1. Trang chủ
  2. » Vật lí lớp 12

Chuyên đề: Tổ chức một số hoạt động trong giờ học Ngữ văn nhằm hướng tới phát triển năng lực cho học sinh qua bài Điệp ngữ (Ngữ văn 7).

13 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 38,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất, nhân cách, chú trọng năng lự[r]

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ

TỔ CHỨC MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG TRONG GIỜ HỌC NGỮ VĂN NHẰM HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN

NĂNG LỰC CHO HỌC SINH QUA BÀI ĐIỆP NGỮ (Ngữ văn 7)

PHẦN 1: THÔNG TIN VỀ CHUYÊN ĐỀ

- Tác giả chuyên đề: Nguyễn Thị Tú Nhật

- Chức vụ: Giáo viên

- Đơn vị công tác: Trường THCS Tam Dương

- Tên chuyên đề: Tổ chức một số hoạt động trong giờ học Ngữ văn nhằm hướng tới phát triển năng lực cho học sinh qua bài Điệp ngữ (Ngữ văn 7)

- Đối tượng học sinh: lớp 7

- Dự kiến số tiết dạy: 1 tiết

PHẦN 2: NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ A.PHẦN MỞ ĐẦU :

Trong những năm gần đây nền giáo dục nước ta đã và đang thực hiện bước chuyển đổi từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học Nghĩa là đi từ quan tâm đến việc học sinh học cái gì đến việc quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học Chính vì vậy, yêu cầu của đổi mới giáo dục là phải thực hiện thành công việc chuyển đổi từ phương pháp dạy học theo lối truyền thụ một chiều sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Đồng thời cũng chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề coi trọng cả kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra đánh giá trong quá trình học tập để tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học Trước bối cảnh đó, để chuẩn bị cho quá trình đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thổng sau năm 2018 thì việc đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục theo định hướng phát triển năng lực người học là vô cùng cần thiết Trong đó, môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ có vai trò rất quan trọng đối với việc định hướng phát triển năng lực học sinh Bởi dạy văn là khám phá cái hay, cái đẹp của tiếng Việt từ những tác phẩm văn chương nhằm khơi dậy, hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh, bồi dưỡng cho các em tri thức hiểu biết và làm phong phú đời sống tâm hồn, hướng các em tới Chân - Thiện –Mĩ, những giá trị đích thực của cuộc sống

Trang 2

Thực tế cho thấy, đội ngũ giáo viên chúng ta đã thực hiện nhiều công việc trong đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và đã đạt được những thành công nhất định Đây là điều quan trọng làm tiền đề để chúng ta tiến tới việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của người học Tuy nhiên từ thực tế giảng dạy của bản thân và đồng nghiệp tại trường, chúng tôi thấy rằng sự sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực tự học cúa học sinh chưa nhiều Dạy học còn nặng về truyền thụ kiến thức Việc rằng về kĩ năng chưa được quan tâm Hoạt động kiểm tra, đánh giá chưa thật sự khách quan (chủ yếu là tái hiện kiến thức) Tất cả những điều đó dẫn tới học sinh học thụ động, lúng túng khi giải quyết các tình huống trong thực tiễn

Trong quan niệm dạy học mới (tổ chức) một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học Ngoài những yêu cầu có tính chất truyền thống như: bám sát mục tiêu giáo dục, nội dung dạy học, đặc trưng môn học; phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh; giờ học đổi mới phương pháp dạy học còn có những yêu cầu mới như: được thực hiện thông qua việc giáo viên tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh theo hướng chú ý đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, nhu cầu hành động và thái độ tự tin; được thực hiện theo nguyên tắc tương tác nhiều chiều: giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với nhau (chú trọng cả hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người học Vấn đề đặt ra là dù sử

dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ học tập với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.

Từ thực tế đó, chúng tôi chọn chuyên đề “ Tổ chức một số hoạt động trong giờ Ngữ văn nhằm hướng tới phát triển năng lực học sinh qua bài Điệp ngữ” thuộc chương trình Ngữ văn lớp 7 (tiết theo phân phối chương trình: 55)

B PHẦN NỘI DUNG

I Năng lực và các năng lực cần hình thành trong dạy học Ngữ văn:

* Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,…nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Nói một cách dễ hiểu năng lực là khả năng làm chủ và vận dụng hợp lý các kiến thức,kinh nghiệm, thái độ một cách có hứng thú để hành động một cách có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống

Dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực nghĩa là thông qua bộ môn, học sinh có khả năng kết hợp một cách linh hoạt kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một số yêu cầu phức hợp của hoạt động trong một số hoàn cảnh nhất định *Các năng lực cần hình thành cho học sinh trong dạy học Ngữ văn

Trang 3

Trong định hướng phát triển chương trình giáo dục phổ thông sau 2015, môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ, theo đó, năng lực giao tiếp tiếng Việt và năng lực thưởng thức văn học/ cảm thụ thẩm mỹ là năng lực mang tính đặc thù của môn học; ngoài ra năng lực tư duy sang tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực tự quản bản thân cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định nội dung dạy học của môn học Cụ thể:

1 Giải quyết vấn đề - phát hiện vấn đề, đề xuất giải pháp:

- Đánh giá – phát hiện và lí giải những vấn đề còn mơ hồ, đa nghĩa, khó hiểu trong ngữ liệu

- Phát hiện và lí giải những vấn đề trong thực tiễn đời sống được gợi ra từ ngữ liệu

- Phát hiện và đánh giá những khó khăn, thách thức đặt ra trong quá trình tạo lập văn bản nói và viết

2 Năng lực tưởng tượng và sáng tạo -phát hiện những ý tưởng mới nảy sinh trong học tập và cuộc sống

- Đề xuất các giải pháp một cách thiết thực

- Áp dụng vào tình huống mới - có cách tiếp cận vấn đề một cách chủ động

- Có cách nói và cách viết sáng tạo, độc đáo, hiệu quả

3 Hợp tác -phối hợp, tương tác hỗ trợ nhau cùng thực hiện nhiệm vụ để cùng đạt mục tiêu chung (thảo luận nhóm )

- Thảo luận nhóm là phương pháp có thể áp dụng với nhiều bài học, điều quan trọng ta phải chú ý là đề tài cho học sinh thảo luận phải là đề tài có tính phức hợp, có vấn đề, cần huy động sự suy nghĩ của nhiều người

- Thể hiện những suy nghĩ, cảm nhận cá nhân

- Điều chỉnh thái độ, cách ứng xử

4 Tự quản bản thân.

- Làm chủ cảm xúc

- Suy nghĩ và hành động hướng vào mục tiêu phù hợp với hoàn cảnh

- Tự đánh giá, điều chỉnh hành động phù hợp với những tình huống mới học sinh cần biết xác định các kế hoạch hành động cho cá nhân và chủ động điều chỉnh kế hoạch để đạt được mục tiêu đặt ra, nhận biết những tác động của ngoại cảnh đến việc tiếp thu kiến thức và rèn luyện kĩ năng của cá nhân để khai thác, phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực, từ đó xác định được các hành vi đúng đắn, cần thiết trong những tình huống của cuộc sống

5.Năng lực giao tiếp tiếng Việt - sử dụng tiếng Việt một cách phù hợp và hiệu quả trong tình huống giao tiếp

- Năng lực giao tiếp trong các nội dung dạy học tiếng Việt được thể hiện ở

4 kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết và khả năng ứng dụng các kiến thức và kĩ năng ấy vào các tình huống giao tiếp khác nhau trong cuộc sống

6 Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ

Trang 4

- Biết nhận diện, thưởng thức và đánh giá cái đẹp trong văn học và cuộc sống, biết làm chủ cuộc sống, biết làm chủ cảm xúc của bản thân, biết hành động hướng theo cái đẹp, cái thiện – cảm nhận vẻ đẹp ngôn ngữ, nhận ra những giá trị thẩm mĩ trong văn học, biết rung cảm, hướng thiện

II Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học nhằm hướng tới phát triển năng lực học sinh trong môn ngữ văn

1 Các phương pháp dạy học

a Thảo luận nhóm

b Nêu vấn đề

2 Các hình thức dạy học nhằm hướng tới phát triển năng lực học sinh

a Học cá nhân

b Học theo nhóm

c Học theo góc

d Cặp đôi

e Trò chơi

g Vẽ sơ đồ tư duy

3 Các dạng câu hỏi

a Câu hỏi gợi mở

b Câu hỏi tái hiện

c Câu hỏi nêu vấn đề

d Câu hỏi cảm thụ

e Câu hỏi phân tích

C PHẦN KẾT LUẬN:

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất, nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho người học năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Đây là vấn đề tiếp tục nghiên cứu và vận dụng có hiệu quả hơn trong những bài dạy ở tất cả các môn học, các khối lớp nói chung

và môn Ngữ văn cấp THCS nói riêng

D BÀI DẠY THỰC NGHIỆM (NGỮ VĂN 7- BÀI: ĐIỆP NGỮ)

Trang 5

Tiết 55: ĐIỆP NGỮ

I Mục tiêu bài học:

1.Về kiến thức:

- Thông qua các hoạt động giáo dục giúp học sinh nắm chắc kiến thức về điệp ngữ, các kiểu điệp ngữ, tác dụng của điệp ngữ; cách tạo ra điệp ngữ trong khi nói,viết;

- Củng cố, bổ sung kiến thức nâng cao giúp học sinh có khả năng vận dụng các kiến thức về điệp ngữ để giải quyết các vấn đề thực tiễn

- Giúp học sinh phát triển tư duy về ngôn ngữ

2.Về kỹ năng:

Học sinh được hình thành và rèn luyện một số kĩ năng:

- Kĩ năng nhận biết : Nhận biết nghệ thuật điệp ngữ trong câu, trong

đoạn, trong văn bản

- Kĩ năng thực hành : Đặt câu, viết đoạn văn có sử dụng điệp ngữ

- Kĩ năng so sánh, phân biệt : Phân biệt biện pháp nghệ thuật điệp ngữ

với lỗi lặp từ

- Rèn luyện năng lực xử lí, phân tích thông tin, biết vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đề đặt ra trong bài học cũng như trong thực tế đời sống

- Thực hành kĩ năng tự tìm hiểu, khám phá, đào sâu kiến thức liên quan đến biện pháp tu từ điệp ngữ

3 Về thái độ:

- Thông qua các hoạt động dạy học giúp học sinh bồi dưỡng hứng thú, tích cực học tập, phát huy năng lực và tính sáng tạo

- Học tập với niềm say mê, hứng thú, khát khao

- Lĩnh hội tri thức tích cực, chủ động, sáng tạo, theo phương pháp khoa học

- Học trong sự tương tác, trong việc hình thành các quan hệ hợp tác, thân

thiện, cùng nhau giải quyết các vấn đề học tập

4 Năng lực

Các năng lực cần hình thành cho học sinh

-Năng lực tự học:

+ Xác định mục tiêu học tập: Xác định được nhiệm vụ học tập một cách

tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập để nỗ lực phấn đấu thực hiện

+ Đánh giá và điều chỉnh việc học: Nhận ra và điều chỉnh những sai sót,

hạn chế của bản thân khi được giáo viên, bạn bè góp ý; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ của người khác khi gặp khó khăn trong học tập

- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo:

Trang 6

+ Phát hiện và làm rõ vấn đề: Phân tích được tình huống trong học tập;

phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập

+ Đề xuất, lựa chọn giải pháp: Xác định được và biết tìm hiểu các thông

tin liên quan đến vấn đề; đề xuất được giải pháp giải quyết vấn đề

+ Thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề: Thực hiện giải

pháp giải quyết vấn đề và nhận ra sự phù hợp hay không phù hợp của giải pháp thực hiện

- Năng lực giao tiếp:

+ Sử dụng tiếng Việt: Nghe hiểu nội dung chính hay nội dung chi tiết các đề

bài, lời giải thích, cuộc thảo luận; có thái độ tích cực trong khi nghe; có phản hồi phù hợp

+ Xác định mục đích giao tiếp: Bước đầu biết đặt ra mục đích giao tiếp

và hiểu được vai trò quan trọng của việc đặt mục tiêu trước khi giao tiếp

- Năng lực hợp tác:

+ Xác định mục đích và phương thức hợp tác: Chủ động đề xuất mục

đích hợp tác khi được giao các nhiệm vụ; xác định được loại công việc nào có thể hoàn thành tốt nhất bằng hợp tác theo nhóm với quy mô phù hợp

+ Đánh giá hoạt động hợp tác: Biết dựa vào mục đích đặt ra để tổng kết

hoạt động chung của nhóm; nêu mặt được, mặt thiếu sót của cá nhân và của cả nhóm

- Năng lực thẩm mỹ:

+ Nhận ra cái đẹp: Có cảm xúc và chính kiến cá nhân trước hiện tượng

trong tự nhiên, đời sống xã hội và nghệ thuật

+ Diễn tả, giao lưu thẩm mỹ: Giới thiệu được, tiếp nhận có chọn lọc

thông tin trao đổi về biểu hiện của cái đẹp trong tự nhiên, trong đời sống xã hội, trong nghệ thuật và trong tác phẩm của mình, của người khác

II Phương pháp - phương tiện dạy học

1 Giáo viên:

- Thiết bị: Giáo án, SGK, SGV, chuẩn kiến thức kĩ năng Ngữ văn 7,

bảng, máy vi tính, máy chiếu…

- Học liệu: Kiến thức liên môn, kiến thức thực tế, nguồn internet, tư liệu

từ đồng nghiệp…

- Ứng dụng CNTT: Bài giảng Powerpoint,video minh họa.

- Giao nhiệm vụ chung cho cả lớp và nhiệm vụ riêng cho từng nhóm:

+ Soạn bài, chuẩn bị dụng cụ học tập

+ Tìm đọc các tài liệu liên quan bài Điệp ngữ

2 Học sinh:

- Đọc bài và soạn bài

- Sưu tầm tư liệu liên quan đến nội dung bài học Thực hiện yêu cầu của giáo viên theo nhóm đã phân chia

- Sách vở, đồ dùng học tập

III Tiến trình dạy học

Trang 7

1 Tổ chức:

2 Kiểm tra sự chuẩn bị bài ở nhà

3 Nội dung bài học

HOẠT ĐỘNG : KHỞI ĐỘNG

HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ

TRÒ

NỘI DUNG KIẾN THỨC CẦN ĐẠT

- Mục tiêu, ý tưởng:

+ Học sinh nhận biết ban đầu về Điệp

ngữ

+ Tạo tâm thế học tập, giúp học sinh ý

thức được nhiệm vụ học tập, hứng thú

học bài mới

- Nội dung hoạt động:

Cho học sinh xem video có sử dụng

điệp ngữ: đoạn văn giới thiệu về cây

tre Việt Nam của Thép Mới (Ngữ văn

6, tập 2)

- Phương tiện: Máy chiếu

- Cách thức thực hiện:

Giáo viên chiếu video đã chuẩn bị

Học sinh xem video

Giáo viên hỏi: Qua đoạn video em vừa

xem, nội dung được nhấn mạnh, khắc

sâu qua đoạn video đó là gì?

-Học sinh: Khắc họa hình ảnh cây tre

Việt Nam

GV chốt ý và định hướng vào bài học:

Trong khi giao tiếp nói hoặc viết nhiều

khi người nói (viết) muốn nhấn mạnh,

bộc lộ cảm xúc về một điều gì đó

người ta sẽ sử dụng biện pháp điệp

ngữ Vậy điệp ngữ là gì ? Nó có tác

dụng như thế nào khi nói và viết?

Chúng ta sẽ tìm hiểu

- Nhận thức được nhiệm vụ cần giải quyết của bài học

- Tập trung cao và hợp tác tốt để giải quyết nhiệm vụ

- Có thái độ tích cực, hứng thú học tập

Trang 8

HOẠT ĐỘNG : HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI

ĐẠT

Hoạt động 1: Tìm hiểu khái niệm điệp

ngữ và tác dụng của điệp ngữ

- Mục tiêu, ý tưởng:

+ Giúp học sinh nắm được khái niệm về

điệp ngữ và tác dụng của điệp ngữ trong

câu

+ Giúp các em mạnh dạn tự tin trước đám

đông

+ Phát huy năng lực sử dụng ngôn ngữ,

năng lực giải quyết vấn đề và năng

lực sáng tạo ở học sinh

+ Thể hiện những hiểu biết của các em về

các vấn đề liên quan đến điệp ngữ trong

bài học và trong thực tế cuộc sống

- Nội dung hoạt động:

+ Giáo viên hướng dẫn học sinh tự tìm

hiểu khái niệm điệp ngữ và tác dụng của

điệp ngữ

-Cách thức thực hiện:

+ Bước 1: Giáo viên chia lớp thành 4

nhóm (mỗi nhóm có nhóm trưởng, thư kí,

trong mỗi nhóm đều có học sinh khá,

giỏi, trung bình, yếu)

+ Bước 2: Giáo viên yêu cầu học sinh

đọc ngữ liệu trong sách giáo khoa và giao

nhiệm vụ cho các nhóm thảo luận các câu

hỏi đưa ra trong thời gian 5- 7 phút:

Câu 1 Ở khổ thơ đầu và khổ thơ cuối bài

thơ Tiếng gà trưa có những từ ngữ nào

được

lặp đi lặp lại?

Câu 2 Việc lặp đi lặp lại từ ngữ như thế

có tác dụng gì?

Câu 3 Thử thay thế các từ đó bằng các

từ khác có được không? (Vẻ đẹp của

đoạn thơ có thay đổi không?)

+Bước 3: Sau khi học sinh trong nhóm

thảo luận, một em đại diện của nhóm lên

trình bày kết quả thảo luận Các nhóm

I Điệp ngữ và tác dụng của điệp ngữ

1 Ví dụ (SGK tr 152):

Ở khổ thơ đầu và khổ thơ cuối bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh

có những từ ngữ nào được lặp đi lặp lại?

a) Khổ thơ đầu:

Trên đường hành quân xa Dừng chân bên xóm nhỏ Tiếng gà ai nhảy ổ:

“Cục… cục tác cục ta” Nghe xao động nắng trưa Nghe bàn chân đỡ mỏi Nghe gọi về tuổi thơ

b) Khổ thơ cuối:

Cháu chiến đấu hôm nay

Vì lòng yêu Tổ quốc

Vì xóm làng thân thuộc

Bà ơi, cũng vì bà

Vì tiếng gà cục tác

Ổ trứng hồng tuổi thơ

=> Nhận xét:

- Trong ví dụ a: Từ được nhắc lại

“Nghe”:có tác dụng nhấn mạnh

cảm giác khi nghe tiếng gà trưa

- Trong ví dụ b: Từ được nhắc lại

“Vì”:có tác dụng nhấn mạnh

nguyên nhân chiến đấu của người chiến sĩ

=>Chốt kiến thức:

Trang 9

HOẠT ĐỘNG : LUYỆN TẬP

HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ

TRÒ

NỘI DUNG KIẾN THỨC CẦN ĐẠT

Hoạt động 1: Tái hiện kiến thức

- Mục tiêu, ý tưởng: Tái hiện lại khái

niệm điệp ngữ và tác dụng của điệp

ngữ

- Nội dung hoạt động: Sử dụng kiến

thức đã học để làm các bài tập nhận

biết, thông hiểu

- Cách thức thực hiện: Giáo viên giao

bài tập (Bài tập 1 - SGK trang 153) cho

các nhóm thực hiện sau đó mời đại

diện nhóm lên làm, nhóm khác nhận

xét, đánh giá Giáo viên chốt kiến thức

và định hướng cách làm cho những

kiểu bài như vậy

Bài tập 1 SGK trang 153: Tìm điệp

ngữ trong những đoạn trích sau đây và cho biết tác giả muốn nhấn mạnh điều gì?

a)Một dân tộc đã gan góc chống ách

nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do ! Dân tộc đó phải được độc lập (Hồ Chí Minh)

=>Điệp: dân tộc đã gan góc, năm nay, dân tộc đó phải được: Nhấn mạnh ý dân tộc ta phải được tự do, độc lập, xứng đáng được tự do, độc lập.

b)Người ta đi cấy lấy công, Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề Trông trời, trông đất, trông mây, Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm

Trông cho chân cứng đá mềm, Trời êm, biển lặng mới yên tấm lòng

(Ca dao)

=>Điệp ngữ: Đi cấy, trông.

- “đi cấy”: nhấn mạnh công việc làm

của người nông dân

-“Trông” biểu hiện sự lo lắng của người nông dân mong mưa thuận gió hòa, thời tiết thuận lợi cho việc đồng áng

Hoạt động 2: Khắc sâu kiến thức

- Mục tiêu, ý tưởng:

Bài tập 2 SGK trang 153

Tìm điệp ngữ trong đoạn văn sau và

Trang 10

Khắc sâu kiến thức đã học để học sinh

ghi nhớ về các dạng điệp ngữ

- Cách thức thực hiện:

Giáo viên giao bài tập (Bài tập 2

-SGK trang 153) cho các nhóm thực

hiện sau đó mời đại diện nhóm lên

làm, nhóm khác nhận xét, đánh giá

Giáo viên chốt kiến thức và định

hướng cách làm cho những kiểu bài

xác định điệp ngữ và phân biệt các

dạng điệp ngữ

Đề mở rộng, tích hợp kiến thức đã học

giáo viên cho học sinh làm bài tập bổ

trợ

- Giáo viên: Giao bài tập

- Học sinh:làm bài độc lập, phát biểu ý

kiến trước lớp

.

nói rõ đấy là những dạng điệp ngữ gì?

Vậy mà giờ đây, anh em tôi sắp phải

xa nhau Có thể sẽ xa nhau mãi mãi Lạy trời đây chỉ là một giấc mơ Một giấc mơ

thôi ( Khánh Hoài)

=>Chốt ý:

-“Xa nhau”: điệp ngữ cách quãng

- “Một giấc mơ”: điệp ngữ chuyển tiếp

Bài tập 3 SGK trang 153

Theo em, trong đoạn văn sau đây, việc lặp đi lặp lại một số từ ngữ có tác dụng biểu cảm hay không?

Phía sau nhà em có một mảnh

vườn Mảnh vườn ở phía sau nhà em,

em trồng rất nhiều loài hoa Em trồng hoa cúc Em trồng hoa thược dược

Em trồng hoa đồng tiền Em trồng hoa hồng Em trồng cả hoa lay ơn nữa Ngày Phụ nữ quốc tế, em hái hoa sau vườn nhà em tặng mẹ em Em hái hoa tặng chị em…

=>Lặp từ không có tác dụng biểu cảm- lỗi lặp từ

Chữa lại: Phía sau nhà em có một

mảnh vườn Em trồng rất nhiều loài hoa như: cúc, thược dược, đồng tiền, hồng và cả lay ơn nữa Ngày Phụ nữ quốc tế, em hái hoa sau vườn tặng mẹ

và chị …

Bài tập mở rộng: (kiểm tra tích hợp)

Đọc kỹ bài ca dao sau và trả lời các câu hỏi:

Một trăm thứ dầu, dầu chi là dầu không thắp?

Một trăm thứ bắp, bắp chi là bắp không rang? Một trăm thứ than, than chi là than không quạt?

Ngày đăng: 03/02/2021, 14:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w