Trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa, các ngôi chùa ở Đông Triều đã đóng một vai trò khá quan trọng, chùa Bắc Mã là ngôi chùa có vai trò nhất trong việc hình thành căn cứ chiến khu Trần H[r]
Trang 1Di tích Lịch sử Văn hoá - Xếp hạng cấp Quốc gia
1 Đền, Lăng mộ các vua Trần, huyện Đông Triều - Di tích Lịch sử Văn hoá - Xếp hạng cấp Quốc gia năm 1962
Đền, Lăng mộ các vua Trần, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh - Di tích Lịch sử Văn hoá - Xếp hạng cấp Quốc gia - Quyết định số: 313/VH-QĐ, ngày 28/4/1962 của Bộ Văn hoá (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du Lịch)
2 Chùa Quỳnh Lâm, xã Tràng An, huyện Đông Triều - Di tích Lịch sử Nghệ thuật - xếp hạng cấp Quốc Gia năm 1991
Chùa Quỳnh Lâm, xã Tràng An, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh - Di tích Lịch
sử Nghệ thuật - Xếp hạng cấp Quốc gia tại Quyết định số: 2009/QĐ-VH, ngày 15/11/1991 của Bộ Văn hoá (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch)
Chùa Quỳnh Lâm, tên thường gọi là chùa Quỳnh, tên tự là Quỳnh Lâm Tự Theo nghiên cứu văn bia trong chùa cho thấy chùa được hình thành từ thời tiền Lý, trải qua nhiều lần trùng tu, tu sửa ở các triều đại Đinh, Lý, Trần, Lê Đặc biệt chùa được tôn tạo hoàn chỉnh vào cuối triều đại Lý - Trần (thế kỷ XIII đến giữa thế kỷ XIV) và người có công lớn trong việc tu tạo, mở mang để chùa Quỳnh Lâm trở thành một trung tâm phật giáo lớn của cả nước và thành một giảng đường quy mô phục vụ cho việc giảng tập kinh sách Thiền Tông chính là thiền sư Pháp Loa
Chùa Quỳnh Lâm thuộc xã Tràng An, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
Năm 1299 Trần Nhân Tông chính thức xuất gia và tu ở núi Yên Tử, ông thành lập phái Trúc Lâm và lấy Pháp hiệu là Trúc lâm đại sỹ Ông đã đi khắp nơi và trong cuộc vân du năm 1304 vua Trần Nhân Tông đã gặp Pháp Loa, dưới sự dìu dắt của Trần Nhân Tông Pháp Loa đã trở thành ông tổ thứ 2 của thiền phái Trúc Lâm Từ đó ông nhận được sự ủng
hộ rất lớn của nhà vua và các giới quý tộc, ông đã cho xây dựng và mở mang nhiều chùa tháp Riêng năm 1314 ông cho xây dựng 33 cơ sở điện thờ Phật, gác chứa kinh Chính trong thời kỳ này trên cơ sở chùa Quỳnh Lâm cũ, năm 1316 Pháp Loa cho thành lập “viện Quỳnh Lâm” - trường đại học Phật giáo đầu tiên ở nước ta được ra đời từ đây Quỳnh Lâm trở thành trung tâm Phật giáo lớn với 2000 mẫu ruộng, gia nô hơn 1000 người Năm 1329 chùa Quỳnh Lâm được xây dựng lại với một kiến trúc đồ sộ, hoàn chỉnh và trở thành một
đệ nhất danh lam cổ tích của nước An Nam (Văn bia) Nhiều hội lớn được tổ chức tại đây như hội “Thiên Phật” tổ chức vào năm 1325, hội kéo dài bảy ngày bảy đêm Chùa Quỳnh Lâm đã trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo, đúc chuông, tạc tượng Đặc biệt vào thế kỷ XVIII chúa Trịnh cho tu sửa với quy mô lớn Tạc các lan can bậc, hai con sấu đá và một số
Trang 2công trình khác nhưng vì tốn kém quá mức nhân dân phục vụ vất vả, lòng người bất bình nên công trình bị bỏ dở Mới đưa được một con sấu đá bên trái vào đúng vị trí còn con sấu
đá bên phải và lan can cửu cấp hai bên mới tạc xong chưa đưa vào vị trí Đến thời Nguyễn chùa được xây dựng thêm 5 ngọn tháp để kỷ niệm các nhà sư đã trụ trì ở đây và có công lớn trong việc tu bổ, tôn tạo chùa
Không chỉ là trung tâm phật giáo lớn của cả nước trong thời ký chiến tranh chùa Quỳnh Lâm còn là căn cứ kháng chiến, nằm trong đệ tứ chiến khu Đông Triều Dưới sự tàn phá của chiến tranh năm 1947 chùa Quỳnh Lâm đã bị hủy hoại hoàn toàn chỉ còn là phế tích Năm Đinh Dậu (1957) Thích Thanh Trí quê ở Hà Bắc đã về tu tại đây và cùng nhân dân xây dựng phần kiến trúc hiện nay, lần thứ 2 xây khu nhà tổ năm Đinh Mùi (1967) Năm
1990 chủ trì Thích Đạo Quang cho xây dựng thêm 4 gian nhà khách và sửa một số ngọn tháp Trải qua hỏa hoạn và chiến tranh chùa Quỳnh Lâm không giữ được vẻ nguy nga, cổ kính như trước nữa nhưng các di vật cổ còn lại quanh chùa đã giúp chúng ta hình dung dáng vóc ngôi chùa và quy mô to lớn của nó qua các thời kỳ Di vật cổ ở đây là tấm bia đá cao 2,5m dựng trước chùa vẫn giữ được những hình rồng trang trí uốn lượn mềm mại, đặc trưng cho rồng thời Lý Sau nữa là các thành bậc rồng bằng đá xanh, gần một trăm tảng đá
kê chân cột, chạm cánh sen, đầu rồng bằng đất nung, khánh đá Đặc biệt là một góc bệ đá
có hình chim thần Garuda được tạo như một hình người ngồi xổm, hai tay vươn lên hai giá
bệ để đỡ tòa sen Tất cả đều thể hiện rõ nét điêu khắc đá thời Trần Sang thời Lê, hiện vật còn lại ở đây nhiều nhất là các bia đá và các ngôi bảo tháp đặc biệt là hai bức chạm đá ở bài vị và tượng của bà Hậu Phật Bùi Thị Thao với các hình chạm trổ công phu, tỷ mỉ, mềm mại đang ở thế động rất tự nhiên, hiện thực Ngoài ra chùa còn có bia đá ghi rõ ngày tháng năm trùng tu chùa, tên các thiện nam tín nữ đã có hảo tâm công đức tiền của tu bổ chùa và những công trình đã làm trong các đợt trùng tu Trong vườn chùa còn hệ thống tháp cổ được ghép bằng đá xanh thớ mịn với kỹ thuật ghép mộng chắc chắn đã để lại cho hậu thế một kho tàng nghệ thuật vô giá
Với những di vật còn lại của chùa Quỳnh Lâm đã cho chúng ta thấy được những giá trị lịch
sử, văn hóa, nghệ thuật qua các thời đại
Chùa Quỳnh Lâm được Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao ra quyết định xếp hạng di tích lịch sử - nghệ thuật cấp Quốc gia theo Quyết định số 2009/QĐ, ngày 15/11/1991
3 Cụm di tích Yên Đức, xã Yên Đức, huyện Đông Triều - Di tích Lịch sử Văn hoá - Xếp hạng cấp Quốc gia năm 1993
Cụm di tích Yên Đức, xã Yên Đức, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh - Di tích Lịch
sử Văn hoá - Xếp hạng cấp Quốc gia tại Quyết định số: 2015/VH-QĐ, ngày 16/12/1993 của Bộ Văn hoá (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch)
Trang 3Cụm di tích lịch sử, cách mạng, văn hóa Yên Đức nằm về phía Tây Nam xã Yên Đức, phía Đông Nam huyện Đông Triều, và nằm ở phía Tây tỉnh Quảng Ninh Gồm 5 di tích có quan
hệ mật thiết với nhau:
Núi Canh (cày ruộng), Đống thóc (sản phẩm của sản xuất nông nghiệp), Núi thung (cối giã gạo), Núi con Mèo (nằm canh đống thóc), Núi con Chuột (Phá thóc) Tất cả tạo thành một danh sơn hữu tình, mỗi di tích đều mang một dấu ấn lịch sử, cách mạng, văn hóa riêng nhưng không thể tách rời nhau
1 Núi Canh: Nghĩa là cái cày do hai ngọn núi của làng Yên Khánh và làng Đồn Sơn tạo thành giống như hình cái cày Trong quá trình đấu tranh, dựng và giữ nước Núi Canh là bức tường thành cao có thể bao quát toàn bộ các khu vực xung quanh, các trạm canh gác trên núi được xây dựng nên núi Canh còn có nghĩa là canh gác
Từ xa xưa Trần Nhân Tông đã chọn nơi đây để chỉ huy tầm xa chiến trận Bạch Đằng lần thứ 2 (1288) Thời ký chống giặc phương Bắc Yên Đức cũng gắn liền với quá trình dựng
và giữ nước của dân tộc Vào thời kỳ kháng chiến chống Pháp núi Canh đã từng là căn cứ kháng chiến của nghĩa quân Yên Thế, là kho dự trữ lương thực, thực phẩm phục vụ cho kháng chiến Cũng từ chiến dịch này các ngõ ngách, hang động trên núi Canh được khơi thông với những tên tuổi sống mãi với non sông, đất nước như hang 73, hang gốc Bòng, hang gốc Gạo, Suối Tắm, Cửa Đình, hang Tiếp Tế, hang Luồn, đã đi vào lịch sử với những chiến tích vĩ đại, là nơi ghi dấu tội ác tầy trời của thực dân Pháp
2 Di tích núi Đống Thóc: Có hình thù như một tam giác cân, với cư dân nông nghiệp nó biểu tượng cho một đống thóc, vì vậy mà được gọi là núi đống thóc Núi đống thóc nằm trong quần thể danh sơn Yên Đức, một bên là núi Thung, một bên là núi con Mèo
3 Di tích núi con Mèo: Còn có tên gọi là Ngọa Miêu Sơn (núi mèo nằm) với hình thể giống như con mèo đang nằm dình chuột Di tích nằm phía nam cuối xã Yên Đức đã được liệt vào một trong những danh sơn của vùng Đông Bắc và được coi như cái mốc làm chuẩn
từ đây tính ra các địa danh quan trọng liên quan đến địa giới, chiến lược quân sự, kinh tế của vùng biên cương phía Bắc tổ quốc Trong vòm hang có một số bài thơ chữ Nôm, chữ Hán Hiện nay chỉ còn lại duy nhất vòm hang núi khắc một số bài thơ chữ nôm, chữ Hán, chữ Quốc ngữ trong đó có bài thơ chữ Nôm nổi tiếng mang dòng lạc khoản “ Nhân tôn Hoàng đế Niên hiệu trùng hưng bát niên xuân” Thân, đầu con mèo đã bị đánh phá
4 Di tích núi con chuột: Nằm ở bãi nổi giữa ngã ba sông đá Bạch, sông Kinh Thầy, sông
đá Vách, hình thể giống như một con chuột đang chầu vào đống thóc nhưng bị con mèo (núi con mèo) canh không cho phá thóc
5 Di tích núi Thung: Nằm về phía Tây Bắc quần thể di tích Thung có nghĩa là cối giã gạo Dưới chân núi là tường đá bao quanh Xưa kia ở phía Đông của ngọn núi có ngôi chùa Cảnh Huống, nhưng đến năm 1980 - 1982 ngôi chùa bị phá hủy hoàn toàn chỉ còn lại bài thơ khắc vào đá và một tấm bia tạc ở khe đá núi Thung, phía Đông núi còn lại một ngôi tháp 3 tầng, phía Nam còn lại một cổng được gọi là cổng Thung, 2 tầng xây bằng gạch đỏ
Trang 4Di tích núi Thung ngoài ý nghĩa là một danh thắng, tên tuổi gắn với tiềm thức cư dân nông nghiệp mà còn là nơi ghi dấu ấn sự kiện lịch sử văn hóa, lưu giữ toàn bộ văn bia chữ Hán trải qua quá trình dựng và giữ nước
Với những giá trị về lịch sử, cách mạng, văn hóa và danh thắng cụm di tích Yên Đức đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử - thắng cảnh cấp Quốc gia theo Quyết định số 2015-VH/QĐ, ngày 16/12/1993
4 Địa điểm lịch sử Trung tâm chiến khu Đông Triều, xã Bình Dương, huyện Đông Triều
-Di tích Lịch sử - Xếp hạng cấp Quốc gia năm 1994
Địa điểm lịch sử Trung tâm chiến khu Đông Triều, xã Bình Dương, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh - Di tích Lịch sử - Xếp hạng cấp Quốc gia tại Quyết định số: 2379/QĐ-BT, ngày 05/9/1994 của Bộ Văn hoá (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch)
Di tích lịch sử cách mạng, văn hoá chiến khu Đông Triều là căn cứ lãnh đạo cách mạng trong cuộc kháng chiến chống thực dân pháp Trung tâm căn cứ này được đặt ở chùa Bắc
Mã còn có tên chữ là Phúc Chí Tự nghĩa là chùa hướng tới cái phúc Chiến khu Đông Triều
là tên gọi theo địa danh, nơi căn cứ chính nằm ở huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Chiến khu Đông Triều còn gọi là chiến khu Trần Hưng Đạo (đây là cách đặt tên của Trung ương Đảng) Để đẩy mạnh hơn nữa công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang trong cả nước, ngay từ ngày 15/4/1945 Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã triệu tập hội nghị quân sự cách mạng ở Hiệp Hòa (Bắc Giang), Hội nghị đã quyết định thành lập bảy chiến khu trong
cả nước đó là: chiến khu Lê Lợi, chiến khu Hoàng Hoa Thám, chiến khu Quang Trung, chiến khu Trần Hưng Đạo, chiến khu Phan Đình Phùng, chiến khu Trưng Trắc, chiến khu Nguyễn Tri Phương Thực hiện quyết định của Hội nghị quân sự Bắc kỳ, xứ ủy Bắc kỳ đã
đề ra chủ trương xây dựng chiến khu Trần Hưng Đạo ở vùng Đông Bắc
Di tích nằm trong địa phận của thôn Bắc Mã, xã Bình Dương, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Tên cũ là xã Bác Mã, huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương
Trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa, các ngôi chùa ở Đông Triều đã đóng một vai trò khá quan trọng, chùa Bắc Mã là ngôi chùa có vai trò nhất trong việc hình thành căn cứ chiến khu Trần Hưng Đạo, là nơi sư cụ Võ Giác Thuyên thường xuyên tiếp đón các vị sư cách mạng đó là những cán bộ cách mạng mang danh nhà sư để dễ bề hoạt động (trước tháng tám năm 1945 chùa Bắc Mã là một ngôi chùa lớn, có uy tín trong vùng và lại nằm ở nơi có truyền thống cách mạng, đó là những điều kiện thuận lợi để xây dựng căn cứ) Chùa Bắc
Mã là một tổng thể không gian kiến trúc quy mô được xây dựng trong một khuôn viên có diện tích tới ba mẫu đất Theo các văn bia, văn tự Hán còn lưu giữ cho thấy lịch sử chùa Bắc Mã trên dưới sáu trăm năm và đã qua nhiều lần trùng tu tôn tạo vào thời Lê, thời
Trang 5Nguyễn Đặc biệt vào năm Bảo Đại Nguyên niên 1926 chùa được xây lại quy mô hơn, thành một ngôi chùa rộng lớn, đẹp, thiêng liêng Ruộng đất của nhà chùa có tới 20 mẫu với
ba con trâu cày và hai lực điền giúp việc Đến nay chùa Bắc Mã không còn giữ được nguyên vẹn như trước, kết cấu khung kiến trúc đã bị đổ nát hoàn toàn nhưng một số hiện vật vẫn còn giữ lại được Nghệ thuật chạm khắc trên đá ở chùa Bắc Mã được thể hiện khá tinh xảo ở các hiện vật còn lại (bia đá, con rồng, tháp…) Nó kết hợp được một cách khéo léo nghệ thuật của các thời kỳ trần, Hậu Lê, Nguyễn Chạm khắc đá thể hiện nét điêu khắc thời Trần qua tượng con rồng được đặt ở bậc lên xuống, còn lại Bố cục rồng gọn, đường nét rất sinh động khoẻ khoắn, thân có hình tròn lẳn, mập mạp, múp dần về phía sau đuôi, uốn khúc nhẹ Điêu khắc đá thời Hậu Lê được thể hiện rõ ở các bia đá với hình hai con rồng chầu mặt nhật, các nét chạm khắc mạch lạc, hai bên khung dọc theo thân bia là hoa lá mềm mại, cách điệu biểu hiện điêu khắc thời Lê
Địa điểm lịch sử trung tâm chiến khu Đông Triều đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử Cấp Quốc gia theo Quyết định số 2379/QĐ-BT, ngày 05/9/1994
5 Chùa Mỹ Cụ, xã Hưng Đạo, huyện Đông Triều - Di tích Nghệ thuật - Xếp hạng cấp Quốc gia năm 2000
Chùa Mỹ Cụ, xã Hưng Đạo, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh - Di tích Nghệ thuật
- Xếp hạng cấp Quốc gia tại Quyết định số: 13/QĐ-BVHTT, ngày 28/7/2000 của Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch)
Chùa Mỹ Cụ, tên chữ là Sùng Khánh Tự Chùa được xây dựng ở làng Mỹ Cụ nên lấy tên làng đặt cho chùa Tên làng được xuất phát từ truyền thuyết: “Tương truyền xưa vua Trần Nhân Tông lên núi Yên Tử đi tu, dân làm cỗ ngon dâng vua, nên đặt tên là Mỹ Cụ” còn tên Sùng Khánh Tự mang ý nghĩa đề cao phật pháp vô biên, khánh có nghĩa là tốt lành
Chùa Mỹ Cụ tọa lạc bên sườn núi Chè (ngọn núi mang hình con rùa), thuộc thôn Mỹ Cụ,
xã Hưng Đạo, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
Vào thời Trần Phật giáo bước vào thời kỳ phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam và ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của cuộc sống Sau khi vua Trần Nhân Tông đi tu ở Yên Tử
và sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm qua đời, Pháp Loa dưới sự dìu dắt của vua Trần Nhân Tông đã được truyền Pháp y và lên làm vị tổ thứ 2 của phái thiền Trúc Lâm Dưới thời Pháp Loa, giáo lý Trúc Lâm có sức quyến rũ mạnh mẽ tín đồ đạo Phật Từ Yên Tử, giáo lý Trúc Lâm phát triển ra khắp vùng Đông - Bắc Thời kỳ này có 800 ngôi chùa lớn nhỏ được dựng lên Chùa Mỹ Cụ cũng được xây dựng vào thời kỳ này Khởi dựng chùa có quy mô
và kết cấu kiến trúc kiểu chữ đinh Đến thời sau này chùa được mở rộng ra khá khang trang, bao gồm chùa chính, nhà tổ, nhà tăng, tạo thành một kiến trúc tổng thể hình chữ khẩu
Trang 6Chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo được ghi lại ở văn bia đặt ở sân chùa Nhưng cuối thời Nguyễn, ngôi chùa đã bị tàn phá, chỉ còn lại chùa chính kiến trúc kiểu chữ đinh (T), nhưng kết cấu vì kèo và điêu khắc còn giữ được khá nguyên trạng và hệ thống tượng pháp có giá trị nghệ thuật cao, như tượng: A Di Đà, tượng Thích Ca Mầu Ni, tượng Quan
Âm Chuẩn Đề, tượng Ca Diếp, tượng Anan Các pho tượng gỗ có liên đại từ thời Tây Sơn và thời Nguyễn vẫn được lưu giữ khá tốt Hệ thống tượng pháp được tạc tỉ mỉ và khéo léo, mỗi pho tượng mang một hình dáng, biểu hiện nội tâm khác nhau Các nét chạm trổ mềm mại nhưng khỏe khoắn và dứt khoát Màu sắc, hoa văn trang trí trên từng pho tượng đều mang đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc Bên cạnh đó chùa Mỹ Cụ còn có những mảng chạm ở các vì kèo, đầu dư, kẻ, bảy thể hiện sự khéo léo và cầu kỳ của những người thợ
có tâm tạo dựng và trùng tu chốn phật đài
Chùa Mỹ Cụ được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là di tích nghệ thuật cấp Quốc gia theo Quyết định số 13/2000-QĐ-BVHTT, ngày 28/7/2000
6 Khu di tích Hổ Lao, xã Tân Việt, huyện Đông Triều - Di tích Lịch sử - Xếp hạng cấp Quốc gia năm 2001
Khu di tích Hổ Lao, xã Tân Việt, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh - Di tích Lịch
sử - Xếp hạng cấp Quốc gia tại Quyết định số: 38/QĐ-BVHTT, ngày 12/7/2001 của Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch)
Khu di tích lịch sử văn hoá Hổ Lao bao gồm nhà bia tưởng niệm xã Tân Việt và chùa Hổ Lao Khu di tích lịch sử văn hoá Hổ Lao nằm trên gò đất rộng, bằng phẳng ngay đầu thôn
Hổ Lao thuộc xã Tân Việt, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
Theo sử cũ thì ở đây gồm có đình và chùa Đình Hổ Lao trước đây thuộc xã Hổ Lao, tổng
Mễ Sơn, huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn Đình được xây dựng khá sớm nhưng tư liệu gốc về việc xây dựng đình đã bị thất lạc, chỉ còn lại một số bia thời Nguyễn ghi lại việc trùng tu đình vào năm 1864 thời Tự Đức Sang thời Duy Tân đình tiếp tục được trùng tu lại
và xây dựng thêm chùa và tạc tượng Cửu Long Thích Ca sơ sinh để thờ tại chùa
Trong kháng chiến đình chùa bị phá huỷ, năm 1993 nhân dân dựng tạm một ngôi chùa nhỏ
để thờ cúng Theo các cụ già ở địa phương cho biết thì trước khi bị thực dân Pháp tàn phá, đình Hổ Lao có kiến trúc kiểu chữ nhị, mái lợp ngói vẩy rồng, cột xà bằng gỗ lim, quay hướng Đông Nam Phía sau đình là ngôi chùa thờ phật, chùa có kiến trúc kiểu chữ đinh Sau khi bị tàn phá chùa được xây dựng lại có kiến trúc kiểu chữ nhất gồm 2 gian chạy dọc, quay hướng Đông Nam, kiến trúc đơn giản, mái lợp ngói xi măng, tường xây gạch đỏ, cột
bê tông xi măng, 2 hồi bít đốc
Năm 1997, Uỷ ban Nhân dân xã Tân Việt đã xây dựng một nhà bia tưởng niệm ghi công nơi thành lập Đệ tứ chiến khu và ghi tên những người con yêu dấu của xã đã hi sinh anh
Trang 7dũng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Văn bia thứ nhất ghi: “Văn bia ghi công nơi thành lập chiến khu Trần Hưng Đạo”; văn bia thứ hai ghi: “Tổ quốc ghi công” ghi tên 19 liệt sỹ trong kháng chiến chống Pháp; 31 liệt sỹ trong kháng chiến chống Mỹ; 14 liệt sỹ trong chiến tranh biên giới bảo vệ tổ quốc Nhà bia xây dựng theo kiểu đạo quán, mái lợp ngói vẩy rồng, gồm 2 tầng 8 mái, đầu đao uốn lượn hoa văn, 8 góc mềm mại tinh
tế, đầu bờ nóc đắp đầu kìm Bệ đặt bia ốp đá dài 3m, rộng 80cm xây theo kiểu nhị cấp, chạm hoa sen, trán và diềm bia khắc hoa văn dây leo, giữa trán bia có ngôi sao vàng 5 cánh trong ô tròn trắng viền vàng Năm 2009, được sự quan tâm của Nhà nước cùng sự chung tay góp sức của chính quyền, nhân dân địa phương, đình chùa Hổ Lao đang được đầu tư hoàn thiện phần nội thất, đồ thờ
Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, đình chùa Hổ Lao được nghĩa quân cách mạng dùng làm căn
cứ luyện tập quân sự và chiều ngày 8/6/1945, một sự kiện trọng đại của lực lượng vũ trang Quảng Ninh đã diễn ra ở đây, cuộc mít tinh tuyên bố thành lập Đệ tứ chiến khu (chiến khu Trần Hưng Đạo) và lập Uỷ ban quân sự cách mạng do các đồng chí Nguyễn Bình, Trần Cung, Hải Thanh phụ trách
Địa điểm đình chùa Hổ Lao nơi thành lập đệ tứ chiến khu Đông Triều được Bộ Văn hoá -Thông tin ra Quyết định xếp hạng là di tích lịch sử cấp Quốc gia theo Quyết định số 38/2001/QĐ-BVHTT, ngày 12/7/2001 để bổ sung vào Quyết định số 2379/QĐ-BT, ngày 05/9/1994 công nhận địa điểm trung tâm chiến khu Đông Triều
7 Chùa Hồ Thiên, xã Bình Khê, huyện Đông Triều - Di tích Lịch sử Văn hoá - Xếp hạng cấp Quốc gia năm 2006
Chùa Hồ Thiên, xã Bình Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh - Di tích Lịch sử Văn hoá - Xếp hạng cấp Quốc gia tại Quyết định số 55/2006/QĐ-BVHTT, ngày 29/5/2006 của Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Chùa Hồ Thiên nằm ở sườn núi Phật Sơn thuộc dãy núi Yên Tử, huyện Đông Triều, tỉnh
Theo văn bia trùng tu (trùng tu Trù Phong bi) có niên đại Vĩnh Hựu thứ hai, triều Lê (Lê Ý Tông - 1736) còn lưu giữ tại chùa, có ghi: "Chỉ có nhà Trần xưa vốn tôn sùng đạo Phật, từng mở núi san nền nơi đây, xây tam cấp, dựng bảo tháp năm tầng Hệt như phép màu cất cánh bay lên, rõ ràng vẻ đẹp hùng vĩ Trải bao sương gió, nền móng vững bền mà biếc vàng lộng lẫy" Qua tư liệu trên cho thấy Chùa Hồ Thiên có lịch sử khởi dựng từ thời Trần, tuy nhiên không có thời gian tuyệt đối chính xác là dựng vào năm nào
Sách Đại Nam nhất thống chí có đoạn: “ Pháp Loa dựng Viện Quỳnh Lâm và các Am Hồ Thiên, Chân Vạc " Như vậy, chùa Hồ Thiên chắc chắn là được dựng vào giai đoạn kể từ khi Đệ Nhị Tổ Pháp Loa kế tục sự nghiệp của Đệ Nhất Tổ cho đến cuối đời (1307-1330)
Trang 8Như vậy, di tích chùa Hồ Thiên là một trong những di tích cùng thời có liên quan đến hàng loạt các di tích thời Trần gắn với Trúc Lâm Tam Tổ ở Quảng Ninh như chùa Yên Tử, chùa
Hiện nay di tích còn lại ba lớp nền bó vỉa bằng đá cuội, mỗi lớp là một bậc lên cao, cách nhau 1,50m Riêng mặt bằng trên cùng còn nguyên các bệ đá kê chân cột, mỗi bệ có đường kính chân cột từ 60-65cm Kích thước bệ, cạnh vuông ngoài từ 80-90cm, xung quanh chạm hình cánh sen cách điệu, có những tảng đá kê liền nhau, sắp xếp theo vị trí kiến trúc cột cái, cột con Đặc biệt, hệ thống hành lang rất rộng, quy mô đồ sộ, bên cạnh là một thống đá
có chiều cao 70cm, đường kính đáy 70cm, đường kính miệng 83cm, thành dày 0,8cm Xung quanh chùa còn một hệ thống tháp đá, tháp gạch, nhiều tháp đã bị đổ vỡ Phần còn lại cho thấy hầu hết các tháp đều mang dấu ấn nghệ thuật thời Lê Cách nền trên cùng khoảng 50m về phía bên phải, có một ngôi chùa cửa vòm cuốn xây bằng đá Cửa thứ hai
mở vào một nhà bia được ghép hoàn toàn bằng những phiến đá lớn bào nhẵn, xẻ mộng có răng lắp khít, được trang trí bằng các mô típ hoa văn sinh động Giữa nhà bia là một tấm bia lớn, xung quanh trang trí rất tỉ mỉ Trán bia có dòng chữ: "Ký bi tự phong thọ", niên hiệu của bia là: "Hoàng triều Vĩnh Hựu vạn niên nhị tuế", do Trịnh Giang soạn
Di tích chùa Hồ Thiên được Bộ Văn hoá Thông tin công nhận là Di tích lịch sử văn hoá theo Quyết định số 55/2006/QĐ-BVHTT, ngày 29/5/2006
8 Chùa Ngoạ Vân, xã Bình Khê, huyện Đông Triều - Di tích Lịch sử Văn hóa - Xếp hạng cấp Quốc gia năm 2006
Chùa Ngoạ Vân, xã Bình Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh - Di tích Lịch sử Văn hoá - Xếp hạng cấp Quốc gia tại Quyết định số 55/2006/QĐ-BVHTT, ngày 29/5/2006 của Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch).
Chùa Ngọa Vân tên chữ là "Ngọa Vân tự" nằm trên núi Bảo Đài, xã Bình Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
Chùa Ngọa Vân được xây dựng vào thời Trầnlà một trong những công trình nằm trong hệ thống di tích Yên Tử, nơi Vua Trần Nhân Tông tu thiền và học đạo rồi sáng lập nên thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một giáo lý phật đạo mang đậm phong cách Việt Nam Nơi đây còn có Lăng mộ của ngài được xây dựng thời Trần, một minh chứng quan trọng cho cuộc đời tu hành tích cực của sư tổ Thiền phái Trúc Lâm
Chùa Ngoạ Vân gồm ba khu vực: Khu vực thứ nhất là một mặt bằng gần đỉnh núi, diện tích gần 1.000 m2 Trên diện tích 600 m2 ngoài là một loạt bệ đá tảng kê chân cột còn nguyên
vị trí ban đầu của một công trình kiến trúc bị phá huỷ, có thể đây là khu đón khách Phần thứ 2 là ngôi nhà xây tường gạch, cửa vòm cuốn, mái đã đổ sập Khu vực thứ 3 cách khu vực thứ nhất 700 m về phía đông, có lối đi kè đá Đây là một hệ thống bệ tháp được làm bằng đá xanh, còn tháp thì xây bằng gạch Tại đây có một khối đá lớn đã bị vỡ làm bốn mảnh, khi ghép lại có thể đọc được 3 chữ Hán lớn khắc nổi: Phật Hoàng tháp Phật Hoàng
Trang 9là danh hiệu của Trần Nhân Tông Bên trong tháp là một bài vị chữ Hán, khắc theo kiểu chữ triện: Nam vô đệ nhất tổ Gần đó còn một tấm bia đá đổ có khắc dòng chữ trên chán bia như sau: “Trần chiều Nhân Tông Hoàng đế lăng và dòng lạc khoản: “Minh Mệnh nhị thập nhất niên”(Minh Mệnh năm thứ 21(1840)
Trong hệ thống chùa am tháp ở Yên Tử, chùa Ngọa Vân xa xôi cách biệt ít được người đời thăm viếng, song đối với các nhà nghiên cứu và những người theo đạo phật thì Ngọa Vân
là chốn linh thiêng bậc nhất Đến với Ngọa Vân có thể chúng ta sẽ tìm tòi được nhiều điều thú vị về đệ nhất Trúc Lâm Tam Tổ Trần Nhân Tông cả về mặt đạo và mặt đời mà thời gian qua ít có dịp chúng ta tìm hiểu