Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- chi nhánh Hà Nội
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hội nhập như hiện nay, một giai đoạn nóng của thịtrường tài chính Việt Nam, nhất là đối với các ngân hàng thương mại Vì vậy,các hoạt động tại các ngân hàng thương mại khá sôi động và đạt rất nhiều kếtquả tốt Với phương châm “Chớp thời cơ và loại bỏ khó khăn”, các ngân hàngthương mại Việt Nam đã đa dạng hoá dịch vụ và nâng cao chất lượng phục vụkhách hàng, nhất là đối với các ngân hàng quốc doanh Trong hệ thống ngânhàng quốc doanh, Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long là mộtngân hàng mới thành lập năm 1997 Tuy là một ngân hàng non trẻ, Ngân hàngphát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long đã và đang thực hiện dự án hiện đạihóa ngân hàng theo hướng tự động hóa, phù hợp với thông lệ quốc tế, cónhiều dịch vụ hiện đại phục vụ khách hàng
Tuy vậy, do là một chi nhánh mới thành lập, hoạt động tín dụng củaMHB Hà Nội vẫn còn nhiều hạn chế và cần được mở rộng Vì vậy, sau thời
gian thực tập tại đây, em xin đưa ra đề tài “ Giải pháp mở rộng hoạt động tín
dụng tại Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- chi nhánh
Hà Nội”.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề tốt nghiệp gồm:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- chi nhánh Hà Nội
Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng của ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- chi nhánh Hà Nội
Trang 2CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM)
1.1 Sự cần thiết của hoạt động tín dụng đối với các NHTM
1.1.1 Khái niệm hoạt động tín dụng
Trong nền kinh tế hàng hoá luôn tồn tại rất nhiều chủ thể kinh tế vớichu kỳ kinh doanh khác nhau Vì vậy, tại mỗi thời điểm luôn có những chủthể kinh tế có vốn nhàn rỗi, đồng thời các chủ thể khác lại thiếu vốn do nhucầu đầu tư, sản xuất kinh doanh và tiêu dùng Sự gặp gỡ hai chủ thể nói trêndựa trên những điều kiện thoả thuận có lợi cho cả hai bên và dựa vào sự tínnhiệm lẫn nhau của hai bên đã hình thành nên các quan hệ tín dụng
Tín dụng là hình thức vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả Theo
đó, người cho vay chỉ nhường quyền sử dụng chứ không nhường quyền sởhữu cho người vay Do đó, sau một thời gian nhất định theo thoả thuận, ngườivay sẽ hoàn trả vốn vay, có kèm một khoản tăng thêm về giá trị gọi là lợi tứckhoản vay Như vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay vàngười đi vay thông qua vận động giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dướihình thức tiền tệ hoặc hàng hoá
Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn về vốn giữa ngân hàng với cánhân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và các tổ chức tín dụng khác theonguyên tắc có hoàn trả Tín dụng là loại tài sản chiểm tỷ trọng lớn nhất ở phầnlớn các ngân hàng thương mại, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng
Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có,nguồn vốn huy động để cấp tín dụng Hoạt động tín dụng ngân hàng có cáchình thức sau: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu và cho thuê tài chính
Ngân hàng cấp tín dụng dưới nhiều hình thức khác nhau, chiếm tỷ trọnglớn trong đó là cho vay Cho vay là nghiệp vụ chủ yếu trong hoạt động kinh
Trang 3doanh của ngân hàng Lãi thu được từ cho vay tạo ra hầu hết lợi nhuận chongân hàng và chỉ có lãi thu được từ cho vay mới bù đắp được chi phí tiền gửi,chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và chi phí khác Kinh tế càng phát triển,lượng cho vay của các ngân hàng càng tăng Thường có sự đồng nhất giữa tíndụng và cho vay trong các ngân hàng.
Ngân hàng ở Việt Nam ra đời và phát triển cùng với nền kinh tế xã hộichủ nghĩa đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu Rất nhiều các nghiệp vụcủa một ngân hàng hiện đại chưa được phát triển ở Việt Nam Tín dụng ngânhàng ở Việt Nam (chủ yếu là cho vay) đã đóng vai trò to lớn vào sự phát triểncủa kinh tế Việt Nam
Theo luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho vay là một hình thức củacấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng mộtkhoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuậnvới nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
Cho vay của ngân hàng thương mại nói riêng và tín dụng ngân hàngthương mại nói chung là một lĩnh vực phức tạp và chịu ảnh hưởng bởi nhữngchuyển biến của môi trường kinh tế Mỗi loại cho vay lại có những đặc thùriêng, thủ tục pháp lý khác nhau và mức độ đảm bảo an toàn khác nhau
1.1.2 Sự cần thiết của hoạt động tín dụng NHTM đối với nền kinh tế
NHTM là một tổ chức trung gian tài chính, hoạt động trên lĩnh vực kinhdoanh tiền tệ, có chức năng huy động vốn, cho vay và làm các dịch vụ ngânhàng theo quy định của pháp luật
Trong nền kinh tế thị trường, cùng với sự phát triển của sản xuất và lưuthông hàng hoá, các quan hệ trao đổi mua bán ngày càng đa dạng phong phú
đã tạo đà cho hoạt động ngân hàng phát triển theo Trong các mặt hoạt độngcủa ngân hàng, tớn dụng giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, đó là tiền đề, là cơ
sở để phát triển công tác huy động vốn, là cầu nối giữa người gửi tiền và
Trang 4người vay tiền Với chức năng là trung tâm tín dụng của nền kinh tế, tín dụngngân hàng ngày càng phát triển với sự đa dạng hoá các hình thức cho vay Một cách cụ thể vai trò của tín dụng ngân hàng được thể hiện nổi bậttrên các phương diện sau:
- Thứ nhất: vốn vay từ ngân hàng đã bù đắp một phần vốn lưu động
của doanh nghiệp tạm thời thiếu, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanhđược diễn ra thường xuyên liên tục
Thực tế trong sản xuất kinh doanh, không có doanh nghiệp nào có thểtính toán, dự trù trước cho mình được một khối lượng vốn định mức chínhxác Trong nền kinh tế thị trường, những thông tin, tín hiệu từ thị trường là rấtquan trọng để doanh nghiệp ra những quyết định liên quan đến các hoạt độngcủa mình Vì vậy, tuỳ theo diễn biến của thị trường doanh nghiệp có thể tăngkhối lượng dự trữ cho sản xuất hoặc phải áp dụng các biện pháp nhằm đẩymạnh tiêu thụ sản phẩm trong điều kiện thị trường đang thuận lợi Cũng cókhi trong một chu kỳ sản xuất, vì một hay nhiều yếu tố mà vòng quay của vốnkhông trùng với chu kỳ sản xuất Doanh nghiệp rơi vào tình trạng thiếu vốntạm thời Khi đó, để đảm bảo có vốn kịp thời cho chu kỳ sản xuất tiếp theodoanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn vốn bổ sung từ tín dụng ngân hàng Và tíndụng ngân hàng đã phát huy tác dụng
-Thứ hai: ngân hàng tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng hoạt
động sản xuất kinh doanh, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động Trong mối trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộcmọi thành phần kinh tế, với mục tiêu lợi nhuận cần nắm bắt thời cơ, tận dụng
ưu thế vốn có của mình về mọi mặt: lợi thế so sánh của ngành trong nền kinh
tế, lợi thế so sánh của doanh nghiệp trong ngành… Theo đó, tuỳ thuộc vàothời cơ, tín hiệu thị trường mà doanh nghiệp quyết định mở rộng quy mô sảnxuất kinh doanh Muốn vậy, doanh nghiệp buộc phải có phương tiện tài chínhdồi dào Và chỉ mở rộng quan hệ tín dụng với các ngân hàng thì các doanh
Trang 5nghiệp mới mong đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư để mở rộng sản xuất kinhdoanh và tạo thêm việc làm cho người lao động.
-Thứ ba: tín dụng ngân hàng giúp các doanh nghiệp nâng cao chất
lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và tổ chức quản lý có hiệu quảhơn
Thật vậy, để tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm,tạo nhiều lợi nhuận hơn nữa, doanh nghiệp phải có sự đầu tư chiều sâu Đốivới các doanh nghiệp hiện nay, vấn đề này có ý nghĩa rất to lớn do hầu hết cácdoanh nghiệp sản xuất kinh doanh với quy trình kỹ thuật lạc hâu, đội ngũnhân viên có trình độ và chất lượng làm việc không cao Các doanh nghiệphiện nay rất cần vốn lớn để đầu tư chiều sâu, trang bị máy móc thiết bị, dâychuyền sản xuất hiện đại cũng như đào tạo nhân lực để thực sự có một sức bậtmới trong giai đoạn mới
Trong giai đoạn tới, các doanh nghiệp nước ta phải thực sự nhập cuộcvào AFTA và WTO); quá trình tham gia hội nhập kinh tế với khu vực và thếgiới này đòi hỏi các doanh nghiệp phải giải quyết nhiều vấn đề nhằm hoànthành vai trò chủ đạo của mình với nền kinh tế Vấn đề sức cạnh tranh hànghoá, đảm bảo hàng hoá tốt, rẻ và có được dịch vụ thuận tiện có ý nghĩa quyếtđịnh trong việc giữ vững nền kinh tế độc lập tự chủ và phát triển Cho nên,phải chú trọng chất lượng, năng xuất, hiệu quả để phấn đấu nâng cao sức cạnhtranh của hàng hoá Muốn thế, các doanh nghiệp cần vốn để tiếp cận với cácthành tựu khoa học tiên tiến trong sản xuất kinh doanh cũng như trong côngtác quản lý và tổ chức hay tham gia vào những lĩnh vực kinh tế mới nhưthương mại điện tử
Ngoài ra, tín dụng ngân hàng còn thúc đẩy quan hệ thanh toán giữa cácdoanh nghiệp diễn ra lành mạnh hơn Trong nền kinh tế thị trường, hiện tượngchiếm dụng vốn lẫn nhau giữa các doanh nghiệp là không thể tránh khỏi Điềunày gây nên tình trạng thiếu vốn giả tạo ở một số doanh nghiệp Với chức
Trang 6năng là trung tâm tín dụng và trung tâm thanh toán của nền kinh tế, ngân hàng
đã có những biện pháp tích cực tác động vào quá trình thanh toán ở các doanhnghiệp, mở rộng các hình thức cho vay, đáp ứng nhu cầu vốn Do đó, ngânhàng đã gián tiếp ngăn chặn và giảm tối đa hiện tượng chiếm dụng vốn lẫnnhau, làm lành mạnh hoá hoạt động thanh toán, góp phần nâng cao chất lượngtín dụng
-Thứ tư: Đối với Nhà nước, thông qua hoạt động ngân hàng, Nhà nước
đã giám sát mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, giúpNhà nước hoạch định những chính sách kinh tế vĩ mô, chính sách tiền tệ hợp
lý, đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế, ổn định tiền tệ, kìm chế và đẩy lùi lạm phát Nói cách khác, tíndụng ngân hàng như là một trong các công cụ của bàn tay vô hình của Nhànước- tham gia điều tiết nền kinh tế thị trường (thông qua các doanh nghiệp),theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Tóm lại, tuy tín dụng ngân hàng đã giữ một vị trí rất quan trọng đối vớihoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng cũng như nềnkinh tế thị trường nói chung nhưng để cho hoạt động tín dụng thực sự đóngvai trò như vậy trong giai đoạn tới thì vấn đề đặt ra là cần nâng cao, mở rộngchất lượng tín dụng không những từ góc độ ngân hàng mà còn cả góc độdoanh nghiệp, của nền kinh tế, để đảm bảo hiệu quả của đồng vốn, đảm bảokhả năng tái tạo vốn của ngân hàng, doanh nghiệp và nền kinh tế
Trang 71.2.1.2 Phân loại
* Phân loại theo tài sản đảm bảo:
- Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: thể hiện cho vay có cầm cố giữ các vật
thế chấp, cầm cố nào đó Vật bảo đảm có thể bao gồm nhiều loại khác nhaunhư: bất động sản, biện nhận ký gửi hàng hoá, máy móc, chứng khoán,… vớiyêu cầu là có thể bán được
- Cho vay không đảm bảo bằng tài sản: được cấp cho khách hàng có uy tín,
thường là khách hàng kinh doanh thường xuyên có lãi, tình hình tài chínhvững mạnh Khách hàng cũng có thể vay của ngân hàng có sự bảo lãnh củabên thứ ba, các khoản vay của Chính phủ, công ty tài chính lớn,…
* Phân loại theo phương thức cho vay:
- Cho vay thấu chi: Thấu chi hình thức cho vay ngắn hạn, là nghiệp vụ cho
vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi vượt trên số dư tiền gửithanh toán của mình đến một giới hạn nhất định trong khoảng thời gian nhấtđịnh Giới hạn này gọi là hạn mức thấu chi
- Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay của ngân hàng cho các
khách hàng có nhu cầu vay không thường xuyên, chỉ khi có nhu cầu thời vụ,hay mở rộng sản xuất tức là vốn vay của ngân hàng chỉ tham gia một số giaiđoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng
- Cho vay theo hạn mức: là hình thức cho vay mà theo đó ngân hàng thoả
thuận với khách hàng để cấp một hạn mức tín dụng Hình thức cho vay nàyrất thuận lợi cho khách hàng có nhu cầu vay thường xuyên
- Cho vay luân chuyển: là hình thức cho vay dựa trên luân chuyển hàng hoá.
Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho doanhnghiệp đó vay và thu lại tiền khi doanh nghiệp bán được hàng Ngân hàng vàkhách hàng có thể thoả thuận với nhau về hạn mức cho vay
- Cho vay trả góp: là hình thức cho vay mà theo đó ngân hàng cho phép
khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn cho vay đã thoả thuận Cho
Trang 8vay trả góp thường áp dụng với các khoản vay trung và dài hạn, các khoảnvay tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng hoá lâu bền.
- Cho vay gián tiếp: là hình thức cho vay của ngân hàng thông qua các tổ
chức trung gian như tổ, đội, hội nhóm sản xuất, hội nông dân,…
* Phân loại theo kỳ hạn:
- Cho vay ngắn hạn: các khoản cho vay ngắn hạn có kỳ hạn dưới 1 năm.
Những khoản cho vay này thường được sử dụng rộng rãi trong việc tài trợmang tình thời vụ về vốn luân chuyển và tài trợ tạm thời cho các hoạt độngsản xuất kinh doanh
- Cho vay trung, dài hạn: là các khoản vay có kỳ hạn từ 1- 5 năm là cho vay
trung hạn và trên 5 năm là cho vay dài hạn Những khoản vay này thườngđược sử dụng với mục đích tài trợ cho dự án, mở rộng sản xuất, nâng cấp tàisản cố định
1.2.2 Bảo lãnh
1.2.2.1 Khái niệm
Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bênbảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tàichính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thựchiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trảthay
1.2.2.2 Phân loại
* Phân loại theo phương thức bảo lãnh:
- Bảo lãnh trực tiếp: là loại bảo lãnh trong đó, ngân hàng cam kết sẽ trực tiếp
thanh toán cho người thụ hưởng bảo lãnh nếu bên được bảo lãnh vi phạm hợpđồng Sau khi ngân hàng đã bồi thường cho người thụ hưởng bảo lãnh, ngânhàng có thể trự tiếp truy đòi bồi hoàn từ người được bảo lãnh
Trang 9- Bảo lãnh gián tiếp: là loại bảo lãnh trong đó người được bảo lãnh sẽ yêu cầu
ngân hàng thứ nhất (gọi là ngân hàng chỉ thị) đề nghị ngân hàng thứ hai (gọi
là ngân hàng phát hành) đưa ra cam kết bảo lãnh chuyển cho người thụhưởng Bảo lãnh gián tiếp được sử dụng chủ yếu trong trường hợp người thụhưởng là người nước ngoài, ngân hàng phát hành ở ngay tại quốc gia ngườithụ hưởng, do vậy quyền lợi người thụ hưởng được đảm bảo chắc chắn hơn
- Đồng bảo lãnh: Đối với cá thương vụ mà số tiền bảo lãnh xó giá trị rất lớn
vượt quá tỷ lệ cho phép đối với một ngân hàng hoặc vượt quá khả năng tàichính hiện thời của ngân hàng hay để giảm thiểu rủi ro, các ngân hàng có thểthực hiện đồng bảo lãnh Trường hợp này, một ngân hàng đóng vai trò đầumối phát hành bảo lãnh nhưng có sự tham gia của các ngân hàng đồng minhkhác Nếu phải chi trả cho người thụ hưởng theo bảo lãnh đã lập, ngân hàngbảo lãnh có thể truy đòi bồi hoàn tự các ngân hàng đồng minh theo tỷ lệ họtham gia Đến lượt mình, các ngân hàng đồng minh sẽ tiến hành truy đòingười được bảo lãnh
* Phân loại theo mục đích bảo lãnh:
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của ngân hàng về việc chi trả tổn
thất hộ khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tronghợp đồng đã cam kết, gây tổn thất cho bên thứ ba Bảo lãnh này được sử dụngthay cho yêu cầu ký quỹ mà người đặt hàng đề nghị với người cung ứng đểđảm bảo bồi thường vi phạm hợp đồng
- Bảo lãnh hoàn thanh toán: bảo lãnh này được thực hiện trong các hợp đồng
thương mại, dịch vụ, khi người mua hàng hay người hưởng dịch vụ đã ứngtrước tiền hàng cho người bán, người cung cấp Bằng việc cam kết sẽ trả lại
số tiền ứng truớc cho người mua (khi người bán không thực hiện hợp đồng),ngân hàng phát hành bảo lãnh đã tạo ra sự tin tưởng cho người mua và đồngthời cũng giúp người cung ứng thoát khỏi tình trạng khó khăn tạm thời vềngân quỹ
Trang 10- Bảo lãnh thanh toán: được sử dụng trong các hợp đồng mua bán thiết bị
hàng hoá trả chậm và còn gọi là bảo lãnh trả chậm Quan hệ giữa người mua
và bán ở đây thực chất là quan hệ tín dụng thương mại, theo đó người chấpnhận trả tiền hàng hoá theo kỳ hạn nợ cụ thể Để bảo vệ mình trước rủi rokhông thanh toán đầy đủ và đúng hạn của người mua, người bán có thể yêucầu một bảo lãnh trả chậm của ngân hàng
- Bảo lãnh dự thầu: mục đích của việc bảo lãnh này là bù đắp những thiệt hại
về thời gian, chi phí cho người tổ chức đấu thầu do những vi phạm của bênđối tác liên quan (người tham gia dự thầu)
- Bảo lãnh vay vốn: là bảo lãnh ngân hàng do ngân hàng phát hành cho bên
nhận bảo lãnh về việc cam kết trả nợ thay cho khách hàng trong trường hợpkhách hàng không trả hoặc trả không đúng hạn, đầy đủ
- Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm: là loại bảo lãnh do ngân hàng phát
hành cho bên thụ hưởng bảo lãnh, đảm bảo khách hàng sẽ thực hiện đúng cácthoả thuận về chất lượng sản phẩm theo hợp đồng đã ký với bên thụ hưởng
* Phân loại theo điều kiện thanh toán của bảo lãnh:
- Bảo lãnh vô điều kiện: còn gọi là bảo lãnh theo yêu cầu, là loại bảo lãnh mà
điều kiện thanh toán của nó là người thụ hưởng bảo lãnh chỉ cần xuất trìnhyêu cầu thanh toán của ngân hàng phát hành Các văn bản đều do người thụhưởng đơn phương lập không cần sự chấp nhận của bên được bảo lãnh hoặcbên thứ ba nào đó
- Bảo lãnh có điểu kiện: là loại bảo lãnh mà điều kiện phải có chứng từ xác
nhận của bên thứ ba (thường là một bên độc lập có đủ tư cách chuyên môn đểxác nhận) hoặc phán quyết của toà án chứng minh rằng bên được bảo lãnh đã
vi phạm trong quá trình thực hiện hợp đồng
* Phân loại theo hình thức bảo lãnh:
Trang 11- Bảo lãnh bằng thư bảo lãnh: là hình thức bảo lãnh mà ngân hàng nhận phát
hành bảo lãnh thông qua một hợp đồng bảo lãnh giữa ngân hàng với kháchhàng khi khách hàng làm đơn đề nghị bảo lãnh
- Bảo lãnh ký hậu: là hình thức bảo lãnh mà ngân hàng bảo lãnh cam kết với
người tụ hưởng bảo lãnh thông qua việc ký hậu lên giấy tờ có giá như hốiphiếu, lệnh phiếu, sẽ thanh toán toàn bộ hoặc một phần số tiền ghi trên giấy tờ
có giá nếu người được bảo lãnh (người ký phát, người phát hành hoặc ngườichuyển nhượng) không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền ghitrên tò giấy
- Bảo lãnh xác nhận: Trong một số trường hợp, người nhận bảo lãnh có thể
yêu cầu một ngân hàng xác nhận một bảo lãnh do ngân hàng káhc phát hành
và như vậy người nhận bảo lãnh có thể xuất trình giấy tờ, chứng từ theo yêucầu đến ngân hàng xác nhận để được thanh toán
1.2.3.2 Chiết khấu thương phiếu:
Thương phiếu được hình thành chủ yếu từ quá trình mua bán chịu hànghoá và dịhc vụ giữa khách hàng với nhau Người bán (hoặc người thụ hưởng)
có thể giữ thương phiếu đến hạn đòi tiền người mua (người phải trả) hoặcmang thương phiếu đến ngân hàng để xin chíêt khấu Để thuận tiện cho kháchhàng, ngân hàng thường ký với khách hàng hợp đồng chiết khấu (cấp chokhách hàng hạn mức chiết khấu trong kỳ) Khi cần chiết khấu khách hàng chỉcần gửi thuương phiếu lên ngân hàng xin chiết khấu Ngân hàng sẽ kiểm tra
Trang 12chất lượng thương phiếu rồi thực hiệc chiết khấu Ngân hàng cũng có thể thựchiện tái chiết khấu thương phiếu tại Ngân hàng Nhà nước để đáp ứng nhu cầuthanh khoản.
Chiết khấu là một hợp đồng được phép truy đòi, vì vậy, khi ngân hàngkhông thu được nợ của người mua thì có thể đòi tiền của người bán hoặc ởnhững người liên quan trách nhiệm theo quy định của Pháp luật Như vậy,trách nhiệm thanh toán nợ cho ngân hàng không phải một chủ thể mà có thể lànhiều chủ thể khác nhau
Chiết khấu là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn vời thời hạn tối đa là 90ngày, điều này tạo điều kiện nhanh chóng cho việc giải phóng vốn cho ngânhàng, nâng cao tính thanh khoản trong tài sản Có của ngân hàng Mặt khác,khi thực hiện chiết khấu, số tiền cấp cho khách hàng được chuyển sang tàikhoản tiền gửi Số tiền này có thẻ chưa sử dụng toàn bộ, do đó tạo nguồn vốncho ngân hàng
1.2.4 Cho thuê tài chính
Tín dụng thuê mua là một kiểu cho thuê tài sản chuyên dụng kèm theolời hứa sẽ bán lại về sau, chậm nhất là khi kết thúc hợp đồng, cho ngời thuêtheo giá thoả thuận từ đầu
Về nguyên tắc, tín dụng thuê mua gồm 3 bên liên quan:
- Doanh nghiệp (người thuê): chọn lựa tài sản cần thuê ở một nhà cungcấp
- Nhà cung cấp: nhận được đơn xin đặt hàng và tiền hàng từ công ty tíndụng thuê mua
- Người cho thuê (ngân hàng, công ty tín dụng thuê mua): cho xínghiệp thuê tài sản mà họ sở hữu
Do quy chế đặc biệt đối với tín dụng thuê mua, NHTM không thể hoạtđộng trực tiếp trong lĩnh vực này Tuy nhiên, các NHTM vẫn giữa một vai tròtích cực khi lập ra và tạo điều kiện cho một lượng lớn các tổ chức tín dụng
Trang 13thuê mua phát triển, đương nhiên ngân hàng cũng là người chỉ đạo các tổchức tín dụng thuê mua và có thể bảo lãnh cho một số nghiệp vụ Các công tycho thuê chuyên doanh thường là các chi nhánh của các ngân hàng lớn.
Thực chất tín dụng thuê mua là hình thức tín dụng được đảm bảo bằngmột quyền sở hữu về tài sản đã tài trợ vốn Nghiệp vụ ngày là một sáng tạotrong quá trình kinh doanh nhằm tránh cho doanh nghiệp phải kêu gọi gópthêm vốn tự có Là một kỹ thuật tài trợ vốn cho đầu tư tương đối mới, nó cóthể đơn giản hay phức tạp tuỳ thuộc vào nhu cầu khác nhau của doanh nghiệp Nghiệp vụ tín dụng này có những lợi ích to lớn cho mọi doanh nghiệp(đặc biệt là cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ) về rất nhiều phương diện (đápứng nhu cầu vốn kịp thời, không đảo lộn cơ cấu tài chính, có lợi về thuế) Tuynhiên, tín dụng thuê mua cũng có những bất lợi nổi bật là sự chênh lệch giá,
nó cao hơn rõ rệt so với giá tín dụng trung và dài hạn Hơn nữa, trên thực tếviệc so sánh lãi suất là rất khó khăn
Ở nước ta hiện nay, tín dụng chiết khấu và tín dụng thuê mua còn chưahoàn thiện, nguyên nhân của điều này là chưa có một hành lang pháp lý chuẩn
để thực hiện, chưa có những văn bản pháp lý cụ thể để điều chỉnh những mốiquan hệ liên quan đến hai nghiệp vụ này Mặt khác, thói quen và tâm lý củacác chủ thể kinh tế cũng là một cản trở lớn Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng đãphát triển khá đa dạng, chiếm tỷ lệ khá cao trong các hoạt động của cácNHTM hiện nay
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của NHTM
Hoạt động tín dụng là một hoạt động vô cùng nhạy cảm, thay đổi rấtnhanh theo sự thay đỏi của nền kinh tế Nó có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạtđộng thương mại, tiêu dùng Vì vây, việc xét các yếu tổ ảnh hưởng đến hoạtđộng tín dụng là điều vô cùng quan trọng
1.3.1 Nhân tố khách quan
1.3.1.1 Nhóm chính sách vĩ mô của Nhà nước, môi trường kinh tế:
Trang 14Hoạt động của mỗi NHTM chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường kinh
tế xã hội Một ngân hàng dù có cố gắng đến mấy trong hoạt động kinh doanhcủa mình nhưng nếu môi trường hoạt động kinh doanh không ổn định thìcũng khó mà thành công Chính vì vậy, việc nghiên cứu môi trường kinhdoanh là hoạt động thường xuyên của mỗi NHTM Có thể xem xét ảnh hưởngcủa môi trường kinh tế xã hội đến hoạt động tín dụng NHTM trên những khíacạnh sau:
+ Môi trường kinh tế và những chính sách vĩ mô của Nhà nước
Môi trường kinh tế phù hợp và phát triển có thể tạo thuận lợi cho hoạtđộng tín dụng Một môi trường kinh tế lành mạnh, các chủ thể tham gia nềnkinh tế đang hoạt động có hiệu quả sẽ thúc đẩy mở rộng quy mô tín dụng,chất lượng tín dụng
Nhưng môi trường kinh tế cũng có thể có những thay đổi bất ngờ.Chẳng hạn, có thể có những biến động về tỷ giá hoặc thị trường làm cho chủđầu tư bị bất ngờ, dẫn đến dòng tiền vào không như kế hoạch làm giảm khảnăng trả nợ cho ngân hàng Những biến động này lại là hệ quả rất gần gũi củanhững thay đổi trong chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước Trong điều kiệnnước ta hiện nay, vai trò can thiệp, điều tiết của Chính phủ tạo môi trườngkinh tế là rất lớn – thông qua các công cụ của Nhà nước như chính sách tàikhoá, tiền tệ, nhằm thực hiện các mục tiêu, đường lối, chiến lược trong quátrình đưa nền kinh tế hội nhập và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Hoạt động tín dụng của ngân hàng nói riêng và mọi hoạt động của ngânhàng nói chung chịu sự tác động rất mạnh mẽ của chính sách tiền tệ Chínhsách này là linh hồn của hoạt động ngân hàng, nó không chỉ có tác động mạnh
mẽ đến hoạt động ngân hàng mà còn đến toàn bộ các hoạt động của nền kinh
tế Chính sách tín dụng là một bộ phận của chính sách tiền tệ quốc gia, baogồm cả khâu tạo vốn và sử dụng vốn Mở rộng tín dụng là phải phù hợp với
Trang 15nhu cầu tăng trưởng kinh tế và mục tiêu kiềm chế lạm phát Khi chính sáchtiền tệ thay đổi, nó sẽ có ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng.
Ngoài những ảnh hưởng của chính sách tiền tệ, hoạt động tín dụng cònchịu tác động của môi trường kinh tế thông qua chính sách về xuất nhập khẩu,chính sách về quản lý đất đai, chính sách đối ngoại… Vì những chính sáchnày tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến các doanh nghiệp vay vốn,
nó ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do đó ảnhhưởng đến việc trả nợ ngân hàng
Như vậy, hoạt động tín dụng của NHTM sẽ chịu ảnh hưởng của môitrường kinh tế mà nó hoạt động Vấn đề đối với các ngân hàng là phải làm tốtcác công tác dự báo và khả năng thích ứng nhanh khi có biến động nhằm đảmbảo hoạt động tín dụng của NHTM
+ Môi trường pháp lý:
Hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng như các hoạt động sản xuấtkinh doanh khác, đều phải thực hiện trên cơ sở các điều khoản quy định củapháp luật Chính vì vậy, pháp luật đã tạo hành lang pháp lý cho hoạt động tíndụng ngân hàng Pháp luật có những quy định về hoạt động tín dụng, bắt buộcmọi chủ thể tham gia trong quan hệ tín dụng đều phải tuân theo, phải thựchiện tốt nghĩa vụ và được bảo vệ quyền lợi Vì vậy, môi trường pháp lý cóảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tín dụng của các NHTM
Nếu hệ thống pháp luật không đồng bộ, đầy đủ và ổn đinh, việc thực thipháp luật chưa nghiêm sẽ tạo các khe hở trong quản lý tín dụng, gây ra lừađảo, chụp giật vốn vay của ngân hàng hoặc cán bộ ngân hàng lạm dụng tài sảnlàm sai trái ảnh hưởng không tốt đến hoạt động tín dụng của ngân hàng Nếu
hệ thống pháp luật hợ lý giúp các NHTM dễ dàng hơn trong việc xây dựng kếhoạch kinh doanh của mình, xây dựng những quy trình tín dụng phù hợp sẽgóp phần vào việc mở rộng hoạt động tín dụng
+ Môi trường chính trị – xã hội:
Trang 16Mối trường chính trị – xã hội ổn định sẽ là một nhân tố quan trọng thúcđẩy hoạt động đầu tư và ngân hàng cũng có thể mạnh dạn mở rộng hoạt độngtín dụng cũng như các hoạt động khác Các doanh nghiệp vay vốn ngân hàngcũng có môi trường để làm ăn ổn định và hiệu quả hơn Vì vậy, điều này giúpcho các ngân hàng có thể thu hồi nhiều lợi nhuận hơn từ hoạt động tín dụng.Tác động của môi trường chính trị – xã hội tới chất lượng hoạt động tín dụngkhông thường xuyên, nhưng khi có những biến động lớn thị tác động của nó
là vô cùng lớn
Một sự thay đổi trong hệ thống chính trị hay nếu có bạo động có thểlàm cho các ngân hàng mất phần lớn hoặc toàn bộ các khoản tín dụng củamình - điều này sẽ đẩy các ngân hàng đến bờ vực phá sản
+ Những nhân tố bất khả kháng:
Trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng còn bị chịu tác động củanhững nhân tố bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn, chiến tranh, sự bất ổn vềchính trị… Những nhân tố này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng trả nợ của cácđơn vị vay vốn và vì thế ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng
Tóm lại, qua phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt độngtín dụng ngân hàng, từ nhiều góc độ khác nhau, từ trong hệ thống ngân hàngđến các doanh nghiệp và nền kinh tế; từ các yếu tố chủ quan và khách quan,điều đó cho thấy hoạt động tín dụng đã, đang và sẽ là cái đích mà tất cả cácNHTM hướng tới Nhưng để đạt được điều này không đơn giản, nó đòi hỏi sự
nỗ lực của tất cả các cán bộ của mỗi ngân hàng cũng như của tất cả các cơquan và tổ chức có liên quan Chính vì vậy mà việc nghiên cứu hoạt động tíndụng là việc làm rất cần thiết vì nó giúp cho các nhà hoạt động ngân hàngcũng như các tổ chức cá nhân có liên quan đến lĩnh vực ngân hàng điều hiểuđược những vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng và chất lượng của nó Trên
cơ sở đó giúp họ điều chỉnh các hành vi của mình để hoạt động tín dụng củacác NHTM có chất lượng tốt hơn
Trang 171.3.1.2 Yếu tố thuộc về môi trường kinh tế, văn hoá, xã hội, kỹ thuật công nghệ:
Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế cũng có ảnh hưởng nhiều đến hoạtđộng tín dụng của ngân hàng Môi trường kinh tế ảnh hưởng đến khả năng thunhập, thanh toán, chi tiêu, nhu cầu về vốn và tiền gửi của dân cư Tình hình
và sự thay đổi của các yếu tố môi trường kinh tế như thu nhập bình quân đầungười, tỷ lệ cuất nhập khẩu, GDP, tỷ lệ lạm pháp, sự ổn định về kinh tế, cácchính sách của Chính Phủ: chính sách tiết kiệm, chính sách đầu tư, các nghiệp
vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước,… có tác động to lớn đến sự pháttriển kinh tế nói chung và hoạt động kinh doanh của NHTM nói riêng Nó cóthể là cơ hội kinh daonh song cũng là thách thức đối với hoạt động tín dụngcủa NHTM
Khi nền kinh tế suy thoái, thu nhập giảm sút, lạm phát và thất nghiệpgia tăng, hoạt động các doanh nghiệp sụt giảm thì khiến cho lãi suất tín dụngtăng để bù đắp lạm phát, các doanh nghiệp không đủ khả năng để vay mượnngân hàng khiến cho môi trường kinh doanh của các NHTM không thuận lợi.Ngược lại, khi nền kinh tế trong nước đang trong giai đoạn tăng trưởng, cácbiến số kinh tế vĩ mô đều có dấu hiệu tốt, tình hình sản xuất kinh doanh củacác doanh nghiệp phát triển sẽ là cơ hội tốt để thực hiện các kế hoạch tín dụngcủa ngân hàng
Tình hình thế giới cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinhdoanh của ngân hàng Xu hướng toàn cầu hoá với sự phát triển của thươngmại quốc tế và sự di chuyển tự do hơn của các dòng vốn quốc tế làm cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh ngân hàng có những thay đổi mạnh mẽ
Trong những năm gần đây, đặc biệt từ khi Việt Nam gia nhập WTO thì
sự cạnh tranh các hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong nước đang gặpcác thách thức vô cùng lớn Các ngân hàng nước ngoài vừa có nhiều uy tín, cótiềm lực vốn dồi dào nên việc họ đầu tư vào Việt Nam gây cho hoạt động tín
Trang 18dụng của các NHTM gặp khó khăn trong việc tiếp cận các doanh nghiệp lớn.Song nói cách khác, việc gia nhập WTO và xu hướng toàn cầu hoá lại tạođiều kiện cho NHTM trong nước tiếp cận được với các đối tác khách hàngmới, học hỏi kinh nghiệm từ các chuyên gia nước ngoài, tận dụng được côngnghệ phát triển trên thế giới để hoàn thiện hệ thống bank của ngân hàng.Những điều này giúp cho ngân hàng có điều kiện thuận lợi phát triển, mởrộng các hoạt động tín dụng, khiến cho hoạt động tín dụng đạt hiệu quả và có
độ an toàn tối đa
Ngoài ra, các yếu tố thuộc về môi trường văn hoá xã hội, môi trườngdân số, địa lý cũng tác động không nhỏ đến hoạt động tín dụng
Môi trường văn hoá xã hội được hình thành từ những tổ chức và nguồnlực khác nhau có ảnh hưởng cơ bản đến giá trị xã hội như: cách thức nhậnthức, trình độ dân trí, trình độ văn hoá, lối sống, thói quen sử dụng và cất trữtiền tệ, sự hiểu biết của dân chúng về hoạt động ngân hàng
Phương thức trao đổi giữa ngân hàng và khách hàng trên thị trường rấtnhạy cảm với các tiến bộ về công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin Côngnghệ thông tin cho phép ngân hàng đổi mới không chỉ quy trình nghiệp vụ màcòn đổi mới cách thức phân phối như cho phép ngân hàng cung cấp dịch vụngân hàng 24/ 24, internet banking, telephone banking,…
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng đều bị tác động, chi phối bởi cácyếu tố thuộc môi trường vĩ mô mà các yếu tố này luôn biến động Do đó, đòihỏi ngân hàng phải tích cực hơn nữa việc tự điều chỉnh cho phù hợp với cácyếu tố này để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng mình theo
cơ chế thị trường
1.3.1.3 Yếu tố thuộc về nhóm khách hàng
Để đảm bảo khoản tín dụng được sử dụng đúng mục đích và có hiệuquả, mang lại lợi ích cho ngân hàng, góp phần vào sự tăng trưởng và pháttriển kinh tế xã hội thì khách hàng có vai trò hết sức quan trọng Một khách
Trang 19hàng có tư cách đạo đức tốt, có tình hình tài chính vững vàng, có thu nhập sẽsẵn sàng hoàn trả đầy đủ những khoản vay vốn của ngân hàng khi đến hạn.
Năng lực của khách hàng được hiểu là khả năng của doanh nghiệptrong việc đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn đòi hỏi của hoạt động tín dụng.Điều kiện tín dụng được đưa ra nhằm tiêu chuẩn hoá khả năng của doanhnghiệp trong quá trình vay vốn đồng thời đảm bảo cho khả năng thu hồi vốncủa ngân hàng Khả năng đáp ứng các điều kiện tín dụng thể hiện ở các mặtsau:
- Uy tín, đạo đức của người vay
Trong quy trình tín dụng các ngân hàng thường chỉ đưa ra quyết địnhcho vay sau khi đã phân tích cẩn thận các yếu tố có liên quan đến uy tín vàkhả năng trả nợ của người vay nhằm hạn chế thấp nhất các rủi ro do chủ quancủa người vay có thể gây nên
Đạo đức của người vay là một yếu tố quan trọng của quy trình thẩmđịnh, tính cách của người vay không chỉ được đánh giá bằng phẩm chất đạođức chung mà còn phải kiểm nghiệm qua những kết quả hoạt động trong quákhứ, hiện tại và chiến lược phát triển trong tương lai Thực tế kinh doanh đãcho thấy, tính chân thật và khả năng chi trả của người vay có thể thay đổi saukhi món vay được thực hiện Khách hàng có thể lừa đảo ngân hàng thông quaviệc gian lận về số liệu, giấy tờ, quyền sở hữu tài sản, sử dụng vốn vay khôngđúng mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, phương án kinh doanh
Uy tín của khách hàng cũng là một yếu tố đáng quan tâm, uy tín củakhách hàng là tiêu chí để đánh giá sự sẵn sàng trả nợ và kiên quyết thực hiệncác nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng từ phía khách hàng Uy tín của kháchhàng được thể hiện dưới nhiều khía cạnh đa dạng như: chất lượng, giá cả hànghoá, dịch vụ, sản phẩm, mức độ chiếm lĩnh thị trường, chu kỳ sống của sảnphẩm, các quan hệ kinh tế tài chính, vay vốn, trả nợ với khách hàng, bạn hàng
và Ngân hàng Uy tín được khẳng định và kiểm nghiệm bằng kết quả thực tế
Trang 20trên thị trường qua thời gian càng dài càng chính xác Do đó, ngân hàng cầnphân tích các số liệu và tình hình trong suốt quá trình phát triển của kháchhàng với những thời gian khác nhau mới có kết luận chính xác.
- Năng lực thị trường của doanh nghiệp
Năng lực thị trường của doanh nghiệp được lượng hoá theo các mặt:Khối lượng sản phẩm tiêu thụ, chất lượng sản phẩm như thế nào? Có phù hợpvới thị hiếu của người tiêu dùng hay không? Vị thế của doanh nghiệp trên thịtrường? Quá khứ, hiện tại và tương lai phát triển của doanh nghiệp? Hệ thốngtiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, mối quan hệ với các bạn hàng, với cácđối tác?
Nghiên cứu năng lực thị trường của doanh nghiệp cho biết khả năng
mở rộng đầu tư của doanh nghiệp cũng như định hướng đầu tư của doanhnghiệp nhằm kiểm tra sự phù hợp của dự án hoạt động với khả năng củadoanh nghiệp
- Năng lực sản xuất của doanh nghiệp
Năng lực sản xuất của doanh nghiệp biểu hiện giá trị công cụ lao động
mà chủ yếu là tài sản cố định, biểu hiện cụ thể là quá trình sản xuất sản phẩm,công nghệ sản xuất, các nhu cầu đầu tư trước đây
Nghiên cứu năng lực sản xuất của doanh nghiệp cho biết quy mô, sảnxuất của doanh nghiệp, sự phù hợp của quy mô đó với thị trường, cơ cấu vàkhả năng làm chủ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
- Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở số vốn tự có của doanhnghiệp và tỷ trọng vốn tự có trên tổng nguồn vốn huy động Ngoài ra, nănglực tài chính của doanh nghiệp còn thể hiện ở khả năng thanh toán của doanhnghiệp đối với các khoản nợ Năng lực tài chính của doanh nghiệp trong tíndụng trung – dài hạn còn đòi hỏi doanh nghiệp có số vốn lưu động tối thiểucho việc duy trì hoạt động thường xuyên của tài sản cố định Vì vậy, năng lực
Trang 21tài chính của doanh nghiệp càng cao thì càng thuận lợi cho ngân hàng trongviệc mở rộng hoạt động tín dụng.
- Năng lực quản lý doanh nghiệp
Việc xem xét khả năng thích nghi của bộ máy quản lý doanh nghiệp vóibiến động của cơ chế thị trường là điều cần thiết trước khi Ngân hàng quyếtđịnh cho vay Ngoài ra, việc xem xét việc phù hợp của hệ thống hạch toán kếtoán và quản lý tài chính của doanh nghiệp với quy định của pháp luật sẽ chokết quả đánh giá về năng lực quản lý của doanh nghiệp một cách chính xáchơn
Như vậy, vốn tín dụng chỉ thực sự mang lại hiệu quả đối với ngân hàng
và bản thân đơn vị vay vốn khi các đơn vị vay vốn hoạt động kinh doanh thực
sự có hiệu quả, các dự án đơn vị đầu tư có tính khả thi Điều này lại phụ thuộcrất nhiều vào các nhân tố chủ quan và khách quan – nhìn từ phía doanhnghiệp – như đã xem xét ở trên Nếu doanh nghiệp vay vốn làm ăn khônghiệu quả hoặc dự án không có tính khả thi thì việc hoàn trả các khoản vay là
vô cùng khó khăn, các ngân hàng sẽ không thể htu hồi các khoản nợ đúng hạnđược, chất lượng tín dụng của ngân hàng sẽ thấp Trong những năm gần đây,các đơn vị vay vốn, đặc biệt là các doanh nghiệp đã có những thay đổi theohướng tích cực, các dự án cũng được sàng lọc thẩm định kỹ càng trước khitiến hành đầu tư Những điều này đã góp phần làm nâng cao chất lượng tíndụng của ngân hàng
1.3.2 Nhóm yếu tố chủ quan:
Ngân hàng là yếu tố chủ quan có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến hoạtđộng tín dụng Không chỉ quyết định chính sách tín dụng đúng đắn mà cũngnâng cao khả năng, hình ảnh của ngân hàng trên thị trường Các tác động từphía bản thân ngân hàng gồm: quy mô, kết cấu, tính ổn định các khoản tiềngửi, năng lực tài chính, quy mô vốn chủ sở hữu của ngân hàng, khả năng vay
Trang 22mượn của ngân hàng, quan hệ của ngân hàng với khách hàng, có ảnh hưởngrất lớn đến chính sách tín dụng.
+ Chiến lược kinh doanh của ngân hàng
Trong nền kinh tế hiện đại, các doanh nghiệp nói chung và các NHTMnói riêng muốn tồn tại và kinh doanh có lãi phải xây dựng được cho mình mộtchiến lược kinh doanh có hiệu quả Một chiến lược kinh doanh có hiệu quả sẽgiúp ngân hàng có một phương hướng phát triển nhất quán, giúp ngân hàngkhai thác tốt nhất năng lực hiện có của đơn vị đồng thưòi nó cũng giúp chongân hàng có thể thích ứng một cách nhanh nhất với những biến đổi trongmôi trường kinh doanh của mình Chính vì vậy, công tác lập chiến lược kinhdoanh hiện được các ngân hàng rất coi trọng và nó có ảnh hưởng tới chất hoạtđộng tín dụng
+ Chính sách tín dụng của ngân hàng
Mỗi ngân hàng trong từng thời kỳ sẽ có những chính sách tín dụngriêng của mình để nhằm đạt mục tiêu đề ra Chính sách tín dụng này sẽ ảnhhưởng trực tiếp tới quy mô, tính chất của các khoản tín dụng cũng nhưphương thức hoạt động tín dụng của ngân hàng Chính sách tín dụng khôngnhững phụ thuộc vào mục tiêu của bản thân ngân hàng mà còn phụ thuộc vàocác yếu tố khác như chính sách của chính phủ và các cơ quan quản lý Nhưvậy, việc đưa ra một chính sách tín dụng hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng họatđộng hiệu quả hơn, nó giúp nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng
+ Công tác tổ chức hoạt động tín dụng của ngân hàng
Để các ngân hàng hoạt động có hiệu quả, linh hoạt, ngân hàng cần cụthể hoá và sắp xếp các bộ phận, phòng ban liên quan một cách khoa học, trên
cơ sở tôn trọng nguyên tắc tín dụng, quản lý được tài sản nợ và tài sản có củangân hàng
Trang 23Từng bộ phận, phòng ban cần được phân định rõ chức năng, nhiệm vụ
và có ý thức trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ được giao, thoả mãn nhu cầucủa khách hàng, đây là cơ sở để có nghiệp vụ tín dụng lành mạnh
Tuy nhiên, công tác tổ chức hoạt động tín dụng của ngân hàng còn phụthuộc vào nhiều yếu tố như quy mô ngân hàng, chính sách tín dụng của ngânhàng, quy mô và loại hình tín dụng, quy trình tín dụng tại ngân hàng đó.Trong quy trình tín dụng, các cán bộ tín dụng sẽ trực tiếp tiếp xúc với ngườivay, nhận đơn xin vay, phỏng vấn khách hàng, thu thập thông tin về kháchhàng, về dự án trước khi có quyết định chính thức trình cán bộ cấp cao hơn.Những thông tin về khách hàng và dự án sau khi được các phòng ban chứcnăng của ngân hàng xem xét, nếu thấy đủ điều kiện thì sẽ quyết định cụ thể vềphương thức giải ngân và thu nợ sau này Ngân hàng như vậy, các bộ phậnphòng ban của ngân hàng cần có sự phối kết hợp chặt chẽ với nhau trong hoạtđộng kinh doanh, phòng này hoàn thành nhiệm vụ sẽ tạo điều kiện, cơ sở đểphòng kia hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao, với mục đích chung là chovay an toàn và hiệu quả Đồng thời, cũng cần có mối quan hệ chặt chẽ với cáccấp chính quyền, công an, toà án, viện kiểm soát… tạo điều kiện quản lý vốntín dụng có hiệu quả
Nếu tất cả các khâu của quá trình cấp tín dụng đều được thực hiện tốt
nó sẽ giúp cho ngân hàng được lựa chọn được những dự án tốt để cấp tíndụng cũng như tạo uy tín tốt cho ngân hàng trong lòng khách hàng
Nói tóm lại, công tác tổ chức hoạt động tín dụng có thể hỗ trợ đắc lựccho nhân viên tín dụng thực hiện tốt công việc của mình và nó có ảnh hưởngquan trọng đến chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM
+ Chất lượng của công tác thẩm định dự án
Khi đến ngân hàng để xin được cấp tín dụng, khách hàng thường phảimang đến một bộ hồ sơ về dự án mà họ sẽ tiến hành thực hiện hay là những
Trang 24kế hoạch sử dụng vốn vay Mỗi một món vay, trước khi phê duyệt ngân hàngphải dựa trên kết quả thẩm định tín dụng.
Thẩm định tín dụng là việc ngân hàng thực hiện một loạt các nghiệp vụ
để thu thập thông tin, lựa chọn, phân tích và đánh giá tổng hợp đưa ra nhữngkết luận về mọi mặt: tư cách pháp lý, khả năng tài chính, tình hình sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp, hiệu quả của phương án xin vay, tình hình bảođảm tiền vay… Trên cơ sở đó đưa ra quyết định cho vay, đảm bảo khả năngthu hồi vốn
Như vậy, kết quả thẩm định tín dụng tốt thì việc cho vay có hiệu quả,
có khả năng thu hồi vốn cả gốc và lãi đúng hạn Nếu chất lượng thẩm địnhkhông tốt thì ngược lại
Thẩm định tín dụng là phương pháp phân tích tổng hợp trên nhiều mặtcủa quá trình sản xuất kinh doanh, chịu ảnh hưởng của các nhân tố phức tạptác động, đòi hỏi phải có sự nhanh nhạy, tính toán và cân nhắc chính xác, loại
bỏ những thông tin nhiễu, tổng hợp xử lý thông tin chính xác thì mới có thểphê duyệt cho vay có hiệu quả Công tác này đòi hỏi nhiều thời gian và kỹthuật tính toán phức tạp, nó đòi hỏi những nhân viên thẩm định phải có trình
độ và sự kết hợp hiệu quả giữa các phòng ban trong ngân hàng
Đối với các dự án xin vay vốn, thông qua công tác thẩm định, ngânhàng với những kinh nghiệm vốn có của mình có thể tư vấn, giúp đỡ cho chủđầu tư sửa đổi những điểm không hợp lý trong dự án để dự án có tính khả thihơn và cũng giúp cho ngân hàng có thể mở rộng hoạt động tín dụng của mình
Trang 25Nguồn cung cấp thông tin có thể từ nhiều nguồn khác nhau, từ bêntrong và bên ngoài hệ thống Nhưng muốn có thông tin nhanh, chính xác vàtoàn diện thì phải có bộ phận tổng hợp phân tích và xử lý thông tin, loại trừnhững thông tin nhiễu; chất lượng của thông tin ảnh hưởng trực tiếp đếnkhoản cho vay, vì vậy, chất lượng thông tin càng cao thì khả năng phòng ngừarủi ro trong hoạt động kinh doanh càng lớn.
Trong nhiều trường hợp, do điều tra không tốt nên thông tin sai lệchhoặc không đầy đủ đã đi đến những quyết định cho vay sai lầm, ảnh hưởngđến chất lượng tín dụng ở nước ta hiện nay, chưa có các hãng kinh doanhthông tin tín dụng… Hiện tượng một khách hàng vay nhiều ngân hàng với dự
án khác nhau là phổ biến, nhưng các ngân hàng không có thông tin đầy đủ,nên nhiều trường hợp vỡ nợ, mất khả năng thanh toán mới nhận ra
+ Mở rộng tín dụng vượt quá khả năng kiểm soát của ngân hàng.
Hoạt động của NHTM với mục đích là lợi nhuận, nhưng lợi nhuận lại
tỷ lệ với rủi ro Có ngân hàng trong lúc hăng hái đi tìm lợi nhuận đã bất chấpnhững khoản vay không lành mạnh, thiếu sự an toàn Trong điều hành, nhiềungân hàng đã thực hiện cơ chế khoán doanh thu Đây là một vấn đề chứađựng nhiều yếu tố mất an toàn, một động lực mà mặt trái là đẩy cán bộ ngânhàng vào tình thế ‘bằng mọi giá để cho vay’
Một vấn đề nữa là việc mở rộng tín dụng một cách thái quá, thiếu cơ sởkhoa học và thực tiễn dẫn đến tình trạng dư nợ cao, vượt quá khả năng quản
lý của cán bộ ngân hàng Việc kiểm tra, theo dõi sự vận động của vốn vaykhông thường xuyên, không nắm được tình hình hoạt động của doanh nghiệp,nhiều món vay doanh nghiệp đã trả nợ hay chưa cũng không biết - đã ảnhhưởng lớn đến chất lượng tín dụng
+ Kiểm tra, kiểm soát nội bộ.
Hoạt động tín dụng là hoạt động phức tạp và rất nhạy cảm, luôn có sựbiến động từ thái cực này sang thái cực khác Trong lúc đó, cán bộ ngân hàng
Trang 26lại làm theo thói quen việc kiểm tra, kiểm soát nội bộ giúp cho ngân hàngsớm nhận ra những sai sót, nắm bắt kịp thời các khoản cho vay có vấn đề Mặt khác, công tác kiểm soát nội bộ còn đóng vai trò là ‘những hồichuông’ nhắc nhở những phòng ban (đặc biệt là phòng kinh doanh) và các cán
bộ tín dụng trong việc chấp hành tốt quy chế tín dụng, không ngừng nâng caotrình độ nghiệp vụ để theo kịp nhịp độ phát triển của nền kinh tế, góp phầnnâng cao hiệu quả công tác, chất lượng tín dụng
+ Chất lượng của đội ngũ nhân sự:
Bất cứ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào, dù trong điều kiện thủcông hay công nghiệp hoá cũng đều cần đến con người Con người có vai tròquan trọng, là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong quản lý vốn, tài sảncủa ngân hàng nói chung và trong hoạt động tín dụng ngân hàng nói riêng.Hoạt động của ngân hàng ngày càng phát triển, đa dạng hoá các hình thứckinh doanh dịch vụ, sử dụng các phương tiện làm việc hiện đại, tiên tiến Bởivậy, việc tuyển chon cán bộ phải đảm bảo đủ các tiêu chuẩn về đạo đức lẫnnghiệp vụ chuyên môn, khả năng ứng dụng và tiếp thu khoa học tiên tiến, amhiểu thị trường, pháp luật và một số ngành kinh tế liên quan
Cụ thể hơn, yếu tố quyết định đến việc nâng cao hay suy giảm chấtlượng tín dụng chính là nguồn nhân lực của ngân hàng, việc này ảnh hưởngtrực tiếp đến vấn đề mở rộng hoạt động tín dụng cảu ngân hàng Vì suy chocùng, các quyết định cung cấp tín dụng của ngân hàng cũng là những quyếtđịnh mang tính chủ quan Một ngân hàng với đội ngũ lãnh đạo tốt sẽ đưa rađược những chính sách hợp lý và phương hướng phát triển phù hợp vớikhuynh hướng phát triển của nền kinh tế Một đội ngũ cán bộ tín dụng giỏi sẽgiúp cho ngân hàng có được những khoản cho vay với chất lượng cao nhất Ngược lại, trình độ cán bộ quản lý điều hành và cán bộ tín dụng hạnchế sẽ làm giảm chất lượng thẩm định tín dụng, quyết định cho vay thiếu cơ
sở khoa học và kinh tế, ảnh hưởng đến chất lượng món vay, không có biện
Trang 27pháp xử lý kịp thời khi có tình huống bất lợi xảy ra cho ngân hàng Các cán
bộ của các phòng ban, bộ phận chức năng khác sẽ giúp cho ngân hàng mởrộng các hoạt động kinh doanh của mình, tạo dấu ấn của ngân hàng trong lòngthị trường
- Địa bàn hoạt động của ngân hàng
Những ngân hàng có chi nhánh, trụ sở tại các trung tâm kinh tế của cảnước hay các thành phố lớn sẽ giúp cho ngân hàng đó có điều kiện phát triểnnhiều hình thức tín dụng hơn những ngân hàng khác Địa bàn hoạt động củangân hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến đối tượng khách hàng tiềm năng củangân hàng Ví dụ như ngân hàng tập trung cho vay các doanh nghiệp vừa vànhỏ thì nên có chi nhánh tại thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, HảiPhòng,… còn tập trung vào các doanh nghiệp lớn thì nên đặt chi nhánh tại cáckhu công nghiệp, khu chế xuất
Trang 28CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG-
CHI NHÁNH HÀ NỘI ( MHB HÀ NỘI )
2.1 Sơ lược về MHB Hà Nội
2.1.1 Cơ cấu tổ chức của MHB Hà Nội
Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long Chi nhánh Hà Nội(MHB Chi nhánh Hà Nội) được thành lập theo công văn số 675/NHN- CNHngày 27/ 06/ 2003 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và Quyết định số 47/2003/ QĐ-NHN-HĐQT ngày 04 tháng 07 năm 2003 của Hội đồng Quản trịNgân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long, hoạt động theo các quyđịnh của pháp luật, theo Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng pháttriển nhà đồng bằng sông Cửu Long, theo uỷ quyền của Tổng Giám đốc vàtheo Quy chế của Ngân hàng
Tên gọi: “Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long
Khi mới hình thành, Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông CửuLong- Chi nhánh Hà Nội tại trụ sở chính có các phòng: Tín dụng, Kế toán -Ngân quỹ, Hành chính nhân sự, Kiểm soát nội bộ
Từ khi ra đời đến nay, MHB Hà Nội có rất nhiều đổi thay, với nhữngmốc lịch sử đáng nhớ:
Trang 29Năm 2003: MHB Hà Nội thành lập Phòng Giao dịch số 1- Số 48 Vương Thừa
Vũ, quận Thanh Xuân, Hà Nội
Năm 2004:MHB Hà Nội thành lập Phòng Giao dịch số 2- số 309 phố
Nguyễn Văn Cừ, quận Long Biên và Phòng Giao dịch số 3- số 18T1 Khu Đôthị Trung Hoà Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội
Năm 2005: MHB Hà Nội thành lập 2 chi nhánh cấp 2: Chi nhánh Cầu Giấy
và Chi nhánh Đống Đa
Năm 2006: MHB Hà Nội thành lập Phòng Giao dịch Tây Sơn.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CỦA MHB HÀ NỘI
Giám đốc Chi nhánh là người trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệmtrước Tổng giám đốc, trước pháp luật về mọi hoạt động của Chi nhánh
PHÒNG NGHIỆP VỤ KINH DOANH
PHÒNG KẾ TOÁN- NGÂN QUỸ
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
PHÒNG GIAO
DỊCH SỐ 1
PHÒNG GIAO DỊCH SỐ 2
PHÒNG GIAO DỊCH SỐ 3
PHÒNG GIAO
DỊCH TÂY SƠN
Trang 30* Các phòng nghiệp vụ
Phòng Hành chính - Nhân sự có nhiệm vụ:
- Tổ chức thực hiện việc quy hoạch cán bộ, quản lý nhân sự; chi trả lươngcho người lao động; đào tạo nhân viên; thực hiện chính sách cán bộ vàcông tác thi đua khen thưởng
- Lập kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, công cụ laođộng và tổ chức thực hiện theo kế hoạch được duyệt
- Thực hiện công tác văn thư, hành chính, quản trị
- Lập các báo cáo về công tác cán bộ, lao động, tiền lương và công tác hànhchính, quản trị theo quy định
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Chi nhánh giao
Phòng Nghiệp vụ Kinh doanh có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn hoạt động để lập kếhoạch kinh doanh ngắn hạn, trung dài hạn; kế hoạch khai thác nguồn vốn;
kế hoạch phát triển mạng lưới của Chi nhánh và tổ chức thực hiện theo kếhoạch được giao
- Hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ xin vay đúng quy trình nghiệp vụ, tiếpnhận và giải quyết hồ sơ xin vay theo quy đinh của Ngân hàng Nhà nước
và hướng dẫn của Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long;trình Giám đốc Chi nhánh duyệt hồ sơ vay vốn của khách hàng
- Tổ chức thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát theo quy trình nghiệp vụ tíndụng Đôn đốc thu hồi các khoản nợ đến hạn, quá hạn; đề xuất các biệnpháp ngăn ngừa và xử lý nợ quá hạn
- Thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh, táibảo lãnh, vay vốn đầu tư phát triển theo các quy định của Nhà nước, Ngânhàng Nhà nước và quy định của Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sôngCửu Long
- Thực hiện công tác thông tin phòng ngừa rủi ro
Trang 31- Lập các báo cáo thống kê về nghiệp vụ tín dụng, ngoại hối, bảo lãnh, táibảo lãnh theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và theo chế độ thông tinbáo cáo do Tổng giám đốc ban hành.
- Tổ chức theo dõi các tài sản thế chấp, bảo lãnh là bất động sản; quản lýcác tài sản cầm cố được lưu giữ tại kho Chi nhánh hoặc kho thuê ngoài
- Lưu trữ, bảo quản hồ sơ tín dụng, ngoại hối và các báo cáo nghiệp vụ theochế độ quy định
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Chi nhánh giao
Phòng Kế toán và Ngân quỹ có nhiệm vụ:
- Thực hiện công tác hạch toán kế toán, theo dõi, phản ánh tình hình hoạtđộng kinh doanh, tài chính, quản lý các loại vốn, tài sản tại Chi nhánh; báocáo các hoạt động kinh tế - tài chính theo quy định của Nhà nước, theo chế
độ thông tin báo cáo của Ngân hàng Nhà nước và của Ngân hàng phát triểnnhà đồng bằng sông Cửu Long
- Hướng dẫn khách hàng mở tài khoản tại Chi nhánh, lập các thủ tục và chitrả tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân, chi trả kiềuhối
- Tổ chức thực hiện các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền trong nước và nướcngoài thông qua hệ thống Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông CửuLong, Ngân hàng Nhà nước và các hệ thống khác khi cần thiết
- Tổ chức việc thu, chi tiền mặt; xuất, nhập ấn chỉ có giá, bảo quản an toàntiền bạc, tài sản của Ngân hàng và của khách hàng theo quy định của Ngânhàng Nhà nước và của Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông CửuLong
- Thực hiện công tác điện toán và xử lý thông tin
- Thực hiện kiểm tra chuyên đề kế toán, ngân quỹ trong phạm vi Chi nhánh
- Tổ chức bảo quản hồ sơ thế chấp, cầm cố, bảo lãnh do Phòng Nghiệp vụKinh doanh chuyển sang theo chế độ quy định
Trang 32- Tổng hợp, lưu trữ hồ sơ tài liệu kế toán, giữ bí mật các tài liệu, số liệutheo quy định của Nhà nước.
- Lập và bảo vệ kế hoạch tài chính của Chi nhánh; tổ chức thực hiện theochỉ tiêu kế hoạch được giao
- Chấp hành đầy đủ, kịp thời nghĩa vụ tài chính đối với ngân sách Nhà nước
và quy định về nghĩa vụ tài chính của hệ thống
- Chấp hành chế độ quyết toán tài chính hàng năm với Hội sở chính
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Chi nhánh giao
Phòng kiểm tra nội bộ có nhiệm vụ:
- Thực hiện việc kiểm tra, kiểm toán nội bộ các hoạt động của Chi nhánhtheo đúng pháp luật, theo Điều lệ của Ngân hàng phát triển nhà đồng bằngsông Cửu Long, theo qui định về tổ chức và hoạt động của bộ máy kiểmtra nội bộ trong hệ thống Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông CửuLong
- Theo dõi, phúc tra Chi nhánh trong việc sửa chữa những vi phạm, kiếnnghị của các đoàn thanh tra, kiểm tra và những kiến nghị của kiểm tra nội
bộ tại Chi nhánh
- Báo cáo kết quả công tác kiểm tra nội bộ định kỳ hoặc đột xuất theo đúngquy định của Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc Ngân hàng phát triểnnhà đồng bằng sông Cửu Long
- Phối hợp với các đoàn thanh tra, kiểm tra của Nhà nước, Ngân hàng Nhànước và của Hội sở chính trong việc thanh tra, kiểm tra tại Chi nhánh
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Chi nhánh giao
Trang 332.1.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh của MHB Hà Nội
2.1.2.1 Về hoạt động huy động vốn
MHB Hà Nội có trụ sở tại Thủ đô Hà Nội, là trung tâm tài chính tiền tệhết sức sôi động chỉ đứng sau TP Hồ Chí Minh, là nơi tập trung cơ quan đầunão của các định chế tài chính, các tổ chức kinh tế lớn nhất nước ta, là khuvực kinh tế có tốc độ phát triển nhanh, thu nhập bình quân đầu người và trình
độ dân trí cao Đây là địa bàn tiềm năng của hoạt động ngân hàng, đặc biệt làhoạt động huy động vốn
Nhưng Hà Nội cũng là môi trường cạnh tranh rất khốc liệt giữa hàngtrăm Chi nhánh ngân hàng thương mại lớn mạnh và huy động vốn là một sảnphẩm chiến lược của tất cả các ngân hàng này, trong khi năng lực cạnh tranhcủa bản thân MHB Hà Nội còn hạn chế vì:
+ Thương hiệu MHB còn ít được biết đến trên thị trường Hà Nội trongkhi đặc thù của hoạt động huy động vốn thì “uy tín thương hiệu” là một yếu
tố có tầm quan trọng hàng đầu nhất là đối với thị trường dân cư
+ Hệ thống sản phẩm dịch vụ tiện ích của MHB còn chưa đa dạng,phong phú, công nghệ ngân hàng còn chưa hiện đại so với các hệ thống ngânhàng lớn mạnh khác trên cùng địa bàn là một rào cản đối với quyết định muasản phẩm của khách hàng nhất là những khách hàng muốn sử dụng nhiều loạidịch vụ của ngân hàng
+ Nguồn nhân lực mỏng thiếu cán bộ có kinh nghiệm, chuyên môn caoCũng như mọi ngân hàng, công tác huy động vốn luôn được MHB HàNội quan tâm chú trọng Tuy mới thành lập nhưng nguồn vốn của chi nhánhcàng ngày càng tăng cao giúp cho việc đáp ứng được nhu cầu về vốn của cácdoanh nghiệp trên địa bàn cũng như hoàn thành nhiệm vụ chỉ tiêu huy độngvốn mà Hội sở đề ra Mức tăng trưởng huy động vốn của MHB Chi nhánh HàNội thể hiện cụ thể qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 1: Tổng nguồn vốn huy động qua các năm của MHB Hà Nội
Trang 340 500 1000
Nguồn: Báo cáo kinh doanh năm 2003 -2005 MHB Hà Nội
Qua số liệu trên ta thấy sự tăng trưởng khá nhanh của nguồn vốn huyđộng qua các năm, cụ thể:
Tại thời điểm 31/12/2003, tổng nguồn vốn của Chi nhánh đạt 188,8 tỷđồng, đến 31/12/2004, nguồn vốn đã tăng trưởng mạnh mẽ, đạt mức2.421,838 tỷ đồng, tăng 1.182% so với cuối năm 2003 Đến cuối năm 2005,tổng nguồn vốn huy động đạt ở mức 2.997 tỷ đồng, tăng 128,3 % so với năm
2004
Đến thời điểm 30/ 09/2006, tổng nguồn vốn của MHB Hà Nội đã đạtđược 3.462 tỷ đồng Trong đó, nguồn vốn có kỳ hạn chiếm tỷ trọng rất cao:99%
Tốc độ tăng trưởng vốn bình quân hàng năm đạt 600% Riêng năm
2004, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn của MHB Hà Nội đạt tới 1.299%
Hàng năm, Chi nhánh đều hoàn thành xuất sắc kế hoạch nguồn vốnđược giao, luôn ở vị trí dẫn đầu toàn hệ thống cả về tốc độ tăng trưởng, số dưhuy động vốn bình quân đầu người cũng như tổng giá trị nguồn vốn Ban lãnhđạo Chi nhánh đã rất linh hoạt trong việc sử dụng nguồn vốn huy động đảmbảo tỷ lệ vốn khả dụng trên tổng nguồn vốn luôn đạt ở mức cao nhất mang lạilợi nhuận tối đa cho hoạt động kinh doanh
Trang 35Với nguồn vốn lớn mạnh như trên, Chi nhánh Hà Nội đã hoàn toàn tạođược thế chủ động trong đầu tư tín dụng cho các tổ chức và cá nhân trên địabàn, đồng thời đã đáp ứng vốn cho toàn hệ thống tăng trưởng và phát triển, vàquan trọng là đã khẳng định được vị thế của Ngân hàng phát triển nhà đồngbằng sông Cửu Long Hà Nội trên thị trường Thủ đô Hà Nội và khẳng địnhđược hiệu quả hoạt động của Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông CửuLong khi mở hoạt động ra phía Bắc.
MHB Chi nhánh Hà Nội đã rất tích cực trong việc tìm kiếm, đa dạngcác nguồn huy động cụ thể: nguồn huy động vốn chủ yếu của ngân hàng tậptrung phần lớn vào khối các doanh nghiệp các tổ chức kinh tế Trong 3 năm từ
2003 đến 2005, lượng vốn huy động từ thành phần này luôn chiếm tỷ trọngcao (trên 60%)
Bảng 1: Cơ cấu nguồn vốn của MHB Hà Nội
Đơn vị: %
2003
Năm 2004
Năm 2005
Vốn huy động từ các tầng lớp dân cư 35,91 35,79 34,94Vốn huy động từ các TCKT+
KB+TC
30,72 30,96 30,69
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh 2003 – 2005
Trong thời gian qua, nhằm đẩy mạnh công tác huy động vốn, songsong với hoạt động nguồn vốn trên thị trường II, Chi nhánh đã tích cực pháttriển thị trường dân cư và doanh nghiệp bằng cách nghiên cứu thị trường,nắm bắt được nhu cầu mong muốn của khách hàng Từ đó đưa ra những sảnphẩm huy động vốn phù hợp, linh hoạt trong chính sách lãi suất, thực hiệnnhiều chương trình khuyến mại hấp dẫn kết hợp với việc không ngừng hoànthiện văn minh giao dịch Kết quả, nguồn vốn từ thị trường này đã tăngtrưởng vượt bậc với tốc độ tăng trưởng đạt tới con số nghìn % Tuy nhiên, tỷ
Trang 36lệ vốn huy động thị trường I còn rất nhỏ so với tổng nguồn vốn, tính đến30/9/2006 vốn huy động thị trường I đạt gần 410 tỷ đồng, tăng 154 tỷ đồng sovới 30/9/2005, chiếm 12% tổng nguồn vốn.
Nguồn huy động của ngân hàng được mở rộng với nhiều hình thức huyđộng đa dạng, linh hoạt nhằm thu hút được một lượng tiền gửi lớn: tiền gửitiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng,
12 tháng…., các loại hình sản phẩm tiết kiệm đa dạng như tiết kiệm phú lộc,tiết kiệm lãi suất ưu đãi dành cho người cao tuổi, ngoài ra ngân hàng còn huyđộng vốn bằng hình thức phát hành các loại kỳ phiếu, trái phiếu…
2.1.2.2 Về hoạt động sử dụng vốn
Về hoạt động cho vay:
Dư nợ năm 2004 tăng trưởng nhanh so với cuối năm 2003, tăng 14,5lần, không có dư nợ quá hạn, 100% dư nợ lành mạnh Quán triệt ý kiến chỉđạo của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, của Hội đồng quản trị Ngân hàngphát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long về việc không được tăng trưởng
"nóng" hoạt động tín dụng, trong năm 2004, Chi nhánh Hà Nội đã rất thậntrọng trong việc đầu tư vốn, đề ra chiến lược khách hàng phù hợp, ưu tiên đốitượng khách hàng có tài sản thế chấp, bảo đảm tiền vay Với thế mạnh là ngânhàng thương mại Nhà nước chuyên sâu trong lĩnh vực cho vay phát triển nhà
ở, cơ sở hạ tầng, Chi nhánh Hà Nội đã chú trọng tiếp cận, đầu tư các dự ánxây dựng đô thị mới, khu chung cư, cho vay các hộ dân xây nhà, mua nhà,sửa chữa nhà Trong năm 2004, Chi nhánh đã đầu tư hỗ trợ cho gần 100 hộdân xây mới, sửa chữa khoảng 10.000m2 nhà ở, đóng góp tích cực cho chươngtrình phát triển nhà ở đến năm 2010 của UBND TP Hà Nội
Khách hàng đến vay vốn ở ngân hàng luôn được tạo điều kiện tốt nhấttrong khả năng của ngân hàng Khách hàng đựơc hướng dẫn tỉ mỉ và cụ thể vềthủ tục, công tác kiểm tra được tiến hành chặt chẽ và nhanh chóng
Trang 37Đầu tư và cho vay là hoạt động đem lại thu nhập cho chính ngân hàng.Nắm bắt được điều này, MHB chi nhánh Hà Nội hết sức quan tâm đến hoạtđộng sử dụng vốn, đến chất lượng tín dụng với mục tiêu đặt ra là tăng trưởngtrong ổn định, đảm bảo an toàn vốn tín dụng, không phát sinh nợ xấu… dovậy công tác đầu tư và cho vay của MHB Chi nhánh Hà Nội đã đạt được nhữngthành công đáng kể Dưới đây là bảng thống kê hoạt động đầu tư và cho vay củaMHB Chi nhánh Hà Nội.
Bảng 2: Tình hình cho vay tại MHB Hà Nội năm 2004- 2006
n v : Tri u ngĐơn vị: Triệu đồng ị: Triệu đồng ệu đồng đồng
Năm Kế hoạch năm Thực hiện trong năm Tỷ lệ % so với KH
Nguồn: Phòng kinh doanh MHB Chi nhánh Hà Nội
Dư nợ của chi nhánh trong 4 năm qua tăng khá nhanh cụ thể:
Năm 2003 MHB Hà Nội khai trương đi vào hoạt động, tổng dư nợ củachi nhánh chỉ đạt 3.409,30 triệu đồng Chi nhánh đã áp dụng nhiều biện pháptìm kiếm khách hàng, tăng trởng dư nợ như liên hệ với Chi cục Thuế, vớiUBND các quận trên địa bàn để sàng lọc, lựa chọn và tiếp thị khách hàngtiềm năng; đánh giá chất lượng hoàn thành công việc xếp lương kinh doanhtrên cơ sở mức độ hoàn thành chỉ tiêu dư nợ được giao hàng tháng của từngđơn vị, cá nhân; thường xuyên phát động thi đua Kết quả sang năm 2004,tổng dư nợ tín dụng của chi nhánh đạt 53.070 triệu đồng, tăng 49.660,7 triệuđồng (tốc độ tăng trưởng đạt 93.57%) trong đó cho vay xây dựng và phục vụnhà ở chiếm 26,4% Năm 2005 tổng dư nợ tín dụng của chi nhánh đạt 75.715triệu đồng, tăng 22.645 triệu đồng so với năm 2004 (tốc độ tăng trưởng đạt30%), trong đó cho vay xây dựng và phục vụ nhà ở cũng chiếm tyr trọng khálớn: 48% Đến năm 2006 dư nợ tổng dư nợ đạt 285.548 triệu đồng tăng277,135% so với năm 2005, đạt 143% kế hoạch Hội sở MHB giao
Trang 38Từ tháng 4/2004, Chi nhánh được Tổng giám đốc cho phép thực hiện một
số nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, hiện Chi nhánh đã triển khai tốt hoạt độngnày tại tất cả các điểm giao dịch Riêng tại trụ sở Chi nhánh đã tham gia giaodịch mua bán ngoại tệ trên thị trường liên Ngân hàng, bước đầu đạt được một
số kết quả nhất định, giúp Chi nhánh tăng trưởng tín dụng và dịch vụ ngânhàng
Bảng 3: Doanh số kinh doanh ngoại tệ tại MHB Hà Nội năm 2004- 2006
Đơn vị: triệu USD
Nguồn: Phòng kinh doanh MHB Chi nhánh Hà Nội
Tuy là một chi nhánh mới thành lập, song với sự hỗ trợ của Hội sở,MHB Hà Nội đã đạt được nhiều thành công trong việc mua bán ngoại tệ nhất
là trong năm 2006, có sự tăng trưởng vượt bậc với doanh số mua vào tăng1.444 % so với năm 2005, doanh số bán ra tăng 1.406% so với năm 2005
Về công tác thanh toán và ngân quỹ:
Năm 2004, tổng doanh số thanh toán đạt: 8.500 tỷ đồng, năm 2005, con
số này là: 10.500 tỷ đồng Hoạt động thu chi tiền mặt luôn đảm bảo kịp thời,
an toàn, chính xác, không để xảy ra tình trạng mất mát hoặc để khách hàngphàn nàn Hệ thống sổ sách, báo cáo, quy trình ra vào kho tiền luôn tuân thủnghiêm ngặt quy tắc, chế độ Cán bộ thủ quỹ, kiểm ngân luôn nêu cao và pháthuy tính trung thực, liêm khiết, nhiều lần trả lại tiền thừa cho khách hàng,phong cách giao dịch văn minh lịch sự, tận tình chu đáo, "vui lòng khách đến,vừa lòng khách đi", góp phần tạo lập niềm tin của khách hàng đối với Ngânhàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long Chi nhánh chú trọng việc pháttriển cả về chất và lượng các dịch vụ thanh toán, tham gia hệ thống thanh toánđiện tử liên Ngân hàng thực hiện chuyển tiền nhanh thông qua WesternUnion, thanh toán Master card…
Trang 392.2 Thực trạng hoạt động tín dụng tại MHB Hà Nội
2.2.1 Cơ sở pháp lý cho hoạt động tín dụng tại MHB Hà Nội
2.2.1.1 Quy trình tín dụng tại MHB Hà Nội
- Phỏng vấn về khoản vay:
Khi có khách hàng đến vay vốn, cán bộ tín dụng khách hàng(CBTDKH) phụ trách phỏng vấn Nội dung phỏng vấn gồm: tính pháp lý, tìnhhình hoạt động sản xuất kinh doanh, chiến lược kinh doanh, tình hình tàichính, trình độ chuyên môn quản lý, uy tín của khách hàng đối với ngân hàng,trong quan hệ kinh doanh, mục đích khoản vay, lãi, gốc, tài sản đảm bảo, cáchthức trả nợ,…
- Hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn, kiểm tra và tiếp nhận hồsơ: CBTDKH chịu trách nhiệm tư vấn, hướng dẫn khách hàng hoàn thành cácthủ tục và hoàn thiện hồ sơ vay vốn phù hợp với quy định của ngân hàng
- Thẩm định hồ sơ vay vốn:
Công việc thẩm định hồ sơ vay vốn thuộc thẩm quyền của cán bộ thẩmđịnh và được thực hiện trong 3 ngày cới vay ngắn hạn và 5 ngày với vay trung
và dài hạn Cán bộ thẩm định sẽ xem xét các điều kiện sau:
Điều kiện về tư cách pháp lý: tính pháp nhân của công ty, của Bangiám đốc, tính hợp pháp của dự án
Đánh giá về khả năng tiêu thụ của hàng hoá, dịch vụ của phương ánkinh doanh trong hiện tại và tương lai
Xác định các điều kiện tác động của mọi vấn đề liên quan có thể tácđộng đến việc triển khai phương án kinh doanh: kinh nghiệm của khách hàng
về lĩnh vực kinh doanh, lợi thế của yếu tố đầu vào, yếu tố đầu ra, các điềukiện khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến phương án kinh doanh,…
Xác định nhu cầu vay vốn và phương án trả nợ
Xác định lợi nhuận của phương án
Xác định thời gian thực hiện phương án