Cơ sở khách quan của sự ra đời và phát triển quan hệ tín dụng làmâu thuẫn vốn có quá trình tuần hoàn vốn tiền tệ trong xã hội, đó là: Cùng một lúc có chủ thể kinh tế tạm thời dư thừa một
Trang 1NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ NGHIỆP
VỤ KẾ TOÁN CHO VAY TRONG HỆ THỐNG NHTM
1 Tín dụng ngân hàng và vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường :
1.1 Sự ra đời của tín dụng ngân hàng.
Danh từ tín dụng xuất phát từ gốc Latinh "Credittum" có nghĩa là sự tín nhiệmlẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin
Theo Mác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người
sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với một lượnggiá trị lớn hơn giá trị ban đầu
Như vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vaythông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền
tệ hoặc hàng hoá Cơ sở khách quan của sự ra đời và phát triển quan hệ tín dụng làmâu thuẫn vốn có quá trình tuần hoàn vốn tiền tệ trong xã hội, đó là: Cùng một lúc
có chủ thể kinh tế tạm thời dư thừa một khoản vốn tiền tệ trong khi các chủ thểkinh tế khác lại có nhu cầu cần vốn, bổ sung vốn Nếu tình trạng này không đượcgiải quyết thì quá trình sản xuất có thể bị ngưng trệ ở chủ thể này trong khi vốnđang nằm im ở các chủ thể khác Kết quả là nguồn lực của xã hội không được sửdụng một cách có hiệu quả dẫn đến quá trình tái sản xuất không được tiến hànhliên tục
Hành vi tín dụng có thể diễn ra trực tiếp giữa người thừa vốn cần đầu tư vớingười cần vốn để sử dụng Nhưng thực tế hai người này có thể phù hợp được vớinhau về quy mô, về thời gian nhàn rỗi và thời gian sử dụng vốn; hoặc cũng có thểphù hợp được thì phải tốn kém chi phí tìm kiếm, bởi vậy, để thoả mãn được nhucầu của cả hai người thì cần thiết phải có người thứ ba đứng ra tập trung tất cả sốvốn của những người tạm thời thừa, cần đầu tư kiếm lời để phân phối cho những
Trang 2người cần vốn để sử dụng dưới hình thức cho vay Người đó không ai khác chính
là tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là các ngân hàng thương mại - người môi giớitài chính trên thị trường tài chính Việc các ngân hàng thương mại tập trung vốndưới hình thức huy động và phân phối vốn dưới hình thức cho vay được gọi là tíndụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng với các chủthể kinh tế khác trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vayvừa là người cho vay
Đây là quan hệ tín dụng gián tiếp mà người tiết kiệm thông qua vai trò trunggian của ngân hàng thực hiện đầu tư tiết kiệm vào các chủ thể đang cần vốn Khácvới hình thức tín dụng trực tiếp, nguồn vốn của tín dụng ngân hàng là nguồn vốnhuy động của xã hội với khối lượng và thời hạn khác nhau, do đó có thể thoả mãnnhu cầu vốn đa dạng về khối lượng cũng như thời hạn và mục đích sử dụng Vìnguồn vốn huy động có tính chất nhàn rỗi tạm thời nên tín dụng ngân hàng chủ yếuđáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn Sự tin tưởng đóng một vai trò quan trọng đến sựtồn tại và phát triển của quan hệ tín dụng ngân hàng Sự đổ bể của một khoản tíndụng không chỉ làm ảnh hưởng tới sự tồn tại của một ngân hàng mà có thể gâyphản ứng dây truyền tới sự ổn định của toàn hệ thống vì chúng có mối quan hệ vớinhau thông qua hệ thống thanh toán Nguy hiểm hơn điều này điều này còn làmthiệt hại đến quyền lợi của người gửi tiền, gây ảnh hưởng không tốt đến sự ổn định
xã hội Vì thế yêu cầu đảm bảo an toàn cho mỗi khoản tín dụng ngân hàng là điềubắt buộc
1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng.
Sản xuất phát triển mạnh mẽ thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển Song đểcho quá trình sản xuất được mở rộng và ngày càng hoàn thiện phải nói đến vai tròcủa tín dụng ngân hàng Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng phát huyvai trò trên các mặt:
Trang 3- Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn trong nền kinh tế, là người trunggian điều hoà quan hệ cung cầu về vốn góp phần đảm bảo cho quá trình sản xuất,kinh doanh diễn ra thường xuyên, liên tục.
Do tính đa dạng trong luân chuyển vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tếthị trường, tại một thời điểm nhất định trong nền kinh tế có một số doanh nghiệp
"thừa vốn" tạm thời do bán hàng hoá có tiền nhưng chưa có nhu cầu sử dụng ngay
đã làm nảy sinh nhu cầu cho vay vốn bằng cách gửi số tiền tạm thời nhàn rỗi đóvào ngân hàng để hưởng lãi
Trong khi đó có những doanh nghiệp thiếu vốn tạm thời do hàng hoá chưa bánđược, nhưng lại có nhu cầu mua nguyên vật liệu, thanh toán tiền lương, làm nảysinh nhu cầu đi vay để duy trì sản xuất kinh doanh đem lại lợi nhuận
Để giải quyết mâu thuẫn này, tín dụng ngân hàng đã đóng vai trò trung gian lànhận gửi tiền của doanh nghiệp tạm thời thừa vốn; đồng thời sử dụng số tiền đó đểcho vay đối với doanh nghiệp thiếu vốn Rõ ràng với hoạt động "đi vay để chovay" tín dụng ngân hàng đã có tác dụng điều hoà vốn trong nền kinh tế để phục vụcho sản xuất, kinh doanh không ngừng phát triển
- Tín dụng ngân hàng là công cụ mạnh mẽ thúc đẩy quá trình tập trung vốn để
mở rộng đầu tư và phát triển
Tập trung vốn phải dựa trên cơ sở tích luỹ Trong thực tế, có những lượng tíchluỹ rất lớn được nắm giữ ở các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế Nhưng rấtnhiều người tích luỹ không muốn cho vay trực tiếp hoặc không muốn có cổ phầntrong dự án vì ngoài lý do mất khả năng thanh khoản thì người tích luỹ còn bị hạnchế bởi khả năng, kiến thức về tài chính và pháp lý để thực hiện trực tiếp đầu tưhoặc cho vay Với hoạt động tín dụng có đủ tin cậy, do tính chuyên môn hóa caotrong hoạt động tín dụng và đa dạng hoá các danh mục đầu tư thông qua cho nhiềunhà đầu tư của nhiều dự án khác nhau vay, từ đó làm giảm bớt rủi ro cá nhân củanhững người tích luỹ, tạo nên quá trình tập trung vốn được thực hiện nhanh chóng
Trang 4và có hiệu quả đã tạo khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là nguồnvốn dài hạn Các doanh nghiệp, các nhà đầu tư nhờ nguồn vốn tín dụng có thểnhanh chóng mở rộng sản xuất, thực hiện các dự án đầu tư tạo ra những bước nhảyvọt về năng lực sản xuất do tiếp cận được với thiết bị máy móc hiện đại, từ đóthúc đẩy sản xuất phát triển
- Tín dụng ngân hàng thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả và củng cố chế độhạch toán kinh tế
Đặc trưng của tín dụng là cho vay có hoàn trả cho nên khi sử dụng vốn vay củangân hàng, doanh nghiệp phải tôn trọng mọi điều kiện ghi trong hợp đồng tín dụng
Đó là trả nợ vay đúng hạn cả gốc và lãi Để tăng hiệu quả sử dụng vốn, giảm chiphí, tăng vòng quay vốn tạo điều kiện nâng doanh lợi cho doanh nghiệp thì phảihạch toán kinh tế
Quá trình hạch toán kinh tế là quá trình quản lý đồng vốn sao cho có hiệu quả
Để quản lý vốn có hiệu quả thì hạch toán kinh tế phải giám sát chặt chẽ quá trình
sử dụng vốn đúng mục đích, tạo ra doanh lợi cao cho doanh nghiệp Điều này thúcđẩy các doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện hơn nữa quá trình hạch toán của đơn vịmình
- Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế đốingoại
Hoạt động tín dụng không chỉ bó hẹp trong nền kinh tế của một quốc gia màcòn mở rộng trên phạm vi quốc tế Trong điều kiện kinh tế mở, vay nợ nước ngoàingày nay trở thành một nhu cầu khách quan đối với tất cả các nước trên thế giới,
nó lại càng tỏ ra bức thiết hơn đối với các nước đang phát triển Việt Nam cũngnhư nhiều nước đang phát triển khác, là nước nghèo, tích luỹ trong nước còn hạnchế, trong khi cần lượng vốn rất lớn để phát triển kinh tế Nhờ có tín dụng, cácnước có thể mua hàng hoá, nhập khẩu máy móc, thiết bị, và tiếp cận với nhữngthành tựu khoa học kỹ thuật mới, cũng như trình độ quản lý tiên tiến trên thế giới
Trang 5Việc cấp tín dụng của các nước không chỉ mở rộng và phát triển quan hệ ngoạithương, mà còn tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế các nước nhập khẩu Tín dụng đã tạomôi trường thuận lợi cho đầu tư quốc tế trực tiếp- một hình thức hợp tác kinh tế ởmức độ cao hơn
- Hoạt động tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy luân chuyển hàng hoá, luânchuyển tiền tệ, điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông góp phần điều chỉnh, ổnđịnh, kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, các nhà đầu tư thường chỉ tập trung vốn đầu tưvào các lĩnh vực có lợi nhuận cao, trong khi đó, nền kinh tế đòi hỏi phải có sự pháttriển cân đối, đồng bộ giữa các ngành và các vùng, yêu cầu phải có những ngànhthen chốt, mũi nhọn để tạo đà cho nền kinh tế phát triển nhanh chóng
Tín dụng thông qua cung cấp vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn đầy đủ, kịpthời với lãi suất và điều kiện cho vay ưu đãi, có vai trò quan trọng trong việc gópphần đảm bảo vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng, hình thành các ngành then chốt, mũinhọn và các vùng kinh tế trọng điểm góp phần hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu.Chẳng hạn, với ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện và thời hạn vay vốn đối với nôngnghiệp, nông thôn đã gúp cho việc xây dựng cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng trongnông nghiệp nông thôn Tín dụng góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp vì nước ta là một nước đi lên từ nghề lúa nước nông nghiệp lạc hậu.Tín dụng còn là phương tiện để Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ thíchhợp (thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở)
để ổn định nền kinh tế khi nền kinh tế có dấu hiệu bất ổn(suy thoái, lạm phát, ).Qua quá trình cho vay khối lượng tiền trong lưu thông được tăng lên và khi ngânhàng thu nợ thì khối lượng tiền trong lưu thông giảm đi Như vậy, thông qua hoạtđộng tín dụng ngân hàng (thu hút vốn và cho vay) sẽ làm tăng (giảm) khối lượngtiền tệ trong lưu thông từ đó sẽ góp phần điều tiết khối lượng tiền của toàn bộ nềnkinh tế
Trang 6Thông qua công cụ lãi suất, hạn mức tín dụng mà ngân hàng sử dụng để làmthay đổi lượng tiền vay, từ đó điều tiết được khối lượng tiền trong nền kinh tế vàkiểm soát được lạm phát Bởi tín dụng ngân hàng khi điều tiết được khối lượngtiền tức là góp phần khống chế khối lượng tiền vừa đủ so với nhu cầu lưu thônghàng hoá nhờ đó mà kiểm soát được giá cả Khi giá cả tăng nhanh ngân hàngthường tăng lãi suất cho vay để giảm khối lượng cho vay, giảm khối lượng tiềntrong lưu thông đồng thời kiểm soát được lạm phát
2 Sự cần thiết của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển của kinh tế ngoài quốc doanh :
2.1 Đặc điểm của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh.
Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có những đặc thù riêng cụ thể:
Thứ nhất: Ở nước ta hiện nay các thành phần kinh tế NQD hầu hết là các đơn
vị trẻ, ngành nghề kinh doanh phong phú dễ tiếp nhận và nhạy bén với kỹ thuậtmới Do vậy nó cần phải được phát triển và giữ một vị trí quan trọng trong quátrình chuyển sang cơ chế thị trường ở nước ta
Thứ hai: Với thị trường lao động lớn, giá nhân công rẻ mạt, do vậy các thành
phần kinh tế này rất có lợi thế về kinh nghiệm làm ăn, truyền thống sản xuất củangười lao động, nó thừa hưởng thành quả và sự phù hợp với xu thế phát triển củacác đơn vị kinh tế trên thế giới và chủ trương đổi mới cơ cấu kinh tế ở nước ta
Thứ ba: Theo xu thế mới mở rộng và phát triển các thành phần kinh tế và các
doanh nghiệp nhà nước đang tiến tới cổ phần hoá đã chuyển dịch một tỷ lệ đáng kể
“chất xám” từ khu vực nhà nước sang khu vực NQD sẽ tạo kênh dòng chảy các cán
bộ quản lí giỏi, lao động kỹ thuật cao từ các doanh nghiệp nhà nước về các đơn vịkinh tế ngoài quốc doanh Nó tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế này pháttriển
Thứ tư: Các thành phần kinh tế NQD mục đích cuối cùng là lợi nhuận Nhưng
thành phần này mang tính chất “tự thân vận động” Do vậy mục đích của nó là
Trang 7cạnh tranh có hiệu quả để đạt được lợi nhuận cao bằng mọi thủ đoạn trong sản xuấtkinh doanh.
Thứ năm : Các thành phần kinh tế NQD có tính sở hữu tư hữu, hiệu quả sản
xuất kinh doanh gắn liền với người sản xuất, bộ máy quản lý gọn gàng, năng động.Qua các đặc điểm của nền kinh tế NQD ta thấy nó rất phù hợp với sự phát triểnkinh tế của nước ta hiện nay Nếu nhà nước có chính sách và tạo môi trường thuậnlợi cho khu vực kinh tế này phát triển thì họ đóng góp một tỷ trọng đáng kể chotăng trưởng GDP trong cả nước, tạo công ăn việc làm cho người lao động góp phầngiảm tệ nạn xã hội trong nền kinh tế
2.2 Vai trò của kinh tế ngoài quốc doanh:
Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng với đường lối đổi mới đúng đắn cácthành phần kinh tế NQD đã có chỗ đứng bình đẳng so với doanh nghiệp nhà nước
Vị trí quan trọng của nó đã được khẳng định trong cơ cấu phát triển kinh tế nhiềuthành phần ở nưóc ta hiện nay Vai trò của nó được thể hiện ở các mặt cụ thể sau:
- Kinh tế NQD đã và đang đóng góp cho nền kinh tế một khối lượng sản phẩmhàng hoá lớn, đa dạng phong phú, chất lượng cao Chuyển sang nền kinh tế thịtrường, kinh tế NQD đã và đang có nhiều đóng góp đáng kể cho nền kinh tế đấtnước, góp phần tạo thế cân đối quỹ hàng hoá cho các địa phương trong cả nước,đồng thời còn là nguồn lực chính tạo ra sản phẩm xuất khẩu, tăng nguồn ngoại tệcho đất nước
- Phát triển thành phần kinh tế NQD sẽ phát huy được mọi tiềm năng của cácdoanh nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế Bởi lẽ, nền kinh tế thịtrường sẽ hoạt động có hiệu quả mang lại lợi ích tốt nhất cho người tiêu dùng vàcho xã hội khi có cạnh tranh Có cạnh tranh thì người sản xuất mới chú trọng đếnhiệu quả sản xuất kinh doanh hơn để làm thế nào sản phẩm mình sản xuất ra đượcthị trường chấp nhận và tiêu thụ được
Trang 8- Kinh tế NQD tăng cường nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua việc nộpthuế Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu xã hội ngày càng tăng lên thìcác thành phần kinh tế ngoài quốc doanh luôn phải tăng cường mở rộng sản xuấtkinh doanh để tăng thu nhập cho đơn vị và ngân sách Nhà nước.
- Kinh tế NQD đã và đang giải quyết một số vấn đề nan giải , đó là vấn đề vềcông ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần đẩy lùi các
tệ nạn xã hội Từ đó ta thấy rằng: Sự phát triển của kinh tế NQD là một giải pháphữu hiệu cho việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động
2.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế NQD.
Xuất phát từ đặc điểm và vai trò của kinh tế NQD cho thấy khu vực kinh tế này
có một tiềm năng rất lớn Tuy nhiên để phát huy tính năng động trong kinh doanh,khai thác tối đa nguồn lực sẵn có trong khu vực kinh tế này Nhà nước cần hỗ trợcho họ để tạo điều kiện cho họ phát triển lành mạnh Một giải pháp hữu hiệu nhất
đó là đầu tư vốn hỗ trợ cho khu vực kinh tế này thông qua kênh tín dụng ngân hàng
Từ đó đã khẳng định vai trò của tín dụng ngân hàng trong việc thúc đẩy sự phát triểncủa khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
- Tín dụng ngân hàng thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các thành phần kinh
tế ngoài quốc doanh theo mục tiêu phát triển của đất nước
Bất kì một đơn vị nào để tiến hành sản xuất kinh doanh được thì cũng cần phải
có vốn, và cũng vậy đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh muốn thựchiện quá trình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng cũng cần có một nguồn vốn đủ
để mua sắm tài sản cố định, tài sản lưu động và các chi phí khác Nếu chỉ dựa vàonguồn vốn tự có thì quá ít ỏi, không đủ sức để cạnh tranh và phát triển trong nềnkinh tế thị trường và để phân tán những rủi ro trong kinh doanh Các thành phầnkinh tế này phải huy động thêm từ bên ngoài, nguồn vốn quan trọng nhất để bổsung vốn cố định và vốn lưu động cho các thành phần kinh tế NQD đó là nguồnvốn tín dụng từ các NHTM
Trang 9- Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế giúp cho các thành phần kinh tế nóichung và kinh tế NQD nói riêng thực hiện quá trình tái sản xuất mở rộng, ứngdụng KH-KT, cải tiến kỹ thuật để sản xuất ra nhiều hàng hoá có chất lượng cao,giá thành hạ để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước, khu vực
3 Các phương thức cho vay trong cơ chế tín dụng của tổ chức tín dụng.
Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các tổ chức kinh tế, tư nhân, cá thể baogồm tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn Tín dụng ngắn hạnnhằm bổ sung vốn lưu động cho các đơn vị, cá nhân vay để thực hiện kế hoạch sảnxuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống Tín dụng trung, dài hạn nhằm cung cấp vốnđầu tư cơ bản hoặc cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh Mỗiloại tín dụng có nội dung kinh tế, yêu cầu kỹ thuật nghiệp vụ riêng và nó được thựchiện thông qua các phương thức cho vay sau:
3.1 Phương thức cho vay từng lần.
Phương thức cho vay từng lần áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay vốnkhông thường xuyên Mỗi lần vay vốn, khách hàng và ngân hàng làm thủ tục vayvốn cần thiết và ký hợp đồng tín dụng, ngân hàng định kỳ hạn nợ cho mỗi món chovay Phương thức cho vay từng lần có những ưu, nhược điểm sau :
Ưu điểm: Linh hoạt trong quá trình sử dụng vốn của ngân hàng Khi khách
hàng có nhu cầu vay vốn, ngân hàng mới xem xét khả năng đáp ứng, do đó quaphương thức cho vay này ngân hàng kiểm chặt chẽ được từng món vay, tính toán
Trang 10được hiệu quả kinh tế của từng đối tượng cho vay, từ đó đảm bảo an toàn vốn chongân hàng.
Với phương pháp này ngân hàng có thể kế hoạch được nguồn vốn của mìnhbằng cách thông qua việc định kỳ hạn cho mỗi món vay, từ đó ngân hàng có kếhoạch cho các khoản vay tiếp theo một cách chính xácđể tránh tình trạng ứ đọngvốn, tăng hiệu quả sử dụng vốn
Nhược điểm: Thủ tục cho vay rườm rà, phức tạp gây khó khăn cho người vay.
Nếu đối tượng vay vốn có vòng quay nhanh thì doanh nghiệp sẽ sử dụng vào nhiềumục đích mà ngân hàng không kiểm soát được nên dẫn đến tình trạng chiếm dụngvốn lẫn nhau Nếu khách hàng không trả nợ đúng hạn sẽ gây khó khăn cho ngânhàng trong kế hoạch về nguồn vốn
3.2 Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng.
Là cách thức cho vay bằng cách ngân hàng xác định cho khách hàng của mìnhmột hạn mức tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định để làm căn cứ cho việcphát tiền vay Ngân hàng không định kỳ hạn nợ cun thể cho từng lần giải ngân màthu nợ theo kì hạn trả nợ trong kỳ (tháng, quý)
Phương thức này chỉ áp dụng đối với những khách hàng có tình hình sản xuấtkinh doanh ổn định vay vốn trả nợ thường xuyên, có tín nhiệm với ngân hàng.Trách nhiệm của kế toán phải theo dõi chặt chẽ dư nợ của tài khoản cho vay để dư
nợ của tài khoản cho vay không vượt quá hạn mức tín dụng đã kí kết
Ưu điểm: Thủ tục đơn giản, nhanh chóng, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho
khách hàng Khách hàng chỉ cần làm thủ tục vay vốn một lần, mỗi lần sau đơn vịvay này không cần phải làm thủ tục vay nữa mà chỉ càn gửi đến ngân hàng nhữngchứng từ kế toán thích hợp như giấy nhận nợ tiền vay kèm theo các chứng từ xinvay phù hợp với mục đích sử dụng vốn trong hợp đồng tín dụng để nhận tiền vay.Phương thức này thuận lợi cho khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên vàngân hàng cũng có thể kiểm soát được các khoản thu nhập của khách hàng, từ đó
Trang 11biết được tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng tương đối chính xác, đặcbiệt là khả năng tài chính
Nhược điểm: Do ngân hàng và khách hàng cùng thoả thuận hạn mức tín dụng
duy trì trong thời hạn nhất định nên ngân hàng luôn phải duy trì một số vốn nhấtđịnh để sẵn sàng giải ngân cho người vay làm cho ngân hàng bị đọng vốn sử dụng,nếu khoản vay lớn có thể dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn của ngân hàng bởi đó lànhững khoản vốn chết đã không đem lại lợi nhuận cho ngân hàng mà ngân hàngcòn phải trả lãi huy động cho những khoản vốn đó
3.3 Phương thức cho vay theo dự án đầu tư.
Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triểnsản xuất, kinh doanh dịch vụ và các dự án đời sống
Phương thức cho vay này áp dụng cho các trường hợp cho vay vốn trung và dàihạn
3.4 Phương thức cho vay trả góp.
Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi tiềnvay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời
kỳ cho vay Tài sản mua bằng vốn vay chỉ thuộc sở hữu của bên vay sau khi trả đủ
nợ gốc và lãi
3.5 Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng.
Ngân hàng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vihạn mức tín dụng nhất định Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạnhiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, phí phải trả cho hạn mức tín dụng dựphòng
3.6 Cho vay qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Trang 12
-Ngân hàng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số tiền vay trong phạm
vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tạimáy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của ngân hàng Khi chovay, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải tuân theoquy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về phát hành và sử dụng thẻ tíndụng
3.7 Phương thức cho vay khác
Các phương thức cho vay khác thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhànước và Chính phủ như: Cho vay ưu đãi và cho vay đầu tư xây dựng theo kế hoạchNhà nước, cho vay uỷ thác đầu tư, cho vay hợp vốn
Việc áp dụng phương thức cho vay nào phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinhdoanh nhu cầu về vốn cuả đối tượng cho vay Trong giai đoạn hiện nay phần lớncác ngân hàng trong hệ thống ngân hàng nước ta áp dụng hai phương thức cho vaychủ yếu đó là phương thức cho vay từng lần và phương thức cho vay theo hạn mứctín dụng Do vậy trong phần kế toán cho vay cũng chỉ đề cập đến kế toán cho vaytừng lần và kế toán cho vay theo hạn mức tín dụng
4 Vai trò, nhịêm vụ của kế toán cho vay.
Kế toán ngân hàng là hệ thống thông tin phản ánh hoạt động của ngân hàng
Kế toán ngân hàng cung cấp những số liệu về huy động vốn, sử dụng vốn, thunhập, chi phí, lợi nhuận của từng loại nghiệp vụ và của toàn bộ hệ thống ngânhàng Qua đó ta có thể thấy được ngân hàng hoạt động có hiệu quả hay không,đồng thời cũng thấy được triển vọng của ngân hàng để từ đó ra những quyết địnhkịp thời nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lí tài sản