Để đạt kết quả tốt trong giảng dạy người thầy phải có niềm say mê, tình yêu thương đối với mọi đối tượng học trò, tính kiên nhẫn, có niềm tin và không ngại khó, Là giáo viên đứng lớp, ti[r]
Trang 1CHUYÊN ĐỀ:
PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN HÓA HỌC 9
LỜI GIỚI THIỆU
Đối với môn hóa học, đây là môn học “vỡ lòng”, hoàn toàn mới lạ đối với các em, sự tiếp xúc môn học này ít nhiều làm cho các em bỡ ngỡ, một số ít các em có năng khiếu còn tìm tòi thích thú đối với môn học mới này, còn đa số các em đều cảm thấy xa lạ và ngần ngại, nếu không có biện pháp thích hợp các
em rất dễ chán nản, bỏ học Các em xem môn học này là một trong những môn học khó khăn nhất giống như các môn học tiếng nước ngoài Vì thực tế đối với các em, khi học môn học này phải học thuộc lòng các kí hiệu hóa học, tên gọi, hóa trị,… các em còn lúng túng, mù mờ việc dự đoán các sản phẩm tạo thành trong một phương trình phản ứng hóa học, việc củng cố rèn luyện các em đối với môn học này ở bậc THCS giúp cho học sinh có kiến thức cơ bản để làm nền tảng cho bậc học tiếp theo
Quán triệt quan điểm “dạy thật , học thật”, chống lại “bệnh thành tích” trong giáo dục, đang là căn bệnh nhức nhối trong toàn ngành giáo dục nói chung! Trong khuôn khổ chia sẻ “ Phương pháp rèn luyện học sinh yếu, kém môn hóa học 9”, bản thân công tác trong ngành luôn trăn trở và luôn tìm giải pháp nâng cao chất lượng học sinh nói chung trong đó quan tâm nhiều đến học sinh yếu kém nói riêng
I.MỤC TIÊU.
- Qua nội dung của chuyên đề giáo viên có phương pháp truyền thụ kiến thức cơ bản cho học sinh, học sinh nhận biết, thông hiểu, vận dụng kiến thức làm các bài tập ở nhà, bài tập ở lớp, bài kiểm tra
- Giúp học sinh yếu củng cố kiến thức cơ bản, bổ trợ những kiến thức học sinh bị hổng từ các lớp dưới, giúp HS có thói quen độc lập suy nghĩ, tự giác trong học tập, có tinh thần trách nhiệm, có ý thức tổ chức kỉ luật
- GV có kế hoạch cụ thể, chi tiết phụ đạo học sinh yếu
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, thực hiện tốt “Nói không với
HS ngồi nhầm lớp”
- Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
- Là động lực thúc đẩy các học sinh yếu kém có ý thức hơn trong học tập
- Là cơ sở kiến thức cho học sinh tiếp thu chương trình cấp trung học sơ sở
- Nêu ra các bước ngắn gọn với các ví dụ minh họa và có những ví dụ thông qua một vài nội dung học ở môn hóa học 8, 9 để từng bước tạo hứng thú cho các em trong các bài học
Trang 2Giúp đỡ học sinh yếu kém không chỉ là trách nhiệm mà còn mang tính nhân văn sâu sắc Như chúng ta đã biết, đối tượng học sinh yếu kém vẫn luôn tồn tại trong giáo dục, tuy nhiên số lượng học sinh yếu, kém nhiều hay ít và mức
độ tiến bộ của các em nhanh hay chậm trong quá trình được giáo dục và rèn luyện mới là điều đáng quan tâm của riêng mỗi nhà trường
Triển khai nhiệm vụ năm học 2019-2020, trường THCS Phạm Công Bình
đã lấy việc bồi dưỡng học sinh yếu kém làm nhiệm vụ trọng tâm trong việc nâng cao chất lượng giáo dục năm nay Đặc biệt môn hóa học ở trường THCS vì kiến thức môn hoá các em mới được làm quen ở năm lớp 8 còn trừu tượng và khó hiểu, nhiều em nhận thức còn hạn chế chính vì vậy thầy cô phải hết sức quan tâm Xuất phát từ thực tế đó, tổ chuyên môn KHTN, tổ chức chuyên đề bồi dưỡng học sinh yếu kém để giúp trao đổi học hỏi thêm kinh nghiệm trong giảng dạy, kèm cặp học sinh yếu
Thông qua chuyên đề mỗi GV đều được thổ lộ tâm tư suy nghĩ, trao đổi vốn hiểu biết, kinh nghiệm của bản thân đối với công tác bồi dưỡng học sinh yếu, kém
II THỰC TRẠNG.
1 Thuận lợi – khó khăn:
a) Thuận lợi: Nhà nước và bộ giáo dục, sở giáo dục, phòng giáo dục,
nhà trường quan tâm đến công tác bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho giáo viên Cơ sở vật chất trường học và đồ dùng phục vụ công tác dạy và học tương đối tốt Công nghệ thông tin được cập nhật là điều kiện để giáo viên dạy tốt và học sinh học tốt
b) Khó khăn:
* Học sinh:
- Qua quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy rằng đa số các học sinh yếu kém
là những học sinh cá biệt, vào lớp không chịu chú ý chuyên tâm vào việc học, về nhà lười học, không chuẩn bị bài, đến giờ học thì cắp sách đến trường, nhiều khi học sinh còn không biết ngày đó học môn gì, vào lớp không chép bài vì lí do là không đem đồ dùng học tập của môn học dẫn tới không nắm được các kĩ năng cần thiết trong việc học và vận dụng vào việc giải quyết các dạng bài tập Hóa học
Còn một bộ phận không ít học sinh lại không xác định được mục đích của việc học, đến lớp lo chọc phá bạn bè, gọi đến không biết trả lời
- Học sinh không hứng thú học tập bộ môn: Khác với các môn khác, môn Hóa Học có nhiều khái niệm trừu tượng, khó, học sinh hạn chế kiến thức cơ bản,
do đó học sinh tiếp thu kiến thức ngày càng khó khăn và thiếu hụt
Trang 3- Chất lượng đầu vào thấp, học sinh học yếu môn Toán, Lý không biết làm tính, yếu các kỹ năng tính toán cơ bản, cần thiết (cộng, trừ, nhân, chia) khó
có khả năng tiếp thu kiến thức môn Hóa học do đó sợ môn Hóa và không ham thích học Hóa
- Một số em thiếu tìm tòi, sáng tạo trong học tập, không có sự phấn đấu vươn lên, có thói quen chờ đợi lười suy nghĩ hay dựa vào giáo viên, bạn bè hoặc xem lời giải sẵn trong sách giải một cách thụ động
- Học sinh lười suy nghĩ, trình độ tư duy, vốn kiến thức cơ bản ở lớp dưới còn hạn chế, do mai một kiến thức mỗi hôm hổng một chút, với chương trình học tập như hiện nay, để học tốt, đặc biệt các môn tư duy tính toán như Toán, lý, hoá …thì để việc tập để có kết quả đòi hỏi trước đó HS phải có vốn kiến thức nhất định Tuy nhiên, hiện nay rất nhiều HS đã không có vốn kiến thức cơ bản ngay từ lớp nhỏ, từ đó việc học càng lên các lớp lớn hơn, học những kiến thức mới có kiên quan đến những kiến thức cũ thì học sinh đã quên hết cho nên việc tiếp thu kiến thức mới trở thành điều rất khó khăn đối với các em Nguyên nhân này có thể nói đến một phần lỗi của giáo viên là chưa đánh giá đúng trình độ của học sinh
- Đọc chậm, viết chậm, học vẹt, không có khả năng vận dụng kiến thức
- Ảnh hưởng công nghệ thông tin: chơi điện thoại, trò chơi máy tính– zalo
- facebook khi bố mẹ không để ý, làm mất thời gian cho học tập buổi tối của học sinh
* Giáo viên:
- Hệ thống câu hỏi gợi mở dẫn dắt chưa logic, chưa phù hợp cho từng đối tượng học sinh, có những tiết giáo viên thuyết trình nhiều, ngoài lề chưa khắc sâu kiến thức trọng tậm
- Chưa quan tâm đến đồng đều được tất cả HS trong lớp do sĩ số học sinh
quá đông( hơn 40 HS/ lớp), chưa thực sự quan tâm đến tất cả các đối tượng học
sinh trong cả lớp mà chỉ chú trọng một số em học khá, giỏi và trung bình thời gian trên lớp giành cho HS yếu không có nhiều và coi đây là chất lượng chung của cả lớp, giáo viên chưa thật tâm lý, chưa động viên khéo léo kịp thời đối với những tiến bộ của học sinh dù nhỏ
- Chưa cân đối giữa việc truyền thụ kiến thức với rèn luyện kỹ năng thực hành hóa học
- Không nắm chắc đối tượng dẫn tới đề quá cao hoặc quá thấp đối với học sinh
- Chưa tạo được không khí học tập thân thiện Giáo viên bộ môn chưa phối kết hợp tốt với giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh
Trang 4- Phương pháp dạy học đổi mới chưa nhanh: Nhiều giáo viên chưa chú ý đến phương pháp dạy học đặc trưng của bộ môn: không có thí nghiệm trên lớp,
bỏ giờ thực hành thí nghiệm, phương tiện dạy học nghèo nàn, lạc hậu
- Việc kiểm tra, đánh giá chưa nghiêm túc, chưa có tác dụng khích lệ học sinh trong học tập, thậm chí còn tạo điều kiện cho học sinh chây lười
- Chưa tổ chức được các buổi ngoại khóa, những hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh tham gia, chưa biết xử lý hết các tình huống trong tiết dạy, việc
tổ chức các hoạt động còn mang tính hình thức chưa phù hợp
- Phương pháp giảng dạy chưa phù hợp, năng lực tổ chức giờ học theo nhóm đối tượng còn hạn chế
* Phụ huynh học sinh và xã hội:
- Học sinh là con em nhân dân lao động, nghèo ít có điều kiện đầu tư việc học cho con cái
- Một số phụ huynh không quan tâm đến việc học của con em, khoán trắng việc học tập của con em họ cho nhà trường
- Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin cùng với internet với các dịch vụ vui chơi, giải trí hấp dẫn đã lôi cuốn các em
2 Thành công – Hạn chế:
* Thành công: Khi áp dụng chuyên đề này phần lớn học sinh có hứng thú
với môn học,siêng năng và có ý thức tự học Các em học sinh luôn tích cực qua việc hoàn thành bài tập ở nhà và nắm được tương đối kiến thức trọng tâm của từng bài học
* Hạn chế: Thời lượng phân phối chương trình lên lớp chưa đủ để cho
các em làm bài tập và trực quan bằng thí nghiệm biểu diễn, một số học sinh chưa có tinh thần tự giác học tập, không có thói quen tự học ở nhà; một bộ phận phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em mình
3 Mặt mạnh, mặt yếu:
- Chuyên đề là tài liệu tham khảo cho giáo viên đang giảng dạy môn hóa học ở trường THCS cũng như giáo viên đang giảng dạy ở nhiều môn học khác tạo động lực cho học sinh học tập tốt hơn môn học của mình Học sinh ý thức hơn việc tự học, nhận thấy rằng việc tự học là rất cần thiết để nâng cao kiến thức cho bản thân cũng như giúp học tốt hơn các môn học trong nhà trường đặc biệt
là môn hóa học
- Với đối tượng học sinh yếu, để các em phát huy tốt khả năng của mình cần có sự phối hợp thường xuyên hơn giữa gia đình với nhà trường và giáo viên giảng dạy bộ môn vì với đối tượng học sinh này kỹ năng tự học ở nhà là chưa tốt
4 Nguyên nhân, các yếu tố tác động:
Trang 5Từ thực tế giảng dạy tôi nhận thấy rằng việc các em học yếu kém môn hóa học là do nhiều nguyên nhân như: Do đặc điểm lứa tuổi, do hoàn cảnh sống
và môi trường tác động, ở đây vì nhiều gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên số học sinh bỏ học giữa chừng để làm kinh tế phụ giúp gia đình khá phổ biến, các
em thấy bạn cùng lứa tuổi mình đã có thể kiếm được tiền mà không cần học tập nhiều, cộng với việc tiếp thu các môn học gặp nhiều khó khăn cũng góp phần làm các em lơ là việc học nên tự bản thân học sinh chưa có động lực để học tập
Ngoài những nguyên nhân khách quan trên cũng còn một phần là do kiến thức môn hóa học trừu tượng, khó tiếp thu đối với một số học sinh, số lượng bài tập nhiều và khó cũng góp phần tạo nên sự chán nản nơi học sinh
5 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà chuyên đề đã đặt ra
- Từ các vấn đề mà thực trạng học sinh yếu kém môn Hóa Học đã nêu ở đây có 2 nguyên nhân chủ yếu:
+ Là yếu tố ngoại cảnh, do môi trường sống, bạn bè và gia đình tác động đến sự tự học của học sinh nói chung Với nguyên nhân này giải pháp khắc phục
là cần tăng cường sự phối hợp tốt hơn nữa giữa nhà trường và gia đình học sinh, đặc biệt là những em mà gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn, sự động viên khích lệ của giáo viên dành cho bản thân các em là cần thiết
+ Là do đặc điểm môn học và phương pháp giảng dạy của giáo viên Tâm
lý chung của học sinh là dễ chán nản nếu như các em không hiểu bài Chẳng hạn trong chương trình lớp 8 nếu các em không học thuộc bảng 1 – Một số nguyên tố hóa học SGK/ 42 và bảng 2 – Hóa trị của một số nhóm nguyên tử SGK/ 43, những công thức chuyển đổi giữa khối lượng, thể tích và lượng chất thì các em khó có thể có những kiến thức kỹ năng cơ bản để giải bài tập.
Đây là những công thức căn bản có thể áp dụng vào cho cả chương trình hóa học mà nếu các em ngay từ đầu không nắm vững thì sẽ rất khó vận dụng vào làm bài tập ở những bài học tiếp theo dẫn đến chán nản dẫn đến kết quả học tập giảm sút
Từ những khó khăn nêu trên mà học sinh khi học môn hóa học 8, 9 mắc phải, với những kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm môn hóa học lớp 8 và 9 tôi mạnh dạn đề xuất một vài giải pháp nhằm giúp các em khắc phục những khó khăn trên đồng thời thông qua việc các em nắm được các kiến thức áp dụng vào làm bài tập để từng bước các em biết cách học để nâng cao kiến thức của mình
KẾT QUẢ NĂM HỌC 2018-2019
Trang 68B 43 5 11,6 30 69,8 8 18,6
6
12 5,66
III GIẢI PHÁP- BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC.
* Mục tiêu của giải pháp- biện pháp: Viết lại những kinh nghiệm đã có trong quá trình giảng dạy nhằm giúp học sinh từng bước nắm được những kiến thức cơ bản để cải thiện kết quả học tập các môn học nói chung và môn hóa học nói riêng cũng như tạo tiền đề tốt để phát triển thêm nhiều kỹ năng khác trong môn hóa học như kỹ năng làm thí nghiệm, kỹ năng viết báo cáo thực hành, kỹ năng giải bài tập……
1 Đối với phụ huynh:
- PHHS theo dõi, động viên và kiểm tra bài vở của con em mình ở nhà
- Giúp đỡ học sinh trong quá trình học tập ở nhà, phải có thời gian biểu cho con em của mình
- Đôn đốc, động viên con em đi học chuyên cần
- Có sự kiểm tra đột suất và chuẩn bị cho con em đầy đủ đồ dùng trước khi đến trường
- Không cho con chơi điện thoại, máy tính vào các trò chơi vô bổ, ảnh hưởng tới chất lượng học tập của con em.Quản lý thời gian các buổi chiều của con không tới trường
- Thường xuyên liên hệ với giáo viên chủ nhiệm lớp và giáo viên bộ môn
để nắm được tình hình học tập của con em mình Từ đó GVCN cùng trao đổi với phụ huynh để tìm biện pháp tốt nhất cho con em
2 Đối với giáo viên:
Giáo viên là người chủ đạo trong việc khắc phục học sinh yếu, thành hay bại là phần lớn do giáo viên Vì vậy giáo viên là người hết sức quan trọng trong việc khắc phục học sinh yếu
- Giáo viên nghiên cứu tài liệu, có giáo án đầy đủ khi lên lớp, có sổ theo dõi học sinh học tập, kiểm tra đánh giá học tập của học sinh trong quá trình phụ đạo
- Chủ động gặp phụ huynh trao đổi về việc học tập của HS, cùng với phụ huynh tìm biện pháp khắc phục
- Tiếp theo GV lập kế hoạch phụ đạo HS yếu ngoài giờ học tự chọn, chính khóa có thể ở trường, ở nhà
Trang 7- Trong tiết dạy học bình thường GV soạn bài nhất thiết phải có kế hoạch dạy học cho những HS yếu Kế hoạch dạy học cho HS yếu phải phù hợp với trình độ HS đó, không nên dạy những vấn đề hoặc kiến thức của lớp đó mà có thể dạy kiến thức của lớp dưới
- Phân công HS khá, giỏi giúp đỡ bạn ở trường, ở nhà, xây dựng đôi bạn cùng tiến Tạo ra các nhóm học tập, thi đua trong các nhóm có học sinh yếu
- Đưa câu hỏi và bài tập dạng nhận biết vào giờ luyện tập để cho HS làm
- Động viên, tuyên dương kịp thời HS có tiến bộ
- Phân tích nguyên nhân từ đâu Để từ đó có biện pháp khắc phục hợp lý
và có hiệu quả
Từ thực tiễn giảng dạy tôi nhận thấy rằng để học sinh không còn yếu kém đối với môn học này cũng như từng bước tạo hứng thú say mê với môn học của các em, để ngày càng nâng cao chất lượng môn học thì cần phải trải qua những bước làm cụ thể sau:
+ Phân loại học sinh, giúp đỡ, động viên kịp thời:
+ Kiểm tra kiến thức chung của các em từ đầu năm học từ đó phân loại học sinh yếu kém, trao đổi với giáo viên chủ nhiệm,giáo viên bộ môn của năm học trước để có thể nắm rõ tính cách, hoàn cảnh học lực của những môn học liên quan Giáo viên không chỉ truyền đạt kiến thức mà quan trọng hơn là tổ chức những tình huống kích thích sự tò mò, đòi học của các em, hướng dẫn các em khắc phục khó khan mà học tập để tiến bộ trang bị cho các em học sinh yếu kém những kiến thức cơ bản đã học qua mà các em quên hoặc cưa biết cần thiết ghi tóm tắt, cách nhớ, mẹo nhớ…giúp cho các em biết cách học, có phương pháp học tập phù hợp với bộ môn
- Thiết nghĩ làm giáo dục và đào tạo không chỉ dạy các em kiến thức cơ bản trong từng môn học mà còn phải kết hợp giáo dục đạo đức, hiểu rõ tâm lý đối tượng nghiên cứu để có biện pháp thích hợp và kịp thời, tùy theo từng học sinh và từng nguyên nhân cụ thể dẫn đến học yếu, kém Hóa học là môn tự nhiên liên quan mật thiết với môn Toán, Lý nếu các em hỏng kiến thức, thiếu kỹ năng làm toán thì các em dễ chán nản môn Hóa học
- Điều này bắt nguồn từ bệnh thành tích của nhiều năm trước, có những
em đã học lớp 9 mà tìm ẩn x hay áp dụng quy tắc tam suất để tìm số mol trên phương trình còn chưa nắm vững Giúp các em lấy lại tự tin, đòi hỏi giáo viên phải ôn lại những kiến thức căn bản về toán học
Ví dụ: Tìm hóa trị của một nguyên tố chưa biết, ta cần đặt ẩn x( là hóa trị
của nguyên tố cần tìm), sau đó áp dụng quy tắc hóa trị để tìm x, chẳng hạn ta được 2x = 6 => x = 6/2 = 3 Hay, cứ 1 mol sắt tác dụng với 2 mol HCl Vậy 0,05 mol sắt tác dụng thì cần bao nhiêu mol HCl phản ứng, mà các em còn lung túng chưa giải quyết được
Trang 8- Thường xuyên kiểm tra bài, làm những bài tập đơn giản để động viên, khích lệ tinh thần,khen tặng những tiến bộ qua từng bài tập nhỏ Chẳng hạn: “ Hôm nay em rất tiến bộ, cố gắng thêm” Ngoài những khen tặng động viên khi các em tự hoàn thành một bài tập hay đã nắm vững một vấn đề nào đó còn phải tìm những điểm tôt khác của các em để khen ngợi Chẳng hạn, tính cẩn thận, cách trình bày rõ ràng Khen tặng, khích lệ tinh thần là một nghệ thuật dẫn dụ con người mà từ xưa đến nay các nhà khoa học lừng danh đã làm nên lịch sử cũng từ đó
- Để hỗ trợ các em trong học tập, cần hướng dẫn các em suy đoán đơn giản về sản phẩm tạo thành cho một phản ứng hóa học vô cơ thông thường: phản ứng trung hòa, phản ứng trao đổi, phản ứng hóa hợp, phản ứng thế, phản ứng nhiệt phân và kể cả phản ứng oxi hóa khử thông thường…
- Đầu tiên phải kiểm tra và giúp cho các em học thuộc kí hiệu và hóa trị của một số nguyên tố thường gặp một cách thành thạo
- Hướng dẫn lại cách viết đúng công thức hóa học:
Công thức hóa học dạng chung: a b
AxBy
Trong đó: A, B là KHHH của nguyên tố ( B có thể là nhóm nguyên tử)
a, b là hóa trị của A,B
x, y là chỉ số của A, B
+ Trường hợp I : a = b x= y= 1( chỉ số 1 không ghi trong CTHH)
I I
Ví dụ:+ NaxCly CTHH: NaCl
II II
Mg x OY CTHH: MgO
II II
Fex(SO4)y CTHH : FeSO4
+ Trường hợp II: a # b x= b, y = a ( x, y tối giản)
III II
Ví dụ : AlxOy CTHH : Al2O3
IV II
SxOy CTHH : SO2
II III
Cax(PO4)y CTHH: Ca3 (PO4)2
II II
Cax (HPO4)y CTHH:CaHPO4
- Cách nhanh để lập CTHH : Hóa trị của nguyên tố này là chỉ số của
nguyên tố kia( trừ một số trường hợp ngoại lệ )
* Cho các em viết công thức hóa học từ dễ đến khó như sau :
Trang 9- Viết công thức các chất tham gia phản ứng
- Dự đoán phản ứng xảy ra ( dự đoán sản phẩm tạo thành) của oxit bazơ với axit : để viết đúng sản phẩm của phản ứng giữa axit với oxit bazơ, ta có cách nhớ như sau : ‘‘ Kim loại trong oxit sẽ kết hợp với gốc axit tạo thành muối, hidro kết hợp với oxi tạo thành nước’’ hay dễ nhớ nhất là ‘‘ gần với gần, xa với xa’’
Ví dụ: 6HCl + Al2O3 -> 2AlCl3 + 3H2O
Quan trọng hơn là học sinh phải thuộc hóa trị để viết đúng công thức hóa học và cân bằng đúng phương trình
Đối với nhiều học sinh lớp 9 bài toán tính theo PTHH đơn giản nhiều
em vẫn chưa biết làm, chưa biết mình phải bắt đầu từ đâu, giáo viên nên đưa ra phương pháp giải và hướng dẫn học sinh từ từ để học sinh nắm được phương pháp
Trước tiên phải ôn tập cho học sinh một số công thức cần vận dụng khi giải toán tính theo PTHH:
* Công thức chuyển đổi giữa khối lượng và lượng chất:
m = n M n = m : M M = m : n
m: Khối lượng chất( g) , n là số mol chất( mol) M là khối lượng mol( g)
* Công thức chuyển đổi giữa lượng chất và thể tích chất khí:
+ V ( đktc) = 22,4 n n = V : 22,4
+ V ( đk thường) = 24 n n= V : 24
* Công thức tỉ khối của khí A đối với khí B:
d A/B = M A : M B
* Công thức tìm khối lượng dung dịch liên quan đến khối lượng riêng:
m = V D V = m : D
m: là khối lượng dung dịch ( g)
D là khối lượng riêng
V là thể tích dung dịch
* Công thức tính nồng độ mol và nồng độ % của dung dịch:
- Công thức tính nồng độ mol : C M = n/V
CM: Nồng độ mol
n: số mol
V: thể tích ( l)
- Công thức tính nồng độ phần trăm:
C% = dd
ct
m
m 100%
+ mct là khối lượng chất tan, biểu thị bằng gam
+ m dd là khối lượng dung dịch, biểu thị bằng gam
m dd = m ct + m dm
Từ những công thức trên, học sinh đã vận dụng vào bài tập tính theo PTHH
Trang 10Dạng cơ bản: Dựa vào lượng 1 chất tính lượng các chất khác theo phản ứng Phương pháp giải :
Bước 1: Đổi khối lượng hoặc thể tích chất khí ra số mol :
+ Nếu đề bài cho khối lượng : n= m/M
+ Nếu đề bài cho thể tích chất khí( đktc): n= V/22.4
Bước 2: Lập PTHH của phản ứng
Bước 3: Dựa vào PTHH để tìm số mol chất tham gia hoặc tạo thành
Bước 4: Đổi số mol thành khối lượng hoặc thể tích ( m = n.M, V = n.22,4)
Lớp 8:
Ví dụ 1 : Bài tập này có thể được vận dụng thi học kì 1 sau khi học tiết
32, 33 tính theo PTHH
Đề: Cho 3,25 gam kẽm tác dụng với dung dịch axit clohiđric ( HCl) vừa đủ, tạo thành kẽm clorua (ZnCl2) và khí hiđro
a.Tính khối lượng của axit clohiđric đã dùng?
b.Tính thể tích khí hiđro thoát ra( đk tc)
Hướng dẫn:
n Zn = mZn : MZn = 3,25 : 65 = 0,05(mol)
Phương trình hóa học
Zn + 2HCl -> ZnCl2 + H2 (1)
0.05 ->0.1 ->0.05 (mol)
Theo phương trình hóa học ta có: (1) ta có nHCl = 2.nZn = 2.0,05= 0,1 (mol)
mHCl nHCl MHCl 0,1 36,5 = 3,65( g)
+ nH2 = nZn = 0,05(mol)
VH2 = n 22.4 = 0,05 22.4 =1.12 (lit)
Ví dụ 2: Bài tập này có thể được vận dụng thì học kì II sau khi học tiết
62,33 Nồng độ dung dịch
Đề: Hòa tan 8,4 gam Fe bằng dd HCl 10,95% ( vừa đủ)
a Viết PTHH
b Tính thể tích khi thu được ( đktc)
c Tính khối lượng dung dịch axit cần dùng ?
d Tính nồng độ phần trăm của dung dịch thu được sau phản ứng
Hướng dẫn:
a PTHH: Fe + 2HCl -> FeCl2 +H2 ( 1)
b nFe = m: M = 8,4: 56 = 0,15 ( mol)
Theo ( 1) ; nH2= nFeCl2 = nFe = 0.15 ( mol)
VH2( đktc)= 22,4 0,15 = 3,36 ( l )
c Theo ( 1 ) nHCl = 2 nFe = 2 0,15 = 0,3 ( mol)
mHCl = 0,3 36,5 = 10,95 = 100 ( g)
Khối lượng dung dịch axit HCl 10,95% cần dùng là: