Mối quan hệ giữa văn học Kinh Tày qua một số truyện thơ Nôm Tày và truyện thơ Nôm Kinh có cùng cốt truyện Mối quan hệ giữa văn học Kinh Tày qua một số truyện thơ Nôm Tày và truyện thơ Nôm Kinh có cùng cốt truyện luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
CHU HẢI YẾN
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC KINH - TÀY QUA MỘT SỐ TRUYỆN THƠ NÔM TÀY VÀ TRUYỆN
THƠ NÔM KINH CÓ CÙNG CỐT TRUYỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
CHU HẢI YẾN
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC KINH - TÀY QUA MỘT SỐ TRUYỆN THƠ NÔM TÀY VÀ TRUYỆN
THƠ NÔM KINH CÓ CÙNG CỐT TRUYỆN
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Quốc Tuấn
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn khoa học “Mối quan hệ giữa văn học Kinh - Tày qua một số truyện Thơ Nôm Tày và truyện Thơ Nôm Kinh có cùng cốt truyện” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu
trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2020
Tác giả luận văn
Chu Hải Yến
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu 6
5 Đóng góp của luận văn 7
6 Phương pháp nghiên cứu 7
7 Cấu trúc của luận văn 7
NỘI DUNG 9
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 9
1.1 Về khái niệm giao lưu - tiếp biến văn hóa 9
1.2 Truyện thơ Nôm Tày có cùng cốt truyện với truyện thơ Nôm Kinh 10
1.2.1 Tình hình khảo cứu, sưu tầm, dịch thuật 10
1.2.2 Tác giả của truyện thơ Nôm Tày 11
1.2.3 Giới thiệu tóm tắt một số truyện thơ Nôm Tày và truyện thơ Nôm Kinh có cùng cốt truyện 12
Chương 2: NGUYÊN NHÂN CỦA QUÁ TRÌNH GIAO LƯU - TIẾP BIẾN GIỮA CÁC TRUYỆN THƠ NÔM TÀY VÀ TRUYỆN THƠ NÔM KINH CÓ CÙNG CỐT TRUYỆN 21
2.1 Những diễn tiến của lịch sử văn hóa, nguyên nhân của sự giao lưu - tiếp biến 21
2.2 Phương pháp sáng tác thời trung đại và ảnh hưởng của nó đến các truyện thơ Nôm Tày và truyện thơ Nôm Kinh có cùng cốt truyện 26 2.2.1 Sự thể hiện con người trong văn học trung đại Việt Nam và con người
Trang 52.2.2 Bút pháp ước lệ tượng trưng của văn học trung đại và sự thể hiện trong
truyện thơ Nôm Tày 32
2.3 Giao lưu - tiếp biến trong sự đồng điệu tâm hồn của hai dân tộc Kinh - Tày 37
2.3.1 Đồng điệu trong tâm hồn hai dân tộc làm nên sự sáng tạo nghệ thuật 37
2.3.2 Đồng điệu trong khát vọng về một kết thúc viên mãn 42
Chương 3: GIAO LƯU VĂN HỌC TRÊN PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG, NGHỆ THUẬT CỦA MỘT SỐ TRUYỆN THƠ NÔM TÀY VÀ TRUYỆN THƠ NÔM KINH CÓ CÙNG CỐT TRUYỆN 47
3.1 Sự đồng điệu ở giá trị nội dung 47
3.1.1 Hình tượng con người của núi rừng Bắc bộ 47
3.1.2 Thiên nhiên của núi rừng Bắc bộ 62
3.2 Giao lưu và tiếp biến trên phương diện nghệ thuật 68
3.2.1 Kết cấu và thể thơ 68
3.2.2 Nghệ thuật miêu tả nhân vật 76
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 97
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Nghiên cứu giao lưu văn hóa, văn học là hướng đi đã và đang mang
lại nhiều thành tựu có giá trị trong khoa học xã hội hiện nay Việc so sánh những tác phẩm cùng trong một quốc gia, khu vực sẽ giúp người nghiên cứu có cái nhìn tổng thể và toàn diện hơn về nền văn hóa - văn học đó
Ở Việt Nam đã từ lâu, các nhà nghiên cứu đã nhận định trong nền văn hóa văn học đa dạng và phong phú của 54 dân tộc anh em, rất dễ nhận thấy có ảnh hưởng qua lại giữa các nền văn hóa văn học, đặc biệt giữa các nền văn hóa văn
học lâu đời có chiều dài phát triển trong lòng văn hóa văn học
Trong 54 dân tộc ở Việt Nam thì văn hóa văn học người Kinh có vai trò trung tâm giữ vai trò ảnh hưởng chi phối đến các văn hóa văn học các dân tộc khác, nhưng nó không phải là sự ảnh hưởng một chiều, bất biến mà ngược lại văn hóa văn học ít người cũng có sự ảnh hưởng, tác động trở lại đối với văn hóa văn
học Kinh Vì vậy nghiên cứu Mối quan hệ giữa văn học Kinh - Tày qua một số
truyện Thơ Nôm Tày và truyện Thơ Nôm Kinh có cùng cốt truyện sẽ giúp chúng
tôi có những hiểu biết sâu sắc hơn về văn học của hai dân tộc này
1.2 Trong những năm gần đây nghiên cứu giao lưu văn học của hai dân Kinh
- Tày đã được quan tâm, tuy nhiên so với hiện nay việc đặt các tác phẩm truyện thơ Nôm Kinh - Tày có cùng cốt truyện sát lại nhau để thông qua đó tìm hiểu sự giao
lưu của nền văn học hai dân tộc chỉ rõ cơ chế của cuộc “giao duyên” này thì cần phải được tiếp tục lí giải Cho đến thời điểm hiện tại do các rào cản về văn hóa, ngôn ngữ, đa số những nghiên cứu về truyện thơ Nôm Tày thời trung đại còn nhiều
hạn chế Như vậy, đặt vấn đề nghiên cứu Mối quan hệ giữa văn học Kinh - Tày
qua một số truyện Thơ Nôm Tày và truyện Thơ Nôm Kinh có cùng cốt truyện,
chúng tôi muốn làm rõ mối quan hệ giao lưu giữa nền văn học dân tộc qua một hiện
tượng cụ thể: Truyện thơ Nôm Tày cùng cốt truyện với truyện thơ Nôm Kinh Vì
vậy, có thể coi đây là đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trang 72 Lịch sử vấn đề
2.1 Nghiên cứu về truyện thơ Nôm Kinh
Trong dòng chảy văn học Việt Nam truyện thơ Nôm được coi là một hiện tượng khá phức tạp nhưng cũng rất thú vị, đến nay đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về truyện thơ Nôm, trong đó có thể kể đến một số chuyên luận
cũng như giáo trình tiêu biểu như: Văn học dân gian của hai tác giả Đinh Gia
Khánh, Chu Xuân Diên, được xuất bản năm 1972; năm 1976 tác giả Cao Huy
Đỉnh cho công bố công trình Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam; Tác giả Nguyễn Lộc công bố Văn học Việt Nam ở nửa cuối thế kỉ XVIII - đến
hết thế kỉ XIX vào năm 2001; Thi pháp truyện Kiều của giáo sư Trần Đình Sử
được nhà xuất bản năm 2003; trước đó, năm 1995, giáo sư Trần Đình Sử cũng
giới thiệu tiểu luận Những thế giới nghệ thuật thơ; Bên cạnh đó, cũng phải kể đến các công trình như Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm của giáo sư Đặng Thanh Lê xuất bản năm 1979; Truyện Nôm lịch sử phát triển và thi pháp thể
loại của nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch xuất bản năm 2007… Tuy nhiên những
nghiên cứu kể trên vẫn tồn tại nhiều vấn đề tranh luận, không thống nhất, chẳng hạn từ việc xác định thể loại truyện Nôm Có nhà nghiên cứu cho rằng truyện thơ Nôm thuộc loại hình văn học dân gian, nhưng các nhà nghiên cứu lại xác định
đây là thể loại hình văn học viết, có rất nhiều cách định danh truyện Nôm: truyện Nôm bình dân, truyện Nôm bác học, truyện Nôm khuyết danh, truyện Nôm có tên tác giả,…
Nhìn chung, những nghiên cứu về truyện thơ Nôm đã tập trung làm rõ một
số vấn như là: Thể loại truyện Nôm; Phương pháp sáng tác; Nguồn gốc; Kết cấu; Nhân vật; Ngôn ngữ; Chủ đề; Đề tài; Văn bản truyện Nôm;…
Tuy nhiên, việc nghiên cứu truyện thơ Nôm vẫn là một công việc rất cần thiết vì tính phức tạp của thể loại sự phong phú và đa dạng của bản thể truyện Nôm
Trang 82.2 Nghiên cứu về truyện thơ Nôm Tày
Như đã trình bày ở trên do các rào cản về văn hóa ngôn ngữ,…Cho đến hiện nay truyện thơ các dân tộc ít người và truyện thơ Nôm Tày chưa được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ đúng mức Với quan điểm dựa trên những thành tựu nghiên cứu khoa học đã công bố, chúng tôi xin điểm một số công trình nghiên cứu về truyện thơ Nôm Tày như sau:
Năm 1964, tác giả Nông Quốc Chấn giới thiệu cuốn Truyện thơ Tày -
Nùng Trong bài giới thiệu của cuốn sách, tác giả đã đưa ra những nhận xét
có thể coi là đầu tiên về kết cấu cốt truyện cũng như nghệ thuật của truyện thơ Tày - Nùng
Trong phần này, chúng tôi điểm đến nhận định của các nhà nghiên cứu: Nông Quốc Chấn, Lục Văn Pảo, Phan Đăng Nhật, Võ Quang Nhơn, Lê Trường Phát, Vũ Anh Tuấn
Năm 1972, sau nhiều năm dày công sưu tầm và nghiên cứu, tác giả Lục Văn Pảo đã công bố một danh mục tương đối đầy đủ về truyện thơ Nôm Tày Tuy nhiên theo chính tác giả, con số này còn xa hơn hơn nhiều so với thực tại
Tác giả Phan Đăng Nhật sau quá trình nghiên cứu, đến năm 1981, đã công
bố công trình Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam Đây có thể được coi là
được một bước phát triển mới trong lĩnh vực nghiên cứu văn học dân tộc thiểu
số Việt Nam nói chung và truyện thơ Nôm Tày nói riêng
Năm 1983, giáo trình Văn học các dân tộc ít người Việt Nam của tác giả
Võ Quang Nhơn được giới thiệu Trong giáo trình, tác giả đã dành một chương
để bàn về truyện thơ Ông coi truyện thơ như là “một dấu nối giữa văn học truyền miệng và văn học thành văn”
Năm 1997, tác giả Lê Trường Phát cho ra mắt chuyên luận Đặc điểm thi
pháp truyện thơ các dân tộc thiểu số, trên cơ sở khảo sát 6 truyện thơ Thái và
19 truyện thơ Tày - Nùng, đồng thời đặt nó trong bối cảnh truyện thơ các dân tộc Đông Nam Á Sáu năm sau, nhà văn, nhà nghiên cứu Hoàng Triều Ân công bố
Trang 9hai công trình nghiên cứu rất có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu truyện thơ Nôm
Tày Đó là Ba áng thơ Nôm Tày và thể loại và Chữ Nôm Tày và thể loại truyện
thơ đều được nhà xuất bản Văn học - Trung tâm nghiên cứu quốc học ấn hành
Nằm trong mạch nghiên cứu truyện thơ Tày đó, một năm sau, năm 2004, nhà
nghiên cứu Vũ Anh Tuấn cho ra mắt chuyên luận Truyện thơ Tày, nguồn gốc,
quá trình phát triển và thi pháp thể loại Đây là một công trình nghiên cứu rất
công phu và có giá trị, tác giả đã lý giải về nguồn gốc thể loại truyện thơ Tày và làm sáng tỏ thi pháp của thể loại trên ba phương diện: cấu trúc, nhân vật và lời văn nghệ thuật
Nhìn chung, nghiên cứu về truyện thơ Nôm Tày còn tương đối ít ỏi so với quy mô của mảng văn học này, gần đây dưới sự hỗ trợ một số trí thức bản tộc trong đó có người Tày đã tiến hành sưu tầm nghiên cứu dịch thuật các tác phẩm truyện thơ Nôm Tày, bao gồm cả nhóm truyện thơ cùng cốt truyện với truyện thơ Nôm Kinh sang tiếng Kinh Đây là một dự án rất có ý nghĩa đối với lĩnh vực nghiên cứu văn hóa văn học dân tộc ít người nói chung và nghiên cứu văn hóa
văn học dân tộc Tày trong đó có truyện thơ Nôm Tày
2.3 Những nghiên cứu về truyện thơ Nôm Kinh và truyện thơ Nôm Tày có cùng cốt truyện
Cho đến nay về cơ bản những truyện thơ Nôm Tày cùng cốt truyện với truyện thơ Nôm Kinh được dịch sang tiếng Việt, tuy nhiên việc tiếp cận, nghiên cứu các tác phẩm này còn nhiều bất cập Chúng tôi tiếp tục khảo sát những nhận định của các nhà nghiên cứu sau: Nông Quốc Chấn, Hoàng Triều Ân, Vũ Anh Tuấn, Phạm Quốc Tuấn
Năm 1971, Nông Quốc Chấn công bố bài viết Tính chất dân tộc của một
nền văn học nhiều dân tộc Trong bài viết này, lần đầu tiên tác giả đã cho thấy
sự ảnh hưởng, giao thoa của nền văn học các dân tộc anh em Kinh, Tày, Thái, Mường Tiếp mạch tìm hiểu nguồn gốc và đặc điểm thể loại của nhóm truyện thơ
Trang 10Nôm Tày có cùng cốt truyện với truyện thơ Nôm Kinh, năm 1992, nhà nghiên
cứu Lục Văn Pảo cho biết nhóm này gồm 6 truyện: Mạc Đĩnh Chi, Tổng Tân, Phạm Tử, Lưu Bình - Dương Lễ, Thạch Sanh, Hoàng Trừu, và ông cũng cho rằng
truyện Mạc Đĩnh Chi có thể coi là truyện Tày hoàn toàn
Nhà nghiên cứu Hoàng Triều Ân trong chuyên luận Chữ Nôm Tày và thể
loại truyện thơ ngoài phần lý giải về nguồn gốc một bộ phận trong kho tàng
truyện thơ Nôm Tày, ông còn cho biết đôi nét về phương pháp sáng tác, thời điểm xuất hiện và nguyên nhân vì sao một số tác phẩm truyện thơ Nôm Kinh lại được lựa chọn để “Tày hóa”
Chuyên luận Truyện thơ Tày - nguồn gốc quá trình phát triển và thi pháp
thể loại của giáo sư Vũ Anh Tuấn cũng đề cập đến các truyện thơ Nôm Tày cùng
cốt truyện với truyện thơ Nôm Kinh
Năm 2014, Phạm Quốc Tuấn bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ với đề tài
Nghiên cứu so sánh một số truyện thơ Nôm Tày cùng cốt truyện với truyện thơ Nôm Kinh tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội Luận án này là một chuyên
luận nghiên cứu tương đối tỉ mỉ và công phu về sự giao thoa văn học, đặc biệt ở
lĩnh vực truyện Nôm của hai dân tộc Kinh - Tày
Các nghiên cứu truyện thơ Nôm Tày và truyện thơ Nôm Kinh cùng cốt truyện đã bước đầu đã lí giải được sự tương đồng và dị biệt của các tác phẩm này Tuy nhiên, để làm rõ hơn mối quan hệ giao lưu văn học Kinh Tày và lí giải được nguyên nhân và cơ chế của nó thì vẫn cần đến một công trình nghiên cứu chuyên biệt, cụ thể Hy vọng, hướng nghiên cứu của chúng tôi sẽ ít nhiều trả lời
được câu hỏi này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nghiên cứu sự giao lưu của hai nền văn học Kinh -
Tày thông qua một hiện tượng cụ thể: Các truyện thơ Nôm Tày và Nôm Kinh có
Trang 11cùng cốt truyện Trên cơ sở so sánh đối chiếu giữa các văn bản chúng tôi sẽ chỉ
rõ những nét tương đồng và dị biệt trong nhóm tác phẩm này Quan trong hơn là phải làm rõ, lí giải được những nguyên nhân, cơ chế dẫn đến hiện tượng đó Từ
đó, góp phần khẳng định sự sáng tạo trong lĩnh vực văn học nghệ thuật của hai dân tộc Kinh - Tày trong suốt chiều dài lịch sử
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ chính của đề tài là nghiên cứu về phương diện nội dung và nghệ thuật truyện thơ Nôm Tày có cùng cốt truyện với truyện thơ Nôm Kinh, nhằm nắm rõ dấu ấn nội dung, thành tựu nghệ thuật thể hiện riêng của chúng Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi trình bày các vấn đề sau:
- Nghiên cứu những vấn đề chung liên quan đến truyện thơ Nôm Tày và truyện thơ Nôm Kinh
- Nghiên cứu nội dung; nghệ thuật 3 truyện thơ Nôm Tày và truyện thơ Nôm Kinh có cùng cốt truyện
- So sánh, lí giải nguyên nhân xuất hiện sự tương đồng và khác biệt giữa truyện thơ Nôm Tày và truyện thơ Nôm Kinh có cùng cốt truyện được đề cập
4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là những truyện thơ Nôm Tày và
truyện thơ Nôm Kinh có cùng cốt truyện
Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo một số tài liệu mang tính chất lí luận và những công trình, chuyên luận nghiên cứu về truyện thơ Nôm Tày và truyện thơ
Nôm Kinh có cùng cốt truyện
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Nhóm truyện thơ Nôm Tày
Văn bản do nhóm tác giả: Hoàng Triều Ân, Dương Nhật Thanh, Phạm
Quốc Tuấn sưu tầm, phiên âm, dịch nghĩa gồm các tác phẩm: Tổng Tân - Cúc Hoa (2008); Thạch Seng (2008); Phạm Tử - Ngọc Hoa (2010), Nxb Đại
Trang 124.2.2 Nhóm truyện thơ Nôm Kinh
- Kho tàng truyện Nôm khuyết danh Việt Nam (2000), 2 tập, Nxb Văn học, Hà Nội, (trong đó có các tác phẩm: Tống Trân - Cúc Hoa; Phạm Tải -
5 Đóng góp của luận văn
- Về mặt khoa học, luận văn góp phần giải quyết vấn đề: tìm hiểu, so sánh
để bước đầu đánh giá giá trị văn học của một số dân tộc thiểu số trongcác dân tộc anh em trên lãnh thổ Việt Nam
Tổng hợp, khái quát, khẳng định giá trị truyện thơ Nôm Tày trong lịch sử văn học trung đại dân tộc Tày và lịch sử văn học trung đại Việt Nam từ cơ sở so sánh đối chiếu với những truyện thơ Nôm Kinh có cùng cốt truyện
- Kết quả nghiên cứu trong luận văn cho thấy được tài năng, sự sáng tạo
của người Tày khi tái tạo truyện thơ Nôm Tày trên cơ sở kế thừa, tiếp thu tác phẩm truyện thơ Nôm Kinh
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu của đề tài chúng tôi sử dụng những phương pháp
nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp loại hình
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp nghiên cứu liên nghành
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận thư mục này được tham khảo, luận văn chia
làm ba chương:
Trang 13Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Chương 2: NGUYÊN NHÂN CỦA QUÁ TRÌNH GIAO LƯU - TIẾP
BIẾN GIỮA CÁC TRUYỆN THƠ NÔM TÀY VÀ TRUYỆN THƠ NÔM KINH CÓ CÙNG CỐT TRUYỆN
Chương 3: GIAO LƯU VĂN HỌC TRÊN PHƯƠNG DIỆN NỘI
DUNG, NGHỆ THUẬT CỦA MỘT SỐ TRUYỆN THƠ NÔM TÀY VÀ TRUYỆNTHƠ NÔM KINH CÓ CÙNG CỐT TRUYỆN
Trang 14NỘI DUNG
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Về khái niệm giao lưu - tiếp biến văn hóa
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, giao lưu và tiếp biến văn hóa là một
vấn đề được rất nhiều những nhà xã hội học quan tâm Liên quan đến khái niệm tương đối mới này, đã có một số những định nghĩa và nhận xét đáng chú ý
Từ điển Bách khoa Việt Nam cũng đưa ra định nghĩa: “giao lưu văn hóa
là sự tiếp xúc văn hóa, trao đổi ảnh hưởng và tác động qua lại giữa các nền văn hóa của các dân tộc khác nhau” Trong định nghĩa này, có thể thấy hai điểm đáng
chú ý như sau: thứ nhất, để có được giao lưu văn hóa cần có ít nhất hai nền văn hóa của các dân tộc khác nhau tác động qua lại với nhau; thứ hai, sự tác động
qua lại đó dẫn đến hệ quả là sự trao đổi và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau giữa các
nền văn hóa Từ định nghĩa cơ bản trên có thể hiểu một cách đơn giản: Giao lưu văn hóa là quá trình tiếp xúc, trao đổi, lựa chọn, tiếp nhận và chuyển hóa các giá trị văn hóa khác nhau, có thể (hoặc không) dẫn đến sự biến đổi văn hóa của mỗi chủ thể trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể
Song song với khái niệm Giao lưu văn hóa là khái niệm Tiếp biến văn hóa Tiếp biến văn hóa là quá trình mà trong đó các thành viên của nhóm văn
hóa thông qua niềm tin và hành vi của các nhóm khác, chuyển từ lối sống riêng
của mình để thích ứng Định nghĩa về Tiếp biến văn hóa được đưa ra ở cuộc họp
UNESCO châu Á tại Teheran năm 1978 như sau: “Tiếp biến văn hóa đó là sự tiếp xúc giữa những nhóm người khác nhau về văn hóa, do đó sinh ra những sự thay đổi về văn hóa (ứng xử, giao tiếp, tư duy…) ở trong mỗi nhóm” Tiếp biến văn hóa là quá trình một nhóm người hay một cá nhân qua tiếp xúc trực tiếp và liên tục với một nhóm khác, tiếp thụ (tự nguyện hay bắt buộc, toàn bộ hay từng
bộ phận) nền văn hóa của nhóm này So với định nghĩa Giao lưu văn hóa, định
Trang 15nghĩa Tiếp biến văn hóa nhấn mạnh vào một điểm đó là sự thay đổi về văn hóa Hiện nay, khái niệm tiếp biến văn hóa được quan niệm đơn giản hơn: Tiếp biến văn hóa là quá trình một cá nhân khi tiếp xúc trực tiếp và liên tục với một cộng đồng hay một cá nhân khác (có hoặc không có ý thức) hấp thụ nhiều hay ít nền văn hóa của cộng đồng hay các cá nhân này Tiếp biến văn hóa có thể xảy ra
theo con đường kinh tế, tôn giáo, tư tưởng, văn hóa nghệ thuật….Trong bối cảnh hòa bình hay gắn với áp đặt về chính trị
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, giao lưu và tiếp biến văn hóa thường
đi đôi với nhau tạo thành một tổ hợp khái niệm giao lưu - tiếp biến văn hóa Giao lưu - tiếp biến văn hóa trong tiếng Anh được định danh bằng các từ như:
Acculturation, Cultural contacts hoặc Cultural exchanges Tác giả của Đề cương
những bài giảng giao lưu, tiếp biến văn hóa trong lịch sử Việt Nam, đưa ra
khái niệm về thuật ngữ “giao lưu - tiếp biến văn hóa” với nghĩa là hiện tượng xảy
ra khi những nhóm người có văn hóa khác nhau, gặp nhau (tiếp xúc trực tiếp và lâu dài), gây ra sự biến đổi về mô thức văn hóa so với ban đầu của hai chủ thể Như vậy có thể thấy, giao lưu - tiếp biến văn hóa bắt nguồn từ sự tiếp xúc giữa
các nền văn hóa, và thể hiện ở sự thay đổi trong quá trình tiếp xúc đó Hiện tượng này là quy luật có tính phổ biến trong tiến trình lịch sử và văn hóa của nhân loại
Sự tồn tại, phát triển của các cộng đồng, dân tộc dù ở bình diện nào cũng gắn với
kế thừa, giao lưu, tiếp xúc, tiếp biến văn hóa Trên thực tế, có thể điểm qua một
số vùng văn hóa có sự giao lưu và tiếp biến nổi bật như: vùng văn hóa Á Đông (Trung Quốc, Hà Quốc, Nhật Bản…), vùng văn hóa Nam Á (Ấn Độ), Vùng văn hóa Đông Nam Á (các quốc gia trong khối Asean), vùng văn hóa Châu Âu, vùng văn hóa Bắc Mỹ, vùng văn hóa Mỹ Latin…
1.2 Truyện thơ Nôm Tày có cùng cốt truyện với truyện thơ Nôm Kinh
1.2.1 Tình hình khảo cứu, sưu tầm, dịch thuật
Đầu tên, chúng ta biết đến Phạm Tử - Ngọc Hoa, Thạch Sanh, Tống Tân
- Cúc Hoa, Nhị Độ Mai,…Trong bài viết “Mấy ý nghĩ về truyện thơ cổ Tày -
Trang 16Nùng”, do nhà thơ Nông Quốc Chấn giới thiệu, xuất bản năm 1964 Trong bài
viết này, tác giả đã đánh giá và có những nhận xét vô cùng quan trọng về nền văn văn học Tày - Nùng, có hai nội dung chủ yếu của những truyện thơ trên (thứ nhất là tính cách anh hùng, chí khí dũng cảm, tinh thần vượt khó khăn gian khổ
để vươn tới đích; thứ hai, thiết tha với quyền sống của con người lao động, yêu quý chính nghĩa và điều kiện, căm thù phi nghĩa và tội ác, những yếu tố tiêu cực) Bài viết còn có những nhận định quan trọng về hình thức nghệ thuật của truyện thơ như: cách bố cục câu truyện, bút pháp mô tả, thể thơ và thơ
Theo nghiên cứu về truyện thơ Nôm của tác giả Lục Văn Pảo, năm 1992,
trong Tạp chí Văn hóa dân gian, số 3 đã có bài viết “Truyện Nôm Tày” Ông đã đưa ra những lý lẽ thuyết phục rằng: “Truyện thơ Tày là sản phẩm song trùng, một mặt là sản phẩm của một loaị hình thức văn học dân tộc ra đời, song cũng
là sản phẩm được sinh ra bởi chữ Nôm Không có chữ Nôm Tày thì không có truyện thơ Nôm Tày tồn tại như ngày nay” Tác giả đã đưa ra một danh mục
truyện thơ Tày được sưu tầm trong nhiều năm, hồm có 47 truyện (trong đó có 39 truyện thuộc nhóm truyện do người Tày sáng tác, 06 truyện bắt nguồn từ các truyện Nôm Kinh, 02 truyện có nguồn gốc từ truyện dân gian Trung Quốc), đây
là số lượng tác phẩm có quy mô đồ sộ mà ít dân tộc nào sánh được Ở đó trong
bài viết tác giả đã khẳng đinh rằng: “Xét về nội dung, những truyện thơ này phản ánh cuộc sống của người Tày khá phong phú, đa dạng Việc tìm hiểu tư tưởng
xã hội người Tày trong lịch sử, nhất là bộ phận phong tục tập quán, nếp sống đã qua thì kho tàng này dường như chiếm được vị trí độc tôn nếu không muốn nói
là duy nhất…”[36,17].
1.2.2 Tác giả của truyện thơ Nôm Tày
Các nhà nghiên cứu có rất nhiều cách đánh giá nhận xét, đánh giá các tiêu chí đưa ra để khẳng định một tác phẩm nào đó thuộc loại hình văn học dân gian hay không hay nó là văn học viết Theo quan niệm truyền thống, một tác phẩm được coi là văn học dân gian khi nó mang những đặc trưng sau đây: sáng tác của
Trang 17tập thể, hình thức truyền miệng, có tính dị bản, hay sự phân chia thành các tuyến nhân vật đối lập (thiện - ác) trong một vài thể loại của văn học dân gian - đặc biệt trong truyện cổ tích cũng là một tiêu chí nhận diện, phân loại Gần đây, khi nghiên cứu một số truyện thơ Nôm Tày nói chung và truyện thơ Nôm Tày có cùng cốt truyện với truyện thơ Nôm Kinh nói riêng, chúng tôi thấy không phải
như vậy Có nhiều ý kiến cho rằng: “Truyện Nôm khuyết danh (kể cả Nôm Kinh hay Nôm Tày) đều là những sáng tác dân gian” Trên thực tế, điều này cần phải
được xem xét một cách có hệ thống mới có thể đưa ra những kết luận chính xác
Đầu tiên, người ta cho rằng: “Bản quyền các sáng tác dân gian (ca dao, dân ca, tục ngữ, câu đố, hò, vè, truyền thuyết, cổ tích thuộc về tập thể…) đều là những sáng tác của tập thể trong thời gian dài Nhưng vì tập thể là rất lớn, không phải là một cá nhân nào cụ thể, nên sáng tác tập thể lại được gắn cho một cách gọi khác đó là “vô danh” hay “khuyết danh” và “tác phẩm khuyết danh” thường được coi là sáng tác của người bình dân” Do nhận định như vậy, nên các tác phẩm truyện Nôm khuyết danh của người Kinh còn có cách gọi khác là “truyện Nôm bình dân” [36,18] Tuy nhiên, ở các tác phẩm truyện thơ Nôm Tày lại có
chỗ khác biệt
Theo chúng tôi, người viết truyện thơ Nôm Tày chắc chắn là các nho sĩ,
vì nếu không được học hành, đào tạo bài bản về chữ Hán, chữ Nôm thì không thể biết chữ Nôm Tày và từ đó không thể sáng tác ra truyện thơ Nôm Tày - loại truyện thơ của người Tày được viết bằng văn tự Nôm Tày (được trí thức bản tộc người Tày sáng tạo ra trên cơ sở chữ Hán, chữ Nôm và lối phát âm của người Tày nhằm văn bản hóa tiếng Tày) Thêm vào đó, theo một số nhà nghiên cứu về văn hóa dân gian Tày, người bình dân chỉ có thể sáng tác ra những câu Sli, lượn hay ca dao Tày mà thôi, khó có thể đủ trình độ để sáng tác truyện thơ như nho
sĩ Như vậy, coi truyện thơ Nôm Tày là những sáng tác của người bình dân thì phần khiên cưỡng
1.2.3 Giới thiệu tóm tắt một số truyện thơ Nôm Tày và truyện thơ Nôm Kinh
có cùng cốt truyện
Trang 18Khi nghiên cứu riêng nhóm các tác phẩm truyện thơ Nôm Tày có cùng cốt truyện với truyện thơ Nôm Kinh, có một điều dễ nhận thấy khi sáng tác các truyện thơ này trên cơ sở cốt truyện của người Kinh, các tác giả người Tày để lại nhiều dấu ấn sáng tạo riêng biệt
Các truyện thơ Nôm Tày có cùng cốt truyện với truyện thơ Nôm Kinh,
chúng tôi giới thiệu ba tác phẩm truyện thơ Nôm Tày Phạm Tử - Ngọc Hoa,
Thạch Seng, Tống Tân - Cúc Hoa trong tương quan so sánh với truyện thơ Nôm
Kinh có cùng cốt truyện, tất cả truyện thơ đều mang giá trị nghệ thuật sâu sắc
Về cốt truyện, tác phẩm này cơ bản giống với truyện thơ Nôm của người Kinh song khác về hình thức thể hiện Truyện thơ Nôm Kinh dùng thể thơ lục bát còn truyện thơ Nôm Tày dùng thể thơ thất ngôn trường thiên và được viết bằng chữ Nôm Tày, thêm vào đó, bản sắc văn hóa Tày thể hiện rất rõ nét trong tác phẩm Đọc những truyện thơ trên, không chỉ thấy được những phẩm chất tốt đẹp của con người dân tộc Tày, họ đã để lại những dấu ấn riêng biệt, thể hiện phong cách sáng tạo độc đáo, để từ đó các tác phẩm văn học của người Kinh đã chuyển hóa vào văn học Tày một cách tự nhiên và mang màu sắc riêng biệt, tạo cho nó một chỗ đứng nhất định trong nền văn học dân tộc
Truyện thơ Nôm Tày Tổng Tân - Cúc Hoa
Truyện thơ Nôm Tày Tổng Tân - Cúc Hoa có cốt truyện vay mượn từ truyện thơ Nôm Kinh Tống Trân - Cúc Hoa Truyện thơ của đồng bào Tày dài
3002 câu thơ, chia làm 17 đoạn, được viết bằng chữ Nôm Tày và thể thơ thất ngôn
trường thiên Vì vay mượn nên cơ bản cốt truyện của truyện thơ Nôm Tày Tổng
Tân - Cúc Hoa không khác nhiều so với truyện thơ Nôm Kinh Sự sáng tạo của
tác giả người Tày thể hiện ở việc thêm bớt, lược bỏ và bổ sung một số tình tiết Kết thúc của bản Tày và bản Kinh gần giống nhau, đều là những kết thúc có hậu, viên mãn và làm hài lòng người đọc Ở bản Nôm Kinh, kết thúc truyện ở việc Tống Trân trở về được vua Việt ban thưởng, được chọn làm Phò mã, nhưng Hoàng hậu bị lao, cần ăn thịt hươu để chữa bệnh Tống Trân đi săn hươu, đến một khu
Trang 19rừng thì gặp công chúa Bạch Hoa, trên đường từ Tần quốc sang nước Việt tìm chồng là Tống Trân, bị bão dạt vào khu rừng hoang nhiều hươu Tống Trân đi săn gặp được nàng và rước về nhà Nhưng vì ở nhà chàng đã có vợ là Cúc Hoa, nên Tống Trân đã tổ chức một cuộc thi để chọn chính thê, cả hai nàng đều ngang tài ngang sức ở cuộc thi may vá và làm bánh, nhưng đến cuộc thi nấu cơm, nhờ chước
lạ nàng Cúc Hoa đã giành phần thắng, nhờ đó nàng trở thành chính thê Cả gia đình sống sum vầy hạnh phúc Đoạn kết có câu:
Phúc to lại được vợ hiền, Vinh hoa như Tống Trạng nguyên mấy người?
Đó cũng là ước mơ của bao thế hệ người Việt về một cuộc sống gia đình đoàn viên, hạnh phúc
Trở lại với phần kết ở bản Nôm Tày, quan Trạng Tống Trân trở về kinh
đô bản quốc, được vua trọng dụng, cùng bàn luận việc nước Chàng Tống Trân đoàn tụ với hiền thê Cúc Hoa sau bao năm xa cách Cuộc sống viên mãn sum vầy, và không có cuộc thi nào diễn ra
Vợ chồng vạn đại được bình an, Lưu truyền truyện thế gian cùng biết
Tóm tắt cốt truyện Tổng Tân - Cúc Hoa
Tổng Tân sinh ra trong một gia đình hiếm muộn, lên mười tuổi thì cha qua đời, chàng phải cùng mẹ đi ăn xin đây đó Một hôm đến nhà trưởng giả ăn xin, chàng gặp được Cúc Hoa, con gái út của trưởng giả Cúc Hoa đem bốn bát gạo cho chàng đồng thời hỏi han chàng về gia cảnh, nghe xong nàng động lòng cảm thương Trưởng giả nhìn thấy cảnh tượng đó không vui bèn ép gả Cúc Hoa cho Tổng Tân Cúc Hoa ngậm ngùi theo mẹ con Tổng Tân trở về quê chàng Vì được
mẹ giấu cho mười lạng vàng mang theo nên nàng tìm cách trang trải đón thầy về dạy cho chồng chữ nghĩa Tổng Tân sáng dạ, thông minh nên học nhanh và chẳng mấy chốc đã “đủ tinh tường thông cả vũ văn” Đến ngày triều đình mở khoa thi, Tổng Tân lên đường vào kinh ứng thí nhưng hết sạch gạo tiền, Cúc Hoa định
Trang 20đem dải yếm bán đi để chồng lấy lộ phí lên đường, nhưng Tổng Tân khuyên can, nàng đành giữ lại Hai vợ chồng bàn nhau về nhà Trưởng giả cha nàng để xin tiền lộ phí nhưng về đến nơi thì bị ông từ chối thẳng thừng Tống Trân lên kinh
dự thi, vượt qua bao khó khăn, vượt qua nỗi xấu hổ, cuối cùng chàng đỗ Trạng nguyên
Tổng Tân được vinh quy bái tổ, sum họp với gia đình Nhưng sau đó, chàng được lệnh phải đi sứ nước Tần 10 năm Cúc Hoa lại phải gạt nước mắt chia tay chồng và ở nhà chăm lo cho mẹ chồng Ở nước bạn, sau khi vượt qua được thử thách của vua Tần, Tổng Tân và phái đoàn rất được lòng vua nước bạn Chàng được trọng dụng và cùng vua xử lý một số việc công Tổng Tân đã bộc lộ tài năng khi xử các vụ án thiếu phụ giết chồng, án kiện cành đa, và đặc biệt Tổng Tân đã thành công trong việc thu phục Sơn Tinh Lý Vì
Sau nhiều năm xa cách, Cúc Hoa bị cha mình ép bỏ Tổng Tân để gả cho kẻ nhà giàu Trương Đình Cúc Hoa một mực từ chối và tìm đến cái chết, nàng được thần núi cứu và được Lý Vì bảo vệ Lý Vì đến báo tin cho Tổng Tân, chàng nhận được tin mà nóng lòng muốn trở về nhưng niên hạn chưa hết Sau đó Lý Vì cùng sơn thần khuyên nàng trở về Trưởng giả cha Cúc Hoa một mực ép gả nàng cho Trương Đình, kịp ngày cưới Tổng Tân cũng đến hạn trở về, chàng hóa trang thành người ăn mày vào xin ăn ở đám cưới, được hai chị vợ là Cảnh Nữ và Thị Tây giúp
đỡ, lén đem cho đồ ăn Chàng được nghe mẹ đẻ kể về những nỗi uất ức mà bà và Cúc Hoa phải chịu cũng như sự chung thủy của Cúc Hoa Cuối cùng Tổng Tân đã trừng trị những kẻ tham lam, tàn ác là trưởng giả và Trương Đình Chàng đoàn tụ với Cúc Hoa Vì thời gian ở nước Tần, Tổng Tân được lòng vua nên đã được vua Tần gả công chúa Bạch Hoa cho Nhưng điều đó không làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình chàng mà trái lại còn khiến cho hạnh phúc gia đình thêm viên mãn
và trở thành câu chuyện lưu truyền thế gian
Truyện thơ Nôm Tày Phạm Tử - Ngọc Hoa
Truyện thơ Nôm Tày Phạm Tử - Ngọc Hoa có cốt truyện vay mượn từ
Trang 21truyện thơ Nôm Kinh Phạm Tải - Ngọc Hoa Văn bản truyện thơ Nôm Tày
Phạm Tử - Ngọc Hoa hiện đang được lưu giữ tại thư viện Viện Nghiên cứu Hán
Nôm Việt Nam Truyện dài 927 câu thơ, được chia làm 5 đoạn, viết bằng chữ Nôm Tày theo thể thơ thất ngôn trường thiên Cốt truyện khá sát với truyện thơ
Nôm Kinh Phạm Tải - Ngọc Hoa So với bản Kinh, bản của người Tày thể hiện
sự sáng tạo của người bản xứ, đặc biệt là trong những đoạn miêu tả thiên nhiên,
ngoại cảnh và diễn biến tâm trạng nhân vật Nội dung của Phạm Tử - Ngọc Hoa
cho thấy được dấu vết của các phong tục tập quán, quan niệm về thế giới của người Tày
Tóm tắt truyện thơ Nôm Tày Phạm Tử - Ngọc Hoa
Tướng công họ Trần ở huyện Thanh Hà đã nhiều tuổi mới có một con gái đặt tên là Ngọc Hoa Phạm Tử, người Sơn Tây, mồ côi cha mẹ, phải đi ăn xin để tiếp tục việc học Một lần chàng đến gõ cửa nhà Trần công xin ăn gặp được Ngọc Hoa, từ đó Ngọc Hoa đem lòng thương yêu Phạm Tử Vợ chồng tướng công họ Trần chiều ý con gái, cho Phạm Tải và Ngọc Hoa kết duyên Trong làng gã nhà giàu tên là Biện Điền vốn tính vô lại, từng hỏi cưới Ngọc Hoa không được từ đó đem lòng oán ghét, nay thấy nàng lấy chồng thì lòng thù oán lại tăng lên, bèn tạc tượng Ngọc Hoa đem dâng lên Trang Vương Trang Vương vốn là tên vua hiếu sắc, thấy dung nhan tượng Ngọc Hoa mười phần xinh đẹp bèn sai quan quân đến bắt nàng với mong muốn lấy nàng làm vợ Giữa triều đình, Trang Vương ép Ngọc Hoa lấy hắn, nhưng bị nàng cự tuyệt Hắn lại thương lượng với Phạm Tử nhường vợ cho hắn, nhưng Ngọc Hoa vẫn kiên quyết không chịu Trang Vương liền đầu độc Phạm Tử, bức bách Ngọc Hoa Để được trở về quê cũ, nàng viện cớ chồng chết, đạo làm vợ phải để tang ba năm mới nói chuyện tái giá Trang Vương
vì không muốn động lòng dân đành đồng ý để nàng hồi hương
Ngọc Hoa đưa thi hài chồng về quê an táng Hết ba năm chịu tang, vì muốn giữ trọn trinh tiết với chồng, Ngọc Hoa tìm đến cái chết Nàng chết xuống âm phủ, gặp Phạm Tử, cùng với chồng làm đơn kiện Trang Vương Diêm Vương có
Trang 22quan hệ với Trang Vương, nhưng sau khi xét hỏi đành phải tuyên án Trang Vương và ra lệnh ném hắn vào vạc dầu Phạm Tử và Ngọc Hoa được cải tử hoàn sinh trở lại dương thế đoàn tụ với gia đình, không những vậy, Phạm Tử còn kế thừa cai quản cơ nghiệp của Trang Vương khiến cho dân tứ phương an hưởng thái bình
Truyện thơ Nôm Tày Thạch Seng
Khác với hai truyện thơ Phạm Tử - Ngọc Hoa và Tổng Tân - Cúc Hoa
đã được xác định rõ ràng là có nguồn gốc vay mượn từ cốt truyện thơ Nôm Kinh,
truyện thơ Nôm Tày Thạch Seng vẫn còn nhiều nghi vấn về nguồn gốc Giáo sư
Cao Huy Đỉnh cho rằng đề tài dũng sĩ diệt đại bàng xuất hiện ở rất nhiều nước
cả trên thế giới và khu vực Đông Nam Á Nhà nghiên cứu Phan Đăng Nhật lại
cho rằng: “có thể truyện thơ Thạch Sanh ra đời ngay trên đất Cao Bằng mà trung tâm là Cao Bình - Hòa An theo con đường chuyển hóa từ truyện cổ tích đánh Dạ Đìn, sau đó được lưu hành rộng rãi trên toàn quốc” [26, 35] Ông chỉ ra tính chất “liên dân tộc” của truyện: “Thạch Sanh là kết quả công lao bồi đắp của miền núi và miền xuôi, qua quá trình lịch sử lâu dài cùng đoàn kết chiến đấu bên nhau với tinh thần sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau (Hồ Chí Minh) giữa dân tộc Việt - Tày cùng các dân tộc thiểu số khác” [26, 39]
Nhận định của Phan Đăng Nhật dẫn đến một điều rằng, có thể, đề tài dũng
sĩ diệt đại bàng có trong văn học của nhiều dân tộc khu vực Đông Nam Á Mỗi một dân tộc khi tiếp thu đề tài này lại thể hiện một cách khác nhau Riêng ở Việt Nam, văn học hai dân tộc Kinh - Tày đã cho thấy điều đó Thậm chí truyện Thạch Sanh của người Kinh và truyện Thạch Seng của người Tày lại có sự bổ sung và hoàn thiện cho nhau, chứng minh sự giao lưu và gắn bó mật thiết giữa các nền văn hóa, giữa hai dân tộc Mặc dù nguồn gốc của truyện thơ Thạch Seng vẫn là vấn đề cần giới nghiên cứu xác minh cụ thể hơn nhưng chúng tôi vẫn xếp truyện thơ này vào đối tượng nghiên cứu trong đề tài
Truyện thơ Nôm Tày Thạch Seng dài 2005 câu thơ, được viết bằng chữ
Nôm Tày theo thể thơ thất ngôn trường thiên Truyện cũng có kết cấu lắp ghép
Trang 23giống như truyện thơ Nôm Kinh Sự sáng tạo của người Tày chủ yếu tập trung vào các tình tiết Tác giả người Tày tập trung vào xây dựng nhân vật bằng một
số nội dung miêu tả ngoại hình và diễn biến tâm trạng nhân vật Sự độc đáo của Thạch Seng được thể hiện chủ yếu ở không gian miền núi, thiên nhiên miền núi được miêu tả trong truyện
Tóm tắt truyện thơ Nôm Tày Thạch Seng
Quận Cao Bình có vợ chồng Thạch Nghĩa, gia cảnh thanh bần nhưng chuyên tâm làm điều thiện, ngặt nỗi tuổi đã cao mà chưa có con Ngọc Đế cảm động chân tình ấy bèn phái Thái tử xuống đầu thai làm con họ Thạch Đứa trẻ
ra đời khi cha đã mất, mẹ chàng đặt tên là Thạch Seng Thạch Seng sống với
mẹ, nhưng chẳng bao lâu sau, mẹ chàng cũng qua đời Chàng một thân côi cút trong một túp lều dưới gốc đa, làm nghề đốn củi sớm hôm đổi gạo sống qua ngày
Khi đó có người làm nghề nấu rượu tên là Lý Thông, sống cùng mẹ già, trong một chuyến đi tình cờ đến gốc đa, gặp gỡ và kết nghĩa anh em với Thạch Seng Thông mời Thạch Seng về nhà làm việc đỡ đần hai mẹ con Trong vùng
có một con Chằn tinh thường bắt người ăn thịt, nên dân lập miếu thờ và hàng năm phải nộp cho nó một mạng người, mới được nó để cho yên ổn làm ăn
Năm ấy, đến lượt Lý Thông phải nộp mạng Hắn bèn tính kế lừa Thạch Seng thế mạng cho mình Thạch Seng không mảy may nghi ngờ liền đi đến miếu Chằn tinh, chàng chiến đấu và giết chết được Chằn tinh, cắt đầu mang về Nhưng
về đến nhà chàng lại bị Lý Thông đoạt công Nhờ công trừ Chằn tinh, Lý Thông được vua phong làm đô đốc và hưởng bổng lộc triều đình Bấy giờ, vua Viễn Vương có công chúa Quỳnh Nga xinh đẹp đang tuổi kén chồng, một hôm bị con yêu tinh Đại bàng cắp đi mất Nhà vua truyền cho Lý Thông đi tìm, và hứa khi tìm được sẽ gả công chúa và truyền ngôi cho Lúc Đại bàng tinh bay qua, Thạch Seng đang ở bên gốc đa, liền giương cung bắn trúng một cánh Lần theo vết máu, Thạch Sanh biết được cái hang ẩn náu của Đại bàng
Để cứu công chúa, Lý Thông nghĩ ra cách mở gánh hát mong tìm được
Trang 24Thạch Seng Hai người gặp lại nhau và cùng đi cứu công chúa Đến hang Đại bàng Thạch Seng ròng dây xuống hang đưa được công chúa lên trước Lý Thông khi cứu được công chúa bèn cho quân lính lấy đá lấp kín cửa hang, mưu giết chết Thạch Seng Trong hang, Thạch Seng đã giao tranh với Xà vương (Đại bàng tinh), giết chết được yêu tinh và cứu được thái tử con vua Thủy Tề Để đền ơn, Thái tử con vua Thủy Tề mời Thạch Seng xuống thủy cung chơi Khi Thạch Seng trở về, vua Thủy Tề tặng chàng vô số châu báu nhưng chàng chỉ xin một cây đàn thần và một cái niêu thần
Vì oán Thạch Seng, hồn Chằn tinh và Xà vương trộm châu báu trong cung rồi vu họa cho chàng Thạch Seng bị tống giam Trong ngục, chàng lấy cây đàn thần ra gảy để bày tỏ nỗi lòng
Về phần công chúa Quỳnh Nga, vì thấy Lý Thông sai lính lấp hang, mưu hại Thạch Seng, nên nàng đã uất ức hóa câm Nay nghe được tiếng đàn của Thạch Seng, công chúa bỗng cất lời cười nói Nghe con tâu bày, nhà vua cho vời Thạch Seng đến Sau khi rõ mọi chuyện, nhà vua truyền lệnh bắt giam mẹ con Lý Thông, nhưng được Thạch Seng xin tha và cho về quê cũ Trên đường trở về, mẹ con Lý Thông bị trời đánh chết, hóa kiếp thành bọ hung
Thạch Seng được Viễn Vương gả công chúa Quỳnh Nga cho Tức giận vì trước đây bị công chúa từ chối lời cầu hôn, thái tử mười tám nước chư hầu cùng kéo quân sang quấy nhiễu Thạch Seng lại đem cây đàn thần ra gảy, tiếng đàn làm quân đối phương rã rời tự tan rã Trước khi rút về nước, đội quân đông đảo
ấy còn được Thạch Seng cho ăn một bữa cơm Niêu cơm tuy nhỏ nhưng ăn bao nhiêu cũng không hết Về sau Thạch Seng sống hạnh phúc cùng công chúa Quỳnh Nga và cùng cai trị vương quốc
* Tiểu kết chương 1
Do những ảnh hưởng của lịch sự phát triển tộc người, đời sống vật chất và tinh thần, nhu cầu tự thân trong đời sống cộng đồng, sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc đã dẫn đến sự ra đời của truyện thơ Nôm Tày Trong kho tàng truyện
Trang 25thơ Nôm Tày có hiện tượng khá đặc biệt, một số tác phẩm có cùng cốt truyện với truyện thơ Nôm Kinh Tìm hiểu về những truyện thơ này, chúng tôi rút ra nhận xét như sau:
Nền văn hóa tộc người có bề dày vững chắc và đội ngũ nhân sĩ đông đảo, hùng hậu, có tri thức trình độ cao đã giúp cho văn hóa, văn học Tày tiếp nhận văn hóa, văn học Kinh khá nhanh chóng, dễ dàng Nhưng văn học Tày không chỉ tiếp nhận một cách thụ động mà đây là sự chịu ảnh hưởng mang tính chất tái tạo
và nâng cao Đặc biệt hơn nữa, chữ Nôm Tày xuất hiện từ rất sớm, gần như song song với sự xuất hiện của chữ Nôm Kinh, do đó, những giá trị văn hóa của người Tày đã sớm được ghi chép lại bằng chính thứ văn tự ghi âm tiếng nói của dân tộc
họ Sự xuất hiện sớm của chữ thơ Nôm Tày dẫn đến sự xuất hiện sớm của văn học Nôm Tày
Nội dung cốt truyện của các tác phẩm chúng tôi khảo sát, về cơ bản không
có sự thay đổi nhiều so với bản gốc Với quan điểm kế thừa, tiếp thu, các tác giả người Tày gần như giữ nguyên cốt truyện có sẵn Nhưng cũng có tác phẩm, người Tàu sáng tạo thêm một số đoạn mà người Kinh không có (chẳng hạn như đoạn 8
của Tống Tân - Cúc Hoa) tuy nhiên những nội dung như thế không nhiều, chủ
yếu sự sáng tạo của người Tày nằm ở những tình tiết Bởi vì, các tác giả người Tày không thể thoát ra khỏi sự chi phối của các phương pháp sáng tác đương đại Trong bối cảnh hòa nhập giao lưu văn hóa, sự giao lưu - tiếp biến văn học là điều không thể tránh khỏi Văn học người Tày giao lưu và tiếp biến với văn học người Kinh tạo nên sự phong phú trong tổng thể văn học Việt Nam Sự giao lưu và tiếp biến văn học đó là biểu hiện của một cuộc sống đại đồng trên toàn vẹn lãnh thổ
Việt Nam
Trang 26Chương 2 NGUYÊN NHÂN CỦA QUÁ TRÌNH GIAO LƯU - TIẾP BIẾN GIỮA CÁC TRUYỆN THƠ NÔM TÀY VÀ TRUYỆN THƠ NÔM KINH CÓ
2.1 Những diễn tiến của lịch sử văn hóa, nguyên nhân của sự giao lưu - tiếp biến
Trên một địa bàn rộng lớn, các dân tộc cùng chung sống, việc xảy ra hiện tượng giao lưu - tiếp biến văn hóa là điều tất yếu Trong số các dân tộc anh em trên lãnh thổ Việt Nam, người Kinh và người Tày có những sự giao lưu và tiếp biến trong văn hóa, đặc biệt là văn học Minh chứng cho điều đó là những tác phẩm truyện thơ Nôm Tày có cùng cốt truyện với truyện thơ Nôm Kinh mà chúng tôi đang khảo sát, nghiên cứu Diễn tiến lịch sử được coi là nguyên nhân chính dẫn đến sự giao lưu và tiếp biến văn hóa, trong đó có văn học
Người Tày vốn là một cộng đồng dân tộc thiểu số có số dân đứng thứ hai trên toàn quốc (sau người Kinh) Địa bàn cư trú của đồng bào Tày rải rác ở nhiều nơi trên toàn quốc nhưng tập trung nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Giang…Theo các
sử liệu, sự giao lưu văn hóa Kinh - Tày được thể hiện rõ nhất qua chính sách của các triều đình phong kiến, cụ thể là chính sách “phiên thần” của nhà Lê và chính sách “lưu quan” của nhà Nguyễn Theo đó, triều đình cử những viên quan đi trấn
ải biên giới, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Trong những cuộc “tuần hành” làm nhiệm
vụ quốc gia đó, các vị quan dưới xuôi mang theo gia đình, đồng thời mang theo văn hóa người Kinh ở đồng bằng lên miền ngược Từ đó xuất hiện những sự giao
Trang 27thoa văn hóa giữa người Kinh và người Tày như giao thoa trong phương thức sản xuất, kinh nghiệm sản xuất, đời sống văn hóa…
Như chúng ta đã biết, Cao Bằng là một trong những trung tâm của văn hóa Tày Đại đa số truyện thơ Nôm Tày được phát hiện ở Cao Bằng, thậm chí mở
đầu truyện Thạch Seng, tác giả người Tày đã khẳng định về quê quán rõ ràng
của chàng trai họ Thạch:
Xưa có người ở quận Cao Bình Người nhân đức có tên Thạch Nghĩa Chuyên bán củi làm kế sinh nhai Kết nàng hiền người ngay Dương thị
(Thạch Seng, câu 1 - 4)
Cao Bình là địa danh thuộc tỉnh Cao Bằng, nay thuộc địa phận huyện Hòa
An Cao Bằng là nơi tập trung đông đảo cộng đồng người Tày và có nền văn hóa bản địa phát triển hết sức phong phú Khảo qua các lát cắt lịch sử có thể thấy sự giao lưu văn hóa Kinh - Tày ở Cao Bằng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự xuất hiện của các tác phẩm truyện thơ Nôm Tày có cùng cốt truyện với truyện thơ Nôm Kinh
Theo nhiều nguồn sử liệu cho thấy, người Kinh đã lên Cao Bằng từ lâu đời nhưng rõ nhất là giai đoạn nhà Mạc chạy loạn lên Cao Bằng Năm 1592, Trịnh Tùng tiến đánh Thăng Long, vua nhà Mạc khi đó là Mạc Mậu Hợp phải bỏ chạy
về Kim Thành (Hải Dương) Trong tình thế cấp bách, Mạc Mậu Hợp nhường ngôi lại cho con trai là Mạc Toàn sau đó tự mình thống lĩnh quân đội chống lại quân họ Trịnh Tuy nhiên, Mậu Hợp thất bại, bị bắt và bị hành hình Không lâu sau Mạc Toàn cũng bị bắt, triều Mạc kết thúc Tuy nhiên, hậu duệ và thế lực của
họ Mạc vẫn chưa bị tiêu diệt hoàn toàn, họ chạy khỏi Thăng Long cũng như miền
xuôi để lên cát cứ những vùng đất biên ải, trong đó có Cao Bằng Theo Đại Việt
sử ký toàn thư, cho đến thế kỷ 17 thì các vùng như Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao
Bằng vẫn thuộc quyền quản lý của nhiều người như Mạc Kính Chỉ, Mạc Kính
Trang 28Cung, Mạc Kính Khoan đều là con cháu thuộc chi của Mạc Kính Điển
Liên quan đến nhà Mạc lên cát cứ Cao Bằng, dân gian vẫn lưu truyền câu chuyện về sấm Trạng Trình Vào những năm cuối đời, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã lâm bệnh nặng, trước vận mệnh quốc gia đang suy yếu, vua Mạc Mậu Hợp sai con đến hỏi Trạng về sách lược kéo dài triều đại, Nguyễn Bỉnh Khiêm
đã nói: “Cao Bằng tuy thiểu, khả diên sổ thế” (Đất Cao Bằng tuy nhỏ hẹp nhưng cũng có thể kéo dài được mấy đời) Về sau quả nhiên nhà Mạc lên cát cứ Cao Bằng và kéo dài thêm mấy mươi năm Tuy là dữ liệu dã sử nhưng từ đó cũng có thể thấy sự kiện nhà Mạc lên Cao Bằng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giao lưu văn hóa của dân tộc Tày miền núi và dân tộc Kinh miền xuôi
Trong thời gian nhà Mạc chiếm giữ Cao Bằng, tranh chấp giữa các thế lực phong kiến vẫn diễn ra khiến cho nhân dân chịu không ít lầm than Dân gian vẫn
có câu ca:
Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non Nàng về nuôi cái cùng con,
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng
(Ca dao) Sau khi chiếm cứ được Cao Bằng và các vùng đất lân cận, nhà Mạc định
đô ở Cao Bằng, thời gian nhà Mạc duy trì ở Cao Bằng kéo dài 85 năm (1592 - 1677) trải qua ba đời vua: Mạc Kính Cung, Mạc Kính Khoan, Mạc Kính Vũ
Mạc Kính Cung là em thứ 7 của Mạc Kính Chỉ, sau khi Kính Chỉ mất, Kính Cung lên ngôi và lấy hiệu là Càn Thống Ông trấn giữ cả một vùng rộng lớn từ sông Nhị Hà trở về Bắc, cả vùng trung du và miền núi như các tỉnh Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn Các tướng lĩnh về tập hợp, nhân dân đi theo ông rất đông Ông chấn chỉnh kỷ cương mọi mặt, an phục nhân tâm mở trường dạy học, mở khoa thi, thu nạp nhân tài, khuyến khích phát triển nông nghiệp, mở các ngành nghề, đường sá chợ búa, thương mại phát đạt, chiêu binh mãi mã… Ngày
Trang 29đêm luyện tập quân đội tề chính uy nghi Bên cạnh đó, ông chăm lo sửa sang thành trì, đắp nhiều thành nhỏ ở nơi hiểm yếu tạo thành địa thế thuận lợi tiến thoái lưỡng tiện Giảm sưu thuế, phạt nặng quan tham, giữ được cách sống hòa đồng giữa bản thân với nhân dân Những chính sách của Mạc Kính Cung có thể nói là tương đối tích cực trong công cuộc trị dân của ông Tuy nhiên vì lực lượng của quân Trịnh quá đông và hùng mạnh nên Mạc Kính Cung cuối cùng đã chịu bại vong và tử trận năm 1625
Những năm sau đó, cháu nội của Mạc Kính Điển, cháu gọi Mạc Kính Cung
là chú, Mạc Kính Khoan lên ngôi lấy hiệu là Long Thái Cũng giống như tiền nhân, Kính Khoan thi hành những chính sách tích cực như chăm chỉ cho binh lính tập luyện cố gắng gây dựng một đội quân hùng hậu, trên thực tế quân đội của Long Thái cũng đã từng uy hiếp kinh thành Thăng Long, tuy nhiên do tương quan lực lượng quá chênh lệch, ông vẫn thất bại trước quân Trịnh, cuối cùng đành rút về Cao Bằng Năm Mậu Dần 1638, ông mất ở Cao Bằng Trong thời gian ở ngôi, Mạc Kính Khoan chú ý đến bồi dưỡng nhân tài, ông mở trường học
và tổ chức nhiều khoa thi, lấy được nhiều Tiến sĩ, và tuyển chọn nhiều nhân tài phụng sự cho triều đình nhà Mạc Đây là một điểm đáng chú ý và có đóng góp không nhỏ trong cuộc giao thoa văn hóa Kinh - Tày
Năm 1638, con trai trưởng của Mạc Kính Khoan là Mạc Kính Vũ lên ngôi, lấy hiệu là Thuận Đức Kế tục truyền thống cha ông, vị vua này cho tập duyệt quân đội, sắc lệnh rõ rành, thưởng phạt nghiêm minh, chiêu binh mãi mã Bên cạnh việc chú trọng vũ trang, ông cũng quan tâm đến việc phát triển nhân tài, ông mở nhiều khoa thi tuyển chọn người phụng sự Trong số các khoa thi, có Trạng nguyên Nguyễn Thị Duệ là nữ Trạng nguyên đầu tiên và cũng là duy nhất trong lịch sử nước ta Để vỗ về nhân dân, Mạc Kính Vũ giảm nhẹ sưu thuế, mở cửa giao lưu buôn bán với Trung Quốc, cho tự do sản xuất đồ mỹ nghệ, khuyến khích nông dân phát triển nông nghiệp Và điều quan trọng nhất cũng giống như các bậc cha anh, ông lại tuyên chiến với quân Trịnh Cuộc chiến dòng dã 40 năm,
Trang 30thắng bại thăng trầm Khi thắng thế, quân Mạc tiến xuống phía nam, khi thất trận quân Mạc lại lùi về cố thủ căn cứ Ông từng giúp Ngô Tam Quế chống Thanh, sau bị rơi vào thế gọng kìm của nhà Thanh và quân Trịnh, cuối cùng thất bại Sau Mạc Kính Vũ, nhà Mạc ở Cao Bằng còn kéo duy trì được hai đời nữa là Mạc Kính Hỷ và Mạc Kính Quang, sự duy trì yếu ớt và kết thúc triều đại vào năm
1683
Có thể nói sự kiện nhà Mạc lên trấn thủ và cát cứ Cao Bằng là một tiền đề
vô cùng quan trọng trong sự giao thoa hai nến văn hóa Kinh - Tày Kinh đô Cao Bằng của nhà Mạc là trung tâm giao lưu của văn hóa, với gần một thế kỉ tồn tại, nơi đây đã trở thành nơi hội tụ tinh hoa của đồng bào Tày Sự giao lưu và tiếp biến thể hiện trên mọi mặt như: kinh tế, văn hóa, tín ngưỡng, ngôn ngữ….Nhận định về sự giao lưu văn hóa này, Giáo sư Trần Quốc Vượng từng nói: “Khi nhà Mạc ở Cao Bằng mòn mỏi đi vì các cuộc đánh phá của nhà Lê - Trịnh và mất ngôi hẳn từ năm 1677 thì các ca công, nhạc công của triều đình Mạc tản mát vào dân và Tày hóa Trước và sau đó, do có hiểu biết về âm nhạc cung đình, họ dạy cho dân, cho các ông mo then nhiều bài hát bản nhạc Những làn điệu đó đã dược Tày hóa, dân gian hóa thành các bài Bụt, bài Giàng Song người pháp sư Tày vẫn nhớ ơn họ và thờ họ làm tổ sư với các tên Quản Nhạc, Lý Quỳnh Văn…”
Trong cuộc giao lưu và tiếp biến văn hóa đó, một số giá trị văn hóa người Tày đã được “Kinh hóa”, hay một số giá trị văn hóa người Kinh đã được “Tày hóa” Sự giao lưu và tiếp biến đó diễn ra một cách tự nhiên đến khó phân định minh bạch Trong nhóm 3 truyện thơ Nôm Tày mà luận văn của chúng tôi chọn
làm đối tượng, có thể thấy rõ ràng truyện Tổng Tân - Cúc Hoa và Phạm Tử -
Ngọc Hoa là hai truyện vay mượn cốt truyện từ người Kinh, tuy nhiên truyện Thạch Seng có phải là truyện vay mượn từ văn học người Kinh hay không thì
vẫn còn là vấn đề được giới học thuật quan tâm và đánh giá lại Sự “vay mượn” này chắc chắn có cơ sở từ sự đồng điệu trong tâm hồn hai dân tộc Kinh - Tày, và xuất phát từ những sự tương đồng trong văn hóa
Trang 31Có thể nói tiến trình lịch sử, đặc biệt là công cuộc xây dựng cơ sở cát cứ của nhà Mạc khi bỏ chạy khỏi Thăng Long là một yếu tố vô cùng quan trọng trong quá trình giao lưu văn hóa Kinh – Tày Vua tôi nhà Mạc mang đến Cao Bằng văn hóa đồng bằng, cụ thể là văn hóa dân tộc Kinh, giao lưu tiếp xúc với văn hóa của người Tày bản địa Trên cơ sở của sự giao lưu tiếp xúc đó, văn hóa Kinh – Tày có tác động tương hỗ nhau, có thể văn hóa Kinh ảnh hưởng đến văn hóa Tày hoặc cũng có thể văn hóa Tày tác động lại văn hóa Kinh, sự tác động có tính chất hai chiều Đó là cơ sở ra đời của những truyện thơ Nôm Tày và Nôm Kinh có cùng cốt truyện Sự ảnh hưởng và giao lưu văn hóa giữa hai tộc người Kinh – Tày là rất lớn và trên nhiều phương diện, trong nhiều lĩnh vực, và truyện thơ chỉ là một lĩnh vực nhỏ
2.2 Phương pháp sáng tác thời trung đại và ảnh hưởng của nó đến các truyện thơ Nôm Tày và truyện thơ Nôm Kinh có cùng cốt truyện
Thoạt nghe, luận điểm này có vẻ phi lý vì văn học Trung đại Việt Nam đại
đa số được sáng tác bởi đông đảo đội ngũ tri thức Hán học, tác phẩm được thể hiện bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm, như vậy có nghĩa tác phẩm văn học trung đại Việt Nam là những tác phẩm có tác giả rõ ràng, được phân định với tác phẩm văn học dân gian (trong đó có truyện Nôm dân gian) Tuy nhiên, cũng cần nhớ lại rằng, ở thời kì nào thì văn học cũng có những luồng riêng giữa nguồn chung, tức là song song với sự phát triển của văn học viết vẫn là sự tồn tại và phát triển của văn học dân gian Hai dòng văn học này cùng tồn tại, cùng phát triển, do đó không tránh khỏi những giao thoa, ảnh hưởng Trong bối cảnh đó, sự tác động của phương pháp sáng tác văn học trung đại đến truyện thơ Nôm là điều không thể không diễn ra
2.2.1 Sự thể hiện con người trong văn học trung đại Việt Nam và con người trong truyện thơ Nôm Tày
Chúng ta đều biết, văn học trung đại Việt Nam nói riêng và văn học cổ trung đại Á Đông nói chung đều chịu ảnh hưởng của các hệ tư tưởng triết học
Trang 32phương Đông trong đó có ba hệ tư tưởng lớn Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo
Do đó con người trong văn học trung đại cũng mang triết thuyết của ba học thuyết
này, chẳng hạn như thuyết phi ngã của Nho gia, thuyết vô ngã của đạo Phật và thuyết vong ngã của Lão - Trang Tuy vậy, theo giáo sư Trần Đình Sử “cả tam
giáo Nho - Phật - Đạo đều chủ trương lý thuyết phá ngã, vô ngã, vô kỷ, nhưng
không hề là một sự diệt ngã tuyệt đối Trái lại, tất cả đều dựa vào phẩm chất cá
nhân để giải phóng cái ngã nội tại khao khát tự do được bước sang một thế giới khác, không gò bó, không tạm bợ.” [40,203] Điều này cũng có thể thấy từ trong cái chết của Phạm Tử và Ngọc Hoa, khi bị thế lực thống trị đè nén đến mức phải đến đường cùng, Phạm Tử bị ép phải từ giã cõi đời, từ giã người vợ yêu thương trong bữa tiệc “thuốc độc” của Trang Vương Cái chết đó của chàng bị tác động
dữ dội từ ngoại cảnh, còn Ngọc Hoa thì tìm đến cái chết bằng một ý thức nội tâm Nàng tự tìm đến cái chết để bảo toàn lòng trinh bạch thủy chung với chồng, đồng thời cũng là một lời phản kháng mạnh mẽ với thế lực xã hội đang chà đạp lên hạnh phúc của dân lành Ở một khía cạnh nào đó, cái chết của Ngọc Hoa là
minh chứng rõ ràng cho một sự vong ngã để tìm đến một thế giới khác, thế giới
có người nàng yêu Có thể nàng không chắc rằng nơi thế giới bên kia sẽ có một cuộc sống hạnh phúc nhưng ít nhất, nơi đó sẽ được ở bên người nàng yêu thương
- Phạm Tử
Triết thuyết vô ngã, phi ngã khiến cho văn học trung đại chịu sự quy định chặt chẽ của tính quy phạm, tuy vậy con người cá nhân vẫn được thể hiện một cách phong phú, sinh động Tổng Tân hay Thạch Seng là đại diện cho người anh hùng của dân tộc Tày, một mẫu người anh hùng mang trong mình cảm hứng sử thi của cả một dân tộc Tuy nhiên, Tổng Tân và Thạch Seng ở một phần nào đó trong con người họ vẫn là họ, tồn tại những nét riêng biệt trong cái chung tổng thể Có thể nói, bên trong người anh hùng đánh bại lang sói, hùm beo trừ hại cho dân lành vẫn là một chàng Tổng Tân quan trạng tài hoa phong nhã, bên trong một người anh hùng đại diện cộng đồng diệt chằn tinh, xà vương vẫn là một
Trang 33chàng Thạch Seng chất phác, thật thà, rũ bỏ danh lợi thủy cung để về với gốc đa thân thuộc, trọn đạo hiếu thờ phụng xuân huyên
Chịu sự chi phối của hệ thống thi pháp trung đại, đồng thời không ngừng sáng tạo theo tiếng gọi của cảm xúc bản ngã, nhà sáng tác thời trung đại giống như “người nghệ sĩ múa một tay còn tay kia bị cột vào truyền thống” Nếu áp dụng vào truyện thơ Nôm Tày, có thể thấy được điều này tương đối rõ nét
Con người trong văn học trung đại theo đó cũng có sự thay đổi theo nhiều chiều kích khác nhau, lúc nghiêm trang trong vòng khuôn thước kinh điển, lúc bứt phá dữ dội để tâm hồn rung động và thăng hoa bằng những cảm xúc chân thật và mãnh liệt vốn có của con người Điều này, có thể dễ dàng nhận thấy thông qua các nhân vật, đặc biệt là những nhân vật nữ trong truyện thơ Nôm Tày Ngọc Hoa vượt qua những khuôn thước “môn đăng hộ đối” để quyết lấy cho được chàng Phạm Tử hàn nho cũng bởi cảm tình ngay từ buổi đầu gặp mặt,
đó là sự chiến thắng của tình yêu với khuôn phép xã hội Nhưng nàng vẫn giữ trọn đạo vợ chồng, chịu tang ba năm khi chồng mất, giữ lòng trung trinh đến nỗi quyên sinh theo chồng Có thể nói ở Ngọc Hoa, sự kết hợp giữa cảm xúc cá nhân vượt qua khuôn rào lễ giáo và sự chuẩn mực trong đạo lý nhân sinh được thể hiện một cách rõ nét nhất Quỳnh Nga vì trả ơn cứu mạng đã tự mình kết ngãi cùng Thạch Seng, nàng công chúa lầu ngọc gác son đã vượt qua hàng rào cung cấm để đến với chàng tiều phu côi cút, đó là sự vượt phá lễ giáo, chuẩn mực nhưng xét theo cảm xúc nội tại mỗi người thì lại hoàn toàn có cơ sở
Con người cá nhân, cá thể trong văn học trung đại thường không được thể hiện một cách phóng khoáng, cởi mở như trong văn học hiện đại Song điều đáng quý là mặc dù chịu sự chi phối của tính quy phạm, người ta vẫn nhìn thấy trong văn học trung đại những tâm hồn nghệ sĩ phá cách; biết yêu, say, rung động trước
vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống và con người; biết sống bằng những cảm xúc riêng tư từ trong thẳm sâu con tim mình
Khi nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam, có thể nhìn thấy hai dòng
Trang 34riêng giữa một dòng chung Một dòng hướng về những chuẩn mực, hướng về những chủ đề, quan niệm mang tính công thức Dòng này tạo nên kiểu văn học mang tính quan phương, cung đình, chủ yếu là tụng ca vua sáng tôi hiền, đề cao
lễ nghĩa Nho giáo
Người sáng tác quan niệm “thi dĩ ngôn chí”, “văn dĩ tải đạo”, văn chương xoay quanh những chủ đề quen thuộc của đạo đức nhà Nho Con người xuất hiện trong dòng văn học này, lẽ dĩ nhiên là con người cộng đồng, con người quân quốc… mang lí tưởng “trí quân trạch dân”, mang khát vọng xây dựng một xã hội Nghiêu Thuấn Minh chứng cho luận điểm này có thể dễ dàng tìm thấy trong các sáng tác của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm…
Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn, Dường ấy ta đà phỉ sở nguyền
(Nguyễn Trãi, Tự thán 4)
Dòng thứ hai vượt thoát ra ngoài khuôn phép, luật lệ để những cảm xúc thật, những tình cảm thật được thăng hoa Ở dòng thứ hai này, con người cá nhân
có dịp bứt phá, quẫy đạp bằng một cái tôi mạnh mẽ, phóng khoáng
Nếu lấy những quy tắc, điển phạm trong mỹ học phong kiến làm tâm thì
có thể xem dòng văn học thứ nhất là “dòng văn học hướng tâm” và dòng văn học thứ hai là “dòng văn học ly tâm” như PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn đã dùng
Lịch sử văn học chứng minh rằng, chỉ khi nào văn học ly tâm thì mới xuất hiện những tiếng nói nghệ thuật đích thực, mới xuất hiện những tác giả văn học lớn Những kiệt tác để đời của những đấng tài hoa như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,
Hồ Xuân Hương… phần lớn được sáng tạo trong những giây phút ly tâm của tâm hồn họ Vượt thoát ra khỏi những khuôn phép là lúc cảm xúc con người được thăng hoa và hiện thực hóa bằng tác phẩm văn chương Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn từng nói: “Trong những trạng huống bức xúc, những cảnh ngộ dễ khơi gợi niềm trắc ẩn trong tâm hồn nhà nghệ sĩ… sẽ là lúc bột khởi những rung động nghệ thuật đích thực, từ đó khởi động những suy cảm cá nhân” [39,58] Sự thể hiện con người trong văn học trung đại theo chiều hướng tâm hay ly tâm gắn liền
Trang 35với cá tính sáng tạo của nhà văn, đồng thời gắn liền với sự vận động của lịch sử Mỗi thời đại văn học với những điều kiện lịch sử, xã hội, văn hóa riêng sẽ hình thành quan niệm nghệ thuật về con người của riêng thời đại ấy
Trở lại với nhóm ba truyện thơ Nôm Tày có cùng cốt truyện với truyện thơ Nôm Kinh, có thể thấy những nhân vật đều thể hiện được tính “ly tâm” cũng như “hướng tâm” Tổng Tân “hướng tâm” ở thực hiện trách nhiệm cao cả với quốc gia đại sự, và “ly tâm” ở khát vọng với hạnh phúc tình yêu; Ngọc Hoa
“hướng tâm” ở lòng hiếu thảo và sự thủy chung, nhưng cũng “ly tâm” ở sự phản kháng Trang Vương mãnh liệt…Như vậy, bản thân trong mỗi nhân vật đã có những sự “hướng tâm” và “ly tâm”, hai thái cực này luôn tồn tại cùng nhau, đan xen nhau, và nó chính là bản thân nguồn gốc của sự phát triển
Hình tượng con người trong văn học trung đại Việt Nam còn được thể hiện qua các nguồn cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đạo Hai cảm hứng sáng tác này bao trùm nền văn học và hòa quyện nhau không thể tách rời Tuy nhiên mỗi cảm hứng thể hiện rõ nét ở một giai đoạn lịch sử nhất định và quy định đặc trưng văn học của mỗi giai đoạn đó
Cảm hứng yêu nước được thể hiện rõ nét trong văn học giai đoạn đầu (thế
kỉ X - XV), sau đó trở lại trong văn học cuối thế kỉ XIX (khi thực dân Pháp xâm lược) Cảm hứng nhân đạo thể hiện rõ trong văn học từ thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX Sự vận động của văn học đi từ cảm hứng yêu nước sang cảm hứng nhân đạo bắt đầu từ sự vận động của quan niệm nghệ thuật về con người để rồi chính quan niệm này quy định sáng tác của nhà văn, chi phối việc lựa chọn ngôn ngữ, thể loại, bút pháp…
Từ thế kỉ X - thế kỉ XV là giai đoạn phục hưng và phát triển đất nước sau nghìn năm Bắc thuộc, giai đoạn này cũng là giai đoạn mà dân tộc ta không ngừng đấu tranh chống các thế lực ngoại xâm phương Bắc để gìn giữ bờ cõi Chính vì thế, cảm hứng chính trong văn học là cảm hứng yêu nước, con người được đề cao trong văn học là con người cộng đồng - con người hướng tâm, tức là những
Trang 36con người sống theo những chuẩn mực đạo đức của cộng đồng (thời trung đại chuẩn mực ấy là đạo đức Nho giáo) Hiện thực giai đoạn đầu đơn giản, không rối rắm, phức tạp nên con người trong văn học cũng không có nhiều băn khoăn, day dứt; cũng không thể hiện nhiều những ham muốn, khát vọng cá nhân
Có thể kể ra một số hình ảnh con người nổi bật như: con người hùng tráng với tư thế lẫm liệt, lí tưởng lớn lao, khát vọng cháy bỏng, nhân cách cao đẹp
trong Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão; con người bi tráng dù rơi vào hoàn cảnh
bi kịch nhưng nhiệt tâm cứu nước vẫn không lúc nào vơi cạn trong Cảm hoài
của Đặng Dung; con người ưu ái, suốt đời lo nghĩ cho nước cho dân trong thơ Nguyễn Trãi…
Từ thế kỉ XVI về sau, hiện thực trở nên phức tạp hơn rất nhiều, xã hội phong kiến rơi vào khủng hoảng, các thế lực phong kiến chém giết, tàn hại lẫn nhau Mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết Vận mệnh, quyền sống của con người bị đặt bên bờ vực thẳm Lúc này văn học nói lên tiếng nói của mình để bênh vực, ngợi ca, yêu thương, trân trọng con người Chính vì thế văn học chuyển từ cảm hứng yêu nước sang cảm hứng nhân văn, nhân đạo Con người được đề cao trong văn học là con người cá nhân
Có thể nói, quá trình vận động của hình tượng con người trong văn học trung đại đi từ chỗ giản đơn đến phức tạp, từ con người cộng đồng đến con người
cá nhân với nhiều biểu hiện đa dạng đã khiến văn học có những bước phát triển vượt bậc theo hướng từ bỏ dần các yếu tố quan phương, cung đình để tìm đến với những cảm xúc chân thật, những rung động tế vi trong thẳm sâu tâm hồn Những con người có sự cựa quậy về cái tôi bản ngã, phản ứng lại lễ giáo phong kiến; những con người mất dần niềm tin vào những giá trị của đạo đức nhà Nho, cảm nhận được sự cô độc, lạc lõng đồng thời không ngừng khát khao về tình yêu
và hạnh phúc
Có thể kể ra một số hình ảnh con người nổi bật như: con người bi kịch,
Trang 37con người khát vọng trong Đoạn trường tân thanh, Chinh phụ ngâm, Cung
oán ngâm, thơ Nôm Hồ Xuân Hương…; con người khủng hoảng niềm tin trong
thơ chữ Hán Nguyễn Du, thơ Cao Bá Quát; con người tự phản tỉnh trong Cung
oán ngâm, thơ Nguyễn Công Trứ…
Với truyện thơ Nôm Tày, nhân vật trong những tác phẩm truyện thơ Nôm Tày không thể hiện nhiều qua cảm hứng, nhất là hai cảm hứng chủ đạo của văn học trung đại Việt Nam Nhân vật trong truyện thơ Nôm Tày gần giống với kiểu nhân vật của văn học dân gian, những nhân vật mang tính đại biểu cho cả cộng đồng Như chúng tôi đã trình bày, tính đại biểu đó thể hiện chất sử thi Nếu xét
về chất sử thi có thể thấycác nhân vật trong truyện thơ Nôm Tày biểu lộ rõ hơn
so với các nhân vật trong truyện thơ Nôm Kinh Những Tổng Tân, Thạch Seng
có phần thể hiện rõ chất sử thi hơn với những Tống Trân, Thạch Sanh, đặc biệt
là ở những đoạn các nhân vật này chiến đấu với cái ác, bảo vệ công bằng và lẽ phải
2.2.2 Bút pháp ước lệ tượng trưng của văn học trung đại và sự thể hiện trong truyện thơ Nôm Tày
2.2.2.1 Ước lệ trong văn học nói chung
Trong đời sống xã hội, ước lệ là một quy ước có tính cộng đồng Ước lệ
là một tín hiệu riêng của một cộng đồng khi cảm nhận thực tại, làm cho sự vật
và hiện tượng hiện lên đúng với chiều kích quy ước và đúng với cách hiểu của
cả cộng đồng Văn học nghệ thuật mọi thời, mọi dân tộc bao giờ cũng có tính
ước lệ Bởi lẽ, văn học không là phiên bản thu nhỏ của hiện thực đời sống, nhưng bắt nguồn từ mảnh đất thực tại, thanh lọc thực tại qua cái nhìn nghệ thuật của nhà văn, lăng kính thẩm mỹ của thời đại Có điều, ước lệ trong văn học là ước lệ thẩm mỹ có tính qui ước của các nhà văn trong một thời đại, một dòng văn học
nhất định
2.2.2.2 Ước lệ trong văn học trung đại Việt Nam
Trong văn học trung đại, ước lệ được nhà văn sử dụng triệt để, nghiêm túc
Trang 38và phổ biến Các nhà văn bao giờ cũng cảm thụ và diễn đạt thế giới bằng hệ thống nghệ thuật ước lệ Ước lệ đã trở thành một đặc trưng thi pháp của văn học Đặc trưng thi pháp này hình thành từ bối cảnh lịch sử xã hội phong kiến và cảm quan thẩm mỹ của tầng lớp nghệ sĩ Hán học Ước lệ bao gồm ba tính chất: Tính uyên bác và cách điệu hóa cao độ; tính sùng cổ; tính phi ngã
Tính uyên bác và cách điệu hóa cao độ
Không phải ngẫu nhiên văn học chính thống thời phong kiến được mệnh danh là văn chương bác học (Văn học dân gian gọi là văn học bình dân) Gọi như thế, văn chương mang trong mình nó tính bác học Người sáng tác phải bác học
và người tiếp nhận cũng rất bác học Văn chưong chính thống thời phong kiến mang tính quy phạm từ góc độ sáng tác đến thưởng thức Giới văn học hẹp, chỉ quanh quẩn trong tầng lớp trí thức Hán học tài hoa, tao nhân mặc khách Trường hợp Nguyễn Khuyến và Dương Khuê là một thí dụ tiêu biểu Độc giả của Nguyễn Khuyến là Dương Khuê, nên khi bạn văn mất, nhà thơ như muốn gác bút:
Thơ muốn viết đắn đo chẳng viết Viết đưa ai, ai biết mà đưa?
(Khóc Dương Khuê)
Sáng tác trong môi trường ấy, tất nhiên uyên bác có ý nghĩa thẩm mỹ Người sáng tác cũng như người tiếp nhận đều phải thông thuộc kinh sử, điển cố, điển tích; phải có vốn thi liệu, văn liệu phong phú học tập được từ những áng văn bất
hủ của người xưa Văn chương càng uyên bác càng có sức hấp dẫn lớn, có tính nghệ thuật cao
Trước sau nào thấy bóng người Hoa đào năm ngoái còn cười gió Đông
(Nguyễn Du) Hay:
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng Dân giàu đủ khắp đòi phương
Trang 39(Nguyễn Trãi)
chương hóa” Các nhà văn thời ấy muốn tạo ra một thế giới nghệ thuật riêng khác với thế giới đời thường Cho nên, thế giới nghệ thuật của các trang văn thời này luôn được các nhà văn cách điệu hóa cao độ Hình tượng nghệ thuật càng cách điệu hóa càng đẹp
ca Trong cái nhìn của các nhà văn và độc giả văn học thời phong kiến, văn xuôi gần với đời sống thực tại, ít được cách điệu hóa; thơ mới là thứ ngôn ngữ giàu tính cách điệu Con người trong văn chương phải đẹp một cách lý tưởng: tóc mây, mày liễu, mặt hoa, tay tiên, gót sen, vóc hạc, Cử chỉ, đi đứng, ăn nói tựa như đang sống trong thế giới của nghệ thuật sân khấu:
Hài văn lần bước dặm xanh Một vùng như thể cây quỳnh cành dao Chàng Vương quen mặt ra chào Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa
(Nguyễn Du) Tạo vật thiên nhiên đi vào văn chương cũng phải thật sang quý và đẹp như mai, cúc, tùng, bách, liễu,
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn
(Bà Huyện Thanh Quan)
chỉ dùng cho những nhân vật phản diện phàm tục như Mã giám sinh, Sở Khanh,
Tú bà; Bùi Kiệm, Trịnh Hâm:
Thoắt trông nhờn nhợt màu da
Trang 40Ăn chi cao lớn đẫy đà lám sao?
(Nguyễn Du) Người ta quan niệm con người không hoàn thiện, hoàn mỹ bằng tạo hóa, không tài hoa bằng hóa công Vì thế, những gì cần lý tưởng hóa đều phải được
so sánh với thiên nhiên, thiên nhiên trở thành chuẩn mực cho cái đẹp của con người Còn người tiểu nhân chỉ có thể so sánh với xác của chúng
Tính sùng cổ
Do quan niệm thời gian phi tuyến tính, nên trong văn chương cổ của dân tộc ta, các nhà văn luôn có xu hướng tìm về quá khứ Họ lấy quá khứ làm chuẩn mực cho cái đẹp, lẽ phải, đạo đức Chân lý quá khứ là chân lý có sức sáng tỏa muôn đời Vì thế, văn chương thường lấy tiền đề là lý lẽ và kinh nghiệm của cổ nhân, của lịch sử xa xưa Văn học vì vậy mà đầy rẫy những điển tích, điển cố Mẫu mực của văn chương cũng như vậy Thơ ca không ai có thể vượt qua những thi thánh, thi thần như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị,
tứ, hình ảnh nghệ thuật của các nhà thơ, nhà văn đời trước mà không bị đánh giá
là “đạo văn” Ngược lại, họ được đánh giá là một cây bút đạo đức, sang trọng; tác phẩm của họ rất giàu giá trị
Tính phi ngã
học trung đại Việt Nam, đặc biệt là trong việc xây dựng hình tượng nhân vật Thời phong kiến, ý thức cá nhân chưa có điều kiện phát triển Hầu hết ý thức cá nhân thuộc về cái phi ngã, thậm chí vong ngã, phản ngã Chính điều kiện xã hội
ấy đã sinh ra hệ thống ước lệ trong văn chương, một ước lệ nghệ thuật có tính phi ngã Nhà văn cảm thụ và diễn tả thiên nhiên không bằng cái nhìn hữu ngã và bằng ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu do cá nhân mình sáng tạo
2.2.2.3 Ước lệ trong truyện thơ Nôm Tày