Phận sự Iiọsẽlrọn vẹn khi học dã hieu bài... phằix dôncỊ Ithđìt loại như.[r]
Trang 1ĐẠI HỌC Q U Ố C (ỈIA HÀ NỘI
T R Ư Ờ N G DẠI H O C K H O A IIỌC XÃ HỘI VẢ N H Â N VẤN
0 T / 3 66
C H Ủ T R Ì ị)K T Ả I : I MS P H Ạ M Đ Ì N H L Â N
C Á N B Ộ V H Ó ỉ H Ó P N Í Ỉ H I K N C Ứ U : I S 1 R A N V Ă N LA
HÀ NỘI, 12-2003
Trang 2MỤC LỤC
M Ở Đ Ầ U 5
Ị L ý do chọn đ ề tài 5
2 Tình hình nghiên cứu 9
3 Phương p h áp nghiên cứu 9
4 M ục tiêu và nội (ỉung nghiên cứu 10
5 Lực lượng tham g ia 10
6 Dô cục của đ ề tài / 1
C HƯ Ơ NG 1 NHỮNG TIẾN ĐÉ CHO s ư PHÁT TRIỂN BÁO CHÍ TRÍ THỬCVIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1939-1945 13
1.1 Khái quát báo chí trong thời kỳ Mặl trận Dân chủ ĐôngDương 1936-1939 13
1.2 Những biến động lớn của th ế giới và Đông Dương có ảnh hưởng lới báo chí của giới trí thức giai đoạn 1939-1945 20
1.3 Lực lượng trí thức-nhân tố quyết định sự trưởng thành của báo chí giới trí thức giai đoạn 1939-1945 28
CHƯ Ơ NG 2 GIÁ TRỊ NỒI DUNG CHUYỂN TẢI TRÊN TẠP CHÍ THANH NGHỊ, TẠP CHÍ TRI TÂN VÀ BÁO KHOA HỌC 33
2.1 T Ạ P CHÍ TH A N H N G H Ị 33
2.1.1 Tạp chí Thanh Nghị-Khuynh hướng tân học của lớp Ihanh niên trí thức m ớ i 33
2.1.2 Những nội dung chủ yếu 38
2.1.3 Những cây hút chủ lực 41
2.1.4 Đặc điểm của Thanh N ghị 43
Trang 32.2 T Ạ P C H Í TRI T Ả N 44
2.2.1 Tạp chí Tri Tân-Khuynh hướng tìm trong vốn cổ để m ang lại lợi ích thực tiễ n 44
2.2.2 Những nội dung chủ y ế u 46
2.2.3 Những cây hút chủ lực 49
2.2.4 Đ ặc điểm của Tri T â n 53
2.3 HÁO K H O A H Ọ C 53
2.3.1 Báo Khoa Học - Chuyên tâm phổ hiến kiến thức khoa học CƯ bản và khoa học thường t h ứ c 54
2.3.2 Những nội dung chủ y ế u 56
2.3.2.1 Báo Khoa Học phổ biến kiến thức khoa học cơ b ả n 56
2.3.2.2 Báo K hoa Học với phương pháp đặt danh từ khoa học bằng liếng V iệt 58
2.3,3 Những cây bút chủ lực 61
CH Ư Ơ N G 3 MỘT VÀI ĐÁNH GIÁ VỀ NGHỆ THUẬT LÀM BÁO CỦA TẠP CHÍ THANH NGHỊ, TẠP CHÍ TRI TÂN VÀ BÁO KHOA HỌC 66
3.1 Hoạt động của tòa so ạ n 66
3.2 Vấn đề xây dựng tạp chí và tổ chức trang b áo 68
3.3 Nghệ thuật sử dụng m ột số thể loại 74
3.3.1 Thể loại T in 74
3.3.2 Thể loại Phỏng vấn 76
3.3.3 Thể loại Điều tra 79
3.4 Phong cách của các tờ b á o 82
3.4.1 Tạp chí Tri Tân-Chuyên san về văn hóa-văn học-lịch sử 82
3.4.2 Tạp chí Thanh Nghị-Nơi biểu đạt lư iưởng của lớp trí thức m ớ i 84
3.4.3 Báo Khoa Học-TỜ báo chuyên biệl phổ biến kiến thức khoa h ọ c 85
Trang 4KẾT LU Ậ N 88
TÀI LỈỆU T H A M K IIẢ O 92
PHU L U C 95
Trang 5MỞ ĐẤU
I LÝ DO CHỌ N Đ Ể t à i
Lịch sử báo chí quốc ngữ Việt Nam trước 1945 ra đời và phát triển
trong môi trường thuộc địa, chịu sự chi phối của nhà cầm quyền Pháp ớ Đông
Dương và của quan lại Nam triều Tuy nhiên, báo chí Việi Nam lại có sự phái
triển nhanh, đa dạng về toại hình, phong phú về nội dung, từng bước đi của
báo chí gắn chặt với sự biến ihiên của lịch sử dân tộc giai đoạn cận hiện đại
Buổi đầu hoạt dộng báo chí chỉ là những tờ công báo chủ yếu phục vụ cho
quân đội viễn chinh Pháp lừng bước xâm lược nước ta Sau đỏ báo chí còn là
công cụ làm ăn kinh doanh của m ột số chức sắc chủ thầu Sau khi thực dân
Pháp căn bản xâm chiếm toàn bộ nước ta, đạt ch ế độ cai trị thì háo chí thực sự
là công cụ tuyên truyền văn hóa của chủ nghía lliực dân Tuy nhiên do sự phân
hóa xã hội trong từng thời kỳ, trong từng giai đoạn, báo chí cũng phái triển
theo những khuynh hướng khác nhau, đặc biệt sau T h ế chiến lần thứ nhất và
thời kỳ Pháp hắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai Những
mâu thuẫn về quyền lợi kinh tế, về sinh hoạt vãn hóa lư tưửng dẫn đến mâu
thuẫn trong các khuynh hướng hoại động báo chí Đ ặc biệt, năm 1925 xuất
hiện dòng báo chí cách mạng của giai cấp vô sản đã diễn ra cuộc đấu tranh
gay gắt giữa một nền báo chí thực dân và m ột nền báo chí yêu nước và cách
mạng mà thực chấl là cuộc đấu Iranh lư tưởng, văn hóa giữa báo chí vô sản,
tiến bộ với báo chí không cách mạng
T ạp chí xuấl bản định kỳ manh nha xuấl hiện lừ cuối ihế kỷ XIX với sự
ra đời tờ T hông Loại Khóa Trình (1888) do Trương Vĩnh Ký quản lý, nhưng
phải đôn 1913 với dung mạo tờ Đông Dương tạp chí và 1917 với lạp chí Nam
Phong thì lạp chí có chỗ đứng trong sinh hoạt báo chí Việl Nam đương thời
Tạp chí trử thành công cụ, phương liện hữu hiệu trong việc chuyển lái thông
Trang 6tin các vấn đề văn hóa Tây Au và khảo cứu các vấn đổ văn hóa phương Đông
nham m ục đích tuyên truyền vãn hóa Pháp , gây dựng mộl linh thần phục
Pháp đô đạl lới mục đích cai Irị hàng văn hóa đối với các nước thuộc địa Đống
Dương, đặc hiệt là Việt Nam của llụrc dân Pháp
Tuy nhiên, “mặc dù bị che mắt chi đổ lại một Irường nhìn rất hạn hẹp đồ
phòng nó đưa chiếc xe đi chệch hướng, con ngựa vãn có cuộc sống riêng luân
theo những quy luật của bản thân nỏ Báo chí Việt Nam sau khi định hình, luy
vẫn chịu sự chi phối của nhà cầm quyền trong khuôn khổ pháp lý thực (lân cực
kỳ phản dân chủ, vẫn phát triển theo quy luật nội tại của nỏ với tư cách là
những phương liện thông Ún có những người hiên lập và có công chúng riêng
cúa m ình” (1 -3)
Chính vì vậy háo chí Việt Nam Irước 1945 đã đỏng góp mội phần quan
trọng trong liến trình phái Iriển văn hỏa dân tộc, Ihúe đáy quá trình liếp xúc
văn hóa Đông-Tây; phổ biến kiến thức; lạo cho xã hội Việt Nam m ột lối sống
mới, một cách nhìn mới về Ihốgiới quan, về sự vận động của tự nhiên, của xã
hội đương thời Chính sách truyền bá văn hóa Tây Âu nhằm mục đích xây
dựng m ột c h ế độ cai trị hằng văn hóa đã mang lại mộl hệ quả lớn lao, góp
phần không nhỏ vào việc xây dựng một đời sống văn hỏa mới
Về loại hình, ngoài các lờ công háo han đẩu, các tờ báo xuấl bản Iheo
luần, kỳ, các tờ tạp chí lần lượt xuấl hiện Từ những năm đầu thế kỷ XX, loại
hình lạp chí ngày càng phát triển và thu hút nhiều cây bút xuấl thân từ các
thành phần giai cấp khác nhau, nguồn đào tạo khác nhau tham gia Điều bidu
hiện rõ nhất là các lờ báo, các tạp chí đã dành nhiều trang viếl và hút lực cho
một lĩnh vực nào đỏ phục vụ đôi iưựng nào đỏ, trong đó các lờ háo, lạp chí
mang tính cách văn hóa, khoa học, xã hội chiếm ưu ihố Người tiên phong
phải kể đến Tản Đà Nguyễn Khác Hiếu với tờ An Nam tạp chí (1926-1933)
Trên linh ihần cổ vũ cho phong trào chấn hưng dân lộc, khuyến khích con
dường làm ăn cùa giai cấp tư sản dân tộc, iưởng rằng bản háo An Nam sẽ
Trang 7chuyên tâm về Ihông lin kinh tế, Irái lại An Nam lại đặl một điểm nhấn trong liên trình phái lrió’n háo chí Việl Nam Đó là lờ báo đẩu liên lliiên về ihông tin
các vấn đổ văn hóa văn học Nhà thư Tản Đà không chí viốl háo m à còn là
người tổ chức làm báo, ông đã cấy lên An Nam hai chuyên mục: “ Việt Nam
nhị thập thế kỷ - Xã hội thiển đàm ký” ; “ Việt Nam nhị thập ihế kỷ - Xã hội
ba đào k ý ” để đăng tải những bài viếl về cuộc sống của lớp người dưới đáy xã
hội, vẽ nên những hức Iranh hiện ihựe ảm đạm mà chính sách “khai h ỏ a” của
thực dân Pháp đã mang lại Cũng lừ hai chuyên mục này, là nơi khởi đầu cho
m ột số nhà văn hiện thực phè phán dã thành danh như Nguyễn Công Hoan,
Ngô Tất TỐ
Tiếp An Nam tạp chí, trong những nãm thập kỷ ba mươi hàng loạt tờ
háo mang yếu tính văn hóa văn học lần lượt ra đời như Tiểu thuyết lliứ Năm,
Tiểu thuyết thứ Hai, Tiểu thuyết thứ Bảy, Tao Đàn Đ ặc biệt các tờ báo
Phong hóa, Ngày nay là mảnh đất riêng của nhóm Tự Lực văn đoàn, với hàng
loạt tác phẩm vãn chương dề cao cái lôi, tự do cá nhân, liến công vào dinh lũy
tiến trình phát triển vãn học nước nhà
Giai đoạn 1939-1945, với hối cảnh xã hội Việt Nam trong thế chiến thứ
hai I l l ực dân Pháp và chủ nghía phát xít Nhật bát tay nhau lìm cách bóc lột
nhân dân la, làm cho dân la lam vào cảnh “một cổ hai tròng” Sự phân hóa sâu
sắc trong sinh hoạt chính trị tư tướng đã dẫn đến phân hóa trong giới trí thức
m ột cách rõ rệt Cũng phải cần nói Ihêm rằng, đày là giai đoạn mà giới trí thức
Việt Nam đồng đảo chưa từng có lừ Irước lới nay và phong phú về ngành nghề
đào tạo Mọ bao gồm nhiều lớp người khác nhau Thứ nhất, lớp trí ihức cựu
học, trưởng thành những năm đầu Ihế kỷ XX, linh thông Hán học có liếp Ihu
Tây học và họ cũng bắt nhịp với cuộc liếp xúc văn hóa Đ ông-Tây đầu thế kỷ
Thứ hai, lớp trí thức tân học, lớp trí thức mới được đào tạo Irong hệ thống
trường học chính của chính phủ Bảo hộ, một số được đào tạo ử chính Pháp, họ
hoàn toàn liếp thu văn hóa Tây Âu, có nhiệt huyốl, linh thàn yêu nước Ihương
Trang 8nòi Thứ ba, lớp trí thức Tây học, phần lớn được đào tạo ở chính Pháp các
ngành khoa học tự nhiên và các irường kỹ lliuậl, kỹ nghệ Phần lớn lầng lớp trí
Ihức này có linh Ihần dân tộc cao, họ muốn làm mộl cái gì đó cho dan lộc
trong thời cuộc có nhiều rối ren Họ là những học giả uyên bác m à trong số họ
có những người đã một Ihời Ihân Pháp Họ không tin vào một Đại Pháp đang
khai hóa, họ nghi ngờ m ộl nước Nhạt hùng mạnh, tàn ác Chính vì vạy họ đi
vào nghiên cứu văn hỏa dân tộc, bảo lổn truyền thống, tiếp nhân văn hỏa Tây
Âu, truyền há và phổ biến những kiến thức khoa học nhằm giúp hiện đại hóa
lư tưởng văn hỏa nước nhà Các nhóm trí thức đã thành lập các lờ háo của
mình để làm nơi biổu đạt lư tưởng, the hiên mục đích hoạt động Tờ tạp chí Tri
Tân của nhóm Irí thức cựu học; lạp chí Thanh Nghị của nhóm trí thức lân học;
báo Khoa Học của nhỏm lân học khoa học tự nhiên Các tờ báo và lạp chí này
cùng ra m ắl bạn đọc lừ nửa cuối năm 1941 đốn đầu 1942
Sở dĩ chúng tôi chọn ba tờ háo liêu hiểu: Tạp chí Thanh Nghị, lạp chí
Tri Tân và báo Khoa Học bởi vì ha tờ báo này do ba nhóm trí thức tiêu biểu
chú trương T uy họ trung lập về chính uị, bế tắc Irong việc lựa chọn m ột con
đường di nhưng lại có chung một tâm trạng, một bầu nhiệt huyếl: Phụng sự Tổ
quốc Họ làm báo không phải đổ nối dài bàn lay hóc lột cho đ ế quốc và lay
sai, cũng khổng phải đi tìm lợi nhuận Irên từng con chữ, từng số báo sự biểu
hiện rõ lệl nhấl là cả ha lờ háo đều do các nhà Irí thức, khoa học góp công góp
của để xuấl bản v ề nghệ thuậl làm háo, thì các tờ báo này đã có bước nhảy
vọt Tạp chí T hanh Nghị đề cập đến các vấn đề thời cuộc, lạp chí Tri Tân
mang tính cách chuyên san khảo cứu về văn hóa, lịch sử nước nhà, tờ háo
Khoa Học m ang lính cách chuyên biệt truyền há những kiến thức khoa học lự
nhiên cơ bản, tiếp cận với khoa học hiện đại ihế giới để phát triển khoa học
nước nhà Cách tổ chức, xây dựng hệ ihống chuyên mục, sử dụng một số thể
loai báo chí đã tiếp cận với phương thức làm háo hiện đại
Trang 92 TÌNH HÌNH NGHIÊN cúu
Nghiên cứu báo chí trước 1945 dã có nhiều công trình nghiôn cứu à
nhiồu góc đò khác nhau Các tác giả Huỳnh Văn Tòng trong cuốn Lịch sử
báo c h í Việt N am từ khởi thủy dên 1945 , do nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh, năm 2000 ; lác giả Đỗ Q uang Hưng chủ biên irong cuốn Lịch sử báo chí Việt
Nam / 865-1945 có đưa ra mộl sổ nhận xét về nội dung và nghệ thuâl các tờ
háo này m ột cách khái quái, chủ yếu nghiêng về lịch đại Trong mội số công
trình nghiên cứu văn học của GS Phạm T h ế Ngũ, GS Hà Minh Đức, GS Phan
Cự Đệ có góc nhìn tác giả tác phẩm Một sổ luận văn Thạc sĩ, khóa luận lốt
nghiệp cử nhân ngành báo chí, khoa Báo chí Trường Đại học K hoa hục Xã hội
và Nhân văn đã hước đầu nghiên cứu ử tìmg mảng nội dung của từng lờ háo,
chưa có m ột công trình chuyên khảo về vai trò của trí thức đối với sự phát
triển háo chí và tác động của báo chí do các nhóm trí ihức đối với xã hội trong
giai đoạn 1939-1945
—Đ ề tài vận dụng phương pháp luận M ác-Lênin và lư tướng Hồ Chí
Minh Irong việc phân lích và so sánh, đánh giá hiện lượng sinh hoạt háo chí
giai đoạn 1939-1945 Có nhìn nhận theo hướng lịch đại, sự lác động của hối
cảnh chính trị, xã hội cho sự ra đời các tờ háo của các nhóm trí thức
—Sử dụng nguồn tư liệu chủ yếu qua các bộ báo Thanh Nghị (mã số
CV.58 ), báo Tri Tân (mã số CV143 ) ở Thư viện K H X H Ihuộc Trung tâm
K HX H và NV Q uốc gia lừ năm 1941-1945 ; báo K hoa học (vi phim ) ở Thư
viện Q uốc gia Hà Nội Chúng tôi sử dụng nguồn tư liệu trong các công trình
sử học, văn học, hồi ký của một số trí thức đương thời iham gia làm báo dương
thời, đặc biệl là các lác giá Vũ Đình Hòe, Nguyễn Tường Phượng, Hồng Nhuệ
Nguyễn K hắc Xuyên, Phạm T hế Ngũ, Huỳnh Văn Tòng, Đồ Q uang Hưng
Trang 10Ngoài ra chúng tôi còn đánh giá theo góc nhìn báo chí học đổ nhận rõ tiến
trình phát triển nghệ thuật làm báo
— C húng tôi có Iham khảo một số ý kiến đánh giá của các nhà nghiên
cứu khác có liên quan đến lịch sử báo chí như : GS văn học Hà Minh Đức, GS
Phan Cự Đệ ; GS ngổn ngữ Lê Quang Thiêm ; PGS sử học Phạm Xanh về cạc
tờ báo ra đời giai đoạn 1939- 1945 Chúng tôi cũng nhận được sự đồng tình,
cổ vũ và chỉ ra hướng nghiên cứu của đề lài
—T h ô n g qua sưu tầm, đánh giá lừng nhóm nội dung mà các tờ báo đã
chuyển tải, thậm chí khảo sát một số thể loại báo chí để lừ đó làm rõ vai trò và
đặc điểm của những tờ báo này
4 M Ụ C TIÊU VÀ NỘỈ DUNG NGHIÊN c ú u
Đề tài nghiên cứu m ột cách khái quát về hối cảnh xã hội Việt Nam giai
đoạn 1939-1945, những tác động về chính trị, văn hóa và lự thân của các
nhóm trí thức cựu học, tân học, lây học cho sự ra đời các lờ báo của giới trí
ihức
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung chuyổn tải và nghệ ihuật làm
báo của b a tờ báo tiêu hiểu : tạp chí Thanh Nghị, tạp chí Tri Tân và báo Khoa
Học Qua đó để nhận diện rõ hơn, sâu hơn, có cách nhìn toàn diện hơn về 3 lờ
báo này và thấy rõ vai trò của giới trí thức đối với sự phát triển háo chí
5 LỤC LƯỢNG T H A M GIA
— C h ủ trí dê tài : Thạc sỹ Phạm Đình Lán, Phó Chú nhiệm khoa Báo
chí, Phó Chủ nhiệm bộ môn Lý luận háo chí và háo in, chuyên ngành Lịch sử
báo chí V iệt Nam
— Lực lượng tham gia : Tiến sì sử học Trần Văn La, Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trang 116 BỐ C Ụ C CỦA ĐỀ TÀI
Đổ lài bao gồm Mớ đẩu, 3 chương và Kêl luận Ngoài ra còn có Mục
lục, Tài liệu tham khảo và các phụ lục kèm Iheo Nội dung 3 chương:
C H Ư Ơ N G I: NHỮNG TIỀN ĐỀ CHO SƯ PHÁT TRIỂN BÁO CHÍ TRÍ THỨCVIÊT NAM GIAI ĐOẠN 1939-1945
1.1 Khái quát báo chí trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ ĐôngDương 1936-1939
1.2 Những biến động lớn của thế giới và Đông Dương có ánh hưởng lớt hấo
chí của giới trí thức giai đoạn 1939-1945
1.3 Lực lượng trí thức-nhân tố quyết định sự Irưởng thành của háo chí giới trí
2.3.2 Những nội dung chủ yêu
2.3.2.1 Báo Khoa Học phổ biến kiến thức khoa học cơ hàn
Trang 122.3.2.2 Báo Khoa I lọc với phương pháp đật danh từ khoa học hằng liếng Việl
2.3.3 Những cfly búl chú lực
THANH NGHỊ, TẠP CHÍ TRI TÂN VÀ BÁO KHOA HOC
3.1 H oại động của lòa soạn
3.2 Vấn đề xay dựng tạp chí và tổ chức trang háo
3.3 Nghệ thuật sử dụng một số thể loại
3.3.1 Thể loại Tin
3.3.2 Thể loại Phỏng vấn
3.3.3 Thể loại Điều Ira
3.4 Phong cách của các lờ báo
3.4.1 T ạp chí Tri Tân-Chuyên san vổ văn hóa-văn học-IỊch sử
3.4.2 Tạp chí Thanh Nghị-Nơi biểu đạt lư tướng của lớp trí thức mới
3.4.3 Báo K hoa ỉ ỉ ọc-Tơ háo chuyên hiệt phổ hiến kiến Ihírc khoa học
Trang 13C H Ư Ơ N G I
N H Ữ N G H Ể N Đ Ể PHÁT T R I Ể N HẢO CHÍ T RÍ T H Ứ C V I Ệ T N AM
T R O N G N H Ữ N G N Ă M 1939- 1945
So với các nước, báo chí Việt Nam ra đời m uộn (giữa thế kỷ XIX),
nhưng lại phái triển nhanh về sô lượng, nội (Jung và thổ loại
Lịch sử hình thành và phát triển của báo chí nói chung, báo chí của giới
trí ihức nói riêng khổng chỉ chịu sự lác động bời những biến đổi lớn trên thế
giới m à còn chịu sự chi phối của các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn
h o á trong nước Vì vây, báo chí Việl Nam m ang sắc thái riêng- Báo chí của
một dân tộc luôn phải đối đầu với sự xâm lấn của ngoại bang, giữa các xu hướng, lư tưởng, chính trị và văn hoá khác: Nội- Ngoại, Cũ- Mới, Tiến bộ- Lạc
hậu, C ách m ạng và phản cách m ạ n g
Sắc thái riêng hiệt đó càng đậm nét hơn khi cuộc đấu tranh giành độc
lập của dân tộc phát triển đến đỉnh cao: thời kỳ giành chính quyền 1939-
1945
T hành quả đạt được của báo chí trí thức trong giai đoạn 1939- 1945 dựa
liên những liền đề sau:
- Kê Ihừa sự phái triển của báo chí trong thời kỳ M ặt trận dan chủ Đ ổng
Dương (1936- 1939)
- Những biến động lớn của tình hình thế giới và trong nước
- Y ếu tố tích cực của tầng lớp trĩ thức Việl Nam
1.1 K hái quát báo chí trong thời kỳ M ặ t trận Dân chủ Đ ông Dương (1 9 3 6 -1 9 3 9 )
Trang 141.1.1 Bước vào Ihập kỷ 30 của Ihế kỷ XX, diễn hiến phức tạp của quốc
tố đã tác động đến các nước, trong đỏ có Việt Nam Chủ nghĩa phát- xít quốc
lố hình thành, nguy cơ của một cuộc chiến tranh thế giới mới đang đến gần
Cùng ihời gian đó, m ột sự kiện lịch sử có ý nghĩa quan trọng trong phong trào
cộng sản và công nhân quốc tê đã diễn ra: Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản
được lổ chức tạí Mát-xcơ-va (Liên Xô cũ) vào tháng 7 năm 1935 Đây là Đại
hội chống chú nghĩa phát- xít, ngăn chặn nguy cơ chiến tranh và bảo vệ nền
hoà bình dân chủ trên toàn thế giới Thông qua Đại hội, Q uốc tế cộng sản kêu
gọi Đảng cộng sản, giai cấp công nhân và các lực lượng tiến bộ, dân chủ ở các
nước châu Âu cùng các dân tộc bị áp bức ở châu Á, Châu Phi và Mỹ Latinh
hãy đoàn kết, thống nhất trong một mặl trận chung- Mặt trân dân chủ nhân
dân chống phát- xít
Giai cấp công nhân và nhân dân Pháp là người đi đầu trong cuộc đấu
tranh và thực hiện thành công lư iưởng có ý nghĩa chiến lược và sách lược
trên Tháng 5 năm 1936, Mặt trận bình dân Pháp được thành lập Ngoài những
tháng lợi về dân chủ, chống phát- xít, chính phủ L.BIurn còn đề cập đến việc
cải thiện dân chủ, lự do và đời sống của người dân bản xứ ử những nước thuộc
địa, trong đỏ có xứ Đông Dương thuộc Pháp
Tư tưởng lập mặt trận dân chủ nhân dân chống phát xít của Q uốc lế
cộng sản, những thắng lợi và chủ trương cải cách của chính phủ binh dân Pháp
"đã tác động trực tiếp đến tình hình kinh tế, lư tưởng, chính trị, xã h ộ i ở
Đông Dương Những người cộng sản và trí thức tiến bộ, dân chủ đã kịp thời
đứng ra vận động một phong Irào dân chủ sồi nổi, rộng khắp trên toàn quốc
Khí thế sôi động trong sinh hoạt dân chủ, đấu tranh chống phát-xít và
bọn phản động Ihuộc địa, đòi tự do ngôn luíìn và cải thiện đời sống của công
nhân, nông dân diễn ra suốt từ cuối năm 1936 đến giữa năm 1938 Đỉnh cao
của phong trào trên là một cuộc mít linh khổng lồ (1.5.1938) tại trường Đấu
xảo Hà Nội, thu húi 25.000 người tham gia của 25 đoàn thổ quần chúng đại
Trang 15diện cho công nhân, nông dân, liểu tư sản, lư sản dân tộc và trí thứ c Đại
hiểu các giới đều lên liếng đòi yêu sách về kinh lế, chính trị và văn hoá (38-
138)
Phong trào đấu tranh đòi lự do, dân chủ diễn ra dưới nhiều hình thức:
cô n g khai, bán công khai; đấu tranh trong nghị trường, trên lình vực văn hoá
và lập ra nhiều lổ chức khác nhau: Ái hữu, Nghiộp đoàn, Hội Iruyén bá quốc
ng ữ
Phong trào trên đã đạl được m ục đích cơ bản, là từng hước giành lại các
quyền về lự do, dân chủ, cải thiện đời sống, trong đó có quyền tự do ngôn
luận, háo chí
Như vậy, sau Xô viết Nghệ- Tĩnh, cuộc đấu tranh giành độc lập của dân
tộc lại được đẩy cao lên m ộ t bước Cùng với sự phát triển của phong trào đấu
Iranh cách mạng, sự trưởng thành của các giai tầng có tư tưởng dân chủ và tiến
bộ; sự phong phú, phức tạp của sinh hoạt tư tưởng, sự du nhập của văn m inh
phương Tây vào đô thị đã tạo đà phái triển cho báo chí của giới tri thức
mặt trận báo chí Trong tác phẩm lịch sử Tám muưi năm chống Pháp, nhà sử
học Trần Huy Liệu đã khẳng định:
“VI vậy, nói đến Ihành tích của phong irào mặt trận hình dân, trước liên
là phải nói đến công cụ của báo, sá c h ”(37-31)
Thời kỳ 1936-1939, báo chí nói chung và báo chí của giới trí thức nói
liêng đã có vai trò, vị trí quan trọng, đồng ihời đã có sự đổng góp nhất định
trong cuộc đấu tranh chung của dân tộc Và ngược lại, chính sự phát triển của
lợi cho sự trưởng thành của báo chí trí thức ở giai đoạn này
Trang 16Trong môi Irường hoạt động công khai, hợp pháp báo chí các miền nở
vậy, nếu so với 10 năm Irước đây số lượng lờ háo tăng gấp hai lần (năm 1929
có 153 tờ)
Cùng với các háo đã xuất bản bí m ật trước năm 1936, háo chí công khai
phát hành mạnh, nhất là loại báo chính trị, xã hội và văn hoá Báo chí hợp
pháp hình ihành trên cơ sử các khuynh hưứng khác nhau, như: Báo than chính
quyền, háo Cấp tiến, báo của nhóm Trốt-xkít, báo Văn học, báo Tôn
giáo nhưng tựu trung lại có hai dòng chính nổi lên đó là : Báo chí cách
m ạng Ngay từ đầu năm 1935, các chiến sỹ cộng sản đã lập hợp nhau Ihành
m ột nhóm để làm sách, viết báo, nhằm phổ biến luyên truyền lư tưởng Mác
xít C ác'tờ Hồn tic, Tin tức, Lao động, Dân tiến, Dân muốn, Đông Dương tạp
chí, Sống, Tiến tới Tiêu biểu cho khuynh hướng này là háo Dân chúng, có số
phái hành 1 vạn rưỡi bản Có thể nói rằng, háo chí cách m ạng những năm
1936-1939 đứng vững được trong hoàn cảnh ngặl nghèo như vậy là do sự nhạy
bén chính trị của những người cộng sản Họ đã kịp thời nắm bắt được tình
hình chuyển hiến của phong trào dân chủ Irong nước và quốc tế, thu hút sự
ủng hộ của làng báo, của những nhà báo là trí thức và lợi dụng luại tự do háo
chí của quốc hội Pháp Đảng cộng sản Đông Dương và Nguyễn Ái Q uốc đã
chỉ ra những nhiệm vụ cụ thổ cho phong n ào dấu tranh trôn mặl trân báo chí ử
giai đoạn này là: Không nên đưa ra đòi hỏi quá cao, chỉ nên đòi các quyền dân
chủ, lự do tổ chức, lự do hội họp, lự do báo chí và lự do ngôn luận (17-
138,139) Và, Đảng cộng sản đã kịp thời đứng ra tập hợp, tranh thủ khả năng
hoạt động công khai, tổ chức các Đại hội của Báo chí (lần thứ nhất (1936), lần
thứ hai (1937)) ở khu vực Bắc kỳ M ục đích của các kỳ Đại hội là thống nhất
hành động chung của những người làm báo, đòi tự do lập nghiệp báo chí Bởi
vậy, báo chí cách mạng đã thu hút và khích lệ nhà báo là trí thửc có trình độ
làm báo sắc sảo, tinh Ihần dân tộc cao, m ặc dù lầng lớp đó không phải là chiến
Trang 17sĩ cách mạng Nhà háo uí thức đã cùng với các chiến sĩ cộng sản búl chiến với
phái Trốlskíl (sự kết hợp giữa háo 'l in tức với háo Ngày Nay)
Nhỏm Đăng Thái Mai, Nguyễn Văn Tô còn tham gia hiên lập các báo
liếng Pháp của Đảng cộng sản như tờ lc Travnil (lao động), Rasscm blam enl
(’lậ p hợp)
Dòng llúr hai của háo chí là háo của trí thức xuấl ihcần lừ các lliành phần
khác nhau như: Tư sản dân lộc, tiểu lư sản, giáo viền, nhà văn, nhà hoạt động
khoa học, sinh viên, học sinh Các tờ háo này tăng độl hiến về số lượng,
phong phú về nội dung và đa dạng về hình Ihức
Báo Phong Hoá, Ngày Nay của nhóm Tự lực văn đoàn, gồm m ột số trí
thức lieu lư sản và lư sản thành th ị Trong những năm 1937, 1938, hai tờ háo
trên là diễn đàn thực sự cho các cây búi sắc sảo, đưa ra những vấn đề chính trị
và xã hội cấp thiết Báo Ngày Nay mang đâm tính xã hội Các vấn đề cập nhật
của đời sống tinh Ihần được đê cạp đến như: vấn đề lao động, vấn đề phụ nữ,
phong trào Âu hoá, vấn đề thuộc địa Đó là những bài hay, sắc sảo về nghiệp
vụ, nhấl là nội dung đòi về tự do háo chí, vận động nghiệp đoàn báo chí Kếl
quả là, Phong Hoá, Ngày Nay Ihu hút đông đảo bạn đọc đặc hiệt là giới trí
thức
Báo Pháp luật cố vấn (1938), đã thu húi được nhiều trí thức T ây học
(ham gia Báo le Amenlgards, luy là báo liêng nhưng cũng hoạt động rất tích
cực vào các cuộc tranh cãi về Đệ tam, Đệ tứ, ùng hộ Mặt trận hình dân Pháp,
vận động dân chủ Một trong những lờ háo của trí thức Irẻ cỏ tư tưởng liến bộ,
rất gần với cách mạng, hoạt dộng tích cực trong dòng báo chí trí thức là tờ T h ế
giới báo, nỏ có đặc điểm riêng là nơi tập trung những cộng tác viên còn đang
là sinh viên Họ đã cộng lác với nhiều lờ báo có xu hướng chiến đấu theo lý
ĩữơng~cọng sán Có nhiỏu người là nhà trí thức - nhà háo giàu lòng yêu nước,
trung Ihành với tổ quốc Ngoài ra những trí thức tiên còn tham gia dịch các
Trang 18elạng sách, háo cỏ tư lương liến hô và Mác xít đổ tuyên truyền vào Việt Nam
tình với các chiến sĩ cộng sản là chú nhiệm háo Sông 1 lương (1937) để lấy
hoạt động văn học trên báo chí làm hình đấu tranh
Đặng Thái Mai, N guyễn Văn Tố, Vương Kiên Toàn, Đ ào Duy Anh,
Phan Anh, Trần Khái Giư (Khải Hưng), Nguyễn Văn Tuyên, N guỵ Như Kon
Tmn, Tôn Q uang Thiệt là những người sáng lập ra Hội truyền bá chữ Quốc
ngữ Báo chí là công cụ đổ họ liếp lục phổ hiến chữ Q uốc ngữ, chống nạn thất
chúng- cơ sở xã hội để báo chí trí thức tồn lại và phát triển
Họ vừa học, vừa viếl báo; vừa kếl hợp làm báo với tuyên truyền chữ quốc ngữ Bản thân sinh viên Iham gia rất sôi nổi Irong phong trào Đông
Dương Đại hội Và chính họ đã đóng một vai trò khá lích cực viếl truyền đơn,
viết báo đổ cổ động phong trào
Nổi bật trong làng báo chí của giới trí thức là Thanh Nghị báo- Báo lớn của giới li í thức l ây học, Ta học và tliâm chí cả Nho học Nội d ung cúa báo
rất phong phú, bàn về các lĩnh vực: chính Irị, xã hội, khoa học kỹ thuật, văn
hoá, nghệ thuật Nhưng, m ục đích chủ yếu của báo là làm cho dân ta biết cái
/mới, liếp thu cái mới dể cải cách cái cũ Chính vì lẽ đó, Thanh Nghị có sức sống mạnh mẽ hơn các báo khác cùng Ihời
Ngoài ra, còn có các báo đại diện cho khuynh hướng tiến hộ, dân chủ
được ấn phẩm trong thời gian này ở Bắc kỳ có báo Người Mới, Ngày Mới
(Khuynh hưởng xã hội), De main (Đảng xã hội), Effort (Tiếnbộ); ở Nam kỳ có
Tiến tới, Đông phương (Ihuộc xu hướng liến bộ), Mới (Thanh niôn dân chủ)
Tiếng nói chung của háo chí liên là lán thành, hoà đồng cùng phong
trào đấu Iranh chung của dân lộc đòi quyền lập lự đo, dân chủ, đòi ân xá lù
chính trị phạm và tuyên Iruyền tư iưởng dân chủ trong đời sống xã hội Với sự
Trang 19lham gia lích cực của Irí 111 ức, háo chí giai đoạn này còn góp phần tạo ra nền quốc văn mới Sự đóng góp không nhỏ trên đã dẫn đến hiện tượng đặc thù là
nền quốc văn mới ử nước la llioál thai từ ngôn ngữ háo chí Đây cũng là nét
khác biệt, khác với các nước châu Âu (ở châu Âu ngôn ngữ văn học có trước
ngôn ngữ báo chí)
Ngoài ra, còn có mội số háo chí thuộc các khuynh hướng lư tưởng khác
cũng xuất hiện ấn phẩm Irong Ihời kỹ này
Như vậy, dù là báo cách mạng, hay là báo chí của giới trí thức thuộc
khuynh hướng dân chủ tiến bộ Irong giai đoạn lịch sử này thì họ đều gặp nhau
ờ m ục đích chung là: Đấu tranh đòi hoặc yêu cầu chính phủ thuộc địa Pháp cải
thiện Tự do, Dân chủ và Dàn sinh Thông qua đó báo chí trí thức tự thân vân
động để kháng định vị trí của mình trong dòng háo chí chung của dân lộc Và,
sự phát triển của báo chí trí Ihức trong những năm 1936-1939 đã phản ánh
một quy luật tất yếu là sự nghiệp báo chí của trí thức Việt Nam không Ihể lách
rời, đơn lập với dòng háo chí dân tộc, với lịch sử đấu tranh giành độc lập của
dân tộc Và, cũng chính sự trương thành của giới trí thức Irong làng háo là mội
nhân lô tích cực thúc đẩy sự phát triển ngày càng vững chắc nền báo chí nước
nhà, vào sự nghiệp đấu tranh chung của dân lộc
Trí lliức Việi Nam trong phong trào đấu tranh dân chủ luôn là lực lượng
tiến bộ, đi đầu Irong phong irào đấu tranh chung của dân tộc Thông qua các
bài báo, bài chuyên khảo, lạp v ă n b á o chí của họ đấu tranh đòi lự do, dân
chủ; chống lại chế độ phản động thuộc địa, lên án chê độ thực dân, xoá bỏ hủ
lục phong kiên và cái chạm liên của nho giáo; xây dưng nền văn hoá mới phù
hợp vơi sự phái triên khoa học kỹ thuât lliời đại và dân tộc, tuyên Iruyền chữ
quốc ngữ Với họ, báo chí là mặt Irận, ngòi hút là vũ khí và tri thức là hạl
Khánh Toàn, Tôn Q uang Nhiệt, Phạm Thiều, Trần M ộng Bạch, Bùi Công
Trừng, Thanh Tịnh, Xuân Diệu, Trần văn Giáp, Phan Thanh, Phan Bổi,
Trang 20Nguyễn Văn Tố, Đặng Thái Mai, Võ Nguyên G iá p là những tri lliức- nhà
háo xây nền đắp móng cho háo chí tri ihức trong giai đoạn này
Sự phái triển cùa báo chí Việt Nam nói chung, háo chí của giới tri ihức
nói riêng trong thời kỳ Mặt Irận Dân chú Đông Dương là nền lảng vững chắc
cho sự phát Iriển của báo chí trí lliức trong thời kỳ mới, thời kỳ đấu tranh
giành chính quyền 1939-1945
1.2 N hững biến dộng lớn cùa th ế giới và Đ òng Dương có ảnh hường tới
báo chí của ị»iói trí thức giai đoạn 1939- 1945.
Sự phái triển của báo chí Việt Nam, trong đó có báo chí của giới trí thức
giai đoạn 1939-1945 chịu sự chi phối bởi những biến động lớn của thế giới và
Đông Dương
quốc tế đã phát triển đến cực điểm, cuộc chiến Iranh Ihế giới thứ hai diễn ra
trên phạm vi loàn thế giới
Khởi đầu, Đức chiếm đỏng Áo (3/1938) và Tiệp Khắc (3/1939); Ý
chiếm An-ba-ni (4/1939) và đến tháng 9/1939 phát xít Đức gây chiến tranh
xâm lược Balan (1.9.1939) Cuộc chiến tranh thế giới hai đã bùng nổ ở châu
A
Âu
Tiếp iheo, các nước đố quốc luyên chiến với nhau Đciy là “cư hội” dó’
Đức tấn công Pháp Đến tháng 6 năm 1940, chính phủ Petain đầu hàng và trử
thành lay sai cho Đức Quốc xã Vì thế, xứ Đông Dương thuộc Pháp cũng bị
lôi kéo, vào cuộc chiến tranh tàn khốc trên
T rong những năm chiến tranh thế giới hai diễn ra, Việt Nam đã trở
thành cái “m ỏ ” để Ihực dân Pháp đào khoét và vơ vél, là nơi cung cấp nhân,
vật lực cho chính quyền Catroux, Decoux, cho chính phủ Pelain theo đuổi
cuộc chiến tranh ở Đông Dương Những thành quả tự do, dân chú mà cuộc dấu
Trang 21Iranli của quán chúng giành (lược trong những năm 1936- 1939 bị thủ tiêu bởi
chính sách khủng bố, đàn áp của chính quyền thuộc địa phản động Pháp
Vổ mặt quân sự và kinh tế, iháng 9 năm 1939, khi cuộc chiến tranh ihê
giới hai bùng nổ ở châu Âu, Toàn quyền Calroux phát lệnh lổng động viên
nhằm cung cấp tối đa về binh lính, nhân công, sản phẩm và nguyên liệu tiếp
ứng cho “ Mẫu q uốc” Bộ máy dàn áp (Quân dội, Cánh sá t ) dưực tăng
cường, lệnh Ihiếl quân luật được han hố, và cuối cùng là ihựe hiện chính sách
phát- xít hoá bộ máy cai trị đi đàn áp phong trào cách mạng Đông Dưưng
Một vài số liệu sau đây đã nói lên chính sách vơ vét, bóc lột đến tân
cùng đối với dân tộc Đông Dương của thực dân Pháp
“Năm 1937, số tiền thu được qua viộc xuấl cảng khoáng sản (xi măng,
than, kim k h í ) là 199336000 France” (41-106,107) “Tiền thuế Ihu được
Irong năm 1940 là 134.000.000 (Đồng bạc Đông Dương)” (43-8) còn về nhân
lực, riêng lính ihự, chí tính hai iháng dầu khi chiến tranh thế giới hai nổ ra, cỏ
hơn 70.000 người dân Đông Dương phải lao động trong các cống xưởng quốc
phòng” (41-374) Việc tuyển lính là người Đ ông Dương để làm nguồn dự trữ
chuẩn bị ứng phó lổng chiến tranh là 90.000 người, đạl quan số kỷ luật cao
nhất của quân đội Pháp ở Đ ỏng Dương.
Về chính trị: Sự lliay đổi chính sách cai trị lừ chế độ dân sự sang c h ế độ
quân sự, thực hiện chính sách đàn áp “loàn diện và mau chóng” Cụ thổ là, ra
sắc lệnh giải lán Đ ảng cộng sản (26/9/1939), thẳng tay truy hắt và đàn áp
những người cộng sản Toàn quyền Dccoux còn đề ra các sắc lệnh mới: Tịch
ihu, giải tán các hội ái hữu, nghiệp đoàn, cấm hội họp, nghiêm cấm việc luyên
Iruyền chủ nghía cộng sán
Lợi dung sự khác hiệt về lỏn giáo và dân tộc, chính quyền thuộc địa
dùng chính sách chia rẽ, mua chuộc làng lớp quan lại và kích động linh Ihần
chiến tranh trong dan chúng; lăng cường xây dựng nhà tù, lực lượng cảnh sát
Trang 22v ề văn hoá nói chung và đũi với háo chí nói liêng, chính quyền thực
dân còn ban bô những nghị định, sắc lệnh ngặl nghco hon
đã ban hành 18 văn bản liên quan đến việc ngăn cấm phái hành và kiểm duyệl
báo chí Và, riêng ử H à Nội ngày 2/9/1939, toàn quyền Catroux đã ban hành
sắc lệnh đình chí, lịch thu tài sản của các báo, như háo Ngày nay, Dân chúng,
T h ế giới, Đời n a y , ; cấm các loại báo đưa lin giúp cho một cường quốc khác
chống lại nước Pháp, hay có tác động đốn linh thần binh lính và nhân dân Và,
từ năm 1940 tới năm 1943, cỏ 17 lờ báo hàng ngày và tạp chí ở Bắc Kỳ đã bị
đóng cửa
Điển hình, Nghị định ngày 27/10/1941 của Toàn quyền Đông Dương về
việc kiểm soát giấy in báo, quy định số Irang và khổ của báo Tăng cường vai
Irò của phòng kiểm đuyệl của “ Sở thông tin và luyên truyển báo ch í” phối hợp
với Sở mật thám Đ ông Dương kiểm duyệt loàn bộ ấn phẩm với nghị định Irên,
háo chí Việt Nam bị đặt dưới sự kiểm soái nghiêm ngặt của chính quyền ihực
dân Pháp
Như vậy, mục đích và thủ đoạn của Ihực dân Pháp là muốn làm chếl
một phẩn quan trọng dân chúng và dìm số còn lại trong cảnh đói nghèo, đ ó là
cái tay hãm tốt nhất m à lên Thống sứ Bắc Kỳ (Chau vct) đã tìm ra đổ làm
giảm bứl lòng hăng hái yêu nước của các giai táng liến hộ Việt N am ” (37-
187) Cùng với những chính sách về kinh tế, quân sự và chính trị, chính quyền
ihực dân thắng tay đàn áp các nhà vãn hoá có lư tưởng tiến hộ, dân chủ, yêu
nước và chống phát-xít Tầng lớp trĩ thức từ nho học đến Tây học, từ những
người mà cả sự nghiệp cầm búl cho đến các nhà háo cách mạng đều bị nghẹt
thở, bị bần cùng hoá vì c h ế độ áp bức Irôn Người làm háo, các chủ báo trí
thức ử Việt Nam trong những năm chiến tranh Ihế giới hai vừa hoạt động vừa
phái đối đầu với những thủ đoạn thâm độc của chính quyền thực dân Vừa cấm
đoán, vừa kiểm duyệt và lại tăng cường phái hành tài liệu, tổ chức các cơ quan
Trang 23các đoàn thổ văn hoá đê nhồi sọ, mua chuộc và hăm doạ các nhà văn hoá,
luyên Iruyền văn hoá hảo thủ Ihởi Irung cổ, văn hoá ngu dân, tuyên truyền chú
nghĩa đầu hàng và chủ nghía ái quốc hẹp hòi, mù quáng Vì thê, dã cỏ những
nhà báo chuyên nghiệp, những người làm háo khổng chuyên có lúc ngộ nhân
chính sách “ Khai h o á” của ch ế độ thực dân Báo chí, bài viết của họ đi ngược
lại lợi ích dân tộc Tuy nhiên, sô đó chỉ là cá hiệl Thực dân Pháp càng lăng
cường bộ máy ihống trị phát- xíl và chính sách áp hức ở Đông Dương hao
nhiêu, thì linh thổn dân tộc, lòng yêu nước và phong trào dấu iranh giành độc
lạp dân lòe của các giai lổng xã hội hị áp hức, hóc lột dâng cao bấy nhiêu
Trên cư sử đó, sức m ạnh của các phong trào yêu nước, dân chủ và cách mạng
ở Việi Nam được nhân gấp bội Những người trí thức làm báo đã đóng góp
Iĩìộl phần sức lực không nhỏ vào phong trào dấu tranh cách mạng chung đó
Trung Quốc, Việt Nam nói riêng và Đ ông Dương nói chung đưực coi là khu
vực có ý nghĩa chiến lược về quân sự, kinh lô' của quân phiệt Nhạt Bản trong
k ế hoạch Nam tiến và ý đổ xây dựng khối “Thịnh vượng chung Đại Đông Á”
K ế hoạch xâm nhập vào klni vực này được thực hiện iheo từng bước như
sau: T uyên ti uyền, xâm nhập kinh lố, hoại động gián liếp và gây áp lực hằng
quân sự Và, đến 9/1940, pliál xít Nhật đã quyết định dùng lực lưựng quân sự
tấn công vào các đồn binh của Pháp ờ Lạng Sơn Sự thất hại của quân đội Pháp
đã phản ánh rõ sự yếu ớt của chính quyền toàn quyền Catroux, và từ “ M ùa thu
1940, phái xít Nhậl đốn xâm lăng Đ ông Dương đổ mở thôrn căn cứ đánh đồng
minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật (17-
556)
Đông Dưưng đã rơi vào lay quân đội Nhật Bán và Pháp mất vị trí Ihống trị ỏ
Đông Dương
Trang 24Phát xít Nliậl xâm nhập Đông Dương, chúng đã cấu kết với thực dân
Pháp, vơ vét, hóc lộl và thống trị các dân lộc Đòng Dương
Vổ kinh tế, mặc dù Đ ông Dương thuộc Pháp đang Irong thời kỳ khủng
hoảng và rối loạn, nhưng Nhậl Bán vẫn yêu cầu chính phủ Toàn quyền
Decoux ký m ột Ihoả hiệp cung cấp gạo Irong năm 1941 Theo đó Đông Pháp
phải xuất 100.000 tấn gạo từ Sài Ciòn sang Nhại, và trong một năm phải vận chuyển 1.000.000 tấn gạo cho quân đội Nhạt
Sau hiệp ước Tokyo, ký ngày 6 tháng 5 năm 1941 giữa Nhật Bản với
Pháp, phát xít Nhạt đã thực sự “ làm chủ kinh lế Đông Dương” , lự do bỏ vốn
đầu ur khai ihác và hóc lột sức lao động Sự hiện diện của quân đội Nhật ử xứ
này càng đẩy các dân tộc Đ ông Dương vào cảnh khốn cùng Nhân dân lao
dộng cùng một lúc chịu hai lầng áp hức Pháp và Nhật
Về chính trị ở xứ Đ ông Dương, từ tháng 9 năm 1940, tình hình chính trị
xã hội và văn hoá hết sức phức tạp iliện lượng “chính quyền kép” được hình
thành, đó là Pháp và Nhật cùng ihống trị Một mặt, quân dội Nlìậl lợi dụng hệ
thống chính quyền của thực dân Pháp phục vụ cho m ục đích chiến tranh, đồng
thời lừng bước xây dựng hệ thống quản lý "nhấl quyền" để gạl Pháp và để thực
hiện k ế hoạch “Đại Đông Á ”
Các tổ chức chính trị thân Nhại, như Việt Nam phục quốc Đ ảng
(11.1940), Đại Việt (Đại Việt Q uốc dân đ ả n g ) ra đời.Thành phần tham gia
vào các lổ chức liên gồm đủ các láng lớp, trong đó có những người Việt được
thành lập Tóm lại, trong những năm 1940, 1941 “những Đảng thân Nhâl mọc
ra như n ấ m B ọ n này mưu m ô gạt cái ách của Pháp dể quàng cái gông của
Nhạt” (3-385)
Trong lình vực văn hoá, ngay từ khi đặl chân vào Đ ông Dương, quân
phiệt Nhậl rất coi trọng các hoại động này nhằm lôi kéo tầng lớp Irí thức Việi
Nam phục vụ ý đồ chính trị của mình Chúng thành lộp cơ quan bộ văn hoá
Nhật - Đông Dương (sau đổi tên Viện văn hoá Nhại - Việl), đưa các nhà
Trang 25nghiên cứu văn hoá của một số Irường cao đẳng ở Tokyo đến giới thiệu về văn
hoa Nhại Bản, triển lãm tranh, diễn thuyết, ấn phẩm, báo chí, Mặt khác,
chúng cũng không kém gì lliực dân Pháp, thang lay đàn áp, đe doạ các nhà
văn lioá chống Nhật, mua chuộc trí thức có trình độ Các hoạt động văn hoá
trên đều nhằm m ục đích: phô trương, tuyên Iruyền và lừa phỉnh, chia rẽ khối
đoàn kết các dân tộc Đông Dương, các giai tầng trong xã hội Việt Nam Học
thuyếl “Đại Á ” , “khối thịnh vượng ch ung” , “ Anh cả da vàng” luôn được đưa
lên trang nhất của các báo thời đỏ Đ úng như lời nhận xét của nhà sử học Trần
Huy Liệu:
“ Không đầy một thế kỷ, bọn quân phiệt Nhật đã lừa những người Việt
Nam đi ihco chúng tới 5 lẩn C hỉ tính riêng trong có 5 năm (1940 - 1945),
chúng đã lừa đi lừa lại 4 lần” (37- 8)
Nhưng, các chính sách về chính trị và văn hoá m à quân phiệt Nhậl đã áp
đặt ở Đ ông Dương không thể lôi kéo và làm giảm bớt linh Ihần dân lộc, sự
hăng hái đấu tranh vì độc lập, tự do cho đất nước của các nhà tri thức Việt
Nam Từ những Ihủ đoạn trên, họ càng có cơ sớ để nhận ihức được bản chấl
xâm lược của Nhạt Bản
Dương, tăng cường đàn áp v à ’khủng bố các phong trào yêu nước, đấu tranh
đòi độc lập dân tộc NgưcVi chịu hậu quả đólà công nhân, nông dân, lư sản dân
tộc, tiểu lư sả n Irong đó có tầng lớp làm báo xuất thân lừ tri thức Đời sống
tinh thần, vật chất của họ vốn đã bị bần cùng hoá, bị o ép càng hị đẩy vào tình
trạng khốn đốn và cùng cực hơn Hàng triệu người dân nông thôn, thành th ị
chịu cảnh đói và rét Hơn hai Iriệu người ở Bắc và Trung Kỳ hị chếl đói là mộl
minh chứng về tội ác của Pháp và Nhật ở Đông Dương
Các tầng lớp, giai cấp Irong xã hội Việt Nam đều bị diêu đứng, trong đó
“các giới tri thức văn hoá khổng cỏ việc làm, bị thiếu ihốn, hắt hủi, bó buộc và
cám dỗ một cách đê tiện (3 -3 8 5 )
Trang 26Đó cũng là nguyên nhân đổ lý giải sự chuyển hiến về nội dung, ý thức
chính trị, linh thần dân tộc của báo chí Việt Nam thời kỳ 1939 - 1945 nói
sự là một hước chuyển về ý thức của Irí lliức khi sử dụng háo làm công cụ đấu
tranh chống kẻ thù, tuyên truyền chính sách của Mặt trận Việt Minh, truyền
há vãn hoá mới trong dân chúng Và cũng thông qua đỏ, n i Ihức làm báo lự
khẳng định vai trò và nhiệm vụ của mình trước sự đòi hỏi của vận hội cách
mạng Tiêu hiểu cho dòng háo này là báo Thanh Nghị, Ngàv nay và Khoa
Học
1.2.4 Tinh thần dân tộc, lòng yêu nước và sự hăng hái đấu Iranh trên
mặl trận háo chí của giới trí thức càng dược nâng cao hơn khi có sự soi rọi các
nghị quyết, chỉ thị của Đ ảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh
Sau khi về nước (ngày 28 tháng 1 năm 1941), trước những hiến đổi lớn
của cuộc Ihế chiến hai, cũng như sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách
mạng trong nước, Nguyễn Ái Quốc đã Iriệu tập và chủ trì Hội nghị Ban chấp
hành Trung ương (Hội nghị lần thứ tám) từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm
1941) Hội nghị đã phân tích nguồn gốc, dặc điểm và tính chất của cuộc chiến
tranh thê giới ihứ hai, nhận định về lình hình chính Irị, xã hội ở Đông Dương
và sự phát triển của cuộc đấu tranh cách mạng ở Việt Nam và đi đến khẳng
định chủ trương và nhiôm vụ cách m ạng ở giai đoạn mới Tiếp tục thực hiện
chủ trương tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày ” ,
thay hằng khẩu hiệu “Tịch thu ruộng đất của bọn đ ế quốc và Việt gian chia
cho dân nghco” , chủ trương thành lập mặt trận dân tộc thống nhất và xúc liến
còng tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ Irang Đó là nhiệm vụ trọng tâm của cách
mang, của dân tộc và của Đ ảng trong giai đoạn này Tư tưởng, đường lối và
chủ trương Irên cỏ ý nghía quyết định cho sự phát Iriổn cúa háo chí Irong giai
đoạn mới vồ ur tưởng, nội dung
Đối với tầng lớp trí thức, thanh niên học sinh, tháng 2 năm 1943,
Thường vụ Trung ương đã nêu rõ trong nghị quyết:
Trang 27Mội Ixong những đặc diêm của phong trào cách mạng Đông Dương
trong giai đoạn này là illicit mộl phong trào cách mạng quốc gia lư sản và
phong trào thanh niên học sinh Do đỏ, cuộc vận động cách mạng ở Đông
Dương vẫn hẹp hòi, cỏ lính cách công nồng hơn là lính cách loàn dân tộc” (3-
385)
Đ ể phái líiển lực lượng và mở rộng hộ Ihống tổ chức đoàn thể trong
mặt irận, phải “biết lợi dung mọi khả năng công khai hay hán công khai mà lổ
chức những đoàn thể đơn sơ của quần chúng có lính cách kinh tế, văn hoá hay
ihể dục.v.v đặng đổ đoàn kết quần chúng Tuyên truyền cổ động hợp với
chính sách lập m ặt trận của Đ ản g
Báo sách của Đảng cũng như của mặt trận phải viết ihật dễ hiểu, văn
phải cám động, hùng hồn và không khỏ khan Báo chung của mặt trận phải
phản ánh quyền lợi của các giới, phải bớt về chính trị, để cỏ thổ chú Irọng về
văn hoá, nghệ thuật, thể dục” (3-390) Đối với các nhà văn hoá tri thức, nghị
quyếl của Đảng nêu rõ: "Đảng cần phải phái cán bộ chuyên môn hoạt động về
văn hoá đặng gây ra một phong trào văn hoá tién bộ, văn hoá cứu quốc chống
lại văn hoá phát xít Ớ những đô thị văn hoá như Hà Nội, Sài Gòn, Huế.v.v
phải gây ra những tổ chức văn hoá cứu quốc và phải dùng những hình thức
công khai hay bán công khai đặng đoàn kết các nhà vãn hoá” (3-397)
Tiếp đó, Tổng bộ Việt Minh đã công bố Tuyên ngôn, chương trình và
điều lệ Để giành được độc lập dân tộc, phải “ liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân
dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, đang cùng
nhau đánh đuổi Nhật - Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng lên
mội nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà”(4 - 2 16,217)
Từ chủ trương trên, tầng lứp trí ihức được tập hợp lại Một trong những
hoại động rõ nét nhất là “Đề cương văn hdầ Việt N am ” (năm 1943) được
tuyên b ố Ihành lập Hội Quốc ngữ, Hội Văn hoá cứu quốc Việt Nam với tạp
chí Tiền Phong và đến tháng 6 năm 1944, Đảng Dân chủ Việt Nam ra dời Các
tổ chức trên đã thu hút đông đảo lực lượng trí Ihức, bao gồm các nhà vãn hoá,
Trang 28văn nghệ, làm h áo Chính họ, tầng lớp trí thức liến hộ đã hăng hái luyôn
truyổn cho Mặt trân Việl Minh, giác ngộ nhân dân lao động Ihông qua háo chí
của mình
Trong thời điểm sôi động của phong trào đánh Plìáp, đuổi Nhật, các lổ
chức trên là mội gia đình lứn của tầng lớp Irí thức Việt Nam trong cuộc đấu
tranh giành độc lập dân tộc
Hoạt động báo chí của họ ngày càng đi đúng quỹ đạo hơn, khi tàng lớp
trí Ihức đã tự chuyển rnình Irong dòng thác cách mạng chung của dân tộc
1.3 Lực lượng trí thức - nhân tô quyết định sự trưởng thành của báo giói
trí thức thời kỳ giành chính quyền (1939 - 1945).
trí thức tiếp lục trương thành, đồng hành với dân tộc liên con dường đấu Iranh
cách mạng Chỉ tính riêng năm 1939, năm đầu của cuộc chiến tranh thế giới
hai, mặc dù chính quyền thực dân Pháp lăng cường hiện kiểm duyôl, nhưng số
tờ phái hành của báo ở Đông Dương vẫn được 136 tờ (gồm các thứ tiếng Anh,
Pháp, Hoa, Việt) và 216 tạp chí Đến năm 1942, có 200 lờ và năm 1945 (sau
ngày Nhật đảo chính Pháp vẫn có 150 tờ lưu hành) Đó là chưa kể những tờ
báo cách mạng phát hành hí mật Sự hiện diện của báo giới trí thức rất da
dạng Báo Ngày Nay có sự tham gia của Thanh Tịnh, Xuàn Diệu, Huy Cận, Tú
Mỡ, T h ế Lữ, Nguyễn Gia Tri Lúc đầu, họ rất chú ý đến nội dung về văn học,
sau chuyển sang lĩnh vực chính trị Các nhà háo họ chủ trương duy tần và cấp
tiến xã hội, bỏ tập tục cũ và đi vào nếp sống Âu hoá cho người dân thành thị
báo Vũ Đình Long (là giáo viên tiểu học), Nguyễn Công Hoan Những hài báo
của nhóm Tân Dân đã lạo dựng món ăn tinh thần, văn hoá cho Ihành phần
trung lưu và phụ nữ Báo đã góp phần làm phong phú nội dung trên nền báo
chí
Trang 29Tạp chí Văn Mới của nhóm Hàn Thuyên, gồm Trương Tửu, Đặng Thái
Mai, Nguyễn Đức Quỳnh Đ ặc điểm của nhóm trí 111 ức này là dũng cảm vận
dụng ngôn ngữ văn học, lịch sử và Iriếl học đổ tuyên truyền chủ nghía Mác -
Angcl, thông qua nhà báo Và, vì thế nó đôi lập với Tri Tân và nhóm Tự lực
Văn đoàn
Văn Lang tạp chí (Sài Gòn), Tao Đàn lự lập các cây hút nổi tiếng như
Phan Khôi, Hoài Thanh, Nguyễn Tuân, Lưu Trọng Lư Trên báo, các nhà báo
trí thức hô hào dân chúng học tập khoa học kỹ thuật phương l ây, nhất là đối
với tầng lớp ihanh niên
Trung Bắc Chủ nhật do N guyễn Doãn Vượng làm chủ bút (3/1940), đã
dung hoà nền văn hoá Đông - Tây bằng cách giới thiệu những đặc điểm của
văn minh trên báo
Báo Nam Kỳ tuẩn báo, Đại Viộl lạp chí, Vịt Đực, Con Ong là háo đại
diện cho giới Irí thức trung lưu Nam Bộ, báo Thanh Niên (9/1943 đến 9/1944)
do kiến Irúc sư H uỳnh Tấn Phái, Lưu Hữu Phước, Bùi Huy Bộ làm nòng cốt
Nhưng phát bản nhiều nhất, thu hút đông đảo bạn đọc nhất và có ảnh
hưởng lớn tới xã hội Viẹt Nam lúc đỏ là Tri Tân, Khoa học và Thanh nghị
báo
Báo Tri Tân (6/1941) của nhóm Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Tường
Phượng, Chu Thiên, K huông Viột, đã đẩy tờ báo của trí thức theo khuynh
hướng cấp liến Nội dung của háo chủ yếu dề cập đến các vấn đề thuộc lĩnh
vực văn hoá
Báo Khoa Học do Nguyễn Xiển, Nguy Như Kon Tum pỉụi trách Thời
đó, háo được đề cao là phương tiện tuyên truyền, giáo dục kiến Ihức khoa học
kỹ thuật cho xã hội đạt hiệu qua cao nhất Một trong những thành công đó là
sự ra dời bộ sách (Từ điển): Hệ ihống danh lừ khoa học bằng liếng Việt
Báo Thanh Nghị do luật sư Vũ Đình Hoe làm chủ nhiệm, có trụ sở lại
5? phố Rolarw (Hai Bà Trưng), lưu hành 4 năm (5/1941 đến 5/1945) Báo đãBáo Tự Tri, báo của Tổng hội sinh viên do Nguyễn Xuân Canh là chú
Trang 30hội lụ dược những cây bíu Tây hoe nổi tiêng như: Phan Anh, Dương Đức
Hiền, Đặng Thái Mai, Đỗ Đức Dục, Hoàng Xuân Hãn, Đinh Gia Trinh, Trần
Văn Giáp là lớp trí thức đo Pháp đào lạo 'ở Pari hoặc ở Đ ông Dương.
Báo Thanh Nghị là liếng nói của lớp trí Ihức trỏ đang khao khát lìm đến
những cái mới của thời đại Họ muốn có cái riêng Irong lình vực tinh thần, văn
hoá Bởi vạy, Thanh Nghị là công cụ cần thiết, là diễn đàn là phương tiện
thông tin và tuyên truyền của họ Với nhận thức tiến bộ, háo Thanh Nghị đã
giúp công chúng Việt Nam nhận tliírc được vị trí, ý nghĩa của khoa học kỹ
thuật trong đời sống, trong cuộc sống canh tân đất nước
Báo Thanh Nghị đã đóng góp rất nhiều thành tích trong lĩnh vực hoạt
động chính trị, xã hội: Tham gia lích cực trong Mặl trân Việt Mình (như
Dương Đức Hiền, Bùi Huy Cận), là người bổ sung lực lượng cán hộ trí thức
dặc biệt quan tâm giáo dục thanh niên
Đ iểm qua những báo trên, Báo chí của trí thức ở những năm 1939 -
1945 đã kh ẳn g định rõ vị trí của mình Irong làng báo chí Việt Nam
trường thành có khác nhau: Nhỏm trí thức được đào tạo ờ Pháp N hỏm trí thức
được Pháp đ ào tạo ở Đông Dương Nhỏm trí thức xuất Ihân lừ ihành phần nho
hoc hay thành phẩn (rung lưu nhưng do cùng là người dân của xứ thuộc địa,
lại là đại diện lực lượng dân cư cố trí thức nên họ luôn là người phát ngôn các
nguyện vọng dân chủ, đấu tranh và lên liếng hênh vực quyền lợi củ a đại đa số
nhân dân lao động Thậm chí, có những khoảnh khắc lịch sử, nguời trí thức
tiến bộ là "Người lính xung kích"(42-173) Chính N guyễn Ái Q uốc là nhà trí
thức - nhà giáo - nhà báo cách mạng đại biểu cho lực lượng trên của dân tộc
Việt Nam trong thố kỷ XX Nguyễn Ái Quốc dùng báo Le Pari (Người cùng
khổ) làm công cụ đấu tranh chống chủ nghĩa đ ế quốc, tuyên truyền và lập hợp
quần chúng làm cách mạng giải phóng dân lộc Nhà báo Nguyễn An Ninh, với
nhũng hoạt động của ông trên lĩnh vực báo chí đã đcm lại một luồng gió mới,
Trang 31đottrt ra ớ i tro n g nghể4ftffl-báo nước ta và đổ lại dấu vết đáng kổ Irong lâm chí
của thanh niên Tây học trong những năm 20 Và chính háo của ông đã xứng
đáng là cơ quan chuẩn bị cho lương lai dân tộc la.Nhò cỏ trí Ihức, háo của họ
rất liến hộ về hình thức, hiên đổi về chất lượng nội dung Khác với giai đoạn
1936 - 1939, những tờ háo trong những năm 1939 - 1945 đã phát triển theo
hướng chuyên sâu trong từng lĩnh vực Báo hàn về chính trị xã hội, về khoa
học, giới thiệu các nền văn minh của phương Tây, của Trung Hoa Bản thân
những cây húi đó vừa là nhà báo - nhà văn như Ngọc Giao, Nguyễn Công
I ỉoan, N guyên Hồng, 11uy Cận, Tú Mỡ, Nam Cao, Lưu T rọng Lư, Nguyễn
Tuân, N guyễn Xuân Sanh Vừa là nhà báo - nhà chính trị như Nhất Linh, Khái
Hưng, H o à n g Đạo, Trương Tửu, Nguyền Đức Q uỳnh, Vũ Đ ìn h Dy; vừa là
nhà báo - nhà nghiên cứu như Vũ Đình Hoc, Phan Anh, Đinh Gia Trinh , Đỗ
Đức Dục, H oàng Xuân Hãn, Đặng Thái Mai, Phan Trần Trúc, Nghiêm Xuân
Yêm, Vũ Bằng, Đào Trinh Nhấl, Doãn Vượng và vừa là nhà háo - nhà giáo
dục như N gô Tất Tố, Nguỵ Như Kon Turn, Phan Anh, Vũ Văn Hiền, Nguyễn
Công Tiều, V õ N guyên Giáp Bởi thế, “ tính đến năm 1944, sô người sống
bằng nghề viếl văn, viốl háo, luâl sư có số lưựng không nhỏ, đặc hiệl nghề
viết văn, dạy học lên đến 1.000 người”(39-128) Cây trí thức tốt tươi, xum xuê
cội cành liên đã cho ra những lờ báo trí thức liêu biểu: Ngày Nay, Tri Tân,
Thanh Nghị và Khoa Hoc
Trong lớp lang trí thức làm háo ấy, han thân họ do bị tác động hởi các
yếu tố nên có sự phân hoá Nhưng, lực lượng chủ yếu của giới trí thức làm háo
vẫn Ihống nhất trong tiếng nói chung: giải phóng dân tộc, canh lân đất nước
Và, “họ thống nhất với nhau ở chỗ yêu nước, ghét Tây và m uốn có một lập
đoàn chiến đ ấ u ”(38-l 16) Báo chí là diễn đàn, là công cụ để lực lượng trí thức
phục vụ cho mục đích của mình
Lô Nin có rất nhiều nhận xét Theo Mác cỏ ihể quan niệm ihành phần xã hội
của trí Ihức gồm những đối tượng cụ thể, như: nhà văn, nhà báo, những người
hoạt động nghệ thuật, các nhà lý luận tuyên truyền, giáo viên, bác sỹ luât sư
Trang 32và các nhà hoại động khoa học kỹ thuật Nhu' vạy, nhà háo cũng được xốp vào
lực lượng trí thức trong xã hội
Còn Lê Nin, llieo ông lâng lớp trí lliức dược phân chia làm 3 loại: Trí thức tư sản, trí thức lieu lir sản và lif Ihức vô sán Lô Nin đã đánh giá cao tính tích cực cách m ạng của giới trí thức, đó là lực lượng xã hội có vai trò đặc hiệt quan Irọng trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp nông dân Họ là những người có trình độ văn hoá cao, có hiổu biốl nên thường đóng vai Im lực lượng châm ngòi của nhiều biến cô chính trị và các phong Irào xã hội
Còn ở Đ ỏng Dư(íng thuộc Pháp, lực lượng trí thức có cùng chung mộl
sô phận với nhân dân lao động, là người vừa bị hóc lột lại vừa bị chùn cp Quá
trình "Pháp hoá" về các lĩnh vực trong đó có văn hoá và giáo dục, sư du nhập
các luồng lư tưởng dân chủ, liên tiến của thời đại, lại sớm chịu ánh hưởng tư
tưởng cách mạng của các chiến sỹ cộng sản nên lực lượng trí thức làm háo ở
Việt Nam nói riêng và trí Ihức Việt Nam nói chung có những nét riêng Đỏ là
liền đề mang lại sắc thái liêng cho báo chí trí thức Việt Nam
Như vậy, theo sự phân lích của Mác, Lô Nin và thực lế lịch sử của Đổng
Dương, tố elìấl cấu thành nôn lực lượng trí thức Việt Nam m ang tính tổng hợp
Vấn đề này đã được phân lích ở m ục 1.3.2 Những người làm báo - nhà trí
ihứe, nhà học ihuậl và là nhà hoại động chính trị thuộc nhỏm trí thức Viột
Nam Irong những năm đầu ihế kỷ XX là như vạy
Trong bối cảnh lịch sử có nhiều biến động: sự íhay đổi của hạ tầng cơ
sử, sự du nhập của nền kinh tế lư bản phương Tíiy, sự xuất hiện nhiều khuynh
hướng xã hội - chính trị vào những lliập kỷ đầu, của thố kỷ XX, sự trưởng
thành của báo chí trí thức thời kỳ 1939 - 1945 đã góp phần phát triển ý thức
dân lộc và chủ nghía yêu nước trong các giai làng xã hội Việt N am , lạo những
yếu tốt thuận lợi cho những người cộng sản Iruyền bá chủ nghĩa M ác - Lê Nin
vào Việt Nam Hoại động của háo chí trí Ihức đã đỏng góp m ột phần rấl quan
trọng trong tiến trình lịch sử đấu tranh giành chính quyền llìừi kỳ 1939 - 1945
Trang 33T hanh Nghị ra số 1 vào tháng 6/1941, tuy nhiên trước đó mộl iháng,
tháng 5/1941, Thanh Nghị - trẻ cm dã chào đời
Thanh Nghị là tờ tạp chí nghị luận, vãn chương, khảo cứu Mỗi tháng ra
mộí kỳ Từ ngày r r Mai 1942 mỗi tháng ra hai kỳ, sau đó ra hàng tuần Cách
đánh số trang giỏng như tạp chí Tri Tân, nghĩa là đánh số Irang theo từng kỳ
báo và đánh sô trang theo lừng năm
X uất xứ của tờ Thanh Nghị đã dược chủ nhiệm háo Vũ Đình Hoè kể lại
khá kỹ Irong hồi ký của ông Ban đầu chì là lâm sự của những người hạn: Vũ
Văn Hiền, Phan Anh và Vũ Đình Hoe tốt nghiệp cử nhân luât và hoại động
lích cực cho Tổng hội sinh viên cùng với Hoàng Thúc Tấn, thư ký loà Đốc lý
Hà Nội, sau đó mở xương dệt kinh doanh và Lê Huy Vân, làm việc tại toà
llumg sứ Bắc Kỳ Đứng trước lliời CIIÔC có nhiều hiến dông, là những người Irí
lliức, đau đáu trước cánh đất nước chìm trong nô lộ, một cổ hai tròng Hụ cùng
cảm nhân có m ột cái gì lớn lao phía sau cái không khí âm u ngộl ngại của đời
sống xã hội sắp xảy ra Phải làm một cái gì dó, phải chuẩn bị hành trang cho
m ột cộng đổng Ngó sang đàn anh các bậc nho gia khăn xếp Nguyễn Văn Tố,
Dương há Trạc, H oàng Thúc Trâm, Tiên Đàm, Khuông Việt, Nhậi Nam, Chu
Thiên đang vùi đầu vào vốn cổ, lục lìm những linh khí viốl cho bản háo Tri
Tân Nhìn sang Văn Mới, với những gương mặt lão luyện Trương Tửu, Đ ặng
Thái Mai, v.v dang mải mê đi lìm “một iriốt lý nhân sinh, có ích lợi Ihiốt
Trang 34thực cho cuộc sống hiện tại của quốc dan Việi Nam” I lọ cho rằng xã hội Việt
Nam đang cần một hiện thực cho lương lai Họ quyết định ra một tờ háo Mội
lờ háo “cho giới trí thức, cho thanh niên trí thức đọc Một tờ háo, một liếng
nói công khai, hợp pháp Nhưng lining lliắn, chân thành Tất nhiên phải khéo
léo, khôn ngoan Để động viên lòng yêu nước của mọi người, trước hết là
người trí thức Đồng ihời nghiên cứu một số vấn đề của xã hội đặl ra, của dơi
sống đặi ra” (48-34)
Thanh Nghị ra đời ban đầu như là cuộc chơi có ý Ihức của một nhóm Irí
thức yêu nước, nhưng càng về sau họ càng tự tìm, nhận chân giá trị của các
vân đề đã được trình bày trên báo Các tôn chỉ, mục đích của háo đã toái lên
cân bán lư urởng của nhóm: “Thông hiểu sự vật và tu tưởng Thu nhặt tài
liệu đê g ó p vào việc giải quyết những vấn d ể quan hệ đến đời sông của dân tộc Việt Nam - P hụng sự một nền nghệ thuật chân chính phô thông mà
k h ô n g g iảm g i á ”.
Trong bối cảnh xã hội bị Pháp - Nhật cấu kết với nhau để bóc lột, bòn
l út, phục vụ cho cuộc chiến tranh ở chính quốc Chính trị, tư tưởng rối ren làm
cho lưỡi dao kiểm duyệl báo chí càng khắt khe, tàn bạo Được cụ Đoàn Kế
Thiện để lại giấy phép, lừ một Thanh Nghị “tạp chí văn chưưng - chính trị
kinh tế” đã chuyển sang xu hướng thiên hẳn lí luận khoa học, thành một
Thanh Nghị (nghị luận, văn chương, khảo cứu), và họ đã cố gắng khéo léo đưa
của mình
Trong hài viết “Trơi nước Nam làm g ì”, nhân đọc hồi ký Thanh Nghị
của Vũ Đình Hoc, xuất bản 1997 của giáo sư Đại học Pronence Trịnh Văn
Thảo, trôn tạp chí Thời Đại số 2 - 1998, xuất bản tại Paris đã đánh giá vai trò
của nhóm Thanh Nghị nói riêng và của ihế hệ “hai mươi lăm” nói chung Ông
cho rằng cái mà ảnh hưởng chủ yếu về tư urửng của họ chính là quá trình mà
thố hệ “ hai mươi lãm ” đã di qua “ Họ là những người sanh dỏ phần đông trong
giới nho gia vào hai thập niên dầu thế kỷ, họ hước vào ngưỡng cửa của học
Trang 35đường dưới ch ế độ học chính Pháp Việt của Alhci h Sarraul năm 1917, xuống
dường đòi ân xá các lãnh lụ quốc gia như Phan Bội Châu, Nguyễn An N inh
công khai Iruy điệu và để lang cụ Phan Chu Trinh, thi vào đại học những năm
ha mươi, chứng kiến các phong trào dấu trạnh “đẩy máu và nước m ắt” của
Việt Nam Q uốc dân đảng và Đảng cộng sản, ra dường và đi tìm việc những
năm điêu đứng của khủng hoảng kinh tế, những năm hy vọng và thất vọng của
Mặt trân hình dân và những cuộc tranh chấp quốc tế đưa đến thê' giới chiến
thứ hai(48-34)
Như vậy, họ được lớn lên trong một nền chính giáo của Nhà nước hảo
hộ Họ được chứng kiến những biến thiên của giai đoạn lịch sử m à m ột dân
tộc thuộc địa phải gánh chịu của một chính sách cai trị thực dân T h ế nhưng,
họ lại phải “chấp nhận một thực lại phũ phàng: nạn trí ihức thấl nghiệp” Phần
lớn các thành viên của Thanh Nghị được học thành nghề nhưng lại không
được hành đúng nghề Như vậy, hiển nhiên trong con mắt của họ đôi với người
Pháp, với Chính phủ bảo hộ không như lớp.học gia đầu thế kỷ Họ không nghi
ngờ nữa, mà Ihực sự không (in vào Pháp, Pháp đã hèn hạ đầu hàng Đức, đã
nhu nhược chấp nhận phát xít Nhật vào Đông Dương Pháp không những phản
bội các nước thuộc địa, mà phản hội ngay cả chính mình
p Bro cheux - một giáo sư trường Đại học Tổng hợp Paris VII lại có
cách nhìn ở khía cạnh khác đổ nói lên tính cách cấp tiến, yêu nước của nhóm
Thanh Nghị, ông cho rằng “Thanh Nghị như là lấm gương phản chiếu văn hoá,
một công cụ để diễn đạt những nỗi băn khoăn, những khát vọng, những yêu
sách của một số khá đông trí lhức” (48-449)
Ong đặt mối liên hệ giữa một hôn là những người hiên tập và bên kia là
Đ ảng cộng sản Đ ông Dương Trong bối cảnh những năm 1939 - 1944 “thực đa
dạng đan xen nhiều mâu thuẫn dân tộc, giai cấp, các xu hướng khiến cho
sinh hoạt lư iưởng, văn hoá càng phức tạp hơn” (12- Nhiệm vụ hức xúc của
Đ ảng cộng sản Đông Dương lúc này là theo dõi chặt chẽ tình hình, xây dựng
lực lượng, nắm lấy thời cơ để làm một cuộc cách m ạng giải phóng dân tộc
Đ ảng vẫn không quên trách nhiệm của mình, đã đề ra bản “Đề cương vãn hoá
Trang 36Việt N am ” đổ xây dựng “mộl nền văn hoá dân tộc, khoa học, đại chúng” Sự
liên hệ đỏ được ông lập luận và đi đến nghi ngờ mội cách võ đoán nhưng lại
không Ihiếu cơ sở thực liễn
“Phải chăng cuộc hành trình trí thức và chính trị của những người hiên
tập và cộng sự của Thanh Nghị đã tiến Iriổn song song với những sáng kiến?
Phải chăng đã có sự hoà hợp không những vì là kết quả của những mối lương
dồng về m ặ l tư lư ờng m à còn vì sự gắn b ó vổ lổ c h ứ c ” (48-4 5 1).
Như vậy, khuynh hướng lư iưửng lư do lư tưởng, liến bộ của nhỏm
Thanh Nghị phàn nào đã đáp ứng nhu cÀu hức lliiốl của xã hội lliừi kỳ 1939 -
1945 Họ không né tránh hiện thực xã hội, mà phản ánh hiện Ihực xã hội
Đ ồng thời họ như cảm quan được bước đi của dân lộc, như ihấy được đấl nước
dang chuyển mình
Đọc từng trang báo Thanh Nghị, cảm nhận như có một điều gì hối thúc
họ viết Đất nước đang è chề trong chính sách bóc lột tàn bạo của hai lên đ ế
quốc, lư tưởng rối ren với nhiều khuynh hướng đan xen nhưng T hanh Nghị
vẫn tin iưửng chính mình, không suy nhược nước thời loạn, chí lối cải tạo tinh
thần, rèn dũa linh thần, chí khí “Nghị lực là cái sức huyền hí để làm biến
những ý phải thành những ham muốn cao quý mạnh hdn những dục vọng tầm
thường và gìn giữ cho nó m ột sức mạnh bền bỉ” (32) M ột con người cải tạo
dược linh thẩn cho thanh cao, có những nghĩ suy cường liệt thì linh thần của
dân tộc sẽ không bị suy nhược
Yêu nước và phụng sự quốc gia là khẩu hiệu xuyên suốt hành đ ộng của
nhỏm Thanh N ghị Dù các bài viếl thể hiện dưới dạng nào, hiên khảo hay luận
bàn, sáng tác hay dịch thuật, phản ánh hiện trạng xã hội hay phân tích vấn đề,
dự báo vấn đề họ vãn không Irượt khỏi Irục đã xác định Càng về sau linh thẩn
yêu nước còn được gắn với hành động Hàng loại hài mang tính cách xã luân
như để bồi hổ thêm nhận thức về nhân sinh quan, như để xác định vị trí và
trách nhiệm trước Ihời cuộc Nhâì là tầng lớp trí Ihức, phải biết vận dụng tri
Ihức vào hành động có hữu ích cho quốc dân Tấn Phong bàn về “ học lliuậl và
hành động”đã cho rằng: “ Học Ihuậl khác hành động Đổ hành dộng ta chí cán
Trang 37mội lòng tin; nhưng học tlìuệl hắt buộc la phải có một hộ óc vô tư, chỉ biết
phụng sự cỏ sự ihật” và học ihuậl “ nỏ hao gồm cá sự ihậl, chứ không thổ nlụm
thì không chú ý đến những sự kiện khác” Đưa ra các quan niệm đó, lác giả
phan đôi những “ lý thuyết mập mờ, những lập luận quá thiên lệch” , chỉ nguỵ
hiện mà không dựa vào thực liễn khách quan Thế Thuỵ phê phán những thái
độ khinh lliị học vấn của những kẻ mới được dăm ha chữ đã hiu môi, khinh
thường học vấn Ông cũng cho rằng nếu “tin ớ hiệu lực sẩn lài năng của bằng
cấp bằng m ột lôi ngây thơ cũng không nên” , ở m ột klìía cạnh khác, chủ
nhiệm báo Vũ Đình Hoc nêu vấn đề “ Sinh kế và chí khí” , vổ mối tương quan
của chúng “ Kẻ cỏ chí thường coi thường danh lợi Nhưng vì chí hưởng mà
chịu đựng đói rét và để vự con nheo nhóc trong cảnh thiếu thốn, là m ột cử chỉ
đẹp thì đẹp lliật, nhưng chí có nghĩa lý đỏi với một vài cá nhân cỏ trọng uácli,
ở những trường hợp bất thường mà sự hi sinh có đôi chúi hiệu lực Cử chi ấy
không ihổ dưng lliành một phương châm hành vi cho khắp mọi người, trong
lình thế ihường và lâu dài”(32) Phan Quân lại nêu lliái độ khác nhau thường
xảy ra trong đời sống nhưng lại thường lẫn lộn nhau, dó là “ lin tướng với a
tòng” Ông cho rằng “người tin iưởng có kiên gan, có định kiến, đã tin một lý
iưởng, mội chủ nghĩa thì giốc một lòng thuỷ chung như nhấl, dầu vật đổi sao
giòi, họ vẫn thờ chủ nghía của họ Kẻ a lòng, như cái chong chóng, gió chiều
nào xoay chiều ấy, rấl hăng hái tán thành như mộl lư Irào đương thịnh mà
cũng rất hăng hái đã đảo phong Irào ấy lúc nó đã gần suy” (32-S83)
Các bài xã luận trên Thanh Nghị Iron ụ thời kỳ này đã tỏ rõ thái độ
chính kiến của họ irước những vấn đề mà xà hội đang đặt ra Thanh Nghị như
ngọn đuốc chỉ đường cho giới trí Ihức thấy rõ con đường trước mắt và vạn
mệnh đối với sự hiến đổi đang đốn gần Chuẩn bị tư iướng, đổ đi lới hànli động
với m ục đích phụng sự Tổ quốc Họ chưa có một nhãn quan chính trị trước
thời cuộc n h ư những người cộng sán, nhưng họ lại nhận biêì được cái đích
Trang 38phải đ ến , dể rồi vận dụng tri thức của mình để xây dựng xã hội trong
lương lai
2.1 2 Những nội dung chủ yếu
Thanh Nghị đại hiểu cho khuynh hướng lân học của lớp Ihanh niên trí
ihức mới 1 ỉọ tự cho “thông hiểu sự vậl và lư iưởng và muôn đứng ra Ihu nhặt
lài liệu để góp vào việc giải quyêl những vấn dề quan hệ đốn đời sống cùa dân
tộc V iệt N am ” , cho nên tờ báo có tính chất bách khoa, khảo cứu nhiều lĩnh
vực chính trị, kinh lế, xã hội, giáo dục, lịch sử
K h ảo cứu vế chính trị, hiến ph áp với nhiều bài viết của Phan Anh, Vũ
Văn Hiển, dưa ra những chính thổ dại nghị ở một số nước Pháp, Thổ, Ý, Trung
Hoa íừ đó để hàn chê độ Nhà nước ta sau chiến tranh, về xã hội tại cộng đồng
làng xà Việt Nam trên cơ sở nâng cao tinh thần cộng đồng làng xã với những
truyền thống tương ihân iưưng ái, phái triển kinh tế Irở thành những đơn vị sản
xuất nông nghiệp tiến bộ hoàn chỉnh
K h ả o cứu vê kinh t ế được lập trung chính vào hai số đặc hiệt số 7, số
đặc biệt về kinh tế Đông Dương, năm 1941 và đặc san Vài vấn đề Đ ông
Dương, dầu 1945 Các bài khảo cứu vổ nông nghiệp được chú ý nhiều hơn cả
Cây b úi chính là kỹ sư canh nông Nghiêm Xuân Ycm Ông nêu thực trạng của
dân quê dối nát lại nghèo, bởi “ tại đám Ihanh niên tân học bỏ nghồ nông kéo
nhau ra tỉnh, đ ã thế lại còn bĩu môi, khinh dân quê, lên mặt dạy người kỹ thuật
canh tá c ” Các bài viết của ông chủ yếu đi sâu vào điều tra những vấn đề cụ
thể n h ư vấn đề nước cho nhà nông; vấn đề chống độc canh trong sản xuất; vấn
đề phái triổn nghề chăn nuôi trâu h ò
G iáo dục là lĩnh vực mà Thanh Nghị đáng quan tâm nhất và cũng là
lình vực được chủ bíu Vũ Đình Hoè viết nhiều, trên các phương diện giáo dục
gia dinh, giáo dục học dường, giáo dục hình dân, vấn đồ đào lạo Ihanh niên,
xây dựng nền giáo dục Việt Nam 'Phanh Nghị coi Irọng giáo dục để làm sao
có được một thế hệ “công dân m ới” Cho nên Thanh Nghị nêu len hàng đầu
Trang 39vấn đề cải tạo tinh thần Ihế hệ hiện nay: giáo dục nhi đổng, giáo dục thanh
thiếu niên, giáo dục hình dân theo tinh lliần mới
Khảo cứu vê lịch sử đáng chú ý loạt hài “X ã hội Việt N am từ thê kỷ
X V I Ỉ ” của Nguyễn Trọng Phấn bàng những trang dịch đặc sắc thực tế dời
sống của nhân dân Bắc Kỳ và Trung Kỳ ihời xưa, về diện mạo con người, về
phong tục tập quán, về nghề nghiệp và sự giao lưu giữa các vùng miền với
nhau qua tác động của các cha cố truyền đạo
Nguyễn Thiệu Lâu lại đặt m ột vấn đề mới mẻ hơn, ông nghiên cứu sự
ihành lập dân tộc Việt Nam trong bài “ Mộl vấn đề lịch sử nên h ọ c ” (số 27
-1942) Giáo sư Đặng Thai Mai nêu “Vân đ ề sử liệu trong s ử h ọc nước ta
ngày nay” (Số 59 - 1944), trong đó nêu phương pháp sử học có nhiều quan
ngại bởi phải xếp lại quan điểm ngày xưa, phải đối chiếu với sự thực để xác
định mộl phương pháp viêì sử mỏi cách khoa học Sử liệti cũng cẩn phải lập
hợp lại hởi có còn tân m ác trong sách vở viết bằng chữ Tàu hoặc ử thư viện
ngoài nước, lliư viCn lư nhân Vổ cúc lư liCu phải chú ý dốn hương ước, hương
thư các làng, gia phả các họ lớn, các văn bia, thi văn Các khí cụ ngày xưa như
mảnh bát, lấm áo, đồng liền cũ, con dao, chiếc nồi cũng là sử liệu quý để
chứng minh
Nhà sử học Trần Văn Giáp cung cấp cho Thanh Nghị “Lược khảo về
tiểu thuyết T àu ” và “Tiểu th u yết Việt N am xưa ’ đăng trên nhiều kỳ Tiến sỹ Nguyễn Văn Huyên cho đăng “Lược khảo vê khoa thi hội Q u ý S ử u ”, Duy
Tân llìứ 7 (1913) Đây là khoa thi m ở ra thời kỳ chính phủ bắt đầu chuyển học
sinh sang Pháp du học, học cũ sắp làn, học mới dần dần xuấl hiện Nhà học
giả Nguyễn Văn T ố bỏ công nghiên cứu “So sánh sử ta với sử T à u ” Ngoài ra
còn nhiều bài viết về sử liệu thuộc cổ sử và thời kỳ cận đại thế kỷ 17 đến nay,
nhấl là thời kỳ Nam Triều
Văn hoá là mảng chính của lạp chí Thanh Nghị “ chiếm hơn m ột phần
ha tổng số trong suốt 120 số báo, rải ra trôn hơn 3000 trang háo rất phong phú
về nội dung và thể loại” T heo ông Vũ Đình Hoè, “ Irong m ột chừng mực nhất
Trang 40định họ đã phác Iháo ra những đặc điổm của nền vãn hoá Việi Nam trong buổi
giao Ihời giữa hai trào lưu Đ ổng và Tây, giữa hai nền vãn minh Âu - Á dang
chạm Irán nhau gần nửa thế kỷ Đ ồng thời các hài viết trên báo Thanh Nghị
cũng phản ánh phần nào sự m ò m ẫm chậl vật kéo dài của các nhà văn, nghẹ
sỹ, khoa học, lư tưởng nước ta hồi ấy, đang tìm đường xây dựng một nền văn
chương và học thuật vừa m ang lính chấl hiện đại, vừa hợp với lý trí tình cảm
của dân m ình” (48-360)
Đinh G ia Trinh là cây búl chuyên cần Irong lĩnh vực khảo luận và phê
hình văn học, ông có phương pháp phân tích sắc bén, nghiêm túc, có nhiều
nhận định hay Trong bài “X ác định địa vị văn hoá Tây Âu trong văn hoá
Việt Nam" (trong đặc san “ Vài vấn đ ề Đ òng D ư ơ n g”), ông cho rằng cái đặc
sắc mà Tây phương m ang lại là phương pháp khoa học để tìm lòi, giải thích,
áp dụng có hiệu quả Lê Huy Văn giải thích văn học nước la kể từ 1910, từ khi
có văn hoá tay Âu vào lấn ál văn hoá Trung Hoa trong bài ‘'Nghĩ về văn học
Việt Nam hiện đại” (cũng trong đặc san “Vài vân đê Đ ông D ư ơ n g ”) G iáo sư
Hoàng Xuân Hãn và nhà văn Hoài Thanh đi sâu nghiên cứu Nguyễn Du và
Truyện Kiều Diệu Anh giữ m ục điểm sách mới
M ột lực lượng sán g tác văn học mới cũng được I ’ll anh Nghị giới thiệu
Mội số cây hút trước đây viết cho nhà Tân Dân hoặc cho báo Ngày Nay như
Nguyễn Tuân, Đỗ Đức Thu, X uân Diệu, T ế Hanh, Huy C ân v ề sau, còn
mạnh dạn giới thiệu kịch Ihư của Vũ Hoàng Chương; thơ văn của nhóm “ Xuân
thu nhã lập”
Vổ hội họa âm nhạc, tiêu hiểu có hoạ sỹ Tô Ngọc Vân thường xuyên
viết cho T hanh Nghị, ông viết về Iranh cổ Iranh tết Việt Nam Ong đánh giá
công lao của hoạ sỹ Nguyễn Gia Trí đã dùng sơn la để có những mảng đẹp về
hình sắc và hộc lộ dược nội dung, lir tưởng của hội hoạ đưcíng đại v ề âm
nhạc, N guyễn Xuân K hoát được đào lạo ử lò nhạc Tây phương làm nghề kéo
dài “C ontrebasse”, viết nhiều hài kèm bản nhạc và iranh ảnh về cây đàn, cách
phát âm liếng hát