(+ ảnh đêm trăng hiện hữu trong không gian tràn đầy màu sắc ánh vàng của vầng trăng trên cao đang soi chiếu khắp nhân gian. Đặc biệt khung cảnh khi có sự xuất hiện của dòng suối với tiến[r]
Trang 1ĐINH HƯỚNG NỘI DUNG KIẾN THỨC CẦN HỌC, CẦN ÔN TẬP
MÔN: NGỮ VĂN 8 ( BDHSG) THỜI GIAN HỌC TẠI NHÀ: 16-28/3/2020
*Chú ý: Phải làm đủ tất cả những bài tập đã giao vào vở luyện đề
Văn bản 1: Chiếu dời đô (Lý Thái Tổ)
1 tác giả
- Lí Công Uẩn (974-1028) tức Lí Thái Tổ
- Quê quán: Là người châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang (nay là xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)
- Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác:
+ Ông là người thông minh, có chí lớn, lập được nhiều chiến công
+ Dưới thời Lê ông làm chức Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ
+ Khi Lê Ngọa mất ông được tôn lên làm vua lấy niên hiệu là Thuận Thiên.
- Phong cách sáng tác: Sáng tác của ông chủ yếu là để ban bố mệnh lệnh, thể hiện tư tưởng chính trị lớn lao có ảnh hưởng đến vận nước
2 Tác phẩm
- Năm 1010, Lí Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Đại La, đổi tên Đại Việt thành Đại Cồ Việt Nhân dịp này ông đã viết bài chiếu để thông báo rộng rãi quyết định cho nhân dân được biết
3 Bố cục
- Phần 1: Từ “Xưa nhà Thương” đến “không thể không dời đổi”: Đưa ra những lí do, cơ sở của việc dời đô.
- Phần 2: “Huống gì” đến “muôn đời”: Những lí do chọn Đại La làm kinh đô
- Phần 3: Còn lại: Thông báo quyết định dời đô
4 Phân tích
Luận điểm 1: Những tiền đề, cơ sở để dời đô (Lí do phải dời đô)
- Nhắc lại lịch sử dời đô của các triều đại hưng thịnh ở Trung Quốc:
+ Nhà Thương: 5 lần dời đô ; nhà Chu: 3 lần dời đô
+ Lí do dời đô của 2 nhà Thương, Chu: đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời, …hễ thấy thuận tiện thì đổi.
+ Kết quả của việc dời đô: vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh
⇒ Những tấm gương sáng chứng minh dời đô là việc “thường niên” của các triều đại lịch sử.
- Phê phán hai nhà Đinh, Lê:
+ Khinh thường mệnh trời
+ Không biết noi theo các tấm gương sáng của 2 nhà Thương, Chu
+ Hậu quả: triều đại ngắn ngủi, nhân dân không thể phát triển được.
Trang 2⇒ Những cơ sở thuyết phục để khẳng định dời đô là điều nên làm của các triều đại hưng thịnh, đặc biệt là trong hoàn cảnh nhà Lý lúc bấy giờ đang rất cần một nơi hội tụ đầy đủ linh khí, sức mạnh đất trời để phát triển.
Luận điểm 2: Những lợi thế bậc nhất của thành Đại La
- Thành Đại La có những lợi thế tuyệt vời mà khó nơi nào có được
+ Vị trí địa lý: ở vào nơi trung tâm trời đất, hợp cả 4 hướng nam, bắc, đông, tây, phía trước là sông phía sau được bao bọc bởi núi.
+ Thế đất: “rồng cuộn hổ ngồi”, được coi là thế đất đẹp, có tương lai phát triển thịnh vượng + Địa thế: rộng rãi, bằng phẳng, đất cao, thoáng
+ Dân cư: không bị ảnh hưởng cảu thiên tai ngập lụt
+ Phong cảnh: tốt tươi, tràn đầy sức sống
⇒ Thành Đại La xứng đáng là thánh địa của trời đất, là nơi thích hợp nhất để đóng đô muôn đời Qua đó, thể hiện khát vọng của nhà vua về một đất nước thái bình, thịnh trị và ý thức dân tộc, tự chủ, tự lập, tự cường của một quốc gia phong kiến.
Luận điểm 3: Lời tuyên bố của vua
- Chiếu là một thể văn chính luận được dùng để nhà vua ban bố mệnh lệnh đến quần thân, thiên hạ,
vì vậy, lời văn trong chiếu thương trang trọng, cứng nhắc và mang sắc thái bắt buộc.
- Lời tuyên bố của vua Lý Thái Tổ lại khác: đầu tiên vua đưa ra mong muốn dời đô của bản thân, sau đó lại hỏi ý kiến quần thần ⇒ thể hiện sự gần gũi, mang tính dân chủ, không ép buộc, gò bó, xa cách Đó chính là sự khác biệt của vua Lý Thái Tổ - một vị vua yêu nước, thương dân, hết lòng muốn cống hiến cho đất nước, cho nhân dân.
5 Tổng kết
a Giá trị nội dung
- Bài Chiếu phản ánh khát vọng của nhân dân về một dân tộc độc lập thống nhất đồng thời phản ánh ý chí tự cường của dân tộc Đại Việt trên đà lớn mạnh
b Giá trị nghệ thuật
- Chiếu dời đô là áng văn chính luận đặc sắc viết theo lối biền ngẫu, các vế đối nhau cân xứng nhịp nhàng
- Cách lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc sảo rõ ràng.
- Dẫn chứng tiêu biểu giàu sức thuyết phục.
- Có sự kết hợp hài hòa giữa tình và lí.
Văn bản 2: Nước Đại Việt ta –Nguyễn Trãi
1 Tác giả
- Nguyễn Trãi ( 1380-1442), hiệu là Ức Trai
Trang 3- Quê quán: làng Nhị Khê, huyện Thường Phúc nay là huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (cũ)
- Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
+ Ông là một nhà chính trị, nhà thơ dưới thời nhà Hồ và nhà Lê sơ Việt Nam
+ Nguyễn Trãi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn và trở thành cánh tay đắc lực của Lê Lợi, có công lớn trong công cuộc giải phóng dân tộc thế kỉ XV
+ Nguyễn Trãi là anh hùng dân tộc, ông để lại cho đời sau một di sản to lớn trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là sự nghiệp văn học.
+ Các tác phẩm tiêu biểu: Bình Ngô đại cáo, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập
- Phong cách sáng tác: Thơ ông mang nhiều tư tưởng yêu nước, thể hiện những triết lí sâu sắc, tinh
tế lãng mạn, sáng tạo và thanh khiết.
2 Tác phẩm
- Đầu năm 1428, sau khi quân ta đại thắng, Nguyễn Trãi đã thừa lệnh vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) soạn thảo Bình Ngô đại cáo để thông cáo với toàn dân về sự kiện có ý nghĩa trọng đại này.
3 Phân tích
Luận điểm 1: Tư tưởng nhân nghĩa mới mẻ của Nguyễn Trãi
– Nhân nghĩa trong tư tưởng Nho giáo xưa vốn là khái niệm nói về đạo lí, cách đối nhân xử thế và tình thương giữa con người với con người ⇒ Phạm vi hẹp, thuộc phạm trù cá nhân trong xã hội.
– Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi được mở rộng ra, nhân nghĩa là phải “yên dân”, “trừ bạo”
⇒ Tư tưởng lấy dân làm gốc, “dân vi bản”.
+ Đối với một triều đại, nhân nghĩa là phải làm cho cuộc sống của nhân dân được yên ổn, ấm no, hạnh phúc, hòa bình; muốn “yên dân” thì phải “trừ bạo”, tức là “điếu dân phạt tội” (thương dân, đánh giặc) ⇒ tư tưởng của một nhà Nho yêu nước, thương dân, tiến bộ.
Luận điểm 2: Quan niệm về quốc gia, độc lập, chủ quyền lãnh thổ
– Trước Nguyễn Trãi, Lý Thường Kiệt cũng đã đưa ra quan niệm về quốc gia, dân tộc ở hai phạm trù cơ bản: Chủ quyền lãnh thổ và độc lập (“Nam quốc sơn hà”)
– Nguyễn Trãi mở rộng quan niệm khi đưa ra thêm 3 phạm trù quan trọng nữa:
+ Nền văn hiến lâu đời: đối với bất cứ một quốc gia, vùng lãnh thổ nào, nền văn hiến chính là
“tín hiệu” để đánh giá được sự tồn vong, thịnh suy và là “bằng chứng” cho sự tồn tại của một dân tộc.
+ Phạm vi lãnh thổ: “bờ cõi đã chia”
+ Phong tục tập quán: “Phong tục Bắc Nam cũng khác”
Trang 4+ Triều đại: Nguyễn Trãi liệt kê một loạt các triều đại của Đại Việt “bao đời gây nền độc lập”, đặt ngang hàng với các triều đaị của Trung Quốc ⇒ khẳng định vị thế, khí thế của nước ta.
+ Anh hùng thời đại: thể hiện sức mạnh, nguồn linh khí, Long mạch của đất nước sinh ra nhân tài mọi thời.
– Lịch sử chống giặc ngoại xâm: Nguyễn Trãi đưa ra một loạt các sự kiện, chiến thắng lẫy lừng của ông cha ta trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ đất nước.
⇒ Tất cả đã khẳng định: Nước ta là đất nước có nền văn hiến nghìn năm, có lãnh thổ riêng, phong tục riêng, có chủ quyền và có truyền thống lịch sử; kẻ nào cố ý xâm lược nhất định sẽ chuốc lấy thất bại.
Luận điểm 3: Nước Đại Việt ta là một bản tuyên ngôn độc lập bất hủ
– “Nước Đại Việt ta” xứng đáng là một bản tuyên ngôn độc lập bởi nó đã:
+ khẳng định được chủ quyền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ dân tộc
+ thể hiện khí thế hào hùng, sức mạnh dân tộc
+ lời đe dọa hùng hồn đến những kẻ đang có ý định xâm phạm
– Là một bản tuyên ngôn độc lập bất hủ bởi: Đoạn trích mang nhiều tư tưởng, quan niệm đúng đắn, mới mẻ, tiến bộ, là sự tiếp nối và phát triển ý thức dân tộc từ Lý Thương Kiệt trong bài “Nam quốc sơn hà”, vừa trở thành tư tưởng căn nguyên để về sau, Hồ Chí Minh cho ra đời bản tuyên ngôn độc lập chính thức của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
4 Nghệ thuật- Nội dung
– cách lập luận chặt chẽ
– chứng cứ hùng hồn, lời lẽ đanh thép
– Khẳng định lại vấn đề: “Nước Đại Việt ta” là một bản tuyên ngôn độc lập bất hủ.
Văn bản 3: Hịch tướng sĩ- Trần Quốc Tuấn
1 Tác giả
- Trần Quốc Tuấn (1231-1300), tước Hưng Đạo Vương là một danh tướng kiệt xuất của dân tộc và của thế giới thời trung đại
- Ông là người có công trong 2 cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông-Nguyên
- Ông là nhà lí luận quân sự với các tác phẩm Binh thư yếu lược
2 Tác phẩm
a Hoàn cảnh sáng tác
- Bài hịch được viết trước cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông- Nguyên lần 2, ông viết nhằm khích lệ, động viên tinh thần yêu nước, trung nghĩa, quyết thắng của các tướng sĩ dưới quyền, thuyết phục tướng sĩ học: “Binh thư yếu lược”
Trang 5b Thể loại
Hịch: Là thể văn nghị luận thời xưa, thường được vua,chúa, tướng lĩnh hoặc thủ lĩnh dùng để cổ động thuyết phục, kêu gọi đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài
- Đặc điểm chung của Hịch: khích lệ tình cảm, tinh thần người nghe, được viết theo thể văn biền ngẩu (từng cặp câu cân xứng với nhau)
- Bố cục của bài hịch, điểm riêng trong bài hịch của Trần Quốc Tuấn (sgk – tr59)
* Sự khác nhau giữa chiếu và hịch:
- Giống nhau: Đều là văn nghị luận được viết bằng văn xuôi hoặc văn vần, văn biền ngẫu
- Khác: Chiếu dùng để ban bố mệnh lệnh Hịch dùng để cổ vũ, thuyết phục, kêu gọi, mục đích là để khích
lệ tinh thần
c Bố cục: 4 đoạn
- Từ đầu tiếng tốt: Nêu gương các trung thần nghĩa sĩ đã bỏ mình vì nước.
- Tiếp chẳng kém gì: Tình hình đất nước hiện tại, nỗi lòng chủ tướng
- Tiếp có được không?: Phân tích đúng sai
- Phần còn lại: Là nhiệm vụ cấp bách
3 Phân tích
a.Nêu gương trung thần nghĩa sĩ.
- Nêu gương trung thần nghĩa sĩ hi sinh vì chủ, vì nước
- Cách nêu từ xa đến gần, từ xưa đến nay Có người là tướng lĩnh, có người là bề tôi ai cũng có thể lập công
- Mục đích: Tất cả chủ ý đều hướng vào tinh thần, ý chí hi sinh vì vua, vì chủ rất đáng ca ngợi
=> Khơi gợi lòng yêu nước, chí làm trai đang ngủ quên trong lòng những người lính.
Bộc lộ tình cảm ngưỡng mộ đối với những gương sáng trong sử sách Những tấm gương trung thần nghĩa
sĩ như thức tỉnh những người lính đang chìm trong cuộc vui riêng.
b Nhận định tình hình
*Tội ác của giặc
- Tội ác và sự ngang ngược của kẻ thù, được lột tả bằng những hành động cụ thể:
+ Đòi ngọc lụa.
+ Hạch sách bạc vàng.
+ Vét kiệt của cải.
+ Hung hãn như hổ đói, như cú diều, như dê chó.
+ Đi lại nghênh ngang.
+ Bắt nạt tể phụ.
Vạch trần bản chất xấu xa và lòng tham không đáy của kẻ thù.
- Nghệ thuật: Diễn đạt bằng hình ảnh ẩn dụ - vật hoá, thể hiện lòng căm giận, khinh bỉ giặc và tác giả chỉ ra nỗi nhục lớn của mọi người khi chủ quyền bị xâm phạm
* Nỗi lòng của tác giả
- Quên ăn, mất ngủ, đau đớn thắt tim, thắt ruột thể hiện lòng yêu nước, căm thù giặc, sẳn sàng hi sinh để
rửa mối nhục cho đất nước
- Giọng văn: lúc tha thiết, lúc đanh thép
*Tình cảm và ân nghĩa của chủ tướng đối với tì tướng của mình.
- Không có mặc cho áo
- Không có ăn cho cơm
- Lương ít cấp bổng
- Đi thuỷ, đi bộ cùng nhau sống chết vui cười
Chủ tướng quan tâm đến mọi mặt của tì tướng Đó là sự gắn bó đồng cam cộng khổ, chia ngọt xẻ bùi
- Quan hệ chủ tướng nhằm khích lệ tinh thần trung quân ái quốc, còn quan hệ cùng cảnh ngộ, khích lệ lòng nhân ái, thuỷ chung của những ngưòi chung hoàn cảnh
Thể hiện sự gắn bó quan tâm yêu thương sâu nặng cụ thể, kịp thời đầy ân tình và bao dung giữa chủ
và bầy tôi
Trang 6c Phân tích phải trái
- Những biểu hiện sai trái trong hàng ngũ tướng sĩ:
+ Vui chọi gà, ham đánh bạc, thích rượu ngon, mê tiếng hát
+ Thú vui ruộng vườn, lo làm giàu, ham săn bắn
- Trần Quốc Tuấn tập trung phê phán nghiêm khắc hành động hưởng lạc, thái độ bàng quan trước vận mệnh đất nước và sự ham chơi hưởng lạc , sự vô trách nhiệm khi vận mệnh đất nước ngàn cân treo sợi tóc
- Thái độ tác giả: Phản ứng bất bình, nói thẳng gần như sĩ mắng: “không biết lo”, “không biết thẹn”,
“không biết tức”.
Những việc làm tưởng như nông cạn, nhỏ nhặt tưởng như vô hại nhưng hậu quả thật là khôn lường.
Thái ấp bổng lộc, gia quyến, vợ con khốn cùng, xã tắc tổ tông bị giày xéo, thanh danh bị ô nhục Chủ và tướng, chung và riêng tất cả đều đau xót biết chừng nào! Ta hình dung các tướng sẽ xấu hổ đến thế nào, thẹn thùng ra sao, da mặt sẽ dày cộm lên khi nghe những lời xối xả như nước lạnh táp vào mặt, như roi quất của vị chủ tướng vốn nhân từ đại lượng.
Mục đích: Mong muốn các tướng sĩ là:
+ Nêu cao tinh thần cảnh giác
+ Chăm lo tập dượt cung tên
* Nghệ thuật: So sánh, tương phản, điệp từ điệp ý tăng tiến và sử dụng những từ mang tính phủ định
“không còn, cũng mất, bị tan, cũng khốn” khi nêu viễn cảnh đầu hàng, thất bại.
d Những nhiệm vụ cấp bách.
- Phải đọc và làm theo sách: “Binh thư yếu lược”.
- Có thái độ dứt khoát: Giặc là kẻ thù không đội trời chung
- Phải biết rửa nhục
- Khích lệ căm thù giặc, nổi nhục mất nước
- Khích lệ lòng trung quân ái quốc và lòng ân nghĩa thuỷ chung
- Khích lệ ý chí lập công danh xã thân vì nước
- Khích lệ lòng tự trọng, nhận rõ cái sai, thấy rõ điều đúng
-> Khích lệ long yêu nước chiến thắng kẻ thù
4 Tổng kết.Xem SGK
Bài tập
Đề 1( Chú ý làm theo hướng dẫn sau)
Sự phát triển của ý thức độc lập và tinh thần tự hào dân tộc qua "Chiếu dời đô" (Lý Công Uẩn), "Hịch tướng sĩ" (Trần Quốc Tuấn) và "Nước Đại Việt ta" (Trích "Bình Ngô đại cáo" -Nguyễn Trãi).
1 Mở bài:
- Dẫn dắt vấn đề: Truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.
- Nêu vấn đề: ý thức độc lập và tinh thần tự hào dân tộc trong " Chiếu dời đô" (Lý Công Uẩn), " Hịch tướng sĩ" (Trần Quốc Tuấn) và " Nước Đại Việt ta" (" Bình Ngô đại cáo" - Nguyễn Trãi).
2 Thân bài:
*Sự phát triển của ý thức độc lập và tinh thần tự hào dân tộc trong:" Chiếu dời đô", " Hịch tướng sĩ"
và " Nước Đại Việt ta" là sự phát triển liên tục, ngày càng phong phú, sâu sắc và toàn diện hơn.
a Trước hết là ý thức về quốc gia độc lập, thống nhất với việc dời đô ra chốn trung tâm thắng
địa ở thế kỉ XI (Chiếu dời đô).
- Khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, vững bền, đời sống nhân dân thanh bình, triều đại thịnh trị:
+ Thể hiện ở mục đích của việc dời đô.
+ Thể hiện ở cách nhìn về mối quan hệ giữa triều đại, đất nước và nhân dân.
- Khí phách của một dân tộc tự cường:
+ Thống nhất giang sơn về một mối.
Trang 7+ Khẳng định tư cách độc lập ngang hàng với phong kiến phương Bắc.
+ Niềm tin và tương lai bền vững muôn đời của đất nước.
b Sự phát triển của ý thức độc lập và tinh thần tự hào dân tộc được phát triển cao hơn thành
quyết tâm chiến đấu, chiến thắng ngoại xâm để bảo toàn giang sơn xã tắc ở thế lỉ XIII(Hịch tướng
sĩ).
- Lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc:
+ Ý chí xả thân cứu nước
- Tinh thần quyết chiến, quyết thắng:
+ Nâng cao tinh thần cảnh giác, tích cực chăm lo luyện tập võ nghệ.
+ Quyết tâm đánh giặc Mông - Nguyên vì sự sống còn và niềm vinh quang của dân tộc.
c Ý thức độc lập và tinh thần tự hào dân tộc được phát triển cao nhất qua tư tưởng nhân nghĩa
vì dân trừ bạo và quan niệm toàn diện sâu sắc về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc Đại
Việt (Nước Đại Việt ta).
- Nêu cao tư tưởng "nhân nghĩa", vì dân trừ bạo
- Chân lí về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc:
+ Có nền văn hiến lâu đời.
+ Có cương vực lãnh thổ riêng.
+ Có phong tục tập quán riêng.
+ Có lịch sử trải qua nhiều triều đại.
+ Có chế độ chủ quyền riêng với nhiều anh hùng hào kiệt.
Tất cả tạo nên tầm vóc và sức mạnh Đại Việt để đánh bại mọi âm mưu xâm lược, lập nên bao chiến công oanh liệt
c Kết bài: (
- Khẳng định vấn đề
- Suy nghĩ của bản thân
Đề 2: Nhận xét về đoạn tứ bình trong bài thơ Nhớ rừng, có ý kiến cho rằng:
“Đây là đoạn tuyệt bút Cả bốn bức tứ bình đều là những chân dung tự họa khác nhau của con hổ nhưng đã khái quát trọn vẹn về cái “thời oanh liệt” của chúa sơn lâm”
Phân tích đoạn thơ tứ bình trong bài Nhớ rừng để làm rõ điều đó.
* Yêu cầu cụ thể:
+ Khái quát:
- Đoạn thơ hay, cấu trúc tứ bình: bốn cảnh, cảnh nào cũng có núi rừng hùng vĩ làm nền để hình ảnh hổ được nổi bật Bức chân dung tự họa khác nhau: chân dung hổ trong bốn cảnh ở bốn thời điểm được vẽ lại bằng kỉ niệm, bằng hồi ức của chính nó Thời oanh liệt: thời tự do, tung hoành, thống trị đại ngàn của chúa tể rừng xanh
- Đoạn thơ thứ ba, nằm trong chuỗi hồi ức về quá khứ oai hùng, mỗi cảnh gồm hai câu thơ, câu trước tả cảnh rừng, câu sau là chân dung của hổ trên nền thiên nhiên kì vĩ
+ Phân tích, chứng minh:
- Cảnh đêm trăng đẹp, thơ mộng, huyền ảo Hổ như một thi sĩ lãng mạn thưởng thức cái đẹp bên dòng suối.
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?”
(+ ảnh đêm trăng hiện hữu trong không gian tràn đầy màu sắc ánh vàng của vầng trăng trên cao đang soi chiếu khắp nhân gian Đặc biệt khung cảnh khi có sự xuất hiện của dòng suối với tiếng chảy róc rách lại càng trở nên sinh động, tươi mát Trước cảnh ấy con hổ đứng bên bờ ngắm nhìn trong trạng thái say mồi, sảng khoái thưởng thức dòng suối mát trong
+Có lẽ cái làm cho hổ kia phải say không chỉ đơn thuần bởi miếng mồi ngon mà còn là cái say trước sự lung linh, kì
ảo của khung cảnh đang hiện hữu trước mắt Hổ say mồi nhưng càng thỏa mãn hơn khi được uống vào những hớp nước có sự soi vàng của bóng trăng Bao nhiêu nét gân guốc, dữ tợn của chúa tể vùng sơn lâm nhờ có cảnh đẹp hình như cũng trở nên mềm mại, bình thản hơn để có thể hòa vào cảnh vật Tìm hiểu bức tranh tứ bình trong bài thơ Nhớ rừng, ta thấy tất cả những điều trên đã tạo nên sự thơ mộng, kì ảo của một bức tranh có sự hài hòa của cả cảnh và vật
Trang 8+Cảnh có đẹp, có thơ mộng và diệu kì đến nhường nào, hổ có bao lần được hòa mình vào “những đêm vàng bên bờ suối” để “say mồi đứng uống ánh trăng tan”, nhưng thực tại những giây phút sảng khoái cũng chỉ còn trong trí nhớ.
Sự “say mồi” đầy thỏa mãn hay tư thế “đứng uống” chễm chệ trong những đêm tự do ấy nay đã lùi xa vào quá khứ
nhưng với hổ thì những kỉ niệm và cảm giác ngây ngất ấy vẫn hiển hiện rất rõ rệt như chỉ mới diễn ra ngày hôm qua.)
- Cảnh ngày mưa ào ạt, dữ dội Hổ vừa như bậc quân vương uy nghi, bình tĩnh, ung dung trước mọi sự biến động,
(tác giả lại dùng ngôn từ của mình vẫn để thể hiện hình ảnh trung tâm là con hổ trên phông nền của khung cảnh ngày mưa:
“Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới”
+Chúa sơn lâm lúc này đã không còn say sưa bên dòng suối mát lành và miếng mồi hấp dẫn như trong bức tranh
trước đó Trong khung cảnh “những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn” của núi rừng, thiên nhiên dường như
cũng trở nên dữ dội, mịt mù Mưa giăng khắp lối khiến cho vạn vật cũng rung chuyển theo Ấy thế mà vị chúa tể của ta vẫn không hề có một chút nao núng trước những sự gào thét dữ dội của thiên nhiên và sự ngả nghiêng của vạn vật
+Hổ vẫn hiên ngang, điềm tĩnh, bệ vệ trước cảnh ấy để thu vào trong mắt tất cả những chuyển biến của đất trời Mưa gió càng tác động lên tất cả mọi thứ mạnh mẽ, đáng sợ bao nhiêu thì hổ ta vẫn giữ một thái độ của một bậc
vương giả Khi phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ Nhớ rừng, ta thấy trên hết, hổ còn xem việc “những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn” trên thực chất là sự tác động để “giang sơn ta đổi mới” Thế nên, trong trạng thái “lặng ngắm” kia, hổ thực chất đang đứng ở tư thế làm chủ vạn vật.
+Con hổ trong những ngày mưa to gió lớn chốn rừng thiêng vẫn giữ phong thái điềm nhiên, tĩnh tại ấy lại chỉ là một hình ảnh của thời đã qua Hổ giờ đây bị giam hãm trong chốn ngục tù, dù có râm mát, dù không bị tắm ướt bởi mưa nhưng đó chưa bao giờ là điều nó mong muốn Ngày trước khi còn tự do giữa núi rừng đất trời và có lúc phải đón những cơn mưa rừng xối xả, dữ dội nhưng chúa sơn lâm chưa bao giờ phiền lòng vì điều đó
+ Ngược lại, trong cảnh mưa tuôn mịt mờ ấy, nó lại càng cảm thấy bản thân mạnh mẽ và oai hùng Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ Nhớ rừng để thấy thiên nhiên có thách thức như thế nào, hổ vẫn giữ được bản lĩnh của riêng mình Khi bị giam cầm, bản lĩnh ấy vẫn còn và chỉ tiếc là nó lại không được thể hiện như trong chính nơi nó cần thuộc về
- Cảnh bình minh tươi đẹp, rực rỡ Hổ như một đế vương hưởng lạc thú, say giấc nồng giữa khúc ca của muôn loài.
+Ở câu thơ thứ ba, thứ tư của đoạn thơ, tác giả đã giúp cho ta nhìn thấy sự tươi mới, rộn ràng của khung cảnh đất trời trong khoảnh khắc của ngày mới:
“Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng”
+ Ngày mưa qua đi như làm cho bầu trời buổi sớm thêm phần trong trẻo, tươi sáng Trong khung cảnh ấy, cây cối
sau khi được tắm mát trong những trận mưa rừng đã đầy lại được gội mình trong nắng mới nên càng trở nên tươi tắn
và tràn đầy sức sống Góp vào sức sống bừng lên trên từng nhánh cây ngọn cỏ ấy là tiếng reo ca rộn rã của bầy chim rừng Khi phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ Nhớ rừng, ta nhận thấy trong khung cảnh ấy, hổ xuất hiện trong
giấc ngủ, nhưng lại là giấc ngủ “tưng bừng”.
+Nếu trong đêm khi tất cả mọi vật đều sâu giấc thì hổ thức để say sưa cùng vũ trụ, những ngày mưa ai ai cũng tìm
nơi ẩn trú thì hổ “lặng ngắm giang sơn” và giờ đây khi bình minh ló dạng thì hổ chìm vào giấc ngủ Đặc biệt, vị
chúa sơn lâm lại còn được dỗ giấc bằng không khí mát mẻ và cả những âm thanh tươi vui của vạn vật
+Có thể thấy, khi sống trong môi trường của mình, hổ rất đỗi tự do vì có thể tự ý làm những điều mình muốn Nó luôn đứng ở vị thế chế ngự đầy uy nghi và có thể chi phối kẻ khác chứ không bao giờ chịu phụ thuộc Hình ảnh hổ
lúc đó khác hẳn với tình cảnh bây giờ: không chỉ “làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi” mà còn phải “chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi”, “với cặp báo chuồng bên vô tư lự”
- Cảnh hoàng hôn đỏ rực màu máu Hổ như một bạo chúa rõng giµ tµn b¹o, đang giành lấy quyền lực làm chñ bãng tèi, lµm chñ vò trô
+Bình minh qua, ngày tàn là thời khắc hoàng hôn gõ cửa Bức tranh thứ tư của bài chính là diễn tả thời khắc ấy của cảnh rừng Đây là bức tranh cuối cùng nhưng có thể gây được ấn tượng mạnh mẽ nhất:
“Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt”
+Cảnh tượng hiện lên thật dữ dội trong hình ảnh “chiều lênh láng máu sau rừng” Gam màu nóng trở thành gam
màu chủ đạo của bức tranh Đó có thể là màu của máu đỏ cũng có thể là màu của ánh sáng mặt trời Phân tích bức
Trang 9tranh tứ bình trong bài thơ Nhớ rừng sẽ thấy nếu như ban ngày, mặt trời làm nhiệm vụ soi tỏa ánh sáng xuống nhân gian Sự sống của vạn vật cũng nương theo ánh sáng ấy mà vận hành Đến khi mặt trời khuất bóng thì vạn vật cũng lấy khoảng thời gian mặt trời lặn xuống ấy để ngưng mọi hoạt động mà nghỉ ngơi Thế nhưng, vị chúa tể lại đang chờ đón khoảnh khắc
“chết mảnh mặt trời gay gắt” ấy để:
“Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?”
+“Bí mật” ấy phải chăng chính là quyền lực từ tay vũ trụ Hổ muốn chớp lấy cơ hội để đoạt được quyền lực ấy mà
chế ngự hoàn toàn thế giới của nó
+Khát khao tuy to lớn, khung cảnh trong bốn bức tranh tuy hùng vĩ, nguy nga nhưng chỉ là những hình ảnh thuộc về
dĩ vãng, dù có lúc hiển hiện rõ rệt nhưng kèm theo đó chỉ là nỗi nhớ da diết tới đau đớn của con hổ Các điệp
ngữ “nào đâu”, “đâu những” cùng hàng loạt các câu hỏi tu từ đã có vai trò diễn tả rất sâu sắc sự nhớ tiếc của con
hổ đối với những gì nó đã trải qua
+Thời oanh liệt của những ngày xưa cũ được tung hoành ngang dọc thực chất đã khép lại và có khi không bao giờ trở về Với vị chúa tể, sau tất cả có lẽ còn lại chỉ là một tiếng than u uất không có sự đáp hồi:
“- Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?”
+Đó là lời than của con hổ, là nỗi niềm của nhà thơ nhưng thực chất cũng là tiếng lòng, tâm trạng chung của những con người phải sống trong sự kìm kẹp, giam hãm Đối với thời buổi người dân Việt Nam phải sống cảnh nô lệ, bài thơ của Thế Lữ đã thay họ thể hiện niềm tiếc nuối về những chiến công vẻ vang chống giặc ngoại xâm của một thời oanh liệt của dân tộc mình Đó có lẽ lí do khiến bài thơ được đón nhận rất nồng hậu, say sưa ngay từ khi ra đời
=> Bộ tranh tứ bình đẹp tái hiện quá khứ huy hoàng, tự do với cảnh núi rừng hoang sơ, thơ mộng, kì vĩ, hổ hiện lên với tư thế lẫm liệt kiêu hùng, đầy uy lực
+ Tổng hợp, đánh giá:
- Khẳng định ý kiến ở đề bài là chính xác Đoạn tứ bình là đoạn truyệt bút, hay nhất của bài thơ, là bức chân dung
tự họa của nhân vật trữ tình trong bốn thời điểm đã khái quát được một thời quá khứ oanh liệt, tự do, huy hoàng của chúa tể rừng xanh
- Đoạn thơ mượn lời tâm sự của con hổ để diễn tả kín đáo tâm trạng và khát vọng của con người: Tâm trạng của nhà thơ lãng mạn, thân tù hãm nhưng tâm hồn vẫn nhớ thời hoàng kim của tự do, do đó bất hoà sâu sắc với thực tại tầm thường Đó cũng là tâm trạng của người dân Việt Nam mất nước, nhớ tiếc khôn nguôi một “thời oanh liệt” của lịch sử dân tộc
- Đoạn thơ góp phần khơi sâu cảm hứng chủ đạo của toàn bài: mượn lời con hổ bị nhốt ở vườn bách thú để diễn tả niềm khao khát tự do mãnh liệt và tâm sự yêu nước của con người trong những ngày mất nước
Đề 3: Nhận xét về bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ, có ý kiến cho rằng:
“ Đằng sau sự hồi tưởng về quá khứ huy hoàng của con hổ, ta còn thấy tâm trạng nuối tiếc đầy bất lực cùng một khát vọng tự do tha thiết”.
Bằng hiểu biết của em về đoạn 2 và 3 của bài thơ, hãy làm rõ ý kiến đó.
* Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, giới thiệu được vấn đề nghị luận
- Dẫn được ý kiến nêu trong đề bài và dẫn đoạn thơ
*.Giải thích được ý kiến:
- Ý kiến trên đã khái quát, khẳng định giá trị, ý nghĩa của đoạn thơ
- Giải thích khát vọng tự do là khao khát, ước muốn thoát khỏi tình cảnh tù túng, mất tự do; mong muốn được sống
đúng với lý tưởng, hoài bão, giá trị bản thân, không bị trói buộc bởi ngoại cảnh
Khát vọng tự do là tư tưởng chủ yếu được thể hiện trong đoạn thơ và cả bài thơ
* phân tích đoạn thơ để chứng minh cho nhận định:
Con hổ nhớ cảnh núi rừng:
(HS đưa dẫn chứng và phân tích, bình các chi tiết)
Trang 10- Cảnh núi rừng hiện lên trong nỗi nhớ của vị chúa sơn lâm với những hình ảnh đặc trưng của chốn đại ngàn: Bóng
cả, cây già, tiếng gió gào ngàn, giọng nguồn hét núi, khúc trường ca dữ dội
Thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ trong bốn cảnh như bức tứ bình:
+ Cảnh đêm vàng: lung linh, huyền diệu, thơ mộng
+ Cảnh ngày mưa: dữ dội
+ Cảnh bình minh: tươi sáng, rộn rã, đầy sức sống
+ Cảnh chiều tà: ghê rợn, bí hiểm
=> Bút pháp nghệ thuật đặc sắc: Dùng nhiều động từ mạnh để diễn tả cái lớn lao, phi thường, hình ảnh thơ chọn lọc; đường nét sống động, những gam màu đậm Điệp ngữ kết hợp với liệt kê rất ấn tượng
=> Đó là chốn đại ngàn thênh thang Ở đó cái gì cũng lớn lao, phi thường, hùng tráng, thiêng liêng Cảnh khi dữ dội, khi lại êm đềm, thanh tĩnh; lúc lại tưng bừng, náo nức; vừa khoáng đạt, hùng vĩ, thơ mộng lại vừa thâm u, bí hiểm, linh thiêng.
Con hổ nhớ hình ảnh của chính mình trong quá khứ:
- Tương xứng với cảnh thiên nhiên kỳ vĩ là con hổ oai hùng (HS đưa dẫn chứng và phân tích, bình các chi tiết)
+ Bước chân
+ Tấm thân
+ Đôi mắt quắc lên trong hang tối
+ Cảnh đêm vàng “Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan”
+ Cảnh ngày mưa “Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới”
+ Cảnh bình minh “Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng”
+ Cảnh chiều “Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt”
=> Từ ngữ giàu chất tạo hình: gợi hình dáng con hổ Con hổ hiện ra với vẻ đẹp oai phong lẫm liệt, vừa uy nghi dũng mãnh, vừa mềm mại, uyển chuyển
+ Đại từ “ta” được điệp lại ở các câu thơ thể hiện khí phách ngangtàng; âm hưởng câu thơ rắn rỏi, hào hùng làm nổi bật hình ảnh vị chúa sơn lâm đầy uy lực, kiêu hùng với tâm trạng thoả mãn, tự hào về oai vũ , về sức mạnh tuyệt đỉnh của mình
+ Ngôn ngữ thơ tráng lệ, giàu giá trị gợi tả; bút pháp nghệ thuật điêu luyện, tài hoa Đoạn thơ như bức tranh tứ bình được coi làtuyệt bút
=>Con hổ đã sống những ngày được là chính mình, tự do tung hoành giữa núi rừng, làm chúa tể muôn loài Đó
là một quá khứ vàng son, oanh liệt.
Đằng sau sự hồi tưởng về quá khứ huy hoàng của con hổ, ta còn thấy tâm trạng nuối tiếc đầy bất lực cùng một khát vọng tự do tha thiết.
Tâm trạng nuối tiếc đầy bất lực:
Nhưng tiếc thay, tất cả chỉ là dĩ vãng Con hổ đang say sưa, ngây ngất trong giấc mộng huy hoàng thì sực tỉnh trở về thực tại với thân phận nô lệ tủi nhục Những cảnh trong nỗi nhớ chỉ để lại trong nó sự hụt hẫng, cay đắng, bất lực
+ Các từ nghi vấn, một loạt điệp ngữ: nào đâu, đâu những, cùng những câu hỏi tu từ thể hiện sự xúc động mạnh
mẽ, dồn dập và nỗi nhớ tiếc khôn nguôi những cảnh không bao giờ thấy nữa Càng nhớ tiếc quá khứ huy hoàng,
càng xót đau, bức bối, căm uất thân phận “sa cơ” mất tự do, bị hạ thấp, bị biến thành “trò lạ mắt, thứ đồ chơi” tủi
nhục
+ Nỗi nhớ miên man về quá khứ tươi đẹp và giấc mơ huy hoàng đã khép lại trong một tiếng than thảm thiết:: Than
ôi ! Thời oanh liệt nay còn đâu!” nghe như tiếng thở dài ngao ngán, tuyệt vọng; lạinhư một câu hỏi nhức nhối, xoáy