1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ KẾ TOÁN CHO VAY TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG

25 400 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng và kế toán cho vay trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Chuyên ngành Tín dụng ngân hàng
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 35,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mâu thuẫn giữa sự hiện tượng thừa thiếu vốn tiền tệ trong xã hội phát sinh trong khi quá trình sản xuất hàng hoá cần được duy trì một cách đều đặn thường xuyên đòi hỏi phải có tín dụng đ

Trang 1

NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ KẾ TOÁN CHO

VAY TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG

1 Khái quát về tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường

1.1 Khái niệm tín dụng Ngân hàng

Ở các chế độ hội khác nhau thì hình thành các quan hệ tín dụng khác nhau

và ngày càng trở nên đa dạng phong phú Hình thức tín dụng đầu tiên trong lịch sử

là tín dụng nặng lãi, ra đời và tồn tại trong suốt thời kỳ chiếm hữu nô lệ và phát triển trong chế độ phong kiến Cơ sở tồn tại của tín dụng nặng lãi là nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, phân tán, phụ thuộc vào điều kiện thiên nhiên, đời sống bấp bênh, sản phẩm dư thừa hạn chế, trong khi đó nhu cầu cần được bổ sung rất phổ biến Những người có khả năng cho vay là những người giàu có và có nhiều quyền lực: chủ nô, quý tộc, quan lại, địa chủ và những người chuyên nghề cho vay nặng lãi Những người đi vay, phần lớn là nông dân, rthợ thủ công và những người buôn bán nhỏ cần tiền để giải quyết nhu cầu cấp bách trong việc duy trì cuộc sống tối thiểu cần thiết

Muốn được vay họ phải cầm cố mảnh đất, trâu bò, nhà cửa nếu không trả được sẽ bị tước đoạt những tài sản đó Ngoài ra vua chúa, quý tộc, phong kiến cũng đi vay để đáp ứng nhu cầu ăn chơi xa xỉ như xây dựng lâu đài, tổ chức lễ hội, mua đồ trang sức Để có tiền trả nợ họ ra sức bóc lột nông dân, thợ thủ công bằng siêu cao thuế nặng Như vậy đặc điểm của tín dụng nặng lãi là lãi suất cao, cao vô hạn độ, nó không chỉ là sản phẩm thặng dư mà còn ăn thâm vào sản phẩm cần thiết của người lao động Chính vì thế tín dụng nặng lãi trở thành một hình thức tín dụng tiêu dùng, thể hiện trong mục đích của việc sử dụng tiền vay đối với cả người nghèo khổ và người giàu có Với tính chất của tín dụng nặng lãi, tín dụng nặng lãi không trực tiếp phục vụ sản xuất phát triển do vậy tín dụng nặng lãi chỉ phù hợp

Trang 2

với nền kinh tế kém phát triển, sản xuất mang tính tự túc - tự cấp hơn là nền sản xuất hàng hoá.

Khi nền sản xuất xã hội bước sang thời kỳ sản xuất hàng hoá cùng với sự ra đời của hệ thấng ngân hàng thì hoạt động tín dụng đã bước sang một giai đoạn mới

đó là tín dụng trực tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá không ngừng phát triển Thực vậy, trong lúc có bộ phận vốn tiền nhàn rỗi ở chủ thể này thì ở các chủ thể khác lại có nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sung

Thiếu vốn cần được bổ sung không chỉ là nhu cầu đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, lưu thông mà còn là nhu cầu bổ sung thiếu hụt tạm thời giữa thu và chi của các tổ thức, cá nhân khác trong xã hội, kể cả ngân sách Nhà nước Nó không chỉ là nhu cầu đầu tư cho lĩnh vực sản xuất, lưu thông hàng hoá mà còn là nhu cầu cần thiết cho tiêu dùng

Mâu thuẫn giữa sự hiện tượng thừa thiếu vốn tiền tệ trong xã hội phát sinh trong khi quá trình sản xuất hàng hoá cần được duy trì một cách đều đặn thường xuyên đòi hỏi phải có tín dụng để giải quyết mâu thuẫn đó đồng thời trở thành cầu nối giữa nhu cầu tiết kiện và đầu tư bằng các hình thức tín dụng thích hợp

Dưới chế độ tư bản, tín dụng là sự vận động của tư bản cho vay Tư bản cho vay là tư bản tiền tệ mà người sở hữu nó đem cho vay để thu lợi tức Nguồn hình thành tư bản cho vay chính là tư bản tiền tệ nhàn rỗi giải phóng khỏi quá trình tái sản xuất xã hội, tư bản tiền tệ của những nhà tư bản chuyên dùng vào lĩnh vực kinh doanh tiền tệ tín dụng bằng cách cho vay trực tiếp hoặc gửi ngân hàng Ngoài ra là tiền để dành của các tầng lớp dân cư trong xã hội đã biến thành tư bản cho vay

Tư bản cho vay với những đặc điểm cơ bản đã được Mác phân tích một cách đầy đủ Đó là tư bản sở hữu đối lập với tư bản chức năng, nghĩa là tư bản sở hữu thì không sử dụng còn người sử dụng thì không có quyền sở hữu

Cùng với việc mở rộng các quan hệ tín dụng, hình thức tín dụng ngày càng trở nên đa dạng phong phú như tín dụng thương mại, tín dụng Ngân hàng, tín dụng

Trang 3

Nhà nước, tín dụng hợp tác xã…do vậy ta có thể khái niệm tín dụng bằng các cách khác nhau Theo cách đơn giản nhất: Tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi giữa người đi vay và người cho vay.

Tín dụng theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại là: Trên cơ sở lòng tin, nghĩa là người cho vay tin tưởng vào người đi vay sẽ sử dụng vốn có hiệu quả và hoàn trả đúng thời hạn cả vốn lẫn lãi

Mặc dù có những khái niệm về tín dụng theo cách diễn đạt khác nhau nhưng

có thể nêu một cách tổng quát: Tín dụng là một quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (hình thái tiền tệ hay hiện vật) từ người

sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu với những điều kiện mà hai bên thoả thuận với nhau

Tín dụng Ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là Ngân hàng, một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là tất cả các

tổ chức cá nhân trong xã hội, trong đó Ngân hàng giữ vai trò vừa là người cho vay vừa là người đi vay Với tư cách là người đi vay, Ngân hàng huy động mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội bằng hình thức nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xã hội

Với tư cách là người cho vay, Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vón cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sung trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng Với vai trò này tín dụng Ngân hàng đã thực hiện chức năng phân phối lại vốn tiền tệ để đáp ứng yêu cầu tái sản xuất xã hội Cơ sở khách quan để hình thành chức năng phân phối lại vốn tiền tệ của tín dụng Ngân hàng chính là do đặc điểm tuần hoàn vốn trong quá trình tái sản xuất xã hội thường xuyên xuất hiện hiện tượng thừa vốn ở các tổ chức cá nhân này, trong khi tổ chức ở các tổ chức cá nhân khác lại có nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sung Hiện tượng thừa thiếu vốn phát sinh do có hiện tượng chênh lệch về thời gian, số

Trang 4

lượng giữa các khoản thu nhập và chi tiêu ở tất cả cac tổ chức, cá nhân trong quá trình tái sản xuất đòi hỏi phải tiến hành liên tục Tín dụng thương mại cũng đã giải quyết quan hệ trực tiếp giữa những doanh nghiệp cần tiêu thụ sản phẩm hàng hoá với những doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng cho sản xuất lưu thông mà chưa có tiền Nhưng do hạn chế của tín dụng thương mại đã không đáp ứng được nhu cầu tập trung mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để đáp ứng nhu cầu vay vốn với khối lượng, thời hạn khác nhau Chỉ có Ngân hàng là tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ mới có khả năng giải quyết mâu thuẫn đó Khi Ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay.

1.2 Đặc điểm của tín dụng Ngân hàng

Tín dụng Ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các Ngân hàng với các doanh nghiệp, các tổ chức, kinh tế, cá nhân và giữa các Ngân hàng với nhau được thực hiện được thực hiện trên cơ sở lòng tin, tính hoàn trả theo kỳ hạn gồm tiền gốc và lãi

Tín dụng Ngân hàng có những đặc điểm sau:

+ Thứ nhất: Là quan hệ chuyển nhượng mang tính chất tạm thời

Đối tượng của sự chuyển nhượng chủ thể là tiền tệ hoặc là hàng hoá dưới hình thức kéo dài thời gian thanh toán trong quan hệ mua bán hàng hoá Tính chất tạm thời của sự chuyển nhượng đề cập đến thời gian sử dụng giá trị đó Nó là kết quả của sự thoả thuận giữa các đối tác tham gia quá trình chuyển nhượng để đảm bảo sự phù hợp giữa thời gian nhàn rỗi và thời gian cần sử dụng lượng giá trị đó Sự thiếu phù hợp của thời gian chuyển nhượng có thể ảnh hưởng đến quyền lợi tài chính và hoạt động kinh doanh của cả hai bên và dẫn đến nguy cơ phá huỷ quan hệ tín dụng Thực chất trong quan hệ tín dụng chỉ có sự chuyển nhượng quyền sử dụng lượng giá trị tạm thời nhàn rỗi trong khoảng thời gian nhất định mà không có sự thay đổi quyền sở hữu đối với lượng giá trị đó

+ Thứ hai: Tính hoàn trả

Trang 5

Lượng vốn được chuyển nhượng phải được hoàn trả đúng hạn cả về thời gian và về giá trị bao gồm hai bộ phận: Gốc và lãi Phần lãi phải đảm bảo cho lượng giá trị hoàn trả lớn hơn lượng giá trị ban đầu Sự chênh lệch này là giá trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời Nói cách khác, nó là giá cả cho sự hy sinh quyền sử dụng vốn hiện tại của người sở hữu thế nó phải đủ hấp dẫn để người sở hữu sẵn sàng hy sinh quyền sử dụng đó.

+ Thứ ba: Quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa người đi vay và người cho vay

Có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng Người cho vay tin tưởng rằng vốn sẽ được hoàn trả đầy đủ khi đến hạn Người đi vay cũng tin tưởng vào khả năng phát huy hiệu quả của vốn vay Sự gặp gỡ giữa người đi vay

và người cho vay về điểm này là điều kiện hình thành quan hệ

tín dụng Cơ sở của sự tin tưởng này có thể do uy tín của người đi vay, do giá

trị tài sản thế chấp và do sự bảo lãnh của người thứ ba

Đối tượng cho vay là vốn tiền tệ số vốn này không nằm trong quá trình tuần hoàn của chu kỳ sản xuất kinh doanh mà là một loại vốn riêng biệt, một loại vốn nhàn rỗi dùng để cho vay

Chủ thể vay vốn chủ yếu là các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các cá nhân sản xuất, kinh doanh Trong một số trường hợp Ngân hàng cũng tiến hành đi vay của nhau, chủ thể cho vay là các Ngân hàng và công ty tài chính

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, hoạt động tín dụng không ngừng hoàn thiện và phát triển trở thành hình thức tín dụng ngân hàng Tin dụng ngân hàng là tín dụng của các nhà tư bản tiền tệ cấp cho các nhà tư bản kinh doanh

và những người vay nợ khác Đó là quan hệ trực tiếp qua ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các doanh nghiệp và cá nhân Trong nền kinh tế thị trường ngân hàng

là trung gian tín dụng giữa người đi vay và người đi vay Do vậy, tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền - tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền

Trang 6

tệ với một bên là các tổ chức cá nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay.

1.3 Vai trò của tín dụng Ngân hàng trong nền kinh tế quốc dân

1.3.1 Tín dụng Ngân hàng đáp ứng vốn để duy trì quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng trong nền kinh tế.

Hoạt động tín dụng Ngân hàng ra đời đã biến các phương tiện tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội thành phương tiện hoạt động kinh doanh có hiệu quả, động viên nhanh chóng vật tư lao động và các nguồn lực sẵn có khác đưa vào sản xuất, để thúc đẩy sản xuất, lưu thông, hàng hoá, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất

mở rộng Mặt khác tín dụng Ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu về vốn lưu động, vốn cố định của các doanh nghiệp tạo điều kiện cho quá trình sản xuất liên tục, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng

1.3.2 Tín dụng Ngân hàng là công cụ mạnh mẽ thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất.

Tín dụng thông qua việc thực hiện hoạt động đi vay để cho vay đã làm nhiệm vụ đưa vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu Điều này được thể hiện ở việc tín dụng thu hút các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức…cho vay đầu tư phát triển kinh tế

Nguồn vốn tín dụng đó được hình thành từ: nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong sản xuất kinh doanh, nguồn vốn tiết kiệm từ dân cư, thông qua hoạt động tín dụng, các nguồn vốn trên được tích tụ, tập trung, từ đó đáp ứng nhu cầu cần thiết vốn cho các đối tượng vay

Trong nền kinh tế thị trường luôn phải đáp ứng các nhu cầu như: sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao, hình thức đẹp, giá cả hợp lý… điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ sản xuất, hiện đại hoá máy móc thiết bị, từ

Trang 7

đó thúc đẩy nhu cầu về vốn ngày càng tăng lên Để giải quyết vấn đề này một cách nhanh chóng và có hiệu quả thì tín dụng Ngân hàng là công cụ quan trọng nhất.

1.3.3 Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá, luân chuyển tiền tệ, điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông và kiểm soát lạm phát

Qua quá tình cho vay khối luợng tiền trong lưu thông được tăng lên và khi Ngân hàng thu nợ thì khối lượng tiền trong lưu thông lại giảm đi Như vậy thông qua hoạt động tín dụng Ngân hàng sẽ làm tăng giảm khối lượng tiền trong lưu thông từ đó sẽ góp phần điều tiết khối lượng tiền của toàn bộ nền kinh tế

Thông qua công cụ lãi xuất, hạn mức tín dụng mà Ngân hàng trung ương sử dụng để làm thay đổi khối lượng tiền vay, từ đó kiểm soát được lạm phát và điều tiết được khối lượng tiền trong nền kinh tế Bởi tín dụng Ngân hàng khi điều tiết được khối lượng tiền tức là khống chế được khối lượng tiền vừa đủ so với nhu cầu lưu thông hàng hoá nhờ đó kiểm soát được giá cả Khi giá cả tăng nhanh Ngân hàng tăng lãi xuất cho vay để giảm khối lượng cho vay, giảm khối lượng tiền trong lưu thông đồng thời kiểm soát được lạm phát

1.3.4 Tín dụng Ngân hàng góp phần thúc đẩy chế độ hạch toán kinh tế của các đơn vị vay vốn và trong toàn bộ nền kinh tế.

Đặc trưng cơ bản của tín dụng là cho vay có hoàn trả và có lợi tức Ngân hàng huy động vốn của doanh nghiệp khi họ có vốn nhàn rỗi và cho vay khi họ cần

bổ sung vốn cho sản xuất kinh doanh Khi sử dụng vốn vay của Ngân hàng thì doanh nghiệp phải tôn trọng mọi điều kiện ghi trong hợp đồng tín dụng, trả nợ vay đúng hạn cả gốc và lãi Do đó thúc đẩy các doanh nghiệp tìm mọi biện pháp tăng hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí, tăng vòng quay vốn, để tạo điều kiện nâng cao doanh lợi cho doanh nghiệp Muốn vậy các doanh nghiệp phải tự vươn lên thông qua các hoạt động của mình, một trong những hoạt động khó khăn là hạch toán kinh kế

Trang 8

Quá trình hạch toán kinh tế là quá trình quản lý đồng vốn sao cho có hiệu quả Để quản lý vốn có hiệu quả thì hạch toán kinh tế phải giám sát chặt chẽ quá trình sử dụng vốn để nó được sử dụng đúng mục đích, tạo ra doanh lợi cho doanh nghiệp Điều này thúc đẩy các doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện hơn nữa quá trình hạch toán của đơn vị mình.

1.3.5 Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế với nước ngoài

Hiện nay sự phát triển kinh tế của mỗi nước luôn luôn gắn liền với thị trường thế giới, nền kinh tế “đóng” trước kia nay đã nhường bước cho nền kinh tế

“mở” phát triển Tín dụng Ngân hàng là một trong những giải pháp tốt nhất để các nước tăng cường các mối quan hệ kinh tế Quan hệ tín dụng mở rộng sẽ kéo theo quan hệ đầu tư trong nền kinh tế tăng khiến các quan hệ Thương maị quốc tế khác cũng tăng theo Quan hệ tín dụng là tiêu đề để thực hiện các quan hệ kinh tế khác

Như vậy thông qua các hoạt động của mình tín dụng Ngân hàng có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế, đồng thời cũng là một yếu tố cơ bản giúp cho toàn bộ hệ thống Ngân hàng đứng vững và phát triển

1.4 Các nguyên tắc cơ bản của tín dụng ngân hàng thương mại

Một là: Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín

dụng (cho vay có mục đích, có kế hoạch và có hiệu quả)

Cho vay có mục đích, có kế hoạch và có hiệu quả Tức là các đơn vị có nhu cầu vay vốn của Ngân hàng đều phải có kế hoạch, đơn vị vay gửi Ngân hàng với đầy

đủ các nội dung sau: Số tiền vay, thời hạn sử dụng vốn vay, mục đích sử dụng vốn vay và tính hiệu quả của vốn vay Ngân hàng Trên cơ sở đó Ngân hàng kiểm tra xem xét, nếu thấy đồng vốn vay Ngân hàng đem lại hiệu quả kinh tế và trả nợ đúng hạn thì mới quyết định cho vay Nguyên tắc này nhằm tiết kiệm đồng vốn, đầu tư vốn có trọng điểm và có hiệu quả kinh tế cao Ngoài ra nó còn tăng cường sự giám sát bằng đồng tiền của Ngân hàng đối với đơn vị vay vốn của Ngân hàng Trường

Trang 9

hợp khách hàng có nhu cầu vay vốn phát sinh ngoài kế hoạch, Ngân hàng xét thấy cần thiết và hợp lý, cân đối với nguồn vốn của mình có thể cho vay bổ sung cho người vay Vốn vay phải sử dụng đúng cam kết và mục đích.

Hai là: Người vay vốn phải hoàn trả đúng kỳ hạn cả vốn và lãi Bởi vì,

nguồn vốn cho vay của Ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn tập trung và nguồn vốn huy động từ các thành phần kinh tế xã hội Do đó, những người vay vốn của Ngân hàng sau một thời kỳ nhất định nào đó đều phải hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi cho Ngân hàng vì đó là nguồn thu chủ yếu cuả Ngân hàng và là cơ sở cho Ngân hàng tiến hành hạch toán kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước Đến thời kỳ trả nợ mà đơn vị vay vốn không trả cho Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ chuyển sang nợ quá hạn và đơn vị phải chịu lãi xuất cao hơn lãi xuất thông thường Với nguyên tắc này Ngân hàng bảo toàn được vốn, kịp thời đưa vốn vào hoạt động kinh doanh của mình, có thể để bù đắp chi và có lãi nhằm duy trì hoạt động và phát triển của bản thân Ngân hàng

Ba là: Cho vay có tài sản thế chấp và giá trị vật tư đảm bảo Các đơn vị

muốn vay vốn của Ngân hàng đều phải xuất trình đầy đủ chứng từ, hoá đơn, hợp đồng mua bán hàng hoá Trên cơ sở đó cán bộ Ngân hàng tiến hành xem xét cho vay tương đương với giá trị vật tư hàng hoá đã được ghi trên chứng từ, hoá đơn hợp đồng, điều này đối với doanh nghiệp nhà nước Còn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì muốn vay vốn của Ngân hàng đều phải thế chấp bằng tài sản Thế chấp có thể bằng hàng hoá thông thường hoặc các chứng từ có giá trị như tín phiếu,

kỳ phiếu, cổ phiếu, giấy chứng nhận quyền sử dụng bất động sản Hoặc có thể vay vốn thông qua việc bảo lãnh của các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng có uy tín Nguyên tắc này giúp cho các đơn vị sử dụng vốn vay một cách có hiệu quả Ngân hàng cho vay vốn tránh những rủi ro không đáng có trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng Bên cạnh, nguyên tắc này đảm bảo quan hệ cân đối giữa tiền tệ và hàng hoá trong lưu thông góp phần bình ổn giá cả

Trang 10

Ba nguyên tắc cơ bản nói trên có quan hệ mật thiết với nhau, gắn bó với nhau thành một thể thống nhất, có ảnh hưởng rất lớn đến quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng với các thành phần kinh tế, phòng ngừa được các yếu tố rủi ro đảm bảo

an toàn tín dụng

1.5 Các phương thức cho vay

Quan hệ tín dụng ngân hàng với các tổ chức kinh tế, tư nhân, cá thể bao gồm tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn Tín dụng ngắn hạn nhằm bổ sung vốn lưu động cho các đơn vị, cá nhân có đủ vốn để thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh Tín dụng trung và dài hạn nhằm cung cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản nhằm cải tiến kỹ thuật nâng cao năng lực sản xuất của các tổ chức sản xuất kinh doanh Mỗi loại tín dụng có nội dung kinh tế và yêu cầu kỹ thuật riêng theo đó việc tổ chức hạch toán kế toán cho vay cũng đòi hỏi phải có kỹ thuật nghiệp vụ thích hợp với từng loại và phương thức tín dụng

Phương thức cho vay là cách tính toán cho vay và thu nợ dựa vào tính chất

và cách xác định đối tuợng cho vay Tuỳ theo đặc điểm của khách hàng và đặc điểm của khoản vay, khi cho khách hàng vay vốn lưu động, các ngân hàng thương mại có thể áp dụng các phương thức cho vay sau:

+ Phương thức cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng phải làm những thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng

+ Phương thức cho vay theo hạn mức: là phương thức cho vay mà tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức cho vay nhất định duy trì trong một thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh

+ Phương thức cho vay hơp vốn: là phương thức cho vay được thực hiện bởi một nhóm Ngân hàng thương mại cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng trong đó có một Ngân hàng là đầu mối dàn xếp phối hợp các Ngân hàng khác Như vậy tuy có nhiều Ngân hàng thương mại cùng

Trang 11

cho vay vào một khách hàng nhưng khách hàng vay chỉ quan hệ với Ngân hàng đầu mối trong quá trình xét duyệt cho vay, giải ngân, trả nợ, trả lãi

+ Phương thức cho vay theo dự án: là phương thức cho vay mà Ngân hàng áp dụng cho khách hàng vay vốn thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ và các dự án phục vụ đời sống Hình thức tín dụng này áp dụng cho mọi đối tượng, mọi loại hình kinh tế và áp dụng đối với những công trình dự án có hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên muốn được vay vốn thì người vay cần soạn thảo được dự án đầu tư Dự án này phải được phân chia ra các khoản mục sử dụng vốn một cách chi tiết để Ngân hàng cho vay có thể thẩm định được khả năng trả nợ của

dự án Mục tiêu của dự án phải nằm trong chương trình phát triển kinh tế của địa phương, của vùng,của nhà nước, đồng thời dự án phải được cơ quan có thẩm quyền thẩm định và thông báo cho phép thực hiện Chính vì vậy, công việc của Ngân hàng không chỉ đơn thuần là cho vay mà còn phải quán xuyến hàng loạt vấn đề khác như quy hoạch sản xuất, thiết kế, quy trình công nghệ, tiêu chuẩn thiết bị máy móc, giá cả thị trường, hiệu quả dự án, môi trường…

+ Phương thức cho vay trả góp: Khi cho vay vốn, Ngân hàng thương mại và khách hàng thoả thuận số lãi tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay Tài sản hình thành từ vốn vay này chủ yếu để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình Phương thức cho vay này chỉ áp dụng cho nhu cầu thiết yếu của đời sống, khách hàng vay có phương án trả nợ vay và lãi vay khả thi bằng các khoản có thu nhập chắc chắn và

ổn định Sau khi thẩm định quyết định cho vay, Ngân hàng cho vay cùng khách hàng tính toán xác định số lãi tiền vay phải trả cho cả thời gian vay vốn để ký kết hợp đồng tín dụng ghi rõ: Các kỳ trả nợ, số tiền trả nợ ở mỗi kỳ hạn cả gốc và lãi Đến kỳ trả nợ khách hàng phải chủ động nộp đủ số tiền trả nợ theo thoả thuận, khách hàng có thể trả nợ trước kỳ hạn nợ nhưng không được tính lãi đã xác định

Trang 12

+ Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định

Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng

dự phòng, mức chi phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng

+ Phương thức cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng:

Tổ chức tín dụng chấp nhận cho khách hàng được sử dụng số tiền vay trong phạm

vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng Khi cho vay, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của chính phủ và sử dụng thẻ tín dụng

+ Các phương thức cho vay khác: Phù hợp với quy định của quy chế này và các quy định khác của Ngân hàng nhà nước

Trong các phương thức cho vay trên thì có hai phương thức được vận dụng nhiều trong cho vay của các ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế là phương thức cho vay từng lần và phương thức cho vay theo hạn mức Sau đây trình bày những nội dung cơ bản của hai phương thức trên

a Phương thức cho vay từng lần

Phương thức cho vay từng lần áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu đề nghị vay vốn từng lần, khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên Mỗi lần vay khách hàng và Ngân hàng phải làm thủ tục vay cần thiết và ký hợp đồng tín dụng Phương thức này áp dụng phổ biến trong cho vay ngắn hạn cũng như cho vay trung và dài hạn

Ưu điểm và nhược điểm của phương thức cho vay từng lần

Ưu điểm: Linh hoạt trong quá trình sử dụng vốn của Ngân hàng Khi nào khách hàng có nhu cầu vay vốn, Ngân hàng mới xem xét đáp ứng Do đó phương thức cho vay này giúp Ngân hàng kiểm tra chặt chẽ được từng món vay, tính toán khả năng an toàn vốn cho Ngân hàng Cụ thể là đối với mỗi món vay Ngân hàng và

Ngày đăng: 31/10/2013, 04:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w