1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC DOANH THU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

41 539 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở lý luận chung về kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 70,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những lĩnh vực kinh doanh cóảnh hưởng đến rủi ro kiểm toán như: Vận chuyển hành khách, vận chuyển hành lý, vậnchuyển hàng hoá, thư tín, bán hàng, đồ lưu niệm,… Với những lĩnh vực kinh do

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC DOANH THU TRONG KIỂM

TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1 Doanh thu

1.1.1 Khái niệm

Theo Chuẩn mực Kế toán số 14, ban hành và công bố theo Quyết định số49/2001/QĐ/BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ Tài chính thì doanh thu là tổng giácác lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sảnxuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng nguồn vốn chủ sởhữu

Doanh thu phát sinh từ giao dịch, sự kiện được xác định bởi thoả thuận giữadoanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản Nó được xác định giá trị hợp lý củacác khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ đi các khoản chiết khấu thương mại,giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại

1.1.2 Phân loại doanh thu

Căn cứ vào tiêu thức phân loại khác nhau mà doanh thu có thể được phân loạinhư sau:

Theo tiêu thức lĩnh vực hoạt động mà có thể có các loại doanh thu sau:

- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

- Doanh thu hoạt động tài chính

- Doanh thu khác

Theo tiêu thức doanh thu đã thực hiện và chưa thực hiện có thể phân loạithành:

- Doanh thu thực hiện

- Doanh thu chưa thực hiện

1.1.3 Các quy định trong hạch toán doanh thu

1.1.3.1 Tài khoản sử dụng trong hạch toán doanh thu

Trong quá trình hạch toán doanh thu, các tài khoản thường hay được sử dụng baogồm có sáu tài khoản, chia thành 3 nhóm:

Trang 2

 Nhóm tài khoản 51 – Doanh thu, có 03 tài khoản

- Tài khoản 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ;

- Tài khoản 512 – Doanh thu nội bộ;

- Tài khoản 515 – Doanh thu hoạt động tài chính

 Nhóm tài khoản 52 - Có 01 tài khoản

- Tài khoản 521 – Chiết khấu thương mại

 Nhóm tài khoản 53 – Có 02 tài khoản

- Tài khoản 531 – Hàng bán bị trả lại;

- Tài khoản 532 – Giảm giá hàng bán

 Tài khoản 3387 – Tài khoản doanh thu chưa thực hiện

Ngoài ra, trong quá trình hạch toán doanh thu, kế toán còn sử dụng những loại tàikhoản khác liên quan như: Tài khoản phản ánh Hàng tồn kho (TK 152, 153, 155, 156,157), Giá vốn hàng bán, Thuế GTGT được khấu trừ và thuế GTGT phải nộp,…

Kế toán số 14 doanh thu và thu nhập khác của Bộ Tài chính và các quy định của chế độ kếtoán hiện hành Khi không thoả mãn các điều kiện ghi nhận doanh thu không hạch toán vàotài khoản doanh thu

 Khi hàng hoá hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hoá hoặc dịch vụ tương tự vềbản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu vàkhông được ghi nhận là doanh thu

 Doanh thu kể cả doanh thu nội bộ phải được theo dõi riêng biệt theo từng loại doanhthu: Doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp dịch vụ, doanh thu tiền lãi, tiền bản quyền,

cổ tức và lợi nhuận được chia Trong từng loại doanh thu lại được chi tiết theo từng thứdoanh thu, như doanh bán hàng có thể được chi tiết thành doanh thu bán sản phẩm, hànghoá,… nhằm phục vụ cho việc xác định đầy đủ, chính xác kết quả kinh doanh theo yêu cầuquản lý hoạt động sản xuất kinh doanh và lập báo cáo kết quả kinh doanh của doanhnghiệp

Trang 3

 Nếu trong kỳ kế toán phát sinh các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng và cung cấpdịch vụ, như chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại thì phải đượchạch toán riêng biệt Các khoản giảm trừ doanh thu được tính trừ vào doanh thu ghi nhậnban đầu để xác định doanh thu thuần làm căn cứ xác định kết quả kinh doanh của kỳ kếtoán.

 Về nguyên tắc, cuối kỳ kế toán, doanh nghiệp phải xác định kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh Toàn bộ doanh thu thuần thực hiện trong kỳ kế toán được kết chuyển vàoTài khoản 911 – Xác định kết quả kinh doanh Các tài khoản thuộc loại tài khoản doanhthu không có số dư cuối kỳ

1.1.3.2.1 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

 Tài khoản “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” chỉ phản ánh doanh thu của khốilượng sản phẩm hàng hoá đã bán; dịch vụ đã cung cấp được xác định là tiêu thụ trong kỳ,không phân biệt doanh thu đã thu tiền hay sẽ thu tiền

 Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp được thực hiện theonguyên tắc sau:

- Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo phương phápkhấu trừ, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng

- Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT, hoặc chịu thuếGTGT theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng giáthanh toán

- Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, hoặc thuếxuất khẩu thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng giá thanh toán (bao gồm cảthuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu)

- Những doanh nghiệp nhận gia công vật tư, hàng hoá thì phản ánh vào doanh thu ban hàng

và cung cấp dịch vụ số tiền gia công thực tế được hưởng, không bao gồm giá trị vật tư,hàng hoá nhận gia công

- Đối với hàng hoá nhận bán đại lý, ký gửi theo phương thức bán đúng giá hưởng hoa hồngthì hạch toán vào doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ phần hoa hồng bán hàng màdoanh nghiệp được hưởng

- Trường hợp bán hàng theo phương thực trả chậm, trả góp thì doanh nghiệp ghi nhận doanhthu bán hàng theo giá bán trả ngay và ghi nhận vào doanh thu hoạt động tài chính về phần

Trang 4

lãi tính trên khoản phải trả nhưng trả chậm phù hợp với thời điểm ghi nhận doanh thu đượcxác nhận.

- Những sản phẩm, hàng hoá được xác định là tiêu thụ, nhưng vì lý do về chất lượng, về quycách kỹ thuật,… người mua từ chối thanh toán, gửi trả lại người bán hoặc yêu cầu giảm giá

và được doanh nghiệp chấp thuận; hoặc người mua mua hàng với khối lượng lớn đượcchiết khấu thương mại thì các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng này được theo dõi riêngbiệt trên các Tài khoản 531- Hàng bán bị trả lại, hoặc Tài khoản 532 - Giảm giá hàng bán,Tài khoản 521 - Chiết khấu thương mại

- Trường hợp trong kỳ doanh nghiệp đã viết hoá đơn bán hàng và đã thu tiền bán hàngnhưng cuối kỳ vẫn chưa giao hàng cho người mua hàng, thì trị giá số hàng này không đượccoi là tiêu thụ và không được ghi nhận vào tài khoản 511- “Doanh thu bán hàng và cungcấp dịch vụ” về giá trị hàng đã giao, đã thu trước tiền bán hàng, phù hợp với các điều kiệnghi nhận doanh thu

- Đối với trường hợp cho thuê tài sản hoạt động, đã nhận trước tiền cho thuê hoạt độngnhiều năm thì doanh thu cung cấp dịch vụ ghi nhận của năm tài chính là số tiền cho thuêđược xác định theo nguyên tắc đường thẳng tức lấy toàn bộ tổng số tiền thu được chia cho

số năm cho thuê tài sản

- Đối với các khoản thu nhập từ hoạt động kinh doanh bất động sản, doanh thu được ghinhận là tổng số tiền thu được do bán bất động sản

- Đối với hoạt động kinh doanh cho thuê cơ sở hạ tầng, doanh thu bán hàng được ghi nhậnkhi hoàn tất việc bàn giao đất trên thực địa cho khách hàng theo giá trị của diện tích đất đãchuyển giao theo giá trả ngay

1.1.3.2.2 Doanh thu hoạt động tài chính

 Doanh thu hoạt động tài chính được phản ánh trên Tài khoản 515 bao gồm các khoảndoanh thu tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia và các hoạt động tài chínhkhác được coi là thực hiện trong kỳ, không phân biệt các khoản doanh thu đó thực tế đã thuđược tiền hay sẽ thu được tiền

 Đối với các khoản thu nhập từ hoạt động mua, bán ngoại tệ, doanh thu được ghi nhận là sốchênh lệch lãi giữa giá bán vào và giá ngoại tệ bán ra

Trang 5

 Đối với các khoản thu nhập từ hoạt động mua, bán chứng khoán, doanh thu được ghi nhận

là số chênh lệch giữa giá lớn hơn giá mua, số lãi về trái phiếu, tín phiếu hoặc cổ phiếu(không phản ánh số tiền thu được từ việc bán chứng khoán)

 Đối với khoản tiền lãi đầu tư nhận từ khoản đầu tư cổ phiếu, trái phiếu thì chỉ có phần lãicủa các kỳ mà doanh nghiệp mua lại khoản đầu tư này mới được ghi nhận là doanh thuphát sinh trong kỳ; còn khoản lãi đầu tư nhận được từ các khoản lãi đầu tư dồn tích trướckhi doanh nghiệp mua lại khoản đầu tư đó thì ghi giảm giá trị khoản đầu tư trái phiếu, cổphiếu đó

1.1.3.2.3 Doanh thu chưa thực hiện

 Khi bán hàng, hoặc cung cấp dịch vụ theo phương thức trả chậm, trả góp thì doanhthu được ghi nhận theo giá bán trả ngay tại thời điểm ghi nhận doanh thu

Giá bán trả ngay được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản

sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãisuất hiện hành Phần lãi bán hàng trả chậm, trả góp là chênh lệch giữa giá bán trả chậm, trảgóp với giá bán trả ngay được ghi nhận vào tài khoản “Doanh thu chưa thực hiện” Doanhthu chưa thực hiện sẽ được ghi nhận là doanh thu của kỳ kế toán theo quy định tại đoạn25(a) của Chuẩn mực “Doanh thu và thu nhập khác”

 Khi nhận trước tiền cho thuê tài sản của nhiều năm thì số tiền nhận trước được ghinhận là doanh thu chưa thực hiện Trong các năm tài chính tiếp sau sẽ ghi nhận doanh thuphù hợp với doanh thu của từng năm tài chính

1.1.3.3 Điều kiện xác định doanh thu

Theo Chuẩn mực Kế toán số 14 quy định các điều kiện để xác định doanh thu nhưsau:

 Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thuđược

 Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thoả thuận giữa doanhnghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của cáckhoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ đi các khoản chiết khấu thương mại, giảmgiá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại

 Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được ghi nhận ngay thìdoanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được

Trang 6

TK 33311

Thuế GTGT đầu ra phải nộp về hàng hoá, dịch vụ, lao vụ

Doanh thu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, lao vụ (không có thuế GTGT)

TK 3332, 3333

Thuế TTĐB, thuế XK phải nộp về hàng đã tiêu thụ trong kỳ

TK 911

Kết chuyển các khoản ghi giảm doanh thu

Kết chuyển doanh thu thuần về tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ lao vụ trong kỳ

trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiệnhành Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽthu được trong tương lai

 Khi hàng hoá hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hoá hoặc dịch vụ kháckhông tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu Trường hợpnày doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hoá hoặc dịch vụ nhận về thìdoanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hoá hoặc dịch vụ đem trao đổi, saukhi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm

1.1.3.4 Sơ đồ tài khoản hạch toán doanh thu

Sơ đồ 01: Sơ đồ kế toán tổng quát doanh thu bán hàng trong doanh nghiệp tính thuế theo

phương pháp khấu trừ

Trang 7

Kết chuyển doanh thu thuần về tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ lao vụ

Giá trị vật tư, hàng hoá, tài sản, dịch vụ đã nhận (ghi theo giá không có thuế GTGT đầu vào)

Sơ đồ 02: Sơ đồ kế toán tổng quát doanh thu tiêu thụ theo phương thức hàng đổi hàng

trong các doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ

1.2 Kiểm toán doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính

1.2.1 Vai trò của kiểm toán doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính

Các chỉ tiêu về doanh thu, doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác có liên

hệ chặt chẽ với các khoản thu bằng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản phải thu…

Chỉ tiêu thu nhập liên quan chặt chẽ với chỉ tiêu lợi nhuận chưa phân phối

Các chỉ tiêu doanh thu cũng như các chỉ tiêu chi phí phản ánh trên báo cáo kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh luôn có quan hệ với các chỉ tiêu thu, chi tiền mặt, tiền gửi,nhập, xuất vật tư, hàng hoá,…

Các chỉ tiêu về doanh thu cùng với các chỉ tiêu chi phí là cơ sở để xác định các chỉtiêu lợi nhuận và các loại thuế khác nên rất nhạy cảm với các gian lận trong việc xác địnhmức lợi nhuận, các nghĩa vụ khác của doanh nghiệp Thông qua việc kiểm tra đối chiếu vàthực hiện các thủ tục kiểm toán đối với các chỉ tiêu doanh thu có thể phát hiện ra những saisót, gian lận trong việc xác định và hạch toán các chỉ tiêu đó Đồng thời, kết quả kiểm toánkhoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính còn là cơ sở, căn cứ để kiểm toán

Trang 8

viên thực hiện kiểm toán các khoản mục khác như chỉ tiêu về thuế giá trị gia tăng phải nộp,thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, lợi nhuận chưa phân phối, lợi nhuận sau thuế,…

1.2.2 Đặc điểm của doanh thu ảnh hưởng đến công tác kiểm toán

Với kiểm toán tài chính có hai cách cơ bản để phân chia các bảng khai tài chínhthành các phần hành kiểm toán: Phân theo khoản mục hoặc phân theo chu trình Từ đó mà

có hai cách tiếp cận kiểm toán: kiểm toán theo khoản mục hoặc theo chu trình

Kiểm toán theo chu trình là cách phân chia máy móc từng khoản mục hoặc nhómcác khoản mục theo thứ tự trong Bảng khai vào một phần hành Cách chia này đơn giảnsong không hiệu quả do tách biệt những khoản mục ở vị trí khác nhau nhưng có liên hệchặt chẽ với nhau như Hàng tồn kho và giá vốn hàng bán, Doanh thu và các khoản phảithu…

Cách tiếp cận kiểm toán theo chu trình là cách chia thông dụng hơn căn cứ vào mốiliên hệ chặt chẽ lẫn nhau giữa các khoản mục, các quá trình cấu thành, các yếu tố trongmột chu trình chung của hoạt động tài chính Chẳng hạn các nghiệp vụ về doanh thu, doanhthu trả lại, các khoản thu tiền bán hàng và số dư các khoản phải thu đều nằm trong chutrình tiêu thụ (bán hàng và thu tiền) Cách phân chia này hiệu quả hơn do xuất phát từ mốiliên hệ vốn có của các nghiệp vụ và từ đó thu thập được các đầu mối của các mối liên hệtrong kinh tế và trong ghi sổ kế toán chứa đựng trong Bảng khai tài chính Theo cách phânchia này, kiểm toán Bảng khai tài chính thường bao gồm những phần hành cơ bản sau:

 Kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền (tiêu thụ)

 Kiểm toán tiền mặt (tại két, tại ngân hàng hoặc đang chuyển)

 Kiểm toán chu trình mua hàng – trả tiền (cung ứng và thanh toán)

 Kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên

 Kiểm toán hàng tồn kho

 Kiểm toán huy động – hoàn trả vốn

Do doanh thu là khoản mục liên quan đến các khoản mục khác trên báo cáo kết quảkinh doanh, chính vì vậy, khi tiến hành kiểm toán phải kết hợp kết quả kiểm toán cáckhoản mục liên quan, như vốn bằng tiền, các khoản Phải thu, Nợ phải trả, khoản mụcHàng tồn kho… Và trong hầu hết các cuộc kiểm toán, kiểm toán viên đều thực hiện riêng

rẽ khoản mục doanh thu do tính chất quan trọng và phức tạp của khoản mục doanh thu

Trong quá trình kiểm toán doanh thu, kiểm toán viên phải căn cứ vào lĩnh vực hoạtđộng kinh doanh của khách hàng, bởi lĩnh vực hoạt động kinh doanh cũng ảnh hưởng đến

Trang 9

những rủi ro kiểm toán mà kiểm toán viên có thể mắc phải Những lĩnh vực kinh doanh cóảnh hưởng đến rủi ro kiểm toán như: Vận chuyển hành khách, vận chuyển hành lý, vậnchuyển hàng hoá, thư tín, bán hàng, đồ lưu niệm,… Với những lĩnh vực kinh doanh này,thường có gian lận trong kế toán và thường tiềm ẩn rủi ro tiềm tàng ảnh hưởng đến côngtác kiểm toán.

Trong hạch toán doanh thu, nhiều khi doanh nghiệp cố tình hạch toán doanh thu saichế độ nhằm trốn thuế, lậu thuế và ghi giảm doanh thu, từ đó ảnh hưởng đến tính trungthực của thông tin trên báo cáo tài chính, như:

- Nhóm hàng có thuế suất cao chuyển sang nhóm hàng có thuế suất thấp nhằm trốn thuế, lậuthuế

- Không hạch toán doanh thu bán hàng các trường hợp hàng đổi hàng dùng sản phẩm, hànghoá trả lương, thưởng cho công nhân viên chức hoặc chi cho các quỹ của doanh nghiệptheo chế độ kế toán quy định

- Điều kiện về giá bán của hàng đại lý ký gửi: Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 14 quyđịnh: “Đối với hàng hoá nhận đại lý, ký gửi theo phương thức bán đúng giá hưởng hoahồng thì hạch toán vào doanh thu bán hàng mà doanh nghiệp được hưởng”.Song trên thực

tế thì vẫn do hai bên giao nhận hàng hoá quy định trên cơ sở quan hệ cung cầu về từng loạihàng hoá

- Đối với doanh thu bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp: Cũng theo Chuẩn mựcKiểm toán Việt Nam số 14 thì: “Khi bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ theo phương thứctrả chậm trả góp thì doanh thu được ghi nhận theo giá bán trả ngay tại thời điểm ghi nhậndoanh thu Giá bán trả ngay được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của cáckhoản sẽ thu trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãisuất hiện hành Phần lãi bán hàng trả chậm, trả góp là chênh lệch giữa giá bán trả chậm, trảgóp với giá bán trả ngay được ghi nhận vào tài khoản “Doanh thu chưa thực hiện”.” Songnhiều doanh nghiệp lại hạch toán hoàn toàn tiền lãi thu được vào doanh thu của năm tàichính

1.2.3 Mục tiêu kiểm toán doanh thu

1.2.3.1 Mục tiêu kiểm toán chung

Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200 “Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính” xác định: “ Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài

Trang 10

chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật có liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không?” Mục tiêu kiểm toán báo cáo tài chính còn giúp cho đơn

vị kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thôngtin tài chính của đơn vị

Với mỗi một khoản mục trên báo cáo tài chính có các mục tiêu kiểm toán riêng phùhợp với mỗi khoản mục đó

Cụ thể các mục tiêu chung của kiểm toán khoản mục doanh thu có thể tóm tắt nhưsau:

Biểu 01: Các mục tiêu chung của kiểm toán khoản mục doanh thu

Mục tiêu chung Mục tiêu kiểm toán doanh thu

Tính có thật Doanh thu bán hàng đã ghi sổ là có căn cứ hợp lý.

Tính trọn vẹn Doanh thu bán hàng được ghi sổ đầy đủ.

Tính được phép Doanh thu được phê chuẩn về chế độ bán hàng và giá bán.

Tính định giá Doanh thu bán hàng được đánh giá đúng đắn.

Tính phân loại Doanh thu bán hàng đã được phân loại

Tính kịp thời Doanh thu bán hàng được ghi sổ đúng kỳ.

Tính chính xác cơ học Các nghiệp vụ bán hàng được ghi vào sổ tổng hợp chi tiết thích hợp,

tính toán và cộng dồn chính xác.

1.2.3.2 Mục tiêu kiểm toán cụ thể

Doanh thu là một hình thức biểu hiện cụ thể của kết quả tiêu thụ hàng hoá trong kỳkinh doanh của doanh nghiệp, cụ thể là doanh thu thuần của doanh nghiệp Các mục tiêukiểm toán đối với khoản mục này bao gồm:

Doanh thu ghi sổ là có thật: Kiểm toán viên cần căn cứ vào các quy định hiện hành

về tiêu thụ, về ghi sổ với nghiệp vụ bán hàng, từ đó kiểm tra sự phát sinh của khoản mụcdoanh thu được ghi sổ là hoàn toàn có thật

Doanh thu bán hàng đã được phê chuẩn về phương thức bán hàng, về giá bán haykhông,…

Xem xét các nghiệp vụ tiêu thụ có được ghi sổ đầy đủ hay không Để thực hiện xácminh, kiểm toán viên cần thực hiện kết hợp với kiểm toán nghiệp vụ thanh toán, cụ thể làphần giao dịch với ngân hàng, khách hàng, nghiệp vụ về quỹ, nhằm phát hiện các khoảndoanh thu ngoài sổ sách

Trang 11

Việc tính toán và ghi sổ doanh thu có chính xác hay không: Kiểm toán viên thườngcăn cứ vào đơn giá, số lượng hàng hoá, dịch vụ bán ra và căn cứ vào chứng từ vận chuyển,

từ đó kiểm toán viên tiến hành tính toán lại để xác nhận tính chính xác của số liệu ghi sổbán hàng và ghi sổ doanh thu

Xem xét phân loại doanh thu bán hàng có phù hợp với chế độ kế toán hay không, cụthể như:

 Phân biệt doanh thu nội bộ và doanh thu bán hàng cho các khách hàng bên ngoài

 Xem xét việc hạch toán trên các tài khoản khác nhau như doanh thu bằng tiền,doanh thu bán hàng trả chậm, doanh thu trả góp, doanh thu nhận trước

 Tính chính xác trong việc xác định doanh thu và thuế phải nộp trên doanh thu thựchiện của các nhóm hàng chịu thuế suất đặc biệt, như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu

Doanh thu bán hàng có được ghi chép đúng kỳ kế toán hay không, kiểm toán viêncần phải phân biệt hai loại doanh thu: Doanh thu đã thực hiện và Doanh thu chưa thựchiện

Đối với các chỉ tiêu khác có liên quan đến hoạt động bán hàng như chiết khấu thươngmại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại,… khi thực hiện kiểm toán, cần thực hiện kiểmtoán tương tự như kiểm toán doanh thu, tuy nhiên kiểm toán phải quan tâm tới những quyđịnh hiện hành có liên quan tới các chỉ tiêu đó

1.2.4 Cơ sở kiểm toán khoản mục doanh thu

Trong cuộc kiểm toán, để tiến hành kiểm toán khoản mục doanh thu, kiểm toán viêncần phải dựa vào các tài liệu sau của khách hàng để kiểm toán:

 Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phần I: Lãi – Lỗ

 Các quy chế chính sách tài chính của Nhà nước, của Tổng công ty, của bản thân công tykhách hàng về doanh thu như những quy định về giá bán, chiết khấu thương mại, giảm giáhàng bán,…

 Các chứng từ gốc như: Đơn đặt hàng, các hợp đồng kinh tế đã ký kết về bán hàng và cungcấp dịch vụ, cho thuê tài chính hoặc các hợp đồng, khế ước tín dụng, hợp đồng đầu tư tàichính

 Các hoá đơn như: Hoá đơn bán hàng, hoá đơn giá trị gia tăng, vận đơn, hoá đơn vậnchuyển,…

Trang 12

 Các bản quyết toán, bản thanh lý hợp đồng bán hàng, hợp đồng cung cấp dịch vụ, cho thuêtài sản, biên bản giao nhận hàng hoá, dịch vụ cung cấp, bản xác nhận, bảng đối chiếu tìnhhình thanh toán với khách hàng.

 Các chứng từ phải thu (tiền mặt, séc), giấy báo có của ngân hàng (kèm theo bản sao kê củangân hàng)

 Sổ sách kế toán: Là các sổ cái Tài khoản 511, 512, 515, sổ nhật ký thu tiền, sổ chi tiếtdoanh thu, doanh thu nội bộ, doanh thu hoạt động tài chính, sổ chi tiết các khoản phải thukhách hàng

 Các bản kê bán hàng đại lý và các báo cáo doanh thu khác

1.2.5 Sai phạm rủi ro tiềm tàng liên quan đến doanh thu

1.2.5.1 Doanh thu phản ánh trên sổ sách, báo cáo kế toán cao hơn thực tế

Trong trường hợp này được biểu hiện cụ thể là doanh nghiệp đã hạch toán vào doanhthu những khoản thu chưa đủ các yếu tố xác định là doanh thu hoặc theo điều kiện, tiêu chuẩnghi nhận doanh thu, hoặc số doanh thu đã phản ánh trên sổ sách, báo cáo kế toán cao hơn sovới doanh thu trên các chứng từ kế toán Chẳng hạn:

 Người mua đã ứng trước nhưng doanh nghiệp chưa xuất hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụcho người mua, nhưng doanh nghiệp đã ghi khoản ứng trước là doanh thu tiêu thụ trongkỳ

 Người mua đã ứng tiền, doanh nghiệp đã xuất hàng hoặc cung cấp dịch vụ nhưng các thủtục mua bán, cung cấp dịch vụ chưa hoàn thành và người mua chưa chấp nhận thanh toán,nhưng doanh nghiệp đã ghi nhận doanh thu trong kỳ

 Số liệu đã tính toán và ghi sổ bán hàng sai đã làm tăng doanh thu so với số liệu phản ánhtrên chứng từ kế toán

1.2.5.2 Doanh thu hàng bán bị trả lại cao hơn thực tế

Hạch toán doanh thu là quá trình ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế, cụ thể là các nghiệp vụliên quan đến chu trình bán hàng và thanh toán Song trong quá trình bán hàng và thanh toán, nhiềutình huống xảy ra và có thể xẩy ra sai sót do nhận thức của kế toán viên, cũng có thể do nhữnghành vi gian lận Thông thường, những sai sót chủ yếu là:

 Hàng chưa bị trả lại, kế toán đã ghi giảm doanh thu

 Doanh thu ghi giảm cao hơn thực tế

Trang 13

 Hàng hoá trả lại ở kỳ sau nhưng kế toán lại ghi giảm doanh thu ở kỳ này.

1.2.5.3 Doanh thu phản ánh trên sổ sách, báo cáo kế toán thấp hơn so với thực tế

Trường hợp này được biểu hiện cụ thể là doanh nghiệp chưa hạch toán vào doanhthu hết các khoản thu đã đủ điều kiện để xác định là doanh thu như quy định hoặc số doanhthu đã phản ánh trên sổ sách, báo cáo kế toán thấp hơn so với doanh thu trên các chứng từ

kế toán Chẳng hạn:

 Doanh nghiệp đã làm thủ tục bán hàng và cung cấp dịch vụ cho khách hàng, khách hàng đãtrả tiền hoặc đã thực hiện các thủ tục chấp nhận thanh toán nhưng đơn vị chưa hạch toánhoặc đã hạch toán nhầm vào các tài khoản khác (không hạch toán vào doanh thu bán hàng)

 Các khoản doanh thu về hoạt động tài chính và thu nhập khác đã thu được nhưng đơn vịhạch toán vào các tài khoản khác (không hạch toán vào doanh thu hoạt động tài chính vàthu nhập khác)

 Số liệu đã tính toán và ghi sổ sai đã làm giảm doanh thu so với số liệu phản ánh trên chứng

từ kế toán

Việc hạch toán doanh thu như trên có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủyếu là do nhân viên kế toán chưa hiểu biết đầy đủ quy định về doanh thu hoặc do trình độnghiệp vụ của nhân viên kế toán yếu, hoặc vì một lý do nào đó mà nhân viên kế toán hạchtoán doanh thu không đúng quy định.

1.2.6 Yêu cầu của kiểm toán doanh thu

Kiểm toán doanh thu phải đạt được những yêu cầu sau:

 Thu thập bằng chứng chứng minh việc hạch toán doanh thu và hệ thống kiểm soát nội bộcủa doanh nghiệp đã đảm bảo cho việc hạch toán doanh thu là trung thực, hợp lý và đúngquy định của Nhà nước

 Thu thập đủ bằng chứng chứng minh mọi nghiệp vụ phát sinh về doanh thu đã hạch toánphản ánh đầy đủ trong sổ kế toán

 Thu thập đủ bằng chứng chứng minh mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh về doanh thu đã hạchtoán và được phân loại chính xác, đã được tính toán đúng đắn và có thực

Trang 14

1.3 Quy trình kiểm toán doanh thu

1.3.1 Lập kế hoạch kiểm toán

Việc lập kế hoạch kiểm toán doanh thu trong cuộc kiểm toán được tiến hành đồngthời với trình tự lập kế hoạch toàn diện cuộc kiểm toán Để có thể lập kế hoạch toàn diệncho cả cuộc kiểm toán, và kế hoạch kiểm toán cho khoản mục doanh thu, kiểm toán viênphải thực hiện những công việc sau:

1.3.1.1 Chấp nhận thư hẹn kiểm toán và ký kết hợp đồng kiểm toán

Đây là giai đoạn đầu tiên trong qui trình kiểm toán Qui trình kiểm toán thực sự bắtđầu khi kiểm toán viên và công ty kiểm toán tiếp nhận một khách hàng Tiếp nhận kháchhàng có hai giai đoạn:

 Liên lạc với các công ty khách hàng tiềm năng

 Khi khách hàng có yêu cầu kiểm toán, khi đó kiểm toán viên phải đánh giá khả năng chấpnhận kiểm toán hay không

Trên cơ sở thư mời kiểm toán, kiểm toán viên xác định đối tượng sẽ phục vụ trongtương lai và tiến hành các công việc sau:

• Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán: Thực chất đây là việc xem xét đánh giá cóchấp nhận hoặc tiếp tục kiểm toán với một công ty khách hàng hay không dựa trên cơ sởxem xét ảnh hưởng của công việc kiểm toán đến uy tín, hình ảnh của Công ty kiểm toán

Để đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán, kiểm toán viên và Công ty kiểm toán thườngxem xét hệ thống kiểm soát chất lượng, tính liêm chính của Ban Giám đốc công ty kháchhàng, liên lạc với kiểm toán viên tiền nhiệm để tìm hiểu về khách hàng

• Nhận diện lý do kiểm toán của khách hàng: Thực chất đây là việc xác định người sửdụng báo cáo tài chính và mục đích sử dụng của họ Lý do kiểm toán của khách hàng sẽđược kiểm toán viên kiểm tra, thu thập bằng chứng kiểm toán cho tới khi kết thúc kiểm toán,lập báo cáo Để nhận diện lý do kiểm toán của khách hàng, kiểm toán viên có thể thực hiệnphỏng vấn trực tiếp với Ban Giám đốc, hoặc dựa vào kinh nghiệm của các cuộc kiểm toán đãđược thực hiện trước

• Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán: Công việc này ảnh hưởng trực tiếp đến chấtlượng kiểm toán, hiệu quả của cuộc kiểm toán và có liên quan tới việc tuân thủ nhữngchuẩn mực kiểm toán chung được thừa nhận

Trang 15

• Hợp đồng kiểm toán: Sau khi có quyết định chấp nhận kiểm toán và xem xét cácvấn đề nêu trên, công ty kiểm toán và công ty khách hàng ký hợp đồng kiểm toán Sau khi

ký hợp đồng kiểm toán, công ty khách hàng sẽ trở thành khách thể chính thức của công tykiểm toán, khi đó hợp đồng kiểm toán sẽ là căn cứ pháp lý để công ty kiểm toán thực hiệnnhững bước kế tiếp

1.3.1.2 Thu thập thông tin cơ sở

Sau khi ký kết hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên bắt đầu lập kế hoạch kiểm toán

tổng quát Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300, Lập kế hoạch kiểm toán, kiểm

toán viên thu thập hiểu biết về ngành nghề, công việc kinh doanh của khách hàng, tìm hiểu

về hệ thống kiểm soát nội bộ và các bên liên quan để đánh giá rủi ro và lên kế hoạch kiểmtoán

Trong giai đoạn này, kiểm toán viên đánh giá khả năng có những sai sót trọng yếu,đưa ra đánh giá ban đầu về mức trọng yếu và thực hiện các thủ tục phân tích để xác địnhthời gian cần thiết để thực hiện kiểm toán và việc mở rộng các thủ tục kiểm toán khác

1.3.1.2.1 Tìm hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng

Trong quá trình thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên phải tìm hiểu về ngành nghềhoạt động kinh doanh của khách hàng, từ đó có những phương pháp kiểm toán thích hợp,đồng thời đạt hiệu quả cao trong cuộc kiểm toán

Chuẩn mực kiểm toán số 300, Kế hoạch kiểm toán quy định kiểm toán viên phải tìm

hiểu ngành nghề hoạt động kinh doanh của khách hàng, và trong Đoạn 2 của Chuẩn mực

Kiểm toán Việt Nam 310, Hiểu biết về tình hình kinh doanh đã hướng dẫn: “Để thực hiện được kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải có hiểu biết về tình hình kinh doanh

đủ để nhận thức và xác định các dữ kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động của đơn vị được kiểm toán mà theo đánh giá của kiểm toán viên, chúng có thể ảnh hưởng trọng yếu đến Báo cáo tài chính, đến việc kiểm tra của kiểm toán viên hoặc đến báo cáo kiểm toán”

Điều này rất cần thiết khi kiểm toán viên thực hiện kiểm toán với tính thận trọngnghề nghiệp đúng mức Mỗi ngành nghề sản xuất kinh doanh có những hệ thống kế toánriêng và áp dụng những nguyên tắc kế toán đặc thù Thêm vào đó tầm quan trọng của mỗinguyên tắc kế toán cũng thay đổi theo ngành kinh doanh của khách hàng

Những hiểu biết về ngành nghề kinh doanh bao gồm những hiểu biết chung về nềnkinh tế, lĩnh vực hoạt động của đơn vị và sự hiểu biết cụ thể hơn về tổ chức và hoạt động

Trang 16

của đơn vị kiểm toán Ngoài ra, kiểm toán viên còn phải hiểu cả những khía cạnh đặc thùcủa một tổ chức cụ thể như: Cơ cấu tổ chức, dây chuyền và các dịch vụ sản xuất, cơ cấuvốn, chức năng và vị trí của kiểm toán viên nội bộ… để hiểu rõ các sự kiện, các nghiệp vụ

và các hoạt động có thể tác động đến báo cáo tài chính và để thực hiện quá trình so sánhkhách hàng này với các đơn vị khác trong ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh đó.Bởi những hiểu biết về ngành nghề kinh doanh của khách hàng ảnh hưởng lớn đến côngviệc và kết quả kiểm toán các khoản mục và toàn bộ cuộc kiểm toán

Đối với khoản mục doanh thu, kiểm toán viên phải tìm hiểu về quy trình hạch toándoanh thu và quá trình luân chuyển chứng từ và ghi sổ kế toán với doanh thu Đồng thờitrong quá trình tìm hiểu về ngành nghề hoạt động kinh doanh của khách hàng, kiểm toánviên cũng cần tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của khách hàng,yếu tố khách quan, yếu tố chủ quan có thể làm cho doanh thu trong kỳ tăng lên hay giảmđi

Có sơ đồ chu kỳ bán hàng và thu tiền ở một công ty bán buôn như sau:

Trang 17

1.3.1.2.2 Xem xét lại kết quả kiểm toán doanh thu lần trước

Các hồ sơ kiểm toán năm trước thường chứa đựng nhiều thông tin về khách hàng,

về công việc kinh doanh, cơ cấu tổ chức và các đặc điểm hoạt động khác Ngoài ra, nhiềucông ty kiểm toán đều duy trì hồ sơ kiểm toán thường xuyên đối với mỗi khách hàng Hồ

sơ này có các bản sao của các tài liệu như: Sơ đồ tổ chức bộ máy, điều lệ công ty, chínhsách tài chính, kế toán… Qua đó kiểm toán viên sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích vềcông việc kinh doanh của khách hàng Việc cập nhật và xem xét các sổ sách của công ty làrất cần thiết và qua đó kiểm toán viên không chỉ xác định được các quyết định của nhàquản lý có phù hợp với luật pháp của Nhà nước, với các chính sách hiện hành và của công

ty hay không mà còn giúp kiểm toán viên hiểu được bản chất của các số liệu cũng như sựbiến động của chúng trên các báo cáo tài chính được kiểm toán

Trong quá trình xem xét lại đó, kiểm toán viên cũng tiến hành xem xét lại kết quảkiểm toán doanh thu lần trước, vì thông qua đó, kiểm toán viên có thể nhận thức, hiểu sâuhơn những sai sót mà kế toán khách hàng được kiểm toán thường mắc phải và có hướngkiểm toán thích hợp

1.3.1.2.3 Thực hiện tham quan nhà xưởng

Việc tham quan nhà xưởng, quan sát trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh củakhách hàng sẽ cung cấp cho kiểm toán viên những điều mắt thấy tai nghe về quy trình sảnxuất kinh doanh, một cái nhìn tổng thể về công việc kinh doanh của khách hàng, đặc biệt làcông tác bảo vệ tài sản Điều này tạo điều kiện cho việc thuyết minh số liệu kế toán, pháthiện những vấn đề cần quan tâm như sản xuất trì trệ, sản phẩm ứ đọng, máy móc lạc hậu,hay không được phát huy hết công suất… Ngoài ra, kiểm toán viên cũng có được nhữngnhận định ban đầu về phong cách quản lý của Ban Giám đốc, tính hệ thống trong việc tổchức, sắp đặt công việc,…

Ngoài ra, việc tham quan nhà xưởng sẽ giúp cho kiểm toán viên quan sát được tìnhhình hàng hoá tồn kho, tình hình bảo quản vật tư, sản phẩm hàng hoá,… từ đó đánh giá hệthống kiểm soát nội bộ đối với khoản mục doanh thu có thực sự hiệu quả hay không

1.3.1.2.4 Nhận diện các bên hữu quan

Các bên hữu quan, theo Chuẩn mực kiểm toán số 550, Các bên hữu quan, được

hiểu là các bộ phận trực thuộc, các chủ sở hữu chính thức của công ty khách hàng hay bất

kỳ công ty chi nhánh, một cá nhân hay tổ chức nào mà công ty khách hàng có quan hệ và

Trang 18

các cá nhân tổ chức đó có khả năng điều hành, kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể tớicác chính sách kinh doanh hoặc chính sách quản trị của công ty khách hàng.

Thông qua các bên hữu quan, kiểm toán viên có thể hiểu rõ hơn tình hình hoạtđộng kinh doanh của khách hàng và uy tín của khách hàng trên thị trường kinh doanh.Trong quá trình kiểm toán khoản mục doanh thu, kiểm toán viên tiến hành nhận diện cácbên hữu quan chủ yếu là những khách hàng của công ty được kiểm toán Chủ yếu, kiểmtoán viên tìm hiểu sự tồn tại, hiện hữu của những khách hàng là có thật và đặc biệt lànhững khách hàng có số dư nợ lớn, hoặc những khách hàng có tình hình hoạt động kinhdoanh không tốt Kiểm toán viên có thể nhận diện các bên hữu quan thông qua việc phỏngvấn nhân viên trong công ty hoặc qua lấy xác nhận hoặc qua các kênh thông tin khác

1.3.1.2.5 Dự kiến nhu cầu chuyên gia bên ngoài

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 620, Sử dụng tư liệu của một chuyên gia,

hướng dẫn khi sử dụng chuyên gia, kiểm toán viên phải đánh giá khả năng chuyên môn,hiểu mục đích và phạm vi công việc của họ cũng như sự phù hợp của việc sử dụng tư liệu

đó cho các mục tiêu dự định Kiểm toán viên cũng nên xem xét mối quan hệ giữa chuyêngia với khách hàng, những yếu tố có thể ảnh hưởng tới tính khách quan của chuyên gia đó

Trong kiểm toán khoản mục doanh thu, kiểm toán viên cũng có thể cần đến nhucầu chuyên gia bên ngoài, đó là trong trường hợp kiểm toán doanh thu của những loại hànghoá đặc biệt và kiến thức của kiểm toán viên là không đủ để tiến hành kiểm tra và đưa ra ýkiến

1.3.1.3 Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng

Nếu các thông tin cơ sở được thu thập ở trên giúp cho kiểm toán viên hiểu được vềcác mặt hoạt động kinh doanh của khách hàng, thì việc thu thập các thông tin về các nghĩa

vụ pháp lý của khách hàng giúp cho kiểm toán viên nắm bắt được các quy trình mang tínhpháp lý có ảnh hưởng đến các mặt hoạt động kinh doanh này, những thông tin này đượcthu thập trong quá trình tiếp xúc với Ban Giám đốc công ty khách hàng bao gồm các loạisau:

- Giấy phép thành lập và điều lệ công ty

- Các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, thanh tra hay kiểm tra của năm hiện hành haytrong vài năm trước

- Biên bản các cuộc họp hội đồng quản trị và Ban Giám đốc, các cuộc họp cổ đông

Trang 19

1.3.1.4 Thực hiện các thủ tục phân tích doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính

Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 520, Quy trình phân tích thì quy trình phân tích “là việc phân tích các số liệu, các thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm

ra những xu hướng, biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với các giá trị đã dự kiến”.

Ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, sau khi đã thu thập được các thông tin cơ sở vàthông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, kiểm toán viên tiến hành thực hiện các thủtục phân tích đối với các thông tin đã thu thập để hỗ trợ cho việc lập kế hoạch về bản chất,thời gian và nội dung các thủ tục kiểm toán sẽ được sử dụng cho việc lập kế hoạch kiểmtoán nhằm vào các mục tiêu sau đây:

 Thu thập hiểu biết về nội dung các báo cáo tài chính và những biến đổi quan trọng về kếtoán và hoạt động kinh doanh của khách hàng vừa mới diễn ra kể từ lần kiểm toán trước

 Tăng cường sự hiểu biết của kiểm toán viên về hoạt động kinh doanh của khách hàng vàgiúp kiểm toán viên xác định các vấn đề nghi vấn về khả năng hoạt động liên tục của công

ty khách hàng

 Đánh giá sự hiện diện các sai số có thể có trên báo cáo tài chính doanh nghiệp

Như vậy qua việc thực hiện các thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch kiểmtoán, kiểm toán viên có thể xác định nội dung cơ bản của cuộc kiểm toán báo cáo tài chính.Mức độ, phạm vi và thời gian áp dụng các thủ tục phân tích thay đổi tuỳ thuộc vào quy mô

và tính phức tạp trong hoạt động kinh doanh của khách hàng

Việc xây dựng các thủ tục phân tích bao hàm một số bước đặc thù như xác địnhmục tiêu, thiết kế các cuộc khảo sát, tiến hành khảo sát, phân tích kết quả và đưa ra kếtluận

Trang 20

Đối với kiểm toán doanh thu, các thủ tục phân tích được kiểm toán viên sử dụnggồm hai loại cơ bản:

 Phân tích ngang (phân tích xu hướng) là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các trị số củacùng một chỉ tiêu trên báo cáo tài chính Các chỉ tiêu phân tích được sử dụng ngang baogồm:

- So sánh số liệu của doanh thu kỳ này với số liệu kỳ trước hoặc giữa các kỳ với nhau và qua

đó kiểm toán viên thấy được những biến động bất thường của doanh thu và xác định đượcnhững điểm cần quan tâm Chẳng hạn, doanh thu kỳ này đột ngột cao hơn so với kỳ trướctrong khi tình hình kinh doanh không được cải thiện thông qua các tỉ suất thanh toán hay sốlượng hàng xuất bán,…

- So sánh số liệu thực tế với số liệu dự toán hoặc số liệu ước tính của kiểm toán viên

- So sánh doanh thu của công ty khách hàng với doanh thu của công ty khác cùng quy mô,cùng hoạt động trong ngành…

 Phân tích dọc (phân tích tỷ suất): Là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ liênquan của các chỉ tiêu và khoản mục khác nhau trên báo cáo tài chính, như doanh thu hoạtđộng tài chính trong tổng doanh thu, doanh thu bán hàng trong tổng doanh thu,…

Các tỷ suất tài chính thường dùng trong phân tích dọc có thể là các tỷ suất về khảnăng thanh toán nhanh, tỷ suất thanh toán hiện hành, các tỷ suất về khả năng sinh lời, tỷ lệdoanh thu trên tổng nguồn vốn kinh doanh, tỷ lệ doanh thu trên tổng nguồn vốn chủ sởhữu, tỷ suất lợi nhuận gộp, tỷ suất hiệu quả kinh doanh bằng tỷ lệ giữa lợi nhuận trướcthuế với tổng doanh thu bán hàng…

1.3.1.5 Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro trong kiểm toán doanh thu

Trong bất kỳ một cuộc kiểm toán nào, trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểmtoán viên cũng cần phải tiến hành đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán đối với mỗikhách hàng cụ thể Tuỳ theo tình hình kinh doanh của mỗi khách hàng mà tính trọng yếu

và rủi ro là khác nhau, và phân bổ cho mỗi khoản mục cụ thể là khác nhau

Ngoài ra, tính trọng yếu và rủi ro rất quan trọng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểmtoán vì đánh giá tính trọng yếu và rủi ro hỗ trợ việc thiết kế phương pháp kiểm toán, kếhoạch kiểm toán phù hợp, góp phần vào sự thành công của cuộc kiểm toán

Ngày đăng: 31/10/2013, 09:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w