí

Ihức này có linh Ihần dân tộc cao, họ muốn làm mộl cái gì đó cho dan lộc

trong thời cuộc có nhiều rối ren Họ là những học giả uyên bác m à trong số họ

có những người đã một Ihời Ihân Pháp Họ không tin vào một Đại Pháp đang

khai hóa, họ nghi ngờ m ộl nước Nhạt hùng mạnh, tàn ác Chính vì vạy họ đi

vào nghiên cứu văn hỏa dân tộc, bảo lổn truyền thống, tiếp nhân văn hỏa Tây

Âu, truyền há và phổ biến những kiến thức khoa học nhằm giúp hiện đại hóa

lư tưởng văn hỏa nước nhà Các nhóm trí thức đã thành lập các lờ háo của

mình để làm nơi biổu đạt lư tưởng, the hiên mục đích hoạt động Tờ tạp chí Tri

Tân của nhóm Irí thức cựu học; lạp chí Thanh Nghị của nhóm trí thức lân học;

báo Khoa Học của nhỏm lân học khoa học tự nhiên Các tờ báo và lạp chí này

cùng ra m ắl bạn đọc lừ nửa cuối năm 1941 đốn đầu 1942

Sở dĩ chúng tôi chọn ba tờ háo liêu hiểu: Tạp chí Thanh Nghị, lạp chí

Tri Tân và báo Khoa Học bởi vì ha tờ báo này do ba nhóm trí thức tiêu biểu

chú trương T uy họ trung lập về chính uị, bế tắc Irong việc lựa chọn m ột con

đường di nhưng lại có chung một tâm trạng, một bầu nhiệt huyếl: Phụng sự Tổ

quốc Họ làm báo không phải đổ nối dài bàn lay hóc lột cho đ ế quốc và lay

sai, cũng khổng phải đi tìm lợi nhuận Irên từng con chữ, từng số báo sự biểu

hiện rõ lệl nhấl là cả ha lờ háo đều do các nhà Irí thức, khoa học góp công góp

của để xuấl bản v ề nghệ thuậl làm háo, thì các tờ báo này đã có bước nhảy

vọt Tạp chí T hanh Nghị đề cập đến các vấn đề thời cuộc, lạp chí Tri Tân

mang tính cách chuyên san khảo cứu về văn hóa, lịch sử nước nhà, tờ háo

Khoa Học m ang lính cách chuyên biệt truyền há những kiến thức khoa học lự

nhiên cơ bản, tiếp cận với khoa học hiện đại ihế giới để phát triển khoa học

nước nhà Cách tổ chức, xây dựng hệ ihống chuyên mục, sử dụng một số thể

loai báo chí đã tiếp cận với phương thức làm háo hiện đại

Trang 9

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN cúu

Nghiên cứu báo chí trước 1945 dã có nhiều công trình nghiôn cứu à

nhiồu góc đò khác nhau Các tác giả Huỳnh Văn Tòng trong cuốn Lịch sử

báo c h í Việt N am từ khởi thủy dên 1945 , do nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh, năm 2000 ; lác giả Đỗ Q uang Hưng chủ biên irong cuốn Lịch sử báo chí Việt

Nam / 865-1945 có đưa ra mộl sổ nhận xét về nội dung và nghệ thuâl các tờ

háo này m ột cách khái quái, chủ yếu nghiêng về lịch đại Trong mội số công

trình nghiên cứu văn học của GS Phạm T h ế Ngũ, GS Hà Minh Đức, GS Phan

Cự Đệ có góc nhìn tác giả tác phẩm Một sổ luận văn Thạc sĩ, khóa luận lốt

nghiệp cử nhân ngành báo chí, khoa Báo chí Trường Đại học K hoa hục Xã hội

và Nhân văn đã hước đầu nghiên cứu ử tìmg mảng nội dung của từng lờ háo,

chưa có m ột công trình chuyên khảo về vai trò của trí thức đối với sự phát

triển háo chí và tác động của báo chí do các nhóm trí ihức đối với xã hội trong

giai đoạn 1939-1945

—Đ ề tài vận dụng phương pháp luận M ác-Lênin và lư tướng Hồ Chí

Minh Irong việc phân lích và so sánh, đánh giá hiện lượng sinh hoạt háo chí

giai đoạn 1939-1945 Có nhìn nhận theo hướng lịch đại, sự lác động của hối

cảnh chính trị, xã hội cho sự ra đời các tờ háo của các nhóm trí thức

—Sử dụng nguồn tư liệu chủ yếu qua các bộ báo Thanh Nghị (mã số

CV.58 ), báo Tri Tân (mã số CV143 ) ở Thư viện K H X H Ihuộc Trung tâm

K HX H và NV Q uốc gia lừ năm 1941-1945 ; báo K hoa học (vi phim ) ở Thư

viện Q uốc gia Hà Nội Chúng tôi sử dụng nguồn tư liệu trong các công trình

sử học, văn học, hồi ký của một số trí thức đương thời iham gia làm báo dương

thời, đặc biệl là các lác giá Vũ Đình Hòe, Nguyễn Tường Phượng, Hồng Nhuệ

Nguyễn K hắc Xuyên, Phạm T hế Ngũ, Huỳnh Văn Tòng, Đồ Q uang Hưng

Trang 10

Ngoài ra chúng tôi còn đánh giá theo góc nhìn báo chí học đổ nhận rõ tiến

trình phát triển nghệ thuật làm báo

— C húng tôi có Iham khảo một số ý kiến đánh giá của các nhà nghiên

cứu khác có liên quan đến lịch sử báo chí như : GS văn học Hà Minh Đức, GS

Phan Cự Đệ ; GS ngổn ngữ Lê Quang Thiêm ; PGS sử học Phạm Xanh về cạc

tờ báo ra đời giai đoạn 1939- 1945 Chúng tôi cũng nhận được sự đồng tình,

cổ vũ và chỉ ra hướng nghiên cứu của đề lài

—T h ô n g qua sưu tầm, đánh giá lừng nhóm nội dung mà các tờ báo đã

chuyển tải, thậm chí khảo sát một số thể loại báo chí để lừ đó làm rõ vai trò và

đặc điểm của những tờ báo này

4 M Ụ C TIÊU VÀ NỘỈ DUNG NGHIÊN c ú u

Đề tài nghiên cứu m ột cách khái quát về hối cảnh xã hội Việt Nam giai

đoạn 1939-1945, những tác động về chính trị, văn hóa và lự thân của các

nhóm trí thức cựu học, tân học, lây học cho sự ra đời các lờ báo của giới trí

ihức

Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung chuyổn tải và nghệ ihuật làm

báo của b a tờ báo tiêu hiểu : tạp chí Thanh Nghị, tạp chí Tri Tân và báo Khoa

Học Qua đó để nhận diện rõ hơn, sâu hơn, có cách nhìn toàn diện hơn về 3 lờ

báo này và thấy rõ vai trò của giới trí thức đối với sự phát triển háo chí

5 LỤC LƯỢNG T H A M GIA

— C h ủ trí dê tài : Thạc sỹ Phạm Đình Lán, Phó Chú nhiệm khoa Báo

chí, Phó Chủ nhiệm bộ môn Lý luận háo chí và háo in, chuyên ngành Lịch sử

báo chí V iệt Nam

— Lực lượng tham gia : Tiến sì sử học Trần Văn La, Trường Đại học

Khoa học Xã hội và Nhân văn

Trang 11

6 BỐ C Ụ C CỦA ĐỀ TÀI

Đổ lài bao gồm Mớ đẩu, 3 chương và Kêl luận Ngoài ra còn có Mục

lục, Tài liệu tham khảo và các phụ lục kèm Iheo Nội dung 3 chương:

C H Ư Ơ N G I: NHỮNG TIỀN ĐỀ CHO SƯ PHÁT TRIỂN BÁO CHÍ TRÍ THỨCVIÊT NAM GIAI ĐOẠN 1939-1945

1.1 Khái quát báo chí trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ ĐôngDương 1936-1939

1.2 Những biến động lớn của thế giới và Đông Dương có ánh hưởng lớt hấo

chí của giới trí thức giai đoạn 1939-1945

1.3 Lực lượng trí thức-nhân tố quyết định sự Irưởng thành của háo chí giới trí

2.3.2 Những nội dung chủ yêu

2.3.2.1 Báo Khoa Học phổ biến kiến thức khoa học cơ hàn

Trang 12

2.3.2.2 Báo Khoa I lọc với phương pháp đật danh từ khoa học hằng liếng Việl

2.3.3 Những cfly búl chú lực

THANH NGHỊ, TẠP CHÍ TRI TÂN VÀ BÁO KHOA HOC

3.1 H oại động của lòa soạn

3.2 Vấn đề xay dựng tạp chí và tổ chức trang háo

3.3 Nghệ thuật sử dụng một số thể loại

3.3.1 Thể loại Tin

3.3.2 Thể loại Phỏng vấn

3.3.3 Thể loại Điều Ira

3.4 Phong cách của các lờ báo

3.4.1 T ạp chí Tri Tân-Chuyên san vổ văn hóa-văn học-IỊch sử

3.4.2 Tạp chí Thanh Nghị-Nơi biểu đạt lư tướng của lớp trí thức mới

3.4.3 Báo K hoa ỉ ỉ ọc-Tơ háo chuyên hiệt phổ hiến kiến Ihírc khoa học

Trang 13

C H Ư Ơ N G I

N H Ữ N G H Ể N Đ Ể PHÁT T R I Ể N HẢO CHÍ T RÍ T H Ứ C V I Ệ T N AM

T R O N G N H Ữ N G N Ă M 1939- 1945

So với các nước, báo chí Việt Nam ra đời m uộn (giữa thế kỷ XIX),

nhưng lại phái triển nhanh về sô lượng, nội (Jung và thổ loại

Lịch sử hình thành và phát triển của báo chí nói chung, báo chí của giới

trí ihức nói riêng khổng chỉ chịu sự lác động bời những biến đổi lớn trên thế

giới m à còn chịu sự chi phối của các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn

h o á trong nước Vì vây, báo chí Việl Nam m ang sắc thái riêng- Báo chí của

một dân tộc luôn phải đối đầu với sự xâm lấn của ngoại bang, giữa các xu hướng, lư tưởng, chính trị và văn hoá khác: Nội- Ngoại, Cũ- Mới, Tiến bộ- Lạc

hậu, C ách m ạng và phản cách m ạ n g

Sắc thái riêng hiệt đó càng đậm nét hơn khi cuộc đấu tranh giành độc

lập của dân tộc phát triển đến đỉnh cao: thời kỳ giành chính quyền 1939-

1945

T hành quả đạt được của báo chí trí thức trong giai đoạn 1939- 1945 dựa

liên những liền đề sau:

- Kê Ihừa sự phái triển của báo chí trong thời kỳ M ặt trận dan chủ Đ ổng

Dương (1936- 1939)

- Những biến động lớn của tình hình thế giới và trong nước

- Y ếu tố tích cực của tầng lớp trĩ thức Việl Nam

1.1 K hái quát báo chí trong thời kỳ M ặ t trận Dân chủ Đ ông Dương (1 9 3 6 -1 9 3 9 )

Trang 14

1.1.1 Bước vào Ihập kỷ 30 của Ihế kỷ XX, diễn hiến phức tạp của quốc

tố đã tác động đến các nước, trong đỏ có Việt Nam Chủ nghĩa phát- xít quốc

lố hình thành, nguy cơ của một cuộc chiến tranh thế giới mới đang đến gần

Cùng ihời gian đó, m ột sự kiện lịch sử có ý nghĩa quan trọng trong phong trào

cộng sản và công nhân quốc tê đã diễn ra: Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản

được lổ chức tạí Mát-xcơ-va (Liên Xô cũ) vào tháng 7 năm 1935 Đây là Đại

hội chống chú nghĩa phát- xít, ngăn chặn nguy cơ chiến tranh và bảo vệ nền

hoà bình dân chủ trên toàn thế giới Thông qua Đại hội, Q uốc tế cộng sản kêu

gọi Đảng cộng sản, giai cấp công nhân và các lực lượng tiến bộ, dân chủ ở các

nước châu Âu cùng các dân tộc bị áp bức ở châu Á, Châu Phi và Mỹ Latinh

hãy đoàn kết, thống nhất trong một mặl trận chung- Mặt trân dân chủ nhân

dân chống phát- xít

Giai cấp công nhân và nhân dân Pháp là người đi đầu trong cuộc đấu

tranh và thực hiện thành công lư iưởng có ý nghĩa chiến lược và sách lược

trên Tháng 5 năm 1936, Mặt trận bình dân Pháp được thành lập Ngoài những

tháng lợi về dân chủ, chống phát- xít, chính phủ L.BIurn còn đề cập đến việc

cải thiện dân chủ, lự do và đời sống của người dân bản xứ ử những nước thuộc

địa, trong đỏ có xứ Đông Dương thuộc Pháp

Tư tưởng lập mặt trận dân chủ nhân dân chống phát xít của Q uốc lế

cộng sản, những thắng lợi và chủ trương cải cách của chính phủ binh dân Pháp

"đã tác động trực tiếp đến tình hình kinh tế, lư tưởng, chính trị, xã h ộ i ở

Đông Dương Những người cộng sản và trí thức tiến bộ, dân chủ đã kịp thời

đứng ra vận động một phong Irào dân chủ sồi nổi, rộng khắp trên toàn quốc

Khí thế sôi động trong sinh hoạt dân chủ, đấu tranh chống phát-xít và

bọn phản động Ihuộc địa, đòi tự do ngôn luíìn và cải thiện đời sống của công

nhân, nông dân diễn ra suốt từ cuối năm 1936 đến giữa năm 1938 Đỉnh cao

của phong trào trên là một cuộc mít linh khổng lồ (1.5.1938) tại trường Đấu

xảo Hà Nội, thu húi 25.000 người tham gia của 25 đoàn thổ quần chúng đại

Trang 15

diện cho công nhân, nông dân, liểu tư sản, lư sản dân tộc và trí thứ c Đại

hiểu các giới đều lên liếng đòi yêu sách về kinh lế, chính trị và văn hoá (38-

138)

Phong trào đấu tranh đòi lự do, dân chủ diễn ra dưới nhiều hình thức:

cô n g khai, bán công khai; đấu tranh trong nghị trường, trên lình vực văn hoá

và lập ra nhiều lổ chức khác nhau: Ái hữu, Nghiộp đoàn, Hội Iruyén bá quốc

ng ữ

Phong trào trên đã đạl được m ục đích cơ bản, là từng hước giành lại các

quyền về lự do, dân chủ, cải thiện đời sống, trong đó có quyền tự do ngôn

luận, háo chí

Như vậy, sau Xô viết Nghệ- Tĩnh, cuộc đấu tranh giành độc lập của dân

tộc lại được đẩy cao lên m ộ t bước Cùng với sự phát triển của phong trào đấu

Iranh cách mạng, sự trưởng thành của các giai tầng có tư tưởng dân chủ và tiến

bộ; sự phong phú, phức tạp của sinh hoạt tư tưởng, sự du nhập của văn m inh

phương Tây vào đô thị đã tạo đà phái triển cho báo chí của giới tri thức

mặt trận báo chí Trong tác phẩm lịch sử Tám muưi năm chống Pháp, nhà sử

học Trần Huy Liệu đã khẳng định:

“VI vậy, nói đến Ihành tích của phong irào mặt trận hình dân, trước liên

là phải nói đến công cụ của báo, sá c h ”(37-31)

Thời kỳ 1936-1939, báo chí nói chung và báo chí của giới trí thức nói

liêng đã có vai trò, vị trí quan trọng, đồng ihời đã có sự đổng góp nhất định

trong cuộc đấu tranh chung của dân tộc Và ngược lại, chính sự phát triển của

lợi cho sự trưởng thành của báo chí trí thức ở giai đoạn này

Trang 16

Trong môi Irường hoạt động công khai, hợp pháp báo chí các miền nở

vậy, nếu so với 10 năm Irước đây số lượng lờ háo tăng gấp hai lần (năm 1929

có 153 tờ)

Cùng với các háo đã xuất bản bí m ật trước năm 1936, háo chí công khai

phát hành mạnh, nhất là loại báo chính trị, xã hội và văn hoá Báo chí hợp

pháp hình ihành trên cơ sử các khuynh hưứng khác nhau, như: Báo than chính

quyền, háo Cấp tiến, báo của nhóm Trốt-xkít, báo Văn học, báo Tôn

giáo nhưng tựu trung lại có hai dòng chính nổi lên đó là : Báo chí cách

m ạng Ngay từ đầu năm 1935, các chiến sỹ cộng sản đã lập hợp nhau Ihành

m ột nhóm để làm sách, viết báo, nhằm phổ biến luyên truyền lư tưởng Mác

xít C ác'tờ Hồn tic, Tin tức, Lao động, Dân tiến, Dân muốn, Đông Dương tạp

chí, Sống, Tiến tới Tiêu biểu cho khuynh hướng này là háo Dân chúng, có số

phái hành 1 vạn rưỡi bản Có thể nói rằng, háo chí cách m ạng những năm

1936-1939 đứng vững được trong hoàn cảnh ngặl nghèo như vậy là do sự nhạy

bén chính trị của những người cộng sản Họ đã kịp thời nắm bắt được tình

hình chuyển hiến của phong trào dân chủ Irong nước và quốc tế, thu hút sự

ủng hộ của làng báo, của những nhà báo là trí thức và lợi dụng luại tự do háo

chí của quốc hội Pháp Đảng cộng sản Đông Dương và Nguyễn Ái Q uốc đã

chỉ ra những nhiệm vụ cụ thổ cho phong n ào dấu tranh trôn mặl trân báo chí ử

giai đoạn này là: Không nên đưa ra đòi hỏi quá cao, chỉ nên đòi các quyền dân

chủ, lự do tổ chức, lự do hội họp, lự do báo chí và lự do ngôn luận (17-

138,139) Và, Đảng cộng sản đã kịp thời đứng ra tập hợp, tranh thủ khả năng

hoạt động công khai, tổ chức các Đại hội của Báo chí (lần thứ nhất (1936), lần

thứ hai (1937)) ở khu vực Bắc kỳ M ục đích của các kỳ Đại hội là thống nhất

hành động chung của những người làm báo, đòi tự do lập nghiệp báo chí Bởi

vậy, báo chí cách mạng đã thu hút và khích lệ nhà báo là trí thửc có trình độ

làm báo sắc sảo, tinh Ihần dân tộc cao, m ặc dù lầng lớp đó không phải là chiến

Trang 17

sĩ cách mạng Nhà háo uí thức đã cùng với các chiến sĩ cộng sản búl chiến với

phái Trốlskíl (sự kết hợp giữa háo 'l in tức với háo Ngày Nay)

Nhỏm Đăng Thái Mai, Nguyễn Văn Tô còn tham gia hiên lập các báo

liếng Pháp của Đảng cộng sản như tờ lc Travnil (lao động), Rasscm blam enl

(’lậ p hợp)

Dòng llúr hai của háo chí là háo của trí thức xuấl ihcần lừ các lliành phần

khác nhau như: Tư sản dân lộc, tiểu lư sản, giáo viền, nhà văn, nhà hoạt động

khoa học, sinh viên, học sinh Các tờ háo này tăng độl hiến về số lượng,

phong phú về nội dung và đa dạng về hình Ihức

Báo Phong Hoá, Ngày Nay của nhóm Tự lực văn đoàn, gồm m ột số trí

thức lieu lư sản và lư sản thành th ị Trong những năm 1937, 1938, hai tờ háo

trên là diễn đàn thực sự cho các cây búi sắc sảo, đưa ra những vấn đề chính trị

và xã hội cấp thiết Báo Ngày Nay mang đâm tính xã hội Các vấn đề cập nhật

của đời sống tinh Ihần được đê cạp đến như: vấn đề lao động, vấn đề phụ nữ,

phong trào Âu hoá, vấn đề thuộc địa Đó là những bài hay, sắc sảo về nghiệp

vụ, nhấl là nội dung đòi về tự do háo chí, vận động nghiệp đoàn báo chí Kếl

quả là, Phong Hoá, Ngày Nay Ihu hút đông đảo bạn đọc đặc hiệt là giới trí

thức

Báo Pháp luật cố vấn (1938), đã thu húi được nhiều trí thức T ây học

(ham gia Báo le Amenlgards, luy là báo liêng nhưng cũng hoạt động rất tích

cực vào các cuộc tranh cãi về Đệ tam, Đệ tứ, ùng hộ Mặt trận hình dân Pháp,

vận động dân chủ Một trong những lờ háo của trí thức Irẻ cỏ tư tưởng liến bộ,

rất gần với cách mạng, hoạt dộng tích cực trong dòng báo chí trí thức là tờ T h ế

giới báo, nỏ có đặc điểm riêng là nơi tập trung những cộng tác viên còn đang

là sinh viên Họ đã cộng lác với nhiều lờ báo có xu hướng chiến đấu theo lý

ĩữơng~cọng sán Có nhiỏu người là nhà trí thức - nhà háo giàu lòng yêu nước,

trung Ihành với tổ quốc Ngoài ra những trí thức tiên còn tham gia dịch các

Trang 18

elạng sách, háo cỏ tư lương liến hô và Mác xít đổ tuyên truyền vào Việt Nam

tình với các chiến sĩ cộng sản là chú nhiệm háo Sông 1 lương (1937) để lấy

hoạt động văn học trên báo chí làm hình đấu tranh

Đặng Thái Mai, N guyễn Văn Tố, Vương Kiên Toàn, Đ ào Duy Anh,

Phan Anh, Trần Khái Giư (Khải Hưng), Nguyễn Văn Tuyên, N guỵ Như Kon

Tmn, Tôn Q uang Thiệt là những người sáng lập ra Hội truyền bá chữ Quốc

ngữ Báo chí là công cụ đổ họ liếp lục phổ hiến chữ Q uốc ngữ, chống nạn thất

chúng- cơ sở xã hội để báo chí trí thức tồn lại và phát triển

Họ vừa học, vừa viếl báo; vừa kếl hợp làm báo với tuyên truyền chữ quốc ngữ Bản thân sinh viên Iham gia rất sôi nổi Irong phong trào Đông

Dương Đại hội Và chính họ đã đóng một vai trò khá lích cực viếl truyền đơn,

viết báo đổ cổ động phong trào

Nổi bật trong làng báo chí của giới trí thức là Thanh Nghị báo- Báo lớn của giới li í thức l ây học, Ta học và tliâm chí cả Nho học Nội d ung cúa báo

rất phong phú, bàn về các lĩnh vực: chính Irị, xã hội, khoa học kỹ thuật, văn

hoá, nghệ thuật Nhưng, m ục đích chủ yếu của báo là làm cho dân ta biết cái

/mới, liếp thu cái mới dể cải cách cái cũ Chính vì lẽ đó, Thanh Nghị có sức sống mạnh mẽ hơn các báo khác cùng Ihời

Ngoài ra, còn có các báo đại diện cho khuynh hướng tiến hộ, dân chủ

được ấn phẩm trong thời gian này ở Bắc kỳ có báo Người Mới, Ngày Mới

(Khuynh hưởng xã hội), De main (Đảng xã hội), Effort (Tiếnbộ); ở Nam kỳ có

Tiến tới, Đông phương (Ihuộc xu hướng liến bộ), Mới (Thanh niôn dân chủ)

Tiếng nói chung của háo chí liên là lán thành, hoà đồng cùng phong

trào đấu Iranh chung của dân lộc đòi quyền lập lự đo, dân chủ, đòi ân xá lù

chính trị phạm và tuyên Iruyền tư iưởng dân chủ trong đời sống xã hội Với sự

Trang 19

lham gia lích cực của Irí 111 ức, háo chí giai đoạn này còn góp phần tạo ra nền quốc văn mới Sự đóng góp không nhỏ trên đã dẫn đến hiện tượng đặc thù là

nền quốc văn mới ử nước la llioál thai từ ngôn ngữ háo chí Đây cũng là nét

khác biệt, khác với các nước châu Âu (ở châu Âu ngôn ngữ văn học có trước

ngôn ngữ báo chí)

Ngoài ra, còn có mội số háo chí thuộc các khuynh hướng lư tưởng khác

cũng xuất hiện ấn phẩm Irong Ihời kỹ này

Như vậy, dù là báo cách mạng, hay là báo chí của giới trí thức thuộc

khuynh hướng dân chủ tiến bộ Irong giai đoạn lịch sử này thì họ đều gặp nhau

ờ m ục đích chung là: Đấu tranh đòi hoặc yêu cầu chính phủ thuộc địa Pháp cải

thiện Tự do, Dân chủ và Dàn sinh Thông qua đó báo chí trí thức tự thân vân

động để kháng định vị trí của mình trong dòng háo chí chung của dân lộc Và,

sự phát triển của báo chí trí Ihức trong những năm 1936-1939 đã phản ánh

một quy luật tất yếu là sự nghiệp báo chí của trí thức Việt Nam không Ihể lách

rời, đơn lập với dòng háo chí dân tộc, với lịch sử đấu tranh giành độc lập của

dân tộc Và, cũng chính sự trương thành của giới trí thức Irong làng háo là mội

nhân lô tích cực thúc đẩy sự phát triển ngày càng vững chắc nền báo chí nước

nhà, vào sự nghiệp đấu tranh chung của dân lộc

Trí lliức Việi Nam trong phong trào đấu tranh dân chủ luôn là lực lượng

tiến bộ, đi đầu Irong phong irào đấu tranh chung của dân tộc Thông qua các

bài báo, bài chuyên khảo, lạp v ă n b á o chí của họ đấu tranh đòi lự do, dân

chủ; chống lại chế độ phản động thuộc địa, lên án chê độ thực dân, xoá bỏ hủ

lục phong kiên và cái chạm liên của nho giáo; xây dưng nền văn hoá mới phù

hợp vơi sự phái triên khoa học kỹ thuât lliời đại và dân tộc, tuyên Iruyền chữ

quốc ngữ Với họ, báo chí là mặt Irận, ngòi hút là vũ khí và tri thức là hạl

Khánh Toàn, Tôn Q uang Nhiệt, Phạm Thiều, Trần M ộng Bạch, Bùi Công

Trừng, Thanh Tịnh, Xuân Diệu, Trần văn Giáp, Phan Thanh, Phan Bổi,

Trang 20

Nguyễn Văn Tố, Đặng Thái Mai, Võ Nguyên G iá p là những tri lliức- nhà

háo xây nền đắp móng cho háo chí tri ihức trong giai đoạn này

Sự phái triển cùa báo chí Việt Nam nói chung, háo chí của giới tri ihức

nói riêng trong thời kỳ Mặt Irận Dân chú Đông Dương là nền lảng vững chắc

cho sự phát Iriển của báo chí trí lliức trong thời kỳ mới, thời kỳ đấu tranh

giành chính quyền 1939-1945

1.2 N hững biến dộng lớn cùa th ế giới và Đ òng Dương có ảnh hường tới

báo chí của ị»iói trí thức giai đoạn 1939- 1945.

Sự phái triển của báo chí Việt Nam, trong đó có báo chí của giới trí thức

giai đoạn 1939-1945 chịu sự chi phối bởi những biến động lớn của thế giới và

Đông Dương

quốc tế đã phát triển đến cực điểm, cuộc chiến Iranh Ihế giới thứ hai diễn ra

trên phạm vi loàn thế giới

Khởi đầu, Đức chiếm đỏng Áo (3/1938) và Tiệp Khắc (3/1939); Ý

chiếm An-ba-ni (4/1939) và đến tháng 9/1939 phát xít Đức gây chiến tranh

xâm lược Balan (1.9.1939) Cuộc chiến tranh thế giới hai đã bùng nổ ở châu

A

Âu

Tiếp iheo, các nước đố quốc luyên chiến với nhau Đciy là “cư hội” dó’

Đức tấn công Pháp Đến tháng 6 năm 1940, chính phủ Petain đầu hàng và trử

thành lay sai cho Đức Quốc xã Vì thế, xứ Đông Dương thuộc Pháp cũng bị

lôi kéo, vào cuộc chiến tranh tàn khốc trên

T rong những năm chiến tranh thế giới hai diễn ra, Việt Nam đã trở

thành cái “m ỏ ” để Ihực dân Pháp đào khoét và vơ vél, là nơi cung cấp nhân,

vật lực cho chính quyền Catroux, Decoux, cho chính phủ Pelain theo đuổi

cuộc chiến tranh ở Đông Dương Những thành quả tự do, dân chú mà cuộc dấu

Trang 21

Iranli của quán chúng giành (lược trong những năm 1936- 1939 bị thủ tiêu bởi

chính sách khủng bố, đàn áp của chính quyền thuộc địa phản động Pháp

Vổ mặt quân sự và kinh tế, iháng 9 năm 1939, khi cuộc chiến tranh ihê

giới hai bùng nổ ở châu Âu, Toàn quyền Calroux phát lệnh lổng động viên

nhằm cung cấp tối đa về binh lính, nhân công, sản phẩm và nguyên liệu tiếp

ứng cho “ Mẫu q uốc” Bộ máy dàn áp (Quân dội, Cánh sá t ) dưực tăng

cường, lệnh Ihiếl quân luật được han hố, và cuối cùng là ihựe hiện chính sách

phát- xít hoá bộ máy cai trị đi đàn áp phong trào cách mạng Đông Dưưng

Một vài số liệu sau đây đã nói lên chính sách vơ vét, bóc lột đến tân

cùng đối với dân tộc Đông Dương của thực dân Pháp

“Năm 1937, số tiền thu được qua viộc xuấl cảng khoáng sản (xi măng,

than, kim k h í ) là 199336000 France” (41-106,107) “Tiền thuế Ihu được

Irong năm 1940 là 134.000.000 (Đồng bạc Đông Dương)” (43-8) còn về nhân

lực, riêng lính ihự, chí tính hai iháng dầu khi chiến tranh thế giới hai nổ ra, cỏ

hơn 70.000 người dân Đông Dương phải lao động trong các cống xưởng quốc

phòng” (41-374) Việc tuyển lính là người Đ ông Dương để làm nguồn dự trữ

chuẩn bị ứng phó lổng chiến tranh là 90.000 người, đạl quan số kỷ luật cao

nhất của quân đội Pháp ở Đ ỏng Dương.

Về chính trị: Sự lliay đổi chính sách cai trị lừ chế độ dân sự sang c h ế độ

quân sự, thực hiện chính sách đàn áp “loàn diện và mau chóng” Cụ thổ là, ra

sắc lệnh giải lán Đ ảng cộng sản (26/9/1939), thẳng tay truy hắt và đàn áp

những người cộng sản Toàn quyền Dccoux còn đề ra các sắc lệnh mới: Tịch

ihu, giải tán các hội ái hữu, nghiệp đoàn, cấm hội họp, nghiêm cấm việc luyên

Iruyền chủ nghía cộng sán

Lợi dung sự khác hiệt về lỏn giáo và dân tộc, chính quyền thuộc địa

dùng chính sách chia rẽ, mua chuộc làng lớp quan lại và kích động linh Ihần

chiến tranh trong dan chúng; lăng cường xây dựng nhà tù, lực lượng cảnh sát

Trang 22

v ề văn hoá nói chung và đũi với háo chí nói liêng, chính quyền thực

dân còn ban bô những nghị định, sắc lệnh ngặl nghco hon

đã ban hành 18 văn bản liên quan đến việc ngăn cấm phái hành và kiểm duyệl

báo chí Và, riêng ử H à Nội ngày 2/9/1939, toàn quyền Catroux đã ban hành

sắc lệnh đình chí, lịch thu tài sản của các báo, như háo Ngày nay, Dân chúng,

T h ế giới, Đời n a y , ; cấm các loại báo đưa lin giúp cho một cường quốc khác

chống lại nước Pháp, hay có tác động đốn linh thần binh lính và nhân dân Và,

từ năm 1940 tới năm 1943, cỏ 17 lờ báo hàng ngày và tạp chí ở Bắc Kỳ đã bị

đóng cửa

Điển hình, Nghị định ngày 27/10/1941 của Toàn quyền Đông Dương về

việc kiểm soát giấy in báo, quy định số Irang và khổ của báo Tăng cường vai

Irò của phòng kiểm đuyệl của “ Sở thông tin và luyên truyển báo ch í” phối hợp

với Sở mật thám Đ ông Dương kiểm duyệt loàn bộ ấn phẩm với nghị định Irên,

háo chí Việt Nam bị đặt dưới sự kiểm soái nghiêm ngặt của chính quyền ihực

dân Pháp

Như vậy, mục đích và thủ đoạn của Ihực dân Pháp là muốn làm chếl

một phẩn quan trọng dân chúng và dìm số còn lại trong cảnh đói nghèo, đ ó là

cái tay hãm tốt nhất m à lên Thống sứ Bắc Kỳ (Chau vct) đã tìm ra đổ làm

giảm bứl lòng hăng hái yêu nước của các giai táng liến hộ Việt N am ” (37-

187) Cùng với những chính sách về kinh tế, quân sự và chính trị, chính quyền

ihực dân thắng tay đàn áp các nhà vãn hoá có lư tưởng tiến hộ, dân chủ, yêu

nước và chống phát-xít Tầng lớp trĩ thức từ nho học đến Tây học, từ những

người mà cả sự nghiệp cầm búl cho đến các nhà háo cách mạng đều bị nghẹt

thở, bị bần cùng hoá vì c h ế độ áp bức Irôn Người làm háo, các chủ báo trí

thức ử Việt Nam trong những năm chiến tranh Ihế giới hai vừa hoạt động vừa

phái đối đầu với những thủ đoạn thâm độc của chính quyền thực dân Vừa cấm

đoán, vừa kiểm duyệt và lại tăng cường phái hành tài liệu, tổ chức các cơ quan

Trang 23

các đoàn thổ văn hoá đê nhồi sọ, mua chuộc và hăm doạ các nhà văn hoá,

luyên Iruyền văn hoá hảo thủ Ihởi Irung cổ, văn hoá ngu dân, tuyên truyền chú

nghĩa đầu hàng và chủ nghía ái quốc hẹp hòi, mù quáng Vì thê, dã cỏ những

nhà báo chuyên nghiệp, những người làm háo khổng chuyên có lúc ngộ nhân

chính sách “ Khai h o á” của ch ế độ thực dân Báo chí, bài viết của họ đi ngược

lại lợi ích dân tộc Tuy nhiên, sô đó chỉ là cá hiệl Thực dân Pháp càng lăng

cường bộ máy ihống trị phát- xíl và chính sách áp hức ở Đông Dương hao

nhiêu, thì linh thổn dân tộc, lòng yêu nước và phong trào dấu iranh giành độc

lạp dân lòe của các giai lổng xã hội hị áp hức, hóc lột dâng cao bấy nhiêu

Trên cư sử đó, sức m ạnh của các phong trào yêu nước, dân chủ và cách mạng

ở Việi Nam được nhân gấp bội Những người trí thức làm báo đã đóng góp

Iĩìộl phần sức lực không nhỏ vào phong trào dấu tranh cách mạng chung đó

Trung Quốc, Việt Nam nói riêng và Đ ông Dương nói chung đưực coi là khu

vực có ý nghĩa chiến lược về quân sự, kinh lô' của quân phiệt Nhạt Bản trong

k ế hoạch Nam tiến và ý đổ xây dựng khối “Thịnh vượng chung Đại Đông Á”

K ế hoạch xâm nhập vào klni vực này được thực hiện iheo từng bước như

sau: T uyên ti uyền, xâm nhập kinh lố, hoại động gián liếp và gây áp lực hằng

quân sự Và, đến 9/1940, pliál xít Nhật đã quyết định dùng lực lưựng quân sự

tấn công vào các đồn binh của Pháp ờ Lạng Sơn Sự thất hại của quân đội Pháp

đã phản ánh rõ sự yếu ớt của chính quyền toàn quyền Catroux, và từ “ M ùa thu

1940, phái xít Nhậl đốn xâm lăng Đ ông Dương đổ mở thôrn căn cứ đánh đồng

minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật (17-

556)

Đông Dưưng đã rơi vào lay quân đội Nhật Bán và Pháp mất vị trí Ihống trị ỏ

Đông Dương

Trang 24

Phát xít Nliậl xâm nhập Đông Dương, chúng đã cấu kết với thực dân

Pháp, vơ vét, hóc lộl và thống trị các dân lộc Đòng Dương

Vổ kinh tế, mặc dù Đ ông Dương thuộc Pháp đang Irong thời kỳ khủng

hoảng và rối loạn, nhưng Nhậl Bán vẫn yêu cầu chính phủ Toàn quyền

Decoux ký m ột Ihoả hiệp cung cấp gạo Irong năm 1941 Theo đó Đông Pháp

phải xuất 100.000 tấn gạo từ Sài Ciòn sang Nhại, và trong một năm phải vận chuyển 1.000.000 tấn gạo cho quân đội Nhạt

Sau hiệp ước Tokyo, ký ngày 6 tháng 5 năm 1941 giữa Nhật Bản với

Pháp, phát xít Nhạt đã thực sự “ làm chủ kinh lế Đông Dương” , lự do bỏ vốn

đầu ur khai ihác và hóc lột sức lao động Sự hiện diện của quân đội Nhật ử xứ

này càng đẩy các dân tộc Đ ông Dương vào cảnh khốn cùng Nhân dân lao

dộng cùng một lúc chịu hai lầng áp hức Pháp và Nhật

Về chính trị ở xứ Đ ông Dương, từ tháng 9 năm 1940, tình hình chính trị

xã hội và văn hoá hết sức phức tạp iliện lượng “chính quyền kép” được hình

thành, đó là Pháp và Nhật cùng ihống trị Một mặt, quân dội Nlìậl lợi dụng hệ

thống chính quyền của thực dân Pháp phục vụ cho m ục đích chiến tranh, đồng

thời lừng bước xây dựng hệ thống quản lý "nhấl quyền" để gạl Pháp và để thực

hiện k ế hoạch “Đại Đông Á ”

Các tổ chức chính trị thân Nhại, như Việt Nam phục quốc Đ ảng

(11.1940), Đại Việt (Đại Việt Q uốc dân đ ả n g ) ra đời.Thành phần tham gia

vào các lổ chức liên gồm đủ các láng lớp, trong đó có những người Việt được

thành lập Tóm lại, trong những năm 1940, 1941 “những Đảng thân Nhâl mọc

ra như n ấ m B ọ n này mưu m ô gạt cái ách của Pháp dể quàng cái gông của

Nhạt” (3-385)

Trong lình vực văn hoá, ngay từ khi đặl chân vào Đ ông Dương, quân

phiệt Nhậl rất coi trọng các hoại động này nhằm lôi kéo tầng lớp Irí thức Việi

Nam phục vụ ý đồ chính trị của mình Chúng thành lộp cơ quan bộ văn hoá

Nhật - Đông Dương (sau đổi tên Viện văn hoá Nhại - Việl), đưa các nhà

Trang 25

nghiên cứu văn hoá của một số Irường cao đẳng ở Tokyo đến giới thiệu về văn

hoa Nhại Bản, triển lãm tranh, diễn thuyết, ấn phẩm, báo chí, Mặt khác,

chúng cũng không kém gì lliực dân Pháp, thang lay đàn áp, đe doạ các nhà

văn lioá chống Nhật, mua chuộc trí thức có trình độ Các hoạt động văn hoá

trên đều nhằm m ục đích: phô trương, tuyên Iruyền và lừa phỉnh, chia rẽ khối

đoàn kết các dân tộc Đông Dương, các giai tầng trong xã hội Việt Nam Học

thuyếl “Đại Á ” , “khối thịnh vượng ch ung” , “ Anh cả da vàng” luôn được đưa

lên trang nhất của các báo thời đỏ Đ úng như lời nhận xét của nhà sử học Trần

Huy Liệu:

“ Không đầy một thế kỷ, bọn quân phiệt Nhật đã lừa những người Việt

Nam đi ihco chúng tới 5 lẩn C hỉ tính riêng trong có 5 năm (1940 - 1945),

chúng đã lừa đi lừa lại 4 lần” (37- 8)

Nhưng, các chính sách về chính trị và văn hoá m à quân phiệt Nhậl đã áp

đặt ở Đ ông Dương không thể lôi kéo và làm giảm bớt linh Ihần dân lộc, sự

hăng hái đấu tranh vì độc lập, tự do cho đất nước của các nhà tri thức Việt

Nam Từ những Ihủ đoạn trên, họ càng có cơ sớ để nhận ihức được bản chấl

xâm lược của Nhạt Bản

Dương, tăng cường đàn áp v à ’khủng bố các phong trào yêu nước, đấu tranh

đòi độc lập dân tộc NgưcVi chịu hậu quả đólà công nhân, nông dân, lư sản dân

tộc, tiểu lư sả n Irong đó có tầng lớp làm báo xuất thân lừ tri thức Đời sống

tinh thần, vật chất của họ vốn đã bị bần cùng hoá, bị o ép càng hị đẩy vào tình

trạng khốn đốn và cùng cực hơn Hàng triệu người dân nông thôn, thành th ị

chịu cảnh đói và rét Hơn hai Iriệu người ở Bắc và Trung Kỳ hị chếl đói là mộl

minh chứng về tội ác của Pháp và Nhật ở Đông Dương

Các tầng lớp, giai cấp Irong xã hội Việt Nam đều bị diêu đứng, trong đó

“các giới tri thức văn hoá khổng cỏ việc làm, bị thiếu ihốn, hắt hủi, bó buộc và

cám dỗ một cách đê tiện (3 -3 8 5 )

Trang 26

Đó cũng là nguyên nhân đổ lý giải sự chuyển hiến về nội dung, ý thức

chính trị, linh thần dân tộc của báo chí Việt Nam thời kỳ 1939 - 1945 nói

sự là một hước chuyển về ý thức của Irí lliức khi sử dụng háo làm công cụ đấu

tranh chống kẻ thù, tuyên truyền chính sách của Mặt trận Việt Minh, truyền

há vãn hoá mới trong dân chúng Và cũng thông qua đỏ, n i Ihức làm báo lự

khẳng định vai trò và nhiệm vụ của mình trước sự đòi hỏi của vận hội cách

mạng Tiêu hiểu cho dòng háo này là báo Thanh Nghị, Ngàv nay và Khoa

Học

1.2.4 Tinh thần dân tộc, lòng yêu nước và sự hăng hái đấu Iranh trên

mặl trận háo chí của giới trí thức càng dược nâng cao hơn khi có sự soi rọi các

nghị quyết, chỉ thị của Đ ảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh

Sau khi về nước (ngày 28 tháng 1 năm 1941), trước những hiến đổi lớn

của cuộc Ihế chiến hai, cũng như sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách

mạng trong nước, Nguyễn Ái Quốc đã Iriệu tập và chủ trì Hội nghị Ban chấp

hành Trung ương (Hội nghị lần thứ tám) từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm

1941) Hội nghị đã phân tích nguồn gốc, dặc điểm và tính chất của cuộc chiến

tranh thê giới ihứ hai, nhận định về lình hình chính Irị, xã hội ở Đông Dương

và sự phát triển của cuộc đấu tranh cách mạng ở Việt Nam và đi đến khẳng

định chủ trương và nhiôm vụ cách m ạng ở giai đoạn mới Tiếp tục thực hiện

chủ trương tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày ” ,

thay hằng khẩu hiệu “Tịch thu ruộng đất của bọn đ ế quốc và Việt gian chia

cho dân nghco” , chủ trương thành lập mặt trận dân tộc thống nhất và xúc liến

còng tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ Irang Đó là nhiệm vụ trọng tâm của cách

mang, của dân tộc và của Đ ảng trong giai đoạn này Tư tưởng, đường lối và

chủ trương Irên cỏ ý nghía quyết định cho sự phát Iriổn cúa háo chí Irong giai

đoạn mới vồ ur tưởng, nội dung

Đối với tầng lớp trí thức, thanh niên học sinh, tháng 2 năm 1943,

Thường vụ Trung ương đã nêu rõ trong nghị quyết:

Trang 27

Mội Ixong những đặc diêm của phong trào cách mạng Đông Dương

trong giai đoạn này là illicit mộl phong trào cách mạng quốc gia lư sản và

phong trào thanh niên học sinh Do đỏ, cuộc vận động cách mạng ở Đông

Dương vẫn hẹp hòi, cỏ lính cách công nồng hơn là lính cách loàn dân tộc” (3-

385)

Đ ể phái líiển lực lượng và mở rộng hộ Ihống tổ chức đoàn thể trong

mặt irận, phải “biết lợi dung mọi khả năng công khai hay hán công khai mà lổ

chức những đoàn thể đơn sơ của quần chúng có lính cách kinh tế, văn hoá hay

ihể dục.v.v đặng đổ đoàn kết quần chúng Tuyên truyền cổ động hợp với

chính sách lập m ặt trận của Đ ản g

Báo sách của Đảng cũng như của mặt trận phải viết ihật dễ hiểu, văn

phải cám động, hùng hồn và không khỏ khan Báo chung của mặt trận phải

phản ánh quyền lợi của các giới, phải bớt về chính trị, để cỏ thổ chú Irọng về

văn hoá, nghệ thuật, thể dục” (3-390) Đối với các nhà văn hoá tri thức, nghị

quyếl của Đảng nêu rõ: "Đảng cần phải phái cán bộ chuyên môn hoạt động về

văn hoá đặng gây ra một phong trào văn hoá tién bộ, văn hoá cứu quốc chống

lại văn hoá phát xít Ớ những đô thị văn hoá như Hà Nội, Sài Gòn, Huế.v.v

phải gây ra những tổ chức văn hoá cứu quốc và phải dùng những hình thức

công khai hay bán công khai đặng đoàn kết các nhà vãn hoá” (3-397)

Tiếp đó, Tổng bộ Việt Minh đã công bố Tuyên ngôn, chương trình và

điều lệ Để giành được độc lập dân tộc, phải “ liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân

dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, đang cùng

nhau đánh đuổi Nhật - Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng lên

mội nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà”(4 - 2 16,217)

Từ chủ trương trên, tầng lứp trí ihức được tập hợp lại Một trong những

hoại động rõ nét nhất là “Đề cương văn hdầ Việt N am ” (năm 1943) được

tuyên b ố Ihành lập Hội Quốc ngữ, Hội Văn hoá cứu quốc Việt Nam với tạp

chí Tiền Phong và đến tháng 6 năm 1944, Đảng Dân chủ Việt Nam ra dời Các

tổ chức trên đã thu hút đông đảo lực lượng trí Ihức, bao gồm các nhà vãn hoá,

Trang 28

văn nghệ, làm h áo Chính họ, tầng lớp trí thức liến hộ đã hăng hái luyôn

truyổn cho Mặt trân Việl Minh, giác ngộ nhân dân lao động Ihông qua háo chí

của mình

Trong thời điểm sôi động của phong trào đánh Plìáp, đuổi Nhật, các lổ

chức trên là mội gia đình lứn của tầng lớp Irí thức Việt Nam trong cuộc đấu

tranh giành độc lập dân tộc

Hoạt động báo chí của họ ngày càng đi đúng quỹ đạo hơn, khi tàng lớp

trí Ihức đã tự chuyển rnình Irong dòng thác cách mạng chung của dân tộc

1.3 Lực lượng trí thức - nhân tô quyết định sự trưởng thành của báo giói

trí thức thời kỳ giành chính quyền (1939 - 1945).

trí thức tiếp lục trương thành, đồng hành với dân tộc liên con dường đấu Iranh

cách mạng Chỉ tính riêng năm 1939, năm đầu của cuộc chiến tranh thế giới

hai, mặc dù chính quyền thực dân Pháp lăng cường hiện kiểm duyôl, nhưng số

tờ phái hành của báo ở Đông Dương vẫn được 136 tờ (gồm các thứ tiếng Anh,

Pháp, Hoa, Việt) và 216 tạp chí Đến năm 1942, có 200 lờ và năm 1945 (sau

ngày Nhật đảo chính Pháp vẫn có 150 tờ lưu hành) Đó là chưa kể những tờ

báo cách mạng phát hành hí mật Sự hiện diện của báo giới trí thức rất da

dạng Báo Ngày Nay có sự tham gia của Thanh Tịnh, Xuàn Diệu, Huy Cận, Tú

Mỡ, T h ế Lữ, Nguyễn Gia Tri Lúc đầu, họ rất chú ý đến nội dung về văn học,

sau chuyển sang lĩnh vực chính trị Các nhà háo họ chủ trương duy tần và cấp

tiến xã hội, bỏ tập tục cũ và đi vào nếp sống Âu hoá cho người dân thành thị

báo Vũ Đình Long (là giáo viên tiểu học), Nguyễn Công Hoan Những hài báo

của nhóm Tân Dân đã lạo dựng món ăn tinh thần, văn hoá cho Ihành phần

trung lưu và phụ nữ Báo đã góp phần làm phong phú nội dung trên nền báo

chí

Trang 29

Tạp chí Văn Mới của nhóm Hàn Thuyên, gồm Trương Tửu, Đặng Thái

Mai, Nguyễn Đức Quỳnh Đ ặc điểm của nhóm trí 111 ức này là dũng cảm vận

dụng ngôn ngữ văn học, lịch sử và Iriếl học đổ tuyên truyền chủ nghía Mác -

Angcl, thông qua nhà báo Và, vì thế nó đôi lập với Tri Tân và nhóm Tự lực

Văn đoàn

Văn Lang tạp chí (Sài Gòn), Tao Đàn lự lập các cây hút nổi tiếng như

Phan Khôi, Hoài Thanh, Nguyễn Tuân, Lưu Trọng Lư Trên báo, các nhà báo

trí thức hô hào dân chúng học tập khoa học kỹ thuật phương l ây, nhất là đối

với tầng lớp ihanh niên

Trung Bắc Chủ nhật do N guyễn Doãn Vượng làm chủ bút (3/1940), đã

dung hoà nền văn hoá Đông - Tây bằng cách giới thiệu những đặc điểm của

văn minh trên báo

Báo Nam Kỳ tuẩn báo, Đại Viộl lạp chí, Vịt Đực, Con Ong là háo đại

diện cho giới Irí thức trung lưu Nam Bộ, báo Thanh Niên (9/1943 đến 9/1944)

do kiến Irúc sư H uỳnh Tấn Phái, Lưu Hữu Phước, Bùi Huy Bộ làm nòng cốt

Nhưng phát bản nhiều nhất, thu hút đông đảo bạn đọc nhất và có ảnh

hưởng lớn tới xã hội Viẹt Nam lúc đỏ là Tri Tân, Khoa học và Thanh nghị

báo

Báo Tri Tân (6/1941) của nhóm Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Tường

Phượng, Chu Thiên, K huông Viột, đã đẩy tờ báo của trí thức theo khuynh

hướng cấp liến Nội dung của háo chủ yếu dề cập đến các vấn đề thuộc lĩnh

vực văn hoá

Báo Khoa Học do Nguyễn Xiển, Nguy Như Kon Tum pỉụi trách Thời

đó, háo được đề cao là phương tiện tuyên truyền, giáo dục kiến Ihức khoa học

kỹ thuật cho xã hội đạt hiệu qua cao nhất Một trong những thành công đó là

sự ra dời bộ sách (Từ điển): Hệ ihống danh lừ khoa học bằng liếng Việt

Báo Thanh Nghị do luật sư Vũ Đình Hoe làm chủ nhiệm, có trụ sở lại

5? phố Rolarw (Hai Bà Trưng), lưu hành 4 năm (5/1941 đến 5/1945) Báo đãBáo Tự Tri, báo của Tổng hội sinh viên do Nguyễn Xuân Canh là chú

Trang 30

hội lụ dược những cây bíu Tây hoe nổi tiêng như: Phan Anh, Dương Đức

Hiền, Đặng Thái Mai, Đỗ Đức Dục, Hoàng Xuân Hãn, Đinh Gia Trinh, Trần

Văn Giáp là lớp trí thức đo Pháp đào lạo 'ở Pari hoặc ở Đ ông Dương.

Báo Thanh Nghị là liếng nói của lớp trí Ihức trỏ đang khao khát lìm đến

những cái mới của thời đại Họ muốn có cái riêng Irong lình vực tinh thần, văn

hoá Bởi vạy, Thanh Nghị là công cụ cần thiết, là diễn đàn là phương tiện

thông tin và tuyên truyền của họ Với nhận thức tiến bộ, háo Thanh Nghị đã

giúp công chúng Việt Nam nhận tliírc được vị trí, ý nghĩa của khoa học kỹ

thuật trong đời sống, trong cuộc sống canh tân đất nước

Báo Thanh Nghị đã đóng góp rất nhiều thành tích trong lĩnh vực hoạt

động chính trị, xã hội: Tham gia lích cực trong Mặl trân Việt Mình (như

Dương Đức Hiền, Bùi Huy Cận), là người bổ sung lực lượng cán hộ trí thức

dặc biệt quan tâm giáo dục thanh niên

Đ iểm qua những báo trên, Báo chí của trí thức ở những năm 1939 -

1945 đã kh ẳn g định rõ vị trí của mình Irong làng báo chí Việt Nam

trường thành có khác nhau: Nhỏm trí thức được đào tạo ờ Pháp N hỏm trí thức

được Pháp đ ào tạo ở Đông Dương Nhỏm trí thức xuất Ihân lừ ihành phần nho

hoc hay thành phẩn (rung lưu nhưng do cùng là người dân của xứ thuộc địa,

lại là đại diện lực lượng dân cư cố trí thức nên họ luôn là người phát ngôn các

nguyện vọng dân chủ, đấu tranh và lên liếng hênh vực quyền lợi củ a đại đa số

nhân dân lao động Thậm chí, có những khoảnh khắc lịch sử, nguời trí thức

tiến bộ là "Người lính xung kích"(42-173) Chính N guyễn Ái Q uốc là nhà trí

thức - nhà giáo - nhà báo cách mạng đại biểu cho lực lượng trên của dân tộc

Việt Nam trong thố kỷ XX Nguyễn Ái Quốc dùng báo Le Pari (Người cùng

khổ) làm công cụ đấu tranh chống chủ nghĩa đ ế quốc, tuyên truyền và lập hợp

quần chúng làm cách mạng giải phóng dân lộc Nhà báo Nguyễn An Ninh, với

nhũng hoạt động của ông trên lĩnh vực báo chí đã đcm lại một luồng gió mới,

Trang 31

đottrt ra ớ i tro n g nghể4ftffl-báo nước ta và đổ lại dấu vết đáng kổ Irong lâm chí

của thanh niên Tây học trong những năm 20 Và chính háo của ông đã xứng

đáng là cơ quan chuẩn bị cho lương lai dân tộc la.Nhò cỏ trí Ihức, háo của họ

rất liến hộ về hình thức, hiên đổi về chất lượng nội dung Khác với giai đoạn

1936 - 1939, những tờ háo trong những năm 1939 - 1945 đã phát triển theo

hướng chuyên sâu trong từng lĩnh vực Báo hàn về chính trị xã hội, về khoa

học, giới thiệu các nền văn minh của phương Tây, của Trung Hoa Bản thân

những cây húi đó vừa là nhà báo - nhà văn như Ngọc Giao, Nguyễn Công

I ỉoan, N guyên Hồng, 11uy Cận, Tú Mỡ, Nam Cao, Lưu T rọng Lư, Nguyễn

Tuân, N guyễn Xuân Sanh Vừa là nhà báo - nhà chính trị như Nhất Linh, Khái

Hưng, H o à n g Đạo, Trương Tửu, Nguyền Đức Q uỳnh, Vũ Đ ìn h Dy; vừa là

nhà báo - nhà nghiên cứu như Vũ Đình Hoc, Phan Anh, Đinh Gia Trinh , Đỗ

Đức Dục, H oàng Xuân Hãn, Đặng Thái Mai, Phan Trần Trúc, Nghiêm Xuân

Yêm, Vũ Bằng, Đào Trinh Nhấl, Doãn Vượng và vừa là nhà háo - nhà giáo

dục như N gô Tất Tố, Nguỵ Như Kon Turn, Phan Anh, Vũ Văn Hiền, Nguyễn

Công Tiều, V õ N guyên Giáp Bởi thế, “ tính đến năm 1944, sô người sống

bằng nghề viếl văn, viốl háo, luâl sư có số lưựng không nhỏ, đặc hiệl nghề

viết văn, dạy học lên đến 1.000 người”(39-128) Cây trí thức tốt tươi, xum xuê

cội cành liên đã cho ra những lờ báo trí thức liêu biểu: Ngày Nay, Tri Tân,

Thanh Nghị và Khoa Hoc

Trong lớp lang trí thức làm háo ấy, han thân họ do bị tác động hởi các

yếu tố nên có sự phân hoá Nhưng, lực lượng chủ yếu của giới trí thức làm háo

vẫn Ihống nhất trong tiếng nói chung: giải phóng dân tộc, canh lân đất nước

Và, “họ thống nhất với nhau ở chỗ yêu nước, ghét Tây và m uốn có một lập

đoàn chiến đ ấ u ”(38-l 16) Báo chí là diễn đàn, là công cụ để lực lượng trí thức

phục vụ cho mục đích của mình

Lô Nin có rất nhiều nhận xét Theo Mác cỏ ihể quan niệm ihành phần xã hội

của trí Ihức gồm những đối tượng cụ thể, như: nhà văn, nhà báo, những người

hoạt động nghệ thuật, các nhà lý luận tuyên truyền, giáo viên, bác sỹ luât sư

Trang 32

và các nhà hoại động khoa học kỹ thuật Nhu' vạy, nhà háo cũng được xốp vào

lực lượng trí thức trong xã hội

Còn Lê Nin, llieo ông lâng lớp trí lliức dược phân chia làm 3 loại: Trí thức tư sản, trí thức lieu lir sản và lif Ihức vô sán Lô Nin đã đánh giá cao tính tích cực cách m ạng của giới trí thức, đó là lực lượng xã hội có vai trò đặc hiệt quan Irọng trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp nông dân Họ là những người có trình độ văn hoá cao, có hiổu biốl nên thường đóng vai Im lực lượng châm ngòi của nhiều biến cô chính trị và các phong Irào xã hội

Còn ở Đ ỏng Dư(íng thuộc Pháp, lực lượng trí thức có cùng chung mộl

sô phận với nhân dân lao động, là người vừa bị hóc lột lại vừa bị chùn cp Quá

trình "Pháp hoá" về các lĩnh vực trong đó có văn hoá và giáo dục, sư du nhập

các luồng lư tưởng dân chủ, liên tiến của thời đại, lại sớm chịu ánh hưởng tư

tưởng cách mạng của các chiến sỹ cộng sản nên lực lượng trí thức làm háo ở

Việt Nam nói riêng và trí Ihức Việt Nam nói chung có những nét riêng Đỏ là

liền đề mang lại sắc thái liêng cho báo chí trí thức Việt Nam

Như vậy, theo sự phân lích của Mác, Lô Nin và thực lế lịch sử của Đổng

Dương, tố elìấl cấu thành nôn lực lượng trí thức Việt Nam m ang tính tổng hợp

Vấn đề này đã được phân lích ở m ục 1.3.2 Những người làm báo - nhà trí

ihứe, nhà học ihuậl và là nhà hoại động chính trị thuộc nhỏm trí thức Viột

Nam Irong những năm đầu ihế kỷ XX là như vạy

Trong bối cảnh lịch sử có nhiều biến động: sự íhay đổi của hạ tầng cơ

sử, sự du nhập của nền kinh tế lư bản phương Tíiy, sự xuất hiện nhiều khuynh

hướng xã hội - chính trị vào những lliập kỷ đầu, của thố kỷ XX, sự trưởng

thành của báo chí trí thức thời kỳ 1939 - 1945 đã góp phần phát triển ý thức

dân lộc và chủ nghía yêu nước trong các giai làng xã hội Việt N am , lạo những

yếu tốt thuận lợi cho những người cộng sản Iruyền bá chủ nghĩa M ác - Lê Nin

vào Việt Nam Hoại động của háo chí trí Ihức đã đỏng góp m ột phần rấl quan

trọng trong tiến trình lịch sử đấu tranh giành chính quyền llìừi kỳ 1939 - 1945

Trang 33

T hanh Nghị ra số 1 vào tháng 6/1941, tuy nhiên trước đó mộl iháng,

tháng 5/1941, Thanh Nghị - trẻ cm dã chào đời

Thanh Nghị là tờ tạp chí nghị luận, vãn chương, khảo cứu Mỗi tháng ra

mộí kỳ Từ ngày r r Mai 1942 mỗi tháng ra hai kỳ, sau đó ra hàng tuần Cách

đánh số trang giỏng như tạp chí Tri Tân, nghĩa là đánh số Irang theo từng kỳ

báo và đánh sô trang theo lừng năm

X uất xứ của tờ Thanh Nghị đã dược chủ nhiệm háo Vũ Đình Hoè kể lại

khá kỹ Irong hồi ký của ông Ban đầu chì là lâm sự của những người hạn: Vũ

Văn Hiền, Phan Anh và Vũ Đình Hoe tốt nghiệp cử nhân luât và hoại động

lích cực cho Tổng hội sinh viên cùng với Hoàng Thúc Tấn, thư ký loà Đốc lý

Hà Nội, sau đó mở xương dệt kinh doanh và Lê Huy Vân, làm việc tại toà

llumg sứ Bắc Kỳ Đứng trước lliời CIIÔC có nhiều hiến dông, là những người Irí

lliức, đau đáu trước cánh đất nước chìm trong nô lộ, một cổ hai tròng Hụ cùng

cảm nhân có m ột cái gì lớn lao phía sau cái không khí âm u ngộl ngại của đời

sống xã hội sắp xảy ra Phải làm một cái gì dó, phải chuẩn bị hành trang cho

m ột cộng đổng Ngó sang đàn anh các bậc nho gia khăn xếp Nguyễn Văn Tố,

Dương há Trạc, H oàng Thúc Trâm, Tiên Đàm, Khuông Việt, Nhậi Nam, Chu

Thiên đang vùi đầu vào vốn cổ, lục lìm những linh khí viốl cho bản háo Tri

Tân Nhìn sang Văn Mới, với những gương mặt lão luyện Trương Tửu, Đ ặng

Thái Mai, v.v dang mải mê đi lìm “một iriốt lý nhân sinh, có ích lợi Ihiốt

Trang 34

thực cho cuộc sống hiện tại của quốc dan Việi Nam” I lọ cho rằng xã hội Việt

Nam đang cần một hiện thực cho lương lai Họ quyết định ra một tờ háo Mội

lờ háo “cho giới trí thức, cho thanh niên trí thức đọc Một tờ háo, một liếng

nói công khai, hợp pháp Nhưng lining lliắn, chân thành Tất nhiên phải khéo

léo, khôn ngoan Để động viên lòng yêu nước của mọi người, trước hết là

người trí thức Đồng ihời nghiên cứu một số vấn đề của xã hội đặl ra, của dơi

sống đặi ra” (48-34)

Thanh Nghị ra đời ban đầu như là cuộc chơi có ý Ihức của một nhóm Irí

thức yêu nước, nhưng càng về sau họ càng tự tìm, nhận chân giá trị của các

vân đề đã được trình bày trên báo Các tôn chỉ, mục đích của háo đã toái lên

cân bán lư urởng của nhóm: “Thông hiểu sự vật và tu tưởng Thu nhặt tài

liệu đê g ó p vào việc giải quyết những vấn d ể quan hệ đến đời sông của dân tộc Việt Nam - P hụng sự một nền nghệ thuật chân chính phô thông mà

k h ô n g g iảm g i á ”.

Trong bối cảnh xã hội bị Pháp - Nhật cấu kết với nhau để bóc lột, bòn

l út, phục vụ cho cuộc chiến tranh ở chính quốc Chính trị, tư tưởng rối ren làm

cho lưỡi dao kiểm duyệl báo chí càng khắt khe, tàn bạo Được cụ Đoàn Kế

Thiện để lại giấy phép, lừ một Thanh Nghị “tạp chí văn chưưng - chính trị

kinh tế” đã chuyển sang xu hướng thiên hẳn lí luận khoa học, thành một

Thanh Nghị (nghị luận, văn chương, khảo cứu), và họ đã cố gắng khéo léo đưa

của mình

Trong hài viết “Trơi nước Nam làm g ì”, nhân đọc hồi ký Thanh Nghị

của Vũ Đình Hoc, xuất bản 1997 của giáo sư Đại học Pronence Trịnh Văn

Thảo, trôn tạp chí Thời Đại số 2 - 1998, xuất bản tại Paris đã đánh giá vai trò

của nhóm Thanh Nghị nói riêng và của ihế hệ “hai mươi lăm” nói chung Ông

cho rằng cái mà ảnh hưởng chủ yếu về tư urửng của họ chính là quá trình mà

thố hệ “ hai mươi lãm ” đã di qua “ Họ là những người sanh dỏ phần đông trong

giới nho gia vào hai thập niên dầu thế kỷ, họ hước vào ngưỡng cửa của học

Trang 35

đường dưới ch ế độ học chính Pháp Việt của Alhci h Sarraul năm 1917, xuống

dường đòi ân xá các lãnh lụ quốc gia như Phan Bội Châu, Nguyễn An N inh

công khai Iruy điệu và để lang cụ Phan Chu Trinh, thi vào đại học những năm

ha mươi, chứng kiến các phong trào dấu trạnh “đẩy máu và nước m ắt” của

Việt Nam Q uốc dân đảng và Đảng cộng sản, ra dường và đi tìm việc những

năm điêu đứng của khủng hoảng kinh tế, những năm hy vọng và thất vọng của

Mặt trân hình dân và những cuộc tranh chấp quốc tế đưa đến thê' giới chiến

thứ hai(48-34)

Như vậy, họ được lớn lên trong một nền chính giáo của Nhà nước hảo

hộ Họ được chứng kiến những biến thiên của giai đoạn lịch sử m à m ột dân

tộc thuộc địa phải gánh chịu của một chính sách cai trị thực dân T h ế nhưng,

họ lại phải “chấp nhận một thực lại phũ phàng: nạn trí ihức thấl nghiệp” Phần

lớn các thành viên của Thanh Nghị được học thành nghề nhưng lại không

được hành đúng nghề Như vậy, hiển nhiên trong con mắt của họ đôi với người

Pháp, với Chính phủ bảo hộ không như lớp.học gia đầu thế kỷ Họ không nghi

ngờ nữa, mà Ihực sự không (in vào Pháp, Pháp đã hèn hạ đầu hàng Đức, đã

nhu nhược chấp nhận phát xít Nhật vào Đông Dương Pháp không những phản

bội các nước thuộc địa, mà phản hội ngay cả chính mình

p Bro cheux - một giáo sư trường Đại học Tổng hợp Paris VII lại có

cách nhìn ở khía cạnh khác đổ nói lên tính cách cấp tiến, yêu nước của nhóm

Thanh Nghị, ông cho rằng “Thanh Nghị như là lấm gương phản chiếu văn hoá,

một công cụ để diễn đạt những nỗi băn khoăn, những khát vọng, những yêu

sách của một số khá đông trí lhức” (48-449)

Ong đặt mối liên hệ giữa một hôn là những người hiên tập và bên kia là

Đ ảng cộng sản Đ ông Dương Trong bối cảnh những năm 1939 - 1944 “thực đa

dạng đan xen nhiều mâu thuẫn dân tộc, giai cấp, các xu hướng khiến cho

sinh hoạt lư iưởng, văn hoá càng phức tạp hơn” (12- Nhiệm vụ hức xúc của

Đ ảng cộng sản Đông Dương lúc này là theo dõi chặt chẽ tình hình, xây dựng

lực lượng, nắm lấy thời cơ để làm một cuộc cách m ạng giải phóng dân tộc

Đ ảng vẫn không quên trách nhiệm của mình, đã đề ra bản “Đề cương vãn hoá

Trang 36

Việt N am ” đổ xây dựng “mộl nền văn hoá dân tộc, khoa học, đại chúng” Sự

liên hệ đỏ được ông lập luận và đi đến nghi ngờ mội cách võ đoán nhưng lại

không Ihiếu cơ sở thực liễn

“Phải chăng cuộc hành trình trí thức và chính trị của những người hiên

tập và cộng sự của Thanh Nghị đã tiến Iriổn song song với những sáng kiến?

Phải chăng đã có sự hoà hợp không những vì là kết quả của những mối lương

dồng về m ặ l lư ờng m à còn vì sự gắn b ó vổ lổ c h ứ c ” (48-4 5 1).

Như vậy, khuynh hướng lư iưửng lư do lư tưởng, liến bộ của nhỏm

Thanh Nghị phàn nào đã đáp ứng nhu cÀu hức lliiốl của xã hội lliừi kỳ 1939 -

1945 Họ không né tránh hiện thực xã hội, mà phản ánh hiện Ihực xã hội

Đ ồng thời họ như cảm quan được bước đi của dân lộc, như ihấy được đấl nước

dang chuyển mình

Đọc từng trang báo Thanh Nghị, cảm nhận như có một điều gì hối thúc

họ viết Đất nước đang è chề trong chính sách bóc lột tàn bạo của hai lên đ ế

quốc, lư tưởng rối ren với nhiều khuynh hướng đan xen nhưng T hanh Nghị

vẫn tin iưửng chính mình, không suy nhược nước thời loạn, chí lối cải tạo tinh

thần, rèn dũa linh thần, chí khí “Nghị lực là cái sức huyền hí để làm biến

những ý phải thành những ham muốn cao quý mạnh hdn những dục vọng tầm

thường và gìn giữ cho nó m ột sức mạnh bền bỉ” (32) M ột con người cải tạo

dược linh thẩn cho thanh cao, có những nghĩ suy cường liệt thì linh thần của

dân tộc sẽ không bị suy nhược

Yêu nước và phụng sự quốc gia là khẩu hiệu xuyên suốt hành đ ộng của

nhỏm Thanh N ghị Dù các bài viếl thể hiện dưới dạng nào, hiên khảo hay luận

bàn, sáng tác hay dịch thuật, phản ánh hiện trạng xã hội hay phân tích vấn đề,

dự báo vấn đề họ vãn không Irượt khỏi Irục đã xác định Càng về sau linh thẩn

yêu nước còn được gắn với hành động Hàng loại hài mang tính cách xã luân

như để bồi hổ thêm nhận thức về nhân sinh quan, như để xác định vị trí và

trách nhiệm trước Ihời cuộc Nhâì là tầng lớp trí Ihức, phải biết vận dụng tri

Ihức vào hành động có hữu ích cho quốc dân Tấn Phong bàn về “ học lliuậl và

hành động”đã cho rằng: “ Học Ihuậl khác hành động Đổ hành dộng ta chí cán

Trang 37

mội lòng tin; nhưng học tlìuệl hắt buộc la phải có một hộ óc vô tư, chỉ biết

phụng sự cỏ sự ihật” và học ihuậl “ nỏ hao gồm cá sự ihậl, chứ không thổ nlụm

thì không chú ý đến những sự kiện khác” Đưa ra các quan niệm đó, lác giả

phan đôi những “ lý thuyết mập mờ, những lập luận quá thiên lệch” , chỉ nguỵ

hiện mà không dựa vào thực liễn khách quan Thế Thuỵ phê phán những thái

độ khinh lliị học vấn của những kẻ mới được dăm ha chữ đã hiu môi, khinh

thường học vấn Ông cũng cho rằng nếu “tin ớ hiệu lực sẩn lài năng của bằng

cấp bằng m ột lôi ngây thơ cũng không nên” , ở m ột klìía cạnh khác, chủ

nhiệm báo Vũ Đình Hoc nêu vấn đề “ Sinh kế và chí khí” , vổ mối tương quan

của chúng “ Kẻ cỏ chí thường coi thường danh lợi Nhưng vì chí hưởng mà

chịu đựng đói rét và để vự con nheo nhóc trong cảnh thiếu thốn, là m ột cử chỉ

đẹp thì đẹp lliật, nhưng chí có nghĩa lý đỏi với một vài cá nhân cỏ trọng uácli,

ở những trường hợp bất thường mà sự hi sinh có đôi chúi hiệu lực Cử chi ấy

không ihổ dưng lliành một phương châm hành vi cho khắp mọi người, trong

lình thế ihường và lâu dài”(32) Phan Quân lại nêu lliái độ khác nhau thường

xảy ra trong đời sống nhưng lại thường lẫn lộn nhau, dó là “ lin tướng với a

tòng” Ông cho rằng “người tin iưởng có kiên gan, có định kiến, đã tin một lý

iưởng, mội chủ nghĩa thì giốc một lòng thuỷ chung như nhấl, dầu vật đổi sao

giòi, họ vẫn thờ chủ nghía của họ Kẻ a lòng, như cái chong chóng, gió chiều

nào xoay chiều ấy, rấl hăng hái tán thành như mộl lư Irào đương thịnh mà

cũng rất hăng hái đã đảo phong Irào ấy lúc nó đã gần suy” (32-S83)

Các bài xã luận trên Thanh Nghị Iron ụ thời kỳ này đã tỏ rõ thái độ

chính kiến của họ irước những vấn đề mà xà hội đang đặt ra Thanh Nghị như

ngọn đuốc chỉ đường cho giới trí Ihức thấy rõ con đường trước mắt và vạn

mệnh đối với sự hiến đổi đang đốn gần Chuẩn bị tư iướng, đổ đi lới hànli động

với m ục đích phụng sự Tổ quốc Họ chưa có một nhãn quan chính trị trước

thời cuộc n h ư những người cộng sán, nhưng họ lại nhận biêì được cái đích

Trang 38

phải đ ến , dể rồi vận dụng tri thức của mình để xây dựng xã hội trong

lương lai

2.1 2 Những nội dung chủ yếu

Thanh Nghị đại hiểu cho khuynh hướng lân học của lớp Ihanh niên trí

ihức mới 1 ỉọ tự cho “thông hiểu sự vậl và lư iưởng và muôn đứng ra Ihu nhặt

lài liệu để góp vào việc giải quyêl những vấn dề quan hệ đốn đời sống cùa dân

tộc V iệt N am ” , cho nên tờ báo có tính chất bách khoa, khảo cứu nhiều lĩnh

vực chính trị, kinh lế, xã hội, giáo dục, lịch sử

K h ảo cứu vế chính trị, hiến ph áp với nhiều bài viết của Phan Anh, Vũ

Văn Hiển, dưa ra những chính thổ dại nghị ở một số nước Pháp, Thổ, Ý, Trung

Hoa íừ đó để hàn chê độ Nhà nước ta sau chiến tranh, về xã hội tại cộng đồng

làng xà Việt Nam trên cơ sở nâng cao tinh thần cộng đồng làng xã với những

truyền thống tương ihân iưưng ái, phái triển kinh tế Irở thành những đơn vị sản

xuất nông nghiệp tiến bộ hoàn chỉnh

K h ả o cứu vê kinh t ế được lập trung chính vào hai số đặc hiệt số 7, số

đặc biệt về kinh tế Đông Dương, năm 1941 và đặc san Vài vấn đề Đ ông

Dương, dầu 1945 Các bài khảo cứu vổ nông nghiệp được chú ý nhiều hơn cả

Cây b úi chính là kỹ sư canh nông Nghiêm Xuân Ycm Ông nêu thực trạng của

dân quê dối nát lại nghèo, bởi “ tại đám Ihanh niên tân học bỏ nghồ nông kéo

nhau ra tỉnh, đ ã thế lại còn bĩu môi, khinh dân quê, lên mặt dạy người kỹ thuật

canh tá c ” Các bài viết của ông chủ yếu đi sâu vào điều tra những vấn đề cụ

thể n h ư vấn đề nước cho nhà nông; vấn đề chống độc canh trong sản xuất; vấn

đề phái triổn nghề chăn nuôi trâu h ò

G iáo dục là lĩnh vực mà Thanh Nghị đáng quan tâm nhất và cũng là

lình vực được chủ bíu Vũ Đình Hoè viết nhiều, trên các phương diện giáo dục

gia dinh, giáo dục học dường, giáo dục hình dân, vấn đồ đào lạo Ihanh niên,

xây dựng nền giáo dục Việt Nam 'Phanh Nghị coi Irọng giáo dục để làm sao

có được một thế hệ “công dân m ới” Cho nên Thanh Nghị nêu len hàng đầu

Trang 39

vấn đề cải tạo tinh thần Ihế hệ hiện nay: giáo dục nhi đổng, giáo dục thanh

thiếu niên, giáo dục hình dân theo tinh lliần mới

Khảo cứu vê lịch sử đáng chú ý loạt hài “X ã hội Việt N am từ thê kỷ

X V I Ỉ ” của Nguyễn Trọng Phấn bàng những trang dịch đặc sắc thực tế dời

sống của nhân dân Bắc Kỳ và Trung Kỳ ihời xưa, về diện mạo con người, về

phong tục tập quán, về nghề nghiệp và sự giao lưu giữa các vùng miền với

nhau qua tác động của các cha cố truyền đạo

Nguyễn Thiệu Lâu lại đặt m ột vấn đề mới mẻ hơn, ông nghiên cứu sự

ihành lập dân tộc Việt Nam trong bài “ Mộl vấn đề lịch sử nên h ọ c ” (số 27

-1942) Giáo sư Đặng Thai Mai nêu “Vân đ ề sử liệu trong s ử h ọc nước ta

ngày nay” (Số 59 - 1944), trong đó nêu phương pháp sử học có nhiều quan

ngại bởi phải xếp lại quan điểm ngày xưa, phải đối chiếu với sự thực để xác

định mộl phương pháp viêì sử mỏi cách khoa học Sử liệti cũng cẩn phải lập

hợp lại hởi có còn tân m ác trong sách vở viết bằng chữ Tàu hoặc ử thư viện

ngoài nước, lliư viCn lư nhân Vổ cúc lư liCu phải chú ý dốn hương ước, hương

thư các làng, gia phả các họ lớn, các văn bia, thi văn Các khí cụ ngày xưa như

mảnh bát, lấm áo, đồng liền cũ, con dao, chiếc nồi cũng là sử liệu quý để

chứng minh

Nhà sử học Trần Văn Giáp cung cấp cho Thanh Nghị “Lược khảo về

tiểu thuyết T àu ” và “Tiểu th u yết Việt N am xưa ’ đăng trên nhiều kỳ Tiến sỹ Nguyễn Văn Huyên cho đăng “Lược khảo vê khoa thi hội Q u ý S ử u ”, Duy

Tân llìứ 7 (1913) Đây là khoa thi m ở ra thời kỳ chính phủ bắt đầu chuyển học

sinh sang Pháp du học, học cũ sắp làn, học mới dần dần xuấl hiện Nhà học

giả Nguyễn Văn T ố bỏ công nghiên cứu “So sánh sử ta với sử T à u ” Ngoài ra

còn nhiều bài viết về sử liệu thuộc cổ sử và thời kỳ cận đại thế kỷ 17 đến nay,

nhấl là thời kỳ Nam Triều

Văn hoá là mảng chính của lạp chí Thanh Nghị “ chiếm hơn m ột phần

ha tổng số trong suốt 120 số báo, rải ra trôn hơn 3000 trang háo rất phong phú

về nội dung và thể loại” T heo ông Vũ Đình Hoè, “ Irong m ột chừng mực nhất

Trang 40

định họ đã phác Iháo ra những đặc điổm của nền vãn hoá Việi Nam trong buổi

giao Ihời giữa hai trào lưu Đ ổng và Tây, giữa hai nền vãn minh Âu - Á dang

chạm Irán nhau gần nửa thế kỷ Đ ồng thời các hài viết trên báo Thanh Nghị

cũng phản ánh phần nào sự m ò m ẫm chậl vật kéo dài của các nhà văn, nghẹ

sỹ, khoa học, lư tưởng nước ta hồi ấy, đang tìm đường xây dựng một nền văn

chương và học thuật vừa m ang lính chấl hiện đại, vừa hợp với lý trí tình cảm

của dân m ình” (48-360)

Đinh G ia Trinh là cây búl chuyên cần Irong lĩnh vực khảo luận và phê

hình văn học, ông có phương pháp phân tích sắc bén, nghiêm túc, có nhiều

nhận định hay Trong bài “X ác định địa vị văn hoá Tây Âu trong văn hoá

Việt Nam" (trong đặc san “ Vài vấn đ ề Đ òng D ư ơ n g”), ông cho rằng cái đặc

sắc mà Tây phương m ang lại là phương pháp khoa học để tìm lòi, giải thích,

áp dụng có hiệu quả Lê Huy Văn giải thích văn học nước la kể từ 1910, từ khi

có văn hoá tay Âu vào lấn ál văn hoá Trung Hoa trong bài ‘'Nghĩ về văn học

Việt Nam hiện đại” (cũng trong đặc san “Vài vân đê Đ ông D ư ơ n g ”) G iáo sư

Hoàng Xuân Hãn và nhà văn Hoài Thanh đi sâu nghiên cứu Nguyễn Du và

Truyện Kiều Diệu Anh giữ m ục điểm sách mới

M ột lực lượng sán g tác văn học mới cũng được I ’ll anh Nghị giới thiệu

Mội số cây hút trước đây viết cho nhà Tân Dân hoặc cho báo Ngày Nay như

Nguyễn Tuân, Đỗ Đức Thu, X uân Diệu, T ế Hanh, Huy C ân v ề sau, còn

mạnh dạn giới thiệu kịch Ihư của Vũ Hoàng Chương; thơ văn của nhóm “ Xuân

thu nhã lập”

Vổ hội họa âm nhạc, tiêu hiểu có hoạ sỹ Tô Ngọc Vân thường xuyên

viết cho T hanh Nghị, ông viết về Iranh cổ Iranh tết Việt Nam Ong đánh giá

công lao của hoạ sỹ Nguyễn Gia Trí đã dùng sơn la để có những mảng đẹp về

hình sắc và hộc lộ dược nội dung, lir tưởng của hội hoạ đưcíng đại v ề âm

nhạc, N guyễn Xuân K hoát được đào lạo ử lò nhạc Tây phương làm nghề kéo

dài “C ontrebasse”, viết nhiều hài kèm bản nhạc và iranh ảnh về cây đàn, cách

phát âm liếng hát

Ngày đăng: 03/02/2021, 14:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w