Để đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ kinh doanh trong giai đoạnhiện nay công ty đã hoàn thành hệ thống quản lí nói chung và hệ thống kế toánnói riêng không ngừng được cải tiến, nâng cao.Qua thời
Trang 1PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN NVL TẠI CÔNG TY PHÁT TRIỂN KINH TẾ KỸ THUẬT VIỆT NAM(DETESCO VIỆT NAM)
I - Đánh giá một cách tổng quát công tác tổ chức hạch toán NVL tại công ty phát triển kinh tế kỹ thuật Việt Nam.
Đứng trước những khó khăn trong công cuộc cạnh tranh của nền kinh tếthị trường đặt ra cho mỗi DN mục tiêu không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh, sử dụng vốn một cách hợp lí luôn là mục tiêu hàng đầu cho banlãnh đạo và nhân viên công ty Từ một DN bước đầu hoạt động sản xuất kinhdoanh trong thời kỳ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường công ty ngay từnhững ngày đầu thành lập đến nay đã trải qua những bước phát triển liên tục thayđổi cả về quy mô cũng như cung cách quản lí Trên thị trường, công ty đã kịpthời nắm bắt, mạnh dạn chuyển hướng kinh doanh, tự khẳng định mình, luônđứng vững trước “cơn lốc” thị trường, cơ chế Sự tồn tại, phát triển của công tychính là sự luôn coi trọng đến việc duy trì, báo đảm việc làm và thu nhập ổn địnhcũng như nâng cao mức sống cho cán bộ công nhân viên công ty Công ty hoạtđộng một cách độc lập, tự chủ không dựa vào hay ỷ lại mặc dù công ty cũng cóvai trò như một DN nhà nước với nhiều ưu đaĩ không như bao DN khác đữngtrước sự khó khăn của cơ chế chuyển đổi đều lâm vào tình trạng phải bù lỗ haygiải thể Công ty đã tự mình vượt lên khó khăn táo bạo và tự xem xét đánh giánăng lực của mình mà vươn lên trong sự cạnh tranh gay gắt của thị trường Chođến nay công ty đã trang bị cho mình cơ ngơi đủ phục vụ cho hoạt động sản xuấtkinh doanh, đặc biệt trong hoạt động sản xuất lắp ráp xe gắn máy công ty đãtrang bị cho mình một dây chuyền thiết bị kỹ thuật hiện đại phục vụ cho hoạtđộng sản xuất xe gắn máy các loại Công ty không ngừng đổi mới đầu tư cảchiều dọc, chiều sâu nhắm phát triển quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh.trong năm 2000-2001 công ty đã mạnh dạn loại bỏ những ngành nghề kinhdoanh đem lại hiệu quả kinh tế thấp mà tập trung nguồn lực cải tiến, đầu tư vàohoạt động lắp ráp xe gắn máy Đến năm 2001 công ty cố gắng đưa sản lượng xexuất xưởng lên cao hơn, tiến hành đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất khung
Trang 2xe gắn máy nhằm tăng tỷ lệ nội địa hoá xe gắn máy trong nước Công ty bêncạnh đó cũng có đội ngũ nhân viên năng động, có trình độ, kinh nghiệm , nhiệttình với công việc Để đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ kinh doanh trong giai đoạnhiện nay công ty đã hoàn thành hệ thống quản lí nói chung và hệ thống kế toánnói riêng không ngừng được cải tiến, nâng cao.
Qua thời gian thực tập tại công ty và dựa trên những nền tảng kiến thức
cơ bản đã được trang bị tại trường đại học về hạch toán kế toán NVL tôi xinđược phép đưa ra một vài nhận xét khái quát trong công tác hạchtoán kế toán củacông ty phát triển kinh tế kỹ thuật Việt Nam
1 Một số đánh giá khái quát về công tác kế toán ở công ty
1.1 Điểm nổi bật trong công tác kế toán
Với điều kiện, cơ chế quản lí mới tương ứng với mô hình quản lí và đặcđiểm kinh doanh thì hệ thống kế toán công ty đưọc tổ chức tương đối gọn nhẹ vàthống nhất Trong hệ thống này các phần hành công việc đều được sáp xếp mộtcách có trật tự mang tính chất chỉ đạo trực tiếp từ trên xuống dưới công ty hoạtđộng sản xuất kinh doanh trong nhiều lĩnh vực lại phân tán với nhiều chi nhánh,đơn vị trực thuộc công ty đã chọn hình thức tổ chức bộ máy kế toán vừa tậptrung lại vừa phân tán hết sức phù hợp Hình thức này tạo điều kiện cho kế toánthực hiện chức năng của mình một cách thuận lợi đó là cung cấp thông tin choquản lí từ việc kiểm tra, giám sát hoạt động ở các bộ phận chi nhánh, các đơn vịtrực thuộc cũng như toàn bộ công ty cách tổ chức này cũng làm hạn chế bớtnhững khó nhăn trong công tác phan công lao động, chuyên môn hoá, nâng caonghiệp vụ Theo hình thức tổ chức bộ máy kế toán này văn phòng kế toán công
ty sẽ trực tiếp hạch toán mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh dựa trên các hoá đơn ,chứng từ, hợp đồng cùng các hạch toán ban đầu mà các chi nhánh không có tổ
kế toán gửi về đầy đủ Những chi nhánh nào mà thực hiện hạch toán đầy đủ thìhàng tháng phải gửi sổ, báo cáo về công ty Từ các chứng từ hạchtoán, các sổ,báo cáo do các chi nhánh gửi về kế toán công ty sẽ tiến hành tổng hợp, lập báocáo kế toán nhanh chóng, kịp thời hơn đảm bảo cung cấp thông tin một cách đầy
đủ chính xác cho công tác quản lí toàn công ty
Trang 3Trong công tác kế toán tại văn phòng công ty các phần hành công việc
kế toán được phân công một cách tương đối rõ ràng đến từng khâu và cho từngnhân viên kế toán Sự phân công này làm cho bộ máy hoạt động một cách nhịpnhàng, thống nhất với sự phối hợp chặt chẽ giữa các khâu để đảm bảo tính đồng
bộ và thống nhất trong hệ thống về phạm vi, phương pháp tính toán, ghi chép,đối chiếu số liệu Từ đó tạo điều kiện cho công tác kiểm tra đối chiếu thuận tiệnhơn, kịp thời có thể phát hiện ra được những sai sót từ nhỏ nhất để sữa chữa,chỉnh lí cho phù hợp Việc này đảm bảo cung cấp thông tin một cách trung thực
có độ chính xác cao cho ban lãnh đạo, các ngành chức năng liên quan, các tổchức đối tượn có nhu cầu thông tin về công ty để đánh giá được hiệu quả kinhdoanh trong kỳ Các thông tin này đồng thời cũng giúp công ty đưa ra các kếhoạch , mục tiêu xây dựng những kế hoạch kinh doanh phù hợp với quy mô,trình độ quản lí cũng như đối với nhu cầu thị trường
Trong công tác lập chứng từ và luân chuyển chứng từ công ty đã thựchiện đầy đủ quy định về sử dụng mọi hoá đơn chứng từ theo đúng mẫu quy địnhcủa bộ tài chính ban hành tất cả mọi tác dộng qua lại của các hoạt động kinh tếlàm nảy sinh các nghiệp vụ kinh tế đều được phản ánh trên các hoá đơn, chứng
từ một cách phù hợp, chính xác về các chỉ tiêu của một chứng từ thông thường
về số lượng, nguyên tắc ghi chép Chứng từ được thực hiện tập hợp, lưu trữ theođúng nguyên tắc trong quản lí chứng từ Chúng ta biết rằng, chứng từ sinh ra bởicác nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong các hình thức kế toán Chứng từ được coi
là cơ sở ban đầu cho mọi việc hạch toán do đó các chứng từ đều được đánh sốthứ tự, thời gian và được kiểm tra một cách thường xuyên về nội dung nghiệp vụkinh tế phát sinh Các nội dung, nghiệp vụ kinh tế thể hiện trên các chứng từgồm cả việc kiểm tra chừng từ gốc kèm theo đó là kiểm tra về con số, chỉ tiêu,các chữ ký của các đối tượng có kiên quan Việc kiểm tra này xác nhận chứng từ
sẽ giúp cho công tác tổng hợp, phân loại thông tin kinh tế để vào sổ tổng hợp,
sổ chi tiết tuỳ theo hình thức sổ kế toán áp dụng Việc hợp lí hoá các thủ tục lập
và xử lí chứng từ một cách thường xuyên cũng rất được coi trọng Công việcnày bao gồm các công việc cóliên quan như giao các thủ tụét duyệt, ký chứng từ
Trang 4chặt chẽ tới mức tối đa, đòng thời thực hiện khâu luân chuyển chứng từ theođúng quy định và phù hợp với nhu cầu nghiệp vụ quản lí kinh doanh trong côngty.
Việc quản lí chặt chẽ, phân chia rạch ròi trong công tác quản lí chứng từtạo điều kiện thuận lợi rất nhiều cho công ty và các đối tượng liên quan đến hoạtđộng sản xuất kinh doanh trong việc kiểm tra, kê khai Ví dụ, như khi áp dụngluật thuế GTGT, côn gtác quản lí thuế GTGT đầu vào và thuề GTGT đầu rađược phân chia thành hai mảng rõ ràng hêts sức thuận tiện cho công tác kê khaikhấu trừ thuế và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước NVL của công ty đượcnhập khẩu tới 60 % vì thế thuế nhập khẩu theo quy định cũng được công tyhachjtoán đầy đủ, chi tiết định kỳ nộp đủ, đóng đủ thuế theo đúng nghĩa vụ vớinhà nước Công ty sử dụng chứng từ thuế GTGT bên cạnh đó khi đóng thuế chonhà nước ( tất cả các khoản thuée, ngân sách) công ty cũng thực hiện đầy đủ thủtục giao nhận rất rõ ràng Chứng từ tiêu biểu là giấy nộp tiền vào ngân sách nhànước bằng chuyển khoản Chứng từ này được ban hành theo đúng quy địnhthông tư của Bộ taì chính Mẫu biểu chứng từ này đã được trình bày ở trên
Ví dụ : giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước bằng chuyển khoản
Chứng từ này gồm 6 liên:
1 liên 1 lưư tại gốc
2 liên 2 lưu tại ngân hàng- kho bạc nhà nước nơi công ty nộp tiền mở tàikhỏn
3 liên 3 giao cho người nộp
4 liên 4 lưu tại kho bạc nhà nước
5 liên 5 lưu tại cơ quan thu nơi quản lí trực tiếp đối tượng nộp tiền
6 liên 6 lưu tại cơ quan tài chính đồng cấp với cơ qua thu
Có thể nói việc thực hiện đầy đủ chi tiết công tác chứng từ, luân chuyểnđúng trình tự chứng từ làm cho công tác hạch toán của công ty thuận lợi hơn
Trang 5 Trong công tác hạchtoán kế toán tại công ty, công ty chọn hình thức kếtoán nhật ký chung để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh Việc
sử dụng hình thức này làm cho quy trình hạch toán và tổ chức sổ sách
kế toán đơn giản, dễ làm áp dụng hình thức kế toán này cũng hết sứcthuận tiện khi các phần hành công việc được thực hiện bằng máy tính.Công ty cũng đã trang bị hệ thống máy tính hiện đại để có thể giảm bớtnhững khó khăn trong công tác kế toán của công ty tạo điều kiện cho
ra những thông tin chính xác, hiệu quả quản lí tốt hơn trong hoạchđịnh, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Công ty áp dụng hệ thống tài khoản theo đúng hệ thống tài khoản kếtoán mẫu của bộ tài chính ban hành Đặc biệt hệ thống tài khoản kếtoán mà công ty áp dụng trong hạch toán NVL được chi tiết phù hợpcho hoạt động nhập, xuất, tồn kho NVL thường xuyên của công ty
Trong hạch toán hàng hoá, NVL tồn kho công ty sử dụng phương pháp
kê khai thường xuyên Có thể nói việc áp dụng phương pháp này ởcông ty đảm bảo cung cấp thông tin một cách thường xuyên, chính xáctình hình biến động hàng hoá, NVL cũng như biến động chi phí sảnxuất Các NVL nhập về được quản lí một cách rõ ràng, chi tiết theodanh mục từng bộ, từng lô linh kiện cho từng nhà cung cấp NVLcho công ty trong nước và nước ngoài NVL nhập kho và xuất kho đềuđược theo dõi chặt chẽ và hạch toán đầy đủ tránh được tình trạng ứđọng thừa , thiếu,thất thoát NVL trong sản xuất cũng như trong cáckhâu nhập, xuất, tồn kho NVL
Cuối cùng các phần hành công việc kế toán trong công ty được thựchiện một cách thống nhất, ăn ý với nhau do côn gty có đội ngũ cán bộ
và chuyên viên kế toán có trình độ nghiệp vụ nắm vững, am hiểu kỹthuật hạch toán các nghiệp vụ nhập xuất tồn kho NVL nói riêng và cácphần hành hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, công việc kế toánnói chung Đội ngũ cán bộ, chuyên viên có trình độ đồng đều và khôngngừng được công ty tạo mọi điều kiện để có thể nâng cao trình độ và
Trang 6cập nhật thường xuyên các chế định tài chính và thanh toán theo đúngquy định Bên cạnh sự vững chẵc về chuyên môn họ còn có trình độ vềngoại ngữ và đặc biệt rất nhiệt tình với công việc đồng thời có tráchnhiệm cao trong công việc được giao.
1.2 Một số vấn đề cần nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện công tác hạch toánNVL tại công ty phát triển kinh tế kỹ thuật Việt Nam
NVL của công ty chủ yếu được mua ngoài, đặc biệt chủ yếu là đượcnhập khẩu từ nước ngoài do đó từ khi NVL được xác định là mua chotới khi NVL nhập kho của công ty có một thời gian tương đối dài.Chúng ta biết rằng khi NVL được xác định là mua thì đó đã là tài sảncủa DN vì thế một cách chính xác cần hạch toán riêng vào tài khoảngọi là tài khoản hàng mua đi trên đường khi NVL chưa về nhập khocủa công ty hay đang được gửi tại kho người bán Việc hạch toán vàotài khoản này chủ yếu vì lí do thông tin, nó sẽ cung cấp chính xác hơntình hình tài sản hiện thời của DN Tuy nhiên, kế toán công ty lạikhông tiến hành hạch toán NVL chưa về nhập kho công ty vào tàikhoản này Tại công ty khi hoá đơn mua NVL đã về tới văn phòng kếtoán nhưng NVL lại chưa về nhập kho kế toán công ty tiến hành lưucác chứng từ, hoá đơn áy vào tập hàng đã mua nhưng chưa về và chờcho tới khi NVL về nhập kho mới tiến hành ghi sổ kế toán hạch toán
số lượng NVL trên lê tài khoản liên quan vào kỳ hạch toán mà khiNVL nhập kho Như vậy, Việc hạch toán kiểu này chỉ phù hợp khihoá đơn đã về NVL chưa về trong tháng đó Trong tháng đó, để chờNVL về kế toán có thể lưu lại chưa giải quyết chứng từ đó và chưa ghi
sổ kế toán Trong tháng đó khi NVL về nhập kho kế toán căn cứ vàohoá đơn, kiểm nhận hàng hoá lập phiếu nhập kho và hạch toán bìnhthường Song trong trường hợp đến cuối tháng NVL vẫn chưa về thì
vì lí do thông tin néu kế toán không tiến hành hạch toán ghi sổ theo tàikhoản hàng đang đi trên đường có thể sẽ làm cho nguồn thông tin vềtài sản của DN khi cung cấp sẽ thiếu chính xác Bởi NVL đã được DN
Trang 7mua có thể đã chấp nhận thanh toán cho người cung cấp hay đã thanhtoán do đó đã thuộc quyền sở hữu của DN và nó đã là một phần tàisản của DN.
NVL của công ty được chi tiết thành NVL chính, NVL phụ trong đóchủ yếu là NVL chính đó là các bộ, linh kiện, chi tiết đồng thời khixuất cũng theo bộ, linh kiện, chi tiết nhưng mỗi bộ, linh kiện, lại cónhiều chi tiết nhỏ NVL nhập kho cũng có khá nhiều linh kiện, chi tiếtnhỏ rất khó quản lí song tất cả đều được hạch toán chung chỉ vào cácbảng kê phát sinh các tài khoản 1521, tài khoản 1522 như vậy việcnhập xuất vật liệu nhỏ sẽ khó quản lí trong công tác kiểm kê, hạchtoán vật liệu xuất dùng tình trạng thất thoát dễ xảy ra Thiết nghĩ công
ty có thể tiến hành lập sổ danh điểm vật liệu và tổng hợp trên bảngnhập, xuất, tồn vật liệu mà số liệu có thể căn cứ vào thẻ kho đã đượclập chi tiết cho từng loại vật tư khi tiến hành nhập, xuất kho vật liệunhằm giúp kế toán công tycó thể nắm bắt kịp thời số liệu về NVLtrong kho ở bất kỳ thơì điểm nào mà không cần trực tiếp tiến hànhkiểm tra thường xuyên Việc làm này phần nào có thể làm hạn chế bớtkhối lượng công việc cho kế toán vật liệu công ty mỗi khi NVL vềnhập kho hay xuất kho Bởi mỗi khi NVL nhập về thì phòng kế toáncông ty đều tiến hành mọi thủ tục từ khâu nhận hoá đơn cho đến việcxác nhận hoá đơn, lập FNK, kiểm kê vật tư lập các bảng kê chi tiếtvật liệu nếu lập sổ danh điểm vật liệu, thẻ kho cho vật liệu sẽ phầnnào giúp cho công tác kế toán thuận tiện lại có thể dễ dàng đối chiếu,kiểm tra số liệu một cách chi tiết ở bất kỳ thời điểm nào Tại kho công
ty, thủ kho nên tiến hành lập thẻ kho theo dõi số lượng NVL tại khomột cách chi tiết về số lượng biến động NVL Việc lập thẻ kho đượctiến hành tại kho nhằm cung cấp, đối chiếu số liệu một cách chínhxác, kịp thời với số liệu tại phòng kế toán công ty
Hiện tại công ty đang thực hiện áp dụng thống nhất giá thực tế NVLxuất kho theo giá thực tế đích danh nghĩa là NVL nhập về theo giá
Trang 8nào thì sẽ được xuất theo giá đó Việc thực hiện tính giá xuất kho theophương pháp này làm cho khối lượng công việc ghi chép nhiêù, trùnglặp, lại phải thực hiện ghi sổ nhiều lần Vả lại phương pháp này còn bịhạn chế bởi giá thực tế nhập NVL trong kỳ phải phụ thuộc vaò chứng
từ nhập, nếu khi xuất dùng NVL cho sản xuất thì dễ gây ra ảnh hưởngnhiều tới giá thực tế xuất kho NVL NVL xuất dùng cho sản xuất ởcông ty có tính đồng nhất cao NVL đi theo bộ, linh kiện, chi tiết vì thếcông ty có thể thay đổi phương pháp tính giá thực tế xuất kho NVLtheo phhương pháp khác cho phù hợp song việc thay đôỉ này nênđược tiến hành một cách thống nhất trong một kỳ hạch toán Khimuốn thay đổi phương pháp tính giá nào cần có sự công khai và phổbiến tới từng nhân viên kế toán
Thêm vào đó , khi tiến hành xuất dùng NVL cho sản xuất chung bởicác chi phí sản xuất chung đều được kế toán coong ty hạch toán chungvào tài khoản 627- chi phí sản xuất chung mà không được chi tiếtthành các tài khoản cấp 2 như:
1 TK 6271- chi phí nhân viên phân xưởng
2 TK 6272- chi phí NVL
3 TK 6273- chi phí dụng cụ sản xuất
4 TK 6274- chi phí khấu hao TSCĐ
5 TK 6277- chi phí dịch vụ mua ngoài
6 TK 6278- chi phí bằng tiền khác
Trong các chi phí ấy chia thành các tiểu khoản có các khoản chi phí NVL
vì thế nếu không phản ánh chi tiết thành tiểu khoản chi phí vật liệu 6272 sẽkhông phân biệt được chi tiết NVL chính hay NVL đã xuất dùng cho sản xuấtchung vì vậy việc kiểm soát, phân tích các yếu tố chi phí vật liệu cấu thành nêngiá thành đơn vị sản phẩm gặp nhiều khó khăn, dễ bị nhầm lẫn trong khâu hạchtoán vật liệu xuất dùng để tổng hợp chi phí sản xuất do đó khó có thể đánh giá
Trang 9được tỷ lệ yếu tố chi phí NVL trong chi phí sản xuất chung nhằm tính giá thànhsản phẩm.
Tóm lại, để theo dõi một cách chi tiết hơn nữa tình hình xuất dùng NVL
kế toán có thể chọn phương pháp tính giá NVL xuất kho theo phương pháp giáhạch toán đồng thời lập bảng phân bổ NVL chi tiết cho hoạt động xuất dùngNVL cho sản xuất sản phẩm Thực hiện điều này sẽ làm cho công tác hạch toán
kế toán NVL tại công ty trở nên chặt chẽ, việc ghi sổ, đối chiếu kiểm tra sẽ dễdàng thuận tiện
II- Một số ý kiến đóng góp cho công tác hoàn thiện hạch toán NVL tại công ty phát triển kinh tế kỹ thuật Việt Nam( Detsco Việt Nam)
1 Phương pháp hoàn thiện công tác hạch toán các nghiệp vụ nhập NVL.
Như ta đã biết ở trên NVL của công ty thường được nhập từ nước ngoài làchủ yếu( trên 60%), NVL từ khi được xác định là đã thuộc quyển sở hữu củacông ty cho tới lúc về nhập kho của công ty có khoản thời gian đi đương tươngđối dài hoặc vì lí do nào đó phải gửi tại kho người bán Cách giải quyết củacông ty hiện nay thường là khi công ty nhận được hoá đơn bán hàng mà hàngvânx chưa về nhập kho của công ty kế toán công ty tiến hành kẹp hoá đơn đóvào tập riêng gọi là tập hoá đơn hàng chưa về và chờ cho đến khi hàng về nhậpkho công ty mới tiến hành hạch toán số NVL đó vào tài khoản có liên quan vàghi sổ kế toán Song, vì lí do thông tin và vì NVL đã xác định là mua và công ty
đã chấp nhận thanh toán hay đã thanh toán rồi thì số NVL đó đã thuộc quyền sởhữu của công ty vì vậy khi NVL chưa về có thể kẹp hoá đơn và tập riêng cho sốhàng đang đi trên đường và chờ NVL về nhập kho tiến hành hạch toán bìnhthường trong tháng đó Còn khi NVL đén cuối tháng vẫn chưa về thì vì lí dothông tin và nhằm phản ánh chính xác tình hình hiện tại của công ty thì kế toáncông ty có thể mở tài khoản 151- hàng đang đi trên đường Tài khoản nàythường dùng nhằm phản ánh tất cả các NVL, hàng hoá mua vào đã thuộc quyền
sở hữu của công ty, nhưng đến cuối tháng hàng vẫn chưa về nhập kho Tàikhoản này có nội dung, kết cấu
Trang 10Bên Nợ: Phản ánh giá trị vật tư, hàng hoá đang đi trên đường
Bên Có : Phản ánh giá trị vật tư, hàng hoá đang đi trên đường đã về nhập
- Đầu tháng khi công ty tiến hành mua NVL và hàng đang trên đường về,hoá đơn về trước Cuối tháng hàng về tiến hành hạch toán như bình thườngnhưng đến cuối tháng hàng vẫn chưa về:
Nợ TK 151: Giá mua hàng chưa thuế( NVL đang đi đường)
Nợ TK 133: thuế GTGT được khấu trừ
Có TK : 111,112,331, : Giá thanh toán
Sang đầu tháng sau khi hàng về nhập kho công ty kế toán có thể ghi sổnhư sau:
Nợ TK 152( chi tiết): Giá trị hàng nhập kho theo gía thực tế
Có TK 151 : Giá trị hàng đi trên đường đã về nhập kho
Nếu số hàng đang đi đường tháng trước đã về và được sử dụng trực tiếpcho sản xuất sản phẩm, phục vụ cho công tác quản lí phân xưởng, quản lí DN kếtoán có thể tiến hành ghi sổ như sau:
Nợ TK 621,627,642
Có TK 151
2 Vấn đề quản lí NVL trong kho
Trang 11Về vấn đề quản lí NVL tại kho từ trước tới nay từ khâu nhập NVL đếnkhâu xuất dùng NVL, hạch toán hàng tồn kho, kiểm tra quy cách, chủng loại, sốlượng vật tư của NVL đều do văn phòng kế toán công ty tiến hành trực tiếp chỉđạo và thực hiện Để có thể thuận tiện hơn trong công tác quản lí NVL tại kho kếtoán công ty nên lập ra thẻ kho và một sổ danh điểm vật liệu.Thẻ kho được lậpnhằm theo dõi NVL về mặt số lượng theo số lượng thực nhập, thực xuất Cuốitháng, cuối kỳ cộng tổng số nhập, tổng số xuất để tính ra số lượng tồn kho thực
tế Thủ kho phải thường xuyên đối chiếu số tồn kho trên sổ sách với số tồn khohiện vật trên thực tế sau khi đã ghi chép vào thẻ kho Khi NVL nhập, xuất, tồnkho thực tế thủ kho sẽ tiến hành theo dõi số lượng NVL biến động trên thẻ khođồng thời định kỳ gửi thẻ về phòng kế toán đối chiếu số liệu trên với sổ chi tiết
và các bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn kho của kế toán Sổ này sẽ liệt kê toàn bộNVL có trong kho, trong công ty kể cả NVL chính hay NVL phụ NVL công tynhập xuất mang tính thống nhất và đồng bộ cao vì thế lập sổ danh điểm vật liệu
có thể thống nhất tên gọi, quy cách, đơn vị tính, giá thực tế nhập, giá thực tế xuấtcủa NVL thêm vào đó, việc lập sổ danh điểm vật liệu lại khá thuận tiện khi thaotác trên máy tính Việc này sẽ giúp cho kế toán theo dõi NVL được chính xác ,kịp thời bởi khi cần chỉ việc đặt tên, mã số cho số vật liệu và bấm tìm đúng mã
số đó là trên màn hình thể hiện ra đúng, Như vậy, có thể tiết kiệm được thờigian đồng thời cung cấp thông tin kịp thời khi cần thiết Xây dựng được sổ danhđiểm vật liệu giúp kế toán công ty lập ra bảng nhập xuất tồn kho của vật liệucuối kỳ Làm như vậy kế toán công ty có thể vẫn phân chia rõ ràng NVL chínhNVL phụ và chỉ cần lên sổ cái tổng hợp tài khoản 152 khi tiến hành tổng hợpNVL cuối kỳ nhằm đối chiếu số liệu, lên các báo cáo Bảng Nhập, xuất, tồn khocủa vật liệu sẽ được lập vào cuối tháng
Giá trị vật liệu Giá tri vật liệu Giá trị vật liệu Giá trị vật liệu
tồn kho cuối tồn kho đầu nhập trong xuất dùng
tháng tháng tháng trong tháng
Trang 12Việc lập bảng nhập, xuất, tồn kho sẽ giúp cho kế toán nắm bắt kịp thời các
số liệu về NVL trong kho đồng thời có thể tách bạch chi tiết tình hình NVL theo
số lượng, giá trị thực tế cung cấp thông tin,c hính xác kịp thời cho công tác quản
lí tại công ty
Sổ danh điểm vật liệu có thể lập theo mẫu như sau:
Ví dụ: Sổ danh điểm NVL
Ký hiệu: TK 152Loại: NVL chính
ký hiệu Tên, nhãn hiệu,
quy cách NVL
Đơn vị tính Đơn giá hạch
toán
Ghi chú Mã
NVL
Danh điểm
Tại kho công ty thủ kho hay người chịu trách nhiệm trong công tác nhậpxuất tồn kho vật liệu tiến hành lập thẻ kho và định kỳ gửi thẻ kho theo dõi chotừng loại vật liệu về phòng kế toán công ty nhằm thực hiện công tác đối chiếukiểm tra độ chính xác của số liệu thực tế Thẻ kho có thể được lập như sau:
Trang 13500 100
1000 1100 600 500 Tổng phát sinh
3 Công tác xuất dùng NVL tại công ty
Công ty phát triển kinh tế kỹ thuật Việt Nam sử dụng phương pháp giáthực tế trực tiếp( giá thực tế đích danh) cho công tác xuất dùng NV Với kỳ tínhgiá thành theo từng quý và theo từng lô hàng Vậy kỳ tính giá thành theo quý, kếtoán công ty có thể thay đổi sử dụng phương pháp tính giá NVL xuất kho theo