1. Trang chủ
  2. » Toán

Quá trình thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng đối với công giáo ở huyện Xuân Trường ( tỉnh Nam Định ) từ năm 1997 đến năm 2010

126 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1955, trước yêu cầu mới về công tác tôn giáo nói chung, công tác quản lý Nhà nước và hoạt động tôn giáo nói riêng, Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Công hoà căn cứ vào ý kiế[r]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-VŨ THỊ PHƯƠNG ANH

QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG GIÁO Ở HUYỆN XUÂN TRƯỜNG (TỈNH NAM ĐỊNH) TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VŨ THỊ PHƯƠNG ANH

QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG GIÁO Ở HUYỆN XUÂN TRƯỜNG (TỈNH NAM ĐỊNH) TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 60 22 03 15

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Quang Hưng

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình bản thân tôi tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Đỗ Quang Hưng Tất cả số liệu, kết quả nêu trong luận văn đều đảm bảo tính trung thực Những kết luận của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào khác.

Hà Nội, ngày…tháng…năm

Tác giả luận văn

Vũ Thị Phương Anh

Trang 4

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo khoa Lịch sử, và các thầy cô giáo một số chuyên ngành khác của trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân Văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi suốt 2 năm học qua.

Một lần nữa tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu này!

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 9

Chương 1 HUYỆN XUÂN TRƯỜNG (NAM ĐỊNH) VÀ ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO 9

1.1 Khái quát chung về huyện Xuân Trường và Đảng bộ huyện Xuân Trường 9

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 9

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 12

1.1.3 Truyền thống yêu nước của nhân dân Xuân Trường 15

1.2 Vài nét về cộng đồng Công giáo ở huyện Xuân Trường 19

1.2.1 Quá trình truyền bá Công giáo vào Xuân Trường 19

1.2.2 Công giáo ở Xuân Trường hiện nay 22

Tiểu kết chương 1 26

Chương 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN XUÂN TRƯỜNG (NAM ĐINH) VỚI VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO ĐỐI VỚI CÔNG GIÁO (1997 - 2010) 27

2.1 Quá trình đổi mới về đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước 27

2.1.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mac – Lênin và Hồ Chí Minh về tôn giáo 27

2.1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề tôn giáo từ năm 1930 đến năm 1997 31

2.1.3 Đổi mới đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta giai đoạn 1997 – 2010 35

2.2 Đảng bộ huyện Xuân Trường ( Nam Định) với công tác tôn giáo 45

2.2.1 Bước đầu thực hiện chính sách tôn giáo đối với Công giáo của Đảng bộ huyện Xuân Trường (1997 - 2005) 45

2.2.2 Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách đổi mới chính sách tôn giáo đối với Công giáo của Đảng bộ huyện Xuân Trường (2006 - 2010) 55

Trang 6

Tiểu kết chương 2 74

Chương 3 NHẬN XÉT CHUNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU 75

3.1 Ưu điểm 75

3.2 Hạn chế 82

3.3 Những bài học kinh nghiệm 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHẦN PHỤ LỤC 97

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, ra đời và phát triển từ hàng ngànnăm nay Quá trình tồn tại và phát triển của tôn giáo đã ảnh hưởng khá sâu sắc đếnđời sống chính trị, văn hoá, xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục, tậpquán của nhiều dân tộc Chính vì vậy, vấn đề tôn giáo và chính sách đối với tôn giáo

đã và đang là một trong những vấn đề phức tạp và là mối quan tâm hàng đầu củanhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới

Việt Nam là một quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo do điềukiện địa lý thuận lợi nằm trên trục giao lưu Bắc - Nam, Đông - Tây, có ba mặt giápbiển thuận tiện cho giao lưu kinh tế, văn hoá rất dễ cho việc truyền bá các luồng tưtưởng, các tôn giáo trên thế giới Ngoài ra, do bản tính dung hoà về mặt văn hoá củangười Viêt nên các hệ tư tưởng thế giới được truyền vào Việt Nam không sớm thìmuộn, không trước thì sau đều được người Việt đón nhận

Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, ý thức được vai trò của tôn giáo trongđời sống xã hội nên các triều đại đã có những chính sách nhất định với vấn đề tôngiáo Tuy nhiên, do hạn chế về mặt nhân thức cũng như về mặt lịch sử mà các chínhsách ấy chưa giải quyết hết những hạn chế của tôn giáo và chưa phù hợp với tìnhhình cụ thể Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (2 - 1930), Đảng đã nhận thấyViệt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, tuy mỗi tôn giáo có một đặc điểm riêng, hệ tưtưởng riêng nhưng đều có đặc điểm chung đều là một bộ phận của khối đại đoàn kếttoàn dân tộc Nhất là sau khi đất nước giành được độc lập, Đảng và Nhà nước ta đã

có những quan tâm tích cực đối với tôn giáo Những quan điểm của Đảng về tôngiáo được thể hiện nhất quán, xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng giảiphóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa

Đặc biệt trong thời đại ngày nay khi mà vấn đề tự do tín ngưỡng tôn giáođang bị một số tổ chức và cá nhân lợi dụng để chống phá Đảng và Nhà nước, nhằmlàm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và toàn thể nhân dân ta đang ra sứcxây dựng thì Đảng, Chính phủ và Nhà nước Việt Nam ngày càng có nhiều chính

Trang 8

sách đúng đắn, sáng suốt và phù hợp với thực tế hơn để đảm bảo quyền tự do tínngưỡng cho nhân dân, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân – động lựcchính của công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa.

Nam Định là một tỉnh nằm ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ, là tỉnh cónhiều tôn giáo, đông chức sắc, nhà tu hành, tín đồ, nhiều cơ sở thờ tự Đặc biệt,Nam Định được coi là cái nôi của đạo Công giáo ở Viêt Nam và huyện XuânTrường được xác định là trọng điểm tôn giáo của cả tỉnh và của cả nước

Từ ngày tái lập huyện (01/4/1997) đến năm 2010, đời sống vật chất, tinh thầncủa nhân dân Xuân Trường, trong đó có đồng bào tôn giáo không ngừng được cảithiện; chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo đã đáp ứng đượcnguyện vọng chính đáng của các tín đồ tôn giáo và các nhà tu hành Nhìn chung,các chức sắc tôn giáo đều chấp hành tốt các quy định của pháp luật, tín đồ các tôngiáo yên tâm, tin tưởng, hăng hái thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luậtcủa Đảng, của Nhà nước, quy định của địa phương, tích cực tham gia xây dựng quêhương, đất nước Các hoạt động xã hội, từ thiện nhân đạo góp phần xây dựng khốiđại đoàn kết toàn dân tộc, công tác quản lý nhà nước về tôn giáo từng bước đượctăng cường, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo

Tuy nhiên tình hình, hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện còn một số vấn

đề cần quan tâm như: lễ hội tôn giáo có chiều hướng gia tăng, nơi thờ tự được tôntạo, xây dựng, huy động quá lớn sức dân; mâu thuẫn trong nội bộ tôn giáo phát sinhgây không ít khó khăn cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ chính trịcủa cấp uỷ, chính quyền và các đoàn thể địa phương

Vì vậy việc tìm hiểu tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng bộhuyện Xuân Trường trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2010 nhằm tổng kết thựctiễn, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và bài học kinh nghiệm là vấn đề không chỉ có

ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn quan trọng

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Quá trình thực hiện chínhsách tôn giáo của Đảng đối với Công giáo ở huyện Xuân Trường (tỉnh Nam Định)

từ năm 1997 đến năm 2010” làm luận văn tốt nghiệp của mình

Trang 9

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong quá trình lãnh đạo xây dựng và phát triển đất nước, vấn đề tôn giáo vàchính sách tôn giáo luôn luôn được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm Qua các thời

kỳ lich sử, do điều kiện kinh tế xã hội và yêu cầu của nhiệm vụ chính trị khác nhau

mà Đảng đã đề ra rất nhiều chủ trương chính sách đối với tôn giáo để phù hợp vớitừng giai đoạn phát triển Chính vì vậy, vấn đề tôn giáo và chính sách đối với tôngiáo được rất nhiều nhà lãnh đạo, nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách quantâm nghiên cứu và được trình bày trong nhiều văn kiện của Đảng, các tác phẩm củacác nhà lãnh đạo Đảng và các nhà nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận, nhận thức, chủ trương, chính sách về tôn giáo của Đảng

Cộng sản Việt Nam có các công trình như: Ban Tôn giáo Chính phủ, Tôn giáo và

chính sách tôn giáo ở Việt Nam (sách Trắng, 2006); Nguyễn Đức Lữ, Lý luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam (Nxb Tôn giáo, 2007), Tôn giáo - Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay (Nxb

Chính trị - Hành chính, 2009); Đặng Nghiêm Vạn, Những vấn đề lý luận và thực

tiễn tôn giáo ở Việt Nam hiện nay (Nxb Khoa học xã hội, 1998), Lý luận về tôn giáo

và tình hình tôn giáo ở Việt Nam (Nxb Chính trị quốc gia, 2001); Đỗ Quang Hưng, Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam - Lý luận và thực tiễn (Nxb Lý luận

chính trị, 2008); Lê Hữu Nghĩa - Nguyễn Đức Lữ, Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn

giáo và công tác tôn giáo (Nxb Tôn giáo, 2003)

Đặc biệt, bàn về đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước trong

có công trình Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam lý luận và thực tiễn của

GS TS Đỗ Quang Hưng (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2005), đặc biệt trong

thời gian gần đây cuốn sách Nhà nước – Tôn giáo – Luật pháp của GS TS Đỗ

Quang Hưng (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, 2014) là công trình nghiêncứu một cách hệ thống về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta

Tuy nhiên tôn giáo và chính sách tôn giáo ở huyện Xuân Trường mới chỉđược trình bày một cách sơ lược trong các Nghị quyết của Ban thường vụ huyện uỷ,các báo cáo tổng kết tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo của huyện qua cácthời kỳ

Trang 10

Các văn kiện của Đảng, báo cáo của huyện uỷ đã khái quát những quan điểmchủ trương và đề ra những chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước trongcông cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa và trong công cuộc đổi mới ngày nay Tuynhiên đến nay chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đề cập một cách đầy đủ,

có hệ thống về vấn đề “Qúa trình thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng đối vớiCông giáo ở huyện Xuân Trường (Nam Định) (1997 - 2010)”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ quá trình thực hiện chính sách tôn giáo đối với Công giáo ở Đảng

bộ huyện Xuân Trường trong thời gian từ năm 1997 đến năm 2010

- Chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và bài học kinh nghiệm trong quá trình thựchiện chính sách tôn giáo đối với Công giáo ở Đảng bộ huyện Xuân Trường

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về việc giảiquyết vấn đề tôn giáo và việc thực hiện các chính sách tôn giáo

- Tìm hiểu các chủ trương, chính sách của Đảng bộ huyện Xuân Trườngtrong quá trình thực hiện chính sách tôn giáo đối với công giáo trên địa bàn huyện

từ năm 1997 đến năm 2010

- Đánh giá khách quan toàn diện quá trình tổ chức thực hiện chính sáchtôn giáo đối với công giáo của Đảng bộ huyện Xuân Trường từ năm 1997 đếnnăm 2010

- Rút ra những thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm trong quá trìnhthực hiện chính sách tôn giáo ở huyện Xuân Trường từ năm 1997 đến năm 2010

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tôn giáo

Quá trình thực hiện chính sách tôn giáo đối với Công giáo của Đảng bộhuyện Xuân Trường (Nam Định) trong thời gian từ 1997 đến 2010

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 11

- Về thời gian: từ năm 1997 đến năm 2010 Năm 1997 là năm tái lập huyệnXuân Trường sau một thời gian hợp nhất với huyện Giao Thuỷ thành huyện XuânThuỷ Năm 2010 là năm tổ chức Đại hội Đảng bộ huyện Xuân Trường lần thứ XXII(8 - 2010).

- Về không gian: nghiên cứu sự vận dụng, cụ thể hoá chính sách tôn giáo củaĐảng bộ huyện Xuân Trường trên toàn địa bàn huyện

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

- Các văn kiện của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng của Hồ Chí Minh vềvấn đề tôn giáo; quan điểm, chủ trương và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam

về vấn đề tôn giáo và các chính sách tôn giáo

- Các văn kiện, chủ trương, chính sách trong việc giải quyết vấn đề tôn giáocủa Đảng bộ tỉnh Nam Định

- Các nguồn tư liệu thành văn có liên quan đến vấn đề tôn giáo và tư liệukhảo sát điền dã tại huyện Xuân Trường

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn sử dụng hai phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử vàphương pháp logic

- Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác đó là:phương pháp điền dã, phương pháp thống kê, so sánh lịch sử, phân tích… để đốichiếu, đảm bảo tính chính xác của luận văn

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn góp phần làm rõ quá trình thực hiện chính sách tôn giáo đối vớiCông giáo của Đảng bộ huyện Xuân Trường từ năm 1997 đến năm 2010

- Luận văn cũng chỉ rõ những thành công, ưu điểm cũng như những thiếu sótcủa Đảng bộ huyện Xuân Trường trong quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách tôngiáo Từ đó rút ra những kinh nghiệm góp phần hoàn thiện các giải pháp thực hiệnchính sách tôn giáo của Đảng bộ huyện Xuân Trường

Trang 12

7 Bố cục nội dung

Ngoài các phần mở đầu, kết luân, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nộidung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Huyện Xuân Trường (Nam Định) và đời sống tôn giáo

Chương 2 Đảng bộ huyện Xuân Trường (Nam Định) với việc thực hiện chínhsách tôn giáo đối với Công giáo (1997 - 2010)

Chương 3 Nhận xét chung và một số kinh nghiệm chủ yếu

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1 HUYỆN XUÂN TRƯỜNG (NAM ĐỊNH) VÀ ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO 1.1 Khái quát chung về huyện Xuân Trường và Đảng bộ huyện Xuân Trường.

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Theo các nguồn thư tịch cổ thì Xuân Trường là vùng đất xưa kia thường ngậpnước theo chế độ nhật triều, lau sậy hoang vu Vào thời kì nhà nước Vạn Xuân (năm544) nơi đây đã có dấu chân người Đến thời nhà Đinh (năm 968), Xuân Trườngvẫn chưa có tên riêng Thời Lý, nước ta được chia thành 10 lộ, đất Xuân Trường lúc

đó thuộc lộ Hải Thanh

Vào thế kỷ XV, vùng đất Xuân Trường đa phần vẫn còn là vùng bãi bồi, sìnhlầy, lau sậy nối liền với rừng sú vẹt ven biển, nằm chắn sóng ngang biển Đông, dân

cư sinh sống thưa thớt Đây là vị trí tiền tiêu quan trọng nên trong lịch sử, giặcngoại xâm thường cho quân tiến đánh nước ta ở khu vực này Chính vì vậy, mảnhđất này đã ghi lại nhiều dấu tích lịch sử quan trọng trong quá trình dựng nước và giữnước của dân tộc

Thời Lý - Trần (1010 - 1400), chính quyền phong kiến rất chú trọng phát triểnkinh tế, đặc biệt công tác trị thuỷ để làm nông nghiệp rất được quan tâm Các tuyến

đê của sông Hồng, sông Thái Bình được nối dài ra biển và tu bổ hàng năm, côngcuộc quai đê lấp thành (thời Lý), phủ Thiên Trường (thời Trần) đã trở thành nơi hội

tụ của các cư dân các nơi đến khai cơ lập nghiệp

Thời hậu Lê, nhà nước phong kiến tiếp tục thực hiện chính sách khuyến nôngcủa thời Lý - Trần Vua Lê Thái Tổ (1428 - 1433) đã xuống chiếu dụ cho dân pháttriển đinh điền Năm 1483, vua Lê Thánh Tông ban hành bộ luật Hồng Đức, trong

đó có đề cập đến việc “mở rộng diện tích cấy cày, tăng cường thu nhập cho nhànước” Năm 1486, triều đình lại ra lệnh cho các phủ, huyện có đất bồi ven biển vàchia cho người ít ruộng cày cấy để nộp thuế

Nhờ những chính sách đó mà vùng sinh lầy ven biển Trấn Sơn Nam Hạ thực

sự là vùng đất hấp dẫn Hàng năm, nông nô vừa được giải phóng khỏi các điềntrang, thái ấp của nhà Trần đã cùng những đoàn nông dân tự do vì chiến tranh phiêubạt đã đổ xô về Sơn Nam Hạ Họ dừng lại ở dải đất ven sông Hồng và các con sông

Trang 14

khác định cư xây dựng một cuộc sống mới Suốt mấy thế kỷ, công cuộc chinh phụckhai hoang đầy khó khăn, vất vả của con người đã tạo nên một loạt làng xã mới.Đến thời Trịnh - Nguyễn, nhịp độ khai hoang lấn biển diễn ra nhanh hơn vàquy mô lớn hơn Vùng đất Xuân Trường nhỏ bé xưa kia đã được mở rộng, dân cưngày càng đông đúc, ý thức cộng đồng trở nên sâu sắc.

Dưới triều nhà Nguyễn, chính quyền phong kiến đã tiến hành cuộc cải cáchhành chính để thuận lợi cho việc trị vì đất nước Năm 1822 vua Minh Mệnh lập trấnNam Định Năm 1831, lập tỉnh Nam Định gồm 4 phủ, Xuân Trường thuộc phủThiên Trường

Năm 1837, phủ Thiên Trường gồm năm huyện là Giao Thuỷ, Nam Chân, ChânNinh, Mỹ Lộc, được tách ra làm hai, một nửa hợp với phủ Tân Khai và tổng QuầnPhương thành lập huyện Hải Hậu

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, theo Sắc lệnh số 148 - SL của chủ tịchChính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà đồng loạt bãi bỏ các đơn vị hànhchính phủ, châu quận đổi thành huyện, phủ Xuân Trường đổi thành huyện XuânTrường, sát nhập một loạt xã, thôn thành 19 xã

Sau gần 30 năm hợp nhất, đến ngày 01/4/1997, thực hiện Nghị định 19/CP củaChính phủ huyện Xuân Trường được tái lập bao gồm 20 xã là: Xuân Châu, XuânThượng, Xuân Hồng, Xuân Thủy, Xuân Thành, Xuân Phong, Xuân Đài, Xuân Tân,Xuân Bắc, Xuân Ngọc, Xuân Phương, Xuân Trung, Xuân Phú, Thọ Nghiệp, XuânVinh, Xuân Kiên, Xuân Hòa, Xuân Hùng, Xuân Ninh, Xuân Tiến

Xuân Truờng là huyện nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Nam Định, thuộc đồngbằng Bắc Bộ Huyện có diện tích tự nhiên là 111,8 km2, dân số trên 185000 người(theo số liệu năm 2008), với 20 đơn vị hành chính (19 xã và một thị trấn) XuânTrường có vị trí địa lý rất thuận lợi Phía Bắc giáp huyện Vũ Thư (tỉnh Thái Bình),phía Đông Bắc giáp huyện Kiến Xương (tỉnh Thái Bình), phía Nam giáp huyện HảiHậu, phía Đông Nam giáp huyện Giao Thủy, phía Tây giáp huyện Trực Ninh Với địahình tương đối bằng phẳng, đất đai phù sa do được bồi đắp bởi nhiều con sông lớn đãtạo nhiều điều kiện thuận lợi cho Xuân Trường giao lưu và hội nhập phát triển trongsuốt quá trình lịch sử xây dựng và phát triển

Trang 15

Xuân Truờng là một huyện có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội, anninh quốc phòng, có hệ thống giao thông thuỷ, bộ khá thuận lợi, đồng ruộng màu

mỡ, làng mạc trù phú, dân cư đông đúc

Xuân Trường được bao bọc bởi ba con sông lớn: sông Hồng ở phía Đông Bắcphân định ranh giới giữa huyện Xuân Trường với tỉnh Thái Bình, phía Tây Bắc làsông Ninh Cơ phân định ranh giới giữa huyện Xuân Trường và huyện Trực Ninh,phía Đông Nam là sông Sò phân định ranh giới với huyện Giao Thuỷ Ngoài ra huyệnXuân Trường còn có hàng trăm hecta bãi bồi ven sông Hồng, sông Ninh Cơ hàngnăm không những đem phù sa, nước ngọt về bồi đắp, tưới tiêu cho đồng ruộng màcòn tạo điều kiện cho giao thông đường thuỷ phát triển

Sông Hồng (người Xuân Trường thường gọi là sông Cái để phân biệt với sôngNinh Cơ) là ranh giới của hai tỉnh Nam Định và Thái Bình, đồng thời cũng là ranhgiới của hai địa phận Bùi Chu và Thái Bình Khi xuống tới Nam Định sông nàychảy xế theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và đổ ra biển bằng cửa Ba Lạt Theotruyền thuyết, thời xưa cửa sông này rất nhỏ, nhưng về sau, cửa Ba Lạt trở thànhcửa sông lớn và rất sâu Những thuyền buôn lớn thường vào cửa biển này để lênkinh thành, nơi đây thường có các thương thuyền lớn của ngoại quốc như Bồ ĐàoNha, Hà Lan, Anh, Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản tấp nập tới lui trong nhiều thế kỷ.Sông Ninh Cơ là một chi nhánh hữu ngạn của sông Hồng Tả ngạn ở phíaĐông là các huyện Xuân Trường, Hải Hậu và Giao Thủy Hữu ngạn ở phía Tây làcác huyện Nam Trực, Trực Ninh và Nghĩa Hưng Đây là con sông ngăn cách tỉnhNam Định nên từ xưa đã có rất nhiều bến đò, tàu thuyền đi lại tấp nập nhộn nhịp

Hệ thống giao thông đường thuỷ thuận lợi không chỉ tạo điều kiện thuận lợi chonhân dân huyện Xuân Trường nguồn nước tưới tiêu cho phát triển kinh tế nôngnghiệp trồng lúa nước, giao lưu buôn bán mà còn tác động không nhỏ đến quá trìnhtruyền bá đạo Thiên Chúa Hệ thống sông ngòi chằng chịt với những con sông lớn

đổ ra biển đã tạo điều kiện thuận lợi cho con thuyền chở những nhà truyền giáophương Tây vào đây truyền giáo từ những năm đầu của thề kỷ XVI

Hệ thống giao thông đường bộ của huyện khá thuận lợi, quốc lộ 21 từ LạcQuần lên thành phố Nam Định nối liền quốc lộ 1 và quốc lộ 10 là mạch máu giao

Trang 16

thông của Xuân Trường với các tỉnh ven biển phía Bắc và cả nước Tỉnh lộ 51A từdốc Xuân Bảng đến phà Sa Cao sang Thái Bình, đường 498 từ Lạc Quần qua huyệnXuân Trường xuống Giao Thuỷ, tạo điều kiện thuận lợi cho Xuân Trường hội nhập

và phát triển kinh tế - xã hội

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Quá trình hình thành vùng đất Xuân Trường cũng là quá trình người dân nơiđây phải vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt, biển dữ Để chống thiên tai, bảo vệ sảnxuất, người dân đã đoàn kết trong lao động để tạo dựng được những cánh đồng phù

sa màu mỡ, những làng mạc trù phú thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và pháttriển kinh tế, xã hội Chính sức mạnh đoàn kết của nhân dân trong lao động đã tạothành thế và lực để họ chống lại thiên nhiên khắc nghiệt dữ dội, chống cường quyền

áp bức, chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước

Ngay từ buổi đầu sinh cơ lập nghiệp, cùng với nghề chài lưới đánh bắt tôm cádựa vào sông ngòi, nông nghiệp được coi là ngành kinh tế chủ yếu của người XuânTrường Tuy là vùng đất phù sa màu mỡ nhưng chưa hợp với nghề trồng lúa nước.Bằng sức lao động cần cù, sáng tạo, nhân dân Xuân Trường đã đắp đê, đào mương,khơi ngòi, xây kè cống, đưa nước ngọt về thau chua rửa mặn, cải tạo đồng ruộng

Từ quá trình sản xuất nông nghiệp đầy khó khăn thử thách, người dân Xuân Trường

đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm quý báu trong thâm canh cây lúa và hoa màu

Từ các loại lúa tép dong, tép bầu, nếp trằn, hom râu, trải qua những tháng năm sảnxuất, nhân dân đã chọn lọc được những giống lúa đặc sản nổi tiếng, trở thành nhữngsản phẩm nổi tiếng như lúa tám xoan, tám ấp bẹ, dự hương, nếp cái hoa vàng, nếphương Với bề dày kinh nghiệm, 20 năm trở lại đây, Xuân Trường đã trở thànhvùng trọng điểm lúa của tỉnh và luôn là một trong những huyện có năng suất lúacao của tỉnh và vùng đồng bằng Bắc Bộ

Là nơi hội tụ dân cư của nhiều vùng miền khác nhau trong cả nước, các dòng

họ ở Xuân Trường có những nét văn hoá độc đáo và những nghề thủ công đa dạng.Những nghề thủ công ban đầu chỉ mang tính tự cấp, tự túc, phục vụ cho sinh hoạtcủa từng gia đình như đan lát, dệt chiếu, đóng thuyền, làm gạch, nề, mộc, rèn, cơ

Trang 17

khí, nuôi tằm ươm tơ Tục truyền thời Lê Hoàn đánh Tống, bình Chiêm, nhân dânvùng Kiên Lao đã có công đóng thuyền giúp vua cứu nước.

Trải qua bao năm tháng, với khối óc thông minh sáng tạo, với bàn tay cần cùtài hoa của nhân dân Xuân Trường, những ngành nghề thủ công ngày càng pháttriển, trở thành những ngành nghề truyền thống có uy tín khắp nơi như nghề đúcđồng truyền thống ở xã Xuân Tiến, nghề nuôi tằm, ươm tơ, dệt vải ở Hành Thiện,Xuân Tiến, Xuân Hồng, Xuân Châu, Xuân Ninh, và nghề thêu ren ở Xuân Phong,Xuân Khu, Xuân Tiến

Công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã làm cho kinh tế cả vùngnông thôn biến đổi Hàng hoá đã tràn vào làng quê Xuân Trường Làng Hành Thiệnvốn được coi là một tiểu đô hội, là một thị trường lớn trong huyện lúc đó Với ưuthế “trên bến, dưới thuyền” và có các chợ lớn cùng với các phường buôn trong làng,

mà lớn nhất là phường buôn vải Thanh Hoá tạo ra một mạng lưới giao lưu hàng hóatấp nập thu hút các thương nhân từ Hà Nội, Hải Phòng, về buôn bán trao đổi hànghóa Từ đây, sản vật Xuân Trường cũng được chuyển đi muôn nơi

Đời sống văn hoá tinh thần của người Xuân Trường cũng rất đa dạng, tinh

tế, vừa phản ánh những nét văn hoá riêng của các miền quê theo hành trang củanhững người tới đây mở đất, vừa mang đậm dấu ấn văn hoá của đồng bằngchâu thổ sông Hồng

Sự gắn bó đoàn kết của con người để chống lại thiên tai, giặc dữ không nhữngtạo nên bản anh hùng ca trong lao động, chiến đấu mà còn tạo dựng được nét đẹptruyền thống “trong họ, ngoài làng” Những hương ước làng xã được ra đời mangđậm tính nhân văn cao cả Nhiều làng được vua Tự Đức ban tặng là “Mỹ tục khảphong” như ở Hành Thiện, Trà Lũ

Mang đậm dấu ấn, phong tục tập quán của cư dân nông nghiệp vùng đồngbằng châu thổ sông Hồng, đời sống tâm linh của người Xuân Trường gắn liền vớitín ngưỡng tôn thờ trời đất và thờ cúng tổ tiên Cùng với quá trình hình thành làng

xã, đạo Phật cũng hình thành và giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh củangười dân Hầu hết các làng xã đều xây dựng chùa thờ Phật, tiêu biểu như chùa Keo

Trang 18

- Hành Thiện, chùa Kiên Lao - Xuân Kiên, chùa Trung - Xuân Trung Đây lànhững công trình được xếp hạng trong quần thể di tích lịch sử văn hoá.

Trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, nhiều đình, chùa, đền tronghuyện đã trở thành nơi hội họp của cán bộ, đảng viên, nơi che giấu cán bộ, tàiliệu cách mạng

Cùng với sự phát triển của đạo Phật, từ năm 1533 đạo Thiên chúa được truyềnvào Xuân Trường Vùng Trà Lũ, Bắc Câu là hai địa phương đầu tiên tiếp nhận sự dunhập của tôn giáo này Người đóng vai trò tích cực truyền đạo là giáo sỹ Inêkhu Sangthế kỷ XVII, với sự ráo riết truyền đạo của các giáo sỹ phương Tây từ Bắc Câu, Trà

Lũ và Ninh Cường (Trực Ninh), Quần Anh (Hải Hậu), đạo Thiên Chúa đã phát triểnnhanh chóng ở Xuân Trường và tỉnh Nam Định

Xuân Trường cũng là vùng “địa linh nhân kiệt”, là vùng đất văn, đất học cótiếng từ xưa, là vùng đất tiêu biểu của trấn Sơn Nam Hạ với làng học Hành Thiện nổitiếng cả nước với 7 vị đỗ đại khoa, 97 vị đỗ cử nhân, 248 tú tài Vì vậy, từ xưa trongnhân gian đã lưu truyền câu ca dao “xứ Đông Cổ Am, xứ Nam Hành Thiện” với niềm

tự hào sâu sắc Ham học hỏi, tôn sư trọng đạo đã trở thành một nét đẹp truyền thốngtrong mỗi con người nơi đây Dưới thời phong kiến, nhiều gia đình, dòng họ đềuchăm lo nuôi chồng, con học hành thông tỏ chữ “Thánh hiền” để giúp ích cho đời.Thời Nguyễn, mỗi lần triều đình mở khoa thi đều có nho sinh của huyện tham dự vànhiều người đã đỗ đạt cao, trở thành những bậc hiền tài của đất nước Các làng, xãđều dành một phần ruộng (học điền) để khuyến khích sự học Người mở đầu cho sựnghiệp vẻ vang của huyện Xuân Trường là cụ Đào Minh Dương, đỗ tiến sỹ năm 1550đời vua Mạc Phúc Nguyên Từ năm 1856 đến năm 1915, cả Bắc Kỳ đều thi hương ởNam Định Trong các kỳ thi, cả 3 vị đỗ đầu đều là người Hành Thiện, đó là ĐặngXuân Bảng đỗ tiến sỹ năm 1856, Nguyễn Ngọc Liên, Đỗ Hữu Dương đỗ tiến sỹ năm

1889 Rất nhiều các làng trong huyện có các nhà nho đỗ cử nhân, tú tài Đăng XuânBảng – ông nội của cố Tổng bí thư Trường Chinh đỗ tiến sỹ năm 29 tuổi và làm việc

ở nội các nhà vua Tuy làm quan nhưng ông sống liêm khiết, nhân hậu và yêu nước.Hầu hết những người đỗ cử nhân, tú tài đều mở lớp dạy học tại quê hương, nhờ đó

mà việc học hành được toàn dân coi trọng

Trang 19

1.1.3 Truyền thống yêu nước của nhân dân Xuân Trường

Không chỉ là vùng đất văn hiến, Xuân Trường còn là quê hương của nhiều hoạtđộng cách mạng xuất sắc như Nguyễn Thế Rục, Đặng Xuân Thiều và đặc biệt là CốTổng bí thư đồng chí Trường Chinh

Từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay, Xuân Trường có những nhà khoa họcnổi tiếng như Đặng Vũ Khiêu, ông được Nhà nước trao giải thưởng Hồ Chí Minhđợt I năm 1996 và nhiều người giữ những cương vị quan trọng của Đảng, Nhà nướcnhư Đặng Quốc Bảo, Đặng Xuân Kỳ, Đặng Quân Thuỵ, Đặng Hồi Xuân,

Người Xuân Trường có cội nguồn yêu nước thiết tha Truyền thống đó đã thấmsâu vào đời sống tâm linh qua việc tôn thờ những danh tướng, danh nhân có côngđánh giặc giữ nước, có công mở đất, dựng làng như đền thờ Nguyễn Công Hai (vùngđất Xuân Tân ngày nay), là người có công giúp Lý Thường Kiệt đánh giặc ChiêmThành xâm lược nước ta Đánh tan giặc Chiêm Thành, vua Lý Nhân Tông luận côngban tặng cho ông danh hiệu là “Đệ nhị long vương thượng đẳng thần” Đền Xuân Hy(Xuân Thuỷ), Xuân Bảng (Xuân Hùng) thờ tướng công Ngô Miễn là người đã cócông đưa dân 10 họ về đây lập “ Tân ấp” từ năm 1392 và nhiều đền thờ khác

Thế kỷ XIX, triều đình nhà Nguyễn với chế độ áp bức bóc lột nhân dân hết sứcnặng nề, khiến cho mâu thuẫn giữa nhân dân với phong kiến càng thêm sâu sắc hơn.Những cuộc nổi dậy liên tiếp nổ ra mà vang dội nhất là khởi nghĩa của Phan Bá Vànhđược nhân dân dốc lòng hưởng ứng, ủng hộ Mặc dù thất bại nhưng cuộc khởi nghĩacủa Phan Bá Vành ở Xuân Trường đã góp phần làm lung lay chế độ phong kiến

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu cho cuộc xâmlược Việt Nam Triều đình nhà Nguyễn chống cự yếu ớt rồi từng bước ký kết cáchàng ước với thực dân Pháp Năm 1860, nhiều người dân Xuân Trường tình nguyệntham gia đội quân nghĩa dũng của cụ đốc học Phạm Văn Nghị vào Nam đánh Pháp.Khi Pháp đánh ra miền Bắc, nhân dân Xuân Trường hưởng ứng phong trào CầnVương cứu nước

Tinh thần đoàn kết yêu thương, giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất được hunđúc trong truyền thống đánh giặc ngoại xâm, chính là mảnh đất tốt để gieo mầmcách mạng vô sản sau này

Trang 20

Những năm đầu thế kỷ XX, khi phong trào yêu nước theo xu hướng cáchmạng mới bùng lên như phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng đã cónhiều nhà nho ở Xuân Trường cổ vũ hưởng ứng Nhiều thanh niên tiến bộ tronghuyện đã vượt biển sang Nhật Bản, Trung Quốc hoặc gia nhập Duy Tân Hội, ViệtNam Quang phục hội, tham gia thành lập Đông Kinh nghĩa thục Một số nhà nhoyêu nước đã mở trường dạy học, khơi dậy lòng yêu nước căm thù giặc cho học sinh.

Là quê hương có truyền thống yêu nước sâu sắc, tiếp giáp với tỉnh Thái Bình

và ở cách thành phố Nam Định - một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của cáctỉnh phía nam đồng bằng Bắc Bộ không xa, lại có đường giao thông khá thuận lợinên những hoạt động yêu nước ở thành phố Nam Định đã có tác động và ảnhhưởng sâu sắc tạo điều kiện cho nhân dân Xuân Trường sớm tiếp nhận được ánhsáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, đi theo con đường cách mạng vô sản

Sự ra đời và phát triển của tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chíhội ở Nam Định (1927) là một sự kiện chính trị quan trọng trong đời sống và phongtrào yêu nước trong tỉnh đã ảnh hưởng sâu sắc, trực tiếp đến tình hình cách mạng ởXuân Trường Là học sinh yêu nước của Xuân Trường học tại trường Thành Chung(Nam Định) trong những năm 1925 - 1926, người thanh niên yêu nước Đặng XuânKhu (tức Trường Chinh) đã hăng hái tham gia các phong trào yêu nước của học sinh

ở Nam Định

Cách mạng Tháng Tám ở Xuân Trường thắng lợi (20 - 8 - 1945) đã góp phầncùng với nhân dân trong tỉnh và cả nước lật đổ chế độ thống trị của bọn đế quốcngót một trăm năm cùng với chế độ phong kiến ngự trị suốt hàng nghìn năm Từđây nhân dân Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do.Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, thực hiện sự chỉ đạo của Đảng, Nhànước, Tỉnh uỷ, nhân dân huyện Xuân Trường tích cực tham gia xây dựng chínhquyền mới, xoá bỏ những tàn dư của chế độ cũ

Ngày 23 - 9 - 1945, quân Pháp nổ súng tái chiếm Nam Bộ, bắt đầu cuộcchiến tranh xâm lược Việt Nam Cùng với cả nước, nhân dân Xuân Trường dưới sựlãnh đạo của Đảng đã tích cực tham gia xây dựng chính quyền mới và phong tràoquyên góp tiền, gạo thuốc men và vũ khí ủng hộ đồng bào Nam Bộ kháng chiến

Trang 21

Là vùng đất phì nhiêu, dân cư đông, có nhiều đồng bào theo đạo Thiên Chúanên Xuân Trường trở thành mục tiêu lớn của thực dân Pháp trong cuộc đánh chiếmđồng bằng và trung du Bắc Bộ Đây cũng là vùng đất giáp biển và có nhiều sông lớnbao bọc thuận lợi cho thực dân Pháp dùng tổng lực thuỷ, bộ binh đổ bộ, dễ dàng vâychặt và đánh chiếm hòng triệt phá hậu phương của ta Vì thế, thực dân Pháp đã mởnhững cuộc hành quân thăm dò vùng tự do của ta, tung gián điệp dò xét bắt liên lạcvới bọn phản động Thực dân Pháp gấp rút tổ chức và luyện tập cho “Tự vệ cônggiáo”, “Thanh niên công giáo” để phối hợp thực hiện đánh chiếm mở rộng vùngkiểm soát của mình.

Bằng những hành động quân sự, kết hợp với những thủ đoạn thâm độc để lợidụng lòng tin của đồng bào theo đạo Thiên Chúa, thực dân Pháp tuyên truyền xuyêntạc đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ Mặt khác lại nêu chiêu bài “chốngcộng”, “giải phóng đất thánh”, “giành tự trị cho Công giáo” để lôi kéo giáo dân.Cuối tháng 12 - 1949, quân Pháp ép vua bù nhìn Bảo Đại phải để cho bọn phảnđộng đội lốt Thiên Chúa thành lập “tỉnh Công giáo Bùi Chu tự trị” gồm các huyệnXuân Trường, Giao Thuỷ, Hải Hậu, Trực Ninh và một phần phía Nam của haihuyện Nam Trực và Nghĩa Hưng

Trước những cuộc hành quân chiếm đóng của giặc Pháp, quân và dân tronghuyện đẩy mạnh phát triển chiến tranh du kích, củng cố, xây dựng lại cơ sở khángchiến trong vùng địch tạm chiến, tuyên truyền vạch trần âm mưu lợi dụng tôn giáocủa kẻ thù, vận động lương - giáo đoàn kết

Tháng 9 - 1950, hưởng ứng phong trào “Thi đua giết giặc lập công”, quầnchúng nhân dân nổi dậy có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang phá thế kìm kẹp củađịch, vạch mặt bọn phản động, xây dựng cơ sở cách mạng ở vùng có đông đồng bàotheo đạo Thiên Chúa

Ngoài ra, để đối phó với âm mưu chiếm đóng của địch, toàn dân tích cực thamgia các phong trào như “rào làng kháng chiến”, “ngũ gia liên bảo” Đồng bàolương - giáo đã đoàn kết, xoá bỏ những hiềm khích cá nhân để hợp sức cùng nhauđánh đuổi thực dân Pháp Lực lượng quân sự huyện, nhất là quân du kích phát triển,

Trang 22

trong đó có nhiều đội du kích ở vùng đồng bào Công giáo đã trưởng thành cả về sốlượng, chất lượng và hiệu quả chiến đấu.

Trước sự chiến đấu anh dũng của nhân dân, 7 - 1954, quân địch đã rút bỏ toàn

bộ các vị trí còn lại ở huyện Xuân Trường và tỉnh Nam Định Nam Định là tỉnh đầutiên ở vùng đồng bằng Bắc Bộ được giải phóng Thắng lợi của cuộc kháng chiếnchống Pháp và tay sai trên địa bàn huyện Xuân Trường đã ghi nhận sự đóng góp tolớn của đồng bào Công giáo

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (1954), khi nhân dân miền Bắc đang tập trungmọi cố gắng để hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định đời sống nhân dân thì cácthế lực phản động lại lợi dụng tôn giáo, ngấm ngầm thực hiện âm mưu của đế quốc

Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào di cư vào Nam Kẻthù tung ra các tin bịa đặt “ chính phủ Việt Minh cấm đạo”, “Chúa đã vào Nam”,

“Mỹ sẽ ném bom nguyên tử xuống miền Bắc’’ Trước tình hình đó, Đảng bộ tỉnhNam Định đã quán triệt chỉ thị của Trung ương Đảng tổ chức vận động tuyên truyềntích cực nên đồng bào ở Nam Định đã nghe theo xin ở lại không di cư, góp phầnkhông nhỏ vào công cuộc khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội của huyệnXuân Trường nói riêng và tỉnh Nam Định nói chung

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975), nhân dân Xuân Trường vừatham gia xây dựng kinh tế, vừa tham gia chiến đấu đánh đuổi giặc Mỹ Trên mặttrận sản xuất, nhân dân Xuân Trường với tinh thần “chống Mỹ cứu nước, vượt1000kg/mẫu/vụ”, “Nam Hà đoàn kết chống Mỹ cứu nước” Trong cuộc tuyển quânchi viện cho miền Nam năm 1965 của huyện có 300 thanh niên Công giáo (trongtổng số 3000 thanh niên của tỉnh) tham gia, góp phần to lớn vào chiến thắng MùaXuân năm 1975

Trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ngày nay, đồng bào các tôn giáohuyện Xuân Trường với tinh thần “sống phúc âm giữa lòng dân tộc”, “kính Chúayêu nước”, “tốt đời đẹp đạo”,… đã đoàn kết cùng nhân dân trong huyện xây dựngcuộc sống ấm no, hạnh phúc, xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng,văn minh

Trang 23

1.1 Vài nét về cộng đồng Công giáo ở huyện Xuân Trường

1.2.1 Quá trình truyền bá Công giáo vào Xuân Trường

Đạo Công giáo được hình thành từ thế kỷ I TCN ở đế quốc Rôma cổ đại Sựhình thành của Công giáo giáo gắn bó chặt chẽ với những điều kiện kinh tế - xã hội,văn hoá - tư tưởng của chế độ La Mã thế kỷ I TCN và gắn với vai trò của nhân vậtlịch sử Chúa Kitô cùng các tông đồ của ông

Giáo lý cơ bản của đạo Công giáo thể hiện trong Kinh Thánh của đạo gồm hai

phần: Cựu ước và Tân ước.

Cũng như các tôn giáo khác, đạo Công giáo xem việc truyền đạo là sứ mạngthiêng liêng và thường trực Ngay từ rất sớm, với lời thúc giục “ Hãy đi khắp tráiđất và giảng Phúc âm cho mọi người” (Mat 28,19) các giáo sĩ đã đi khắp nơi truyền

bá đạo Thiên Chúa

Đạo Công giáo ngay từ khi mới ra đời giữ vai trò trong đời sống tâm linh củangười châu Âu Vào các thế kỷ XVI - XVII, khi người phương Tây phát hiện ra conđường đi vòng quanh thế giới, bắt đầu trao đổi buôn bán và chinh phục các vùng đấtthuộc châu lục khác thì Công giáo giáo cũng trở thành một phương tiện thâm nhậphết sức quan trọng của họ Các giáo sĩ Công giáo thuộc nhiều dòng tu khác nhau đãtheo thuyền buôn thâm nhập hầu hết các nước ngoài châu Âu, đến các nước ở bánđảo Đông Dương khi mà ở đây chế độ phong kiến thống trị hàng ngàn năm đang ởtrong giai đoạn suy thoái Trong đó, Việt Nam cũng là nơi được các giáo sĩ, thừa saichọn để mở rộng “nước Chúa”

Tình hình Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII có nhiều xáo trộn và diễnbiến phức tạp Nội bộ giai cấp thống trị hết sức lục đục vì sự tranh chấp quyền lựcdẫn đến sự chia cắt đất nước kéo dài trong nhiều năm Cuộc chiến tranh Nam - Bắctriều (1530 - 1592) không chỉ gây ra bao đau thương, chết chóc, đẩy hàng chục vạntrai tráng vào cảnh chém giết lẫn nhau mà còn tàn phá mùa màng, gây nên hàng loạttrận đói khiến đời sống nhân dân hết sức cực khổ Tình trang Nam - Bắc triều chấmdứt chưa được bao lâu thì lại xảy ra sự phân chia Đàng Trong - Đàng Ngoài Mộtcuộc chiến tranh mới lại bùng nổ kéo dài gần nửa thế kỷ Sau nhiều lần đánh nhau

dữ dội mà không có kết quả, quân sĩ hao tổn, chán nản, nhân dân cực khổ, hai họ

Trang 24

Trịnh - Nguyễn đành phải ngừng chiến, lấy sông Gianh làm ranh giới chia cắt Sau

đó là cuộc nội chiến giữa Nguyễn Ánh với quân Tây Sơn và sự khôi phục của nhàNguyễn đầu thế kỷ XIX Những điều đó đã làm cho kinh tế trì trệ gián đoạn, chínhtrị hỗn độn, đời sống nhân dân đói khổ lầm than, nhân tâm dao động ly tán, tạo tìnhthế thuận lợi cho viện thâm nhập truyền bá đạo Công giáo cũng như việc nhòm ngóchinh phục của chủ nghĩa tư bản phương Tây

Từ những thập niên đầu của thế kỷ XVI, ở Việt Nam đã có các giáo sĩphương Tây đến truyền giáo Sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”chép rằng: “Gia tô, dã lục, Lê Trang Tông, Nguyên Hoà nguyên niên, tam nguyệtnhật, dương nhân Inêkhu tiềm lai Nam Chân chi Ninh Cường, Quần Anh, GiaoThuỷ chi Trà Lũ âm dĩ Gia tô tả đạo truyền giáo” Dịch nghĩa là: “Đạo Gia tô, theobút ký của tư nhân, đời Lê Trang Tông, tháng 3 năm Nguyên Hoà thứ nhất (1533),

có người Tây dương nên Inêkhu lén vào truyền bá đạo Gia tô ở làng Ninh Cường

và Quần Anh thuộc huyện Nam Chân và làng Trà Lũ thuộc huyện Giao Thuỷ”.Như vậy người đóng vai trò tích cực truyền đạo trong thời gian đầu là giáo sĩInêkhu và năm 1533, Xuân Trường là một trong những nơi đầu tiên tiếp nhận tôngiáo mới này Năm 1550, linh mục Gaspar da Santa Cruz đến giảng đạo tại HàTiên; năm 1558, các linh mục khác như Luis de Fonseca, Gregoice de la Mottetruyền giáo ở miền Trung; năm 1583, các linh mục Diego, Doropesa, Pedro Ortizđến truyền giáo ở vùng ven biển Quảng Ninh…Thời kỳ từ năm 1533 đến năm

1614 chủ yếu là các giáo sĩ dòng Phan - xi - cô thuộc Bồ Đào Nha và dòng ĐaMinh thuộc Tây Ban Nha đi theo những thuyền buôn vào nước ta, nhưng do khôngquen thông thổ, chưa thạo ngôn ngữ nên việc truyền giáo không mấy hiệu quả.Những hoạt động của các giáo sĩ trên chỉ trong giai đoạn dò đường, phải đợi đếnthế kỷ XVII việc truyền giáo mới được dòng Tên tổ chức quy mô hơn

Từ năm 1615 đến năm 1665 các giáo sĩ dòng Tên thuộc Bồ Đào Nha từ MaCao (Trung Quốc) vào Việt Nam hoạt động ở cả Đàng Trong (Nam sông Gianh) vàĐàng Ngoài (Bắc sông Gianh) Ở Đàng Trong có các linh mục F.Buzomi, DiegoCarvalho, F de Pina và đặc biệt là Alexandre de Rhodes Ở Đàng Ngoài có linh mụcPedro Marque, Gaspar d’ Amaral, Antonio Barbosa,… Trong khoảng 10 năm từ

Trang 25

năm 1615 đến năm 1625 đã có 21 giáo sĩ vào nước ta Năm 1627, Alexandre deRhodes cùng một số giáo sĩ Bồ Đào Nha đến cửa Bạng (Thanh Hoá) Họ đã đượcTrịnh Tráng đưa về Thăng Long giảng đạo Nhờ đó Alexandre de Rhodes đã làm lễrửa tội cho hàng ngàn người Vào năm 1645, sau khi bị trục xuất khỏi Việt Nam,Alexandre de Rhodes trở về châu Âu báo cáo tình hình và kêu gọi các giáo sĩ sangtruyền giáo ở Việt Nam Những giáo sĩ dòng Tên tỏ ra thông thạo tiếng Việt Nam lạihoạt động khôn khéo nên mặc dù gặp nhiều khó khăn phức tạp, có khi phải đổ máunên đã thu hút được khá nhiều người dân theo đạo

Sang giữa thế kỷ XVII, các chính quyền Lê - Trịnh và Nguyễn bắt đầu ráo riếtcấm đạo nhưng các giáo sĩ vẫn tiếp tục hoạt động Hội truyền giáo đối ngoại Pariđược thành lập (do sự vận động tích cực của Alexandre de Rhodes), năm 1660 cửLambe sang Viễn Đông phụ trách khu vực Đàng Trong Năm 1662 Paluy được cửsang phụ trách khu vực Đàng Ngoài Chủ trương của họ là phải kết hợp giữa truyềnđạo và phát triển thương mại Nhờ đó các giáo sĩ vẫn lén lút hoạt động được Năm

1665, Đâyđiê được cử ra Đàng Ngoài Bấy giờ theo báo cáo của các giáo sĩ, ở ĐàngNgoài đã có 35000 giáo dân, 200 giảng đường, 75 nhà thờ hay phòng họp Dựa vào

sự suy thoái của Nho giáo, cuộc sống khổ cực của nhân dân vì chiến tranh, đói kém,quan lại nhũng nhiễu, các giáo sĩ phương Tây đã truyền bá giáo lý về Chúa cứu thế,

về tình thương và sự an ủi, về sự bình đẳng của mọi người trước Chúa, lại tìm cáchcứu giúp những kẻ nghèo khổ Vì vậy, số giáo dân ngày càng tăng lên, mặc dầu cácgiáo sĩ luôn luôn vấp phải sự phản kháng của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tônsùng các thần linh cứu nước, ý thức dân tộc… Trong công cuộc truyền bá này, chữQuốc ngữ góp phần quan trọng và trở thành một công cụ đắc lực cho quá trìnhtruyền giáo Các giáo sĩ đã giảng dạy bằng tiếng Việt, viết nhiều sách giáo lý bằngchữ Quốc ngữ Giáo dân không học chữ Nho mà chỉ học chữ Quốc ngữ Các ChúaTrịnh, Nguyễn nghĩ đến mối nguy đã nhiều lần ra lệnh “Cấm tà đạo Gia tô”, “Pháhuỷ các nhà thờ đạo, kinh sách” Chỉ tính riêng trong 3 đời vua của triều Nguyễn làMinh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức đã có tất cả 14 sắc chỉ cấm đạo Công giáo Tuynhiên những chính sách đó không nhất quán và kém hiệu quả Đặc biệt là trước vàsau thời điểm thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam (đời vua Tự Đức) việccấm đạo càng trở nên gay gắt quyết liệt

Trang 26

Vị trí địa lý thuận lợi (được bao bọc bởi những con sông lớn, gần cửa biển) đãtạo điều kiện cho Xuân Trường những điều kiện tốt để giao lưu phát triển kinh tếcũng như giao lưu văn hoá tư tưởng với các khu vực lân cận trong suốt chiều dàilịch sử hình thành và phát triển Vì vậy, ngay từ năm 1533 đạo Công giáo đã đượctruyền bá vào Xuân Trường Bắc Câu là nơi được truyền bá đạo sớm nhất ở XuânTrường, tiếp theo là nhà thờ Bùi Chu được xây dựng vào năm 1884 - 1897, đềnthánh Phú Nhai được xây dựng với quy mô lớn nhất ở Đông Dương thời bấy giờ.

1.2.2 Công giáo ở Xuân Trường hiện nay

Xuân Trường là một huyện có đông đồng bào theo đạo với gần 38% tín đồCông giáo và Phật giáo Nhìn chung, các tôn giáo trên địa bàn huyện đều hành đạotrong khuôn khổ pháp luật và tuân thủ sự quản lý của Nhà nước Quyền tự do tínngưỡng và sinh hoạt tôn giáo đều được tôn trọng Các cấp uỷ Đảng, chính quyền, mặttrận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị luôn quan tâm, tạo điều kiện để các tổ chức tôngiáo và quần chúng thực hiện các tín ngưỡng, tôn giáo của mình Tuy nhiên ngày nay,nền kinh tế thị trường và sự lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch để thực hiện “Diễn biến hoà bình” đã làm cho tình hình tôn giáo phát triển theo chiều hướng phức tạp

và xuất hiện những hiện tượng tôn giáo mới

Ngay từ năm 1533, các giáo sĩ phương Tây đã chọn Xuân Trường làm điểmdừng chân đầu tiên, mở đầu cho quá trình truyền bá đạo Công giáo vào Việt Nam.Quá trình hình thành và phát triển của đạo Thiên Chúa ở Xuân Trường đã để lạinhững dấu ấn vô cùng đậm nét có tính chất điển hình của cả nước không chỉ vì cơ

sở vật chất, về ý thức và niềm tin tôn giáo, số lượng chức sắc, tín đồ mà còn cảnhững mặc cảm sau những bước thăng trầm của lịch sử dân tộc

Vào đời vua Lê Hiển Tông (1740 - 1786), tòa thánh Vaticăng phái 2 Giám mụcPhêrô và Đôminicô sang vùng Bùi Chu tiếp tục hành đạo Việc truyền đạo lan tỏa tớikinh thành Thăng Long lên tới Châu Tuyền, Châu Lạng; ra tới vùng An Quảng(Quảng Ninh) và vào tới vùng Nghệ An – Hà Tĩnh

Giáo xứ Bùi Chu được thành lập từ 1730, ban đầu còn rất đơn sơ Tòa thánhBùi Chu được xây dựng quy mô, bề thế vào năm 1885 thời vua Hàm Nghi (8/1884– 8/1885) và vua Đồng Khánh (10/1885 – 12/1888) Sau đó là các nhà thờ, nhà

Trang 27

nguyện ở Xuân Ngọc, Phú Nhai, Sa Châu, Thức Hóa, Lưỡng Nhân được nối tiếpxây dựng.

Địa phận Bùi Chu được thành lập từ 1924 bao gồm các họ đạo, xứ đạo ở cáchuyện Xuân Thủy, Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Trực Ninh và Nam Trực

Từ khi thành lập Bùi Chu là trung tâm chỉ đạo mọi hoạt động của Giáo phận(gồm 6 huyện phía nam tỉnh, đó là: Xuân Trường, Giao Thuỷ, Hải Hậu, NghĩaHưng, Trực Ninh, Nam Trực và một phần của thành phố Nam Định) và có quan hệmật thiết với địa phận Phát Diệm (Ninh Bình) Địa phận Bùi Chu nằm ở giữa hạ lưusông Hồng và sông Đáy Toàn thể địa phận như một hình tam giác mà đỉnh cao làgiáo xứ Phong Lộc và đáy là vịnh Bắc Việt từ cửa Ba Lạt tới cửa Lạch Đài hay cửaĐáy Tam giác này được xác định bởi sông Hồng ở phía Bắc, sông Vị Hoàng (sôngNam Định) ở phía Tây, sông Đáy ở phía Nam và biển ở phía Đông

Về phương diện tôn giáo, địa phận Bùi Chu phía Bắc giáp địa phận Thái Bình,phía Tây giáp địa phận Hà Nội và phía Nam giáp địa phận Phát Diệm Địa phận BùiChu có đặc điểm đặc biệt so với các địa phận khác ở Việt Nam là lãnh thổ của BùiChu nằm hoàn toàn trong lãnh thổ của tỉnh Nam Định “Dân số của Bùi Chu tínhđến nay là 388033 người với 127 giáo xứ, 88 linh mục, 551 tu sĩ, 98 chủng sinh,

3806 giáo lý viên” [37; Tr 2]

Địa phận Bùi Chu ngay từ khi mới thành lập (1897) đã được xác định là địaphận châu báu, sầm uất nhất, có thể nói là một trong những cái nôi của giáo hộiCông giáo ở Việt Nam Kể từ khi các giáo sĩ dòng Tên sáng lập và lần đầu tiên tớivùng Nam Chân truyền đạo, đặc biệt là gần 90 năm qua, Bùi Chu là một trung tâmtruyền đạo, hành đạo và đào tạo các vị chức sắc trong giáo phận; lãnh đạo việc huấngiáo và Thánh hóa các giới đoàn và 5 dòng nữ tu: Đa Minh, Mân Côi, Trinh Vương,Thăm Viếng, Mến Thánh giá theo một quy định thống nhất và chặt chẽ Toàn bộ cơcấu tổ chức ở địa phận Bùi Chu được điều hành dựa vào hàng Giáo phận và Giámmục đoàn trên cơ sở điều luật của Giáo hội Công giáo quy định

Xuân Trường cũng là huyện có số thánh tử vì đạo đông nhất tỉnh (gồm 19 thánh

tử vì đạo là người Xuân Trường và hàng chục thánh tử vì đạo là người nước ngoài).Xuân Trường là huyện có đông người theo đạo Công giáo của tỉnh, giáo dânchiếm gần 30% số dân toàn huyện Các xã có đông tín đồ nhất là: Xuân Tiến(84,4%), Xuân Ngọc (84%), Xuân Phương (61,8%), Thọ Nghiệp (53,3%), Xuân

Trang 28

Thuỷ (37%), Xuân Hoà (42%), Xuân Phú (36,6%),… Trong khi đó thì xã Xuân Tânkhông có đồng bào công giáo nào, thị trấn Xuân Trường chỉ có khoảng 1,3%, XuânThượng chỉ có khoảng 4,5% theo đạo Công giáo.

Bảng 1.1: Tổng hợp tình hình Công giáo huyện Xuân Trường (Nam Định) [37; Tr4 ] Số

TT Đơn vị

Tổng số khẩu

Tổng số giáo dân

Số xứ

Trang 29

- Hạt Bùi Chu do linh mục xứ Chính toà Bùi Chu quản lý, điều hành gồm các xãphía Tây của huyện như: Xuân Ngọc, Xuân Hồng, Xuân Thượng, Xuân Châu, XuânThuỷ, thị trấn Xuân Trường, Xuân Tiến, Xuân Kiến, Xuân Ninh.

Các giáo xứ có 3 linh mục quản lý như: Bùi Chu (Xuân Ngọc), Thánh Mẫu vàThánh Thể (Xuân Phương), Lạc Thành (Thọ Nghiệp), Vạn Lộc (Xuân Phú), ThuỷNhai (Xuân Phong), Ngọc Tiên (Xuân Thuỷ), Kiên Lao (Xuân Hồng), Xuân Dục(Xuân Tiến), Xuân Dương (Xuân Ninh), Xuân Hoà

Trong huyện có 10 tu viện, tu xá thuộc 5 dòng tu (Mân Côi, Đa Minh, TrinhVương, Thăm Viếng, Mến Thánh Giá) với 1000 nữ tu (trong đó số nữ tu khấn trọntrên 300 người, học viện trên 100 người, số còn lại là tập sinh và thỉnh sinh)

Toàn huyện có 70 nhà thờ, trong đó có 20 nhà thờ xứ, 50 nhà thờ họ Ở các xứ

có Hội đồng giáo xứ, ở các họ có Ban hành giáo

Về hội đoàn có 27 loại hội đoàn khác nhau với tổng số 480 hội và gần 30000 hộiviên, cốt cán tham gia Trong đó có nhiều xã có nhiều hội đoàn như: Thọ Nghiệp (16hội đoàn), Xuân Ngọc (15 hội đoàn), Xuân Phong (13 hội đoàn), Xuân Phú (9 hộiđoàn), những xã này có tỷ lệ giáo dân tham gia đông tới 75 – 80%

Về lễ nghi chủ yếu là việc giảng đạo, học giáo lý và cầu nguyện được diễn rathường ngày, các ngày lễ trọng, nhằm tập trung vào củng cố đức tin và tăng cườnggiáo quyền Hàng năm Giáo phận Bùi Chu tổ chức 2 cuộc lễ lớn là Lễ Kính QuanThầy địa phận (8/8) tại Nhà thờ chính tòa Bùi Chu (Xuân Ngọc) và Lễ Đức Mẹ vônhiễm nguyên tội (8/12) tại Đền thánh Phú Nhai (Xuân Phương) Trong 10 năm quaGiáo phận Bùi Chu đã có 2 lần tổ chức Đại năm Thánh (năm 1998 và 2008) Nhữngcuộc lễ lớn này có rất đông giáo dân trong và ngoài Giáo phận về dự

Trang 30

Tiểu kết chương 1

Xuân Trường là một huyện có vị trí địa lý rất thuận lợi, phía Bắc giáp sôngHồng và tỉnh Thái Bình, có hệ thống giao thông thuỷ, bộ khá thuận lợi, đồng ruộngmàu mỡ, làng mạc trù phú, dân cư đông đúc Với địa hình tương đối bằng phẳng, đấtđai phù sa do được bồi đắp bởi nhiều con sông lớn đã tạo nhiều điều kiện thuận lợicho Xuân Trường giao lưu và hội nhập phát triển trong suốt quá trình lịch sử xâydựng và phát triển

Không chỉ là huyện có vị trí quan trọng về điều kinh tế, chính trị, xã hội, anninh quốc phòng mà Xuân Trường còn được coi là một trong những trung tâm tôngiáo lớn của cả nước Các tín đồ tôn giáo chiếm khoảng 38 % dân số toàn huyện(trong đó tín đồ theo đạo Công giáo chiếm khoảng 30%, đạo Phật chiếm khoảng 8%)

Số lượng chức sắc, nhà tu hành khá đông Là huyện có nhiều cơ sở tôn giáo lớn của

cả Công giáo và Phật giáo Đặc biệt trên địa bàn huyện có Tòa giám mục Bùi Chu làtrung tâm điều hành các hoạt động của đạo Công giáo ở 6 huyện phía Nam và mộtphần của thành phố Nam Định

Nhìn chung các tôn giáo trên địa bàn huyện, đặc biệt là Công giáo đều hànhđạo trong khuôn khổ pháp luật và tuân thủ sự quản lý của Nhà nước; quyền tự do tínngưỡng và mọi sinh hoạt tôn giáo bình thường được tôn trọng Nhân dân huyện XuânTrường có ý nghĩa và niềm tin tôn giáo ở mức độ cao, nhất là về đạo Công giáo

Với những đặc điểm trên huyện Xuân Trường được xác định là một trongnhững trọng điểm về tôn giáo của Nam Định và cả nước

Trang 31

Chương 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN XUÂN TRƯỜNG (NAM ĐINH) VỚI VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO ĐỐI VỚI CÔNG GIÁO (1997 - 2010)\

2.1 Quá trình đổi mới về đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước

2.1.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mac – Lênin và Hồ Chí Minh về tôn giáo

Việt Nam là một quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo và đang

có xu hướng phát triển Trong sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Namkhởi xướng và lãnh đạo, vấn đề đổi mới tôn giáo được xác định là một quá trìnhlâu dài Quá trình ấy đòi hỏi phải từng bước được hoàn thiện Cùng với quá trìnhđổi mới xây dựng đất nước giàu mạnh, việc đổi mới nhận thức, đánh giá và chínhsách đối với tôn giáo cũng cần được đề ra Sự đổi mới đúng đắn và khoa họcphải được dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn Cơ sở đó là chủ nghĩa Mác - Lênin,tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo cùng với những đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ởViệt Nam

Trên cơ sở phân tích nguồn gốc, bản chất và hiện tượng của tôn giáo, các nhàkinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa ra hệ thống thế giới quan và phươngpháp luận về vấn đề tôn giáo: “Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của conngười chưa tìm được bản thân mình hoặc là đã lại để mất bản thân mình một lầnnữa Nhưng con người không chỉ là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ngoàithế giới Con người chính là thế giới loài người, là nhà nước, là xã hội Nhà nước

ấy, xã hội ấy sinh ra tôn giáo…Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, làtrái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật

tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [4; Tr 569 - 570]

Dựa trên cơ sở của quan niệm duy vật lịch sử, cũng như từ quan niệm củaCác Mác về tôn giáo, Ph.Ăng ghen đã đưa ra một định nghĩa có tính chất kinhđiển từ góc độ triết học về tôn giáo như sau: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua là

sự phản ánh hư ảo vào đầu óc con người của những lực lượng bên ngoài chi phốicuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh mà trong đó những lực lượng ởtrần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [5; Tr 437 - 438]

Trang 32

Như vậy, với thế giới quan đúng đắn và phương pháp luận khoa học, biệnchứng về lịch sử, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã vạch ra bảnchất của tôn giáo và đưa ra những định nghĩa về vấn đề tôn giáo, đồng thời cũng

đã đưa ra nhiều nguyên tắc để giải quyết vấn đề này

Các ông chỉ ra rằng, muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải thay đổibản thân tồn tại xã hội; muốn xoá bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tưởng của con người,phải xoá bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy Đó là một quá trình lâu dài, quá trình ấykhông thể thực hiện được nếu tách rời việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.Chỉ có thông qua quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới nhằm nâng caođời sống vật chất, tinh thần và trí tuệ cho con người thì mới có khả năng gạt bỏ dầnnhững ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo trong đời sống xã hội

Nguyên tắc không kém phần quan trọng để giải quyết vấn đề tôn giáo làtôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôngiáo của nhân dân Nguyên tắc này là căn cứ vào nguồn gốc, tính chất của tôngiáo, căn cứ vào bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và quy luật của quátrình chuyển biến về tưởng của con người - đó là sự chuyển biến tự giác dần dần

từ thấp đến cao

Ngoài ra, để giải quyết tốt vấn đề tôn giáo thì theo quan niệm của chủnghĩa Mác - Lênin là cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đềtôn giáo Ở những thời kỳ khác nhau, vai trò, tác động của từng tôn giáo đối vớiđời sống xã hội không như nhau Quan điểm, thái độ của các giáo hội, giáo sĩ,giáo dân về các lĩnh vực của đời sống xã hội luôn có sự khác biệt Vì vậy, cầnphải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh giá và ứng xử đối với nhữngvấn đề có liên quan đến tôn giáo

Như vậy, nhờ thế giới quan khoa học đúng đắn, phương pháp luận khoahọc, biện chứng về lịch sử mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đãvạch ra được bản chất của tôn giáo, đồng thời cũng đưa ra được những nguyêntắc phù hợp đúng đắn để giải quyết vấn đề tôn giáo

Trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác

- Lênin về vấn đề tôn giáo trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam là giải phóng

Trang 33

dân tộc, thống nhất Tổ quốc, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹpcủa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại, Hồ Chí Minh đã đưa rachính sách về vấn đề tôn giáo, đoàn kết lương giáo.

Được vũ trang bằng phương pháp duy vật, với sự am hiểu về văn hoá vàlịch sử sâu sắc, Hồ Chí Minh đã phát hiện sự tương đồng giữa tôn giáo với chủnghĩa xã hội, sự tương đồng giữa người có đạo với người không có đạo Người

đã phát hiện ra những giá trị tích cực của tôn giáo và biết khai thác kết hợpchúng với tư tưởng cộng sản nhằm đem lại lợi ích cho cách mạng Người viết:

“học thuyết Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân Tôngiáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả Chủ nghĩa Mác có ưu điểmcủa nó là phương pháp làm việc biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểmcủa nó là thích hợp với điều kiện nước ta Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiênchẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn hạnh phúc cho loài người,cho xã hội Nếu nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tinrằng nhất định sống chung với nhau hoàn mỹ như những người bạn thân thiết.Tôi cố gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy” [26; Tr 134]

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo, đoàn kết các tôn giáo vớinhau nằm trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Người Tư tưởng đoàn kếtlương giáo, hoà hợp dân tộc của Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ sở kế thừatinh hoa của truyền thống đoàn kết toàn dân trong lịch sử dân tộc Việt Nam Từlịch sử dân tộc và thực tiễn cách mạng, Hồ Chí Minh đã rút ra bài học: “Lúc nàodân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do Trái lại, lúc nàodân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”.[25; Tr 217]

Từ sự nhận thức sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã nhận ra đượcvai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mang nên Người đã đưa

ra tư tưởng về chiến lược đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc Kết luận củaNgười về đoàn kết “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công,đại thành công” là kết luận có ý nghĩa lớn lao trong mọi thời đại

Mục tiêu đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc của Hồ Chí Minh là nhằmđạt ước vọng của cả đời mà Người đã hi sinh phấn đấu và cũng là nguyện vong

Trang 34

của toàn dân tộc ta đó là giải phóng dân tộc, giải phóng con người thoát khỏi sự

nô dịch, áp bức, bất công và tiến lên chủ nghĩa xã hội Vì vậy, từ sớm, Hồ ChíMinh rất quan tâm đến vấn đề tôn giáo và các chính sách tôn giáo, Hồ Chí Minhluôn là một con người mẫu mực trong việc tôn trọng tự do tín ngưỡng tôn giáocủa quần chúng nhân dân

Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (3 - 9 - 1945), Hồ Chủtịch đã phát biểu: “Thực dân Pháp và phong kiến thống trị thi hành chính sáchchia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương để dễ bề thống trị Tôi đề nghị Chínhphủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do Lương - Giáo đoàn kết”.[27; Tr 9]

Năm 1955, khi hoà bình lập lại ở miền Bắc, ngày 8 - 3 - 1955, một lần nữaNgười khẳng định chính sách nhất quán lâu dài của Đảng và Nhà nước: Hiếnpháp đã ghi rõ chính sách tự do tín ngưỡng Chính phủ nhất định làm đúng nhưvậy Phải vạch trần những luận điệu xuyên tạc của kẻ thù và bè lũ tay sai hòngchia rẽ đồng bào ta như chúng thường nói Chính phủ cấm đạo và nhiều điều vô

lý khác

Đối với Hồ Chí Minh, cộng đồng Công giáo, kể cả giáo sĩ và giáo dân, làmột bộ phận không thể tách rời của dân tộc Theo sự chỉ đạo của chủ tịch Hồ ChíMinh, Hội nghị Xứ uỷ Bắc Kỳ họp từ 16 đến 20 - 12 - 1947 đã ra nghị quyết, chủtrương: “Chính sách đoàn kết với Công giáo phải là một việc thật sự Chúng tađừng để cho thực dân Pháp một việc gì để lôi kéo đồng bào Công giáo chống ta.Chúng ta không bỏ qua cơ hội nào để thân thiện với đồng bào Công giáo, nângcao tinh thần ái quốc, kháng chiến của họ Trong giới Công giáo luôn nêu caokhẩu hiệu: Vì Chúa, vì Tổ quốc, ủng hộ mặt trận kháng chiến, Chính phủ khángchiến”.[25; Tr 352]

Hồ Chí Minh luôn luôn kêu gọi đồng bào Công giáo đoàn kết cùng nhândân cả nước giữ vững nền độc lập dân tộc, đấu tranh chống kẻ thù xâm lược vàmọi âm mưu chia rẽ của chúng Ngay từ khi đất nước mới giành được độc lập,tháng 12 - 1945 trong thư gửi các Linh mục và đồng bào Công giáo, Người đãbày tỏ niềm tin và khích lệ lòng yêu nước của giáo dân: “Tôi tin chắc rằng dưới

Trang 35

sự lãnh đạo sáng suốt của các vị giám mục Việt Nam, đồng bào Công giáo quyếtmột lòng với nhân dân toàn quốc giữ vững nền độc lập”.[28; Tr 121].

Ngoài ra, Người còn thường xuyên viết thư gửi đồng bào Công giáo trong

cả nước, đặc biệt trong dịp lễ Giáng sinh Người luôn luôn viết thư để chúc mừnggiáo dân và kêu gọi lòng yêu nước của toàn thể nhân dân: “Ngày nay, cuộckháng chiến cứu nước đang chuyển sang giai đoạn mới, đồng bào càng phải vìĐức Chúa, vì Tổ quốc mà đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, kháng chiến hăng hái hơnnữa, để sớm đến ngày thắng lợi và thái bình”.[28; Tr 137]

Như vậy, có thể nói tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là đoàn kết, tôntrọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi công dân Tư tưởng Hồ ChíMinh về tôn giáo là bước sáng tạo độc đáo, là sự vận dụng sáng tạo những quanđiểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo trong hoàn cảnh cụ thể ởViệt Nam, không chỉ trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược mà còn chođến ngày nay - thời kỳ độc lập tự chủ tiến lên chủ nghĩa xã hội, tư tưởng ấy vẫncòn nguyên giá trị, vẫn là kim chỉ nam cho các chính sách của Đảng và Nhà nước

Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam được xây dựng trênquan điểm cơ bản của học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tínngưỡng, tôn giáo và căn cứ vào tình hình đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở ViệtNam Tư tưởng nhất quán xuyên suốt của Đảng và nhà nước Việt Nam qua cácthời kỳ là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; đoàn kết tôn

Trang 36

giáo, hoà hợp dân tộc Tư tưởng nhất quán đó được Đảng và Nhà nước thể hiệnbằng một hệ thống chính sách phù hợp với từng giai đoạn cách mạng và tìnhhình đất nước.

Trong khối đại đoàn kết của dân tộc, đồng bào có đạo là một nhân tố quantrọng không thể thiếu Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, ĐảngCộng sản ngay từ đầu đã chú ý đến vấn đề tôn giáo, đặc biệt là việc vận độngquần chúng theo đạo Thiên Chúa tham gia đấu tranh lãnh đạo cách mạng và xâydựng đất nước Chỉ thị của Thường vụ trung ương Đảng về thành lập Hội phản

đế đồng minh ngày 18 - 11 - 1930 đã có tuyên bố đầu tiên về chính sách tôntrọng tự do tín ngưỡng của nhân dân: “Bảo đảm tự do tín ngưỡng của quầnchúng, đập tan luận điệu phản tuyên truyền Cộng sản là vô Chính phủ, vô giađình, vô tôn giáo”[13; Tr 25]

Quan điểm của Đảng về đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và nhiệm

vụ công tác tôn giáo thể hiện ngay từ khi Đảng ta ra đời và đã được thực hiện nhấtquán trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam

Từ quan điểm chỉ đạo đó, Nghị quyết chính trị của Đại hội đại biểu ĐảngCộng sản Đông Dương lần thứ nhất (3 - 1930) nói về công tác phản đế liên minhviết: “Không phân biệt chủng tộc, nam nữ, tôn giáo, xu hướng chính trị, đảngphái, hễ ai có tính chất phản đế là có thể lôi kéo vào Mặt trận phản đế” Ngày 15

- 8 - 1945, Hội nghị toàn quốc Đảng Cộng sản Đông Dương đã thông qua Nghịquyết “Vận động đồng bào Công giáo theo đạo, mở rộng Việt Nam Công giáocứu quốc hội” để kêu gọi đồng bào Công giáo tham gia cách mạng

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà rađời, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục khẳng định chính sách tôn trọng quyền tự dotôn giáo, tín ngưỡng và chủ trương tranh thủ tầng lớp trên trong tôn giáo để củng

cố khối đại đoàn kết toàn dân thực hiện nhiêm vụ kháng chiến, kiến quốc Đốivới các giáo sĩ Công giáo, Đảng chủ trương kêu goi họ tham gia các tổ chức yêunước của người Công giáo, làm nhiệm vụ hướng dẫn tín đồ đóng góp công sứccùng với nhân dân toàn quốc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trang 37

Ngày 18 - 2 - 1946, thay mặt Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộnghoà, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh kỷ niệm những ngày lễ, ngày kỷ niệmlớn của các tôn giáo ở Việt Nam Sau đó, ngày 14 - 6 - 1955, Hồ chủ tịch đã kýSắc lệnh 234-SL về tôn giáo, khẳng định: “Chính phủ đảm bảo quyền tự do tínngưỡng, tự do thờ cúng của nhân dân, không ai được xâm phạm quyền tự do ấy;các nhà tu hành và các tín đồ đều được hưởng quyền công dân và mọi nghĩa vụcông dân”.

Năm 1955, trước yêu cầu mới về công tác tôn giáo nói chung, công tácquản lý Nhà nước và hoạt động tôn giáo nói riêng, Thủ tướng Chính phủ nướcViệt Nam Dân chủ Công hoà căn cứ vào ý kiến của Hội đồng Chính phủ đã banhành Nghị quyết số 566 - Tgg ngày 2 - 8 - 1955 thành lập Ban Tôn giáo trựcthuộc Phủ Thủ tướng (tiền thân của Ban Tôn giáo Chính phủ ngày nay) đểnghiên cứu kế hoạch thi hành những chủ trương, chính sách của Chính phủ vềvấn đề tôn giáo, giúp Thủ tướng phối hợp với những ngành ở Trung ương theodõi, hướng dẫn, đôn đốc các địa phương việc thực hiện những chính sách củaChính phủ về vấn đề tôn giáo và liên hệ với các tổ chức tôn giáo

Ngay trong năm đầu của cuộc chiến tranh chống giặc Mỹ phá hoại miềnBắc, mặc dù phải lo đối phó với cuộc chiến tranh ác liệt nhưng Chính phủ vẫnquan tâm đến vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Ngày 11 - 6 - 1964, Thủtướng Phạm Văn Đồng ký thông tư số 60 - TTg yêu cầu thi hành chính sách tôngiáo theo Sắc lệnh 234 của chủ tịch Hồ Chí Minh ký vào ngày 14 - 6 - 1955

Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, ngày 11 - 11 - 1977,Chính phủ ban hành nghị quyết số 297 - CP về “Một số chính sách đối với tôngiáo”, trong đó nêu lên 5 nguyên tắc về tự do tôn giáo

Năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước Đồngthời bước sang thập niên 90 của thế kỷ XX, tình hình thế giới tiếp tục có nhiềudiễn biến phức tạp Chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông

Âu, chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào giai đoạn thoái trào Nguy cơ chiến tranhthế giới bị đẩy lùi, nhưng xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về sắctộc, dân tộc và tôn giáo vẫn xảy ra ở nhiều nơi Để đáp ứng yêu cầu của tình hình

Trang 38

mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có sự đổi mới trong chính sách đối với tôngiáo qua Nghị quyết số 24 - NQ/TW, ngày 16 - 10 - 1990 của Bộ Chính trị Banchấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) “về tăng cường công tác tôn giáo trongtình hình mới” Đây có thể coi là văn kiện chứa đựng một tư duy chính trị mới vềtôn giáo, là khởi đầu của những đột phá trong nhận thức của Đảng ta về vấn đềtôn giáo và công tác tôn giáo.

Nghị quyết 24 cho thấy chính sách tôn giáo đã cởi mở hơn rất nhiều, sựchuyển biến này hoàn toàn phù hợp với xu thế tiến bộ của thế giới Hơn nữa, sựchuyển biến này phù hợp với nguyện vọng tha thiết của đồng bào các tôn giáo,tăng thêm khối đại đoàn kết toàn dân

Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của toàn dân, đổi mới về nhận thức vàthực hiện tốt công tác quản lý đối với các hoạt động tôn giáo là nhằm đảm bảonhu cầu tín ngưỡng chính đáng của nhân dân Qua đó phát huy được năng lực,sức sáng tạo của hàng chục triệu đồng bào theo tôn giáo, góp phần cùng nhândân cả nước xây dựng đất nước giàu mạnh

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng luôn có quan điểm, thái

độ rõ ràng về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với tình hình cụ thể trước những biếnđộng của tình hình thế giới và trong nước Trong báo cáo Chính trị tại Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng đã khẳng định: “tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầucủa một bộ phận nhân dân Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng quyền tự do tínngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lươnggiáo và giữa các dân tộc với nhau Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phânbiệt đối xử với đồng bào có đạo, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản tín đồ làmnghĩa vụ công dân”

Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội, Đảng và Nhà nước cũng nhấn mạnh: tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu củamột bộ phận nhân dân Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảoquyền tự do tín ngưỡng, đồng thời chống việc lợi dụng tín ngưỡng để làm tổn hạiđến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân

Trang 39

Sau 10 năm đổi mới, trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấphành Trung ương Đảng (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá ViệtNam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Đảng ta cũng khẳng định chính sách đốivới tôn giáo, tín ngưỡng là: “Tôn trọng tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡngcủa nhân dân, đảm bảo cho các tôn giáo hoạt động bình thường trên cơ sở tôntrọng pháp luật, nghiêm cấm xâm pham tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng.Thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc”.

Qua đó có thể thấy đến năm 1997 đã có nhiều đổi mới về chính sách tôngiáo của Đảng và Nhà nước ta Sự đổi mới về chính sách tôn giáo thể hiện ở việcquản lý của nhà nước trên các lĩnh vực sau:

- Về vấn đề theo đạo: Đảng và Nhà nước ta thực hiện nhất quán chínhsách tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng và tự do không tôn giáo, tínngưỡng của công dân Đồng bào theo đạo hay không theo đạo đều là công dânViệt Nam, có quyền và nghĩa vụ bình đẳng như nhau Mọi cồn dân có quyền theohoặc không theo một tôn giáo nào, từ bỏ hoặc thay đổi tôn giáo Đồng bào cóđạo được sinh hoạt tôn giáo bình thường, có nơi thờ tự,… Chức sắc được hoạtđộng tôn giáo theo đúng luật pháp Nhà nước tại nơi phụ trách

Đặc biệt, việc quản lý Nhà nước trong vấn đề hành đạo có những quy địnhmới là: Nơi thờ tự của tôn giáo được Nhà nước bảo hộ Các tổ chức tôn giáo cótrách nhiệm bảo vệ, tu bổ Những công việc sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự thìphải được sự cho phép của Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc cấp hành chính tươngđương Quy định về quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo như việc phongchức, bổ nhiệm, việc cử người ra nước ngoài tham dự các hoạt động tôn giáo hayđại biểu các tổ chức tôn giáo nước ngoài vào nước ta, về hoạt động viện trợ củacác tổ chức tôn giáo nước ngoài và việc nhận viện trợ của các tổ chức, cá nhântôn giáo trong nước

2.1.3 Đổi mới đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta giai đoạn 1997 – 2010

Trong thời gian này, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục thực hiện đổi mới chínhsách tôn giáo theo nguyên tắc chung là:

Trang 40

Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tínngưỡng, tôn giáo Mọi công dân đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trướcpháp luật, không phân biệt người theo đạo hay không theo đạo, giữa các tín đồtôn giáo khác nhau.

Đoàn kết đồng bào các tôn giáo và không theo tôn giáo trong khối đạiđoàn kết toàn dân

Các cá nhân và tổ chức tôn giáo đều phải tuân thủ theo hiến pháp, pháp luật.Nhà nước đảm bảo những hoạt động tôn giáo ích nước, lợi dân, phù hợpvới nguyện vọng, lợi ích chính đáng của tín đồ và khuyến khích những giá trịvăn hóa đạo đức tốt đẹp của tôn giáo

Mọi hành vi lợi dụng hoạt động tôn giáo để làm mất trật tự an toàn xã hội,phương hại nền độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đoàn kết toàn dân, chống lạinhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây tổn hại các giá trị đạo đức,văn hóa, lối sống của dân tôc, ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo thực hiệnnghĩa vụ công dân đều bị xử lý theo pháp luật Hoạt động mê tín bị phê phán vàloại bỏ

Các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trân Tổ quốc Việt Nam và các đoànthể, các tổ chức xã hội và các tổ chức tôn giáo có trách nhiệm làm tốt công táctôn giáo vận động quần chúng và thực hiện đúng đắn chính sách tôn giáo củaĐảng và Nhà nước

Sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết 24 - NQ/TW của Bộ Chính trị Banchấp hành Trung ương Đảng (khoá VI), Đảng ta đã tổng kết, đánh giá nhữngthành tựu và nêu rõ khuyết điểm của quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách tôngiáo trong thời gian qua, đồng thời Bộ Chính trị ra Chỉ thị 37 - CT/TW ngày 02 -

7 - 1998 về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới Chỉ thị vẫn nhấtquán các nguyên tắc đã được khẳng định ở các văn bản trước đó, cụ thể là: Tôntrọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡngtôn giáo của công dân; Đoàn kết gắn bó đồng bào theo các tôn giáo và không tôngiáo trong khối đại đoàn kết toàn dân; Mọi cá nhân hoạt động tín ngưỡng, tôngiáo phải tuân thủ hiến pháp và pháp luật; Mọi hành vi lợi dụng tôn giáo làm mất

Ngày đăng: 03/02/2021, 06:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Xuân Trường (2004), Lịch sử Đảng bộ huyện Xuân Trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Xuân Trường (2004)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Xuân Trường
Năm: 2004
2. Ban đoàn kết công giáo huyện Xuân Trường (2007), Báo cáo thành tích ban đại diện người công giáo huyện Xuân Trường nhiệm kỳ 2003 – 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban đoàn kết công giáo huyện Xuân Trường (2007)
Tác giả: Ban đoàn kết công giáo huyện Xuân Trường
Năm: 2007
3. Ban đoàn kết công giáo huyện Xuân Trường, Báo cáo thành tích ban đại diện người công giáo huyện Xuân Trường 10 năm (1999 - 2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban đoàn kết công giáo huyện Xuân Trường
7. Nguyễn Hồng Dương (2010), 30 năm thư chung 1980 Hội đồng Giám mục Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Hồng Dương (2010), "30 năm thư chung 1980 Hội đồng Giám mụcViệt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2010
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1971), Văn kiện Đảng về vấn đề mặt trận dân tộc thống nhất từ 1930 - 1970, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1971), "Văn kiện Đảng về vấn đề mặt trận dân tộcthống nhất từ 1930 - 1970
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1971
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết Hôi nghị lần thứ năm Ban Chấp Hành Trung Uơng khoá IX, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), "Nghị quyết Hôi nghị lần thứ năm Ban ChấpHành Trung Uơng khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2002
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2002
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2002
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2002
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp Hành Trung khoá IX, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), "Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban ChấpHành Trung khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2003
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Đảng về công tác tuyên giáo trong thời kì đổi mới, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), "Văn kiện Đảng về công tác tuyên giáo trongthời kì đổi mới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2008
15. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, tập 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam, "Văn kiện Đảng toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
16. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, tập 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam, "Văn kiện Đảng toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
18. Đỗ Quang Hưng (2012) , Công giáo trong mắt tôi, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Quang Hưng (2012) , "Công giáo trong mắt tôi
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
19. Đỗ Quang Hưng (2003), Tôn giáo và cách mạng, Nghiên cứu Tôn giáo, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Quang Hưng (2003), Tôn giáo và cách mạng, "Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Đỗ Quang Hưng
Năm: 2003
20. Đỗ Quang Hưng (2005), Tình hình tôn giáo Việt Nam lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Quang Hưng (2005), "Tình hình tôn giáo Việt Nam lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đỗ Quang Hưng
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2005
21. Đỗ Quang Hưng (2014), Nhà nước – Tôn giáo – Luật pháp, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Quang Hưng (2014), "Nhà nước – Tôn giáo – Luật pháp
Tác giả: Đỗ Quang Hưng
Nhà XB: Nxb Chính trịQuốc gia
Năm: 2014
22. Mai Thanh Hải (2004) , Địa chí tôn giáo lễ hội, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mai Thanh Hải (2004) , "Địa chí tôn giáo lễ hội
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
32. TS. Doãn Hùng - TS. Nguyễn Thanh Xuân - TS. Đoàn Minh Tuấn (2007), Một số chuyên đề về tôn giáo và hính sách tôn giáo ở Việt Nam Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS. Doãn Hùng - TS. Nguyễn Thanh Xuân - TS. Đoàn Minh Tuấn (2007)," Một sốchuyên đề về tôn giáo và hính sách tôn giáo ở Việt Nam Nxb Tôn giáo
Tác giả: TS. Doãn Hùng - TS. Nguyễn Thanh Xuân - TS. Đoàn Minh Tuấn
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2007
33. Huyện uỷ Xuân Trường (10 - 2005), Báo cáo chính trị tại đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXI (nhiệm kì 2005 - 2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyện uỷ Xuân Trường (10 - 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w