Bên cạnh những mặt tích cực, đô thị hóa ở quận Tân Phú cũng có bất cập và đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết như: Lao động và việc làm, nhất là việc làmcho người nông dân không còn đất đ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các tài liệu, số liệu đƣợc sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc và đƣợc trích dẫn rõ ràng theo quy định Những kết luận của luận án chƣa đƣợc công
bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác.
Tác giả
Nguyễn Bá Cường
Trang 4DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chư ng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHI N CỨU LI N QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 6
1.1 Các công trình nghiên cứu về đô thị và đô thị hoá ở Việt Nam 6
1.1.1 Những nghiên cứu về đô thị và đô thị hóa ở Việt Nam 6
1.1.2 Những nghiên cứu về đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh và quận Tân Phú 10 1.1.3 Những nghiên cứu về đô thị và đô thị hóa ở nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án 14
1.2 Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết 19
1.2.1 Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố 19
1.2.2 Những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết 20
Chư ng 2: QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA QUẬN TÂN PHÖ TỪ NĂM 2003 ĐẾN NĂM 2010 22
2.1 Khái niệm đô thị, đô thị hóa và tiêu chí đánh giá đô thị hóa 22
2.1.1 Khái niệm đô thị, đô thị hóa 22
2.1.2 Tiêu chí đánh giá đô thị hóa 23
2.2 Khái quát về sự ra đời và những yếu tố tác động đến quá trình đô thị hóa quận Tân Phú 24
2.2.1 Sự thay đổi về địa giới hành chính, tên gọi của quận Tân Phú trước khi tách khỏi quận Tân Bình và việc thành lập quận Tân Phú 24
2.2.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và văn hoá, xã hội trước khi quận Tân Phú ra đời 27 2.2.3 Chủ trư ng, chính sách về đô thị hóa của Đảng, Chính phủ, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh và quận Tân Phú 31
2.3 Quá trình quy hoạch đô thị quận Tân Phú 35
2.3.1 Quy hoạch mở rộng không gian đô thị quận 35
2.3.2 Xây dựng c sở vật chất và hạ tầng đô thị 37
2.3.3 Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thư ng mại và dịch vụ 41
2.3.4 Dân cư đô thị 47
2.4 Quản lý đô thị quận Tân Phú 48
2.4.1 Sự quản lý của chính quyền quận Tân Phú 48
2.4.2 Công tác quản lý đất đai, nhà ở, sở hữu tài sản và c sở hạ tầng đô thị 50
2.4.3 Quản lý về cảnh quan, tài nguyên, môi trường đô thị 52
2.4.4 Công tác thông tin tuyên truyền 54
Trang 62.4.5 Giám sát quy hoạch và trật tự đô thị 57
2.4.6 Đảm bảo đời sống nhân dân và phát triển văn hóa, giáo dục 60
Tiểu kết 63
Chư ng 3: QUẬN TÂN PHÖ ĐẨY MẠNH QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015 64
3.1 Những yếu tố mới tác động đến quá trình đô thị hóa của quận Tân Phú 64
3.2 Công tác quy hoạch đô thị 67
3.2.1 Mở rộng không gian đô thị 67
3.2.2 C sở vật chất và hạ tầng đô thị 69
3.2.3 Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thư ng mại và dịch vụ 72
3.2.4 Dân cư đô thị 81
3.3 Công tác quản lý đô thị quận Tân Phú 83
3.3.1 Sự quản lý của chính quyền quận Tân Phú 83
3.3.2 Quản lý đất đai, nhà ở, sở hữu tài sản, c sở hạ tầng đô thị 85
3.3.3 Quản lý về cảnh quan, tài nguyên, môi trường đô thị 88
3.3.4 Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng đô thị 89
3.3.5 Giám sát quy hoạch và trật tự đô thị 91
3.3.6 Sự chuyển biến về lối sống dân cư đô thị và công tác quản lý, đảm bảo đời sống dân cư 93
Tiểu kết 96
Chư ng 4: NHẬN XÉT VỀ QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA QUẬN TÂN PHÖ VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 97
4.1 Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân 97
4.1.1 Thành tựu 97
4.1.2 Hạn chế 124
4.2 Đặc điểm của quá trình đô thị hóa quận Tân Phú 129
4.3 Một số kinh nghiệm 135
Tiểu kết 141
KẾT LUẬN 142
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LI N QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 147
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 148
PHỤ LỤC 162
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU, BẢN ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp quận Tân
43Phú (2003-2010)
Biểu đồ 2.2 Tổng doanh thu thương mại - dịch vụ quận Tân Phú
(2003-462010)
Bảng 2.1 Dân số và biến động dân số ở quận Tân Phú từ năm 2004 đến năm
472010
Bảng 3.1 Cơ sở hạ tầng giao thông quận Tân Phú đến năm 2015 70
Biểu đồ 3.1 Giá trị sản xuất công nghiệp - thủ công nghiệp, xây dựng quận
74Tân Phú (2011-2015)
Biểu đồ 3.2 Tổng doanh thu thương mại - dịch vụ quận Tân Phú
(2011-812015)
Bảng 3.2 Dân số trung bình năm của quận Tân Phú chia theo phường 82
Bảng 4.1 Thu nộp ngân sách của quận Tân Phú từ năm 2003 đến năm 2010 102
Bảng 4.2 Thu nộp ngân sách của quận Tân Phú từ năm 2011 đến năm 2015 103
Bảng 4.3 Dân số và biến động dân số ở quận Tân Phú (2008-2012) 110
Bảng 4.4 Số liệu công tác xóa đói giảm nghèo ở quận Tân Phú đến năm
1172012
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và sự phát triển nhanhcủa kinh tế công - thương nghiệp, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiệnnay đã làm thay đổi nhiều mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng mạnh mẽ đến quátrình đô thị hóa đã và đang diễn ra trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam Đô thịhóa là một trong những giải pháp quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, xãhội của Việt Nam nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển mạnh cácngành công nghiệp, thương mại - dịch vụ, du lịch, thu hẹp dần tỷ trọng nông nghiệp,đáp ứng mục tiêu CNH, HĐH do Đảng và Nhà nước Việt Nam đề ra trong giai đoạn2000-2020, qua đó góp phần đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế, xã hội và từngbước nâng cao đời sống nhân dân
Quận Tân Phú nằm ở phía Tây của Thành phố Hồ Chí Minh, được thành lập
từ năm 2003 trên cơ sở tách ra từ quận Tân Bình Nằm ở vị trí cửa ngõ và là mộtquận tương đối lớn, nên sự phát triển của quận Tân Phú gắn bó mật thiết với sự pháttriển chung của Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có tốc độ phát triển kinh tế
xã hội và quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ nhất cả nước Chịu tác động bởi quátrình đô thị hóa, cùng với chủ trương mở rộng, phát triển nội thị của Thành phố HồChí Minh, quá trình đô thị hóa ở quận Tân Phú đã diễn ra nhanh chóng và đạt đượcnhiều thành tựu quan trọng Nghiên cứu đô thị hoá của quận Tân Phú để thấy rõbước khởi đầu của việc quy hoạch và xây dựng đô thị của một quận mới - quận nộithành và nội dung xây dựng đối với một đô thị ở thời điểm hiện tại của Việt Nam
Cũng giống như sự phát triển chung của nhiều đô thị khác trong cả nước, quátrình đô thị hóa ở quận Tân Phú đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần được quan tâmgiải quyết Bên cạnh những mặt tích cực, đô thị hóa ở quận Tân Phú cũng có bất cập
và đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết như: Lao động và việc làm, nhất là việc làmcho người nông dân không còn đất để sản xuất nông nghiệp; áp lực tăng nhanh củadân số đối với các vấn đề xã hội; tác động của đô thị hóa đến môi trường sinh thái.Bên cạnh đó, một đô thị hiện đại cần có một hệ thống hạ tầng tốt, việc này không chỉthúc đẩy đô thị phát triển về cấu trúc đô thị mà các lĩnh vực chính trị, kinh tế, vănhóa, xã hội, đời sống nhân dân cũng phải được nâng cao, văn minh, hiện đại hơn.Phương thức phát triển hạ tầng hợp lý có vai trò quyết định tới sự phát triển bềnvững của đô thị chứ không chỉ nhìn nhận trên giải pháp thiết kế hay quy hoạch Đây
1
Trang 9chính là khâu còn thiếu và yếu trong các chính sách quản lý phát triển đô thị, địnhhướng thiết kế, quy hoạch.
Nghiên cứu quá trình đô thị hóa ở quận Tân Phú cần có cái nhìn cụ thể vàkhách quan, xem xét quá trình đô thị hóa diễn ra như thế nào, những nhân tố kháchquan, chủ quan tác động, chi phối ra làm sao Trên cơ sở đó rút ra những thành công
và hạn chế để tham khảo góp phần vào công cuộc phát triển đô thị bền vững ở Thànhphố Hồ Chí Minh nói chung và quận Tân Phú nói riêng trong các thời kỳ tiếp theo
Nghiên cứu về đô thị hóa đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các chuyêngia, các nhà quản lý và nhiều nhà nghiên cứu ở những chuyên ngành khác nhau.Cũng đã có những nghiên cứu chuyên sâu và các bài viết đăng trên các tạp chí khoahọc chuyên ngành theo từng lĩnh vực về quá trình đô thị hóa ở Việt Nam Nhưngđến nay vẫn chưa có một nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện, có hệ thống về quá trình
đô thị hóa quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh Do đó, việc nghiên cứu quá trình
đô thị hóa của quận Tân Phú nhằm hiểu rõ hơn về những thuận lợi, khó khăn trongquá trình đô thị hóa và rút ra những kinh nghiệm cần thiết, góp phần cung cấp cơ sởkhoa học và thực tiễn giúp cho các cơ quan chức năng trong việc hoạch định chủtrương, chính sách về đô thị hóa và cung cấp những kinh nghiệm bổ ích cho các địaphương khác Do đó kết quả nghiên cứu đề tài là cần thiết và có ý nghĩa khoa học
Trên những ý nghĩa đó, tôi quyết định chọn nghiên cứu về “Quá trình đô thị hoá ở Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2003 đến năm 2015” làm đề tài Luận án Tiến sĩ Lịch sử.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu toàn diện và hệ thống về quá trình đô thị hóa ở quận Tân Phú,Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2003 đến năm 2015; đánh giá những thành tựu, hạnchế và nguyên nhân, làm rõ một số đặc điểm đặt trong sự so sánh với một số quậnkhác; đồng thời đúc rút một số kinh nghiệm
- Làm rõ quá trình chuyển biến về quy hoạch đô thị và công tác quản lý đô thị
ở quận Tân Phú từ sau khi thành lập (năm 2003);
2
Trang 10- Làm rõ những chuyển biến trên các lĩnh vực kinh tế, cơ sở hạ tầng, văn hóa,
xã hội, đời sống của dân cư quận Tân Phú trong quá trình đô thị hóa (2003-2015);
- Đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan, khoa học về quá trình đô thị hóa quận Tân Phú trong hơn 10 năm (2003-2015)
3 Đối tư ng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 ối t ng nghiên cứu Quá trình đô thị hóa quận Tân Phú từ năm 2003 đến
năm 2015
3.2 Ph m vi nghiên cứu
Về phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn Quận Tân Phú từ năm 2003-2015,
bao gồm 11 phường: Hiệp Tân, Hòa Thạnh, Phú Thạnh, Phú Thọ Hòa, Phú Trung,Sơn Kỳ, Tân Quý, Tân Sơn Nhì, Tân Thành, Tân Thới Hòa, Tây Thạnh
Về phạm vi thời gian: Từ năm 2003 đến năm 2015.
Luận án chọn mốc năm 2003 bắt đầu nghiên cứu vì năm 2003 quận Tân Phúđược thành lập Năm 2015 là năm kết thúc nghiên cứu của luận án vì quận Tân Phú
đã trải qua hơn 10 năm đô thị hóa, đã đủ thời gian để tống kết, đánh giá tuy mới chỉđạt bước đầu về những thành công quan trọng và những tồn tại hạn chế trong quátrình quy hoạch, quản lý đô thị và ổn định đời sống nhân dân trên địa bàn quận.Ngoài ra, để có cái nhìn toàn diện và có thêm những cơ sở để đánh giá về quá trình
đô thị hoá quận Tân Phú, trong quá trình thực hiện luận án, tác giả đã đề cập đến một
số vấn đề có liên quan đến đề tài trước năm 2003 và sau năm 2015
Về phạm vi nội dung:
Đô thị hóa là một vấn đề rộng lớn, trong khuôn khổ của bản luận án này,phạm vi nội dung của luận án tập trung nghiên cứu các vấn đề sau: Những yếu tố tácđộng đến sự chuyển biến quá trình đô thị hóa quận Tân Phú từ năm 2003 đến năm2015; Quá trình chuyển biến về quy hoạch đô thị, sự thay đổi diện mạo của quậnTân Phú trên nhiều khía cạnh từ chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển đôthị, quy hoạch về kiến trúc đến thay đổi về địa giới hành chính và môi trường đô thị;Quá trình chuyển biến về công tác quản lý đô thị quận Tân Phú (quản lý nhà đất, xâydựng đô thị, đường xá giao thông, quản lý vệ sinh môi trường đô thị, an ninh trậttự); Quá trình chuyển biến về sinh hoạt đô thị (dân cư đô thị, đời sống dân cư, laođộng việc làm, các ngành kinh tế đô thị, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục)
4 C sở lý luận, phư ng pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
Cơ sở lý luận Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về
3
Trang 11phát triển kinh tế, xã hội nói chung, về quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị trongthời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế ở Việt Nam.
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử củachủ nghĩa Mác - Lênin làm cơ sở phương pháp luận nghiên cứu Phương pháp luậnduy vật biện chứng nhằm nghiên cứu những biến chuyển về kinh tế - xã hội vànhững thay đổi trong lối sống của dân cư dưới tác động của đô thị hóa của quận TânPhú, Thành phố Hồ Chí Minh Phương pháp luận duy vật lịch sử nhằm xem xétnhững chuyển biến đó trong những điều kiện lịch sử cụ thể và theo trình tự thời gianphù hợp với tiến trình phát triển của lịch sử, làm rõ mối quan hệ chặt chẽ giữaphương pháp tiếp cận lịch sử với các phương pháp tiếp cận liên ngành và đa ngành
Ph ơng pháp nghiên cứu Luận án sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chủ
yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic
Với phư ng pháp lịch sử, luận án trình bày quá trình đô thị hóa ở quận Tân
Phú trải qua các giai đoạn phát triển theo lịch đại và đồng đại từ năm 2003 đến năm
2015 trên các chiều cạnh khác nhau Phư ng pháp logic để xem xét các vấn đề, các
nội dung nghiên cứu theo một trật tự đảm bảo sự hợp lý và chiều hướng phát triểntất yếu của quá trình đô thị hóa
Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành,
đa ngành như: phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu, phân tích, xử lý thông tin đểthẩm định làm phong phú thêm nguồn tư liệu của luận án Ngoài ra, luận án còn sửdụng phương pháp khác như: khu vực học, điền dã, khảo sát thực địa
guồn tài li u
Trước hết là các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và của
Thành ủy, UBND Thành phố Hồ Chí Minh, Tổng cục thống kê, các sở Ban ngành
thuộc Thành phố Hồ Chí Minh về những vấn đề có liên quan đề tài luận án Thứ hai
là các tài liệu, báo cáo tổng kết các ngành, các lĩnh vực hàng năm của Quận Tân Phú
từ năm 2003 đến năm 2015, số liệu thống kê hàng năm của quận Tân Phú và các
phòng chuyên môn trực thuộc quận Tân Phú Thứ ba là các công trình nghiên cứu,
sách, bài tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học, luận văn, luận án có liên quan về đô thị,
đô thị hóa
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án tập hợp và hệ thống hóa khối lượng tài liệu về đô thị hóa nói chung
và đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh, quận Tân Phú nói riêng, trên cơ sở đó dựng lạimột cách toàn diện, có hệ thống về quá trình đô thị hóa ở quận Tân Phú, Thành phố HồChí Minh từ năm 2003 đến năm 2015
4
Trang 12- Luận án phân tích và làm rõ quá trình đô thị hóa quận Tân Phú từ năm 2003đến năm 2015 trên các nội dung: Quá trình chuyển biến về quy hoạch đô thị trên nhiềukhía cạnh từ chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển đô thị, kiến trúc đến thay đổi
về địa giới hành chính và môi trường đô thị; Quá trình chuyển biến về công tác quản lý
đô thị như: quản lý nhà đất, xây dựng đô thị, giao thông, quản lý vệ sinh môi trường đôthị, an ninh trật tự; Quá trình chuyển biến về sinh hoạt đô thị gồm: dân cư đô thị, đờisống dân cư, lao động việc làm, các ngành kinh tế đô thị, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục
- Luận án làm rõ đặc điểm, thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, nêu lên một số kinh nghiệm trong quá trình đô thị hóa ở quận Tân Phú từ năm 2003 đến năm 2015
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp thêm luận cứ khoa
học cho các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách trong xây dựng cũng như
tổ chức thực hiện có hiệu quả chủ trương đô thị hóa đối với các địa phương trongthời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế
Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp thêm cơ sở thực tiễn cho các nhà quản lý và các
nhà hoạch định chính sách đề ra chủ trương và chỉ đạo thực hiện có hiệu quả trongquá trình xây dựng và phát triển đô thị ở Việt Nam hiện nay Luận án làm tài liệutham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy học tập về lịch sử Việt Namhiện đại nói chung, về quá trình đô thị hóa và văn hóa đô thị ở Việt Nam nói riêng
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung luận án được bố cục thành 4 chương:
Chư ng 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chư ng 2 Quá trình đô thị hóa quận Tân Phú từ năm 2003 đến năm 2010 Chư ng 3 Quận Tân Phú đẩy mạnh quá trình đô thị hóa từ năm 2010 đến
năm 2015
Chư ng 4 Một số nhận xét về quá trình đô thị hóa quận Tân Phú và một sốkinh nghiệm
5
Trang 13Chư ng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHI N CỨU
LI N QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Các công trình nghiên cứu về đô thị và đô thị hoá ở Việt Nam
1.1.1 hững nghiên cứu về đô thị và đô thị hóa ở Vi t am
Ở Việt Nam vấn đề đô thị và đô thị hóa đã được nhiều nhà nghiên cứu ởtrong và ngoài nước nghiên cứu tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau như: Sử học, kinh
tế học, xã hội học, nhân học, địa lý học, kiến trúc,…
Nghiên cứu về vấn đề dân số và nhà ở đô thị đáng chú ý là cuốn Dân số và nhà ở đô thị của Phạm Văn Trình (Nxb Xây dựng, Hà Nội, 1987) Trong đó, tác giả nghiên cứu về chính sách, biện pháp và phương hướng kỹ thuật nhằm giải quyết
vấn đề nhà ở đô thị, môi trường đô thị và vấn đề dân số
Tác giả Trương Quang Thao trong công trình nghiên cứu về Đô thị hôm qua, hôm nay và ngày mai (Nxb Xây dựng, Hà Nội, 1988), tác giả đã nghiên cứu làm rõ một số vấn đề về đô thị trong quá khứ, hiện tại và tương lai với một số nội dung
như: Đô thị hoá, sự bùng nổ dân số, cuộc sống trong đô thị, sự phát triển và tàn tạcủa đô thị Trên cơ sở đó, tác giả nghiên cứu tìm ra những phương hướng và giảipháp cho việc điều chỉnh, quy hoạch xây dựng đô thị trong tương lai
Ở góc độ sử học, đáng chú ý là công trình nghiên cứu Đô thị cổ Việt Nam do
Viện Sử học xuất bản năm 1989 Đây là một công trình tập hợp nhiều bài viết của các nhànghiên lịch sử về các đô thị cổ trong tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam Các tác giảnhận định, thế kỷ XVII - XVIII là thời kỳ hưng khởi của đô thị cổ Việt Nam Thời kỳ này,nhiều đô thị Việt Nam xuất hiện và đạt được những thành tựu đáng kể Hàng loạt các đô thịtrở nên nổi tiếng, trong đó phải kể đến Thăng Long - Kẻ Chợ, Thanh Hà, Phố Hiến, HộiAn Một thời, Phố Hiến là một đô thị thương cảng phát triển rực rỡ, một trung tâm đô hộivới rất nhiều ngành nghề, nơi tụ hội buôn bán giữa các vùng miền Đại Nam nhất thống chí
mô tả: N i đây phong vật phồn thịnh, nhà ngói như bát úp Trong đó, có nhiều bài viết nghiên cứu sâu về quá trình hình thành, phát triển của các đô thị như Thăng Long, Hoa Lư, Phố
Hiến, Hội An
Các nghiên cứu về văn hóa đô thị và lối sống đô thị đã ngày càng thu hút được
sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả , trong số đó có thể kể đến cuốn Lối sống trong đời sống đô thị hiện nay của tác giả Lê Như Hoa (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà
Nội, 1993) Sách là tập hợp những bài viết nghiên cứu về lối sống đô thị Theo nhận
6
Trang 14định của các tác giả thì lối sống đô thị là nhân tố quy định nét đặc thù của đô thị, nộidung của lối sống đô thị rất rộng gồm: nếp sống văn hóa đô thị, lối sống tiểu nôngthực dụng trong xã hội đô thị, giao tiếp văn hóa hay giao lưu văn hóa ở đô thị, quản
lý đô thị, lối sống vùng ngoại vi, văn hóa gia đình, giáo dục thẩm mỹ, nghệ thuật,tuổi trẻ đô thị, giáo dục trẻ em, tiêu dùng văn hóa, thời trang, nhà ở,
Nghiên cứu về đô thị hóa đáng chú ý là công trình Đô thị Việt Nam gồm tập 1
và tập 2 của tác giả Đàm Trung Phường (Nxb Xây Dựng, Hà Nội, 1995) Công trìnhnày đã tập trung giải quyết hai vấn đề chính là: Đánh giá thực trạng mạng lưới đô thịViệt Nam và Nghiên cứu - định hướng phát triển trong bối cảnh đô thị hoá thế giới
và bước sang CNH, HĐH của thời kỳ đổi mới Bên cạnh đó, tác giả cũng mở rộngnhững khái niệm về đô thị học có quan hệ với những tiến bộ của khoa học thế giới.Đây là một trong những công trình quan trọng góp phần gợi mở cho các nhà nghiêncứu khác và bạn đọc hướng tiếp cận các vấn đề lý luận về đô thị nói chung cũngnhư đại cương về đô thị hoá ở Việt Nam nói riêng Tuy nhiên, như chính tác giả củacông trình đã giới thiệu, cuốn sách cũng chưa có điều kiện đi sâu vào từng đô thị,
mà mới dừng ở những cấp vĩ mô
Tác giả Trần Cao Sơn trong cuốn Dân số và tiến trình đô thị hóa - Động thái phát triển và triển vọng (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995) đã đề cập đến mức độ
đô thị hóa, quy mô dân số đô thị, các tụ điểm đô thị lớn nhất thế giới, cấu trúc hệ
thống đô thị, đặc điểm và triển vọng đô thị hóa ở Việt Nam Một điểm lưu ý trongcông trình này là tác giả đã nêu đặc điểm hệ thống cấu trúc đô thị theo “không gianchùm”, “đô thị chuỗi”, “cấu trúc đô thị theo không gian điểm”
Bên cạnh đó vấn đề nhà ở cũng là một trong những nội dung của vấn đề của
đô thị hóa Nghiên cứu vấn đề này có thể kể đến các công trình như: Vấn đề nhà ở
đô thị trong nền kinh tế thị trường của thế giới thứ ba (1996), Các đô thị lớn của Việt nam và trên thế giới (1998), Tác động kinh tế - xã hội của Đổi mới trong lĩnh vực nhà ở đô thị (1998)…
Công trình Lối sống đô thị miền Trung, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn của
tác giả Lê Như Hoa (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1996) là tập hợp các bài viết
về nhiều vấn đề của đời sống văn hóa đô thị miền Trung như: Vai trò của nhân cáchtrong lối sống đô thị, tính hai mặt trong sự phát triển nhân cách; môi trường sinhthái; phân tầng xã hội và phân tầng về văn hóa; lối sống đô thị, nếp sống Thiên chúagiáo; văn hóa cảng đô thị miền Trung, ảnh hưởng của đạo Phật với lối sống; trangphục Huế; giá trị văn hóa của cư dân đô thị cổ Hội An
7
Trang 15Tác giả Nguyễn Viết Chức có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về Hà Nội.Tác giả đã dành nhiều quan tâm, nghiên cứu về đời sống văn hóa, tinh thần của người
dân Hà Nội Trong cuốn Nếp sống người Hà Nội (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội,
2001) của Nguyễn Viết Chức (Chủ biên) đã không bàn trực tiếp vào văn hóa đô thị, màxem xét nếp sống người Hà Nội trong các mối quan hệ “lẽ sống” và “lối sống” Theocác tác giả thì lẽ sống là mặt ý thức của lối sống, còn nếp sống là mặt ổn định của lốisống Nói cách khác, lối sống là cơ sở đầu tiên để hình thành nếp sống và lẽ sống thìdẫn dắt lối sống Lối sống được hình thành trên cơ sở những điều kiện sinh hoạt vậtchất nhất định Nếp sống vừa phản ánh nhu cầu khách quan của đời sống xã hội, vừa thểhiện ý chí chủ quan của con người Nếp sống bao gồm những cách thức hay những quyước đã trở thành thói quen trong sản xuất như: săn bắn, trồng cây; trong sinh hoạt như:
ăn, mặc, ở; trong tổ chức đời sống xã hội như: phong tục, lễ nghi, đạo đức, pháp luật
Cuốn Ảnh hưởng của đô thị hóa đến nông thôn ngoại thành Hà Nội: thực trạng và giải pháp tác giả Lê Du Phong (Chủ biên) (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002) đã trình bày về tốc độ đô thị hóa tại khu vực ngoại thành Hà Nội trong
giai đoạn 1991-2000 Quá trình đô thị hóa một mặt góp phần làm thay đổi diện mạocủa các làng quê trước đó của khu vực ngoại thành, góp phần thúc đẩy phát triểnkinh tế - xã hội và nâng cao đời sống của nhân dân Mặt khác, cũng chính do tốc độ
đô thị hóa nhanh chóng đã phát sinh nhiều vấn đề cần phải giải quyết Nội dungcuốn sách còn phân tích, nhận xét thực trạng ảnh hưởng tích cực và những hạn chếvướng mắc trong quá trình đô thị hóa nông thôn ngoại thành Hà Nội, đồng thời nêunhững bức xúc trong quá trình giải quyết đền bù khi bị thu hồi đất Từ đó các tác giả
đã đưa ra những kiến nghị đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết những khókhăn bất cập do quá trình đô thị hóa ở khu vực nông thôn hiện nay và những phương
án đền bù khi thu hồi đất sản xuất nông nghiệp
Năm 2005, tác giả Trịnh Duy Luân trong công trình nghiên cứu về Xã hội học
đô thị (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005) đã cho chúng ta cách tiếp cận nghiên cứu về các vấn đề xã hội trong khu vực đô thị Trong công trình này, các vấn đề
như: dân cư, đời sống, việc làm, lao động, kiến trúc, văn hóa, ứng xử, thương mại
đã được tác giả trình bày và làm rõ, gợi mở những hướng tiếp cận vấn đề đặt ranhững nội dung chủ yếu cần đi sâu nghiên cứu trong xã hội đô thị
Tác giả Hoàng Vinh trong công trình Những vấn đề văn hoá trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2006) đã cho rằng: văn hóa là
toàn bộ sự hiểu biết của con người, đúc kết thành hệ giá trị xã hội, hình thành trong quá
8
Trang 16trình hoạt động thực tiễn của xã hội loài người, nó có khả năng chi phối và điều tiếtđời sống tâm lý cũng như các hoạt động xã hội của con người sống trong cộng đồng
xã hội ấy Từ quan niệm này, có thể hiểu văn hóa đô thị là toàn bộ sự hiểu biết củacon người, được đúc kết thành hệ giá trị xã hội, hình thành trong quá trình hoạtđộng thực tiễn của xã hội, của cư dân đô thị; nó có khả năng chi phối và điều tiết đờisống tâm lý cũng như mọi hoạt động xã hội của cộng đồng cư dân đô thị
Tác giả Nguyễn Thanh Tuấn trong công trình nghiên cứu Biến đổi văn hóa đô thị Việt Nam hiện nay (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2007) xác định 5 đặc trưng của văn hóa đô thị so với văn hóa nông thôn là: 1 Lối sống văn hóa đô thị tùy thuộc
vào các dịch vụ công; 2 Trong văn hóa đô thị, hệ số sử dụng các phương tiện giaothông lớn và tăng lên không ngừng cùng với quá trình hiện đại hóa; 3 Văn hóa đôthị có tính phân hóa cao và rõ nét; 4 Hoạt động ứng xử đa phương hóa, đa dạng hóangày càng rộng mở; 5 Là phức hợp văn hóa bác học (hàn lâm, chuyên nghiệp), vănhóa dân gian và văn hóa đại chúng Từ các đặc trưng trên, có thể thấy văn hóa đô thị
là một phức hợp văn hóa bác học, dân gian và đại chúng với lối sống mang tính côngcộng hay tính xã hội hóa cao, tính mở, đa phương hóa, đa dạng hóa
Không thể kể đến bộ Lịch sử Việt Nam (15 tập) từ khởi thủy đến năm 2000 của
Viện Sử học (Nxb Khoa học xã hội, 2017) Đây là bộ thông sử đồ sộ, không có riêng
chuyên đề về đô thị và đô thị hóa, song từ tập 2 (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV) đến tập 15 (từ năm 1986 đến năm 2000) đều có các nội dung về đô thị, đô thị hóa được nghiên cứu
rất sâu sắc, trình bày trong các chương mục của các tập theo diễn trình lịch sử
Bên cạnh những công trình nghiên cứu trên còn có những bài viết, tham luận
trên các tạp chí, hội thảo khoa học như: Lịch sử tụ cư, quá trình đô thị hóa và những đặc điểm dân số học: nghiên cứu trường hợp phường Phúc Xá, quận Ba Đình, Hà Nội của Nguyễn Thị Thùy Dương trên Tạp chí Xã hội học số 2/2011; Từ làng đến phố: đô thị hóa và quá trình chuyển đổi lối sống ở một làng ven đô (trường hợp phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội) của tác giả Bùi Thị Kim Phượng;
Nghiên cứu về đô thị còn có các Luận án đã bảo vệ thành công như: Đô thị Hải
Dư ng thời kỳ thuộc địa (1883-1945) của Phạm Thị Tuyết bảo vệ ở Khoa Lịch sử
trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2011; Luận án Tiến sĩ lịch sử của Nguyễn Thị
Hoài Phương về “Thành phố Hải Phòng từ năm 1888 đến năm 1945” bảo vệ năm 2015
tại trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận án Tiến sĩ lịch sử về
đề tài “Thành phố Thanh Hóa từ năm 1804 đến năm 2010” của tác giả Nguyễn Thị Thu
Hà, bảo vệ tại trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015; Luận
9
Trang 17án Tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng với đề tài“Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo điều chỉnh địa giới hành chính Thành phố Hà Nội từ năm 1978 đến năm 2008” của Đỗ
Thị Thanh Loan bảo vệ năm 2015; Luận án Tiến sĩ lịch sử của Đỗ Thị Hương Liên về
đề tài “Quá trình hình thành và phát triển thành phố Lạng S n từ năm 1925 đến năm 2012” đã bảo vệ thành công tại trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên năm 2018.
Các công trình nghiên cứu, luận án, các bài viết trên đây đã đi sâu nghiên cứulàm sáng rõ đô thị hóa là một quá trình tất yếu diễn ra mạnh mẽ ngay từ cuối thế kỷXIX và cho tới hiện nay ở Việt Nam cũng như các quốc gia đến đầu thế kỷ XX trênkhắp thế giới Quá trình đô thị hoá đã làm biến đổi mạnh mẽ và sâu sắc về đời sốngchính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, làm thay đổi từ diện mạo đô thị, cảnh quan môitrường đến lối sống của cư dân đô thị… nhất là ở những đô thị lớn và tại nhữngquốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam
1.1.2 hững nghiên cứu về đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh và quận Tân Phú
Từ trước đến nay, nghiên cứu về đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh vàquận Tân Phú chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều, chỉ mới có một số công trìnhnghiên cứu chủ yếu sau đây:
Trong công trình nghiên cứu Đô thị hóa và phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam 1954 đến 1989 do Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1991, trong đó đề cập đến tác động, ảnh hưởng của đô thị hóa ở Sài Gòn - Thành phố Hồ
Chí Minh trong gần 40 năm (từ năm 1954 đến năm 1989)
Bài viết của tác giả Lê Hồng Liêm về Xu hướng phát triển đô thị, xu hướng gia tăng dân số và lao động ở các quận ven Thành phố Hồ Chí Minh trong cuốn Ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh những vấn đề lịch sử và truyền thống của các tác giả Lê Hồng Liêm, Lê Sơn, Trương Minh Nhật, Quách Thu Nguyệt (Nxb Trẻ,
Hồ Chí Minh, 1994), đã tập trung phân tích, làm rõ bối cảnh lịch sử thế giới và trongnước, thực tiễn của Thành phố Hồ Chí Minh và yêu cầu đặt ra cũng như xu hướngtất yếu của quá trình đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh Hệ quả tất yếu là sự giatăng dân số và nhu cầu phải giải quyết là vấn đề lao động và việc làm, tình trạng thấtnghiệp, đời sống của người lao động và các vấn đề xã hội khác Đó là những áp lựcđối với không chỉ Thành phố Hồ Chí Minh mà nhất là đối với các quận vùng ven
Trong cuốn Những mặt tồn tại trong quá trình đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Văn Tài (Nxb Nông nghiệp, Hà Nội,1995) đã tập trung đi sâu
nghiên cứu những vấn đề bức xúc trong quá trình đô thị hóa như: sự gia tăng dân số
10
Trang 18một cách nhanh chóng, vấn đề ô nhiễm môi trường, khoảng cách giàu nghèo gia tăng,vấn đề lao động, giải quyết việc làm, sự gia tăng các loại hình tội phạm, tệ nạn xã hội…
Công trình Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị (Nxb Xây dựng, Hà Nội, 1997) của
Nguyễn Thế Bá là công trình cơ bản trình bày về nguyên lý thiết kế và quy hoạchxây dựng đô thị; giúp chúng ta có hướng tiếp cận khi tìm hiểu, nghiên cứu về côngtác quy hoạch trong việc phát triển đô thị hiện đại Đây là một công trình rất có giátrị về vấn đề quy hoạch đô thị
Công trình đồ sộ Địa chí Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (4 tập) do Trần
Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình, (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, HồChí Minh, 1998) đã khảo cứu toàn diện về các mặt lịch sử, chính trị, kinh tế, vănhóa, xã hội, nghệ thuật của Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả Tôn Nữ Quỳnh Trân có nhiều nghiên cứu về Thành phố Hồ Chí Minh,
riêng về góc độ đô thị hóa, khổng thể không kể đến công trình Văn hóa làng xã trước sự thách thức của đô thị hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh (Nxb Trẻ, Hà Nội, 1999) Công
trình gồm có 3 chương, trong đó đáng chú ý là nội dung chương 1 trình bày về tìnhhình đô thị hóa tại quận Tân Bình Tuy được trình bày ngắn gọn nhưng nội dung nàycũng đã giúp ích rất nhiều cho chúng tôi nắm bắt một cách khái quát những bước pháttriển đô thị của Tân Bình vào giai đoạn tiếp sau chính sách Đổi mới năm 1986 Đồngthời giúp cho nghiên cứu sinh có những hiểu biết rất chân xác về thực trạng của quậnTân Bình trước khi tách thành hai quận Tân Bình và Tân Phú
Một trong những nghiên cứu tiêu biểu về mối quan hệ giữa vấn đề đô thị hóa và
dân số là công trình hợp tác nghiên cứu về Dân số và di chuyển nội thị - trường hợp thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội của Viện Nghiên Cứu Phát triển Paris, Viện Kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Dân số, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội (2002).Nghiên cứu này đã chỉ ra một số điểm đáng chú ý như từ khi thực hiện các biện pháp tự
do hóa kinh tế theo chính sách đổi mới vào năm 1986, Thành phố Hồ Chí Minh và HàNội, hai đô thị lớn nhất Việt Nam, đã bước vào giai đoạn phát triển đô thị mạnh mẽ.Hiện nay, việc phát triển đô thị chủ yếu do làn sóng di dân từ nông thôn ra thành thị vìmức tăng trưởng kinh tế cao ở thành thị, cộng với sự khác biệt nông thôn thành thị ngàycàng lớn và việc quản lý hộ khẩu không còn chặt chẽ Thứ hai là tỷ lệ dân số ở nôngthôn hiện nay vẫn cao (hơn 75% dân số, theo điều tra dân số năm 1999), điều này chophép chúng ta dự đoán rằng quá trình tăng trưởng dân số đô thị sẽ còn tiếp tục diễn ratrong nhiều năm tới Thứ ba là trong bối cảnh đó, sự tái cấu trúc nhà ở và dân cư đô thịdiễn ra ngày càng mạnh mẽ, do giá nhà đất tăng cao ở trung
11
Trang 19tâm thành phố, do có nhiều dự án phát triển đô thị và do sự xuất hiện các khu côngnghiệp mới và do tiến trình phân tầng xã hội Điều đó đặt ra nhiều vấn đề về hạ tầng
kỹ thuật và phương tiện giao thông đô thị
Luận án Tiến sĩ Tổ chức không gian quy hoạch - kiến trúc Trung tâm thư ng mại Dịch vụ tại Thành phố Hồ Chí Minh của Nguyễn Thanh Hà (Trường Đại học Kiến trúc
Thành phố Hồ Chí Minh, 2005) là một đề tài chuyên ngành Quy hoạch Không gian đôthị Thông qua tổng quan đánh giá quy hoạch kiến trúc trung tâm thương mại dịch vụ
đô thị nói chung và của Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, tác giả đề xuất các mô hình
lý thuyết tổ chức không gian và đề xuất áp dụng cho Thành phố Hồ Chí Minh về quyhoạch và tổ chức không gian các trung tâm thương mại dịch vụ Đề tài không đề cậpđến nghiên cứu về quản lý và kiểm soát phát triển đô thị và khu trung tâm
Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan về xu thế đô thị hoá và phát triển các thành phố
cực lớn thế kỷ 21 đáng chú ý là luận án Tiến sĩ “Giải pháp quy hoạch tổ chức không gian đô thị cực lớn theo hướng phát triển bền vững lấy thành phố Hồ Chí Minh làm ví dụ” của Nguyễn Tiến Thành (Trường Đại học Kiến trúc, Thành phố Hồ Chí Minh,
2006) Các lý luận về quy hoạch cấu trúc không gian đô thị lớn trên thế giới, thực trạng
và định hướng phát triển và quy hoạch phát triển không gian Thành phố Hồ Chí Minh,tác giả đề xuất các giải pháp tổ chức quy hoạch cấu trúc không gian Thành phố Hồ ChíMinh theo 2 phương án (mô hình): Mô hình cấu trúc không gian xuyên tâm - vành đai(đây là phương án hữu hiệu) có điều chỉnh hoàn thiện theo hướng lan toả ra ngoạithành theo một số trục lớn xuyên tâm Mô hình tổ chức quy hoạch cấu trúc không gianThành phố Hồ Chí Minh theo hướng “Đô thị trong đô thị” bằng việc xây dựng các đôthị vệ tinh, các đô thị đối trọng mới xung quanh Thành phố Hồ Chí Minh
Công trình nghiên cứu về Nông dân ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình đô thị hóa (Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2007) tác giả Lê Văn Năm là
công trình nghiên cứu khá công phu, viết về những “xáo trộn” trong đời sống của ngườinông dân ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đô thị hóa, trong đó tậptrung vào tình hình chuyển dịch đất đai và cơ cấu nghề nghiệp, cũng như sự thay đổi vềmôi trường sống, trong đó có môi trường văn hóa của họ Theo tác giả, ở vùng ngoạithành thành phố, đang có sự chuyển dịch kinh tế từ nông nghiệp sang phi nông Đócũng là tiến trình người nông dân dần dần xa rời đồng ruộng để trở thành thị dân Tácgiả còn mô tả những thay đổi mạnh mẽ trong đời sống nông dân Đô thị hóa làm cho họdần dần rời bỏ ruộng đồng, chuyển sang những hoạt động kinh doanh, buôn bán, laođộng bằng những ngành nghề khác hay rơi vào cảnh thất nghiệp Tác giả Lê Văn Năm
12
Trang 20còn đề cập tới những thuận lợi và khó khăn tiêu cực do quá trình đô thị hóa mang lại.Đây là công trình để chúng tôi nghiên cứu về những chuyển biến trên lĩnh vực xã hội
ở quận Tân Phú trong quá trình đô thị hóa
Cuốn sách Tiềm năng cho kỳ tích sông Sài Gòn của Nguyễn Minh Hòa, (Nxb
Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2008) đã nêu bật vai trò trung tâm kinh tế, vănhóa, xã hội của Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả Nguyễn Minh Hòachứng minh thành phố này là nơi tiếp thu sớm nhất và mạnh mẽ nhất các khoa họccông nghệ và kỹ thuật tiên tiến từ các nước phương Tây để phát triển cơ sở hạ tầng
kỹ thuật và hạ tầng xã hội, đến ứng dụng có hiệu quả các kiểu quy hoạch - kiến trúcphương Tây vào thành phố Tác giả cho rằng ở Sài Gòn đã hình thành nên một nềncông nghiệp tiên tiến so với các nước trong khu vực Đông Nam Á và sớm nhất sovới những vùng miền khác trong cả nước
Phân tích vấn đề đô thị dưới góc nhìn quản lý có công trình Chính quyền đô thị tại Việt Nam: Nghiên cứu tình huống từ Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng do
trường Đại học Kinh tế - Luật Thành phố Hồ Chí Minh và Qũy Châu Á thực hiệnnăm 2013 Công trình tập trung phân tích những tranh cãi đã và đang tồn tại về tínhhiệu quả của hệ thống quản lý đô thị ba lớp (thành phố, quận, phường) và nhữngkhó khăn trong việc áp dụng mô hình tổ chức chung này vào cả chính quyền đô thị
và nông thôn Nghiên cứu này được chia thành các giai đoạn khác nhau, trong đógiai đoạn đầu nghiên cứu xác định những điểm chính có được từ các nghiên cứutrước và định vị những vấn đề liên quan đến quản lý đô thị, chính quyền đô thị tạiViệt Nam Giai đoạn thứ hai đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thôngqua khảo sát thực tế, phỏng vấn sâu về nhìn nhận của các bên từ đó có cái nhìn sosánh, phân tích, tổng hợp về vấn đề quản lý đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh
Cũng bàn về vấn đề quản lý đô thị, tác giả Nguyễn Thanh Quang trong Luận án Tiến
sĩ về Địa lý học Kiểm soát và phát triển trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập đã chỉ ra rằng: 1 Kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế cộng với việc đẩy mạnh tiến
trình CNH, HĐH đã và đang tạo ra nhiều động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế xã hộinói chung và các đô thị, nhất là khu trung tâm đô thị nước ta nói riêng; 2 Với những ưu thếvượt trội so với những khu vực khác, khu trung tâm đô thị là địa bàn mầu mỡ hấp dẫn vàthu hút nhiều nhà đầu tư vào phát triển các lĩnh vực thương mại, dịch vụ kéo theo các hoạtđộng xây dựng phát triển đô thị diễn ra rất sôi động, đa dạng cả về nội dung lẫn hình thức,làm cho công tác quản lý đô thị trở nên phức tạp hơn, nhiều khi vượt ra ngoài tầm kiểmsoát của chính quyền và các cơ quan chức năng
13
Trang 21ở địa phương như: tác động phương hại đến việc sử dụng đất, đến cơ cấu chức năng vàtạo lập không gian của các khu trung tâm đô thị, bộc lộ nhiều vấn đề bức xúc, hạn chế; 3.Nhiều nhà hàng, siêu thị, khách sạn, văn phòng, ngân hàng, cao ốc đã và đang được xâydựng trong khu trung tâm các đô thị lớn không có sự phù hợp với quy hoạch xây dựng làmcho không gian đô thị trở nên chật trội, lộn xộn, chắp vá, thiếu cây xanh, giao thông ùn tắc.
Đó là những vấn đề đang đặt ra cho chính quyền các đô thị, nhất là các đô thị lớn trong việckiểm soát phát triển đô thị trong bối cảnh hội nhập; 4 Việc phát triển cân bằng và đồng bộkhu trung tâm thành phố là mục tiêu của thành phố để phấn đấu xây dựng nơi đây thành khutrung tâm đạt chuẩn quốc tế về chất lượng sống, môi trường đô thị Muốn đạt được mục tiêu
đó, việc tăng cường kiểm soát phát triển không gian khu trung tâm là giải pháp không thểthiếu và có vị trí then chốt trong các hoạt động quản lý đô thị của thành phố; 5 Luận án đãđánh giá tình hình phát triển và kiểm soát phát triển không gian đô thị khu trung tâm hiệnhữu của Thành phố Hồ Chí Minh Luận án đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về kiểmsoát phát triển không gian đô thị và đề xuất tổ chức hệ thống kiểm soát phát triển không gian
đô thị Thành phố Hồ Chí Minh theo mô hình trực tuyến - chức năng, độc lập riêng và trựcthuộc UBND thành phố; theo mô hình 3 cấp: Thành phố - Quận, Huyện - Phường, Xã trựcthuộc sự quản lý hành chính của UBND cấp tương ứng; đề xuất Bộ tiêu chí kiểm soát pháttriển không gian đô thị Thành phố Hồ Chí Minh với 8 nhóm tiêu chí tiêu biểu, bao quát cáchoạt động cơ bản về phát triển và khai thác sử dụng không gian đô thị
Các công trình nghiên cứu và bài viết trên đây đã cung cấp nguồn sử liệu kháphong phú, đa dạng, trong đó đã trình bày khá cụ thể về vị trí địa lý, dân cư, truyềnthống lịch sử, văn hóa và có những phân tích và đánh giá khá toàn diện trên cácphương diện: Kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, quân sự, quốc phòng an ninh củaThành phố Hồ Chí Minh nói chung, trong đó có đề cập đến quận Tân Phú
1.1.3 hững nghiên cứu về đô thị và đô thị hóa ở n ớc ngoài có liên quan đến đề tài luận án
Cho đến nay cũng đã có ít nhiều công trình nghiên, bài viết của tác giả ởnước ngoài nghiên cứu về đô thị, các vấn đề kinh tế, xã hội của đô thị và quá trình
Trang 22thống đô thị đến năm 2000 Lý thuyết này tập trung vào sự thay đổi dân số nôngthôn - đô thị, coi đó là nền tảng của đô thị hoá Quá trình đô thị hoá được xác địnhrằng: Công nghiệp là động lực cơ bản đằng sau sự di chuyển của cư dân nông thôn
ra thành thị kiếm việc làm tại các nhà máy Với lý thuyết đó, tác giả nhận định rằng,trước cách mạng công nghiệp ở Anh, không có xã hội nào có thể được mô tả như là
đô thị
Trong bài viết “The World City Hypothesis, Development and Change” (Giả thuyết thành phố thế giới, phát triển và thay đổi) của Friedmann, đăng trên International Journal of Urban and Regional Research, 1986, 17, 69-83 đã trình bày
các giả thuyết hiện đại hoá và lý thuyết toàn cầu hoá về đô thị hoá tiếp tục từ nhữngnăm 1970 đến năm 1980, các siêu đô thị trên thế giới đã bắt đầu hình thành và cótầm ảnh hưởng ngày càng mạnh và có cấu trúc liên kết Tác giả cho rằng các thànhphố trên thế giới là một số lượng nhỏ các khu vực đô thị rộng lớn trong hệ thống đôthị toàn cầu kiểm soát về sản xuất và mở rộng thị trường trên toàn thế giới Trongcông trình của mình, Friedmann đã đưa ra ba giả thuyết với dân số đô thị và khônggian hoá Thứ nhất là các thành phố trên thế giới tập trung tạo nguồn vốn thế giới.Thứ hai, sự tăng trưởng kinh tế của các thành phố trên thế giới minh họa cho nhữngmâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản công nghiệp, đáng chú ý nhất là sự phân cực khônggian và giai cấp của Hồi giáo Thứ ba, chi phí cho thành phố trên thế giới thườngvượt xa khả năng tài chính của bang mà kết quả là tiếp tục khủng hoảng tài chính và
xã hội
Tác giả Timberlake, M trong công trình World-system theory and the study
of comparative urbanization (Lý thuyết hệ thống thế giới và nghiên cứu về đô thị hóa
so sánh), (In: Smith, M.P and Feagin, J.R (eds.), được công bố bởi The Capitalist
City, Blackwell, Oxford, 1987) Trong đó, tác giả đã khẳng định rằng đô thị hoá cóthể xem như là một phản ứng nội tại của địa phương trong kinh tế toàn cầu Tác giả
đã đưa ra ba khung lý thuyết để nghiên cứu về đô thị hóa so sánh Thứ nhất, các tácgiả định rằng mô hình phát triển tư bản chủ nghĩa tồn tại là duy nhất, khẳng địnhchủ nghĩa tư bản là một hình thức duy nhất của chủ nghĩa xã hội Thứ hai, chủ nghĩa
tư bản đòi hỏi một xã hội có cấu trúc nhất định, được đặc trưng bởi trao đổi bấtbình đẳng, phát hiện không đồng đều và bất bình đẳng xã hội Thứ ba, lý luận vềtoàn cầu hoá thiết lập mô hình tổ chức xã hội, công nghệ và biến động dân số nhưyếu tố nội sinh trong phát triển và đô thị hoá bị hạn chế bởi yếu tố ngoại sinh
15
Trang 23Cùng đưa ra lý thuyết trong để nghiên cứu về đô thị hóa, Kasarda, J.D and E.
M.Crenshaw trong một nghiên cứu liên ngành Third World Urbanization: Dimensions, Theories, and Determinants (Đô thị hóa thế giới thứ ba: kích thước, lý thuyết và các yếu tố quyết định) (Annual Review of Sociology, 1991, Vol.17) Các
tác giả đã đưa ra ba khung lý thuyết nghiên cứu đô thị hoá dưới cách tiếp cận hiệnđại hoá, đó là: 1 Thực trạng đô thị hoá trong bất kỳ xã hội nào phụ thuộc bởi trạngthái ban đầu khi bắt đầu đô thị hoá 2 Công nghệ là nhân tố quan trọng hơn so với tổchức xã hội trong quá trình đô thị hoá 3 Cách thức và mô hình đô thị giữa các nướcphát triển và đang phát triển có nhiều điểm tương đồng mặc dù có sự khác biệt vềvăn hoá Bên cạnh đó, các tác giả còn đưa ra phương pháp phác họa mô hình đô thịhóa trong “Thế giới thứ ba” trong nghiên cứu liên ngành này Thứ nhất, theo dõi các
xu hướng và kích thước của đô thị hóa ở các nước đang phát triển và sau đó thảoluận về các lý thuyết chính hướng dẫn nghiên cứu đô thị toàn cầu Thứ hai, xem xét
và phê bình các cuộc điều tra xuyên quốc gia về các yếu tố quyết định đô thị hóa vàkích thước của nó Thứ ba, thảo luận về các vấn đề cần đảm bảo điều tra bổ sungtrong tương lai gần
Một trong nghiên cứu kinh điển trong những năm 1990 về tương lai nhằm táihiện bức tranh sinh động về nền văn minh của thế kỷ 21, làm rõ những mối quan hệtrong kinh doanh, cuộc sống gia đình, chính trị, kinh tế và cuộc sống của từng cá nhân
đó là Toffler, Alvin với công trình The third wawe (Làn sóng thứ ba) (New York:
Bantam Books, 1990) Nội dung công trình nghiên cứu khá nổi tiếng này đã chỉ rõnguyên nhân của những biến đổi văn hóa của các xã hội loài người từ trước đến nay là
sự phát triển của lực lượng sản xuất, đặc biệt là của khoa học kỹ thuật, công nghệ Cuốnsách lần lượt trình bày, minh họa, ví dụ làm rõ ba làn sóng sẽ diễn ra trong tương lai.Làn sóng thứ nhất là sự ra đời của nông nghiệp và nền văn minh nông nghiệp Làn sóngthứ hai là công nghiệp hóa và sự ra đời của nền văn minh công nghiệp Làn sóng thứ ba
là nền văn minh hậu công nghiệp; con người chứng kiến sự hội nhập quốc tế rộng rãi vàphát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, công nghệ sinh học
Trong bài viết “Urbanization in the Out City: A case Study in Ho Chi Minh
City’s Suburbs” (Đô thị hóa ở ngoài thành phố: Một trường hợp nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh) của Drummond được đăng trên Malaysian Journal of Tropical Geography, 29, No.1 (1998): p 23-38, đã đi sâu nghiên cứu về những thay đổi rất sâu
sắc của một khu vực ngoại ô Thành phố Hồ Chí Minh trong “cơn bão của tốc độ đô thịhóa” Tác giả Drummond đã phân tích và đưa ra các bằng chứng về những mặt tích cực,
16
Trang 24những cái được như tăng trưởng kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của ngườidân được nang cao, diện mạo chung thay đổi nhanh chóng Song bên cạnh đó cũngchỉ rõ những hạn chế bất cập của tốc độ đô thị hóa ở đây như tình trạng ô nhiễm môitrường, sự chênh lệch giàu nghèo, quy hoạch bừa bãi không thể kiểm soát, các tệnạn xã hội gia tăng, nhất là trong giới trẻ… Điều đó là những cảnh báo đối với cáccấp chính quyền và nhân dân cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp.
Nghiên cứu về trung tâm nền kinh tế có sức ảnh hưởng toàn cầu trong quá
trình đô thị hóa của các nước trên thế giới đáng chú ý là công trình của Sassen S The Global City: New York, London, Tokyo, (Thành phố toàn cầu New York, London và Tokyo), (Princeton University Press, New Jersey, 2001) Trong công trình này, tác
giả Sassen đã làm rõ quá trình New York, London và Tokyo trở thành trung tâm chỉhuy cho nền kinh tế toàn cầu Điều khác biệt là phương pháp, lý thuyết của Sassennhấn mạnh vào sự hình thành các động lực xuyên biên giới Theo Sassen, các thànhphố toàn cầu có chức năng như: 1 Điểm tập trung cao độ các yêu cầu trong tổ chứckinh tế thế giới; 2 Địa điểm quan trọng cho tài chính và các dịch vụ chuyên nghiệp;
3 Các trung tâm sáng tạo trong sản xuất của các ngành công nghiệp hàng đầu; 4 Thịtrường cho các sản phẩm và đổi mới trong các ngành công nghiệp đó Quan điểm thànhphố toàn cầu đã giải thích được những mối quan hệ lịch sử và đương đại giữa côngnghiệp hoá, đô thi hoá và toàn cầu hoá
Các tác giả Orum A and X Chen với The World of Cities Places in Comparative and Historical Perspective (Thế giới của các thành phố: Các địa điểm trong quan điểm so sánh và lịch sử) (Malden Ma: Blackwell, 2003) đã giới thiệu về
lý thuyết và thực nghiệm về xã hội học đô thị, cung cấp và giới thiệu ngắn gọn về xãhội học đô thị Cuốn sách lần lượt tập trung và làm rõ năm nội dung lớn gồm: 1.Thành phố và địa điểm 2 Lý thuyết xã hội và thành phố 3 Bất bình đẳng xã hội vàtạo ra không gian đô thị 4 Thay đổi địa điểm và liên tục: Thành phố trong bối cảnh
so sánh và toàn cầu 5 Từ một xã hội quan trọng đến một xã hội tái cấu trúc của cácthành phố Hai nhà nghiên cứu sử dụng lý thuyết để mô tả cấu trúc và tiến hoá củacác thành phố của Mỹ, đặc biệt là Chicago trong những năm 1920-1930, dựa trên giảđịnh về vai trò tương tác của biến động dân số, thị trường, cạnh tranh, công nghệ vàmôi trường
Cũng cùng quan điểm với các tác giả Orum A and X Chen, Soja, cuốn The urbanization of the world (Đô thị hoá thế giới), (In: R Burdett and D.Sudjic (eds),
The Endless City, Phaidon, London, 2007) của E and M Kanai, cho rằng toàn cầu
17
Trang 25hoá dẫn đến một tiến trình mới của đô thị công nghiệp và đưa ra cách tiếp cận mới
về vị trí phát triển kinh tế toàn cầu Xét tốc độ đô thị hoá trên thế giới từ khía cạnhdân số Lý thuyết đô thị hoá nội sinh cho rằng đô thị hoá đòi hỏi phải có hai điềukiện tiên quyết, có sản phẩm thặng dư cung cấp cho người dân trong các hoạt độngphi nông nghiệp Các tác giả nhận định tốc độ đô thị hoá tăng nhanh trong tương lai,
tỷ lệ dân số đô thị trên thế giới sẽ đạt 75% vào năm 2050, có hơn 10% so với năm1990
Nghiên cứu về đô thị hóa ở vùng ven Thành phố Hồ Chí Minh còn phải kể đến
công trình Saigon’s edge on the margins of Ho Chi Minh City (Cạnh Sài Gòn bên lề thành phố Hồ Chí Minh), (Publisher University of Minnesota Press, 2011) của Erik
Harms Từ quan điểm “Phần lớn dân số thế giới sinh sống ở rìa đô thị, một khu vựckhông hoàn toàn là nông thôn hay thành thị”, Erik Harms đã chọn Hóc Môn, một quậnnằm dọc theo một hành lang giao thông quan trọng ở ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh
để nghiên cứu Erik Harms khám phá cuộc sống ở Hóc Môn, đưa ra một viễn cảnh tiết
lộ về mức độ đô thị hóa nhanh chóng tác động đến những người sống ở ngã tư giữanông thôn và thành thị Không chỉ là một nghiên cứu điển hình về thay đổi đô thị, tácphẩm của Harms đã chỉ ra sự thay đổi của Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và hộinhập quốc tế Cuốn sách bố cục thành 6 vấn đề lớn (I Sự hăng hái trong xã hội; 1 Sựchuyển đổi của Bittersweet: Đô thị hóa ở rìa thành phố; 2 Quyền lực và loại trừ ở rìa:
Sự kết hợp của không gian nông thôn và thành thị; Phần II Không gian, thời gian và
mở rộng đô thị; 3 Định hướng tương lai
ở đất nước của trí nhớ: Các quan niệm xã hội về thời gian; 4 Đàm phán Thời gian
và không gian: Hộ gia đình, Lao động, Đất đai và Phong trào; Phần III Hiện thực hóa lýtưởng; 5 Đường đến thiên đường: Xây dựng đường cao tốc xuyên châu Á; 6 Vấn đềvăn minh đô thị ở rìa của Sài Gòn) để làm rõ những nội dung trên
Nghiên cứu trực tiếp về đô thị hóa ở Việt Nam khá điển hình và được công bố
gần đây nhất là công trình “Urbanization in Vietnam” (Đô thị hóa ở Việt Nam) của
Gisele Bousquet, (Routledge Published, January 3, 2018) Từ quan điểm “hầu hết cácnghiên cứu về đô thị hóa tập trung vào việc di chuyển của người dân nông thôn đến cácthành phố và tác động của nó, cả về các thành phố mà người dân đã di chuyển và cáccộng đồng nông thôn mà họ đã rời đi”, công trình đã xem xét tác động của quá trình đôthị hóa đến các cộng đồng nông thôn của sự mở rộng cơ sở vật chất của các thành phố
Từ kết quả nghiên cứu ban đầu tại một khu định cư, một xã nông thôn trong suốt haithập kỷ đã bị thay đổi bởi sự mở rộng đô thị của Hà Nội, tác giả đã làm rõ những gì xảy
18
Trang 26ra khi người dân nông thôn trở thành dân thành thị và các vấn đề khác như: khi nôngnghiệp bị bỏ rơi; mật độ dân số tăng; giá trị của đất đai; người dân phải kiếm sống trongthành phố; sự thay đổi trong cuộc sống gia đình bao gồm cả quan hệ giới tính, văn hóa.Nội dung cuốn sách làm rõ 6 vấn đề: 1 Tái cấu trúc không gian đô thị; 2 Quyền sửdụng đất, quyền sở hữu và phát triển đô thị; 3 Nuôi trồng ở rìa thành phố; 4 Kiếm sốngtrong thành phố; 5 Làng đô thị; 6 Quan hệ giới trong cảnh quan đô thị mới.
Nhìn chung trong những công trình nghiên cứu ở ngước ngoài trên đây, tuy nộidung không trực tiếp nghiên cứu về vấn đề đô thị hóa ở quận Tân Phú, Thành phố HồChí Minh, nhưng đó là những công trình nghiên cứu quan trọng, mang tính lý luận,cung cấp cho nghiên cứu sinh tham khảo để hiểu rõ thêm những lý thuyết về đô thị,phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu cũng như đưa ra một sốthực trạng về quá trình đô thị hóa ở một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam
1.2 Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết
1.2.1 Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố
Các công trình nghiên cứu về đô thị và đô thị hóa ở nước ngoài và Việt Namđược công bố giúp ích rất nhiều cho nghiên cứu sinh có thêm hiểu biết và nhữngkiến thức, lý thuyết về đô thị, đô thị hóa, về cách tiếp cận và phương pháp nghiêncứu về đô thị hóa trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay Những kết quả nghiên cứu
đó còn giúp cho nghiên cứu sinh định hướng nghiên cứu một số vấn đề về quá trình
đô thị hóa từ kinh nghiệm một số nước; đồng thời các công trình cung cấp chonghiên cứu sinh những tư liệu về dân số, nhà ở, hiện trạng về mức sống và lối sốngcủa cư dân đô thị, các số liệu và tỷ lệ về sự chênh lệch mức sống giữa người dân đôthị và người dân nông thôn; Các tư liệu, tài liệu về dân số nội và ngoại thành, vềhiện trạng kinh tế - văn hóa, xã hội của các địa phương ở khu vực ngoại thànhThành phố Hồ Chí Minh như: Thủ Đức, Quận 8, Quận Bình Thạnh, Quận Tân Bình,Quận Gò Vấp, huyện Bình Chánh
Đã cung cấp lượng kiến thức về các khía cạnh đa dạng của đời sống đô thị với nhiềucách tiếp cận, trào lưu, trường phái, quan điểm khác nhau, nhất là những kết quả nghiêncứu thực nghiệm Các phương pháp nghiên cứu về đô thị và đô thị hóa đã mở rộng ra cácchủ đề như: kinh tế học đô thị, xã hội học đô thị, văn hóa học đô thị Mặc dù chưa có mộtđịnh nghĩa chung nhất, nhưng các công trình nghiên cứu về đô thị và đô thị hoá đã làm rõđược về đô thị có các đặc điểm về tổ chức, chức năng và tương tác xã hội: Số dân tươngđối đông, mật độ dân số cao và không thuần nhất; Ít nhất có một bộ
19
Trang 27phận dân cư làm các công việc phi nông nghiệp và có những người làm công việctri thức; Đảm nhận những chức năng thị trường và ít nhất phải có một phần quyềnlực quản lý điều hành; Có những quan hệ xã hội công cộng và hình thức tương tácgiữa các cá nhân thông qua các chức năng công cộng; Sự “gắn kết xã hội” khôngphải dựa trên quan hệ gia đình trực hệ hay bộ lạc, mà có thể dựa trên luật lệ hợp lýhay truyền thống, như tôn giáo hay quan hệ thần phục nhà vua, nhà nước.
Các công trình nghiên cứu về đời sống xã hội văn hóa đô thị đã chứng minhđược đời sống xã hội văn hóa đô thị theo hai nhóm thành tố có quan hệ với nhau làcác thành tố không gian - vật chất do con người tạo ra: kiến trúc, quy hoạch, cảnhquan đô thị, kết cấu hạ tầng kỹ thuật, điều kiện tự nhiên (khí hậu, đất, thổ nhưỡng,cây xanh, sông hồ ) và các thành tố tổ chức - xã hội: sự sinh sống của cộng đồngdân cư trên lãnh thổ đô thị, nhất là việc con người sử dụng và có liên quan đếnkhông gian địa lý (trong sinh thái học nhân văn hay sinh thái học đô thị)
Trong các công trình nghiên cứu các tác giả Việt Nam đã khái quát khá rõràng các khía cạnh của đô thị hiện đại, đó là quy hoạch tổng thể, quản lý cơ sở hạtầng kỹ thuật - cơ sở hạ tầng xã hội, dân số, phát triển bền vững, văn hóa lối sống Các công trình đã đưa ra được những góc nhìn toàn cảnh về quá trình đô thị hóatrên thế giới, tại Việt Nam cũng như Thành phố Hồ Chí Minh Dựa trên những kếtquả nghiên cứu, các nhà hoạch định, quản lý đô thị có thể định hình và dự báo tốc độphát triển đô thị Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng trong giaiđoạn tiếp theo, từ đó đưa ra những chính sách quản lý đúng đắn Tuy nhiên, cáccông trình nghiên cứu và bài viết đã công bố do mục tiêu nghiên cứu của từng tácgiả và đối với từng vấn đề hay từng khía cạnh khác nhau nên chưa đi sâu được vàothực trạng đô thị hóa và những vấn đề nảy sinh trong quá trình đô thị hóa trên từngđịa bàn cụ thể và trên những phạm vi quận, huyện cụ thể mà thường là chỉ đánh giátrên mặt tổng thể, diện rộng của toàn thành phố hay khu vực
Riêng những nghiên cứu về quá trình đô thị hóa ở quận Tân Phú mới chỉđược đề cập chung trong các công trình nghiên cứu chung về quá trình đô thị hóa ởThành phố Hồ Chí Minh Trong các công trình đó, các tác giả đã đề cập đến vùngđất Tân Phú trong tổng thể của quận Tân Bình trước đây, mà chưa có nghiên cứunào đi sâu nghiên cứu toàn diện và có hệ thống riêng về quận Tân Phú
1.2.2 Những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết
Một là, phân tích điều kiện về tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của
quận Tân Phú trước và sau khi thành lập; Khái quát về chủ trương, chính
20
Trang 28sách của Đảng và sự vận dụng của Thành phố Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế, xãhội; trong đó cần làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình đô thị hóa ở quận TânPhú từ năm 2003 sau khi quận được thành lập.
Hai là, làm rõ quá trình đô thị hóa trên các nội dung chủ yếu là quy hoạch đô
thị và quản lý đô thị ở quận Tân Phú từ năm 2003 đến năm 2015 như: Quy hoạch
mở rộng không gian đô thị; Xây dựng cơ sở vật chất và hạ tầng đô thị; Kinh tế, đầu
tư tài chính, thu ngân sách; Dân cư đô thị; Tổ chức và hoạt động quản lý của chínhquyền; Công tác quản lý đất đai, nhà ở, sở hữu tài sản, cơ sở hạ tầng đô thị; Về cảnhquan, tài nguyên, môi trường đô thị; Công tác thông tin tuyên truyền; Giám sát quyhoạch và trật tự đô thị; Sự chuyển biến của lối sống dân cư đô thị và công tác quản
lý dân cư, văn hóa, giáo dục
Ba là, làm rõ những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của thành tựu và hạn
chế trong quá trình đô thị hóa của quận Tân Phú từ năm 2003 đến năm 2015
Bốn là, rút ra đặc điểm, nhận xét và một số kinh nghiệm trong quá trình đô thị
hóa của quận Tân Phú từ năm 2003 đến năm 2015
21
Trang 29Chư ng 2 QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA QUẬN TÂN PHÖ
TỪ NĂM 2003 ĐẾN NĂM 2010
2.1 Khái niệm đô thị, đô thị hóa và tiêu chí đánh giá đô thị hóa
2.1.1 Khái ni m đô thị, đô thị hóa
Khái niệm đô thị: Có nhiều khái niệm khác nhau về đô thị, theo những nhà quy
hoạch đô thị Mỹ, “đô thị là nơi tập trung dân cư với quy mô lớn tại một khu vực địa dư
cụ thể, trong đó người ta hỗ trợ nhau một cách thường xuyên và sòng phẳng thông quacác họat động kinh tế của khu vực đó… và là nơi có cơ hội để có được môi trường sống
đa dạng và nhiều kiểu sống khác nhau” Còn theo các nhà nghiên cứu Brazil thì: “Quy
mô dân số không được sử dụng để xác định các đô thị, đơn giản chỉ có thủ đô mới là đôthị Định nghĩa này chủ yếu là dựa trên chức năng chính trị của đô thị” [73, tr.25]
Ở Việt Nam, xuất phát từ lịch sử hình thành đô thị, các nhà nghiên cứu đã
đưa ra những quan niệm khác nhau về đô thị Từ điển Tiếng Việt định nghĩa đô thị là: “N
i dân cư đông đúc, là trung tâm thư ng nghiệp và có thể cả công nghiệp, được gọi là thành phố hoặc thị trấn” [122, tr.332] Kiến trúc sư Nguyễn Thế Bá cho rằng “Đô thị là
điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng
cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay tổng hợp, có vai trò thúc đẩy sự pháttriển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặcmột vùng trong tỉnh, trong huyện” [4, tr.5]
Khái niệm về đô thị hóa: Khái niệm đô thị hóa bao hàm nội dung rất rộng, chứa đựng nhiều hiện tượng và nhiều biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Từ
góc độ quy hoạch đô thị: Đô thị hóa là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ sở hạtầng, văn hóa, lối sống dân cư Trên quan điểm một vùng, đô thị hoá là một quátrình hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị
Đô thị hóa là quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị và làm nâng cao vai trò thành thị đối với sự phát triển của xã hội [117, tr.354] Đô thị hóa là hiện tượng dân cư tập trung ngày càng cao và dày đặc tại những địa điểm có
tính chất đô thị và sự phát triển không gian của thành phố Theo đó quá trình đô thịhóa về bản chất là sự thu hoạch được lối sống của đô thị, bởi trong quá trình hiện đạihóa, có sự di chuyển tập trung nhân khẩu nông nghiệp về thành thị, nhưng nếu lốisống của các cư dân ấy không trở thành lối sống đô thị, thì quá trình đô thị hóa cũng
có thể coi như chưa đi đến bản chất của vấn đề
Trang 30Như vậy, đô thị là nơi dân cư đông đúc, một vùng lãnh thổ đặc biệt nơi diễn
ra các hoạt động kinh tế thuộc lĩnh vực công nghiệp - dịch vụ, có hệ thống cơ sở vậtchất kỹ thuật ngày càng hiện đại, nơi tập trung đông dân cư hoạt động phi nôngnghiệp, là vị trí trung tâm về kinh tế - chính trị - văn hóa đồng thời có vai trò thúcđẩy sự phát triển của các vùng xung quanh, có những vấn đề đặc thù riêng mà vùng
nông thôn không có Đô thị hóa là quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào đô thị và làm nâng cao vai trò thành thị đối với sự phát triển của xã hội.
2.1.2 Tiêu chí đánh giá đô thị hóa
Các quốc gia trên thế giới dựa trên những tiêu chí và phương pháp khác nhau
để xác định tốc độ hay sự phát triển của một đô thị Theo thống kê, 105 quốc gia dựatrên các tiêu chí hành chính, thủ đô hoặc thị xã, các đô thị tự trị hoặc thuộc phạm viquản lý của các địa phương khác, 83 quốc gia sử dụng tiêu chí hành chính để phânbiệt đô thị và nông thôn, 100 quốc gia định nghĩa thành phố dựa trên số dân hoặcmật độ dân số với mức độ tập trung tối thiểu từ 200 đến 50.000 người, 57 quốc gia
sử dụng tiêu chí này là tiêu chí duy nhất, 25 quốc gia xác định đô thị chủ yếu dựavào đặc điểm kinh tế mặc dù không loại trừ các tiêu chí khác như tỉ lệ lực lượng laođộng làm việc trong các ngành phi nông nghiệp, 18 quốc gia tính đến sự sẵn có của
cơ sở hạ tầng đô thị trong định nghĩa của họ bao gồm sự hiện diện của các conđường nhựa, hệ thống điện cấp nước và thoát nước [79, tr.14]
Ở Việt Nam, đến năm 2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 42/2009/NĐ
- CP ngày 07- 5- 2009 về việc phân loại đô thị cũng như đưa ra chương trình phát triển
đô thị Theo Nghị định này, đô thị ở Việt Nam được phân thành 6 loại: Loại đặc biệt; Loại I,
II, III, IV, V được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận Theo đó: Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành
và các đô thị trực thuộc; Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các
quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là
thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành; Đô thị loại III là thành
phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị;
Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị; Đô thị loại V là
thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nôngthôn
Thông tư số 34/2009/TT-BXD, ngày 07-05-2009, Quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định 42/2009/NĐ-CP của Chính phủ về việc phân loại đô thị Những tiêu
chí quan trọng nhất gồm có: 1 Chức năng đô thị: Là trung tâm tổng hợp hoặc
trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc
Trang 31là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hộicủa cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định 2 Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểuphải đạt 4 nghìn người trở lên 3 Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặcđiểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xâydựng tập trung của thị trấn 4 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm
vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so vớitổng số lao động 5 Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xãhội và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật: a) Đối với khu vực nội thành, nội thị phải đượcđầu tư xây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị; b) Đối với khu vựcngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng hạ tầng và bảo đảm yêu cầubảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững 6 Kiến trúc, cảnh quan đô thị: việc xâydựng phát triển đô thị phải theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đôthị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sốngtinh thần của dân cư đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phùhợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên
[33, tr.12-13] (Xem thêm phụ lục 1).
Những tiêu chí trên đây là căn cứ để nghiên cứu sinh nghiên cứu và đánh giá
về quá trình đô thị hóa của quận Tân Phú ở trong nội dung của luận án
2.2 Khái quát về sự ra đời và những yếu tố tác động đến quá trình đô thị hóa quận Tân Phú
2.2.1 Sự thay đổi về địa giới hành chính, tên gọi của quận Tân Phú tr ớc khi tách khỏi quận Tân Bình và vi c thành lập quận Tân Phú
Sự thay đổi về địa giới hành chính, tên gọi của quận Tân Phú trước khi tách khỏi quận Tân Bình: Quận Tân Phú là một phần của quận Tân Bình trước đây Địa
danh Tân Bình đã xuất hiện ở Nam Bộ từ hơn 300 năm trước Tân Bình lúc đó đãtrải qua các cấp đơn vị hành chính như huyện, phủ, tỉnh, quận với địa giới hànhchính khác nhau qua các thời kỳ lịch sử Tên địa danh Tân Phú cũng mới được hìnhthành cách ngày nay hơn 50 năm, khi đó Tân Phú còn là một xã của quận Tân Bình
Huyện Tân Bình được hình thành rất sớm ngay từ khi nền hành chính được thiếtlập ở vùng đất Nam Bộ: Huyện Tân Bình - năm Mậu Dần (1698), Nguyễn Hữu Cảnhvào Nam kinh lý, thấy nơi đây đã có dân cư trên 40.000 hộ và đất đai đã khai mở hàngngàn dặm; ông lấy đất Nông Đại lập phủ Gia Định gồm huyện Phước Long trên đấtĐồng Nai và huyện Tân Bình trên đất Sài Gòn Huyện Tân Bình khi đó rất rộng, nằm từhữu ngạn sông Sài Gòn đến tả ngạn sông Vàm Cỏ, với diện tích khoảng 11.000 km2,chiếm trên 1/5 diện tích toàn Nam Bộ (63.058 km2)
Trang 32Năm 1808, huyện Tân Bình được nâng cấp lên thành phủ Tân Bình gồm 4huyện: Bình Dương, Tân Long, Thuận An, Phước Lộc nhưng diện tích vẫn giữnguyên Đến năm 1832, phủ Tân Bình cắt đất lập thêm phủ Tân Long nên diện tíchcòn khoảng 6.080 km2 Năm 1838, đặt thêm phủ Tây Ninh, nên diện tích phủ TânBình chỉ còn lại khoảng 1.280 km2 Năm 1841, dưới thời vua Thiệu Trị (1807-1847), phủ Tân Bình gồm 3 huyện: Bình Dương, Tân Long, Bình Long (mới lậpgồm đất Hóc Môn, Củ Chi), diện tích khoảng 1.280 km2 Năm 1859, liên quân Pháp
- Tây Ban Nha đánh chiếm thành Gia Định Năm 1862, triều đình Huế nhượng choPháp 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) làm thuộc địa.Pháp đổi lại cơ cấu hành chính của Nam Kỳ, theo đó phủ Tân Bình gồm 3 huyệnBình Dương, Tân Long và Phước Lộc, diện tích như cũ
Năm 1867, Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ (Vĩnh Long, An Giang, HàTiên) Sau đó, Pháp bỏ danh xưng phủ Tân Bình mà chia tỉnh Sài Gòn (trước gọi GiaĐịnh) làm 7 địa hạt tham biện gồm: hạt Sài Gòn (trên địa bàn phủ Tân Bình trước đó),hạt Chợ Lớn, hạt Phước Lộc, hạt Tân Hòa, hạt Tân An, hạt Tây Ninh, hạt Quang Hóa.Hạt Sài Gòn gồm 2 huyện Bình Dương và Bình Long Năm 1872, hạt Sài Gòn gồm 3huyện Bình Dương, Bình Long, Ngãi An (tức Thủ Đức, trước thuộc tỉnh Biên Hòa)
Đến năm 1900, vùng đất này sáp nhập về quận Gò Vấp thuộc tỉnh Gia Địnhgồm có 1 tổng tên là Dương Hòa Thượng gồm các xã: Chí Hòa, Phú Thọ Hòa, PhúNhuận, Tân Sơn Nhì, Tân Sơn Nhất (khi làm sân bay, địa danh Tân Sơn Nhất khôngcòn), Tân Thới Hòa, Bình Hưng Đông, Bình Hưng, Tân Trụ và Vinh Lộc [5, tr.16]
Đến năm 1940, tổng Dương Hòa Thượng có thay đổi địa danh và sáp nhậpmột số xã, Tổng Dương Hòa Thượng từ 9 xã còn 5 xã là Phú Nhuận, Bình HưngHòa, Phú Thọ Hòa, Tân Sơn Hòa, Tân Sơn Nhì [5, tr.16] Như vậy, địa danh TânBình không còn, địa phận Tân Bình xưa cũng bị cắt xén, sáp nhập cho đến năm
1944 Ngày 11-5-1944, chính quyền thuộc địa ra Nghị định thành lập tỉnh Tân Bìnhgồm địa bàn các huyện bao quanh Sài Gòn - Chợ Lớn với mục đích phát triển đô thịhóa, nhưng thực chất là để bảo vệ an ninh cho Sài Gòn - Chợ Lớn Tỉnh Tân Bìnhmới lập đặt tỉnh lỵ tại xã Phú Nhuận và gồm 3 khu vực:
- Khu vực Gia Định có các xã Thạnh Mỹ Tây, Bình Hòa, Phú Nhuận, Hanh Thông, Hanh Thông Tây, Phú Thọ Hòa, Tân Sơn Hòa, Tân Sơn Nhì, An Hội
- Khu vực Thủ Thiêm có xã An Khánh
- Khu vực Nhà Bè có các xã Tân Thuận Đông, Tân Quy Đông, Phú Mỹ Tây, Phước Long Đông, Phú Xuân Hội là một phần Long Đức Đông
Trang 33Đến tháng 3-1945, tỉnh Tân Bình giải thể, tổng Dương Hòa Thượng đượctách ra khỏi quận Gò Vấp và lập thành quận Tân Bình Trong thời kỳ kháng chiếnchống Pháp (1945 - 1954), tỉnh Tân Bình được gọi là quận Tân Bình.
Ngày 22-10-1956, chính quyền Sài Gòn ban hành Sắc lệnh “thay đổi địa giới vàtên đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn cùng các tỉnh Nam Việt” Theo đó, tỉnh Gia Định gồm
8 quận, trong đó có quận Tân Bình rộng 113,8 km2 với dân số là 418.781 người QuậnTân Bình có 7 xã: Bình Hưng Hòa, Phú Nhuận, Phú Thọ Hòa, Tân Phú, Tân Sơn Hòa,Tân Sơn Nhì, Vĩnh Lộc Từ năm 1963, đế quốc Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm cho
di dân một cách ồ ạt từ các nơi khác về, nên phải lập thêm một xã mới là xã Tân Phútrên cơ sở chia đôi xã Phú Thọ Hòa Đến trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng(1975), quận Tân Bình gồm 7 xã với 57 ấp [5, tr.17]
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (năm 1975), thành phố Sài Gòn vàtỉnh Gia Định sáp nhập Năm 1976, thành phố Sài Gòn - Gia Định đổi tên thànhThành phố Hồ Chí Minh Sau khi đổi tên, Thành phố Hồ Chí Minh có sự điều chỉnh
về địa giới một số quận, trong đó quận Tân Bình cắt 2 xã Bình Hưng Hòa và VĩnhLộc về huyện Bình Chánh, tách xã Phú Nhuận thành lập quận Phú Nhuận Quận TânBình (mới) có 26 phường, mang tên từ phường số 1 đến phường số 26 Ngày 27-8-
1988, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 136-HĐBT về việc phân vạch địa giớicác phường của quận Tân Bình, từ 26 phường sáp nhập lại còn 20 phường [5,tr.18] Địa bàn các phường thuộc quận Tân Phú hiện nay đã tồn tại và phát triển từnăm 1988 cho đến năm 2003, thời điểm trước khi tách quận Tân Bình thành haiquận Tân Bình và quận Tân Phú
Thành lập quận Tân Phú: Do địa bàn quận Tân Bình (cũ) có diện tích tự nhiên rộng (3.845,2 ha), dân số tăng và chủ yếu là dân số tăng cơ học, dân cư ngày
càng đông đúc (dần một triệu dân), trật tự trị an diễn biến theo chiều hướng ngàycàng phức tạp, trình độ quản lý nhà nước chưa ngang tầm… Ban Thường vụ Thành
ủy Thành phố Hồ Chí Minh chủ trương kiến nghị Trung ương Đảng, Chính phủ chophép tách một phần quận Tân Bình để lập mới quận Tân Phú, tạo điều kiện thuận lợi
để quận Tân Bình và quận Tân Phú phát triển đúng tiềm năng, thế mạnh của mình,nhằm góp phần để Thành phố Hồ Chí Minh phát huy lợi thế, tiềm năng tương xứngvới vị trí và tầm vóc của thành phố đối với khu vực và cả nước
Năm 2003, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành điều chỉnh lại địa giới hànhchính, theo đó một số quận được chia tách để thực hiện việc phát triển đô thị thuậnlợi hơn như quận Bình Tân tách ra từ huyện Bình Chánh, quận Tân Phú tách ra từquận Tân Bình
Trang 34Quận Tân Phú thành lập ngày 02-12-2003 theo Nghị định số
130/2003/NĐ-CP ngày 05-11-2003 của Chính phủ về việc thành lập các quận Bình Tân, Tân Phú
và các phường trực thuộc Tại thời điểm thành lập, quận Tân Phú có 1.606,98 hadiện tích đất tự nhiên với 310.876 nhân khẩu Quận Tân Phú bao gồm toàn bộ diệntích đất tự nhiên và dân số của các Phường 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20 của quận TânBình [5, tr.18]
Địa giới hành chính quận Tân Phú phía đông giáp quận Tân Bình; phía tâygiáp quận Bình Tân; phía nam giáp các Quận 6, Quận 11; phía bắc giáp Quận 12.Quận Tân Phú phân chia thành 11 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các phường:Tân Sơn Nhì, Tây Thạnh, Sơn Kỳ, Tân Quý, Tân Thành, Phú Thọ Hòa, Phú Thạnh,Phú Trung, Hòa Thạnh, Hiệp Tân, Tân Thới Hòa Ủy ban nhân dân quận Tân Phú có
13 cơ quan chuyên môn bao gồm: Văn phòng Ủy ban nhân dân quận, Phòng Nội vụ,Phòng Tư pháp, Thanh tra, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng Kinh tế, Phòng Giáodục và Đào tạo, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Văn hóa vàThông tin, Phòng Y tế, Phòng Quản lý đô thị, Phòng Tài nguyên và Môi trường,Thanh tra xây dựng và 09 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc như: Ban Quản lýđầu tư xây dựng công trình, Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng, Văn phòng đăng
ký quyền sử dụng đất, Đội quản lý nhà, Trung tâm dạy nghề, Bệnh viện quận, Trungtâm Y tế dự phòng, Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, Trung tâm Vănhóa - Thể dục thể thao
Sau khi thành lập, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân quận Tân Phú đã khắcphục khó khăn, vượt qua mọi thử thách, xây dựng hệ thống chính trị từ phường đếnquận ngày càng hoàn thiện và lớn mạnh về mọi mặt Nhiều vấn đề về an sinh xã hội
đã được Đảng bộ, chính quyền quận giải quyết kịp thời, có trách nhiệm, cùng với sựphối hợp chặt chẽ của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể chính trị - xãhội và sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân Quận Tân Phú đã thực hiện bước độtphá ban đầu là vận động nhân dân hiến đất làm đường, di dời phần mộ để phục vụxây dựng cơ sở hạ tầng,… những phong trào này có sức lan tỏa mạnh mẽ, cơ sở hạtầng kỹ thuật bước đầu có tác dụng thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển
2.2.2 iều ki n tự nhiên, kinh tế và văn hoá, xã hội của quận Tân Phú tr ớc khi ra đời
Về điều kiện tự nhiên
Địa hình quận Tân Phú ngày nay nhìn chung tương đối bằng phẳng, có độ caotrung bình nền từ 2,78m đến 4,07m (theo hệ độ cao Hòn Dấu) Hướng dốc chính củaquận Tân Phú là từ phía Đông - Nam sang Tây - Bắc Đặc trưng về thổ nhưỡng của
Trang 35quận Tân Phú là đất nền được cấu tạo từ phù sa cổ, thành phần gồm cát pha sét, sétchứa laterite Sức chịu nén của nền đất từ 0,7 đến 1,2kg/m2.
Diện tích đất của toàn quận Tân Phú khi thành lập là 1.606,98 ha (2003),được sử dụng cho các mục đích: Nhà ở; Công trình đô thị cấp cơ sở; Đất cây xanh
sử dụng công cộng; Đất giao thông; Đất thể dục thể thao; Đất công nghiệp; Đất côngtrình tôn giáo, tín ngưỡng; Đất nghĩa trang; Đất quốc phòng; Đất sân bãi; Đất sôngrạch, ao hồ và đất trống
Tân Phú là một quận nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh, nằm trong vùng khíhậu chung là nhiệt đới gió mùa Một năm có hai mùa chính là mùa mưa và mùa khô,mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm; mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đếntháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình của quận dao động từ 280C đến 300C Tháng cónhiệt độ thấp nhất là tháng 12 (260C), tháng có nhiệt độ cao nhất (360C) Lượng mưatrung bình hàng năm là 1900mm Hướng gió thay đổi chiều nhiều trong một năm,hướng gió chủ yếu là Tây Nam (60%) và Đông Nam (30-40%), tốc độ trung bình củagió 2-3m/s Độ ẩm không khí thường biến thiên theo mùa, tỷ lệ nghịch với chế độ nhiệt
Độ ẩm cao nhất vào tháng 9 và tháng 10 là 87%, độ ẩm thấp nhất vào tháng 3 là 20%,
độ ẩm cao trung bình là 82%, độ ẩm thấp trung bình là 30% Độ bốc hơi, lượng bốc hơitrong năm khá lớn, tổng lượng 1.399 mm/năm, trong các tháng nắng là 5-6mm/ngày,các tháng mưa 2-3mm/ngày Mùa khô mực nước ngầm xuống rất thấp
Mực nước ngầm cách mặt đất từ 2m đến 5m có khả năng khai thác lớn đểphục vụ đời sống cho nhân dân Hệ thống kênh rạch của quận phong phú, góp phầnlưu thông nước chính của quận là kênh Tham Lương, kênh Tân Hóa, kênh NướcĐen Diện tích đất sông rạch, ao hồ chiếm khoảng 14,62 ha Trong đó, một phầnphường Phú Thạnh, phần lớn phường Hòa Thạnh, toàn bộ phường Phú Trung, HiệpTân và phường Tân Thới Hòa chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi chế độ bán nhật triềukhông đều trên sông Sài Gòn và sông Nhà Bè Trên các địa bàn này, mỗi ngày có hailần triều lên và hai lần triều xuống
Khu vực này là một trong những vùng trũng, bị nhiễm phèn, mặn, thườngngập nước lúc triều cường, nên sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, muốn cónăng suất và hiệu quả cao phải đầu tư lớn Vì thế, tiến hành xây dựng đô thị với địnhhướng kinh tế theo hướng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ
là yêu cầu bức thiết
Đồng thời với địa hình tương đối bằng phẳng, nền đất tốt là cơ sở quan trọng choviệc xây dựng đô thị; diện tích đất dành cho xây dựng các công trình cở sở, nhà ở các côngtrình công cộng, đất có thể cải tạo lớn là tiềm năng lớn để xây dựng những khu đô
Trang 36thị mới, khu công nghiệp và mở rộng hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng dịch vụ thương mại Khí hậu mát mẻ cùng hệ thống thủy văn là điều kiện thuận lợi để TânPhú hình thành nên các khu công viên cây xanh ven kênh, tạo điểm nhấn, cảnh quan
-và nơi vui chơi, giải trí của nhân dân Đây là những điều kiện tương đối thuận lợi đểquận Tân Phú phát triển kinh tế và đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa
Kinh tế, văn hóa, xã hội
Trước năm 2003, vùng đất thuộc Tân Phú hiện nay là vùng đất nông nghiệpnhưng đang phát triển theo hướng đô thị hóa, có thế mạnh về vị trí đất đai thuận lợi,lực lượng lao động dồi dào, có điều kiện thuận lợi cho việc cải thiện hạ tầng giaothông, kỹ thuật, trường học… tạo môi trường cảnh quan thông thoáng, thu hút đầu
tư, phát triển kinh tế, xã hội Cơ cấu kinh tế của quận đang trong thời kỳ chuyểndịch khá mạnh, theo hướng dịch vụ, thương mại, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp
Thế mạnh kinh tế của vùng đất thuộc Tân Phú là sản xuất công nghiệp - tiểuthủ công nghiệp, đặc biệt trên địa bàn có 1 khu công nghiệp đã hình thành từ rất sớmvới hơn 133 doanh nghiệp đang hoạt động với hơn 11.000 công nhân, lao động đangtham gia lao động sản xuất Tính đến năm 2003, trên địa bàn quận Tân Phú đã có2.655 cơ sở sản xuất công nghiệp Giá trị sản xuất công nghiệp toàn quận thực hiệntrong năm 2003 là 2.293 tỷ đồng, trong đó khu vực ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọnghơn 97% Về đầu tư, các doanh nghiệp đã đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị,máy móc hiện đại với tổng trị giá 421 tỷ đồng, tập trung vào các ngành dệt may, sảnxuất các sản phẩm từ cao su, nhựa [155, tr.1]
Tuy nhiên, trước năm 2003, kinh tế khu vực Tân Phú hiện nay mặc dù có pháttriển nhưng chưa vững chắc, do các doanh nghiệp, hộ cá thể chỉ đầu tư chiều rộng, các
cơ sở đăng ký mới nhiều nhưng đầu tư chiều sâu ít, thương mại - dịch vụ chưa pháttriển do hạ tầng yếu kém Trên địa bàn lúc đó vẫn còn những doanh nghiệp, cơ sở sảnxuất chưa đảm bảo theo yêu cầu do các nguyên nhân khách quan như: tiến độ đầu tư hạtầng ở các khu công nghiệp chậm, việc hợp thức hóa cấp giấy chứng nhận quyền sở hữunhà và quyền sử dụng đất cho các doanh nghiệp, hộ sản xuất cá thể kéo dài dẫn đến việcchuyển nhượng di dời, tạo vốn đầu tư nơi khác chậm,
Giá trị công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chỉ ở mức trung bình và không cóngành nghề hoặc sản phẩm chủ lực Thương mại - dịch vụ (ngoài các doanh nghiệp
do Trung ương và Thành phố quản lý như Metro, Reverside, Phú Nhuận, Parkland,kho chân cầu Sài Gòn, Toyota đông Sài Đòn, Công ty APSC ) vẫn còn mang hìnhdáng của một nền sản xuất nhỏ tại nông thôn với các chợ thôn quê, chưa hình thànhmạng lưới dịch vụ của một đô thị hiện đại Trước khi tách quận Tân Phú vẫn
Trang 37duy trì hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, thương mại - dịch vụ Tuy nhiên, nhưtrên đã nói, hoạt động sản xuất nông nghiệp của quận rất khó khăn do là vùng trũng,
hệ thống thủy lợi không đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu, năng suất kém và phải đầu
tư lớn Trên địa bàn đã có những khu chuyên sản xuất hàng thủ công nghiệp, cónhiều khu công nghiệp, tuy nhiên chưa khai thác hết tiềm năng về quỹ đất cũng nhưlao động của vùng Hơn thế, những khu công nghiệp ở đây do không quản lý tốt nênảnh hưởng lớn đến môi trường
Hạ tầng kỹ thuật rất nghèo nàn, chưa hoàn thiện, đời sống nhân dân còn nhiềukhó khăn, tỷ lệ hộ nghèo khá đông; cơ sở hạ tầng thấp kém; công nghiệp - tiểu thủcông nghiệp phát triển tự phát; hệ thống trường học, trạm y tế, trung tâm văn hóa,khu vui chơi cho thanh thiếu niên còn nhiều thiếu thốn Trong khi đó, đội ngũ cán bộquận, phường rất non trẻ Đến trước năm 2003, khi còn là địa bàn quận Tân Bình, ởnhiều nơi vẫn còn khá nhiều đường đất (chiếm 58%), đá sỏi và thường xuyên lầylội Hệ thống đường trục chính xuống cấp trầm trọng, mặt đường nhỏ hẹp Hệ thốnggiao thông thường xuyên bị tắc nghẽn trong khi nhu cầu về đường, cầu nối các khuvực để tăng cường hoạt động thương mại, dịch vụ rất bức thiết Hầu hết các tuyếnđường huyết mạch trên địa bàn quận do thành phố quản lý chưa được thi công nângcấp, mở rộng; hai phường Tây Thạnh và Sơn Kỳ hầu như chưa có đường nhựa và
hệ thống cống thoát nước Bên cạnh đó, các phường Phú Thạnh, Phú Trung, PhúThọ Hòa, Tân Thới Hòa, Hiệp Tân, Tân Sơn Nhì có cống thoát nước, đường nhựakhoảng 40-50%, 2 phường Tân Quý và Phú Thạnh có trên 50% đường nhựa, cốngthoát nước, duy chỉ có phường Tân Thành có khoảng 80% đường nhựa, cống thoátnước [155, tr.2] Hệ thống cấp điện, cấp nước và thoát nước chưa đáp ứng đượcnhu cầu sử dụng trong nhân dân cũng như trong sản xuất Hạ tầng xã hội nhưtrường học, bệnh viện đa khoa, trạm y tế, chợ, nhà văn hóa, trung tâm thể dục thểthao.v.v chưa đáp ứng được nhu cầu của quận
Trước năm 2003, dân cư, lao động sinh sống tại khu vực quận Tân Phú hiện nay
đa số là người Kinh, ngoài ra là một số ít người Hoa và người Khmer (Người Hoachiếm khoảng hơn 8,5% dân số, sống tập trung ở các phường Phú Thạnh, Phú Trung,Hòa Thạnh, Hiệp Tân và Tân Thới Hòa) Tại thời điểm chia tách quận, dân cư ở TânPhú chủ yếu là dân nhập cư, lực lượng lao động phần đông là trẻ, chịu khó nhưng thiếuđào tạo, không có chuyên môn và chủ yếu là lao động thời vụ Đây là một đặc điểm rấtlớn về tỷ lệ về cơ cấu dân cư ở Tân Phú trong quá trình đô thị hóa
Lao động tại chỗ chủ yếu là lao động phổ thông, một số ít vẫn tiếp tục nghềnông theo kiểu tiểu nông hoặc các ngành nghề lao động giản đơn, thủ công Một số
Trang 38cư dân ở các khu đô thị mới như Phú Mỹ Hưng, An Khánh có trình độ cao thì làmviệc ở quận khác, sự đóng góp để xây dựng quận nhà rất ít Do vậy, trong quy hoạchphát triển quận phải dựa vào lực lượng lao động và chất xám chủ yếu là từ bênngoài quận Mức sống của nhân dân và mặt bằng dân trí còn khá thấp, tình trạng đóinghèo, nhà ở tạm bợ, tệ nạn xã hội cũng là vấn đề quận Tân Phú phải giải quyếttrong quá trình đô thị hóa.
Về văn hóa, xã hội, cơ sở vật chất ngành giáo dục trên địa bàn quận Tân Phú
hiện nay còn đang trong giai đoạn được đầu tư, do đó đã ảnh hưởng đến các côngtác phổ cập giáo dục và các hoạt động chuyên môn khác Thực trạng các trườngmầm non, tiểu học bị quá tải nên dẫn đến tình trạng các nhóm trẻ gia đình hình thành
tự phát theo nhu cầu của xã hội
Một thực tế khó khăn đối với địa bàn này trước khi thành lập quận Tân Phútrước năm 2003 là số cán bộ - công chức tốt nghiệp đại học và trên đại học ít, sốđược đào tạo chuyên sâu về chuyên môn nghiệp vụ và bố trí đúng ngành nghề còn íthơn, sự am hiểu thực tiễn, đặc biệt là những vấn đề phát sinh của một đô thị mới cònnhiều hạn chế
Công tác xã hội ở địa bàn cũng gặp không ít khó khăn Trên toàn địa bàn có
942 gia đình liệt sĩ, 468 thương binh, 34 bệnh binh, 12 mẹ Việt Nam anh hùng,2.027 người hoạt động kháng chiến, 176 gia đình có công với cách mạng Năm
2003, khảo sát toàn quận có 318 hộ thuộc diện XĐGN, trong đó có 112 hộ trongdiện và 206 hộ bảo lưu; có 2 phường không còn hộ nghèo theo tiêu chí 3 triệuđồng/người/năm (Tân Thành, Tân Sơn Nhì) [5, tr.76] Đây là một vấn đề rất lớn củaquận trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội
Đầu thế kỷ XXI, Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được những thành tựu rấtlớn về phát triển kinh tế, xã hội Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnhCNH, HĐH và hội nhập quốc tế, nhu cầu phát triển cả về quy mô và tốc độ củaThành phố Hồ Chí Minh rất lớn, cần phải quy hoạch lại các quận huyện trên địa bànthành phố Mặt khác, bản thân các quận cũng đứng trước yêu cầu phát triển và mởrộng Trong bối cảnh đó, sự ra đời của quận Tân Phú là một tất yếu
2.2.3 Chủ tr ơng, chính sách về đô thị hóa của ảng, Chính phủ, của Thành phố Hồ Chí Minh và quận Tân Phú
Từ khi tiến hành Đổi mới toàn diện đất nước (năm 1986), Đảng đã đề ranhiều chủ trương để phát triển đất nước và Chính phủ cũng ban hành nhiều chínhsách để khuyến khích phân bố tăng trưởng kinh tế và phát triển đô thị đồng đều hơn
Trang 39Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (năm 1996), Đảng đã đề
ra mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2020, Việt Nam sẽ trở thành “Một nước công nghiệp có c sở vật chất - kỹ thuật hiện đại” Tại Đại hội IX của Đảng (năm 2001), mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2020 là: “Đến năm 2020, nước ta c bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Đại hội X của Đảng (năm 2006), một lần nữa xác định: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh
tế tri thức tạo nền tảng để đưa nước ta c bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” [29, tr.186] Đến Đại hội XI (năm 2011), Đảng tiếp tục khẳng định: “ tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta c bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [30, tr.33].
Quán triệt và thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ cũng đề ra những chínhsách để thể hiện quyết tâm đưa đất nước tiến lên theo con đường công nghiệp hóa, hiện
đại hóa Chính phủ đã ban hành Quyết định số 10 năm 1998 về Chiến lược phát triển và
xây dựng hệ thống đô thị đến năm 2020, với định hướng phát triển các đô thị vừa vànhỏ, đồng thời kiềm chế sự tăng trưởng của các đô thị lớn Chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội giai đoạn 2011 - 2020 nhận định rằng, đô thị hóa là điều cần thiết để thúc đẩythực hiện các mục tiêu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Phó Thủ tướng NguyễnSinh Hùng, phát biểu tại Hội nghị Đô thị toàn quốc, ngày 7-11-2009 nhấn mạnh: “Việt Nam
sẽ chỉ có một cơ hội duy nhất để đô thị hóa đi đúng hướng Nếu thất bại trong đô thị hóa,chúng ta cũng sẽ thất bại trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa”
Từ năm 2001, Nhà nước Chuyển hướng sang các chính sách phát triển đô thị vì người nghèo Theo đó, Nghị định 72/NĐ-CP, ngày 05-10-2001 về việc phân loại đô thị
và cấp quản lý đô thị và Nghị định 42/NĐ-CP, ngày 7-5-2009 về việc phân loại đô thị
để phân biệt rõ vai trò của các đô thị Hệ thống phân loại nói trên có tác động đến cácchức năng quản lý hành chính, thu thuế và phân bổ ngân sách nhà nước Một hệ quảkhông mong muốn của hệ thống này là xu hướng các đô thị khai thác những lỗ hổngtrong hệ thống phân loại để nâng hạng đô thị Những động thái này chủ yếu mang tínhhành chính và không phải lúc nào cũng dựa trên kết quả hoạt động kinh tế thực sự củathành phố Quyết định số 10 (năm 1998) của Chính phủ nhằm ban hành Chiến lượcphát triển và hệ thống đô thị đến năm 2020 đã kêu gọi phát triển các đô thị vừa và nhỏ
và kiềm chế sự tăng trưởng của các thành phố lớn Tuy nhiên, năm 2009, Quyết định số
445 của chính phủ nhằm cập nhật nội dung của Quyết định năm 1998 và mở rộng tầmnhìn đến năm 2050 lại chấp nhận khả năng phát triển của các siêu đô thị trên 10 triệudân Quan điểm hiện nay là phát triển một hệ thống đô thị, mà trong đó mỗi một
đô thị đều có vai trò trong nền kinh tế đô thị của cả nước Tuy nhiên, những quyết
Trang 40định nói trên không có tính bắt buộc và chỉ được coi như những tuyên bố địnhhướng chiến lược Chiến lược Phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 - 2020 thừa
nhận đô thị hóa là điều cần thiết để thúc đẩy các mục tiêu CNH, HĐH đất nước.
Năm 2003, Nhà nước đã sửa đổi và ban hành Luật Đất đai sửa đổi để tiếp tục
cấp quyền sử dụng đất, cũng như việc góp vốn cho hoạt động kinh doanh và chủ sởhữu được đền bù khi nhà nước thu hồi đất cho các dự án phát triển Khung giá đất(thường thấp hơn giá thị trường khoảng 30 - 70%) được quy định nhằm mục đíchthúc đẩy sự phát triển kinh tế Điều này tạo thu hút đầu tư bất động sản, tuy nhiên đócũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đầu cơ đất đai, tạo mâu thuẫn về đất đai vàlàm cho giá đất tăng khi đến tay người sử dụng trực tiếp
Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, để phù hợp với thời kỳ phát triển mới, chủđộng hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIIInăm 2005 đã chỉ rõ “Thành phố Hồ Chí Minh cần xây dựng chính quyền đô thị”, Nghịquyết 20 - BCT năm 2002: Đến năm 2010, để trở thành trung tâm công nghiệp dịch vụ,Thành phố Hồ Chí Minh cần xây dựng thành một thành phố văn minh hiện đại, phát huyvai trò của thành phố với cả nước, với khu vực và từng bước trở thành trung tâm côngnghiệp dịch vụ của khu vực Đông Nam Á xứng đáng là thành phố mang tên Bác Trongbuổi làm việc với lãnh đạo thành phố ngày 25-09-2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
đã nhấn mạnh: “Tập trung rà soát chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực phục vụ ngành côngnghiệp công nghệ cao và ngành dịch vụ; trước mắt cần tiến hành điều chỉnh bổ sungquy hoạch thành phố gắn kết với vùng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng, trong đó chú trọng quy hoạch hạ tầng đô thị…” [129]
Trong mục tiêu đô thị hóa chung của Thành phố Hồ Chí Minh, các thế hệlãnh đạo của Thành phố luôn tạo điều kiện để các quận nội thành xây dựng quậntheo hướng đô thị hóa Ngày 21-9-2005, tại Đại hội Đảng bộ quận Tân Phú lần thứ
IX (2005-2010), ông Lê Hoàng Quân phát biểu chỉ đạo, gợi ý thêm những vấn đềtrọng tâm để tập trung xây dựng quận Tân Phú trong sự nghiệp CNH, HĐH Theo
đó, quận Tân Phú “cần phải có các giải pháp thiết thực để tập trung phát triển kinh tế
- xã hội bền vững, cải thiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần nhân dân địaphương”, “thúc đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của thành phố làdịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp”, “Phát triển và quản lý đô thị cần làm rõ việclàm, cách làm nào để quận sớm hoàn thành công tác quy hoạch tổng thể, quy hoạchchi tiết, quy hoạch ngành, qua đó làm cơ sở pháp lý để thực hiện chặt chẽ công tácquản lý đô thị theo đúng quy hoạch” [5, tr.167]