1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức dạy học một số kiến thức chương Cân bằng và chuyển động của vật rắn Vât lí 10 nhằm phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên của học sinh

106 28 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ chức dạy học một số kiến thức chương Cân bằng và chuyển động của vật rắn Vât lí 10 nhằm phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên của học sinh Tổ chức dạy học một số kiến thức chương Cân bằng và chuyển động của vật rắn Vât lí 10 nhằm phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên của học sinh luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

DƯƠNG THỊ THÙY TRANG

TỔ CHỨC DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “CÂN BẰNG

VÀ CHUYỂN ĐỘNG CỦA VẬT RẮN” - VẬT LÝ 10 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TÌM HIỂU TỰ NHIÊN CỦA HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thái Nguyên, tháng 09 năm 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

DƯƠNG THỊ THÙY TRANG

TỔ CHỨC DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “CÂN BẰNG

VÀ CHUYỂN ĐỘNG CỦA VẬT RẮN” - VẬT LÝ 10 NHẰM

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TÌM HIỂU TỰ NHIÊN CỦA HỌC SINH

Chuyên ngành: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN VẬT LÍ

Mã số : 8140111

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Ngọc Thắng

Thái Nguyên, tháng 09 năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là khách quan trung thực và chưa được các tác giả công bố trong bất kì công trình nào

Các trích dẫn về bảng biểu, kết quả nghiên cứu của các tác giả khác, các tài liệu tham khảo trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 9 năm 2020

Tác giả

Dương Thị Thùy Trang

XÁC NHẬN CỦA KHOA CHUYÊN MÔN

XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN

KHOA HỌC

TS Phạm Thị Ngọc Thắng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học môn Vật lí tại khoa Vật lí - Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình!

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Phạm Thị Ngọc Thắng, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành luận văn này Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban giám hiệu; các thầy cô trong Ban chủ nhiệm khoa; các thầy, cô giáo khoa Vật lí; Phòng quản

lý và Đào tạo sau đại học - Trường Đại học Sư Phạm - ĐH Thái Nguyên đã giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo và học sinh trường THPT Sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu thực nghiệm để hoàn thành luận văn

Xin cảm ơn bạn bè và những người thân đã động viên và nhiệt tình giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Trong quá trình hoàn thành luận văn, không thể không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy

cô giáo, các nhà khoa học, cùng bạn bè và đồng nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 9 năm 2020

Tác giả

Dương Thị Thùy Trang

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giả thuyết khoa học của đề tài 5

7 Cấu trúc luận văn 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TÌM HIỂU TỰ NHIÊN 6

1.1 Cơ sở lí luận của việc tổ chức dạy học phát triển năng lực 6

1.1.1 Khái niệm dạy học 6

1.1.2 Năng lực 7

1.1.3 Hệ thống năng lực 8

1.1.4 Dạy học phát triển năng lực 11

1.1.5 Đánh giá kết quả học tập của HS theo định hướng phát triển năng lực 13 1.2 Tổ chức dạy học theo các nhóm hoạt động 14

1.2.1 Hoạt động khởi động 15

1.2.2 Hoạt động hình thành kiến thức mới 16

1.2.3 Hoạt động luyện tập 16

1.2.4 Hoạt động vận dụng 17

Trang 6

1.2.5 Hoạt động tìm tòi mở rộng 17

1.3 Năng lực tìm hiểu tự nhiên 18

1.3.1 Khái niệm 18

1.3.2 Các biểu hiện hành vi của năng lực tìm hiểu tự nhiên trong môn Vật lí 19 1.3.3 Các biện pháp phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên (trong môn Vật lí) 21

1.4 Một số kĩ thuật dạy học tích cực 22

1.4.1 Kĩ thuật chia nhóm 22

1.4.2 Kĩ thuật giao nhiệm vụ 22

1.4.3 Kĩ thuật đặt câu hỏi 22

1.4.4 Kĩ thuật khăn trải bàn 22

1.4.5 Kĩ thuật phòng tranh 23

1.4.6 Kĩ thuật động não 23

1.4.7 Kĩ thuật “ Trình bày một phút” 23

1.4.8 Kỹ thuật Kipling (5W1H) (What, where, when, who, why, how) 24

1.4.9 Kỹ thuật tia chớp 24

1.5 Thực trạng dạy và học vật lí ở một số trường THPT tỉnh Thái Nguyên hiện nay 24

1.5.1 Mục đích điều tra 24

1.5.2 Đối tượng điều tra 24

1.5.3 Kết quả điều tra 24

1.5.4 Nhận xét về kết quả điều tra 25

2.1 Đặc điểm chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” 28

2.1.1 Vị trí, vai trò của chương 28

2.1.2 Cấu trúc chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” Vật lí 10 THPT 28

2.1.3 Mục tiêu dạy học của chương theo chuẩn kiến thức, kĩ năng 29

Bảng 2.1.Bảng chuẩn kiến thức kỹ năng của chương 29

“Cân bằng và chuyển động của vật rắn” 29

Trang 7

2.1.4 Những thuận lợi và khó khăn khăn khi dạy học chương “Cân bằng và

chuyển động của vật rắn” 32

2.1.5 Hướng khắc phục khi dạy và học chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” 33

2.2 Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” Vật lí 10 THPT 34

2.3 Xây dựng công cụ đánh giá 56

2.3.1 Các hình thức đánh giá 56

2.3.2 Các tiêu chí đánh giá 56

Bảng 2.1 Tiêu chí đánh giá năng lực tìm hiểu tự nhiên 56

Kết luận chương 2 65

CHƯƠNG 3 66

THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66

3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 66

3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm 66

3.3 Đối tượng của thực nghiệm sư phạm 66

3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 66

3.5 Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 67

3.5.1 Đánh giá định tính 67

3.5.2 Đánh giá định lượng 69

Kết luận chương 3 76

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77

1 Kết luận 77

2 Một số kiến nghị 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 80

Trang 9

v

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1.Bảng chuẩn kiến thức kỹ năng của chương 29

“Cân bằng và chuyển động của vật rắn” 29

Bảng 2.1 Tiêu chí đánh giá năng lực tìm hiểu tự nhiên 56

Bảng 3.1 Điểm đánh giá năng lực tìm hiểu tự nhiên của nhóm 69

Bảng 3.2 Bảng thống kê các điểm số kết quả bài kiểm tra 71

Bảng 3.3 Xử lí kết quả để tính các tham số 71

Bảng 3.4 Bảng giá trị các tham số đặc trưng 71

Bảng 3.5 Bảng phân phối tần suất (Wi%) số học sinh đạt điểm Xi 72

Bảng 3.6 Bảng phân phối tần suất (wi%) số học sinh Xi đạt điểm trở xuống 72 Bảng 3.7 Phân bố tần suất 72

Trang 10

vi

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cấu trúc chương trình của chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” 28 Hình 3.1 Phân bố tần suất 95 Hình 3.2 Phân bố tần suất tích lũy 95

Trang 11

có thể đào tạo được những người lao động có hiệu quả cao, đáp ứng được mục tiêu hiện đại hóa đất nước Cũng như trên toàn thế giới, mục đích giáo dục ở nước ta không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ cho học sinh những kiến thức,

kỹ năng mà loài người đã tích lũy được trước đây, mà còn đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng và phát triển các năng lực cho người học để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trang bị cho các thế hệ tương lai nền tảng văn hóa vững chắc và năng lực thích ứng cao trước mọi biến động của thiên nhiên và xã hội

Để có thể đạt được mục tiêu đó, ngành giáo dục và đào tạo phải thực hiện đổi mới đồng bộ về nhiều mặt Riêng về phương pháp và phương tiện dạy học, cần khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo cho người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh

Những định hướng chính của đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo

đã được nêu trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI: “Đổi mới căn

bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lí giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”; Trong

Nghị quyết số 29 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI yêu cầu: “Chuyển

mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” [5]

Trang 12

2

Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội về đổi mới chương trình sách

giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm: “Tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về

chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; Kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; Góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh”

Để thực hiện Nghị quyết số 29 và Nghị quyết số 88 của Đảng Bộ GD&ĐT

đã thực hiện các bước đi ban đầu của quá trình cải cách giáo dục Hiện nay, chương trình giáo dục phổ thông chuẩn bị được ban hành Điểm thay đổi lớn nhất trong mục tiêu cải cách giáo dục lần này là phải đào tạo mỗi người học vừa thành con người xã hội, vừa thành con người cá nhân Tổng hòa cả hai mục tiêu này sẽ là phẩm chất, năng lực học sinh cần đạt được Chương trình sách giáo khoa hiện hành chú trọng đến việc trang bị kiến thức cho học sinh Chương trình

và sách giáo khoa mới hướng tới việc thông qua dạy kiến thức khoa học cụ thể

mà hình thành và phát triển năng lực phẩm chất cho học sinh Điều này được thực hiện thông qua việc đổi mới mạnh mẽ về PPDH

Ngày 22/12/2017, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 33/2017/BGDĐT,

Quy định Tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, chỉnh sửa sách giáo khoa ; tiêu chuẩn

tổ chức, cá nhân biên soạn sách giáo khoa ; tổ chức và hoạt động của Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa ; trong đó quy định “Cấu trúc bài học trong

sách giáo khoa bao gồm các thành phần cơ bản sau: mở đầu, kiến thức mới, luyện tập, vận dụng” Như vậy, sách giáo khoa viết theo chương trình mới sẽ thiết kế nội dung bài học theo hướng đó Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, chúng tôi mạnh dạn áp dụng quan điểm này vào dạy học một số bài học ở Trung học phổ thông, với tư tưởng chủ đạo là đưa hoạt động dạy học trong nhà trường theo 4 bước như trên Điều này hướng tới thực hiện các mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông mới

Nghiên cứu chương trình THPT môn Vật l lớp 10 tôi nhận thấy, chương

“Cân bằng và chuyển động của vật rắn” là một chương có kiến thức gắn liền

Trang 13

3

với các hiện tượng vật l trong cuộc sống tự nhiên thông qua các hiện tượng như vật rắn quay xung quanh một trục cố định, cân bằng của vật rắn chịu tác dụng của hai lực và ba lực không song song… Khi nắm bắt được bản chất hiện tượng, học sinh có thể dễ dàng trả lời các câu hỏi: Vì sao diễn viên xiếc khi đi trên dây hai tay cầm một cây sào dài? Hay tại sao khi gập khuỷu tay ta có thể nâng được vật nặng hơn so với trường hợp duỗi thẳng tay theo phương ngang?

Vì sao bị vấp phải hòn đá thì bị ngã nhào về phía trước nhưng nếu giẫm phải

vỏ chuối thì lại bị ngã ngửa ra đằng sau Khi học sinh học tập phần này, mang lại cơ hội phát triển ở học sinh trí tưởng tượng phong phú , khả năng phát hiện

và giải quyết vấn đề, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn Tuy nhiên học sinh vẫn gặp khó khăn trong việc chiếm lĩnh tri thức và rèn luyện

kỹ năng tương ứng do là giáo viên gặp khó khăn nhất định trong việc tổ chức các hoạt động dạy học đáp ứng các yêu cầu của mục tiêu giáo dục

Xuất phát từ những lí do đó, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu là: Tổ chức dạy học một số kiến thức chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” - Vật lý 10 nhằm phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên của học sinh

2 Mục đích nghiên cứu

Tổ chức các nhóm hoạt động dạy học (mở đầu, kiến thức mới, luyện tập, vận dụng) kiến thức vật lý qua các bài học ở chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” Vật lý 10, góp phần phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên cho học sinh

3 Đối tượng nghiên cứu

- HS lớp 10 THPT (tại một số trường của tỉnh Thái Nguyên).- Hệ thống kiến thức Chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” Vật lý 10 Tổ chức dạy học theo các nhóm hoạt động dạy học (mở đầu, kiến thức mới, luyện tập, vận dụng)

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi sử dụng phối hợp các phương pháp:

4.1 Nghiên cứu tài liệu:

Trang 14

4

+ Nghiên cứu các tài liệu về lý luận dạy học vật lý ở trường THPT, cách tổ

chức hoạt động dạy học ở trường THPT

+ Nghiên cứu về năng lực tìm hiểu tự nhiên và các biểu hiện của nó

+ Nghiên cứu các văn bản pháp luật liên quan về đổi mới giáo dục

+ Nghiên cứu kiến thức chương Cân bằng và chuyển động của vật rắn” - Vật lý 10

4.2 Điều tra khảo sát thực tế

Điều tra thực trạng dạy - học theo các KTDH tích cực ở trường một số

trường THPT tỉnh Thái Nguyên nhằm giúp cho việc thu thập thông tin, phân tích tổng hợp để nhận xét đánh giá

4.3 Thực nghiệm sư phạm

Thực hiện trên lớp thực nghiệm nhằm so sánh kết quả với lớp đối chứng,

kiểm tra tính đúng đắn của đề tài từ đó rút ra kết luận của đề tài

4.4 Thống kê toán học

Được sử dụng trong quá trình xử lý các số liệu thực nghiệm

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Điều tra thực trạng dạy - học theo các KTDH tích cực ở 1 số trường

THPT tỉnh Thái Nguyên

5.2 Nghiên cứu mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ của các bài học

trong Chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” vật lí 10 để xây dựng tài liệu hướng dẫn học tập

5.3 Nghiên cứu về các KTDH tích cực như: học nhóm, giao nhiệm vụ học

và quan sát để hỗ trợ học sinh tự học, đọc tích cực, khăn trải bàn

5.4 Đề xuất tiến trình bài học được thiết kế thành các hoạt động học theo

tiến trình sư phạm của các KTDH tích cực

5.5 Thực nghiệm sư phạm tại trường THPT để xem xét hiệu quả của việc

áp dụng tiến trình bài học đã thiết kế

Trang 15

5

6 Giả thuyết khoa học của đề tài

Nếu tổ chức dạy học các kiến thức trong chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” - Vật lí 10 theo các nhóm hoạt động (mở đầu, kiến thức mới, luyện tập, vận dụng) thì sẽ góp phần hình thành và phát triển cho học sinh năng lực tìm hiểu tự nhiên Học sinh được tạo điều kiện để suy nghĩ nhiều hơn, làm việc nhiều hơn và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cũng linh hoạt hơn, góp phần nâng cao được chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục

7 Cấu trúc luận văn

Với mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu như trên ch ng tôi cấu trúc luận văn như sau:

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ

CHỨC DẠY HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TÌM HIỂU

TỰ NHIÊN CỦA HỌC SINH

CHƯƠNG II: VẬN DỤNG CÁC KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC THIẾT KẾ BÀI GIẢNG CHƯƠNG “ CÂN BẰNG VÀ CHUYỂN ĐỘNG CỦA VẬT RẮN”

CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TÌM HIỂU TỰ NHIÊN

1.1 Cơ sở lí luận của việc tổ chức dạy học phát triển năng lực

1.1.1 Khái niệm dạy học

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu giáo dục: “Dạy học là toàn bộ các

thao tác có mục đích nhằm chuyển các giá tr-ị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hóa mà nhân loại hoặc cộng đồng đã đạt được vào bên trong một con người”

Quan niệm này lí giải đầy đủ cách mà nền giáo dục đang cố gắng đào tạo những con người thích ứng với những nhu cầu hiện tại của xã hội Tuy nhiên quan niệm này làm cho nền giáo dục luôn đi sau sự phát triển của xã hội Bởi vì

nó chỉ có nhiệm vụ tái hiện lại các giá trị tinh thần xã hội đã được vật chất hóa bằng cách nào đó để trở lại thành giá trị tinh thần bên trong người học

Một số quan điểm khác dựa trên sự phát triển, nhất là phát triển về khoa học

và công nghệ cho rằng: “Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có

tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kĩ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các vấn đề thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học một các sáng tạo và hiệu quả”

Bản thân tôi (là một người dạy học) tôi lại thích quan điểm này hơn bởi nó cho chúng ta thấy: Ngoài nhiệm vụ tái hiện lại các giá trị mà nhân loại và cộng đồng đạt được nó còn có nhiệm vụ giúp người học phát triển năng lực để giải quyết các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống một cách sáng tạo và hiệu quả Từ quan điểm này cho chúng ta thấy dạy học luôn gắn liền với thực tiễn và đi cùng

sự phát triển của xã hội

Từ hai quan điểm trên chúng ta có thể thấy rằng để đưa ra một khái niệm tổng quát và chính xác nhất về dạy học không phải là một việc đơn giản Vậy

Trang 17

chúng ta có thể hiểu khái quát như sau: “Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ

các thao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước hình thành các năng lực cần thiết nhằm giải quyết các vấn đề thực tế đặt ra trong cuộc sống của mỗi người học một cách sáng tạo và hiệu quả”

1.1.2 Năng lực

1.1.2.1 Khái niệm năng lực

Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc La tinh “competentia”, có nghĩa là “gặp gỡ” Ngày nay khái niệm năng lực được tìm hiểu nhiều nghĩa khác nhau

Khái niệm về năng lực đã được rất nhiều chuyên gia trong các lĩnh vực xã hội học, giáo dục học, triết học, tâm lý học, kinh tế học trong và ngoài nước đề cập đến Tại Hội nghị chuyên đề về những năng lực cơ bản của Hội đồng châu

Âu, sau khi phân tích nhiều định nghĩa về năng lực, F.E.Weinert kết luận: “Xuyên

suốt các môn học “năng lực được thể hiện như một hệ thống khả năng, sự thành thạo những kĩ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể” Cũng tại diễn đàn này, J.Coolahan cho rằng: “Năng lực được xem như là “những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáo dục”

F.E Weinert cho rằng:“Năng lực là những khả năng và kỹ xảo học được

hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội…và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [8]

Theo Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2011): “Năng lực là khả năng thực

hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” [1]

Trang 18

Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới của Bộ Giáo dục và

Đào tạo đã xác định: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát

triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [2]

Như vậy, có thể hiểu năng lực là khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh hoạt, tổ chức hợp lí các kiến thức, kỹ năng thái độ, động cơ nhằm giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống hoặc đáp ứng những yêu cầu của một hoạt động, đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả tốt nhất trong một bối cảnh nhất định

1.1.2.2 Năng lực của học sinh phổ thông

Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, năng lực của học sinh được hiểu như sau: “Năng lực của học sinh phổ thông đó là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng cơ bản với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định [4]

Năng lực của HS là một cấu trúc động (trừu tượng), có tính mở, đa thành

tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kĩ năng, mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội… thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của HS trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội

Tóm lại, năng lực của HS phổ thông là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ… phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính HS trong cuộc sống

1.1.3 Hệ thống năng lực

Trong chương trình thiết kế theo hướng tiếp cận năng lực của các nước có thể thấy hai loại chính: Năng lực chung (general completence) và năng lực cụ thể, chuyên biệt (specific competence)

Trang 19

Năng lực chung (general competence) là năng lực cơ bản thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội, năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học, do đó có nơi

nó còn được gọi là năng lực xuyên chương trình (cross -curricular competencies) Ngay năng lực chung cũng chia làm 3 phạm trù rộng, có sự giao thoa với nhau: + Năng lực sử dụng các công cụ tương tác hiệu quả với môi trường ví dụ năng lực sử dụng công nghệ thông tin

+ Năng lực hoạt động tương tác trong các nhóm phức hợp

+ Năng lực hoạt động một cách tự chủ

Năng lực riêng (specific competence) là năng lực cụ thể, chuyên biệt, được hình thành và phát triển do một lĩnh vực/môn học nào đó vì thế chương trình Qúebec gọi là năng lực môn học cụ thể để phân biệt với năng lực xuyên chương trình - năng lực chung

Cũng trong lĩnh vực giáo dục, khi tiến hành xây dựng chương trình và đánh giá chất lượng đào tạo theo quan điểm tiếp cận kết quả đầu ra, các nhà nghiên cứu và quản lý giáo dục cũng đã đề cập và tiến hành phân loại năng lực Theo hướng này Deborah Nusche (thuộc OECD) đã chia năng lực thành: năng lực nhận thức và năng lực phi nhận thức Trong đó:

- Năng lực nhận thức bao gồm những kiến thức liên quan đến từng lĩnh vực nghề nghiệp chuyên biệt và những kĩ năng lập luận và giải quyết vấn đề Cũng theo Nusche, hiện đang tồn tại nhiều hệ thống phân loại năng lực nhận thức Các

hệ thống phân loại này đa số dựa trên thang mục tiêu giáo dục của Bloom, trong

đó nêu một khung các kết quả của việc giáo dục, từ những kiến thức và hiểu biết

về thế giới đến những kỹ năng học thuật như ứng dụng, tổng hợp, phân tích và đánh giá

- Năng lực phi nhận thức là những thay đổi về niềm tin hoặc sự phát triển các giá trị Năng lực phi nhận thức có thể được phát triển thông qua việc học tập

ở trên lớp cũng như những hoạt động ngoài lớp học do nhà trường tổ chức để bổ sung cho chương trình học Những hoạt động ngoại khóa hoặc đồng khóa (tức

Trang 20

những hoạt động bắt buộc song song với việc lên lớp nhưng diễn ra bên ngoài lớp học) như hướng dẫn, học nhóm, tư vấn, quan hệ trực tiếp giữa giảng viên và sinh viên, câu lạc bộ, hoạt động thể dục thể thao và những hoạt động khác cho thấy nhà trường coi trọng viêc phát triển những năng lực phi nhận thức để bổ sung cho việc học tập trên lớp học

Cùng với hướng tiếp cận kết quả đầu ra trong giáo dục UNESCO đã chia năng lực đầu ra thành 3 nhóm năng lực:

- Năng lực nhận thức: những năng lực này đóng góp vào mục tiêu phát triển kiến thức cá nhân, đồng thời cũng là những yếu tố hỗ trợ giúp ta áp dụng thành công những kiến thức sẵn có

- Năng lực thái độ: Đó là các hành động, giá trị và chuẩn mực nhằm chỉ ra hoặc tạo ra hiệu suất cao, đồng thời cũng cho thấy các loại kiến thức khác nhau

đã được người học phát triển một cách hữu hiệu như thế nào

- Năng lực nghề nghiệp: Kiến thức chuyên biệt về các nguồn thông tin, khả năng tiếp cận, công nghệ, dịch vụ, quản lý cùng khả năng đánh giá có phê phán một cách hiệu quả, chọn lọc và sử dụng kiến thức này để hoàn thành những công việc cụ thể và đạt đến những kết quả mong muốn

Mặc dù quan điểm tiếp cận vấn đề khác nhau, trong những phạm vi không giống nhau nhưng nhìn chung các cách thức phân loại nêu trên đều chú trọng tới các năng lực nghề nghiệp đặc thù mà mỗi người cần có để lao động trong một lĩnh vực ngành, nghề nào đó, bên cạnh những năng lực chung mà xã hội đòi hỏi

ở mỗi cá nhân Việc phân loại năng lực thành năng lực riêng không chỉ có cơ sở triết học, giáo dục học, tâm lí học mà còn phù hợp với thực tiễn cuộc sống của con người Đây cũng là một trong những cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo về năng lực [7]

Ở Việt Nam, Chương trình phổ thông tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo

có nêu lên 5 phẩm chất chủ yếu cần hình thành, phát triển ở HS và 10 năng lực cốt lõi (những năng lực mà ai cũng cần có để sống và làm việc trong xã hội hiện đại) gồm:

Trang 21

Những năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

Những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học, hoạt động giáo dục nhất định: Năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất

Để đạt được mục tiêu về “chân dung” mới của người học, chương trình áp dụng đổi mới ngay từ phương pháp dạy và học Trong đó, giáo viên đóng vai trò

tổ chức, hướng dẫn, tạo môi trường học tập thân thiện cho HS “Trên cơ sở đó, các em tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, nguyện vọng của bản thân Các em được rèn luyện thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng, kiến thức, kỹ năng đã tích lũy được để phát triển”, theo GS Nguyễn Minh Thuyết [6]

Trên cơ sở năng lực chung và năng lực chuyên môn, trong dạy học Vật lí giáo viên cần chú ý rèn luyện cho HS những năng lực sau:

- Năng lực tìm hiểu tự nhiên

- Năng lực giải quyết vấn đề

- Năng lực tư duy, đặc biệt là tư duy vật lí

- Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông

- Năng lực sử dụng ngôn ngữ, thuật ngữ và kí hiệu vật lí

- Năng lực tính toán

- Năng lực thực hành vật lí

- Năng lực vận dụng

1.1.4 Dạy học phát triển năng lực

Dạy học phát triển năng lực là quá trình thiết kế, tổ chức và phối hợp giữa hoạt động dạy và hoạt động học, tập trung vào kết quả đầu ra của quá trình này Trong đó nhấn mạnh người học cần đạt được các mức năng lực như thế nào sau khi kết thúc một giai đoạn (hay một quá trình) dạy học

Trang 22

Đặc điểm quan trọng nhất của dạy học phát triển năng lực là xác định và đo lường được “năng lực” đầu ra của HS, dựa trên mức độ làm chủ kiến thức, kỹ năng và thái độ của HS trong quá trình học tập

Đặc điểm về mục tiêu: Chú trọng hình thành phẩm chất và năng lực thông qua việc hình thành kiến thức, kỹ năng; mục tiêu dạy học được mô tả chi tiết và

có thể đo lường và đánh giá được Dạy học để biết cách làm việc và giải quyết vấn đề

Đặc điểm về nội dung dạy học: Nội dung được lựa chọn nhằm đạt được các mục tiêu năng lực đầu ra Chú trọng các kỹ năng thực hành, vận dụng vào thực tiễn Nội dung chương trình dạy học có tính mở tạo điều kiện để người dạy và người học dễ cập nhật tri thức mới

Đặc điểm về đánh giá: Tiêu chí đánh giá dựa vào kết quả “đầu ra”, quan tâm tới sự tiến bộ của người học Chú trọng khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn Ngoài ra một đặc điểm quan trọng đánh giá đó là: người học được tham gia vào quá trình đánh giá, nâng cao năng lực phản biện, một phẩm chất quan trọng của con người thời kì hiện đại

Trang 23

Đặc điểm về sản phẩm giáo dục:

- Tri thức người học có được là khả năng áp dụng vào thực tiễn

- Phát huy khả năng tự tìm tòi, khám phá và ứng dụng nên người học không

bị phụ thuộc vào tài liệu,

- Người học trở thành những con người tự tin năng động và có năng lực

1.1.5 Đánh giá kết quả học tập của HS theo định hướng phát triển năng lực

1.1.5.2 Phương pháp đánh giá năng lực

Trong đánh giá thành tích học tập của HS không chỉ đánh giá kết quả mà còn chú ý cả quá trình học tập, tập trung đánh giá năng lực hành động, vận dụng thực tiễn,…

Sử dụng phối hợp các loại phương pháp và công cụ đánh giá như quan sát, thực hành, viết báo cáo, trình bày, làm bộ sưu tập, bài kiểm tra viết,… Cần quan tâm đánh giá các kĩ năng quan sát, tiến hành thí nghiệm, giải thích, vận dụng trong thực tiễn,…, các kĩ năng làm việc hợp tác, thái độ học tập (trung thực, tích cực, tự học,…) của HS Tạo điều kiện để HS tự đánh giá kết quả học tập của mình và để các HS đánh giá kết quả học tập lẫn nhau

Các phương pháp phải chú trọng đánh giá việc sử dụng kiến thức ở mức độ

tư duy bậc cao, chuyển hóa, sáng tạo kiến thức, vận dụng kiến thức và sáng tạo trong thực hành

Thực hành đánh giá năng lực là thực hiện tổng hợp những cách thức tiếp cận, khái niệm và đối tượng… vốn được coi là mâu thuẫn trong một hệ thống đánh giá:

- Định tính/định lượng

- Quá trình/tổng kết

Trang 24

- Quá trình/sản phẩm

- Phương pháp truyền thống/hiện đại

- Nhiều khung tham chiếu (tiêu chí, tiêu chuẩn tương đối, tiêu chuẩn, sản phẩm đầu ra…)

Tóm lại, đánh giá kết quả học tập của HS theo định hướng phát triển năng lực sẽ giúp các em nhận biết được những mặt mạnh, cải thiện được những mặt hạn chế, nhận ra sự tiến bộ cũng như thể hiện được khả năng của bản thân; khuyến khích, tạo hứng thú động cơ học tập không gây căng thẳng cho HS

1.2 Tổ chức dạy học theo các nhóm hoạt động

Nghị quyết Trung ương số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 và Nghị quyết Quốc hội số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 đã yêu cầu chuyển mạnh quá trình giáo dục từ tập trung trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực người học Nhằm đáp ứng yêu cầu đó, chương trình giáo dục phổ thông mới phải được thiết kế và thực hiện trên cơ sở đổi mới đồng bộ các thành tố của quá trình dạy học: mục tiêu, nội dung, phương pháp, đánh giá, tổ chức-quản lí, cơ sở vật chất Trong đó, mục tiêu, nội dung, PPDH và hoạt động đánh giá HS trong quá trình dạy học là những thành tố liên quan trực tiếp nhất đến chức năng và nhiệm vụ của GV

Dạy học theo các nhóm hoạt động là dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, từ đó giúp HS tự khám phá những điều chưa biết chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn Theo tinh thần này, GV không cung cấp, áp đặt kiến thức có sẵn mà là người tổ chức và chỉ đạo

HS tiến hành các hoạt động học tập như nhớ lại kiến thức cũ, phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn

Để phát triển được năng lực tìm hiểu tự nhiên cho HS, mỗi chuyên đề, mỗi bài học nên được thiết kế và tổ chức theo các hoạt động cơ bản sau đây:

- Hoạt động khởi động

- Hoạt động hình thành kiến thức mới

Trang 25

1.2.1 Hoạt động khởi động

Mục đích của hoạt động là tạo tâm lí vui vẻ, mối liên tưởng kiến thức; kích thích tính tò mò, tạo tình huống có vấn đề, xác định nhiệm vụ học tập, định hướng vào bài học mới

Nội dung, phương thức hoạt động học chủ yếu là HS sẽ tham gia trò chơi, trả lời câu hỏi, nhận xét, dự đoán… Sản phẩm học tập chủ yếu của hoạt động này sẽ là giả thuyết câu hỏi nhận thức, suy đoán dự kiến kế hoạch học bài mới…

Trong hoạt động này, GV cần hướng dẫn tiến trình khởi động của HS thông qua hoạt động cá nhân hoặc nhóm được tổ chức linh hoạt sao cho vừa giúp các

Trang 26

em huy động kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm của bản thân, vừa xây dựng được

ý thức hợp tác, tinh thần học tập lẫn nhau trong HS Việc trao đổi với GV có thể thực hiện sau khi đã kết thúc hoạt động nhóm

1.2.2 Hoạt động hình thành kiến thức mới

Hoạt động này giúp HS hình thành kiến thức mới, tìm hiểu nội dung kiến thức của chủ đề, rèn luyện và phát triển kĩ năng

Nội dung, phương thức hoạt động học chủ yếu là HS có thể học theo SGK,

sử dụng tư liệu dạy học; thay đổi những quan niệm sai, bổ sung những quan niệm chưa đầy đủ, lập luận, giải thích các khái niệm khoa học… GV có thể đặt các loại câu hỏi để HS tìm hiểu kiến thức liên quan trực tiếp đến các nội dung trong chủ đề hoặc câu hỏi sáng tạo khuyến khích các em tìm hiểu thêm kiến thức liên quan ngoài nội dung trình bày trong chủ đề

Kết thúc hoạt động này, trên cơ sở kết quả hoạt động của HS thể hiện ở các sản phẩm học tập mà HS hoàn thành, HS sẽ thu được kiến thức mới: khái niệm, công thức, đặc điểm của đối tượng nghiên cứu GV cần chốt kiến thức mới để

HS chính thức ghi nhớ và vận dụng

1.2.3 Hoạt động luyện tập

Mục đích của hoạt động này là yêu cầu HS phải vận dụng những kiến thức vừa tiếp thu được ở hoạt động hình thành kiến thức mới để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể, qua đó GV đánh giá xem HS đã tiếp thu được kiến thức hay chưa và tiếp thu được ở mức độ nào Ngoài ra hoạt động này còn chính xác hóa kiến thức, chuyển kiến thức thành tri thức, siêu nhận thức

Trong hoạt động này, HS sẽ thực hành vận dụng kiến thức: làm theo yêu cầu của SGK, trả lời câu hỏi/bài tập/tình huống về nhận thức và siêu nhận thức… Hoạt động luyện tập có thể thực hiện cá nhân rồi qua đến hoạt động nhóm để HS học tập lẫn nhau, tự sửa lỗi cho nhau, giúp quá trình học tập hiệu quả hơn Kết thúc hoạt động này, nếu cần, giáo viên cần giúp HS lĩnh hội cả về tri thức lẫn phương pháp, biết cách thức giải quyết vấn đề đặt ra trong hoạt động khởi động

Sản phẩm học tập chủ yếu của hoạt động này là các kiến thức, kĩ năng đã được chính xác hóa, được kết nối, phát triển mở rộng qua các câu trả lời, lời giải

Trang 27

cho các câu hỏi, bài tập định hướng vận dụng giải quyết các vấn đề về nhận thức

và thực tiễn

1.2.4 Hoạt động vận dụng

Hoạt động này nhằm củng cố kiến thức, kĩ năng; tăng cường ý thức và năng lực vận dụng kiến thức, tạo cơ hội cho HS vận dụng những kiến thức, kĩ năng, thể hiện giá trị đã được học vào trong cuộc sống thực tiễn ở gia định, nhà trường

Sản phẩm học tập chủ yếu của hoạt động này là câu trả lời, bài giải, sản phẩm thực hành, thủ công, bài viết, bài trình chiếu, phản ánh kết quả vận dụng kiến thức kĩ năng đã lĩnh hội

1.2.5 Hoạt động tìm tòi mở rộng

Mục đích của hoạt động này nhằm tăng cường ý thức tìm hiểu, ứng dụng kiến thức, năng lực nghiên cứu, sáng tạo; hiểu giá trị của việc học tập suốt đời, ngoài những kiến thức được học trong nhà trường còn rất nhiều điều có thể và cần phải tiếp tục học

Để tham gia hoạt động này, HS cần nghiên cứu thêm tài liệu ngoài SGK, làm bài tập nghiên cứu, hoạt động trải nghiệm theo yêu cầu của SGK; tự đưa ra tình huống bài tập và tự giải quyết GV giao cho HS những nhiệm vụ nhằm bổ sung kiến thức và hướng dẫn HS cách tìm những nguồn tài liệu khác, cung cấp cho HS nguồn sách tham khảo, nguồi tài liệu trên mạng… Phương thức hoạt động là làm việc cá nhân hoặc theo nhóm, chủ yếu làm ở nhà, GV cần quan tâm, động viên để có thể thu hút nhiều HS tham gia một cách tự nguyện, tích cực, hào hứng

Sản phẩm học tập chủ yếu của hoạt động này có thể là tư liệu sưu tầm, bản báo cáo, sản phẩm nghiên cứu khoa học

Trang 28

Quy trình 5 bước hoạt động nêu trên không cứng nhắc mà có thể được thiết

kế và thực hiện linh hoạt, mềm dẻo Trong một số trường hợp, các hoạt động có thể kết hợp với nhau hoặc bớt đi một, hai hoạt động tùy thep đặc trưng của từng lĩnh vực giáo dục, của từng chủ đề/bài học

1.3 Năng lực tìm hiểu tự nhiên

- Kiến thức khoa học của một cá nhân và khả năng sử dụng kiến thức khoa học đó để nhận biết các câu hỏi, tiếp thu kiến thức mới, giải thích các hiện tượng khoa học và rút ra các kết luận có vấn đề;

- Khả năng nhận dạng vấn đề và khả năng rút ra kết luận có cơ sở về các vấn đề liên quan đến khoa học;

- Hiểu biết của cá nhân về đặc trừng của khoa học là một hình thái kiến thức

và khoa học nghiên cứu của con người;

- Nhận thức của cá nhân đó về những ảnh hưởng của khoa học và công nghệ tới đời sống, vật chất, tinh thần và văn hóa của con người;

- Sự sẵn sàng tham gia vào các vấn đề liên quan đến khoa học với tư cách

là một công dân có hiểu biết và tư duy khoa học [3]

Như vậy theo quan điểm này, một người có năng lực tìm hiểu tự nhiên cần phải có các yếu tố sau:

- Có kiến thức khoa học

- Hiểu những đặc tính của khoa học như là một dạng tri thức của loài người

và là hoạt động tìm tòi khám phá của con người

Trang 29

- Sử dụng kiến thức để xác định, chiếm lĩnh kiến thức mới, nhận ra được các vấn đề khoa học, giải thích hiện tượng khoa học và rút ra kết luận trên cơ sở chứng cứ về các vấn đề liên quan đến khoa học

- Nhận thực được vai trò của khoa học và công nghệ đối với việc hình thành môi trường văn hóa, tinh thần, vật chất

- Sẵn sàng tham gia như một công dân tích cực, vận dụng hiểu biết khhoa học vào giải quyết các vấn đề liên quan Với môn Vật lí, kiến thức khoa học ở đây là kiến thức vật lí và kiến thức của một số các môn học có liên quan

1.3.2 Các biểu hiện hành vi của năng lực tìm hiểu tự nhiên trong môn Vật lí

Các biểu hiện của năng lực tìm hiểu tự nhiên trong môn Vật lí, bao gồm: [2]

a Nhận thức khoa học tự nhiên

Nhận thức được kiến thức, kĩ năng phổ thông cốt lõi về: mô hình hệ vật lí; năng lượng và sóng; lực và trường; nhận biết được một số ngành, nghề liên quan đến vật lí; biểu hiện cụ thể là:

- Nhận biết và nêu được các đối tượng, khái niệm, hiện tượng, quy luật, quá trình vật lí trong tự nhiên

- Trình bày được các hiện tượng, quá trình vật lí; đặc điểm, vai trò của các hiện tượng, quá trình vật lí bằng các hình thức biểu đạt: nói, viết, đo, tính, vẽ, lập

sơ đồ, biểu đồ

- So sánh, lựa chọn, phân loại, phân tích được các hiện tượng, quá trình vật

lí trong tự nhiên theo các tiêu chí khác nhau

- Giải thích được mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình

- Nhận ra điểm sai và chỉnh sửa được nhận thức hoặc lời giải thích; đưa ra được những nhận định phê phán có liên quan đến chủ đề thảo luận

- Nhận ra được một số ngành nghề phù hợp với thiên hướng của bản thân

b Tìm hiểu thế giới tự nhiên

Tìm hiểu được một số hiện tượng, quá trình vật lí đơn giản, gần gũi trong đời sống và trong thế giới tự nhiên theo tiến trình; sử dụng được các chứng cứ khoa học để kiểm tra các dự đoán, lí giải các chứng cứ, rút ra các kết luận; biểu hiện cụ thể là:

Trang 30

- Đề xuất vấn đề liên quan đến vật lí: Nhận ra và đặt được câu hỏi liên quan đến vấn đề; phân tích được bối cảnh để đề xuất được vấn đề nhờ kết nối tri thức, kinh nghiệm đã có và dùng ngôn ngữ của mình để biểu đạt vấn đề đã đề xuất

- Đưa ra phán đoán và xây dựng giả thuyết: Phân tích vấn đề để nêu được phán đoán; xây dựng và phát biểu được giả thuyết cần tìm hiểu

- Lập kế hoạch thực hiện: Xây dựng được khung logic nội dung tìm hiểu; lựa chọn được phương pháp thích hợp (quan sát, thực nghiệm, điều tra, phỏng vấn, tra cứu tư liệu); lập được kế hoạch triển khai tìm hiểu

- Thực hiện kế hoạch: Thu thập, lưu giữ được dữ liệu từ kết quả tổng quan, thực nghiệm, điều tra; đánh giá được kết quả dựa trên phân tích, xử lí các dữ liệu bằng các tham số thống kê đơn giản; so sánh được kết quả với giả thuyết; giải thích, rút ra được kết luận và điều chỉnh khi cần thiết

- Viết, trình bày báo cáo và thảo luận: Sử dụng ngôn ngữ, hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng để biểu đạt được quá trình và kết quả tìm hiểu; viết được báo cáo sau quá trình tìm hiểu; hợp tác được với đối tác bằng thái độ tích cực và tôn trọng quan điểm, ý kiến đánh giá do người khác đưa ra để tiếp thu tích cực và giải trình, phản biện, bảo vệ được kết quả tìm hiểu một cách thuyết phục

- Ra quyết định và đề xuất ý kiến, giải pháp: Đưa ra được quyết định xử lí cho vấn đề đã tìm hiểu; đề xuất được ý kiến khuyến nghị vận dụng kết quả tìm hiểu, nghiên cứu, hoặc vấn đề nghiên cứu tiếp

c Vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học

Vận dụng kiến thức kỹ năng về khoa học tự nhiên vào thực tế để:

- Giải thích, chứng minh được vấn đề thực tiễn

- Đánh giá, phản biện được ảnh hưởng của vấn đề thực tiễn

- Thiết kế được mô hình, lập được kế hoạch, đề xuất và thực hiện được một số phương pháp hay biện pháp mới

- Nêu được giải pháp và thực hiện được một số giải pháp để bảo vệ thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu; có hành vi, thái độ hợp lí nhằm phát triển bền vững

Trang 31

1.3.3 Các biện pháp phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên (trong môn Vật lí)

- Dạy học thông qua các hoạt động của HS: Dạy học bằng tổ chức chuỗi hoạt động tìm tòi, khám phá tự nhiên; rèn luyện được cho HS phương pháp nhận thức, kỹ năng học tập, thao tác tư duy; thực hành thí nghiệm, hoạt động trải nghiệm trong môi trường tự nhiên, thực tiễn đời sống cá nhân và xã hội; tăng cường phối hợp hoạt động học tập cá nhân với học hợp tác nhóm nhỏ; kiểm tra, đánh giá, đặc biệt đánh giá quá trình được vận dụng với tư cách phương pháp tổ chức hoạt động học tập Trong từng hoạt động, tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, trong đó giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động cho HS, tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề để khuyến khích các em tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và những kiến thức, kĩ năng đã tích luỹ được để phát triển

- Xây dựng và sử dụng bài tập phát triển năng lực, đặc biệt quan tâm đến bài tập thực nghiệm và bài tập gắn với thực tiễn Các bài tập này cũng là cơ hội

để người học thực hiện các thao tác tư duy như phân tích, tổng thợp, so sánh, diễn dịch, quy nạp,… Các bài tập phát triển năng lực cần đảm bảo:

+ Phong phú, đa dạng và xuyên suốt chương trình vật lí

+ Có tính hệ thống, logic

+ Khai thác được đặc trưng, bản chất vật lí

+ Đòi hỏi cao ở người học (Buộc người học phải sử dụng các thao tác tư duy một cách thành thạo)

- Thường xuyên tổ chức cho học sinh thực hiện các dự án Qua việc tập cho học sinh làm các dự án giúp phát triển ở học sinh:

+ Các kĩ năng điều tra gồm: quan sát, tập hợp mẫu, tập hợp thông tin từ các nguồn khác nhau để rút ra kết luận

+ Từ những thông tin thu thập có cơ sở để hiểu rõ, bổ sung cho những điều học trong lí thuyết

+ Tăng cường năng lực tham gia hoạt động cá nhân, tập thể

Trang 32

+ Tạo thói quen suy nghĩ độc lập sáng tạo và tính kiên nhẫn trong quá trình thực hiện đề tài

1.4 Một số kĩ thuật dạy học tích cực

1.4.1 Kĩ thuật chia nhóm

Khi tổ chức cho HS hoạt động theo nhóm, GV nên sử dụng nhiều cách chia nhóm khác nhau để gây hứng thú cho HS, đồng thời tạo cơ hội cho các em được học hỏi, giao lưu với nhiều bạn khác nhau trong lớp

1.4.2 Kĩ thuật giao nhiệm vụ

- Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng:

+ Nhiệm vụ giao cho cá nhân/nhóm nào?

+ Nhiệm vụ là gì?

+ Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu?

+ Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao nhiêu?

+ Phương tiện thực hiện nhiệm vụ là gì?

+ Sản phẩm cuối cùng cần có là gì?

+ Cách thức trình bày/ đánh giá sản phẩm như thế nào?

- Nhiệm vụ phải phù hợp với: mục tiêu hoạt động, trình độ HS, thời gian, không gian hoạt động và cơ sở vật chất, trang thiết bị

1.4.3 Kĩ thuật đặt câu hỏi

Trong dạy học theo phương pháp cùng tham gia, GV thường phải sử dụng câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt HS tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới, để đánh giá kết quả học tập của HS; HS cũng phải sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm GV và các HS khác về những nội bài học chưa sáng tỏ Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa HS - GV và HS - HS Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của HS càng nhiều; HS sẽ học tập tích cực hơn

1.4.4 Kĩ thuật khăn trải bàn

HS được chia thành các nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người Mỗi nhóm sẽ có một tờ giấy A0 đặt trên bàn, như là một chiếc khăn trải bàn Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh, tiếp tục chia phần xung quanh thành 4 hoặc 6 phần tuỳ theo số thành viên của nhóm (4 hoặc 6 người.) Mỗi thành viên sẽ suy

Trang 33

nghĩ và viết các ý tưởng của mình (về một vấn đề nào đó mà GV yêu cầu) vào phần cạnh “khăn trải bàn” trước mặt mình Sau đó thảo luận nhóm, tìm ra những

ý tưởng chung và viết vào phần chính giữa “khăn trải bàn”

1.4.5 Kĩ thuật phòng tranh

Kĩ thuật này có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm

- GV nêu câu hỏi/ vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm

- Mỗi thành viên ( hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạ những ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanh lớp học như một triển lãm tranh

- HS cả lớp đi xem “ triển lãm’’và có thể có ý kiến bình luận hoặc bổ sung

- Cuối cùng, tất cả các ph­ương án giải quyết được tập hợp lại và tìm ph­ương án tối ưu

- Khích lệ HS phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt

- Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy to không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp

- Phân loại các ý kiến

HS đưa ra sẽ giúp củng cố quá trình học tập của các em và cho GV thấy được các em đã hiểu vấn đề như thế nào

Trang 34

1.4.8 Kỹ thuật Kipling (5W1H) (What, where, when, who, why, how)

Các câu hỏi được đưa ra theo thứ tự ngẫu nhiên hoặc theo một trật tự định ngầm trước, với các từ khóa: Cái gì, Ở đâu, Khi nào, Thế nào, Tại sao, Ai

- Lưu ý:

Các câu hỏi cần ngắn gọn, đi thẳng vào chủ đề

Các câu hỏi cần bám sát vào hệ thống từ khóa 5W1H (What, where, when, who, why, how)

1.5 Thực trạng dạy và học vật lí ở một số trường THPT tỉnh Thái Nguyên hiện nay

1.5.2 Đối tượng điều tra

- GV đang giảng dạy tại một số trường THPT ở Thái Nguyên

- HS khối 10 của trường THPT Sư phạm Thái Nguyên năm học 2019-2020

1.5.3 Kết quả điều tra

Sau khi thu hồi phiếu điều tra từ GV và HS, chúng tôi tiến hành phân tích,

xử lí và đánh giá thực trạng dạy học theo hướng phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên của HS ở trường THPT hiện nay như sau:

Trang 35

Hầu hết GV có nhận định về mức độ phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên hiện nay của HS chưa cao (điểm trung bình tương ứng của năng lực tìm hiểu tự nhiên là 6,12) Có đến 64,3% GV cho rằng phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên

là rất quan trọng, điều này cho thấy GV luôn ý thức được tầm quan trọng của việc phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên cho HS Đối với chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” , năng lực tìm hiểu tự nhiên chiếm 57,1% là một trong những năng lực cần thiết để phát triển cho HS

Có 71,4% GV đã biết về năng lực tìm hiểu tự nhiên và 78,6% GV đã từng

áp dụng phương pháp dạy học phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên tuy nhiên chỉ dạy học ở mức độ thỉnh thoảng (71,4%) Trong quá trình dạy học phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên, GV có đánh giá 78,6% HS rất hứng thú và hứng thú với phương pháp dạy học này Tuy nhiên do một số lí do như: Khó đảm bảo được thời lượng tiết dạy 45 phút (71,4%); Năng lực tìm hiểu tự nhiên của HS còn hạn chế (64,3%); Điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn (64,3%) Nhưng phần lớn các

GV dự định muốn và tiếp tục vận dụng dạy học phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên trong dạy học Vật lí THPT (64,3%)

Một số ý kiến đề xuất với việc vận dụng phương pháp dạy học phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên trong dạy học Vật lí THPT, đa số GV chọn các đề xuất sau: Đầu tư đầy đủ các trang thiết bị phục vụ cho từng bài học tại phòng thí nghiệm; Học hỏi kinh nghiệm và chia sẻ ý tưởng dạy học bằng phương pháp dạy học phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên; Có các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuỗi

kĩ năng dạy học bằng phương pháp dạy học phát triển năng lực cho GV

1.5.4 Nhận xét về kết quả điều tra

Qua kết quả điều tra thực trạng phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên cho

HS ở trường THPT hiện nay cho thấy:

Mức độ phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên cho HS còn thấp Tuy đa số các GV đều nhận thấy rằng việc phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên cho HS là quan trọng và cần thiết nhưng do các hình thức thi cử ở nước ta vẫn còn xem

Trang 36

trọng nội dung kiến thức và thời lượng 1 tiết học không đảm bảo triển khai nên vấn đề phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên của HS ít được quan tâm

Bên cạnh đó, các GV đã đề xuất thêm những ý kiến, các biện pháp để việc

GV vận dụng dạy học theo phương pháp năng lực tìm hiểu tự nhiên có tính khả thi và ứng dụng nhiều hơn trong việc dạy học

Trang 37

Kết luận chương 1

Trong chương 1 luận văn đã trình bày những nội dung cơ bản về năng lực, năng lực tìm hiểu tự nhiên, dạy học phát triển năng lực, tổ chức dạy học theo nhóm hoạt động, thực trạng của việc phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên trong dạy học Vật lí Qua đó cho thấy mối liên hệ giữa dạy học và năng lực tìm hiểu tự nhiên, đề xuất được quy trình dạy học năng lực tìm hiểu tự nhiên cho HS theo nhóm hoạt động GV là người có vai trò quan trọng trong việc trang bị cho HS những hành trang, kiến thức cần thiết để khi gặp vấn đề nảy sinh trong thực tế cuộc sống, HS

có thể vận dụng một cách linh hoạt mang lại hiệu quả cao nhất

Để phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên cho HS trong dạy học Vật lí, luận văn đã tiến hành nghiên cứu, làm rõ hệ thống kĩ năng tìm hiểu tự nhiên, những biểu hiện của năng lực tìm hiểu tự nhiên cũng như đánh giá được thực trạng năng lực tìm hiểu tự nhiên hiện nay, xác định được một số nguyên nhân của thực trạng

và đề xuất một số biện pháp để vận dụng dạy học phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên cho HS

Cơ sở lý luận đã phân tích trong chương này sẽ được vận dụng để xây dựng tiến trình dạy học và soạn thảo một số bài dạy học theo định hướng phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên trong chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” Vật lí 10 - THPT thuộc nội dung chương 2 của luận văn

Trang 38

CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG CÁC KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC THIẾT KẾ BÀI GIẢNG CHƯƠNG “ CÂN BẰNG VÀ CHUYỂN ĐỘNG CỦA VẬT RẮN”

2.1 Đặc điểm chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn”

2.1.1 Vị trí, vai trò của chương

Chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” nghiên cứu trạng thái cân bằng

để tìm điều kiện đứng yên và cân bằng cho vật Theo quan niệm động lực học thì đứng yên là trường hợp đặc biệt của trạng thái cân bằng khi vận tốc bằng không Do

đó có thể sử dụng các biểu thức của chương “Động lực học chất điểm” để nghiên cứu điều kiện cân bằng Chính vì vậy mà chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” được xếp sau chương “Động lực học chất điểm”

2.1.2 Cấu trúc chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” Vật lí 10 THPT

Chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” Vật lí 10 THPT gồm các bài được bố trí theo cấu trúc chương được biểu diễn ở sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cấu trúc chương trình của chương

“Cân bằng và chuyển động của vật rắn”

Trang 39

2.1.3 Mục tiêu dạy học của chương theo chuẩn kiến thức, kĩ năng

Bảng 2.1.Bảng chuẩn kiến thức kỹ năng của chương

“Cân bằng và chuyển động của vật rắn”

- Nêu được khái niệm trọng tâm của vật rắn

- Phát biểu được quy tắc tổng hợp hai lực có giá đồng quy

- Phát biểu được điều kiện cân bằng của vật rắn chịu tác dụng của ba lực không song song

- Vận dụng được điều kiện cân bằng của vật rắn chịu tác dụng của hai lực để xác định được trọng tâm của các vật rắn phẳng mỏng

- Giải thích được điều kiện cân bằng của vật chịu tác dụng của hai lực trong thực tế

- Vận dụng được quy tắc hợp lực đồng quy để tìm hợp lực

- Biểu diễn được các lực tác dụng lên vật rắn, vận dụng được điều kiện cân bằng của vật rắn để giải bài tập về cân bằng của vật rắn chịu tác dụng của ba lực đồng quy

- Đặt câu hỏi, đề xuất dự đoán trả lời câu hỏi: Khi nào vật rắn chịu tác dụng của 2 lực nằm cân bằng?

- Đề xuất phương

án và tiến hành phương án thí nghiệm xác định trọng tâm của vật rắn hình dạng bất

Trang 40

- Phát biểu được điều kiện cân bằng của một vật có trục quay cố định (quy tắc momen lực)

- Vận dụng được khái niệm momen lực và quy tắc momen lực để giải thích một số hiện tượng vật lí thường gặp trong đời sống và kĩ thuật cũng như để giải thích các bài tập vận dụng đơn giản

- Thiết kế, lắp ráp và tiến hành được các thí nghiệm để khảo sát sự cân bằng của một vật rắn có trục quay cố định

- Đặt được câu hỏi, đề xuất được dự đoán câu trả lời: Khi nào vật rắn có trục quay cố định chịu tác dụng của nhiều lực cân bằng?

- Áp dụng được điều kiện cân bằng của vật rắn

để giải thích các hiện tượng trong thực tế có liên hệ với bài học

- Phát biểu được điều kiện cân bằng của một vật chịu tác dụng của

ba lực song song

- Vận dụng được các quy tắc và điều kiện cân bằng để giải bài tập

- Vận dụng được phương pháp thực nghiệm ở mức độ đơn giản

- Vận dụng kiến thức đã học tham gia dự án: Thiết

- Mô tả, trả lời được câu hỏi về điều kiện cân băng của một vật

Ngày đăng: 03/02/2021, 10:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2011), Một số vấn đề chung về đổi mới PPDH ở trường THPT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chung về đổi mới PPDH ở trường THPT
Tác giả: Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường
Năm: 2011
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2018
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014) Tài liệu tập huấn PISA 2015 và các dạng câu hỏi do OECD phát hành, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn PISA 2015 và các dạng câu hỏi do OECD phát hành
4. Lê Văn Giáo (2015), Nâng cao năng lực vận dụng kiến thức và giải quyết các vấn đề trong thực tiễn trong dạy học Vật lí ở trường trung học phổ thông, Viện nghiên cứu Giáo dục, ĐHSP - ĐH Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực vận dụng kiến thức và giải quyết các vấn đề trong thực tiễn trong dạy học Vật lí ở trường trung học phổ thông
Tác giả: Lê Văn Giáo
Năm: 2015
8. Weiner, F.E.(2001), Vergleichende Leistungsmessung in Schulen. Weinheim und Basejl: Beltz Verlag. Bản dịch tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vergleichende Leistungsmessung in Schulen. Weinheim und Basejl: Beltz Verlag
Tác giả: Weiner, F.E
Năm: 2001
5. Nghị quyết số 29 - NQ/TW Trung ương khóa 8 XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Khác
6. Phụ nữ Việt Nam số ra ngày 12/04/2017 7. Tạp chí Giáo dục số 306 (kì 2-3/2013) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w