1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Lượng từ trong văn bản thư từ thế kỷ XVII-XIX của người công giáo

18 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 Chúng tôi đã tra cứu các từ điển có liên quan đến thời kì này nhưng không tìm được nghĩa tương ứng đế có thế giải thích nghĩa của danh ngữ nói trên. Chúng tôi ngờ rằng người viết dã[r]

Trang 1

THÊ KỈ XVII - XIX CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO

1 Dần nhập

Khi bàn vể sỗ lượng (n h iề u / ít) hay tính to àn thề của d an h từ trung tâm, các nhà nghiên cứu đểu th ố n g n h ất cho rằng lượng từ chi to àn thể và lượng từ chỉ số lượng có vị trí thuộc vế phần p h ụ trước tro n g cấu trú c danh ngữ tiếng Việt VỊ trí này là hoàn toàn hợp lí bởi theo Phan N gọc: “cách bố trí các từ trong m ột ngữ Việt N a m là theo ngữ nghĩa, từ nào

có nội dung khái quát h ơ n từ ấy đứng trước” [p h an N gọc, 2011: 304] T h ậ t vậy, trong danh ngữ tiếng Việt, những từ chỉ nghĩa toàn thê’ như: cả, tất, tất cả, h ết th ảy đểu biểu thị tính toàn thể của đối tư ợng hay tập hợp và là những từ “bao quát n h ấ t vé nghĩa” [P han N gọc, 2011: 304] T ro n g khi đó, các lượng từ chi số lượng trong danh ngữ tiếng Việt có m ộ t điểm chung, biểu thị số lượng của danh từ trung tầm Vị trí này của danh ngữ thường được biểu đạt bằng nhóm các thực từ và h ư từ, gồm: các từ chi số đếm (hai, mười, m ột trăm, ba

n g àn , ) , các từ chi số ước lượng (vài, dăm, vài ba, mươi, m ươi lăm, .) , các từ với ý nghĩa phân phối (mọi, mỗi; từ ng), các h ư từ chi số (những, các, m ộ t)

Vị trí của lượng từ chỉ to à n th ể (vị trí ngoài cùng của cấu trú c d an h ngữ- vị trí 3) và lượng từ chỉ số lượng (vị trí kế tiếp của lượng từ chỉ to àn thể- vị trí 2) tro n g d an h ngữ tiếng V iệt có thê’ coi n h ư được ổn định kể từ khi N guyễn T à i C ẩn (1975) m ô h ìn h hóa cấu trúc d an h ngữ tiến g V iệt [N guyễn T ài C ẩn, 1975: 2 7 ] Các tác giả sau đó như:

N guyễn Đ ình H ò a (1977), Đ in h V ăn Đức (1 9 8 5 ); Lê B iên (1999), D iệp Q u an g Ban (2 0 0 9 ), N g u y ễn V ăn C h ín h (2010), H o à n g D ũ n g - N g u y ẻ n T h ị Ly K ha (2003)

ThS.Võ Thị Minh Hà*

* NCS - Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và N hân Vàn, Đ H Q G H N

Trang 2

LƯỢNG Từ TRONG VĂN BẢN THƯ TƯ THẾ KỈ XVII - XIX CỦA NGƯỜI CỒNG GIÁO 5 1 7

củng giữ nguyên vị trí của hai th à n h tố p h ụ này gióng n h ư N gu y ễn T ài Cẩn T u y nhiên, truớc đó; tro n g lược đổ về d a n h ngữ tiế n g V iệt, M.B E m c n e a u (1951) gộp chung hai vị trí này và gọi là: “N u m e ra to r ( T ừ chỉ số lư ợ n g )” [M.B E m en eau , 1951: 85]

Bài viết này sẽ tập tru n g p h â n tích và m iêu tả vể vấn để lượng từ chỉ số lượng trong các d a n h ngữ tiên g V iệt thê' ki X V II- X V III qua các văn b ả n th ư từ v iết b ằn g chữ

Q u ố c ngữ của người C ô n g giáo ở V iệt N a m giai đ o ạn này

1 Lượng từ chỉ sô lượng

V ề m ặt p h ần bố; các th à n h tố chỉ lư ợng đứng ở vị trí 2, ngay sau lượng từ chỉ toàn

thể và do các từ chi lượng đảm nhiệm V é m ặt thuật ngữ, vị trí này của danh ngữ có thê’ được gọi với các tên như: lượng số chi đ ịn h tự (T rần T rọ n g Kim, 1940), nu m erato r (từ chi

số lượng) (M.B Em eneau, 1951: 85), plural m arkers (các chỉ tố số n h iề u )/ numerative

p hrase (số n g ữ ) / approxim ative p h rase (n g ữ ước ch ừ n g ) ( L c T h o m p so n , 1965), từ

c h i s ố lư ợ n g ( N g u y ẽ n T à i C ẩ n , 1975) , p lu r a lity ( N g u y ễ n Đ ìn h H ò a , 1997) , từ ch ỉ s ố

lượng (L ê Biên, 1999), các y ếu tố chỉ lượng (Đ in h V ăn Đ ủc, 2001), từ chi số lượng (D iệp Q u a n g Ban, 20Ơ9),

T ro n g sơ đổ cấu trú c lư ợng từ (sc h e m a o f th e n u m e ra te d co n stru c tio n s) của m ình, M.B E m eneau đưa th ành tố chi số lượng lên đẩu cấu trúc và trong phần m iêu tả vể thể từ, ông đã giải thích khá rõ vể ngữ thê’ từ số hóa (n u m erated substantive phrase) T h eo ông:

“M ộ t ngữ th ề từ số h ó a bao gồm số từ đứ ng trư ớc d an h từ với loại từ của nó, nếu đó là

m ộ t d an h từ b iệt loại, h o ặc m ộ t số từ chỉ đ ịn h th e o sau d an h từ với loại từ của nó nếu nó

là m ộ t d a n h từ b iệt loại h o ặc có cả số từ và m ộ t số từ chỉ định ( ) M ộ t ngữ thể từ số

h ó a có thê’ th iếu d an h từ của loại b iệ t loại n hư ng lưu giữ loại từ, n ếu tro n g ngữ cảnh trước đó; tro n g lời nó i h o ặ c n h ữ n g th ứ khác, đã xác đ ịn h được tru n g tâ m ”1 [M B

E m en eau , 1951: 84]

Khi m iêu tả vế vị trí lư ợng từ chỉ số lượng của d an h ngữ, L c T h o m p so n chia

th à n h ba ph ần , với các từ như: những, các, mọi, mỗi, từng, ông gọi là plural m arkers (chỉ

tố số n h iể u ): “tru y ền đạt, th ê m vào khái n iệm vể số nhiều, m ộ t vài khái niệm đặc biệt

C h ú n g được d ù n g ở đấu câu đ ế xác đ ịn h các th ể tà, n h ư n g chúng cũng có thê’ xuất hiện

1 “A num erated substantive phrase contains num erator, vvhich precedes the noun with its classiíìer, if it is a classifìed noun or a demonstrative num erator, vvhich follows the noun vvith its classifìer, if it is a classiíìed noun

o r both a num erator and a dem onstrative num erator ( ) A num erateđ substantive phrase may lacka noun of the classifìed tỵpe yet retain the classitìer, when preceding context, verbal or other, has identifìed the head ”

Trang 3

p h ổ biến ở n hữ ng vị trí k h ác”‘[L.C T h o m p so n , 1965, 180] N u m e rativ e phrase (số ngữ); “được hình th à n h bở i m ộ t cấu trú c chặt với m ộ t th ế từ h o ặ c m ộ t ngữ th ể từ với tư cách là tru n g tâm T h à n h tố đầu tiên của nhữ ng ngữ này (b ổ ngữ b ắt b u ộ c ) là m ộ t số từ;

N ó th ư ờ n g là m ộ t số ngữ, m ặc dầu các loại ngữ khác cũng có th ể xuất h iện ở vị trí này” [L c T h o m p so n , 1965: 182]2 T iế p đến là approxim ative ph rase (n g ữ ước chừng) với

“sự kết hợp của h ai h o ặ c h ơ n nữa các trung tầm tro n g m ộ t cấu trú c kết hợp N hữ ng trung tâm này th ư ờ n g là các sổ từ; chỉ xuất m ộ t cách xác đáng các số lượng lớn hơn

N h ữ n g ngữ này th ư ờ n g dùng n h ư là các số từ”3[L.C T h o m p so n , 1965: 182] c h o dù

p h ân b iệt th à n h ba khái niệm như vậy như ng số ngữ (n u m e rativ e p h rase), ngữ ước chừng (approxim ative p h rase) đểu là nhữ ng p h ầ n loại của ngữ thê’ từ (substantival

p h rase) và các tác tử sổ n h iều (p lu ral m arkers) có liên quan chặt chẽ đ ến ngữ thê’ từ

N guyễn T ài C ẩn ch o rằng vị trí này “m ới đ ú n g là vị trí của n h ữ n g từ chỉ số lượng” [N guyễn T ài Cẩn, 1975: 4 4 ] Đ ây là m ộ t vị trí bao gồm các từ th u ộ c n h ữ n g lớp như: từ chỉ số đếm , từ chỉ chỉ số ước lượng, từ với ý nghĩa p h â n p h ố i và h ư từ chỉ số Đ ây cũng là

n h ó m các từ “vừa có tác d ụ n g p h ần biệt d an h từ với từ loại khác vừa là tiêu chí để phân chia từ loại d an h từ ” [Lê Biên, 1999: 26]

N h ư vậy, cho d ù có n h ữ n g tên gọi và sự p h ân đ ịn h chưa h ẳn đã đư ợc n h ấ t quán tro n g giới V iệt ngữ h ọ c n h ư n g vai trò và chức năng của lượng từ chỉ số lượng đã luôn

được các n h à nghiên cứu quan tảm m iêu tả khi nói vể danh ngữ.

2 7 Các từ chỉ s ố đếm gồm những từ chỉ s ố đếm như: m ột, hai, b a

Đ ặc điểm n ổi b ậ t n h ấ t của số từ là “đi kèm với d an h từ, làm th à n h tố p h ụ cho danh

từ, hạn định về m ặ t số lư ợng” [Lê Biên, 1999: 158] T ro n g n h ó m các từ chi lượng, số từ

là đơn vị gần với th ự c từ n h ấ t và b ản th ân n h ó m số từ cũng được N g u y ễn T ài Cẩn để nghị tách n h ó m các từ: chục, trăm , ngàn, triệu th àn h m ộ t n h ó m n h ỏ bởi “đây là những

số từ đặc biệt, có khả n ă n g tiếp cận với d an h từ chi đ ơ n vị ( ) (n h ư n g ) cũng chưa

chuyển hẳn sang d a n h từ chỉ đơn vị như đôi, cặp hoặc tá" [N g u y ền T ài C ẩn, 1975: 44].

1 “Plural marker: convey, in addition to the notion of plurality, some special connotations We have used theừ occurrence at the beginning of sentences to define substantives, but they are all common in other positons as weir.

2 Numerative phrase: are íorm ed by a restrictive construction with a substantive or substantival phrase as head The fìrst element of such phrases (the restrictive complement) is the num erator; It is oíten itselí a numerative phrase, although other phrase types also occur in this positon”

Approxừnative phrase have two or more heads in a coordinating construction These heads are generally numerals denoting successively larger quantities Such phrases most commonly serve as numerator.

Trang 4

LƯƠNG Tư TRONG VẨN BẢN THƯ TỪ THẾ KỈ XVII - XIX CỬA NGƯỜI CÔNG GIÁO 519

T h ự c vậy, các số từ lu ô n kết hợp m ộ t cách dễ dàng với D Đ V đ ể tạo th à n h m ộ t danh ngữ

có ý nghĩa chỉ số lượng T ro n g khi đó, n h ó m các số từ như: chục, trăm , ngàn, triệu có

th ể kết h ợ p trực tiếp với D K h o ặc với D Đ V Ví dụ:

M ười quả h ổ n g ss *Mười h ồ n g

M ộ t chục h ồ n g ss M ộ t chục quả hổng

2.2 Các từ chỉ sô ước lượng

N h ó m các từ chi số ước lượng, “chỉ đ ịn h cái lượng p h ỏ n g chừng, k h ông n h ất đ ịn h ”

[T rấn T rọ n g K im : 1940: 63] tro n g tiến g V iệt thư ờng được các n h à nghiên củu nhắc đến n h ấ t là: vài, dăm , m ấy T u y nhiên, trê n thực tế, n h ó m các từ chỉ số ước lượng còn được m ở rộng h ơ n n h ờ sự k ết h ợ p của các số từ th eo lối tổ n g hợp m ang nghĩa phỏ n g

chừng, ước chừng: m ộ t hai, n ăm ba, n ăm m ư ờ i ; h o ặc sự k ết hợp giữa vài, dăm, mấy

với các SỐ từ: d ăm ba, vài ba, m ười m ấ y Đ ặc điểm dễ n h ậ n th ấy của các từ th u ộ c

n h ó m từ chi số ước lư ợng là: “hạn ch ế tro n g khả năng kết h ợ p với các từ chỉ khối lượng

n h ư tất cả, cà và các đ ịn h tố đứ ng sau d an h từ (nàỵ, kia, nọ, ây) ( ) (tu ỵ n h iên ) mấỵ có khả năng kết hợp với các từ tất cả, cả, tất thảy và các định tố: này, kia, nọ, ấy ” [Đ inh Văn Đức,

2 0 0 1 :8 5 ]

2.3 Các từ với ý nghĩa phân phối

N h ó m các từ với ý n g h ĩa p h â n p h ố i g ồ m các từ: mỗi, từng, mọi T u y xếp m ộ t

n h ó m g ổ m b a từ với ý n g h ĩa p h ầ n p h ố i n h ư vậy n h ư n g các n h à n g h iê n cứu đ ểu n h ậ n

th ấ y có sự k h á c n h a u vể cách d ù n g giữa: mỗi, từng với mọi M ỗi, từng “d ù n g trư ớ c

tiế n g d a n h tự đê’ chỉ từ n g đ ơ n v ị” [T rầ n T rọ n g K im , 1940: 6 5 ], “m an g ý nghĩa tách

ra từ n g cá th ể ” [Đ in h V ân Đ ức, 2 0 0 1 : 8 5 ], “cách n ó i cặp đôi “m ỗ i m ộ t” h o ặc

“từ n g m ộ t” c h ín h là m ộ t h iện tư ợ n g càng cho ta th ấ y rõ th ê m vê' ý ng h ĩa đ ó ”

[N g u y ễ n T à i C ẩ n , 1975: 4 5 ] T u y n h iê n , giữa m õi và từng cũ n g có n h ữ n g n ét khác

b iệt K hi b à n về từ mọi, các n h à n g h iê n cứu đ ể u th ố n g n h ấ t rằn g đ â y “là m ộ t từ d ù n g

đê’ n ê u n h ậ n đ ịn h ch u n g , k h ái q u át, sau khi đã tổ n g k ết vé từ n g trư ờ n g h ợ p riên g lẻ ” [N g u y ễ n T à i C ần , 1975: 4 5 ], k ể cả n h ữ n g người n g h iê n cứu chỉ n h ấ n m ạ n h đ ến ý

n g h ĩa về “tín h to à n thê’ củ a đ ố i tư ợ n g h ay tập h ợ p ” của m ọi n h ư C ao X uân H ạo (1 9 9 9 ) h o ặc T r ầ n T r ọ n g K im (1 9 4 0 ) ch ứ k h ô n g trự c tiếp sắp xếp m ọi vào vị trí cụ

th ể trê n sơ đồ d a n h n g ữ n h ư các n h à n g h iên cứu khác

Trang 5

2.4 Các h ư từ chỉ s ố

N h ó m các hư từ chỉ số có chức năng “diễn đ ạt p h ạm trù số n h iều cho danh từ ”

[N g u y ễn T ài C ần, 1975: 44], gốm các từ: những, các Bên cạn h đó, đ ể diễn đạt p hạm trù số ít, phải kê’ đến h ư từ chỉ số: một.

Khi b àn vể “chữ m ột m ạo từ ”, P han N gọc cho rằng nó “chỉ số đ ơ n (,) ìà sản p h ẩn của tiến g V iệt h iện đại do ảnh h ư ở n g của ngôn ngữ châu Âu ( .) • C h ữ m ột m ạo từ

th ê m vào d an h từ có loại từ k h ô n g phải đê’ chi số đơn, (m à ) th ê m vào sắc thái m iêu tả cảm x ú c” [P h an N gọc, 2011: 3 1 5 ] N h ậ n định của P h an N g ọ c cũng được D iệp Q u an

Ban chia sẻ khi cho rằng “m ột là q u án từ phiếm đ ịn h ” [D iệp Q u a n Ban, 2009: 274] và

“khác với chữ những và chữ các, ch ữ m ột thuộc loại từ cổ xưa của tiếng V iệt và được

d ù n g n h iếu n hư ng p h ải đ ến gần đầy nó m ới thành m ạo từ p h iếm đ ịn h ” [D iệp Q u an g

Ban, 2009: 3 1 7 ] T ro n g khi đó, N gu y ễn T ài Cẩn đưa m ột vào “th iế t đ ịn h k h ô n g ch ín h

x ác” cùng với những [N g u y ễn T à i C ẩn, 1975: 265] và cho rằn g “những, các, m ột tạo

th à n h ba dạng tích cực (ba d ạn g dư ơng của quán từ ) ” [N g u y ễn T à i C ần, 1975: 25 5 ]

v s P anlìlov (2 0 0 8 ) cũng đã b àn đ ế n ý nghĩa số lượng và ý nghĩa m ạo từ của m ột (xem

V s Paníìlov, 2 0 0 8 )

T ro n g quá trìn h khảo sát các th àn h tố chỉ lượng tro n g d a n h ngữ tiến g V iệt th ế kỉ XVII- XVIII, ch ú n g tô i n h ậ n th ấy cương vị chỉ số nhiểu của các h ư từ chỉ số tro n g d an h

ngữ tiến g V iệt th ờ i kì này k h ông chi do những, các đảm n h iệm m à còn có sự g óp m ặt của

phô và hoa- là n h ữ ng h ư từ đã bị rụ n g đi tro n g tiếng V iệt hiện nay “Ý nghĩa của phô là ý

nghĩa chi số n h iểu (tư ơ n g đư ơng với các) ( ) (và đã) tồ n tại và h o ạ t đ ộ n g tro n g Quốc

âm thi tập, tro n g b ố n bài p h ú th ờ i T rấn và tro n g bản giải âm P h ật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kin h ” [V ũ Đ ức N g hiêu , 2011: 345] Phô với ý n g h ía chỉ số n h iể u cò n xuất

h iện vào đẩu th ế ki XIX, tro n g Sách sổ sang chép các việc của P hilipê B inh (xem T râ n T h ị

Mỹ, N g u y ẽn T h iệ n N am , 1981) H ư từ hoa được p h ỏ n g định là m ộ t từ th u ộ c phư ơ n g ngữ (xem V ũ Đ ức N ghiêu, 2011: 3 4 1 ) và cũng có chức năng chỉ sổ n h iểu n h ư phô.

N h ữ n g h iện tư ợng riêng có vế hai h ư từ chỉ số nhiều: hoa, phò cũng n h ư các hiện

tư ợng khác vể lượng từ chỉ số lượng trong n g uổn ngữ liệu ch ú n g tô i khảo sát sẽ được trìn h bày cụ th ể dưới đầy

' Xin tham khảo: Võ Thị M inh Hà, “Từ những và từ các trong văn bản thư từ thế ki XVII-XIX của nguời công giáo”; Tạp ch í N g ô n ngữ, số 8, 2014.

Trang 6

LƯŨNG Từ TRONG VÃN BÀN THƯ TƯ THẾ KỈ XVII - XIX CỦA NGƯỜI CÕNG GIÁO 5 2 1

3 Lượng từ chỉ số lượng trong 42 văn bản thư từ của người công giáo thế kỉ XVII-XVIII

Lượng từ chỉ số lượng có vị trí 2 trong cấu trúc d an h ngữ, nằm ngay sau lượng từ chỉ toàn thể trên trục ngũ' đoạn Q uá trình khảo sát tư liệu cho th ấy 42VB thuộc th ế kỉ XVII- XVIII có đầy đủ các tiếu loại của lượng từ chỉ số lượng C ấu trá c và ngữ nghĩa của lượng từ chỉ số lượng thời kì này gần n h ư không có sự khác biệt so với hiện nay Sự khác biệt ở đây thiên về m ặt từ vựng m à chúng tôi sẽ trình bày cụ thể trong các tiểu m ục dưới đây

3 7 Các từ chỉ sô đếm

Các từ chỉ số đếm tro n g các văn bản hấu h ết đ ểu là n h ữ n g số đ ế m tro n g hệ th ố n g

số đếm tiến g V iệt C ác số đ ếm này có th ể là những số n h ỏ : m ộ tp h a têrê (VB 6), hai thấy

dòng ông thánh Domingo (VB l ) , ba ngàỵ tết (VB 4 1 ), bôn đời mà thôi (VB 12), sáu tháng (VB 6), bày lẩn (VB 15), tám năm nay (VB 7 ), chín tấm vài (VB 15), ho ặc

nhữ ng số đ ếm lớn: ba trăm nhà chung nhà thánh trong các x ứ m ọi nơi (VB 6), ba vạn bổn

đạo (VB 6), hai vạn đồng tròn (VB 6 ), H o ặc trư ờng h ợ p d an h ngữ có sử dụng số đếm

từ tiếng L atinh: 300 niillia lỉnh hổn ăy (VB 4) Bên cạn h dó, có m ộ t d a n h ngừ chúng tôi

k h ô n g h iểu nghĩa: hai m a n 2 quan tiền (VB 6).

T ro n g các văn bản k h ảo sát, số từ th u ộ c về lượng từ chỉ số lư ợng và có vị trí 2 tro n g cấu trúc d an h ngữ T ừ vị trí này, th eo nguyên tắc, số từ có th ế k ết h ợ p ngữ chi lượng

to à n thể ở vị trí 3 T rê n th ự c tế, hiện tượng này có xảy ra b ố n lần tro n g các danh ngữ: cả

và bốn người (VB 3), cả và hai Phatêrê ấy (VB 6), cả và hai giả thư bổn đạo dòng đức chúa Jêsu ở nước T unkinh (VB 6 ), cả và hai lí đoán ấy (VB 3 3 ) T ư liệu khảo sát k h ô n g cho

th ấ y hiện tư ợng số từ k ết h ợ p với các từ th u ộ c lượng từ chi to à n thê’ khác, tuy nhiên,

th e o suy đ o án của ch ú n g tôi, m ộ t từ chi tổ n g lượng khác xuất h iện tro n g thời kì này: cả

h o à n toàn có khả n ăn g k ết h ợ p với số từ, tạo ra m ộ t d a n h ngữ đ ú n g th eo m ô h ìn h của

p h ẩ n phụ trước d an h ngữ tiến g V iệt về số lượng: lượng từ chỉ to à n th ể + lượng từ chỉ số

lượng T rư ờ n g hợp thay thày và cả thảy đứng ở cuối d an h ngữ th ì n h ư chúng ta thấy, đ ến

th ế kỉ XIX, tro n g văn b ả n Sách sổ sang chép các việc, n ó đã chuyển lên vị trí đầu tiên, xa

n h ấ t về b ên trái của d an h ngữ cùng với các lượng từ chỉ to à n th ể khác

1 Millia= thousand (nghìn) T ra cứu tại: https://www google.ca/search?q=dictionary& ie=utf-8& oe=utf-8& gws_ rd=crẲỉei=rq2yVKe3N8i\ryAT-wIDQAQ#q=dictionary+latin+to+english.

2 Chúng tôi đã tra cứu các từ điển có liên quan đến thời kì này nhưng không tìm được nghĩa tương ứng đế có thế giải thích nghĩa của danh ngữ nói trên Chúng tôi ngờ rằng người viết dã viết nhám vạn thành man.

Trang 7

M ộ t đặc điểm khác của số từ tro n g danh ngữ là, số từ thư ờng kết hợp trực tiếp với

D Đ V để tạo thành m ộ t d an h ngữ có hàm ý về số lượng T ro n g cấu trúc danh ngữ tiếng Việt hiện nay và trong h ầu h ết các danh ngữ m ang ý nghĩa số lượng của th ế ki XVII- XVIII, số từ thường không kết h ợ p trực tiếp với yếu tố nào khác ngoài DĐV, trừ trường hợp m ộ t tổ hợp

m à chúng tôi cho rằng đó là danh ngữ được lặp lại hai lần: m ột trẻ (VB 28), m ột trẻ (VB 29)

m à ý nghĩa nó m u ố n diễn đạt là: m ột đứa trẻ M ộ t trẻ xuất hiện trong hai văn b ản khác nhau

nhưng nội dung, thời gian, cách h àn h văn cho thấy là của cùng m ộ t người viết T h êm vào

đó, với tổ n g số 169 d an h ngữ có sự xuất hiện của số từ thì 2 “d an h ngữ” m ột trẻ quả là m ột tỉ

lệ rất nhỏ, chiếm 0,01% so với các danh ngữ đúng ngữ pháp T h ê m vào đó, các văn bản này đểu m an g đậm tính khẩu ngữ, vì vậy, có thể nhận định đây là m ộ t d an h ngữ tro n g khẩu ngữ

thời kì đó m à nay dạng chuẩn của nó phải là: m ột đứa trẻ.

3.2 Các từ chỉ s ố ước lượng

C ác từ chi sỗ ước lượng tro n g 42 VB m à ch ú n g tô i k h ảo sát có th ể được chia th àn h

n h ữ n g n h ó m n h ỏ n h ư sau:

3.2.1 Từ mấy

Q ụ á trìn h k h ảo sát ch ú n g tô i chỉ th u được 1 trư ờ n g h ợ p có sự xuất h iệ n của danh

n gữ có chứa mấy: m ấy nơi (VB l ) T u y chỉ có duy n h ấ t m ộ t trư ờ n g h ợ p n h ư n g nó th ể

h iệ n đ ú n g n h ư m ô h ìn h d a n h ngữ tiến g V iệt h iện nay: từ p h ỏ n g chừ ng + D Đ V

3.2.2 Sự kết hợp của các số từ đ ể thể hiện sự phỏng chừng, Ước lượng:

Sự k ết hợp của các số từ đê’ thê’ hiện sự p h ỏ n g chừng, ước lư ợng tro n g các văn bản

ch ú n g tô i khảo sát là m ộ t h iện tư ợ n g khá p h ổ biến

- C ác số từ gần n h a u đư ợc k ết hợp với n h au n h ẳm th ể h iện ý nghĩa số n h iểu không

ch ín h xác

+ Đ ó có thể là hai số sát cạnh nhau, số có giá trị nhỏ hơn đứng trước, ví dụ: một hai sự (VB 3 ), m ột hai lời (VB 19), m ột hai nơi (VB ó ), m ột hai điểu (VB 10), m ộ t hai kẻ mọn

dạ (V B 15), 9 ,1 0 lỗ (VB 15), sáu bảy thày cả (VB 3 2), 1 5 ,1 6 người (VB 3 5 ), hai ba mươi người (VB 1 0 )

+ Củng có thê’ là sự kết hợp kiểu như dăm ba, dăm mười trong tiếng Việt hiện nay nhưng thời kì này, chúng tôi không thấy sự xuất hiện của dăm m à thay vào đó là năm: năm ba ngày nữa (VB 22), năm ba lẽ (VB 3 7 ), năm ba kinh (VB 37), năm mười đấy tớ (VB 6), .

Trang 8

LƯỢNG Từ TRONG VÂN BẢN THƯ TƯ THẾ KỈ XVII - XIX CỦA NGƯỜI CỔNG GIÁO 5 2 3

- Bên cạnh đó còn có sự k ết hợp của số từ với danh từ đôi - tạo th à n h m ộ t d an h ngữ

có ý nghĩa p h ỏ n g chừng, k h ô n g ch ính xác về số lượng: m ột đôi lời (VB 17).

- Sự kết hợp của các số từ tro n g các văn bản chúng tô i khảo sát còn có thê’ kể đến hiện

tượng m ang ý nghĩa p h ó n g đại: muôn muôn lạy (VB 6), trăm nghìn lạy (VB 18), muôn lạy (VB 20), man lạy (VB 2 l ) Các kết h ợ p này đ ề u có sự biểu trưng về ý nghĩa nhiều.

3.3 Các từ với ý nghĩa phân p h ối

C ác từ với ý nghĩa p h â n p h ố i th ư ờ n g đư ợc kể đến tro n g tiế n g V iệt là: mọi, mỗi, từng

T u y nhiên, quá trìn h k h ảo sát của ch ú n g tô i chi th u được 3 trư ờ n g h ợ p mỗi với ý nghĩa tách ra từ ng sự vật, từ n g cá thê’ tro n g các sự vật T ro n g cả b a trư ờ n g h ợ p này, mỗi đ ều kết h ợ p với một: mỗi m ột thày cà khác dòng ông thánh A ocutinh tiên nhân (VB 16), mỗi

m ột thày cả êỉericô secelaxe (VB 6), m ỗi m ộ t người trong nhà m ình (VB 11).

T ro n g các văn b ả n k h ảo sát, mọi xuất h iện 28 lần và đ ề u m an g nghĩa về tín h to àn thê’ của đối tư ợng h a y tập h ợ p T ro n g số đó, có m ộ t lần mọi k ết h ợ p với cà thảy: mọi sự

chung cả thảỵ (VB 38) Đ iều đ án g chú ý là: to àn bộ 28 lần x uất hiện, mọi đều kết hợp

trực tiếp với D Đ V : mọi sự khác (VB l ) , m ọi việc (VB 2 2 ), mọi phép Đ.C.J (VB 3 3 ), mọi

Khi n h ậ n xét về mọi, N g u y ễn T ài C ần cho rằng do mọi “là m ộ t từ d ù n g để n ê u nhận

đ ịn h chung, khái quát, sau khi đã tổ n g k ết vể từ ng trư ờ ng h ợ p lẻ ( ) là nguyên n h ân vì

sao mọi k h ông th ề cùng có ch u n g m ộ t tru n g tâm với này, ấy" [N g u y ẻn T ài C ẩn, 1975:

4 5 ] T u y n h iên , tro n g quá trìn h k h ảo sát, chúng tôi th ấy xuất h iệ n m ộ t trư ờ ng hợp mọi

có cùng tru n g tầm với ấy: m ọi sự v i nhà chung, nhà thánh ấy (VB 7 ) Bên cạnh đó, 28 lần xuất h iện của mọi đều m an g nghĩa vể tín h to àn thê’ của đối tư ợng C ó lẽ, ở thời kì này,

mọi có chung ý nghĩa với lư ợng từ n gữ chỉ to à n thê’ và nên chăng, mọi có th ể được xếp

vào cùng m ộ t vị trí với cả và, thay t\\ày, cả, cả thảy ĩ N ế u k ế t quả n ày khả thi, có thê’

đưa ra n h ậ n đ ịn h (từ n g u ổ n n g ữ liệu 42 VB) rằng: vào th ế kỉ XVII- XV III, vị trí của từ

chỉ ý nghĩa p h â n p h ố i của d a n h ngữ là do mỗi đ ảm nhiệm , tro n g khi đó, lượng từ chỉ

to àn th ể g ồ m các từ: cả và, thay thảy, mọi, cả, cả thày.

3.4 Các h ư từ chỉ s ố

C ác h ư từ chỉ số tro n g tiến g V iệt là: một, những, các T ro n g đó, m ột từ m ộ t thực từ

tro n g h ệ số đếm cùa tiế n g V iệt đã trở th à n h m ộ t hư từ chỉ số ít do ản h h ư ở n g của

Trang 9

ngôn ngữ chầu Âu, n h ư n h ận định của m ột số nhà Việt ngữ h ọ c (xem : N guyễn Tài Cần,

1 9 7 5 ; D iệ p Q u a n g B a n , 2 0 0 9 ; P h a n N gọc, 2 0 1 1 )

N goài chức năng là đơn vị chỉ số trong hệ th ố n g số đ ếm tiếng V iệt, m ột còn m ộ t

chủc năng khác, đó là chức năng làm 'hư từ chỉ số ít tro n g m ối tư ơng quan với hai h ư từ

chỉ số nhiều những, các V ê vấn để này, N guyễn Tài C ẩn cho rằng “giữa quán từ m ột và

sổ từ m ột nhìn chung củng k h ông khác gì về cơ bản sự khác n h au giữa q u án từ và số từ

cine ở tiếng Đức hay un, une ở tiếng Pháp” [Nguyễn Tài Cẩn, 1975: 254] C òn Phan N gọc

thì n h ận định: “chữ m ột th u ộ c loại từ cổ xưa n h ất của tiếng V iệt và được dùng nhiều,

nhưng phải đến gắn đây nó m ới thành m ạo từ p h iếm đ ịn h ” [P h an N g ọ c, 1975: 317], Đặc điém dễ n h ậ n b iết n h ất của m ạ o từ một là nó “k h ô n g th ể d ù n g đê’ trả lời cho câu hỏi: bao n h iê u / m ấy n h ư số từ m ột hay các số từ còn lại [N g u y ễn T ài C ần, 1975: 255] và

“chữ m ột m ạo từ phiếm định không thê’ thay thế bằng số từ đư ợc” [P h an N gọc, 2011: 315].

Q u á trìn h khảo sát các văn bản chữ Q u ố c ngữ th ế kỉ XVII- X V III cho thấy có sự

xuất hiện của 60 d an h ngữ có chứa một nhưng chi có 3 d a n h ngữ đáp ứng đ ủ các vêu cáu

vế h ìn h thức và ngữ nghĩa của danh ngữ chứa m ột m an g tư cách m ạo từ Vể m ặt hình thức, các d an h ngữ này có sự kết hợp của: m ạo từ m ột ở vị trí 2 với D Đ V ở vị trí trung

tâm và sau đó là định ngữ C ụ thê’ là:

Ba danh ngữ này đ ểu k h ô n g thể dùng để trả lời cho câu hỏi: m ấ y / bao nhiêu và một

tro n g các d an h ngữ này củng không th ể dược th ay th ế b ằn g số từ Vế m ặt ngữ nghĩa,

th ô n g qua ngữ cảnh, hai d an h ngữ: m ột dồng gián và m ột tòa thánh có sắc thái đánh giá,

n h ấ n m ạ n h của người viết đối với đối tượng N h ư vậy, tro n g hai trư ờng hợp này, có thể

nhận xét: “chữ m ột m ạo từ th êm vào danh từ có loại từ không phải đê’ chỉ số đơn ( m à)

có n hiệm vụ đưa vàọ n g ô n ngữ những ý nghĩa ngữ pháp m ớ i” [P h an N g ọ c, 2011: 315]

D a n h ngữ m ột kẻ ở cho hiến lành chỉ m an g ý nghĩa n h ấ n m ạn h ; với n ẹh ĩa: chỉ c ó / chỉ.

Trang 10

LƯỢNG Tư TRONG VĂN BẢN THƯ TỪ THẾ KỈ XVII - XIX CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO 5 2 5

Ý nghĩa: chỉ c ó / chỉ của h ư từ m ột đ ã th ấ y xuất h iện “tro n g Q u ố c âm thi tập, bốn bài

phú thời Trẩn , trong bản giải âm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh” [Vũ Đức

N ghiêu, 2011: 351] n h ư n g đó là n h ữ n g trư ờ n g h ợ p m ột đi kèm với đ ộ n g từ Ở đây, như chúng ta thấy, m ột là m ộ t q u án từ tro n g m ộ t d an h ngữ chỉ số lượng (ít) D an h ngữ này,

kèm th eo ngữ cảnh có th ề h iểu là: chỉ có (n h ữ n g ) người ăn ở h iển lành thì m ới gặp được việc lành m à thôi

3.5 H ư từ chỉ sô nhiều: những, các, ph ô , hoa, đảng

T ro n g 42 VB ch ú n g tô i k h ảo sát, về cơ bản, những, các, phô, hoa đ ểu là các chỉ tố

đ án h dấu số n h iều tro n g d a n h ngữ, tro n g đó, những, các là hai h ư từ được dùng p hổ biến trong tiến g V iệt ngày nay, cò n phô, hoa thì đã “rụ n g ” đi, k h ô n g còn th ấy xuất hiện nữa

Ví dụ: n hững đất ấy (V B 6), các quan trấn thủ các x ứ (V B 2), phô ông (V B 23), hoa thấy

(V B 3 1), D ưới đ ây là n h ữ n g m iêu tả và p h â n tích cụ thể

3.5.1 Từ phô

Phô là m ộ t từ cổ “d ù n g trư ớ c m ộ t số d an h từ, đại từ đê’ diễn đạt ý nghĩa số n h iều ”

[V ương Lộc, 2002: 134] (c ũ n g xem N g u y ễn K hắc Xuyên, 1994: 92; Đ oàn T h iệ n

T h u ật, 2008: 143) M ặc d ù h iệ n nay p h ô đã bị rụng đi n hư ng vào th ế ki XII, phô được sử dụng đê’ chi số n h iều tư ơ n g đư ơng với các, chúng T ro n g bài H uấn nam tử “Q ụ ố c ầm thi tập ” của N g u y ễn T rã i có câu: N h ẵ n nhủ phô bay đạo cái con Đ ến “H ô n g Đ ức Q u ố c âm thi tậ p ”, lại có: phô loài cả vóc nghênh ngang Phô còn xuất hiện cả tro n g “P hật thuyết đại báo p h ụ m ẫu ân trọ n g k in h ”: phô bay x é t nghe Đ ến th ế ki XVII- XVIII, phô xuất hiện tro n g “P h ép giảng tá m ngày”: phô ông thì hỏi nó, và văn còn xuất h iện vào đấu th ế kỉ XIX: quẩn áo phô bà ấy kéo ỉê hai ba thước (S ách sổ sang chép các việc), .

T ro n g 42 VB, p h ô xuất h iện 48 lần, rải rác tro n g các văn b ản như ng cũng có trường hợp xuất hiện dày đặc tro n g m ộ t văn bản, ví dụ: “Bởi vì Đ C T P h ap h a đã dạy rằng cho

ta p h ải thư a lại cho người vế ch ín h việc p h ô th ấy cùng vể n h iều sự p h ô th ấy còn cấm giữ trái ý Đ th án h P h ap h a cù n g trái ý ta nữa d ù m à ta từ khi n h ận lấy địa p h ận b ên đông này cho đến rầy đã lấy lò n g lành cùng n h ịn n h ụ c p h ô th ầ y m à tỏ ra ỷ Đ T h á n h P hapha là thê’

ấy m à lại bởi p h ô th ầ y chẳng m u ố n kê’ ta là gì, cùng chẳng kính Đ th á n h P hapha chút nào là sự đã quá lắm n h ư th ể p h ô th ấy ch ẳn g khứ ng chịu th ư ta, cùng chẳng vưng cứ lời

ta đã dạy bảo cho, cùng là p h ô th ầ y đã cậy ô ng cụ P h ê rô P hê là kẻ làm n h ư giữ việc p h ô thầy, th ay m ặt p h ô th ấy b ỏ ra với ta ý p h ô th ẩy chẳng khứng chịu lụy Đ th á n h P hapha

Ngày đăng: 03/02/2021, 13:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w