1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu kỹ thuật sản xuất sản xuất giống tôm thẻ chân trắng (litopenaeus vannamei boone, 1931) tại công ty việt úc, nghệ an

70 47 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 2,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô tả chân thực về quy trình sản xuất tôm giống tại công ty TNHH Việt Úc – Nghệ An gồm: nguồn nước và xử lý nước phục vụ sản xuất, vệ sinh trại và chuẩn bị nước, kỹ thuật ương nuôi ấu tr

Trang 1

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đồ án do tôi thực hiện Số liệu nghiên cứu trong đồ án là trung thực đƣợc tôi tìm hiểu và đo đạc Kết quả nghiên cứu đƣợc tôi phân tích và đánh giá Các tài liệu trích dẫn trong luận văn là tài liệu đã đƣợc công bố, nguồn gốc tài liệu đƣợc ghi rõ ở phần Tài liệu tham khảo

Nha Trang, tháng 06 năm 2018 Sinh viên thực hiện

Võ Văn Giang

Trang 2

ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp này tôi nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ các thầy cô trường Đại học Nha Trang và các anh chị ở công ty Việt Úc – Nghệ An nơi tôi thực tập Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:

Các thầy cô trong Viện Nuôi trồng Thủy sản, trường Đại học Nha Trang và đặc biệt là thầy Châu Văn Thanh đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện đồ án

Trưởng phòng Kỹ thuật Nguyễn Trần Quân, các anh Trần Văn Mỹ, Võ Phong

Vũ, Võ Trọng Hải cùng các anh công nhân đã chia sẽ nhiều thông tin, kinh nghiệm, hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu

Cảm ơn các anh chị ở phòng Kiểm định chất lượng ấu trùng, phòng Nuôi sinh

khối tảo, phòng Trộn phát thức ăn, trại Ấp trứng Artemia, trại Xử lý nước đã cho tôi

được tìm hiểu, chia sẻ cho tôi nhiều thông tin

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và những người tôi yêu quý đã luôn bên tôi, ủng hộ tôi, tạo động lực để tôi hoàn thành tốt đồ án

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Nha Trang, tháng 06 năm 2018 Sinh viên thực hiện

Võ Văn Giang

Trang 3

iii

TÓM TẮT ĐỒ ÁN

Đồ án đã nêu lại tình hình nghiên cứu, sản xuất giống tôm thẻ chân trắng trên thế giới và Việt Nam trong những năm gần đây Mô tả chân thực về quy trình sản xuất tôm giống tại công ty TNHH Việt Úc – Nghệ An gồm: nguồn nước và xử lý nước phục vụ sản xuất, vệ sinh trại và chuẩn bị nước, kỹ thuật ương nuôi ấu trùng, thu hoạch đóng gói tôm postlarvae và vận chuyển, thực hiện an toàn sinh học và xử lý nước thải

từ khu sản xuất Sau cùng đưa ra nhận xét về những mặt tích cực và những vấn đề còn tồn tại trong hoạt động sản xuất tại công ty, đồng thời đưa ra những giải pháp và phương hướng cần thực hiện trong tương lai để nâng cao hiệu quả sản xuất

Trang 4

iv

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT ĐỒ ÁN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN 2

1.1 Đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng 2

1.1.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái 2

1.1.2 Đặc điểm phân bố, sinh thái và tập tính sống 3

1.1.3 Sự phát triển của ấu trùng 3

1.2 Các nghiên cứu gần đây về ấu trùng tôm thẻ chân trắng 5

1.3 Tình hình sản xuất giống tôm thẻ chân trắng trên thế giới và Việt Nam 8

1.3.1 Tình hình sản xuất giống tôm thẻ chân trắng trên thế giới 8

1.3.2 Tình hình sản xuất giống tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam 9

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 11

2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 11

2.3 Phương pháp nghiên cứu 11

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 11

2.3.2 Phương pháp xác định một số chỉ tiêu môi trường, tỷ lệ sống và kích thước ấu trùng tôm 12

2.3.3 Các công thức tính 13

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 13

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 14

3.1 Cơ sở vật chất và trang thiết bị của trại sản xuất tôm giống 14

3.2 Nguồn nước và xử lý nước phục vụ sản xuất 17

3.2.1 Công trình và thiết bị xử lý nước 17

3.2.2 Quy trình xử lý nước 18

3.2.3 Vệ sinh, thay thế công trình và trang thiết bị xử lý nước 19

3.3 Vệ sinh trại và chuẩn bị nước để sản xuất tôm giống 20

Trang 5

v

3.3.1 Vệ sinh trại ương 21

3.3.2 Chuẩn bị nước 21

3.4 Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng 24

3.4.1 Thuần dưỡng và thả nauplius 24

3.4.2 Chuẩn bị thức ăn sống cho ấu trùng 25

3.4.3 Nuôi cấy vi sinh xử lý môi trường nước ương ấu trùng tôm 29

3.4.4 Thức ăn và cách cho ăn 30

3.4.5 Chăm sóc và quản lý ấu trùng 32

3.4.6 Biến động một số yếu tố môi trường nước ao ương 38

3.4.7 Kết quả ương nuôi ấu trùng 41

3.4.8 Kiểm định chất lượng ấu trùng 42

3.5 Thu hoạch, đóng gói tôm poslarvae và vận chuyển 46

3.5.1 Thu hoạch 46

3.5.2 Đóng gói tôm postlarvae và vận chuyển 47

3.6 Thực hiện an toàn sinh học tại công ty 48

3.6.1 Kiểm soát mầm bệnh từ các dụng cụ, phương tiện 48

3.6.2 Kiểm soát mầm bệnh từ con người 48

3.7 Xử lý nước thải từ khu sản xuất 50

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51

4.1 Kết luận 51

4.2 Đề xuất ý kiến 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

PHỤC LỤC 56

Trang 6

vi

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Lưu lượng khí đi qua mỗi dây dẫn khí ở từng giai đoạn của ấu trùng 36 Bảng 3.2 Thời gian biến thái của ấu trùng tại 3 bể ương 2, 8, 9 41 Bảng 3.3 Tỷ lệ sống của ấu trùng tại 3 bể ương 2, 8, 9 42

Trang 7

vii

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Tôm thẻ chân trắng 2

Hình 1.2 Phân bố tôm thẻ chân trắng trên thế giới 3

Hình 1.3 Ruột trước của ấu trùng 5

Hình 1.4 Ấu trùng zoea bị hội chứng zoea 2 8

Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 11

Hình 3.1 Sơ đồ toàn bộ công ty 14

Hình 3.2 Sơ đồ trại ương tôm giống 15

Hình 3.3 Bể ương ấu trùng tôm 16

Hình 3.4 Nơi để các dụng cụ và thiết bị trong trại ương 16

Hình 3.5 Sơ đồ vị trí của các ao xử lý nước 17

Hình 3.6 Bể lắng và xử lý nước 17

Hình 3.7 Dụng cụ, thiết bị ở trại xử lý nước 18

Hình 3.8 Sơ đồ tóm tắt quy trình xử lý nước 19

Hình 3.9 Phơi túi lọc 20

Hình 3.10 Vệ sinh bể ương 21

Hình 3.11 Cấp nước ban đầu cho bể ương 22

Hình 3.12 Lò nâng nhiệt cho nước 23

Hình 3.13 Máy nâng nhiệt 24

Hình 3.14 Vị trí đặt thùng 220 lít để thuần dưỡng nauplius 25

Hình 3.15 Bình 20 lít dùng để nuôi cây tảo 26

Hình 3.16 Bể ấp trứng Artemia 27

Hình 3.17 Thu hoạch nauplius Artemia 28

Hình 3.18 Tách vỏ trứng Artemia 29

Hình 3.19 Nuôi cấy vi sinh trong bình 1 lít 30

Hình 3.20 Cà thức ăn 31

Hình 3.21 Bọt khí giữa hai bể ương 33

Hình 3.22 Cho ấu trùng ăn tảo tươi 34

Hình 3.23 Đo và điều chỉnh lưu lượng khí 36

Hình 3.24 Đồ thị biến động độ kiềm tại 3 bể ương 2, 8, 9 39

Hình 3.25 Đồ thị biến động hàm lượng amonia tổng số tại 3 bể ương 2, 8, 9 40

Hình 3.26 Đồ thị biến động hàm lượng NO2 tại 3 bể ương 2, 8, 9 41

Trang 8

viii

Hình 3.27 Thau đựng ấu trùng tôm để đánh giá tiêu chí phản xạ, bơi lội và hao hụt 44

Hình 3.28 Đo kích thước ấu trùng tôm 44

Hình 3.29 Gan tuỵ tôm có nhiều giọt dầu 45

Hình 3.30 Điều chỉnh độ mặn nước đóng gói tôm 47

Hình 3.31 Túi nilon dùng để đóng gói tôm postlarvae 47

Hình 3.32 Đóng gói tôm postlarvae 48

Hình 3.33 Nhà an toàn sinh học 49

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

Nước ta có hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường biển dài rất thuận lợi phát triển hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản Sản lượng thủy sản Việt Nam đã duy trì tăng trưởng liên tục trong 17 năm (tính đến năm 2017) qua với mức tăng bình quân

là 9,07 %/năm Sản lượng nuôi trồng thủy sản năm 2017 ước đạt 3.858 ngàn tấn, tăng 5,5% so với năm 2016 Riêng ngành tôm, năm 2017 sản lượng tôm nước lợ đạt 683,4 nghìn tấn, tăng 4% so với năm 2016, trong đó sản lượng tôm chân trắng 427 nghìn tấn, tăng 8,5% so với năm 2016 [28]

Đối với tôm thẻ chân trắng thì chất lượng nguồn tôm giống đang là vấn đề đáng báo động Tổng lượng tôm giống đã qua kiểm dịch chưa cao, tôm bố mẹ gần như phụ thuộc phần lớn vào nước ngoài Việc quản lý của nhà nước về tôm giống còn nhiều bất cập ngay từ khâu nhập khẩu tôm thẻ chân trắng bố mẹ Số lượng tôm bố mẹ nhập nội, kích cỡ tôm bố mẹ, số lần đẻ của tôm mẹ chưa được theo dõi và báo cáo cụ thể

Ngoài ra, những khó khăn về chính sách thuế vẫn đang là rào cản đối với các

doanh nghiệp ngành tôm Đáng nói nhất là mặt hàng trứng Artemia, kể từ tháng

08/2016 mặt hàng này phải chịu thuế nhập khẩu là 3%, đồng nghĩa với chi phí cho sản xuất giống tôm cao hơn

Chủ động được nguồn tôm bố mẹ trong nước, kết hợp với sử dụng chế phẩm vi sinh và thực hiện tốt các biện pháp an toàn sinh học là giải pháp ưu tiên hàng đầu để nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng con giống

Ưu tiên thực hiện các giải pháp trên, ra đời và hoạt động năm 2015, công ty TNHH Việt Úc – Nghệ An là cơ sở sản xuất tôm giống hàng đầu Nghệ An và khu vực Bắc Trung Bộ, là địa chỉ cung cấp tôm giống tin cậy của bà con nông dân

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, Viện Nuôi trồng Thuỷ sản đã phân công tôi thực

hiện đề tài: “Tìm hiểu kỹ thuật sản xuất giống tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei Boone, 1931) tại công ty Việt Úc – Nghệ An” với các nội dung sau:

1 Tìm hiểu cơ sở vật chất và trang thiết bị của trại sản xuất tôm giống;

2 Vệ sinh trại và chuẩn bị nước để sản xuất tôm giống;

3 Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng tôm

Trang 10

2

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng

1.1.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái

Vị trí phân loại: tôm thẻ chân trắng là loài thuộc hệ thống phân loại sau

Tên tiếng Anh: Pacific whiteleg shrimp, whiteleg shrimp

Tên tiếng Việt: tôm chân trắng, tôm thẻ chân trắng, tôm he chân trắng

Đặc điểm hình thái

Về màu sắc, Tôm thẻ chân trắng có màu trắng mờ đặc trưng Chúng còn có thể

có màu xanh khi cơ thể có nhiều sắc tố xanh tập trung ở đốt bụng cuối và đốt đuôi

Các màu sắc khác được thể hiện trong trường hợp thiết hụt dinh dưỡng Chân của L vannamei thường có màu trắng, nên cũng được gọi là tôm chân trắng [24]

Về hình thái, dưới chùy tôm có 2 – 4 răng cưa (chùy là phần kéo dài tiếp với bụng), đôi khi có 5 – 6 răng cưa ở phía bụng Vỏ đầu ngực có những gai gân và gai râu rất rõ, không có gai mắt và gai đuôi, không có rãnh sau mắt, đường gờ sau chùy khá dài đôi khi từ mép sau vỏ đầu ngực Gờ bên chùy ngắn, chỉ kéo dài tới gai thượng

vị Có 6 đốt bụng, ở đốt mang trứng rãnh bụng rất hẹp hoặc không có Telson (gai đuôi) không phân nhánh Râu không có gai phụ và chiều dài râu ngắn hơn nhiều so với

vỏ giáp Xúc biện của hàm dưới thứ nhất thon dài và thường có 3 – 4 hàng, phần cuối

Hình 1.1 Tôm thẻ chân trắng [29]

Trang 11

3

của xúc biện có hình roi Gai gốc (basial) và gai ischial nằm ở đốt thứ nhất chân ngực [27]

1.1.2 Đặc điểm phân bố, sinh thái và tập tính sống

Litopenaeus vannamei sống ở vùng biển nhiệt đới, được tìm thấy nhiều ở vịnh

Panama Phạm vi phân bố tự nhiên ở ven bờ phía đông Thái Bình Dương từ Sonora, Mê–xi–cô về phía nam Tumbes, Pê–ru [24] Các nước nuôi tôm thẻ chân trắng chính bao gồm: Trung Quốc, Thái Lan, In–đô–nê–si–a, Bra–xin, Ê–cu–a–đo, Mê–xi–cô, Vê–nê–zu–ê–la, Ôn–đu–rát, Goa–tê–ma–la, Ni–ca–ra–goa, Bê–li–xê, Việt Nam, Ma–lai–xi–a, Đài Loan, quần đảo Thái Bình Dương, Pê–ru, Cô–lôm–bi–a, Cô–xta–ri–ca, Pa–na–ma, En Xan–va–đo, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Phi–líp–pin, Cam–pu–chia, Xu–ri–nam, Saint Kitts, Gia–mai–ca, Cu–ba, Đô–mi–ni–ca–na, Ba–ha–mát [23]

Tôm thẻ chân trắng có khả năng thích nghi với độ mặn từ 0,5 – 45‰, thích hợp

là từ 7 – 34‰ và tăng trưởng tốt ở độ mặn khá thấp từ 10 – 15‰ Tôm thẻ chân trắng

có khả năng thích nghi với giới hạn rộng về nhiệt độ từ 15 – 33°C và nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển là từ 23 – 30°C Trong vùng biển tự nhiên, tôm thẻ chân trắng ở nơi có đáy cát bùn, độ sâu nhỏ hơn 72 m, tôm trưởng thành phần lớn sinh sống

ở ven biển gần bờ, tôm con phân bố nhiều ở vùng gần sông – nơi giàu chất dinh dưỡng Tôm thẻ chân trắng trưởng thành có tập tính ban ngày vùi mình trong bùn và đi kiếm ăn vào ban đêm [11]

1.1.3 Sự phát triển của ấu trùng

Hình 1.2 Phân bố tôm thẻ chân trắng trên thế giới [24]

Trang 12

4

Ấu trùng tôm thẻ chân trắng nói riêng và ấu trùng tôm he nói chung đều trải qua nhiều lần lột xác và biến thái hoàn toàn và gồm các giai đoạn sau:

Giai đoạn nauplius trải qua sáu lần lột xác gồm sáu giai đoạn phụ (Tuy nhiên, có

một trích dẫn trong nghiên cứu của Huỳnh Phước Vinh (2017) cho rằng nauplius L vannamei có 5 giai đoạn phụ [13]) Ấu trùng nauplius gồm 3 đôi phần phụ và 1 điểm

mắt Đôi phần phụ thứ nhất không phân nhánh, làm mầm của đôi râu 1 Hai đôi phần phụ thứ 2, thứ 3 phân hai nhánh, là mầm của đôi râu 2 và đôi hàm 1 Trên phần phụ có nhiều lông cứng Ấu trùng nauplius bơi lội bằng ba đôi phần phụ, vận động theo kiểu zíc zắc, không định hướng và không liên tục Chúng chưa ăn thức ăn ngoài mà dinh dưỡng bằng noãn hoàng dự trữ Cuối nauplius 6 hệ tiêu hóa mới bắt đầu hoạt động Giai đoạn zoea có 3 giai đoạn phụ: zoea 1, zoea 2, zoea 3 Zoea 1 thay đổi hẳn về hình thái so với giai đoạn nauplius Cơ thể zoea 1 kéo dài, chia làm hai phần: phần đầu

có vỏ giáp đính lỏng lẻo, phần sau gồm 5 đốt ngực và một phần bụng chưa phân đốt có chạc đuôi Zoea 1 chưa có chủy đầu, mắt đã có sự phân chia rõ nhưng dính sát nhau tạo thành một khối, chưa có cuống mắt Zoea 2 có chủy đầu, hai mắt kép có cuống mắt tách rời, phần bụng đã chia thành 4 đốt Zoea 3 có phần đầu và phần ngực kết hợp tạo thành phần đầu ngực và được che phủ bởi giáp đầu ngực Ở mặt bụng cuối phần đầu ngực xuất hiện mầm 5 đôi chân ngực Phần bụng có 7 đốt bao gồm 6 đốt bụng và 1 chạc đuôi, đốt bụng 6 dài, có mầm chân đuôi

Ấu trùng zoea bơi lội nhờ hai đôi râu (đôi 1 phân đốt, đôi 2 phân nhánh kép) và 3 đôi chân hàm phân nhánh Chúng bơi lội liên tục có định hướng, thẳng về phía trước

Ấu trùng zoea bắt đầu ăn thức ăn ngoài, thức ăn chủ yếu là thực vật nổi với hình thức

ăn lọc Ở giai đoạn này ấu trùng ăn mồi liên tục, ruột luôn đầy thức ăn và thải phân liên tục tạo thành đuôi phân kéo dài phía sau Vì vậy khi nuôi ấu trùng zoea, thức ăn cần được cung cấp đạt mật độ thích hợp đảm bảo cho việc lọc thức ăn của ấu trùng Ngoài hình thức ăn lọc ấu trùng zoea vẫn có khả năng bắt mồi ăn được các động vật

nổi kích thước nhỏ (nauplius của Artemia, luân trùng, ), đặc biệt vào cuối zoea 2 và

zoea 3 Mỗi giai đoạn phụ của ấu trùng zoea thường kéo dài khoảng 30 – 42 giờ, trung bình 36 giờ ở nhiệt độ 28 – 29°C

Giai đoạn mysis gồm 3 giai đoạn phụ: mysis 1, mysis 2, mysis 3 Chân đuôi của mysis phát triển dài bằng mấu đuôi, nhánh ngoài của anten 2 bắt đầu dẹp để hình thành vẩy râu, cơ thể cong gập Mysis sống trôi nổi, có đặt tính treo mình trong nước, đầu

Trang 13

5

chúc xuống dưới Ấu trùng mysis bơi lội kiểu búng ngược, vận động chủ yếu nhờ vào

5 đôi chân bò Các giai đoạn phụ của mysis có thể phân biệt nhanh dựa vào sự hình thành mầm chân bụng: mysis 1: đầu mysis 1 chưa có mầm chân bụng, cuối mysis 1 mầm chân bụng bắt đầu hình thành Mysis 2 mầm chân bụng có 1 đốt Mysis 3 mầm chân bụng có 2 đốt Mysis bắt mồi chủ động, thức ăn chủ yếu là động vật nổi Tuy nhiên, chúng vẫn có thể ăn tảo sillic đặc biệt ở giai đoạn phụ mysis 1 và mysis 2 Thời gian chuyển giai đoạn của mysis gần giống như giai đoạn zoea

Giai đoạn postlarvae, ở giai đoạn này ấu trùng có hình dạng của loài nhưng sắc tố chưa hoàn thiện, nhánh trong anten 2 chưa kéo dài Postlarvae bơi thẳng có định hướng về phía trước, bơi lội chủ yếu nhờ 5 đôi chân bụng Postlarvae hoạt động nhanh nhẹn, bắt mồi chủ động, thức ăn chủ yếu là động vật nổi [8]

1.2 Các nghiên cứu gần đây về ấu trùng tôm thẻ chân trắng

Nghiên cứu về đặc điểm hình thái giải phẫu

Ruột trước ấu trùng zoea L vannamei có cấu tạo đơn giản, cơ quan lọc chưa phát

triển Ở giai đoạn mysis cơ quan lọc phát triển hơn Ở giai đoạn postlarvae phát sinh

rãnh và một bên răng lọc nhỏ [12]

Nghiên cứu về ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng

Trong ương nuôi ấu trùng giai đoạn zoea dùng thức ăn tảo tươi Chaetoceros kết

hợp với thức ăn tổng hợp (Lansy, Frippak, Tảo khô, ET – 800) cho tỷ lệ sống (52%) cao hơn so với chỉ dùng thức ăn tổng hợp (28,6%) [5]

Sử dụng tảo Chaetoceros calcitrans bổ sung làm thức ăn tươi cho ấu trùng tôm

thẻ chân trắng giai đoạn nauplius đến mysis 3 nâng cao được chất lượng và tỷ lệ sống của ấu trùng từ 42% (tỷ lệ sống của nghiệm thức đối chứng chỉ sử dụng thức ăn tổng hợp) lên 76% [6]

Sử dụng tảo Chaetoceros để làm thức ăn tươi cho giai đoạn zoea là hiệu quả hơn

sử dụng tảo Tetraselmis Tỷ lệ sống (66,63%) và tốc độ tăng trưởng về chiều dài (3,17

Hình 1.3 Ruột trước của ấu trùng: a) ruột trước của ấu trùng zoea; b) ruột trước của ấu trùng mysis; c) ruột trước của ấu trùng postlarvae [12]

Trang 14

Loài giun tròn Panagrolaimus sp đã được thử nghiệm làm thức ăn sống để thay thế nauplius Artemia trong giai đoạn ấu trùng của tôm thẻ chân trắng Kết quả thu được cho thấy giun tròn Panagrolaimus sp có thể thay thế hoàn toàn nauplius Artemia

từ zoea 2 đến postlarvae 6 [21]

Nghiên cứu về liều lượng bổ sung chất khoáng (Chất khoáng dạng dung dịch được bổ sung trực tiếp vào bể ương có thành phần: Sodium dihydrogen phosphate (288.000 – 352.000 mg), Calcium dihydrogen phosphate (16.920 – 20.680 mg), Manganesium hydrogen phosphate (11.880 – 14.520 mg), Manganesr hydrogen phosphate (3.960 – 4.840 mg), Zinc dihydrogen phosphate (3.384 – 4.136 mg), Copper dihydrogrn phosphate (675 – 825 mg), Cobalt dihydrogen phosphate (41,4 – 50,6 mg)) thích hợp cho sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng và hậu ấu trùng tôm thẻ chân trắng cho kết quả: tỷ lệ sống và sự tăng trưởng chiều dài của postlarvae 15 có bổ sung chất khoáng với liều lượng 60 ml/m3 là lớn nhất [3]

Nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố môi trường

Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện ánh sáng đến hoạt động bắt mồi Artemia

đông lạnh của ấu trùng tôm thẻ chân trắng cho thấy: hoạt động bắt mồi của postlarvae

5 là giảm trong điều kiện thiếu sáng, trong khi đó postlarvae 10, 20, 30 hoạt động bắt mồi của ấu trùng không bị ảnh hưởng bởi điều kiện thiếu sáng [18]

Nghiên cứu về ảnh hưởng của ánh sáng mặt trời đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm thẻ chân trắng đạt kết quả: ánh sáng ảnh hưởng tích cực đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm Ở nghiệm thức được chiếu sáng bằng ánh sáng mặt trời chiều dài toàn thân ấu trùng (tại giai đoạn postlarvae 10) đạt trung bình 9,89 mm; tỷ lệ sống đạt 48% cao hơn nhiều so với nghiệm thức phủ bạt đen che sáng (chiều dài toàn thân trung bình 9,68 mm, tỷ lệ sống 37%) [17]

Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và độ mặn đến sự tồn tại và phát triển của ấu trùng cho thấy: tỷ lệ sống sót đạt tối đa là 82,2% (tại giai đoạn postlarvae 1) ở nhiệt độ

Trang 15

7

30°C và độ mặn 30‰, tiếp theo là 30 – 35°C độ mặn 25‰ tỷ lệ sống lần lượt là 71,5%

và 71,6% Ấu trùng phát triển kém nhất ở nhiệt độ 25°C vớt bất kể độ mặn nào [14] Nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ và độ mặn đến thời gian biến thái và tỷ lệ

sống của ấu trùng tôm thẻ chân trắng ở giai đoạn zoea và mysis cho thấy: độ mặn 35‰

cho kết quả thời gian biến thái dài nhất và tỷ lệ sống thấp nhất, thời gian biến thái và tỷ

lệ sống của ấu trùng giai đoạn zoea và mysis của tôm thẻ chân trắng đạt kết quả tốt nhất khi ương nuôi ở mật độ 100 con/lít và kém nhất ở mật độ 300 con/lít, độ mặn

28‰ và độ mặn 32‰ kết hợp với mật độ 200 con/lít cho hiệu quả cao nhất [7]

Nghiên cứu ảnh hưởng của pH và độ kiềm lên sự sinh trưởng và tỷ lệ sống trong ương nuôi ấu trùng tôm thẻ chân trắng cho thấy: giá trị pH từ 7,0 – 8,5 ấu trùng tôm thẻ chân trắng đến giai đoạn postlarvae 10 có sự tăng trưởng và tỷ lệ sống đạt cao nhất (chiều dài của ấu trùng từ 7,6 – 7,8 mm; tỷ lệ sống từ 57,0 – 60,3%), ở pH cao (9,0 ± 0,5) cho tỷ lệ sống của ấu trùng thấp nhất là 13,2% Chiều dài trung bình của ấu trùng giai đoạn postlarvae 10 cao nhất ở độ kiềm nằm trong khoảng từ 135 – 145 mg CaCO3/lít là 8,4 mm và tỷ lệ sống là 40,6% Nghiên cứu đã đưa ra kết luận: giá trị pH thích hợp nhất cho sự sinh trưởng và phát triển của tôm thẻ chân trắng là 7,0 – 8,5 và

độ kiềm là 120 – 145 mg CaCO3/lít [4]

Nghiên cứu về mức nước thích hợp trong bể ương ứng dụng công nghệ Bio – floc đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm thẻ chân trắng (ương từ giai đoạn postlarvae 12) cho kết quả: ở mức nước 80 cm thì khả năng hình thành bio – floc, tăng trưởng và

tỷ lệ sống của ấu trùng tôm là tốt nhất [2]

Nghiên cứu về khả năng chống chịu của ấu trùng tôm thẻ chân trắng với amonia tổng số (TAN) cho kết quả: nồng độ gây chết trung bình (LC50, 24 giờ) đối với TAN

ở zoea 1 – 2 – 3, mysis 1 – 2 – 3 và postlarvae 1 tương ứng là 4,2 – 9,9 – 16,0; 19,0 – 17,3 – 17,5 và 13,2 mg/lít – TAN (tương ứng với 0,6 – 1,5 – 2,4; 2,8 – 2,5 – 2,6 và 1,9 mg/lít – NH3 – N) Các giá trị LC50 thu được trong nghiên cứu này cho thấy giai đoạn zoea và postlarvae nhạy cảm hơn với phơi nhiễm amonia trong 24 giờ so với giai đoạn mysis Trên cơ sở mức độc tính amonia (LC50, 24 giờ) Tác giả khuyến cáo nên duy trì mức TAN nhỏ hơn 0,42 mg/lít (tương đương 0,06 mg/lít NH3 – N) để giảm độc tính amonia trong quá trình ương giống tôm thẻ chân trắng [15]

Nghiên cứu về bệnh ở ấu trùng

Trang 16

8

Vi khuẩn Vibrio harveyi được phân lập từ mẫu bệnh trên ấu trùng tôm, chúng

gây bệnh trên tôm khi mật độ đạt 105 tế bào/ml trong vòng hai giờ Những biểu hiện của bệnh gồm: làm ấu trùng phát sáng, ấu trùng giảm ăn và phát triển chậm, bơi chậm chạp, thoái hóa mô gan tụy, hoại tử và giảm tỷ lệ sống [19]

Hội chứng Zoea 2 được báo cáo từ những năm 1990, gây thiệt hại đáng kể ở các trại ương giống Ấn Độ Đặc trưng của hội chứng Zoea 2: ấu trùng ngừng ăn, kéo dài thời gian chuyển giai đoạn và tỷ lệ tử vong cao Nguyên nhân được cho là do sự suy

giảm của hệ tiêu hóa dẫn đến dinh dưỡng kém, vi khuẩn Vibrio alginolyticus được

xem là có liên quan đến hội chứng Zoea 2 [20]

1.3 Tình hình sản xuất giống tôm thẻ chân trắng trên thế giới và Việt Nam 1.3.1 Tình hình sản xuất giống tôm thẻ chân trắng trên thế giới

Nhiều nước: Mỹ, Cu–ba, Bra–xin, Mê–xi–cô, Cô–lôm–bi–a, Úc, Thái Lan, Xin–ga–po,… đã thực hiện chương trình chọn giống để đã tạo ra các dòng tôm sinh trưởng nhanh, sạch bệnh, kháng bệnh nguy hiểm dựa trên các phương pháp truyền thống kết hợp với công nghệ sinh học phân tử Những năm gần đây, các nước như Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan đã ứng dụng và nhập công nghệ này nhằm tạo ra được các dòng tôm chất lượng cao phù hợp với vùng nuôi và điều kiện tự nhiên ở châu Á Công nghệ sản xuất tôm chân trắng sạch bệnh (SPF) đã tiếp tục được hoàn thiện để sản xuất giống chất lượng phục vụ nuôi thương phẩm như Hiện nay có 3 hướng lớn trong chương trình chọn giống tôm thẻ chân trắng được các quốc gia quan tâm là: i) chọn tạo được dòng tôm có tính trạng tăng trưởng vượt trội, ii) có khả năng kháng bệnh cao,và iii) không bị nhiễm các tác nhân gây bệnh nguy hiểm thường gặp (Wyban, 1996;

Hình 1.4 Ấu trùng zoea bị hội chứng Zoea 2 (ảnh D); zoea bình thường (ảnh

C)

Trang 17

9

1997) Mục tiêu của chương trình này là sản xuất ra các dòng tôm không bị nhiễm các tác nhân đã nêu trên, đảm bảo đa dạng di truyền, tránh cận huyết và cải thiện tốc độ tăng trưởng Có thể liệt kê các chương trình chọn giống tôm thẻ chân trắng chính hiện nay là: Chương trình nghiên cứu chọn giống tôm thẻ chân trắng tại Viện Hải Dương Hawaii (The Oceane Insitute Hawaii–OI), Chương trình nghiên cứu chọn giống tôm thẻ chân trắng của SyAqua (Mỹ), Chương trình quản lý nguồn giống tôm của Tổ chức thú y thế giới (OIE), chương trình sản xuất tôm thẻ chân trắng sạch bệnh tại Trung tâm giống Vannamei (VBC)–Indonesia [10]

1.3.2 Tình hình sản xuất giống tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam

Tính đến hết tháng 05/2013, cả nước có 1.425 cơ sở sản xuất giống tôm sú và

103 cơ sở sản xuất giống tôm thẻ chân trắng Với sản lượng giống ước trên 23,5 tỷ con (trong đó tôm sú 15 tỷ và tôm thẻ chân trắng 8,5 tỷ) Tập trung chủ yếu tại các tỉnh Nam Trung bộ; Trong đó Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên chiếm khoảng 40% – khoảng 623 trại, sản lượng giống tôm nước lợ ở khu vực này chiếm khoảng 70% Ngoài ra, các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang cũng cung cấp cho thị trường một lượng lớn tôm giống [26]

Năm 2014, cả nước có 316 cơ sở sản xuất giống tôm thẻ chân trắng sản lượng là 47,2 tỷ con [30]

Năm 2015, cả nước có 510 cơ sở sản xuất giống tôm thẻ chân trắng, tổng công suất/nhu cầu giống hằng năm là 100 tỷ con giống 100% số tôm thẻ chân trắng bố mẹ vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài (khoảng 190 – 270 nghìn con/năm) [25]

Tính đến hết tháng 05 năm 2016, cả nước có 510 cơ sở sản xuất giống tôm thẻ chân trắng sản lượng là 28,8 tỷ con [30]

Tính đến hết tháng 03 năm 2017, cả nước có 566 cơ sở sản xuất giống tôm thẻ chân trắng, nhu cầu con giống tôm thẻ chân trắng trong thời gian tới là 100 tỷ con giống, tương ứng với 200.000 cặp tôm bố mẹ [10]

Đối với tôm thẻ chân trắng hiện nay chưa làm chủ công nghệ chọn tạo đàn bố

mẹ, hơn 90% giống tôm thẻ chân trắng bố mẹ phải nhập khẩu Tôm bố mẹ chân trắng chủ yếu được nhập khẩu từ: ISI (Mỹ), SIS (Xin–ga–po), Conabay (Mỹ) và C.P (Thái Lan) Ngoài ra, những khó khăn về chính sách thuế vẫn đang là rào cản đối với các

doanh nghiệp ngành tôm Các doanh nghiệp nhập khẩu trứng Artemia trong nhiều năm qua đang đứng trước nguy cơ bị truy thu thuế nhập khẩu Trứng Artemia là một sản

Trang 18

10

phẩm thức ăn đặc biệt dùng trong sản xuất giống tôm nhằm nâng cao chất lượng tôm giống, được các doanh nghiệp nhập khẩu về để phục vụ cho việc nuôi tôm xuất khẩu

và cung ứng cho thị trường trong nước Theo Thông tư 98/2016/TT–BTC ban hành

ngày 29/06/2016 của Bộ Tài chính, kể từ ngày 13/08/2016, mặt hàng trứng Artemia

nhập khẩu làm thức ăn thủy sản sẽ phải chịu thuế nhập khẩu là 3% Việc các doanh nghiệp bi truy thu thuế nhâp khẩu sẽ tác động đến giá bán tôm giống với mức tăng khoảng 10 – 15% [9]

Trang 19

11

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: công ty TNHH Việt Úc – Nghệ An, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Thời gian nghiên cứu từ ngày 13/02/2018 đến ngày 25/06/2018

Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu là tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei (Boone, 1931)

2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

Tìm hiểu kỹ thuật sản xuất giống tôm thẻ chân trắng (Litopeneus

vannamei Boone, 1931) tại công ty Việt Úc – Nghệ An

Cơ sở vật chất và

trang thiết bị sản

xuất giống

Vệ sinh trại và chuẩn bị nước

Kỹ thuật ương nuôi

độ nước

Thuần dưỡng

và thả nauplius

Chuẩn

bị thức

ăn sống cho ấu trùng

Chăm sóc và quản lý

ấu trùng

Kết luận và đề xuất

Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Trang 20

12

Số liệu sơ cấp được lấy từ quá trình trực tiếp tham gia vào các hoạt động sản xuất, theo dõi các yếu tố môi trường bằng dụng cụ đo, tìm hiểu thông tin thêm từ các anh chị công nhân – kỹ thuật trại ương tôm giống, trại nuôi cấy tảo, trại ấp trứng

Artemia; các anh chị phòng kiểm định chất lượng và các anh chị ở trại xử lý nước

Số liệu thứ cấp được lấy từ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, tài liệu, tạp chí, trang web

2.3.2 Phương pháp xác định một số chỉ tiêu môi trường, tỷ lệ sống và kích thước

ấu trùng tôm

Các chỉ tiêu môi trường được đo là: nhiệt độ, độ mặn, pH, độ kiềm, hàm lượng amonia tổng số, hàm lượng NO2 trong đó:

Nhiệt độ được đo bằng nhiệt kế thuỷ ngân, có độ chính xác là ± 1°C Thời gian

đo vào lúc 7 giờ và 14 giờ hằng ngày

Độ mặn được đo bằng khúc xạ kế Master – S/MillM, có độ chính xác là ± 1‰ Thời gian đo vào lúc 14 giờ hằng ngày

Độ pH được đo bằng bộ kiểm tra pH C.P, có độ chính xác là ± 0,1 mg/lít Thời gian đo vào lúc 7 giờ và 14 giờ hằng ngày

Độ kiềm được đo bằng chuẩn độ kiềm Việt Úc, có độ chính xác là ± 2 mg CaCO3/lít Thời gian đo vào lúc 14 giờ hằng ngày

Hàm lượng amonia tổng số được đo bằng bộ kiểm tra NH3 C.P, có độ chính xác

là ± 0,1 mg/lít Thời gian đo vào lúc 14 giờ hằng ngày

Hàm lượng NO2 được đo bằng bộ kiểm tra NO2 C.P, có độ chính xác là ± 0,1 mg/lít Thời gian đo vào lúc 14 giờ hằng ngày

Lưu lượng khí được đo bằng dụng cụ đo lưu lượng khí Omega, có độ chính xác

là ± 1 lít/phút

Tính tỷ lệ sống, sau khi ấu trùng chuyển gần hết sang giai đoạn mới thì lấy mẫu

để tính tỷ lệ sống của ấu trùng Thời gian lấy mẫu cách khoảng hơn 1 giờ sau lần cho

ăn để đảm bảo ấu trùng phân bố đồng đều hơn Ở giai đoạn zoea lấy mẫu bằng cách dùng ly 330 ml, lấy tại 3 vị trí của bể (hai đầu của bể và chính giữa bể), lấy ngẫu nhiên

và tránh vị trí bọt khí nổi lên nhiều Ở giai đoạn mysis và postlarvae dụng cụ lấy mẫu

là ống nhựa PVC đường kính 21 mm, dài 1,6 m một đầu để trống, một đầu được gắn với van khoá Lấy mẫu bằng cách mở van khoá, cầm ống PVC ở phương thẳng đứng, đầu trống của ống ở dưới và đầu có gắn van khoá ở trên Sau đó, đưa nhanh ống xuống

Trang 21

13

nước đến khi chạm đáy bể ương, khoá van lại nhấc ống lên cho mẫu vào một thau Lấy mẫu tại 3 vị trí của bể như giai đoạn zoea Lấy mẫu xong cho chung vào một thau, đem thau cân lên cân tiểu ly để tính số cân nước và chuyển đổi sang thể tích của nước, đếm số lượng ấu trùng có trong mẫu Từ đó, tính được tỷ lệ sống của ấu trùng

Đo kích thước ấu trùng tôm ở giai đoạn zoea và giai đoạn mysis bằng thước kính hiển vi có độ chính xác là ± 10 µm, ở giai đoạn postlarvae kích thước ấu trùng tôm được đo bằng thước kẹp Mitutoyo có độ chính xác là ± 0,01 mm Mỗi lần đo 30 con,

đo chiều dài toàn thân của ấu trùng (chiều dài tính từ đầu chuỷ đến cuối telson)

2.3.3 Các công thức tính

Trong đó: Ai là số lượng ấu trùng được xác định ở giai đoạn i (zoea 1, zoea

2, zoea 3, mysis 1, mysis 2, mysis 3, postlarvae 1, postlarvae 5) (con)

An là số lượng ấu trùng nauplius được thả ban đầu (con)

Số lượng ấu trùng hiện có trong bể Ahc (con) = Amđ/Vn*Vbể (2.2) Trong đó: Amđ là số lượng ấu trùng đếm được trong mẫu (con)

Vn là thể tích mẫu nước có chứa ấu trùng tôm (lít)

Thể tích bể (m3

Trong đó: h là chiều cao của mực nước trong bể (m)

5,96 là chiều dài của bể (m)

1,055 là chiều rộng của bể (m); 0,2 m và 1 m3

lần lượt là chiều cao phần đáy và thể tích phần đáy được vát cong như đường parabol Thời gian biến thái của ấu trùng Tbt = Ti – Tn (2.4) Trong đó: Ti là thời gian ấu trùng biến thái 50% sang giai đoạn i

Tn là thời gian thả nauplius ban đầu

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu sau khi ghi nhận được ghi lại trong nhật ký Sau đó, xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2010

Trang 22

14

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Cơ sở vật chất và trang thiết bị của trại sản xuất tôm giống

Công ty TNHH Việt Úc – Nghệ An đặt tại xóm 3, xã Quỳnh Minh, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An là nơi cách xa khu dân cư và khu công nghiệp, cách bờ biển Quỳnh Minh 100 m, có mạng lưới điện và giao thông thuận lợi

Công ty có tổng diện tích mặt bằng hơn 4 ha chia làm 2 khu vực Khu vực 1 gồm có: 5 ao lắng, 2 trại xử lý nước, 23 trại ương ấu trùng tôm, 2 trại nhân sinh khối

Ao lắng

số 4

Ao lắng

số 3

Trại nhân sinh

khối tảo tảo

Nhà ăn tập thể Nhà ở tập thể

Hình 3.1 Sơ đồ toàn bộ công ty

a) Trại ương; b) Trại ấp trứng Artemia; c) Hố an toàn sinh học và nhà an toàn

sinh học; d) Nhà để đóng gói tôm postlarvae; e) Phòng kiểm soát chất lượng ấu trùng và phòng phát thức ăn; f) Nhà đặt máy thổi khí; g) Nhà đặt hệ thống phát điện dự phòng; h) Nhà ở cho khách; j) Nhà kho; k) Khu xử lý nước thải

Trang 23

15

tảo, 1 trại ấp trứng Artemia, 1 trại đặt máy thổi khí, 1 nhà kho, 1 khu xử lý nước thải

Khu vực 2 gồm có: phòng kiểm định chất lượng ấu trùng, phòng phối trộn và phát thức

ăn, nhà đóng gói tôm postlarvae, văn phòng, nhà đặt hệ thống phát điện dự phòng, nhà

ăn và nhà ở tập thể, nhà để xe Khu vực 1 và khu vực 2 được ngăn cách với nhau bằng rào lưới thép B40 và 2 hố chứa dung dịch nước javel với nồng độ 100 ppm sâu 2 – 5

cm cho người và phương tiện đi qua, công ty gọi đó là “Hố an toàn sinh học”

Mỗi trại ương tôm có diện tích là 260 m2 (chiều rộng là 8 m, chiều dài là 32,5 m) bao gồm: bể sản xuất giống, bể chứa, hố ga thoát nước, hố an toàn sinh học, kệ thức

ăn, dụng cụ và phòng sinh hoạt cho công nhân – nhân viên kỹ thuật

Các bể ương tôm giống được xây ghép đôi đặt ngang theo chiều dài của trại ương Mỗi bể có thể tích gần 9 m3, kích thước chiều dài : chiều rộng: chiều sâu lần lượt là 6 m : 1 m : 1,45 m, đáy bể được xây vát cong như đường parabol Các góc bể được bo tròn thuận lợi cho sự tạo dòng chảy luân chuyển của nước, tránh dồn phân thải và thức ăn thừa ở các góc, tiện lợi cho việc vệ sinh sau mỗi đợt sản xuất Đầu (đáy bể) mỗi bể có một lỗ xả cạn, đường kính là 60 mm Đáy bể được làm nghiêng về lỗ thoát nước Trên mỗi bể có một ống dẫn khí đường kính 34 mm đặt chính giữa, dọc theo bể và có gắng 12 dây dẫn khí được bố trí đều Đá sục khí và sứ chìm được gắn sát đáy bể ương để các chất hữu cơ khỏi lắng tụ xuống đáy khi sục khí

Hai bể chứa lần lượt có thể tích là 6,5 m3

và 9,5 m3, đáy và các góc bể cũng được làm vát cong Bể 6,5 m3 chứa nước ngọt dùng để pha loãng thức ăn, pha loãng hóa chất

và vệ sinh trại Bể 9,5 m3 chứa nước có độ mặn thấp hoặc nước ngọt phục vụ cho cấp

và thay nước Ngoài ra, hai bể này còn chứa nước ngọt dùng để vệ sinh các dụng cụ

Hình 3.2 Sơ đồ trại ương tôm giống: a) bể ương tôm giống; b) bể chứa nước;

c) hố an toàn sinh học; d) kệ thức ăn; e) nhà ở công nhân

Trang 24

16

Hố ga thoát nước có kích thước chiều dài : chiều rộng : chiều sâu lần lượt là 70

cm : 60 cm : 80 cm Ống thoát nước được đặt nằm ngang sát đáy của hố ga, có đường kính là 14 cm

Trước lối ra vào trại ương có đặt một bình xịt cồn 96° dùng để sát trùng tay khi vào trại Giữa lối ra vào mỗi trại có một hố nhỏ (hố an toàn sinh học trong trại) chứa dung dịch nước javel với nồng độ 100 ppm dùng để sát trùng đế ủng khi có người (khách hàng, nhân viên văn phòng) vào trại Kệ thức ăn được bố trí đối diện với các bể chứa nước

Mỗi trại sản xuất được trang bị một bộ vợt riêng gồm: vợt cà thức ăn cho zoea 1, zoea 2, zoea 3, mysis 1, vợt xem tôm mysis – postlarvae Khi chưa sử dụng, vợt được ngâm trong dung dịch nước vôi CaCO3 nồng độ 1 – 1,5 g/lít, khi sử dụng rửa lại bằng nước sạch Phía cuối mỗi trại là nơi đặt bộ dụng cụ siphon, thay nước

Hình 3.3 Bể ương ấu trùng tôm

Hình 3.4 Nơi để các dụng cụ và thiết bị trong trại ương

Trang 25

17

Ngoài ra, trong trại còn trang bị các dụng cụ thiết bị như bạt đậy bể (bạt màu đen hoặc trắng trong), màng nhà kính Saporo, một máy bơm nước công suất 3 HP, đèn pin xem tôm (ánh sáng vàng), thau xem tôm màu xanh, ly thủy tinh để xem tôm

Ao lắng số

1

Hình 3.6 Ao lắng và xử lý nước.

Trang 26

Nước biển sau khi xử lý tại các ao lắng thì được bơm về trại xử lý nước Có 2 trại

xử lý nước Trong mỗi trại gồm có: 7 bể chứa nước (trong đó 5 bể dùng để chứa nước biển và 2 bể dùng để chứa nước ngọt); 4 máy bơm công suất 5HP, trong đó có 2 máy bơm chính và 2 máy bơm dự phòng; 10 máy bơm nước 3HP, trong đó có 5 máy bơm chính và 5 máy bơm dự phòng 2 bình lọc cát, mỗi bình chứa 700 kg cát; 6 bình lọc 5 µm; 8 bình lọc 1 µm; 6 bình lọc than hoạt tính, mỗi bình chứa 25 kg than hoạt tính; 8 bóng đèn ôzôn; 10 bóng đèn cực tím

3.2.2 Quy trình xử lý nước

3.2.2.1 Nước mặn

Nước mặn được lấy từ biển Quỳnh Minh bằng máy bơm công suất 25 HP, vòi hút máy bơm được đặt cách bờ hơn 900 m, trước khi vào máy bơm nước được lọc qua lưới chắn rác kích thước mắt lưới là 2a = 2 cm Độ mặn nước biển thường dao động trong khoảng 28 – 32‰ Tuy nhiên, vào những tháng 8, 9 trời mưa nhiều nên độ mặn

có thể giảm xuống còn 20‰ Độ pH của nước biển thường dao động từ 7,5 – 8,2; độ kiềm dao động từ 90 – 110 mg CaCO3/lít; hàm lượng NH3 tổng số và NO2 là 0 mg/lít

Hình 3.7 Dụng cụ, thiết bị ở trại xử lý nước.

Trang 27

19

Trước khi được bơm vào ao lắng, nước biển được kiểm tra độ mặn Khi nước có

độ mặn dưới 28‰ thì nước biển được nâng mặn bằng muối ăn (muối được làm từ nước biển chưa qua tinh chế) tại ao lắng

Thời gian bơm nước đầy một ao lắng từ 13 – 16 giờ Bốn giờ sau khi bơm xong, nước được xử lý bằng chlorine Aquafit với lượng 3 kg/1.000 m3 Trong lúc xử lý chlorine thì bật sục khí mạnh Thời gian xử lý chlorine từ 36 – 48 giờ, tuỳ thuộc vào lượng chất lơ lững trong nước Dùng bộ thuốc thử chlorine để kiểm tra dư lượng chlorine trong nước, kết quả ở mức 0 mg/lít thì được đưa vào quá trình xử lý tiếp theo như sơ đồ Hình 3.8 tại trại xử lý nước

Nước biển trước khi đưa vào cho các hoạt động sản xuất (sản xuất postlarvae,

nuôi cấy tảo, ấp trứng Artemia) được kiểm tra nhiệt độ Khi nhiệt độ nước dưới 27°C,

nước được nâng nhiệt bằng máy nâng nhiệt

3.2.2.2 Nước ngọt

Nước ngọt được lấy từ lấy từ giếng khoan tại công ty Nước ngọt có độ mặn dao động từ 0 – 3‰, pH từ 7,5 – 7,8, độ kiềm từ 230 – 260 mg CaCO3/lít, hàm lượng amonia tổng số là 0 mg/lít, hàm lượng NO2 từ 0 – 0,3 mg/lít

Quy trình xử lý nước ngọt tương tự như nước mặn Tuy nhiên, nước từ bể chứa nước ngọt tại trại xử lý nước khi bơm về trại ương tôm giống thì không cần phải lọc qua túi lọc 5 µm và 1 µm

3.2.3 Vệ sinh, thay thế công trình và trang thiết bị xử lý nước

Đối với ao lắng, khi cạn nước thì dùng chổi quét hết bùn lắng lại ở đáy ao Đối với bể chứa, vệ sinh định kỳ 1 tuần/lần được làm theo trình tự: dùng máy bơm nén rửa

Nguồn nước Lắng các chất hữu

Trại sản xuất

Xử lý chlorine 3 ppm

Hình 3.8 Sơ đồ tóm tắt quy trình xử lý nước

Trang 28

Đối với túi lọc, mỗi ngày giặt và thay thế túi lọc mới lúc 8 giờ và 16 giờ Vệ sinh bằng cách ngâm túi lọc trong dung dịch nước axit chanh nồng độ 50 – 100 g/lít Sau

đó, dùng vòi áp lực phun xịt và rửa lại bằng nước sạch rồi đem đi phơi khô Túi lọc sau một thời gian sử dụng được thay thế mới Đối với túi lọc dùng cho nước ngọt khoảng 2 tháng thay một lần và túi lọc dùng cho nước mặn thì 3 tháng thay túi lọc một lần

Giếng khoan sau khi sử dụng một thời gian thường bị nhiễm mặn, khi bị nhiễm mặn nước giếng khoan có độ mặn lên đến 6 – 8‰ Vì thế phải khoan lại giếng mới

3.3 Vệ sinh trại và chuẩn bị nước để sản xuất tôm giống

Hình 3.9 Phơi túi lọc

Trang 29

21

3.3.1 Vệ sinh trại ương

Sau khi thu hoạch tôm giống postlarvae xong, mở lỗ xả cạn để tháo hết nước còn trong bể Để khô tự nhiên trong thời gian 24 giờ Sau đó, phun xịt toàn bộ trại gồm 18

bể ương ấu trùng tôm, 2 bể chứa nước, các ống dẫn nước, ống dẫn khí, cửa số, lối đi, màng nhà kính bằng dung dịch hỗn hợp 2 kg chlorine HG – 99 và 500 ml HCl AR trong 1 m3 nước ngọt Thời gian xử lý hơn 12 giờ Sau khí xử lý chlorin, đợi thêm cho khô ráo bể ương thì xử lý formol Dùng 6 chai formol AR (500 ml/chai) hòa thêm khoảng 15 lít nước ngọt tạt đều cho mỗi bể ương, đóng hết cửa lại khi xử lý formol Sau từ 1 – 2 ngày thì chà rửa mặt trong của bể ương bằng xà phòng Tiếp theo, xịt rửa bằng nước ngọt cho sạch xà phòng và sau đó, đậy bạt đen kín miệng bể ương

Các dụng cụ và trang thiết bị của trại được vệ sinh trước khi sử dụng cho đợt ương mới Bạt đậy bể được ngâm và giặt bằng xà phòng, dán hoặc thay thế bạt mới nếu bị rách hoặc hỏng Sau khi giặt xong, đậy bạt lên bể để vừa đậy bể vừa phơi cho khô bạt Đá bọt và sứ chìm được ngâm trong dung dịch chlorine (dung dịch chlorine dùng để vệ sinh trại) và được rửa lại bằng nước sạch Các loại vợi dùng để cà, lọc hóa chất và thức ăn, vợt vớt tôm được ngâm và giặt bằng nước ngọt Dây dẫn khí dùng để gắn đá bọt sau mỗi đợt sản xuất được thay mới

3.3.2 Chuẩn bị nước

Hình 3.10 Vệ sinh bể ương

Trang 30

và chuẩn bị thả nauplius có nhiệt độ từ 28 – 32°C, độ mặn từ 28 – 32‰, độ kiềm từ

170 – 220 mg CaCO3/lít, hàm lượng amonia tổng số và NO2 bằng 0 mg/lít

3.3.3 Nâng nhiệt và duy trì nhiệt độ nước ương

Một số đợt ương ấu trùng trong điều kiện thời tiết lạnh, nhiệt độ nước ương xuống thấp thì phải nâng nhiệt và duy trì nhiệt độ nước Nâng nhiệt và duy trì nhiệt độ nước ương bằng cách: nâng nhiệt trực tiếp cho nước ương bằng các lò nâng nhiệt; nâng nhiệt cho không khí bên trong trại ương bằng các xô than, bằng máy nâng nhiệt, bằng màng nhà kính; tránh mất nhiệt nước bên trong bể ương bằng cách đậy kín bể bằng bạt đen

Lò chứa than dùng để nâng nhiệt cho nước hay còn được gọi là lò nâng nhiệt có cấu tạo: 1 vỏ bao ngoài bằng inox có đường kính 20 cm, cao 80 cm, không cho nước

Hình 3.11 Cấp nước ban đầu cho bể ương

Trang 31

Các xô đựng than để nâng nhiệt không khí được làm bằng thép, mỗi xô chứa 4 kg than Các xô than được đặt ở lối đi giữa hai bể, đặt các xô than sao cho đều trại và không được đặt quá sát thành bể Vì nếu đặt sát thành bể ấu trùng (đặt biệt là ấu trùng zoea) dễ dồn lại một góc nơi có nhiệt độ cao hơn Mỗi trại đặt từ 5 – 9 xô than tuỳ thuộc vào nhiệt độ không khí bên ngoài Có thể dùng xô than để nâng nhiệt cho không khí ở bất kỳ ngày ương nào

Nhiên liệu được sử dụng cho nâng nhiệt là than dừa Than dừa được sử dụng làm nhiên liệu cho nâng nhiệt do có nhiều đặt điểm ưu việt hơn các loại than khác: giá thành hợp lý, kích thước cục than vừa phải và đồng đều, ít bị vỡ vụn và thời gian cháy lâu Tuy nhiên, cũng giống như những loại than khác là khi được đốt trong phòng kín, khói than tạo ra nhiều gây độc cho người chăm sóc và làm hư hỏng nhiều dụng cụ – thiết bị bên trong trại ương (màng nhà kính, bóng đèn và các dụng cụ khác sẽ nhanh bị

ố vàng)

Máy nâng nhiệt có vai trò giống như xô đựng than là nâng nhiệt cho không khí, mỗi máy nâng nhiệt có công xuất là 3 Kwh Máy nâng nhiệt được gắn trên 4 bức tường bên trong trại, số lượng là 4 cái/trại Có thể sử dụng máy nâng nhiệt cho không khí ở

Hình 3.12 Lò nâng nhiệt cho nước

Trang 32

trường trong bao giống nauplius: nhiệt độ từ 25 – 27°C; độ mặn từ 29 – 32‰; pH từ

7,8 – 8,2; độ kiềm từ 150 – 180 mg CaCO3/lít Các xe chở bao nauplius thường về tới trại ương vào buổi sáng, lúc 4 đến 10 giờ Ấu trùng nauplius trong bao thường ở giai đoạn nauplius 4 – nauplius 5

Chuẩn bị dụng cụ để thuần nauplius: đặt tại mỗi bể một xô 220 lít có vạch đánh dấu 100 lít, 1 ca có thể tích 2 lít, 3 xô có thể tích 7 lít, dao dùng để cắt bao nauplius Các bước thuần nauplius: Chia đều các bao nauplius cho 18 bể, thông thường thì

12 bao nauplius/bể Dùng dao để cắt bao nauplius đổ vào thùng, khoảng 1,2 – 1,5 triệu

ấu trùng nauplius/thùng Sau đó, đặt vào mỗi thùng một sục khí và điều chỉnh lưu lượng khí từ 1,5 – 3 lít/phút Tiếp theo, dùng ca 2 lít múc nước từ bể đổ nhẹ nhàng vào thùng, múc lần lượt từ bể số 1 đến bể số 18 và lặp lại cho đến khi mực nước ở mỗi thùng chạm vạch 100 lít Thay vì dùng ca 2 lít để thuần nauplius có thể dùng hai cách khác: cách một là dùng dây dẫn khí đường kính 5 mm hút nước từ bể ương cho nước

Hình 3.13 Máy nâng nhiệt

Trang 33

25

chảy chậm, cách hai là dùng xô 7 lít múc nước từ bể ương và đổ nhẹ nhàng xung quanh mép nước đến khi mực nước trong thùng chạm vạch 100 lít Sau đó, điều chỉnh lưu lượng khí tại mỗi thùng lên 4 – 5 lít/phút trong thời gian từ 60 – 90 giây để lấy mẫu đếm nauplius Sau khi lấy mẫu đếm nauplius xong, dùng xô 7 lít múc nước nauplius từ thùng 220 lít đổ vào bể, làm lần lượt tại các bể cho đến hết Cuối cùng là kiểm tra lại lưu lượng khí và đậy bạt kín miệng bể

Tuy nhiên, quy trình thuần dưỡng nauplius trên chỉ được sử dụng cho những đợt sản xuất vào thời tiết nắng ấm, không cần phải nâng, giữ nhiệt cho nước trong bể ương Vào những đợt sản xuất có nâng, giữ nhiệt cho nước ương thì khói từ than đốt

và nhiệt độ cao trong trại khiến cho quá trình thuần dưỡng nauplius trên khó thực hiện

Vì vậy trong những đợt ương này sẽ thuần nauplius theo cách khác dễ thực hiện hơn là: rửa các bao chứa nauplius bằng nước ngọt sạch hai lần, sau đó ngâm các bao này trong nước của bể ương từ 20 – 30 phút Dùng lưỡi dao nhọn sạch để rạch bao nauplius đổ vào bể ương

3.4.2 Chuẩn bị thức ăn sống cho ấu trùng

Trang 34

26

Nước dùng để nuôi tảo trong ống nghiệm, trong bình tam giác 250 ml và trong bình 1.000 ml được lấy từ trại xử lý nước, sau đó, nước được qua 5 lần lọc: 1 lần lọc qua lọc bông gòn, 2 lọc qua túi lọc 1 µm và 2 lần lọc qua túi lọc 0,2 µm Nước dùng để nuôi tảo trong bình 20 lít được qua 3 lần lọc: 1 lần lọc qua bông gòn và 2 lần lọc qua túi lọc 1 µm Môi trường nước nhân sinh khối tảo có nhiệt độ từ 26 – 28°C được duy trì trong phòng có máy lạnh, độ mặn từ 28 – 32‰, pH từ 7,5 – 8,2 và độ kiềm từ 90 –

110 mg CaCO3/lít

Quá trình nuôi cấy tảo: lấy 1 – 1,5 ml tảo giống trong bình tam giác 250 ml cho vào ống nghiệm chứa 15 ml môi trường đã được chuẩn bị sẵn, thời gian nuôi tảo trong ống nghiệm là 48 giờ Tiếp theo cho tảo đã được nuôi trong ống nghiệm vào bình tam giác 250 ml chứa sẵn 225 ml môi trường, thời gian nuôi là 48 giờ Cho tảo đã đã được nuôi bình tam giác 250 ml vào bình 1.000 ml có chứa 700 ml môi trường, thời gian nuôi là 48 giờ Cuối cùng là nuôi tảo trong bình 20 lít Ngoài ra, để rút ngắn thời gian,

có thể chọn tảo từ những bình 20 lít có chất lượng tốt để đem nuôi lại bằng cách: múc

2 lít dung dịch tảo từ bình tảo 20 lít đã chọn, sau đó, đem đi nuôi cấy lại trong bình 20 lít mới

Tảo Chaetoceros muelleri và Thalassiosira pseudonana đều được nuôi trong bình nhựa 20 lít Ngoài ra, tảo Thalassiosira pseudonana còn được nuôi trong bể

composite (bể tròn thể tích 1 m3) Mật độ đạt được khi nuôi cấy trong bình 20 lít đối

với tảo Chaetoceros muelleri và Thalassiosira pseudonana lần lượt là 1.300.000 –

1.900.000 tế bào/ml và 120.000 – 200.000 tế bào/ml

Hình 3.15 Bình 20 lít dùng để nuôi cấy tảo

Trang 35

27

3.4.2.2 Ấp trứng Artemia

Trại ấp trứng Artemia gồm có 27 bể ấp Bể được làm bằng xi măng, hình trụ tròn

có đường kính là 150 cm, sâu 90 cm, đáy bể có dạng hình phễu Lỗ thoát nước của bể

có đường kính 55 mm được nối với ống dẫn xuống hố ga có van khoá Bể được sục

khí bằng ống nhựa PVC đường kính 21 mm, được đặt cách đáy bể 10 cm Chính giữa

mỗi bể có treo một bóng đèn công suất 40 W, được đặt các mặt nước 40 cm Các bể

được xếp thành từng cụm, mỗi cụm có 6 bể để thuận lợi cho việc chăm sóc và quản lý

Trứng Artemia khô dùng để ấp cho ấu trùng tôm ăn là trứng Artemia High 5, có

hiệu suất nở từ 170 – 180 knpg

Cách tính lượng trứng Artemia khô cần đem ấp

Khối lượng trứng Artemia khô cần để đem ấp phụ thuộc vào khối lượng tươi của

ấu trùng nauplius Artemia sẽ làm thức ăn cho ấu trùng tôm và hệ số tươi – khô Từ đó,

lượng trứng Artemia khô cần đem ấp được tính theo công thức

Trong đó: mk là khối lượng trứng Artemia khô cần đem ấp (kg)

mt là khối lượng tươi của ấu trùng nauplius Artemia sẽ làm thức ăn cho ấu

trùng tôm (kg)

h là hệ số tươi – khô

Hệ số tươi – khô là hệ số đã được xác định qua các đợt sản xuất Hệ số tươi – khô

được xác định bằng cách tính tỷ số giữa khối lượng tươi ấu trùng nauplius Artemia thu

hoạch được so với khối lượng trứng Artemia khô khi ấp Hệ số tươi – khô thường dao

Hình 3.16 Bể ấp trứng Artemia

Ngày đăng: 02/02/2021, 20:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Châu Tài Tảo, Lý Minh Trung, Trần Ngọc Hải (2015), Nghiên cứu ƣơng giống tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) theo công nghệ bio–foc ở các mức nước khác nhau, Tạp chí Khoa học trường đại học Cần Thơ, 39, tr. 92–98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Litopenaeus vannamei
Tác giả: Châu Tài Tảo, Lý Minh Trung, Trần Ngọc Hải
Năm: 2015
3. Châu Tài Tảo, Trần Ngọc Hải, Nguyễn Thanh Phương (2016), Ảnh hưởng của bổ sung chất khoáng lên tăng trưởng, tỷ lệ sống, chất lượng của ấu trùng và hậu ấu trùng tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei), Tạp chí Khoa học trường đại học Cần Thơ, 47, tr. 38–44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Litopenaeus vannamei
Tác giả: Châu Tài Tảo, Trần Ngọc Hải, Nguyễn Thanh Phương
Năm: 2016
5. Ngô Anh Tuấn, Trình Văn Liễu (2009), Nghiên cứu nuôi tôm bố mẹ và sinh sản nhân tạo tôm he chân trắng (Penaeus vannamei boone, 1931) tại Khánh Hòa, Tạp chí Khoa học Công nghệ Thủy sản, Trường đại học Nha Trang, số đặc biệt, tr. 40–48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Penaeus vannamei boone, 1931
Tác giả: Ngô Anh Tuấn, Trình Văn Liễu
Năm: 2009
6. Nguyễn Thanh Mai, Trịnh Hoàng Khải, Đào Văn Trí, Nguyễn Văn Hùng (2010), Nghiên cứu phân lập, nuôi cấy in vitro tảo sillic nước mặn Chaetoceros calcitrans Paulsen, 1905 và ứng dụng sinh khối tảo làm thức ăn cho tôm he chân trắng(Penaeus vannamei), Tạp chí Khoa học Công nghệ Thủy sản, Trường đại học Nha Trang, 12(13), tr. 28–36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chaetoceros calcitrans" Paulsen, 1905 và ứng dụng sinh khối tảo làm thức ăn cho tôm he chân trắng ("Penaeus vannamei
Tác giả: Nguyễn Thanh Mai, Trịnh Hoàng Khải, Đào Văn Trí, Nguyễn Văn Hùng
Năm: 2010
7. Nguyễn Thị Như Ý (2011), Ảnh hưởng của mật độ và độ mặn đến thời gian biến thái và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) ở giai đoạn zoea và giai đoạn mysis, Trường đại học Vinh, 65 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Penaeus vannamei
Tác giả: Nguyễn Thị Như Ý
Năm: 2011
11. Trung tâm Khuyến nông TP. Hồ Chí Minh (2009), Cẩm nang nuôi tôm chân trắng (Penaeus vannamei), 30 trang.Tài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Penaeus vannamei
Tác giả: Trung tâm Khuyến nông TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2009
14. José Bermudes–Lizárraga , Mario Nieves–Soto , Alejandra Medina–Jasso, Pablo Piủa–Valdez, 2017, Effect of temperature and salinity on larval survival and development of Litopenaeus vannamei, Revista MVZ Córdoba, 22(2), p. 5844–5853 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Litopenaeus vannamei
15. Marı´a de Lourdes Cobo, Stanislaus Sonnenholzner, Mathieu Wille & Patrick Sorgeloos, 2014, Ammonia tolerance of Litopenaeus vannamei (Boone) larvae, Aquaculture Research, 45(3), p. 470–475 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Litopenaeus vannamei
17. Mohammad Gorgij Jaski, Ehsan Kamrani, Alireza Salarzadeh, 2014, The study effect of sun light on growth performance and survival of postlarval white leg shrimp (Litopenaeus vannamei) and salinity stress resistance, European Journal of Experimental Biology, 4(2), p.7–12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Litopenaeus vannamei
18. Noorsyarinah Sanudin, Audrey Daning Tuzan, Gunzo Kawamura, Annita Seok Kian Yong, 2015, Effect of different lighting conditions on feeding activity and eye adaptation of post larvae Penaeus vannamei, Jurnal Teknologi, 77(33), p. 1–6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Penaeus vannamei
19. Robertson P. A.W., Calderon J., Carrera L., Stark J. R., Zherdmant M., Austin B., Xperimental Vibrio harveyi infections in Penaeus vannamei larvae, Diseases of Aquatic Organisms, 32(2), p.151–155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vibrio harveyi" infections in "Penaeus vannamei
21. Seychelles L.H., Happe S., Palacios E., Ludwig M., Hollmer S., Ehlers R.U., Schulz C., Mercier L., 2018, Successful rearing of whiteleg shrimp Litopenaeus vannameilarvae fed a desiccation‐tolerant nematode to replace Artemia,Aquaculture Nutrition, 24(2), p. 903–910 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Artemia
22. Zahra Khojasteh, Reza Davoodi, Reza Ghorbani Vaghei, Hamidreza Nooryazdan, 2013, Survival, Development and Growth of Whiteleg Shrimp, Litopenaeus vannamei Zoea Fed with Monoalgae (Chaetoceros and Tetraselmis) Diets, World Journal of Fish and Marine Sciences, 5(5), p. 553 – 555.Trang web tham khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Litopenaeus vannamei" Zoea Fed with Monoalgae ("Chaetoceros "and "Tetraselmis
23. FAO (2006), Cultured Aquatic Species Information Programme Penaeus vannamei (Boone, 1931, ngày truy cập 05/06/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Penaeus vannamei (Boone, 1931
Tác giả: FAO
Năm: 2006
27. Trung tâm khuyến ngƣ quốc gia (2004), Những thông tin về đặc điểm sinh học và nuôi tôm chân trắng (litopenaeus vannamei), ngày truy cập 05/06/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: litopenaeus vannamei
Tác giả: Trung tâm khuyến ngƣ quốc gia
Năm: 2004
1. Châu Tài Tảo (2016), Ảnh hưởng của độ kiềm lên tăng trưởng, tỷ lệ sống của ấu trùng và hậu ấu trùng tôm biển, Trường Đại học Cần Thơ, 20 trang Khác
4. Danh Bo Ri Sool (2017), Ảnh hưởng của pH, độ kiềm lên sinh trưởng và tỷ lệ sống trong ương ấu trùng tôm thẻ chân trắng, Trường đại học Tây Đô, 52 trang Khác
8. Nguyễn Trọng Nho, Tạ Khắc Thường, Lục Minh Diệp (2006), Kỹ thuật nuôi giáp xác, NXB Nông nghiệp TP – Hồ Chí Minh, 253 trang Khác
9. Tổng cục Thủy sản (2016), Tình hình sản xuất, tiêu thụ thủy sản tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2016, 8 trang Khác
10. Tổng cục Thủy sản, bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (2017), Đề án tổng thể phát triển ngành công nghiệp tôm Việt Nam đến năm 2030, Hà Nội, 70 trang Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w