: NHỮNG NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC PHƯƠNG PHÁP KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TẠI CÔNG TY AASC I BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ VIỆC ÁP DỤNG CÁC KỸ THUẬT THU THẬP B
Trang 1: NHỮNG NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC PHƯƠNG PHÁP KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG
KIỂM TOÁN TẠI CÔNG TY AASC
I BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ VIỆC ÁP DỤNG CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY DỊCH VỤ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN
VÀ KIỂM TOÁN ( AASC ) THỰC HIỆN
1 Bài học về thiết kế chương trình kiểm toán
Mọi thủ tục kiểm toán đều được lập riêng cho từng khoản mục trên Báo cáo tài chính với mục đích thu thập bằng chứng cho từng mục tiêu kiểm toán riêng biệt Việc thiết kế chương trình kiểm toán theo hướng chi tiết hoá các thủ tục kiểm toán
đã giúp cho kiểm toán viên dễ dàng tiếp cận các kỹ thuật thu thập bằng chứng khác nhau để hạn chế những rủi ro tương ứng
2 Bài học về sự kết hợp các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán khác nhau
Kiểm toán viên của AASC thường có sự kết hợp giữa các phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán để có được bằng chứng với độ tin cậy cao hơn Cụ thể, khi thực hiện thử nghiệm kiểm soát đối với các khoản mục, kiểm toán viên vừa kết hợp cả kỹ thuật kiểm tra đối chiếu tài liệu với kỹ thuật phỏng vấn để đảm bảo các thủ tục kiểm soát được thực hiện một cách đúng đắn Hoặc khi tiến hành kiểm toán tiền gửi ngân hàng, kiểm toán viên tiến hành gửi thư xác nhận đồng thời so sánh số
dư trên sổ sách kế toán với số dư trên báo cáo của ngân hàng, và số dư trên bản đối chiếu với ngân hàng
3 Bài học về sự kết hợp giữa các khoản mục trong thu thập bằng chứng
Trong các cuộc kiểm toán, kiểm toán viên của AASC thường phối hợp với nhau để giảm thiểu các công việc mà người khác đã làm Ví dụ: khi kiểm toán doanh thu hoạt động tài chính: khi kiểm toán khoản mục doanh thu hoạt động tài
Trang 2chính chênh lệch tỷ giá, kiểm toán viên sẽ lấy kết quả khi kiểm toán TK 413 để kết luận đối với tài khoản này Hay khi kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng, kiểm toán viên có thể dựa vào kết quả kiểm toán khoản mục hàng tồn kho Kiểm toán viên dựa vào kết quả kiểm toán hàng tồn kho trong việc xác định số lượng hàng bán ra, trên cơ sở đó ước tính được doanh thu bán hàng trong kỳ Mặt khác, kết quả kiểm toán doanh thu bán hàng cũng được sử dụng khi kiểm toán thuế giá trị gia tăng đầu ra bởi giữa doanh thu bán hàng và thuế giá trị gia tăng đầu ra có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
4 Bài học về cách ghi chép trên giấy tờ làm việc
Tại AASC, việc ghi chép trên giấy tờ làm việc của các kiểm toán viên đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thành chương trình kiểm toán và thu thập bằng chứng kiểm toán có tính thuyết phục cao Chỉ cần thông qua giấy tờ làm việc của các kiểm toán viên, người kiểm tra, soát xét có thể thấy rõ kiểm toán viên đã thực hiện những kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán nào, và việc thực hiện những
kỹ thuật đó thu thập được những gì, quá trình thực hiện các kỹ thuật đó được tiến hành như thế nào và kết luận ra sao Tất cả đều được thực hiện một cách có trình tự
và rõ ràng, việc đánh tham chiếu được thực hiện trong mọi cuộc kiểm toán Việc ghi chép giấy tờ làm việc khoa học và dễ hiểu còn giúp cho người làm báo cáo kiểm toán và thư quản lý giảm bớt được thời gian và hiệu quả công việc cũng được tăng lên
II SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN VIỆC THU THẬP BẰNG
CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI AASC
Hiện nay, trên thế giới, hội nhập và toàn cầu hoá đang trở thành xu thế tất yếu của thời đại Trước xu thế đó Việt Nam cũng trong quá trình hội nhập như: tham gia vào các cam kết hội nhập khu vực ASEAN , ký hiệp định thương mại Việt –
Trang 3Mỹ, gia nhập tổ chức mậu dịch tự do ASEAN ( tên viết tắt AFTA )… Điều này đặt
ra cơ hội và thách thức lớn đối với tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam trong đó có loại hình dịch vụ kế toán kiểm toán Để có thể đứng vững trên thị trường, các Công ty kiểm toán phải nâng cao chất lượng của hoạt động kiểm toán nói chung và kiểm toán Báo cáo tài chính nói riêng
Có một quy trình kiểm toán có hiệu quả giúp Công ty kiểm toán giảm bớt được chi phí mà còn giảm thiểu rủi ro kiểm toán, đồng thời tạo được uy tín và danh tiếng của các dịch vụ Công ty cung cấp cho khách hàng
Ban giám đốc của AASC nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, luôn đặt nhiệm vụ phải hoàn thiện quy trình kiểm toán sao cho khoa học hơn và phù hợp hơn lên hàng đầu Để có thể hoàn thiện được quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính thì trước hết phải hoàn thiện việc thu thập bằng chứng kiểm toán Bằng chứng kiểm toán
là cơ sở để kiểm toán viên hình thành nên ý kiến của mình về Báo cáo tài chính được kiểm toán từ đó hình thành nên kết luận kiểm toán Sự thành công của toàn bộ cuộc kiểm toán phụ thuộc chủ yếu vào việc thu thập bằng chứng kiểm toán Trong đó, các
kỹ thuật để thu thập bằng chứng kiểm toán lại là sự đúc kết, khái quát hoá những kinh nghiệm kiểm toán trên cơ sở phương pháp luận biện chứng và phương pháp cụ thể khoa học về giải tích, về quy hoạch, về xác suất và thống kê toán Do đó, hệ thống các phương pháp này cần được hoàn thiện không ngừng qua thực tiễn hoạt động kiểm toán Hoàn thiện các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán để nâng cao chất lượng và giảm thiểu chi phí trong các cuộc kiểm toán nói chung và kiểm toán Báo cáo tài chính nói riêng cũng là một vấn đề không thể thiếu được đối với AASC cũng như đối với bất cứ Công ty kiểm toán nào trong quá trình phát triển của mình
Trang 4III- PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN VIỆC THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO AASC THỰC HIỆN
1 Kiến nghị 1: Về việc xác định mức độ trọng yếu, rủi ro và số lượng bằng chứng cần thu thập
Việc xác định mức trọng yếu, rủi ro để từ đó dự trù số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập là rất quan trọng đối với toàn bộ quy trình kiểm toán Vì đánh giá của kiểm toán viên về mức trọng yếu liên quan đến số dư các tài khoản và các giao dịch chủ yếu sẽ giúp kiểm toán viên xác định được các khoản mục cần kiểm tra và quyết định nên áp dụng thủ tục chọn mẫu hay thủ tục phân tích Việc đánh giá mức trọng yếu cũng sẽ giúp kiểm toán viên lựa chọn những thủ tục kiểm toán thích hợp
và việc kết hợp các thủ tục kiểm toán thích hợp đó với nhau sẽ làm giảm được rủi
ro kiểm toán tới mức độ có thể chấp nhận được
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề nêu trên nên AASC đã xây dựng một quy trình đánh giá mức độ trọng yếu thống nhất trong toàn Công ty gồm 5 bước Theo phương pháp này, để hỗ trợ việc lập kế hoạch thu thập bằng chứng kiểm toán Đầu tiên, kiểm toán viên xây dựng ước lượng ban đầu cho toàn bộ Báo cáo tài chính về mức độ trọng yếu Tiếp đó, phân bổ ước lượng về mức độ trọng yếu Ban đầu cho các khoản mục nhằm xác định các bằng chứng thích hợp cần thu thập Công ty AASC cũng quy định bằng văn bản các chỉ tiêu được dùng làm cơ sở tính trọng yếu nhằm tạo nên sự thống nhất trong đánh giá trọng yếu
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện kiểm toán đối với một số khách hàng có quy mô nhỏ, kiểm toán viên của AASC thường chỉ đánh giá ở mức độ khái quát về tính trọng yếu và việc đánh giá tính trọng yếu chưa được thể hiện đầy đủ trên giấy
tờ làm việc Điều này làm giảm hiệu quả công việc và gây khó khăn cho kiểm toán viên khi xác định quy mô bằng chứng cần thu thập Để đảm bảo thu thập được đầy
đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp và tránh cho kiểm toán viên Công ty kiểm toán
Trang 5gặp rủi ro sau cuộc kiểm toán, kiểm toán viên của AASC cần đánh giá mức độ trọng yếu theo đúng quy trình mà Công ty đã xây dựng
Tại AASC, kiểm toán viên căn cứ vào đặc thù doanh nghiệp, tình hình và triển vọng kinh doanh của khách hàng để đánh giá rủi ro kiểm toán mong muốn, căn cứ vào đặc điểm của khách hàng để đánh giá rủi ro cố hữu và căn cứ vào những hiểu biết của mình về hệ thống kiểm soát nội bộ để đánh giá rủi ro kiểm soát Kiểm toán viên sử dụng các mức định tính: thấp, trung bình, cao, để đánh giá rủi ro nhưng không có căn cứ đi kèm hoặc trình bày không rõ ràng Bên cạnh đó, kiểm toán viên chưa gắn việc xác định rủi ro phát hiện và số lượng bằng chứng kiểm toán phải thu thập Do đó, để nâng cao hiệu quả công tác kiểm toán, kiểm toán viên nên sử dụng những kết quả đánh giá rủi ro để quyết định số lượng bằng chứng kiểm toán cần phải thu thập
2 Kiến nghị 2: Về việc áp dụng thủ tục phân tích
Tại AASC, thủ tục phân tích được sử dụng phổ biến là phân tích xu hướng và phân tích tỷ xuất Thông tin phân tích chỉ là thông tin tài chính Đối với từng khoản mục, kiểm toán viên thường chỉ phân tích chênh lệch về số tương đối và số tuyệt đối của số dư khoản mục đó trong kỳ được kiểm toán với kỳ trước Trong phân tích
xu hướng, kiểm toán viên thường chỉ lập bảng tính và phân tích xu hướng biến động của doanh thu, chi phí của niên độ này với niên độ trước hoặc sự biến động qua các tháng trong năm Phân tích tỷ suất thường được kiểm toán viên sử dụng trong phân tích sơ bộ ở giai đoạn lập kế hoạch và phân tích soát xét ở giai đoạn hoàn thành cuộc kiểm toán
Khi thực hiện thủ tục phân tích, kiểm toán viên nên sử dụng thêm nhiều tỷ suất tài chính hơn nữa (đặc biệt là các tỷ suất đặc thù với từng ngành ) như: tỷ suất quay vòng bình quân các khoản phải thu, tỷ suất lợi tức trên tổng cộng tài sản… Khi đã có số liệu về phân tích ngang và phân tích dọc thì kiểm toán viên phải đưa ra những nhận định về dữ liệu đó Kiểm toán viên nên so sánh thêm các thông
Trang 6tin tài chính của doanh nghiệp với các thông tin của các đơn vị trong cùng ngành
có cùng quy mô hoạt động, hoặc số liệu thống kê, định mức bình quân của toàn ngành ( như: tỷ suất đầu tư, tỷ lệ lãi gộp… ), qua đó sẽ thấy được mức độ phấn đấu cũng như khả năng phát triển trong tương lai của đơn vị khách hàng
Ngoài việc xem xét mối quan hệ giữa các thông tin tài chính với nhau (ví dụ: mối quan hệ giữa lãi gộp với doanh thu, doanh thu với giá vốn…) kiểm toán viên cần phải xem xét cả mối quan hệ giữa thông tin tài chính và phi tài chính Cụ thể là: xem xét mối quan hệ giữa sản lượng cung ứng, tính kịp thời của việc cung ứng, chất lượng sản phẩm cung ứng, mức độ đổi mới sản phẩm hay dịch vụ trong kỳ với doanh thu, lãi gộp; mối quan hệ giữa chi phí nhân công với số lượng nhân viên… Kiểm toán viên nên sử dụng phần mềm EXCEL vẽ các đồ thị trong quá trình phân tích như: đồ thị hình cột biểu thị xu hướng, đồ thị hình tròn biểu thị tỷ suất Thông qua việc vẽ đồ thị, kiểm toán viên sẽ có cái nhìn toàn diện về xu hướng biến động của từng đối tượng phân tích chung, đồng thời lại nắm được các xu hướng biến đổi riêng của từng đối tượng nhỏ hơn Từ đó, kiểm toán viên sẽ đưa ra được những kết luận và dự đoán chính xác hơn cho đối tượng phân tích Việc kiểm toán viên sử dụng đồ thị phân tích giúp cho người soát xét hồ sơ kiểm toán theo dõi nắm bắt thông tin nhanh chóng và
dễ dàng hơn
3 Kiến nghị 3: Về việc chọn mẫu kiểm toán
Kiểm toán viên AASC chọn mẫu chủ yếu trên cơ sở khoản mục lớn với mức bao quát tổng thể trên 60% là hợp lý Với cách chọn mẫu kiểm toán như trên, quy
mô mẫu sẽ giảm, giúp tập trung vào các khoản mục trọng yếu, nhưng vấn đề đặt ra
là có thể rủi ro do chọn mẫu sẽ cao do số còn lại không được lựa chọn kiểm toán
có các sai phạm với tổng mức sai phạm ở mức độ trọng yếu cần xem xét mà không được kiểm toán viên xem xét Do vậy, khi thực hiện chọn mẫu kiểm toán, ngoài việc lựa chọn các phần tử lớn để kiểm tra, kiểm toán viên cũng cần phải chú
Trang 7ý tới các phần tử nhỏ hơn bởi tổng mức sai phạm của các phần tử này có thể trọng yếu Kiểm toán viên có thể thực hiện phân tổ tổng thể để chọn mẫu
Phân tổ là kỹ thuật phân chia một tổng thể thành các phân nhóm tương đối đồng nhất gọi là tổ Các tổ này có thể được đánh giá riêng rẽ hay kết hợp để cung cấp một ước lượng về những đặc trưng của toàn bộ tổng thể Với kỹ thuật phân tổ, các phần tử có giá trị lớn hoặc rất nhỏ, các phần tử có đặc trưng bất thường sẽ được tách ra thành các tổng thể con riêng biệt, mỗi tổng thể mới tạo thành sẽ đồng nhất hơn tổng thể cũ Điều đó cũng giúp cho kiểm toán viên dễ dàng lấy ra được các mẫu đại diện cho tổng thể Lúc này, số lượng các phần tử phải chọn để đánh giá một số tổng thể riêng lẻ sẽ nhỏ hơn số phần tử phải dùng để đánh giá toàn bộ tổng thể mẫu ban đầu
Một ưu điểm khác của kỹ thuật phân tổ là giúp cho kiểm toán viên gắn việc chọn mẫu với tính trọng yếu hoặc các đặc trưng của các phần tử, đồng thời có thể
áp dụng các thủ tục kiểm toán thích hợp cho mỗi tổ Thông thường kiểm toán viên kiểm tra 100% các tổ chứa các phần tử trọng yếu, các tổ còn lại sẽ được áp dụng tỷ
lệ chọn mẫu thích hợp
Để đánh giá cỡ mẫu kiểm toán có hiệu quả hơn, kiểm toán viên nên xem xét thêm các yếu tố:
- Tổng sai sót mà kiểm toán viên có thể chấp nhận được: tổng sai sót mà kiểm toán viên có thể chấp nhận được càng thấp, thì cỡ mẫu cần thiết càng phải lớn
- Số liệu sai sót kiểm toán viên dự định sẽ phát hiện trong tổng thể Kiểm toán viên dự tính các sai sót phát hiện được trong tổng thể càng lớn thì cỡ mẫu cần thiết càng phải tăng thêm để có thể đưa ra một mức ước tính hợp
lý về số liệu sai sót thực sự của tổng thể
Về việc lựa chọn các phần tử của mẫu: Kiểm toán viên phải lựa chọn các phần
tử của mẫu sao cho tất cả các đơn vị lấy mẫu trong tổng thể đều có thể có cơ hội
Trang 8được chọn Lấy mẫu thống kê đòi hỏi các phần tử được chọn vào mẫu một cách ngẫu nhiên để mỗi đơn vị lấy mẫu đều có cơ hội được chọn như nhau Đơn vị lấy mẫu có thể là hiện vật ( Ví dụ: hoá đơn ) hoặc theo đơn vị tiền tệ Theo phương pháp lấy mẫu phi thống kê, kiểm toán viên sử dụng xét đoán nghề nghiệp để chọn các phần tử của mẫu Mục đích lấy mẫu là để rút ra kết luận về tổng thể nên kiểm toán viên cần lựa chọn mẫu đại diện gồm các phần tử mang đặc điểm tiêu biểu của tổng thể, tránh thiên lệch, chủ quan
Các phương pháp chủ yếu để lựa chọn các phần tử của mẫu nên được sử dụng:
- Sử dụng một chương trình chọn số ngẫu nhiên hoặc bảng số ngẫu nhiên
- Lựa chọn theo hệ thống: Trước hết xác định khoảng cách lấy mẫu được tính bằng cách chia số lượng phần tử của tổng thể cho cỡ mẫu Giả sử với một tổng thể có 10.000 phần tử, cỡ mẫu cần thiết là 200 thì khoảng cách lấy mẫu là 50 Sau đó chọn điểm xuất phát bất kỳ của phần tử đầu tiên và
cứ thế cách 50 phần tử sẽ chọn một phần tử vào mẫu Khi sử dụng phương pháp chọn mẫu theo hệ thống, kiểm toán viên cần xác định các đơn vị lấy mẫu trong tổng thể không được sắp xếp theo cách mà khoảng cách lấy mẫu trùng hợp với một kiểu sắp xếp nhất định trong tổng thể
4 Kiến nghị 4: Về việc sử dụng ý kiến chuyên gia bên ngoài
Trong một cuộc kiểm toán có quy mô lớn và phức tạp có một số các vấn đề
mà kiểm toán viên bị hạn chế về tầm hiểu biết thì Công ty kiểm toán cần phải thuê các chuyên gia bên ngoài để cùng thực hiện công việc Theo nguyên tắc kiểm toán Quốc tế số 18 – sử dụng tư liệu của các chuyên gia: Trình độ học vấn và kinh nghiệm của bản thân sẽ giúp kiểm toán viên nắm bắt được các vấn đề kinh doanh nói chung nhưng kiểm toán viên không thể là những chuyên gia thông thạo của các chuyên nghành khác Khi thực hiện kiểm toán một khách hàng có các nghiệp vụ phức tạp, kiểm toán viên có thể thu thập các ý kiến đánh giá và ý kiến xác định của các chuyên gia
Trang 9Tại AASC khi thực hiện kiểm toán tài chính, Công ty ít sử dụng ý kiến của các chuyên gia để đánh giá chính xác giá trị của một số khoản mục như: hàng tồn kho, tài sản cố định Trong hầu hết các doanh nghiệp, việc xác định giá trị của hai khoản mục này đôi khi gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy, trong một số trường hợp kiểm toán viên nên sử dụng ý kiến của các chuyên gia để có thể đưa ra ý kiến một cách chính xác nhất
5 Kiến nghị 5: Về việc sử dụng các ước tính của kiểm toán viên
Tại AASC, kiểm toán viên thường chỉ tính toán các phép tính mà kế toán tại đơn vị đã thực hiện mà không đưa ra các ước tính của mình Điều này làm giảm hiệu quả của cuộc kiểm toán nhất là khi phải thực hiện nhiều phép tính mới đánh giá được tính chính xác của số dư một số tài khoản Để nâng cao hiệu quả của các cuộc kiểm toán do AASC thực hiện, khi thu thập bằng chứng kiểm toán qua kỹ thuật tính toán thì kiểm toán viên của AASC nên kết hợp việc xem xét, kiểm tra quá trình tính toán của đơn vị với việc độc lập ước tính của kiểm toán viên, đối chiếu số liệu của đơn vị được kiểm toán với dự đoán của kiểm toán viên
Để đưa ra các ước tính kế toán tương đối sát thực, thông thường kiểm toán viên phải căn cứ vào các yếu tố cơ bản như:
- Xác định sự cần thiết của các ước tính kế toán Ví dụ: khả năng xảy ra các khoản nợ khó đòi hay sự giảm giá của hàng tồn kho…
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến các ước tính kế toán Ví dụ, việc giảm giá hàng tồn kho có thể là kết quả tổng hợp hay từng nhân tố riêng biệt như thị trường, chất lượng hàng, sự xuất hiện của những mặt hàng thay thế…
- Đưa ra các giả định để ước tính mức ảnh hưởng của các nhân tố
- Cộng dồn các dữ liệu và ước tính giá trị…
Sau khi kiểm toán viên đã có được con số ước tính, kiểm toán viên đối chiếu kết quả ước tính với kết quả của đơn vị và tìm rõ nguyên nhân của các chênh lệch
Trang 10(nếu thấy cần thiết) Tuy nhiên, không phải lúc nào kiểm toán viên cũng có thể đưa
ra được một kết luận về nguyên nhân thực sự của một chênh lệch kiểm toán hoặc ý định của những người có liên quan đến chênh lệch này Nếu vi phạm được khẳng định, kiểm toán viên phải đảm bảo rằng sai sót đó ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính
và cần có đầy đủ những thuyết minh cần thiết và báo cáo ngay những chênh lệch này cho người có trách nhiệm Nếu như kiểm toán viên không khẳng định hoặc xoá
bỏ được mối nghi ngờ về sự sai phạm hoặc những chênh lệch kiểm toán đã báo cáo nhưng đơn vị khách hàng không đồng ý sửa đổi thì kiểm toán viên sẽ cân nhắc ảnh hưởng của chúng đối với Báo cáo tài chính và đối với ý kiến của kiểm toán viên
6 Kiến nghị 6: Về việc sử dụng tư liệu của kiểm toán viên khác
Các kiểm toán viên của AASC khi tiến hành kiểm toán tại các Công ty thường
sử dụng tư liệu của các kiểm toán viên khác Trong khi lập kế hoạch kiểm toán đối với khách hàng mới, kiểm toán viên chính của AASC đã sử dụng tư liệu của kiểm toán viên khác Tuy nhiên, kiểm toán viên chính chưa xem xét năng lực chuyên môn của Công ty kiểm toán và kiểm toán viên khác dựa trên bối cảnh công việc thực tế Sự phối hợp giữa kiểm toán viên chính và các kiểm toán viên còn lại đôi khi thực hiện chưa khoa học Khi kiểm toán báo cáo tài chính cho các Công ty, Tổng Công ty có các đơn vị cấp dưới, báo cáo tài chính của đơn vị cấp dưới được hợp nhất trong báo cáo tài chính của đơn vị cấp trên do kiểm toán viên chính thực hiện kiểm toán Kiểm toán viên chính không thông báo kịp thời cho các kiểm toán viên khác về những vấn đề có ảnh hưởng quan trọng đến báo cáo tài chính của đơn
vị cấp dưới mà kiểm toán viên chính đã phát hiện được Ngược lại, kiểm toán viên khác cũng chưa thông báo kịp thời các vấn đề có ảnh hưởng đến công việc của kiểm toán viên khác mà kiểm toán viên chính quan tâm Sự thông báo qua lại thông tin nên tiến hành ngay khi cuộc kiểm toán bắt đầu, tại AASC sự thông báo qua lại thông tin được thực hiện trong quá trình kiểm toán, khi các kiểm toán viên