1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Báo cáo khoa học kĩ thuật lĩnh vực xã hội hành vi đề tài tiềm năng du lịch địa phương

43 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 6,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là báo cáo nghiên cứu khoa học kĩ thuật thuộc lĩnh vực xã hội hành vi. Đề tài tiềm năng du lịch địa phương. Báo cáo dành cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông. Báo được viết rất chi tiết cụ thể, có đầy đủ hình ảnh minh hoạ, có phiếu điều tra.....Báo cáo rất hữu ích để giáo viên và học sinh tham khảo khi làm nghiên cứu khoa học kĩ thuật.

Trang 1

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU TIỀM NĂNG DU LỊCH ĐỊA PHƯƠNG

LĨNH VỰC: XÃ HỘI HÀNH VI

Lời cảm ơn

Học tập, nghiên cứu khoa học là một hoạt động bổ ích, là niềm vui của bảnthân chúng em và củng như các bạn học sinh khác Trong quá trình thực hiện đề tài,bản thân chúng em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm chỉ dạy và giúp đỡ

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, nhóm chúng em xin gửi lờicảm ơn chân thành tới: Ban quản lí di tích lịch sử Đôi bờ Hiền Lương, ban quan lí ditích Địa đạo Vĩnh Mốc, quán lí Miếu bà Chúa đã tạo điều kiện cho chúng em đếnthực địa tìm hiểu về khu di tích, đồng thời cung cấp cho em nhiều thông tin hữu ích

là nguồn tư liệu để viết bài

Em xin cảm ơn các thầy cô giáo Trường THCS đã chỉ bảo và dạy dỗ emtrong suốt bốn năm học vừa qua Em cũng xin cảm ơn gia đình, bạn bè, nhữngngười đã hỗ trợ và động viên để em có thêm niềm tin và sự cố gắng hơn nữa

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn: Thầy giáoTrương Đình Hải - người thầy đã luôn quan tâm, chỉ bảo tận tình không chỉ về kiếnthức mà còn cả phong cách cũng như thái độ làm việc nghiêm túc, để chúng em cóthể hoàn thành đề tài một cách tốt nhất

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

, ngày 10 tháng 12 năm 2020

Trưởng nhóm

Trang 2

PHẦN THỨ 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lí do chọn đề tài

I.1 Lí do về lí luận

Vĩnh Linh là mảnh đất có bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa độc đáo Đây từng

là nơi được Bác hồ tặng câu thơ: Đánh cho giặc mỹ tan tành, 5 châu khen ngợi VĩnhLinh anh hùng

Vốn là mảnh đất có bề dày lịch sử, văn hóa, truyền thống anh hùng, du lịch vănhóalịch sử chính là một trong những thế mạnh, loại hình du lịch đặc trưng của huyệnVĩnh Linh Hiện huyện Vĩnh Linh có trên 180 di tích đã được công nhận di tích lịch sửvăn hóa các cấp Trong đó có nhiều di tích đặc biệt cấp quốc gia, di tích cấp quốc gia

và trên 160 di tích cấp tỉnh

Nhiều di tích thu hút hàng chục ngàn lượt khách tham quan mỗi năm, như : Cụm Ditích lịch sử đặc biệt quốc gia Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải (xã Vĩnh Thành); Địa đạoVịnh Mốc và Hệ thống làng hầm Vĩnh Linh (xã Vĩnh Thạch); Bến đò B Tùng Luật (xãVĩnh Giang), Trận địa tên lửa T5, nơi bắn rơi máy bay B52 của Mỹ đầu tiên ở ViệtNam (thị trấn Bến Quan)… Mang trong mình sứ mệnh là cầu nối giữa quá khứ, hiệntại và tương lai, những địa danh này đã trở thành nơi giáo dục truyền thống cáchmạng, lòng yêu nước cho thế hệ hôm nay và mai sau; là điểm đến hấp dẫn của nhiều

du khách muốn tìm hiểu về cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Việt Nam

I.2 Lí do về thực tiển

Trên thực tế trong những năm qua, việc khai thác, quy hoạch tổng thể những tàinguyên này phục vụ cho du lịch của tỉnh chưa được chú trọng và quan tâm đầu tưđúng mức, điều đó đả làm cho một số công trình bị phá hủy do các yếu tố khách quannhư thời gian, cơ sở vật chất vẫn chưa được đầu tư, tôn tạo lại; một số người dânquyên góp tiền bạc tự ý làm quán phục vụ khách, một số trò chơi dân gian bị mai một,

cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động du lịch còn yếu kém… Đồng thời hoạt động du lịchtại điểm đến này còn diễn ra một cách tự phát, chưa có quy hoạch cụ thể đồng bộ,chưa có chiến lược quy mô để quảng bá cho khách thập phương, điều đó dẫn đến chưathu hút được khách du lịch đến với vĩnh linh

I.3.Tính cấp thiết của đề tài

Trang 3

Đề tài nhằm cung cấp một cái nhìn tương đối đầy đủ, hệ thống và chi tiết về cáccông trình di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh tại huyện Vĩnh Linh Đồng thời, trên cơ

sở vận dụng những kiến thức hiện có được học vào trong thực tiễn để phân tích nhữngbất cập trong hiện trạng khai thác hiện nay, từ đó đề xuất những biện pháp mà bảnthân chúng em ở lứa tuổi học sinh có thể thực hiện được góp phần cho việc phát triển

du lịch của địa phương trong thời gian tới

Do được xây dựng trên cơ sở vận dụng từ lý thuyết đến thực tế và sử dụng thực tế

để kiểm chứng lý thuyết nên đề tài này không chỉ mang ý nghĩa khoa học mà còn có ýnghĩa triển khai thực dụng Về mặt khoa học, kết quả đề tài có thể phục vụ công tácquản lí, sử dụng làm tài liệu tham khảo và làm cơ sở cho công tác quản lý tài nguyên,làm tư liệu trong việc xây dựng các tour du lịch một cách khoa học cũng như tài liệuhữu ích đối với du khách trong việc lựa chọn những điểm du lịch trên địa bàn huyệnVĩnh Linh

Tạo ra sản phẩm để du khách có thể lấy đó làm vật lưu niệm (Poster ảnh giớithiệu về các địa điểm )

Việc tìm hiểu hiện trạng du lịch địa phương và đưa ra những giải pháp khắc phụcnhững tồn tại, là những gợi ý nhằm giúp cho công tác quản lý và sử dụng hữu hiệu cáctài nguyên, qua đó góp phần làm tăng thu nhập, tăng khả năng đóng góp của du lịchvào sự phát triển kinh tế của huyện nhà

Từ những lí do trên nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Tìm hiểu giá trịdi tích lịch sử, danh lam thắng cảnh để phát triển du lịch huyện Vĩnh Linh”

nhằm tìm hiểu tổng quan vềdi tích và danh thắng cảnh của huyện Vĩnh Linh, từ đó đềxuất những giải pháp quảng bá phục vụ phát triển du lịch của huyện Vĩnh Linh nóiriêng, của tỉnh Quảng Trị nói chung một cách hiệu quả

II Xác định vấn đề nghiên cứu

II.1 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng liên quan đến các danh lam, thắng cảnh, điểm vui chơi, nghĩdưỡng, nhằm cung cấp một cái nhìn tương đối đầy đủ, hệ thống và chi tiết về các côngtrình di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh tại huyện Vĩnh Linh

Số lượng các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh

II.2 Đôi tượng nghiên cứu

Trang 4

Đề tài chủ yếu nghiên cứu về các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh, cáckhu vui chơi, ẩm thực trong địa bàn huyện vĩnh

II.3 Nội dung nghiên cứu

II.4 Phương pháp nghiên cứu

II.4.1 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: trên cơ sởthu thập thông tin tư liệu

từnhiều nguồn khác nhau như: phiếu điều tra, sách, báo, đài, tivi, tạp chí, mạnginternet…, từ đó chọn lọc để có cái nhìn khái quát, những nhận xét và đánh giá banđầu về vấn đề nghiên cứu, mà cụ thể ở đây là các công trình di tích, danh thắng cảnhtrong huyện vĩnh linh

II.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực địa (điền dã): đây là phương pháp nghiên

cứu rấtcơ bản để khảo sát thực tế, tiếp cận trực tiếp, rõ ràng nhất, được sử dụng để thuthập số liệu, thông tin chính xác, khách quan về đối tượng nghiên cứu Trong quá trìnhlàm đề tài người viết đã đi khảo sát tại huyện Vĩnh Linh để có thêm thông tin thực tếbên cạnh những tài liệu thu thập được

II.4.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp:phân tích và tổng hợp các tài liệu liên

quanđến đề tài, từ đó đề xuất định hướng, giải pháp phát triển du lịch mang hiệu quảcao, mang tính khoa học và thực tiễn nhằm bảo tồn và phát huy giá trị Khu di tích lịch

sử, danh lam thắng cảnh ở huyện Vĩnh Linh phục vụ phát triển du lịch của huyện

Trang 5

PHẦN THỨ 2 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

I Quá trình nghiên cứu

I.1 Kế hoạch nghiên cứu

Thời gian

(bắt đầu kết thúc)

5 Viết báo cáo Hoàn thành các

mẫu báo cáo

01/12/2020 Nguyễn Thị Thảo Vân

6 Báo cáo trước hội Trình bày, bảo 05/12/2020 Nhóm

Trang 6

đồng trường vệ đề tài

I.2 Phân công nhiệm vụ của các thành viên trong nhóm

1, Nguyễn Trần Hoài Thu Nhóm trưởng

2, Nguyễn Thị Thảo Vân Thư kí

II.Kết quả nghiên cứu

II.1 Tổng quan về Vĩnh Linh

II.1.1 Lịch sử hình thành

Vĩnh Linh là một huyện phía Bắc tỉnh Quảng Trị Phía Đông giáp biển Đông;phía Tây giáp huyện Hướng Hóa; phía Nam giáp huyện Gio Linh và phía Bắc giáphuyện Lệ Thủy (tỉnh Quảng Bình) Dân số 93.939 người trong đó có 2.708 người dântộc Vân Kiều, toàn huyện có 25.151 hộ; 15 xã, 3 thị trấn; 149 thôn, khu phố

(Địa giới hành chính huyện Vĩnh Linh)

Năm 1931, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chi bộ cộng sản đầutiên của Vĩnh Linh được thành lập Ngày 23/8/1945, cùng với Quảng Bình và Thừa

Trang 7

Thiên Huế, quân và dân Vĩnh Linh, Quảng Trị thực hiện thành công cuộc Cách mạngTháng Tám lịch sử, thiết lập chính quyền dân chủ nhân dân.

II.1.2 Địa lí và cảnh quan

- Giới thiệu về diện tích 620 km2

- Dân số 91.000 người, mật độ dân số 147 người/km2

- Các loại đât, rừng: Huyện Vĩnh linh khá phong phú, đa dạng về các loại đấtgồm: đất feralit, đất phù sa và đất cát pha ven biển

Rừng của huyện Vĩnh linh có rừng nguyên sinh, rừng tái sinh, rừng cây lai tạp

và các loại rừng trồng như tram, thông, cao su…

Rú Lịnh là khu bảo tồn thiên nhiên và có vai trò cực kì quan trong đối với hệsinh thái và nghiên cứu khoa học vì đây chính là rừng nguyên sinh duy nhất còn sót lại

ở đồng bằng trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam

Trang 8

II.1.3 Giới thiệu về dân cư, xã hội

- Dân cư truyền thống lịch sử (Theo sách lịch sử địa phương)

Trong quá trình đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược, người dân Vĩnh Linh mộtlòng đi theo Đảng, theo Bác Hồ, kiên cường, bất khuất, dung cảm không quản ngại hisinh chiến đấu hết mình để bảo vệ tầng tấc đất của quê hương, có biết bao con người

ưu tú của quê hương Vĩnh Linh đã ngã xuống, máu của họ đã nhuộm thắm và tô đỏthêm ngọn cờ độc lập,lớp trước ngã xuống lớp sau lại tiến lên, người Vĩnh Linh là vậy

Trong sản xuất phát triển kinh tế người Vĩnh Linh cần cù, chịu thương, chịukhó, dù thiên nhiên không ưu đãi, hậu quả của chiến tranh để lại năng nề, nhưng với ýchí, lòng quyết tâm người Vĩnh Linh vươn lên để làm giàu cho quê hương mình

II.1.4 Điều kiện Kinh tế - Xã hội huyện Vĩnh Linh

+ Nông nghiệp: Là một huyện thuần nông, kinh tế chủ yếu của huyện là Nôngnghiệp, trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp chiếm 51%

Gồm cây lương thực: lúa, ngô, khoai, sắn

Đồng bằng Lâm-Sơn-Thủy chính là vựa lúa lớn nhất của huyện

Ngô, khoai, sắn được trồng chủ yếu ở vùng đất cát pha ven biển

Cây công nghiệp thì có: Cao su, hồ tiêu … phát triển mạnh trên vùng đất đỏbazan đặc biệt là các xã: Vĩnh Hòa, Hiền Thành, Kim Thạch, Vĩnh Thủy, Thị TrấnBến Quan, Vĩnh Trung, Vĩnh Tú

Chăn nuôi chủ yếu theo hộ gia đình với các vật nuôi như Lợn, gà, vịt và các loạigia súc lớn

Ven biển phát triển mạnh khai thác, nuôi trồng thủy sản đó là các xã Vĩnh Thái,Vĩnh Giang, thị trấn Cửa Tùng…

+ Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: Chiếm 28% trong cơ cấu kinh tế

Chủ yếu là công nghiệp chế biến như cao su, hồ tiêu và các sản phẩm từ nôngnghiệp

II.1.5 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch

Huyện Vĩnh Linh được thiên nhiên ưu đãi khi có đường bờ biển dài khoảng25km với các bãi biển đẹp như Cửa Tùng, Vĩnh Thái, Mũi Trèo - Vĩnh Kim, Mũi Si,Mũi Lay nguồn lợi từ thủy hải sản phong phú và đa dạng Trung tâm huyện cách

Trang 9

thành phố Đông Hà hơn 30 km, có Quốc lộ 1 đi qua và hệ thống giao thông thuận lợikết nối các điểm du lịch biển trên địa bàn

Trang 10

II.2 Tiềm năng phát triển du lịch

II.2.1 Giá trị tài nguyên du lịch

II.2.1.1 Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Ðôi bờ Hiền Lương - Bến Hải

Cầu Hiền Lương và sông Bến Hải nằm trong cụm di tích đôi bờ Hiền Lương ởđiểm giao nhau giữa đường Quốc lộ 1A và sông Bến Hải; phía Bắc thuộc thôn HiềnLương, xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Linh; phía Nam thuộc thôn Xuân Hòa, xã TrungHải, huyện Do Linh, tỉnh Quảng Trị Đây là hai “nhân chứng lịch sử” mang trên mìnhnỗi đau chia cắt đất nước thành hai miền Nam Bắc suốt hơn 20 năm ròng rã

Cụm di tích lịch sử Cầu Hiền Lương – Sông Bến Hải

Trang 11

Sông Bến Hải bắt nguồn từ dải núi Trương Sơn, từ ngọn nguồn cho tới cửa Tùngdài 100 km Sông Bến Hải là dòng sông nhỏ, nơi rộng nhất khoảng 200 m, đoạn sông

có cầu Hiền Lương rộng 170 m Hai đầu nguồn dòng sông rất hẹp, ở thượng nguồn,nơi có nhà thờ Phước Sơn, sông chỉ rộng 20m, đoạn lưới Cát, Cửa Tùng lòng sôngrộng 30m.

Đôi bờ cầu Hiền Lương

Cầu Hiền Lương ( lịch sử )

Cầu Hiền Lương do công trình Pháp xây dựng năm 1950 (trước đây dân hai bờ đilại bằng thuyền) Cầu có 7 nhịp, dài 178m Theo Hiệp định Genève mỗi bên có chủquyền 89m cầu Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1951 chỉ rõ: "cầu Hiền Lương và sông BếnHải là giới tuyến quân sự tạm thời giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam, hoàn toàn

Trang 12

không thể coi là mốc ranh giới về chính trị hay về lãnh thổ " Vì sau hai năm, việcthống nhất Việt Nam sẽ được tiến hành bằng một cuộc tổng tuyển cử trong cả nước.

M

ột vẻ đẹp thanh bình

Trang 13

Mang dấu ấn lịch sử

Cột

cờ bắc hiền lương

Trang 14

Đồn Công An Vũ Trang Hiền Lương

Hệ thống âm thanh

Sau Hiệp định Genève năm 1954, nước Việt Nam tạm thời chia làm hai miền,ranh giới là sông Bến Hải Tính từ bờ sông, 5km hai bên được quy định là khu phiquân sự Trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, phía bờ nam sông Bến Hải thuộcQuảng Trị là vùng chiến sự cực kỳ ác liệt Số lượng bom đạn Mỹ giội xuống tỉnh nàytrong chiến tranh tương đương sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã némxuống Hiroshima năm 1945

Những địa danh như Khe Sanh, Ái Tử, Tà Cơn, Cam Lộ, Lao Bảo, Hướng Hoá,Đông Hà trong những năm 1968 - 1972 luôn được nhắc đến trong các bản tin chiến

sự với những thiệt hại nặng nề của người Mỹ

Trang 15

Nhờ sự tiếp tay của đế quốc bên ngoài các chính quyền ngụy ở Nam Việt Nam từNgô Đình Diệm cho đến Nguyễn Văn Thiệu đều mưu toan biến vĩ tuyến 17 - sông BếnHải trở thành ranh giới vĩnh viễn chia đất nước làm hai miền Những tham vọng củatất cả đế quốc bên ngoài và kẻ thù dân tộc đã thất bại thảm hại Từ năm 1975, đất nướcViệt Nam đã hoàn toàn thống nhất.

Tượng đài khát vọng thống nhất non sông

Di tích đôi bờ Hiền Lương trở thành điểm đến không thể bỏ qua trong hànhtrình du lịch Quảng Trị của khách trong và ngoài nước Du khách tìm về nơi đây đểhoài niệm một thời đất nước chịu cảnh chia cắt, hiểu được sức mạnh của một dân tộcthiết tha yêu hoà bình, một ý chí và khát vọng giành độc lập tự do, để có một ViệtNam tươi đẹp như hôm nay

II.2.1.4 Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Địa đạo Vĩnh Mốc

(Giao thông ở địa đạo vĩnh mốc)

Trang 16

Địa đạo Vịnh Mốc (thôn Vịnh Mốc, xã Kim Thạch, huyện Vĩnh Linh,

tỉnh Quảng Trị) là một công trình quân - dân sự trong Chiến tranh Việt Nam củaphía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhằm chống lại các cuộc tấn công của phía ViệtNam Cộng hòa và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Hệ thống địa đạo tồn tại ở phía Bắc sôngBến Hải, cầu Hiền Lương trong suốt những năm 1965-1972

* Lịch sử

(Du khách trong lòng địa đạo)Trong những năm 1960, chính quyền Việt Nam Cộng hòa của Ngô ĐìnhDiệm không tôn trọng hiệp định Genève, 1954 và không tiến hành tổng tuyển cử như

dự định Cùng với việc tấn công vào các phong trào nổi dậy ở miền Nam, Mỹ đã rasức khiêu khích, gây chiến với lực lượng Việt Nam dân chủ cộng hòa bảo vệ giớituyến ở Vĩnh Linh Năm 1965, Mỹ đã tạo ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ để bắt đầucuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc bằng không lực, trong đó Vĩnh Linh là mục tiêuđánh phá hàng đầu

Trong suốt những năm 1965 - 1972, Vĩnh Linh liên tục bị đánh phá với tổng cộnghơn nửa triệu tấn bom đạn các loại Tính bình quân, mỗi người dân ở đây đã phải gánhchịu 7 tấn bom đạn Mỹ

* Quá trình xây dựng

Địa đạo đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1947 tại vùng Phú Thọ Hòa (naythuộc Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh) Rồi sau đó, những năm 1961 - 1965, ở CủChi đã xuất hiện hệ thống địa đạo lan rộng khắp 5 xã Vào cuối năm 1963, ông TrầnNam Trung từ Trung ương Cục Đảng cộng sản Việt Nam ở miền Nam Việt Nam trênđường ra Bắc đã ghé thăm khu vực chiến sự ở xã Vĩnh Giang (Vĩnh Linh) Sau khiquan sát địa hình, địa chất ở nơi đây, ông gợi ý Vĩnh Linh nên đào địa đạo như ở Củ

Trang 17

Chi Với phương châm: "Một tấc không đi, một li không rời Mỗi làng, xã là một pháođài", thông qua chỉ thị của khu ủy Vĩnh Linh, đồn trưởng đồn công an vũ trang nhândân 140 Lê Xuân Vy đã chỉ huy đơn vị và nhân dân địa phương nhanh chóng tiến hànhđào địa đạo Công trình được bắt đầu từ đầu năm 1965 và được hoàn thành vào ngày

18 tháng 02 năm 1966 Điều đặc biệt là vị chỉ huy công trình Lê Xuân Vy này (côngtrình sư) lúc bấy giờ học vấn chỉ vừa hết tiểu học, và dụng cụ hiện đại nhất trong tayông là chiếc la bàn cũ kỹ[2] Hiện nay ông là cựu trung tá ở độ tuổi 85 đang cư ngụ ởthành phố Đông Hà và bị mù do ảnh hưởng bởi vết thương trong chiến tranh

* Cấu trúc

(Sơ đồ cấu trúc làng địa đạo Vịnh Mốc)

Ðể bảo đảm cho hàng trăm con người ăn, ở, sinh hoạt an toàn, tiện lợi, dọc haibên đường hầm người ta xây dựng rất nhiều căn hộ, mỗi căn hộ đủ chỗ cho ba đến bốnngười ở Trong lòng địa đạo có ba giếng nước, một hội trường (với sức chứa 50người), bệnh xá, nhà hộ sinh, trạm phẫu thuật, bếp Hoàng Cầm, kho gạo, trạm đặt máyđiện thoại

Hai bên trục đường chính cách nhau từ ba đến năm mét lại khoét lõm sâu vàothành một hầm nhỏ, dùng làm nơi sinh hoạt của một gia đình Ðịa đạo được cấu tạothành ba tầng Tầng một sâu cách mặt đất từ 12 đến 15 m, là nơi chiến đấu và trú ẩntạm thời

Tầng hai sâu 18 m là nơi sống và sinh hoạt của nhân dân, đóng trụ sở của Ðảng

ủy, UBND và Bộ Chỉ huy quân sự Tầng ba sâu 22 m dùng làm kho chứa hậu cầncung cấp cho đảo Cồn Cỏ và phục vụ chiến đấu của quân dân Vịnh Mốc

* Đặc điểm

Trang 18

Theo thống kê, có đến 18.000 ngày công được huy động để đào địa đạo VịnhMốc trong hai năm Địa đạo này được đào ở vùng đất đỏ bazan từ năm 1965 và hoànthành 2 năm sau đó, năm 1967 với tổng chiều dài trục chính hơn 2.000 m Cứ 4 m có 1căn hộ gia đình, rộng 0,8 m, sâu 1,8 m, dùng cho 4 người ở Không khí làm cho đấtsét trong lòng địa đạo càng ngày càng cứng chắc hơn nên nó vẫn tồn tại gần nhưnguyên bản cho đến tận ngày hôm nay Hệ thống địa đạo gồm có 3 tầng: tầng thứ nhấtsâu 12 m, dùng để cơ động chiến đấu và trú ẩn, tầng thứ hai cách mặt đất 15 m, đượcdùng làm nơi ở và sinh hoạt của nhân dân và tầng cuối cùng sâu 23 m, được dùng đểcất giấu lương thực và vũ khí Ngay cả tầng sâu nhất, 23 m vẫn còn cao hơn mực nướcbiển đến 3 m, nên mọi sinh hoạt trong địa đạo vẫn diễn ra bình thường vào mùa mưa.Toàn bộ hệ thống địa đạo Vịnh Mốc có 13 cửa thông ra ngoài, trong đó có bảy cửathông ra biển, sáu cửa thông lên đồi, mỗi cửa hầm được coi như một lỗ thông hơi[3].Tại các cửa hầm đều có lắp đặt gỗ chống sập và thường xuyên được gia cố để chốngsụt lở Cư dân địa đạo ít khi ra ngoài Họ chỉ ra ngoài lúc cần thiết, lúc không nguyhiểm.

* Điểm du lịch

Địa đạo Vịnh Mốc nằm trong hệ thống các điểm du lịch khu phi quân sự trước đây trong chiến tranh Việt Nam, đã được công nhận là di tích lịch sử Việt Nam Khu bảo tàng địa đạo Vịnh Mốc chính thức mở cửa đón khách từ năm 1995, đến nay đã thuhút được một lượng du khách lớn

Trang 19

II.2.1.3 Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia Bến đò B Tùng Luật

Mảnh đất Quảng Trị trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc

Mĩ được xem như là chiến trường ác liệt nhất

Địa bàn huyện Vĩnh Linh được ví như túi bom trong hai cuộc chiến tranh pháhoại của đế quôc Mĩ ( 1964- 1972)

Trong số các di tích lịch sử cách mạng thì di tích lịch sử bến đò Tùng Luật nổi lênnhư một di tích tiêu biểu cho sự gan dạ, sự hi sinh và khả năng phi thường của conngười qua sự thử thách khắc nghiệt của chiến tranh

Bến đò Tùng Luật là là một bến sông bình yên như bao bến sông khác, nhìn radòng sông Bến Hải lung linh, yên bình đầy thơ mộng Vậy mà trong cuộc kháng chiếnchống Mĩ cứu nước, đặc biệt là thời kì những năm 1967 đến 1972, cuộc chiến ở bếnsông này đầy ác liệt nhằm giữ vững con đường tiếp tế Bắc- Nam và tải thương binh từNam ra Bắc qua sông Bến Hải Đây là điểm vượt tuyến quan trọng trên sông Bến Hải-

vĩ tuyến 17 Trong giai đoạn từ 1968- 1972, dưới mưa bom bão đạn của kẻ thù, lựclượng thanh niên xung phong 771 của nhân dân Tùng Luật, dân quân xã Vĩnh Giang,

xã Vĩnh Quang đã đảm bảo hoạt động liên tục của bến để tiếp tế cho miền Nam và đảoCồn Cỏ anh hùng Tại bến đò này từ 1968 - 1972 đã có hơn 78000 lượt thuyền qua về,vận chuyển hơn 2000000 lượt người và hàng vạn tấn vũ khí, hàng hóa

Trang 20

Chiến công oanh liệt của bến đò Tùng Luật được tôn vinh như một hiện tượngsáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và dân Vinh Linh trong cuộc kháng chiến ,chống Mĩ cứu nước Để ghi dấu những chiến công và sự hi sinh to lớntrên bến đò Tùng Luật, ngày 27 tháng 9 năm 1996, Bộ Văn hóa thông tin đã kí quyếtđịnh xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia cho bến đò B Tùng Luật.

Quê em có bến đò B

Đò đưa bộ đội qua về bến sông

Những ngày đánh Mĩ lập côngRạng danh mảnh đất làng Tùng quê em

Năm 2007, Bộ Tư lệnh Hải quân đã đầu tư xây dựng tượng đài và khuôn viên ditích bến đò Tùng Luật nhằm ghi nhớ những chiến công oai hùng của lực lượng thanhniên xung phong và nhân dân nơi đây

Giờ đây chiến tranh đã đi qua, cuộc sống bình yên đã trở lại, di tích lịch sử Bến

đò B vẫn sừng sững, hiên ngang bên dòng sông Hiền Lương lịch sử như nhắc lạichúng ta nơi đây một thời hào hùng, oanh liệt của dân tộc, một thời đau thương và bitráng

Bấy chừ đây đó khang trangXóm thôn ngõ dọc, đường ngang rộng dài

Nhà cao, ngói mới, tường xâyVườn vui chim hót, hương hoa thơm đầy

Quê em hiền dịu thân thươngNgười đây, cảnh đấy vấn vương nghĩa tình

(Người viết: Trương Thị Mỹ Lương Bài đăng trên trang http://thvinhgiangvl.quangtri.edu.vn/tin-tuc-su-kien/di-tich-lich-

su-ben-do-b.html)

Trang 21

II.2.1.4 Danh lam thắng cảnh bãi biển Cửa Tùng

Cửa Tùng là một bãi biển đẹp tuyệt vời ở Quảng Trị Những tour du lịch thươngmại ít khi đưa khách đến với bãi biển này và Cửa Tùng dường như chỉ còn là nơi thuhút du khách địa phương Trong khi đó, nó đã từng được mệnh danh là nữ hoàng củacác bãi tắm

Bãi biển Cửa Tùng đẹp, cát trắng phau, phẳng mịn, dịu dàng đón những cái hônngọt ngào của trời nước bao la Nơi đây có tám mũi đất Badan đỏ au như ráng chiềucùng chạy xô ra biển, tạo thành một chiếc lược đồi mồi kì vĩ, ngàn đời chải mượt triệulớp sóng xanh Ngoài khơi xa, đảo Cồn Cỏ như một con rùa vàng ngoi lên khỏi mặtnước tím biếc gợi cho ta bao ý tưởng về huyền thoại thủa hoang sơ Ở vào vị trí ấy,cửa Tùng có thể ví như "Nữ hoàng" tựa lưng vào làng biển Vĩnh Quang bốn mùa rợpxanh bóng mát tiêu chè và rừng phi lao rì rào trong gió

Ngày đăng: 03/02/2021, 08:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w