1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU

30 433 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Vấn Đề Lý Luận Cơ Bản Về Kế Toán Nghiệp Vụ Nhập Khẩu Hàng Hoá Trong Các Doanh Nghiệp Kinh Doanh Xuất Nhập Khẩu
Tác giả Vũ Phạm Quyết Thắng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Đối Ngoại
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 50,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhập khẩu có tác động trực tiếp đến sản xuất và kinh doanh thương mại vìqua hoạt động nhập khẩu nó có thể cung cấp cho nền kinh tế những hàng hóa,những nguyên vật liệu chính phục vụ cho

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH XUẤT

NHẬP KHẨU(XNK)

I Hoạt động nhập khẩu hàng hoá trong nền kinh tế hiện nay

I.1 Khái niệm và đặc điểm hoạt động nhập khẩu hàng hoá

I.1.1 Khái niệm.

Hoạt động kinh doanh XNK là một bộ phận của lĩnh vực lưu thông quốc tế, làcầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng trên phạm vi toàn thế giới Hoạt động kinhdoanh XNK chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của mọi quốc gia nhằm

để tạo điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá XNK, nhằm đáp ứng nhu câùsản xuất, tiêu dùng trong nước Như vậy có thể hiểu hoạt động nhập khẩu là hoạtđộng kinh doanh ngoại thương mà hàng hoá dịch vụ được quốc gia này mua củaquốc gia khác

Còn theo một số nhà kinh tế thì nhập khẩu là một hoạt động của thương mạiquốc tế nhằm bù đắp những hàng hoá,vật tư, nguyên liệu trong nước không có hoặcsản xuất chưa đủ hoặc sản xuất kém hiệu quả (PTS Vũ Phạm Quyết Thắng - Kinh tếđối ngoại Việt Nam, nội dung, biện pháp, hiệu quả)

Hoạt động nhập khẩu của nước ta hiện nay thực chất là hoạt động của thươngnhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài

I.1.2 Đặc điểm

Hoạt động nhập khẩu bao gồm các đặc điểm chủ yếu sau:

(1) Thời gian lưu chuyển hàng hoá: Thời gian lưu chuyển của hàng hoá nhậpkhẩu bao giờ cũng dài hơn so với lưu chuyển hàng hoá trong nội địa do phải thực hiên

2 giai đoạn mua hàng và bán hàng Cụ thể là mua hàng hoá của nước ngoài bán chothị trường nội địa Do đó để xác định kết quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu, ta

Trang 2

thường chỉ xác định khi hàng hoá nhập khẩu đã luân chuyển được một vòng hay khi

đã thực hiện xong 1 thương vụ ngoại thương

(2) Hàng hoá kinh doanh: Hàng hoá kinh doanh nhập khẩu bao gồm nhiềuloại nhưng chủ yếu vẫn là những mặt hàng mà trong nước chưa có, chưa sản xuấtđược hoặc chưa đáp ứng được nhu cầu về số lượng, chất lượng và thị hiếu nhưhàng tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng …

(3) Thời điểm giao nhận hàng và thời điểm thanh toán: thời điểm giao nhậnhàng nhập khẩu và thời điểm thanh toán thường không trùng nhau mà có khoảngcách dài

(4) Phương thức thanh toán: Phương thức thanh toán được sử dụng chủ yếutrong hoạt động kinh doanh nhập khẩu là phương thức thanh toán bằng thẻ tíndụng( Letter of credit-L/C) Ngoài ra, các phương thức khác cũng được sử dụngtrong giao dịch thanh toán như phương thức chuyển tiền (remittance), phương thứcghi sổ hay mở tài khoản (Open account), hay phương thức nhờ thu (collection ofpayment)…

(5) Tập quán pháp luật : Hai bên mua, bán có quốc tịch khác nhau, pháp luậtkhác nhau, tập quán kinh doanh khác nhau Do vậy, phải tuân thủ luật kinh doanhcũng như tập quán kinh doanh của từng nước và luật thương mại quốc tế

I.2.Vai trò hoạt động nhập khẩu.

Nhập khẩu có tác động trực tiếp đến sản xuất và kinh doanh thương mại vìqua hoạt động nhập khẩu nó có thể cung cấp cho nền kinh tế những hàng hóa,những nguyên vật liệu chính phục vụ cho sản xuất…

Thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển dịch cơcấu kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trang 3

Nhập khẩu đồng thời bổ sung những mặt mất cân đối của nền kinh tế, đảmbảo một sự phát triển cân đối và ổn định, khai thác đến mức tối đa mọi tiềm năngcủa nền kinh tế

Nhập khẩu tác động đến sự đổi mới trang thiết bị và công nghệ nhờ đó mà cóthể tăng năng suất, giảm giá thành và mang lại hệ số lợi nhuận cao

Nhập khẩu góp phần cải thiện nâng cao đời sống của nhân dân Nhập khẩuvừa thoả mãn nhu cầu của nhân dân về hàng tiêu dùng, vừa đảm bảo đầu vào chosản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao động

Nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy xuất khẩu, góp phần nâng cao chấtlượng sản xuất hàng xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi để hàng Việt Nam xuấtkhẩu ra nước ngoài

Mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước, cho phép tiêu dùng một lượnghàng hoá nhiều hơn mức sản xuất trong nước

Xoá bỏ sự độc quyền của các doanh nghiệp trong nước

Là cầu nối giữa nền kinh tế thị trường nội địa với nền kinh tế thị trường quốc

tế, góp phần phát huy lợi thế so sánh của đất nước

Nhập khẩu làm tăng khả năng tiêu thụ, đa dạng hoá mặt hàng, chủng loại, quycách cho phép thoả mãn tốt hơn nhu cầu trong nước Nhập khẩu tăng cường sựchuyển giao công nghệ tạo ra sự phát triển vượt bậc của nền sản xuất xã hội, tiếtkiệm được chi phí và thời gian Đồng thời nhập khẩu cũng tạo ra sự cạnh tranhgiữa hàng nội và hàng nhập khẩu, tức là tạo ra động lực buộc các nhà sản xuấttrong nước phải không ngừng vươn lên, thúc đẩy sản xuất trong nước

I.3 Các hình thức nhập khẩu

Có rất nhiều các hình thức nhập khẩu khác nhau như nhập khẩu trực tiếp,nhập khẩu uỷ thác, nhập khẩu liên doanh, nhập khẩu hàng đổi hàng nhập khẩu táixuất Song lựa chọn hình thức nhập khẩu nào là do mỗi doanh nghiệp tự quyết định

Trang 4

lựa chọn sao cho phù hợp với điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp mình để thuđược những kết quả cao nhất.

Trong thực tế hoạt động kinh doanh nhập khẩu, các nhà nhập khẩu thườngtiến hành chủ yếu theo hai hình thức là : nhâp khẩu trực tiếp và nhập khẩu uỷ thác

I.3.1 Nhập khẩu trực tiếp :

Hoạt động nhập khẩu trực tiếp là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanhnghiệp kinh doanh nhập khẩu trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trường trong nước vàquốc tế, tính toán chính xác chi phí, đảm bảo hiệu quả kinh doanh nhập khẩu, tuânthủ đúng chính sách luật pháp quốc gia và luật quốc tế Đối với hình thức này,doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trực tiếp làm các hoạt động tìm kiếm đối tác,đàm phán ký kết hợp đồng …và phải bỏ vốn để tổ chức kinh doanh nhập khẩu

*Đặc điểm:

Chủ thể thực hiện hành vi mua bán trong hoạt động nhập khẩu có quốc tịchkhác nhau và đối tượng mua bán cũng được di chuyển từ quốc gia này sang quốcgia khác Thị trường nhập khẩu rộng lớn phức tạp, khó kiểm soát, đồng tiền thanhtoán là động tiền ngoại tệ mạnh, hàng hoá phải vận chuyển qua biên giới, cưả khẩu.Khi sử dụng hình thức này, các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu phảihoàn toàn chịu trách nhiệm đối với các hoạt động kinh doanh của mình Để nhậpkhẩu trực tiếp, doanh nghiệp chịu mọi chi phí giao dịch, nghiên cứu thị trường,giao nhận, lưu kho, tiêu thụ hàng hoá, nộp thuế… Chính vì vậy, các doanh nghiệpcần thận trọng xem xét và cân nhắc trước khi tiến hành kinh doanh

Độ rủi ro của hoạt động nhập khẩu trực tiếp cao hơn hình thức nhập khẩu uỷthác nhưng lại có thể đạt lợi nhuận cao hơn Khi tiến hành nhập khẩu trực tiếp,doanh nghiệp chỉ lập một hợp đồng với bên nước ngoài còn hợp đồng bán hàngtrong nước sẽ được lập sau khi hàng về

Trang 5

I.3.2 Nhập khẩu uỷ thác.

Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động kinh doanh hình thành giữa một doanhnghiệp trong nuớc có vốn và ngoại tệ và có nhu cầu nhập khẩu một số loại hànghoá nhưng không có quyền hay cũng không có kinh nghiệm tham gia vào nhậpkhẩu trực tiếp đã uỷ thác cho doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch ngoạithương tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình Bên nhận uỷ thác phải tiếnhành đàm phán với nước ngoài để làm thủ tục nhập khẩu hàng theo yêu câù củabên uỷ thác và được nhận một phần thù lao gọi là phí uỷ thác

*Đặc điểm:

Doanh nghiệp trực tiếp nhập khẩu (bên nhận uỷ thác) không phải bỏ vốn,không phải xin hạn ngạch (nếu có ), không phải nghiên cứu thị trường tiêu thụhàng nhập khẩu mà chỉ đứng ra đại diện cho bên uỷ thác để tìm và giao dịch vớibạn hàng nước ngoài

Các doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp phải lập hai hợp đồng, một hợp đồngmua bán hàng hoá với bên nước ngoài, một hợp đồng với bên uỷ thác

Khi tiến hành nhập khẩu uỷ thác, doanh nghiệp nhận uỷ thác chỉ tính kimngạch nhập khẩu chứ không được tính doanh số, không được tính doanh thu

I.4 Các phương thức thanh toán trong kinh doanh nhập khẩu:

Mọi khoản chi trả phát sinh giữa các chủ thề thanh toán của các nước đượcdiễn ra thông qua một quy trình xử lý kỹ thuật các giấy tờ thanh toán, được gọi làphương thức thanh toán Trong bất kỳ hợp đồng ngoại thương nào, các bên xuấtnhập khẩu đều phải thoả thuận áp dụng một phương thức thanh toán cụ thể Từ đóđiều kiện về phương thức thanh toán sẽ điều chỉnh các quyền hạn và trách nhiệmcủa mỗi bên liên quan Phương thức thanh toán là điều kiện quan trọng bậc nhấttrong hoạt động mua bán thương mại Phương thức thanh toán quốc tế trong ngoạithương lại càng quan trọng và phức tạp hơn cả Trong buôn bán người ta có thể lựa

Trang 6

Ngân hàng mở L/C

Ngân hàng thông báo L/C(6)

(6)

(6)

(6) (6) (6) (6)

Các phương thức thanh toán cơ bản thường dùng trong kinh doanh xuất nhậpkhẩu bao gồm:

a Phương thức thanh toán bằng thư tín dụng( Letter of credit)

b Phương thức chuyển tiền (remitance Transfers)

c Phương thức ghi sổ (open account)

d Phương thức nhờ thu (collection of payment )

*Phương thức nhờ thu phiếu trơn (clean collection)

*phương thức nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collection)

a Phương thức thanh toán bằng thư tín dụng( Letter of credit)

Phương thức tín dụng thư là một sự thoả thuận trong đó một ngân hàng (Ngânhàng mở thư tín dụng - isuing bank) theo yêu cầu của một khách hàng (Người đềnghị mở thư tín dụng - applicant ) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác(Người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng- beneficiary ) hoặc chấp nhận hối phiếu

do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngânhàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tíndụng

*Quy trình thanh toán:

Trang 7

(1) Người nhập khẩu làm đơn xin mở thư tín dụng ( letter of credit) gửitới ngân hàng mở L/C cho người xuất khẩu hưởng.

(2) Căn cứ vào giấy xin mở L/C, ngân hàng mở L/C sẽ lập một L/C vàchuyển cho ngân hàng thông báo L/C

(3) Ngân hàng thông báo L/C

Sau khi nhận được L/C chuyển đến ngân hàng thông báo cho nhà xuất khẩubiết nội dung của L/C:

*Nếu L/C mở bằng thư thì ngân hàng thông báo chuyển bản gốc L/C chongười xuất khẩu

*Nếu L/C mở bằng điện thì ngân hàng thông báo phải chuyển nguyên văn bứcđiện của mình về L/C về L/C đó cho người xuất khẩu

(4) Giao hàng

Sau khi nhận được L/C người xuất khẩu phải kiểm tra kỹ những nội dung ghitrong L/C, đối chiếu với các thoả thuận trong hợp đồng ngoại thương Nếu thấyphù hợp và khớp đúng thì tiến hành giao hàng ngược lại, nếu thấy chưa phù hợp,

có nội dung cần sửa đổi hoặc bổ sung thì phải điện thông báo những nội dung đóđến tận người nhập khẩu Nếu người nhập khẩu điện trả lời đồng ý thì những nộidung sửa đổi, bổ sung mới có hiệu lực thi hành

(5) Yêu cầu thanh toán của người xuất khẩu:

Trang 8

Sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từthanh toán theo yêu cầu của L/C, xuất trình cho ngân hàng mở L/C thông qua ngânhàng thông báo xin thanh toán

(6) Ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ thanh toán

Nếu thấy phù hợp với L/C thì tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu.Nếu thấykhông phù hợp, ngân hàng từ chối thanh toán và trả lại bộ chứng từ thanh toán chongười xuất khẩu

(7) Ngân hàng mở L/C đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ hànghoá cho người nhập khẩu

(8) Người nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thìhoàn trả tiền cho ngân hàng Nếu thâý không phù hợp thì có quyền từ chối trả tiềncho ngân hàng

Như vậy, phương thức tín dụng thư là một phương thức thanh toán rất chặtchẽ về mặt thủ tục Trong phương thức này, ngân hàng không chỉ là một trung gianthanh toán mà còn là người có nghĩa vụ trả tiền nhà xuất khẩu trong thời gian hiệulực của L/C với số tiền tối đa bằng số tiền của L/C nếu nhà xuất khẩu trình được bộchứng từ thanh toán phù hợp với nội dung của L/C Vì vậy đây là phương thứcthanh toán đảm bảo chắc chắn quyền lợi cho người xuất khẩu Nhưng lại làm giảmhiệu quả sử dụng vốn của người nhập khẩu do họ phải ký quỹ tại ngân hàng để mởL/C nên vốn của nhà nhập khẩu bị ứ đọng

(b) Phương thức chuyển tiền( Remittance Transfers)

Là phương thức thanh toán đơn giản nhất Đó là phương thức mà người muayêu cầu ngân hàng chuyển số tiền nhập hàng cho người bán ở quốc gia khác theophương thức và địa chỉ mà người mua yêu cầu Phương thức thanh toán này

Trang 9

thường gồm: Thanh toán bằng điện, bằng thư thông qua hệ thống ngân hàng củahai nước có người mua và người bán Phương thức này có ưu điểm là thủ tục đơngiản, phí thanh toán thấp, được áp dụng cho thanh toán số tiền nhỏ

(c) Phương thức ghi sổ( Open account)

Là phương thức thanh toán mà cả người mua và người bán cùng mở sổ ghi.Theo thoả thuận, định kỳ người mua sẽ thanh toán cho người bán vào tài khoản đãđược mở của người bán Theo phương thức này, người mua và người bán có quan

hệ trực tiếp với nhau, không có sự tham gia của ngân hàng Nó thích hợp với hìnhthức tiêu thụ hàng đổi hàng( Xuất khẩu hàng hoá đổi lấy hàng nhập khẩu)

(d) Phương thức nhờ thu( Collection of Payment)

Là phương thức thanh toán mà ngời bán sau khi giao hàng xong hoặc sau khicung ứng một dịch vụ nào đó cho người mua, sẽ phát hành hối phiếu để đòi tiềnngười mua bằng cách uỷ thác cho ngân hàng thu hộ số tiền ghi trên hối phiếu

- Nhờ thu phiếu trơn: Là phương thức thanh toán trong đó người bán saukhi đã giao hàng, phát hành hối phiếu nhờ ngân hàng thu hộ, còn các chứng từ vềhàng hoá thì gửi trực tiếp cho người mua để nhận hàng

- Nhờ thu kèm chứng từ: Là phương thức thanh toán trong đó người bán

uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền của người mua không những căn cứ vào hốiphiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ mua hàng với điều kiện người mua trả tiềnngay hoặc chấp nhận trả thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ đó để người mua nhậnhàng

II Ý nghĩa và nhiệm vụ hạch toán kế toán nghiệp vụ nhập khẩu.

II.1 Ý nghĩa

Trang 10

Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh phức tạp từ khâu ký kết hợp đồng đến khâuthực hiện hợp đồng và thanh lý hợp đồng Trong đó cụ thể bao gồm công việc vậnchuyển và giao nhận hàng hóa, công tác thanh toán Nó liên quan đến nhiều yếu tốtrong nước và ngoài nước mà các doanh nghiệp kinh doanh XNK khó có thể kiểmsoát một cách chặt chẽ, toàn diện được Do vậy, kế toán hoạt động nhập khẩu đóngvai trò là công cụ quản lý, phục vụ đắc lực cho quản trị nội bộ và điều hành hoạtđộng kinh doanh có hiệu quả.

Kế toán nghiệp vụ nhập khẩu hàng hóa là việc ghi chép, theo dõi, phản ánh,giám đốc các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh kể từ khi tiến hành mua hàng,trả tiền hàng, thanh toán các khoản chi phí phát sinh liên quan cho đến khi hàng đãđược vận chuyển về kho hoặc được xuất gửi bán trực tiếp Việc tổ chức hợp lýcông tác kế toán nghiệp vụ nhập khẩu không chỉ đảm bảo công tác quản lý chặt chẽhoạt động nhập khẩu mà còn góp phần giúp cho toàn bộ hệ thống kế toán của cảdoanh nghiệp vận hành một cách nhịp nhàng ăn khớp và đạt hiệu quả cao

II.2 Nhiệm vụ

Hoạt động nhập khẩu là một hoạt động kinh doanh khá phức tạp, thể hiện sựvận động của tiền hàng và tài sản thông qua nhiều công đoạn và chịu ảnh hưởngcủa nhiều yếu tố, kế toán đóng vai trò tích cực để quản lý điều hành và kiểm soátcác hoạt động đó Muốn phát huy được vai trò của mình thì kế toán cần phải thựchiện những nhiệm vụ sau:

Thực hiện hạch toán kế toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo đúng chuẩnmực chế độ kế toán

Tuân thủ các nguyên tắc kế toán trong việc xác định giá trị hàng nhập khẩu,phản ánh đúng, trung thực, hợp lý

Tổ chức ghi chép một cách đầy đủ, kịp thời vào các sổ kế toán tổng hợp vàchi tiết nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá, nghiệp vụ thanh toán một cách hợp lý, phù

Trang 11

hợp với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp Qua đó, thực hiện kiểm tra tìnhhình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch, các hơp đồng nhập khẩu và uỷ thác nhậpkhẩu.

Thực hiện đầy đủ những chế độ quy định về quản lý tài chính, tín dụng,những nguyên tắc hạch toán ngoại tệ trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu, nhằmcung cấp các thông tin trung thực, làm cơ sở cho ban lãnh đạo ra quyết định hợp lýtrong công tác quản lý hoạt động kinh doanh

III Hạch toán tổng hợp nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá tại các doanh nghiệpkinh doanh XNK.

* Nguyên tắc hạch toán ngoại tệ: Trong thanh toán quốc tế, các đơn vị

thường phải dùng một loại tiền tệ nhất định của một nước nào đó Do đó, trong hợpđồng đều có quy định điều khoản tiền tệ dùng để thanh toán và thường dùng là cácngoại tệ chuyển đổi tự do, đồng thời có sức mạnh, có vị trí tập quán sử dụng vàđược thanh toán thống nhất trong các khu vực kinh doanh trên thế giới

Đơn vị tiền tệ sử dụng trong hạch toán kế toán là đồng Việt Nam Do vậy đểphản ánh đúng trị giá vật tư hàng hoá trong hoạt động kinh doanh XNK của cácdoanh nghiệp, đồng thời tạo thuận tiện cho doanh nghiệp trong công tác quản lý,công tác hạch toán kế toán của kế toán thì Bộ tài chính có hướng dẫn chuyển đổingoại tệ ra đồng Việt Nam sử dụng trong hạch toán kế toán trong doanh nghiệp(theo thông tư số 77/1998/TT- Bộ tài chính), như sau :

Đối với những doanh nghiệp phát sinh ngoại tệ ít thì được ghi sổ theo tỷ giáthực tế( TGTT) Còn đối với các doanh nghiệp phát sinh nhiều nghiệp vụ có liênquan đến ngoại tệ thì có thể dùng tỷ giá hạch toán( TGHT) để ghi sổ nhằm giảmnhẹ công việc ghi chép Khi dùng TGHT để ghi sổ phải theo nguyên tắc sau:

- Các tài khoản phản ánh về tiền như: TK 1112, 1122, 1132 phải ghi theoTGHT

Trang 12

- Các tài khoản phải thu như: TK 131, 136, 138, 331( dư Nợ) phải ghi theoTGHT.

- Các tài khoản phải trả như: TK 331, 336, 338, 311, 341, 315, 342, 131( dưCó) phải ghi theo TGHT

- Đối với các khoản chi phí sản xuất kinh doanh, mua sắm vật tư, tài sản,hàng hoá Các khoản doanh thu bán hàng, thu nhập các hoạt động khác và cáckhoản chi phí khác thì phải ghi theo TGTT tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ.Khoản chênh lệch giữa TGTT và TGHT được hạch toán vào Tk 413( Chênh lệch

tỷ giá)

- Số ngoại tệ ghi sổ phải quy đổi ra Việt nam đồng, đồng thời phải theo dõichi tiết theo từng loại nguyên tệ và được phản ánh vào TK007( Nguyên tệ), vàtrong đó đồng thời phải theo dõi riêng ngoại tệ tại quỹ tiền mặt và ngoại tệ gửi ởngân hàng

- Cuối kỳ căn cứ vào TGTT để điều chỉnh số dư cuối kỳ của các tài khoảnphản ánh vốn bằng tiền, các khoản phải thu, phải trả có gốc ngoại tệ theo TGTTtrước khi lập báo cáo tài chính

- Cuối kỳ phải xử lý chênh lệch tỷ giá trong kỳ và cuối kỳ theo chế độ tàichính quy định Cụ thể là:

Đối với số chênh lệch tỷ giá của ngoại tệ phát sinh trong kỳ thì được tính vàochi phí tài chính( hạch toán trên TK 635) hay thu nhập của hoạt động tài chính( hạchtoán trên TK 515) ( áp dụng theo chuẩn mực kế toán mới)

Đối với chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại số dư ngoại tệ cuối kỳ, kế toánkhông hạch toán vào TK 635, hay TK 515 mà để nguyên số dư khi lập báo cáo tàichính và đầu năm sau thì ghi bút toán ngược lại để xoá số dư

* Đặc điểm về tính giá hàng hoá nhập khẩu :

Trang 13

Hàng hoá nhập khẩu là hàng hoá nước ta mua của nước ngoài theo hợp đồng

ký kết giữa các thương nhân trong nước với nước ngoài Hàng nhập khẩu thườngnguyên đại, nguyên kiện, nguyên toa, nguyên tàu

Hàng hoá nhập khẩu trong kinh doanh xuất nhập khẩu theo qui định được tínhtheo giá thực tế, tương tự như hàng hoá kinh doanh nội địa Giá thực tế của hànghoá mua vào tuỳ thuộc vào từng nguồn hàng khác nhau cũng như tuỳ thuộc vào cácphương pháp tính thuế VAT mà các doanh nghiệp áp dụng Đối với các doanhnghiệp tính thuế VAT theo phương pháp khấu trừ thì trong giá mua không baogồm thuế VAT đầu vào; còn đối với doanh nghiệp tính thuế VAT theo phươngpháp thuế trực tiếp, trong giá mua bao gồm cả thuế VAT đầu vào

+ Thuế nhập

khẩu +

CP thu mua hàng hoá nhập khẩu

-Giảm giá hàng mua được hưởng

Giá mua hàng

nhập khẩu =

Trị giá ghi trên hợp đồng thương mại

x Tỷ giá thực tếcủa ngoại tệ

Như vậy, giá thực tế hàng hoá bao gồm hai bộ phận: trị giá mua (kể cả thuếphải nộp ) và chi phí thu mua Khi xuất kho, để tính giá thực tế của hàng hoá, kếtoán phải tách riêng 2 bộ phận trên để tính toán Đối với bộ phân trị giá mua, kếtoán có thể sử dụng một trong các phương pháp tính giá xuất kho giống như đốivới các doanh nghiệp kinh doanh thương mại nội địa( giá đơn vị bình quân, giánhập trước xuất trước, nhập sau xuất trước, giá hạch toán, giá trực tiếp lô hàng, mặthàng…).Đối với chi phí thu mua do liên quan đến cả lượng hàng đã tiêu thụ trong

kỳ và tồn kho cuối kỳ nên cần được tiến hành phân bổ cho cả hàng tiêu thụ và chưa

Trang 14

tiêu thụ Thông thường chi phí này sẽ được phân bổ theo doanh thu tiêu thụ trong

kỳ

Theo quy định giá nhập kho của hàng nhập khẩu bao gồm giá mua, các khoảnbảo hiểm, thuế nhập khẩu, chi phí vận chuyển phải trả nước ngoài…trọn gói để cóhàng phải hạch toán vào TK 156 (1561) Các chi phí phát sinh khác như vậnchuyển hàng nhập kho, chi phí bốc dỡ hàng nhập kho phải hạch toán vào TK 156(1562) ( nếu kiểm kê định kỳ thì hạch toán vào TK 6112 và chi tiết thành TK

61121 và TK 61122)

Nếu hàng hoá nhập khẩu nhập theo điều kiện giá CIF thì đối với vận chuyểnđường biển, thời điểm xác định hàng nhập khẩu tính từ ngày hải quan ký vào tờkhai hàng hoá nhập khẩu Còn đối với vận chuyển hàng không thì thời điểm xácđịnh hàng hoá nhập khẩu cũng là ngày hải quan sân bay ký vào tờ khai hàng hoánhập khẩu

III.1 Hạch toán nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá trong các doanh nghiệp kinh doanh XNK kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên III.1.1 Chứng từ sử dụng.

Các chứng từ sử dụng trong khâu nhập khẩu bao gồm cả nhập khẩu trực tiếp

Tờ khai hải quan về xuất nhập khẩu

Biên lai thu thuế

Phiếu nhập kho và một số chứng từ liên quan khác

Trang 15

+ Chứng từ trong thanh toán:

Hoá đơn thương mại (Invoice)

Hoá đơn GTGT

Giấy chứng nhận phẩm chất

Vận tải đơn (B/L)

Chứng từ bảo hiểm

Bảng kê đóng gói bao bì

Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá

Và một số chứng từ liên quan khác

III.1.2 Tài khoản sử dụng

Trên cơ sở các chứng từ đã hợp pháp, hợp lệ kế toán tiến hành tập hợp, phân loại

và tổ chức luân chuyển chứng từ đến các bộ phận có liên quan một cách khoa học,hợp lý Căn cứ vào các chứng từ này, kế toán thực hiện công việc hạch toán, phản ánhtrên các toài khoản liên quan Các tài khoản mà kế toán hoạt động nhập khẩu sử dụngtheo phương pháp kê khai thường xuyên là:

TK 151 - Hàng mua đang đi đường

Ngày đăng: 31/10/2013, 04:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Kế toán NK trực tiếp theo phương pháp kê khai thường xuyên - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU
Sơ đồ 1 Kế toán NK trực tiếp theo phương pháp kê khai thường xuyên (Trang 19)
Sơ đồ 3: Kế toán nghiệp vụ NK tại đơn vị UT theo phương pháp KKTX - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU
Sơ đồ 3 Kế toán nghiệp vụ NK tại đơn vị UT theo phương pháp KKTX (Trang 25)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w