Để xác định được đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất ở từng doanh nghiệp cần phải dựa vào các yếu tố sau : - Tính chất sản xuất , loại hình sản xuất , đặc điểm tổ chức sản xuất ,
Trang 1PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÌNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP
1 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất
1.1 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất :
Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi , giới hạn mà các chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp theo phạm vị , giới hạn đó
Để xác định được đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất ở từng doanh nghiệp cần phải dựa vào các yếu tố sau :
- Tính chất sản xuất , loại hình sản xuất , đặc điểm tổ chức sản xuất , đặc điểm qui trình công nghệ sản xuất sản phẩm
- Căn cứ vào yêu cầu tính giá thành , yêu cầu quản lý , khả năng trình độ quản lý , tình độ hạch toán của doanh nghiệp
Dựa vào những căn cứ trên , đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây dựng thường được xác định là từng công trình , hạng mục công trình hay theo từng đơn đặt hàng
1.2.Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất :
Cũng như tất cả các doanh nghiệp sản xuất khác , tuỳ thuộc vào mô hình sản xuất là lớn vừa hay nhỏ mà chọn cho mình một trong hai phương pháp kế toán nào cho phù hợp
- Phương pháp kê khai thường xuyuên
- Phương pháp kiểm kê định kỳ
Mỗi doanh nghiệp chỉ được sử dụng một trong hai phương pháp trên , những doanh nghiệp sử dụng phương pháp kê khai thường xuyên thường là những doanh nghiệp có qui mô sản xuất , kinh doanh lớn , tiến hành nhiều loại hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau Trái lại , những doanh nghiệp sử
Trang 2
dụng phương pháp kiểm kê định kỳ là những doanh nghiệp có qui mô sản xuất , kinh doanh nhỏ , chỉ tiến hành một loại sản xuất kinh doanh
1.2.1 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo từng phương pháp kê khai thường xuyên :
Các TK sử dụng :
- TK 621 " Nguyên vật liệu trực tiếp " : được dùng để tập hợp toàn bộ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất , thi công phát sinh trong kỳ , cuối kỳ kết chuyển sang tài khoản tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
- TK 622 " Chi phí nhân công trực tiếp " : được dùng để tập hợp và kết chuyển số chi phí tiền công của công nhân trực tiếp sản xuất kể cả nhân công sử dụng máy thi công ( bao gồm cả tiền lương , tiền công , tiền thưởng , phụ cấp và các khoản phải trả khác của công nhân sản xuất ) vào TK " tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành "
- TK 627 " Chi phí sản xuất chung " : dùng để tập hợp toàn bộ các chi phí
có liên quan đến phục vụ , quản lý sản xuất , thi công ở tổ , đội sản xuất
Bên Nợ : Tập hợp các chi phí sản xuất chung trong kỳ
Bên Có : + Kết chuyển , phân bổ vào TK 154
+ Số ghi giảm chi phí sản xuất chung
TK 627 cuối kỳ không có số dư
TK 627 được mở thành 6 TK cấp 2 như sau :
TK 6271 : Chi phí nhân viên tổ , đội sản xuất
TK 6272 : Chi phí vật liệu
TK 6273 : Chi phí công cụ , dụng cụ sản xuất
TK 6274 : Chi phí khấu hao tài sản
TK 6277 : Chi phí dịch vụ mua hàng
TK 6278 : Chi phí bằng tiền khác
Trang 3
- TK 154 " Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang ": được dùng để tập hợp toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ liên quan đến sản xuất kinh doanh và tính giá thành sản phẩm xây lắp
Trình tự kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp theo phương pháp kê khai thường xuyên có thể khái quát bằng sơ đồ sau đây : (Xem sơ đồ 1 )
Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất xây lắp cụ thể như sau :
1.2.1.1 Kế toán chi phí vật liệu trực tiếp :
Trong kỳ , căn cứ vào các chứng từ xuất vật liệu , mua vật liệu cho thi công xây lắp công trình , kế toán ghi :
Nợ TK 621 ( Chi tiết cho từng công trình , hạng mục công trình )
Có TK 152,153 ( CHi tiết cho từng công trình , hạng mục công trình )
Có TK 111,112 ( nếu mua vật liệu cho thi công và cũng chi tiết cho từng công trình , hạng mục công trình )
Cuối kỳ , tiến hành kết chuyển, phân bổ vào các đối tượng có liên quan ,
kế toán ghi :
Nợ TK 154 ( Chi tiết cho từng công trình , hạng mục công trình )
Có TK 621 (Chi tiết cho từng công trình , hạng mục công trình )
1.2.1.2.Kế toán chi phí nhân công trực tiếp :
Toàn bộ số tiền công và các khoản phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất được tập hợp vào bên Nợ TK 622 kế toán ghi
Nợ TK 622 (Chi tiết cho từng công trình , hạng mục công trình )
Có TK 334 , 338 (Chi tiết cho từng công trình , hạng mục công trình ) Cuối kỳ , tiến hành kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào các đối tượng có liên quan :
Nợ TK 154 (Chi tiết cho từng công trình , hạng mục công trình )
Có TK 622 (Chi tiết cho từng công trình , hạng mục công trình )
1.2.1.3 Kế toán chi phí sản xuất chung :
Trang 4
Để phản ánh việc tập hợp các chi phí sản xuất chung phát sinh thực tế , kế toán ghi :
Nợ TK 627 ( Chi tiết và các TK cấp 2 có liên quan)
Có TK 334,338
Có TK 152,153
Có TK 214
Có TK 111,112,142,331,335
Phản ánh số ghi giảm chi phí sản xuất chung :
Nợ TK 111,112,138
Có TK 627
Cuối kỳ kết chuyển , phân bổ chi phí sản xuất chung vào TK 154:
Nợ TK 154 (Chi tiết liên quan )
Có TK 627 (Chi tiết liên quan )
1.2.2 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ:
Theo phương pháp này , tài khoản dùng để tập hợp chi phí sản xuất là TK
631 " Giá thành sản xuất " TK 154 chỉ dùng để phản ánh giá trị khối lượng xây lắp dở dang đầu kỳ căn cứ vào kết quả kiểm kê đánh giá sản phẩm là dở
TK631 cuối kỳ không có số dư vì giá trị sản phẩm làm dở cuối kỳ được kết chuyển ngay vào TK154
Việc xác định chi phí nguyên vật liệu xuất dùng trên tài khoản tổng hợp theo phương pháp kiêm kê định kỳ không phải căn cứ vào số liệu tổng hợp từ các chứng từ xuất kho mà căn cứ vào giá trị nguyên vật liệu tồn đầu kỳ , giá thực
tế của vật liệu nhập trong kỳ và kết quả kiêm kê cuối kỳ để tính toán như sau:
Giá thực tế Giá thực tế Giá thực tế Giá thực tế
Trang 5
nguyên vật liệu = nguyên vật liệu + nguyên vật liệu - nguyên vật liệu
xuất dùng tồn đầu kỳ nhập trong kỳ tồn cuối kỳ
Nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là nhìn vào tài khoản kế toán ,
ta không thể biết được cụ thể về tùnh hình xuất dùng và sử dụng nguyên vật liệu
Trong trường hợp doanh nghiệp có tổ chức bộ phận sản xuất , kinh doanh phụ hoạt động tự chế hay thuê ngoài gia công chế biến thì mọi chi phí liên quan tới các hoạt động trên đều được tập hợp vào TK 631.TK631 cũng được hạch toán chi tiết theo từng nơi chi phí và và từng loại , nhóm sản phẩm
Trình tự kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng theo phương pháp kiểm kê định kỳ được khái quát bằng sơ đồ sau ( xem sơ
đồ 2 ) :
Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất xây lắp cụ thể như sau : Đầu kỳ tiến hành kết chuyển giá trị xây lắp dơ dang đầu kỳ vào bên Nợ
TK 631 , kế toán ghi :
Nợ TK 631 (Chi tiết cho từng công trình , hạng mục công trình )
Có TK 154 (Chi tiết cho từng công trình , hạng mục công trình )
Cuối kỳ , căn cứ vào số chi phí sản xuất đã tập hợp được trên các khoản chi phí kết chuyển vào TK 631:
- Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp :
Nợ TK 631 (Chi tiết cho từng công trình , hạng mục công trình )
Có TK 621
- Kết chuyển chi phí sản xuất chung :
Nợ TK 631 (Chi tiết cho từng công trình , hạng mục công trình )
Có TK 627
Cuối kỳ , kiểm kê đánh giá sản phẩm làm dở , kế toán ghi :
Nợ TK 154
Trang 6
Có TK 631
2 - Đánh giá sản phẩm làm dở trong doanh nghiệp xây dựng :
Sản phẩm làm dở trong các doanh nghiệp xây dựng có thể là công trình , hạng mục công trình dở dang chưa hoàn thành hay khối lượng công tác xây lắp
dở dang trong kỳ chưa được bên chủ đầu tư nghiệm thu , chấp nhận thanh toán
Đánh giá sản phẩm làm dở là việc tính toán , xác định phần chi phí sản xuất trong kỳ cho khối lượng sản phẩm làm dở cuối kỳ tho những nguyên nhân nhất định
Để xác định được giá thành sản phẩm một cách chính xác , một trong những điều kiện quan trọng là phải đánh giá chính xác sản phẩm làm dở cuối
kỳ , tức là xác định số chi phí sản xuất tính cho sản phẩm làm dở cuối kỳ phải chịu
Muốn như vậy phải tổ chức kiểm kê chính xác khối lượng công tác xây lắp dở dang trong kỳ đồng thời xác định đúng đắn mức độ hoàn thành của khối lượng sản phẩm làm dở so với khối lượng hoàn thanh theo qui ước ở từng giai đoạn thi công
Chất lượng của công tác kiểm kê khối lượng xây lắp dở dang có ảnh hưởng đến tính chính xác của việc đánh giá sản phẩm làm dở và tính giá thành
Ở các doanh nghiệp xây dựng , do đặc điểm của sản phẩm xây dựng là có kết cấu phức tạp , công tác xác định mức độ hoàn thành của nó là rất khó khăn nên khi đánh giá sản phẩm làm dở , kế toán cần kết hợp chặt chẽ với bộ phận kỹ thuật và bộ phận tổ chức lao động
Sau đây là một số phương pháp đánh giá sản phẩm làm dở mà cá doanh nghiệp xây dựng thường áp dụng :
2.1 Phương pháp đánh giá sản phẩm làm dở theo chi phí dự toán :
Trang 7
Phương pháp này được áp dụng trong trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành trùng nhau
Theo phương pháp này , chi phí thực tế của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ được xác định theo công thức sau :
Chi phí thực tế Chi phí thực tế
của khối lượng + của khối lượng
xây lắp dd đkỳ lắp t/h tr kỳ
Chi phí thực tế CP của KL
của KL xây lắp = x XL dd c/kỳ
dd cuối kỳ theo dự toán Chi phí của KL Chi phí của KL
xây lắp hoàn xây lắp dở dang
thành bàn giao cuối kỳ theo
tkỳ theo dự toán dự toán
2.2.Phương pháp đánh giá sản phẩm làm dở theo tỷ lệ hàon thành tương đương :
Phương pháp này áp dụng chủ yếu với việc đánh giá sản phẩm làm dở của công tác lắp đặt
Theo phương pháp này , chi phí thực tế của khối lượng lắp đặt dở dang cuối kỳ được xác định như sau :
Cp thực tế Cp thực tế
của KL XL + của KL XL
dd đầu kỳ t/hiện t/kỳ
Cp thực tế của = x Gtrị dự toán của kl xl dd
Trang 8
kl xlắp dd ckỳ Tổng gtrị dự toán cảu các ckỳ tính theo mức độ h/t
giai đoạn xây dựng tính
theo mức độ hàon thành
Ngoài ra , đối với một số công việc như : nâng cấp , sửa chữa , hoàn thiện hoặc xây dựng các công trình có giá trị nhỏ , thời gian thi công ngắn , theo hợp đồng được bên chủ đầu tư thanh toán sau khi hoàn thành toàn bộ thì giá trị sản phẩm làm dở cuối kỳ chính là chi phí sản xuất thực tế phát sinh từ khi khởi công thi công đến khi đánh giá , kiểm kê
3 - Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp :
3.1 Đối tượng tính giá thành trong doanh nghiệp xây dựng :
Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm , công việc , lao vụ do doanh nghiệp sản xuất ra và cần phải tính được giá thành và giá thành đơn vị
Xác định đối tượng tính giá thành là công việc đầu tiên trong toàn bộ công tác tính giá thành Bộ phận kế toán giá thành phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp , các loại sản phẩm và lao vụ mà doanh nghiệp sản xuất , tính chất sản xuất và cung cấp sử dụng chúng để xác định đối tượng tính giá thành cho thích hợp
Trong các doanh nghiệp xây dựng , đối tượng tính giá thành thường trùng hợp với đối tượng tập hợp chi phí sản xuất , đó có thể là : công trình , hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao
3.2 Phân biệt đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành :
Qua nghiên cứu hai khái niệm , ta thấy đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
và đối tượng tính giá thành có những điểm khác nhau
Trang 9
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là căn cứ để mở các tài khoản , các sổ chi tiết , tổ chức ghi chép ban đầu , tập hợp số liệu chi phí sản xuất chi tiết theo từng đối tượng
Đối tượng tính giá thành là căn cứ để kế toán lập các bảng biểu chi tiết tính giá thành và tổ chức công tác tính giá thành theo từng đối tượng
Tuy nhiên , giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành lại có mối quan hệ mật thiết với nhau Về bản chất , chúng đều là những pạhm vi , giới hạn để tập hợp chi phí sản xuất
Mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành có thể được biểu hiện theo một trong các trường hợp sau :
- Tương ứng với một đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là nhiều đối tượng tính giá thành có liên quan
- Tương ứng với một đối tượng tập hợp chi phí sản xuất chỉ có đối tượng tính giá thành
- Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành tương ứng phù hợp với nhau
Tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành mà ta cần lựa chọn , áp dụng các phương pháp tính giá thành thích hợp
3.3 Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp :
Phương pháp tính giá thành sản phẩm là phương pháp sử dụng số liệu về chi phí sản xuất để tính toán ra tổng giá thành và giá thành đơn vị thực tế của sản phẩm lao vụ đã hoàn thành theo các yếu tố hoặc khoản mục giá thành trong
kỳ tính giá thành đã được xác định
Kỳ giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần phải tiến hành công việc tính giá thành cho các đối tượng tính giá thành
Trang 10
Tuỳ thuộc đặc điểm của từng đối tượng tính giá thành và mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành mà kế toán
áp dụng một hay nhiều phương pháp tính giá thành thích hợp
ở các doanh nghiệp xây dựng thường áp dụng các phương pháp tính giá thành sau :
3.3.1 Phương pháp tính giá thành trực tiếp :
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong các doanh nghiệp xây dựng hiện nay vì sản xuất , kinh doanh mang tính chất đơn chiếc , đôi tượng tập hợp chi phí sản xuất lại phù hợp với đối tượng tính giá thành
Hơn nữa, phương pháp này cho phép cung cấp kịp thời số liệu giá thành trong mỗi kỳ báo cáo và cách tính lại dễ dàng
Theo phương pháp này, tập hợp tất cả chi phí sản xuất trực tiếp cho một công trình, hạng mục công trình từ khi khởi công đến khi hoàn thành chính là giá thành của công trình, hạng mục công trình ấy
Trường hợp công trình, hạng mục công trình chưa hoàn thành mà có khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao thì:
Giá thành thực tế
của khối lượng xây lắp
hoàn thành bàn giao
Chi phí thực tế = dở dang đầu kỳ
Chi phí thực tế + phát sinh trong
kỳ
Chi phí thực
- tế dở dang
cuối kỳ
Trong trường hợp chi phí sản xuất tập hợp theo công trường hoặc cả công trường nhưng giá thành thực tế phải tính riêng cho từng hạng mục công trình thì
kế toán có thể căn cứ vào chi phí sản xuất của cả nhóm và hệ số kinh tế kỹ thuật
Trang 11
đã qui định cho từng hạng mục công trình để tính giá thành thực tế cho hạng mục công trình đó
Nếu các hạng mục công trình có thiết kế khác nhau , dự toán khác nhau nhưng cùng thi công trên một địa điểm do một đội công trình sản xuất đảm nhiệm , không có điều kiện theo dõi , quản lý riêng các loại chi phí khác nhau thì chi phí sản xuất đã tập hợp được phải được phân bổ cho từng hạng mục ctr theo những tiêu chuẩn thích hợp với hệ số kinh tế kỹ thuật qui định cho từng hạng mục công trình
Hệ số phân bổ ( tỷ lệ phân bổ giá thành thực tế ) được xác định như sau : C
H = x 100
G dt
Trong đó C : Tổng chi phí thực tế của cả công trường
Khi đó giá thành thực tế của từng hạng mục công trình = Gdti x H
Với Gdti : Giá trị dự toán của hạng mục công trình thứ i
3.3.2 Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng :
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp nhận thầu xây lắp theo đơn đặt hàng và khi đó đối tượng tập hơpj chi phí sản xuất , đối tượng tính giá thành là từng đơn đặt hàng
Theo phương pháp này , hàng tháng chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp theo từng đơn đặt hàng và khi nào hoàn thành công trình thì chi phí sản xuất tập hợp được cũng chính là giá thành thực tế của đơn đặt hàng Những đơn đặt hàng chưa sản xuất xong thì toàn bộ chi phí sản xuất đã tập hợp được theo đơn đặt hàng đó đều là chi phí sản xuất của khối lượng xây lắp dở dang
Trong thực tế , phương pháp này thường được áp dụng đối với các đơn vị sửa chữa nhà cửa hoặc cho công tác xây lắp phụ cho bên ngoaì
3.3.3 Phương pháp tổng hợp