1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh

99 27 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 4,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh(Luận văn thạc sĩ) - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái Ốc cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh

Trang 1

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

-

Trần Văn Tiến

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI ỐC CÀ NA (Tomlinia

VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ: SINH HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 2

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

-

Trần Văn Tiến

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI ỐC CÀ NA (Tomlinia

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn thạc sĩ: “Nghiên cứu đặc điểm sinh

thái ốc Cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh” là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Tú Các

kết quả nghiên cứu, số liệu, thông tin trong luận văn được thu thập, xử lý và xây dựng một cách trung thực, không sao chép, đạo văn

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những thông tin, số liệu, dữ liệu

và nội dung luận văn của mình

Tp Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2020

Người cam đoan

Trần Văn Tiến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Tú, người đã tận tình giúp đỡ, động viên, hướng dẫn và định hướng cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn Thạc sĩ này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Sinh học nhiệt đới, các thầy cô giảng viên Học Viện Khoa học và Công nghệ thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã tạo điều kiện, thuận lợi cũng như chỉ dẫn tận tình giúp tôi hoàn thành khóa học

Tôi xin chân thành cảm ơn đến tất cả bạn bè và các đồng nghiệp Viện Sinh học nhiệt đới, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam luôn bên cạnh và động viên tôi vượt qua những khó khăn trong học tập và làm việc

Và cuối cùng, tôi xin dành những tình cảm trân trọng và thân thương nhất đến bố, mẹ, anh, chị, vợ và con, các thành viên trong gia đình đã luôn bên cạnh động viên giúp và giúp tôi vượt qua những khó khăn trong học tập, nghiên cứu và làm việc

Tp Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2020

Học viên

Trần Văn Tiến

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Đặc điểm các chỉ tiêu hình thái T frausseni khu vực vùng triều tỉnh

Trà Vinh 26

Bảng 3.2 Số lượng và kích thước bọc trứng và trứng 32

Bảng 3.3 pH, nhiệt độ và độ mặn môi trường nước khu vực thu mẫu 34

Bảng 3.4 DO và TSS môi trường nước khu vực thu mẫu 36

Bảng 3.5 Nồng độ amoni, nitrat, và nitơ tổng môi trường nước các khu vực thu mẫu 38

Bảng 3.6 Nồng độ phốtphát và tổng phốtpho môi trường nước các khu vực thu mẫu 40

Bảng 3.7 Thành phần cấp độ hạt tại khu vực nghiên cứu 41

Bảng 3.8 Tương quan các đặc điểm hình thái T frausseni tại vùng triều tỉnh Trà Vinh 44

Bảng 3.9 Các thông số đặc trưng sinh trưởng của quần thể ốc Cà na theo giới tính và theo khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh 54

Bảng 3.10 Đặc trưng nhóm tuổi quần thể ốc Cà na theo chiều dài phân theo giới tính và khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh 57

Bảng 3.11 Dữ liệu sản lượng – cường lực khai thác quần thể ốc Cà na vùng triều tỉnh Trà Vinh giai đoạn 12/05 - 19/09/2019 59

Bảng 3.12 Sản lượng khai thác ốc Cà na tại vùng ven biển tỉnh Trà Vinh 62

Trang 7

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Cấu tạo dải răng kitin của T rapulum – Nguồn Peile, 1937 4

Hình 1.2 Bản đồ vị trí địa lý và khu vực nghiên cứu 6

Hình 2.1 Cấu tạo giải phẫu và các chỉ tiêu hình thái ốc Cà na 17

Hình 2.2 Bản đồ vị trí các địa điểm khảo sát 19

Hình 3.1 Hình thái cấu tạo ngoài ốc Cà na (T frausseni Nguyen, 2014) 24

Hình 3.2 Hình thái giải phẫu bên trong ốc Cà na (T frausseni) 25

Hình 3.3 Cá thể ốc Cà na mang trứng ở mặt bụng và bên hông 33

Hình 3.4 ốc Cà na tấn công nghêu (a); ốc Cà na săn ốc Nassarius sp (b) 33

Hình 3.5 Nhiệt độ, pH, và độ mặn theo mùa tại các khu vực khảo sát 35

Hình 3.6 TSS và DO theo mùa tại các khu vực khảo sát 37

Hình 3.7 Nồng độ amoni, nitrat, và tổng nitơ theo mùa theo các khu vực khảo sát 39

Hình 3.8 Nồng độ phốtphat, tổng phốtpho theo mùa tại khu vực khảo sát 40

Hình 3.9 Thành phần cấp độ hạt nền đáy theo mùa tại các khu vực khảo sát 42 Hình 3.10 Mô hình sinh trưởng quần thể ốc cà na khu vực ven biển tỉnh Trà Vinh theo theo giới tính và khu vực nghiên cứu 53

Hình 3.11 Xác suất chiều dài theo nhóm tuổi phân theo giới tính và sinh cảnh nghiên cứu 56

Hình 3.12 Kích thước quần thể ốc Cà na vùng triều tỉnh Trà Vinh dựa trên mô hình DeLury (1947) 60

Hình 3.13 Phương tiện và ngư cụ khai thác ốc Cà na 62

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC BẢNG BIỂU iv

DANH MỤC HÌNH ẢNH v

MỤC LỤC vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3

1.1 SINH HỌC, SINH THÁI HỌ ỐC NASSARIIDAE VÀ HỆ THỐNG PHÂN LOẠI ỐC CÀ NA T frausseni 3

1.1.1 Một số đặc điểm sinh học và sinh thái họ Nassariidae 3

1.1.2 Hệ thống phân loại và đặc điểm ốc Cà na - Tomlinia frausseni 4

1.2 ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÙNG VEN BIỂN TỈNH TRÀ VINH 6

1.2.1 Vị trí địa lý 6

1.2.2 Đặc điểm khí hậu và hải văn 7

1.2.3 Đặc điểm địa mạo trầm tích 8

1.3 ĐA DẠNG SINH HỌC VÙNG VEN BIỂN TỈNH TRÀ VINH 9

1.4 ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ TÀI NGUYÊN NHUYỄN THỂ VÙNG BIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 10

1.5 NGHIÊN CỨU VỀ SINH HỌC, SINH THÁI VÀ ĐẶC ĐIỂM QUẦN THỂ ỐC BIỂN Ở VIỆT NAM 12

1.6 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TƯƠNG QUAN HÌNH THÁI, MÔ HÌNH SINH TRƯỞNG VÀ XÁC ĐỊNH KÍCH THƯỚC QUẦN THỂ 14

1.6.1 Nghiên cứu tương quan hình thái 14

1.6.2 Nghiên cứu mô hình sinh trưởng 14

1.6.3 Phương pháp xác định kích thước quần thể khai thác 15

Trang 9

CHƯƠNG 2 NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 16

2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 16

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.3.1 Thu thập mẫu vật 16

2.3.2 Đặc điểm sinh học, sinh thái 17

2.3.2 Đặc điểm cấu trúc quần thể 20

2.3.3 Đặc điểm phân bố và nguồn lợi 22

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24

3.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI ỐC CÀ NA (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) VEN BIỂN TỈNH TRÀ VINH 24

3.1.1 Đặc điểm phân loại, hình thái cấu tạo ngoài và giải phẫu trong 24

3.1.2 Đặc điểm sinh sản 32

3.1.3 Tập tính bắt mồi 33

3.1.4 Đặc điểm sinh thái môi trường sống 34

3.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC QUẦN THỂ ỐC CÀ NA VEN BIỂN TỈNH TRÀ VINH 42

3.2.1 Tương quan các chỉ số hình thái của quần thể ốc Cà na 42

3.2.2 Đặc trưng sinh trưởng quần thể ốc Cà na 53

3.2.3 Đặc trưng kích thước ốc Cà na theo nhóm tuổi 55

3.3 ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ, VÀ NGUÔN LỢI ỐC CÀ NA VEN BIỂN TỈNH TRÀ VINH 58

3.3.1 Đặc điểm phân bố 58

3.3.2 Nguồn lợi 58

3.3.3 Hiện trạng khai thác 61

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63

4.1 KẾT LUẬN 63

4.2 KIẾN NGHỊ 64

Trang 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65 PHỤ LỤC 78

Trang 11

MỞ ĐẦU

Hệ sinh thái vùng triều là hệ sinh thái có tính đa dạng sinh học cao, có vai trò quan trọng trong bảo tồn và phát triển kinh tế ven biển với nhiều sinh cảnh và loài thủy sản có giá trị [1], [2], [3] Động vật thân mềm (ĐVTM) là nguồn tài nguyên quan trọng của hệ sinh thái vùng triều, nó được sử dụng làm thực phẩm cho con người, thức ăn cho một số loài thủy hải sản khác, đồ trang trí, vật liệu xây dựng, v.v [4], [5], [6] Trong ngành ĐVTM, lớp chân bụng (Gastropoda) là lớp có số lượng loài nhiều nhất và chúng phân bố trong nhiều sinh cảnh khác nhau như trên cạn, nước ngọt, nước lợ, và biển Tuy vậy, đa số các loài thuộc lớp này sống trong môi trường biển [7] Ở Việt Nam, ĐVTM ở biển khá đa dạng với khoảng hơn 2.200 loài, trong đó có khoảng hơn 1.300 loài chân bụng (Gastropoda) và 815 loài hai mảnh vỏ (Bivalvia) [8], [9] Trong đó, nhiều loài động vật thân mềm có giá trị kinh tế được nuôi trồng và khai thác rộng rãi các vùng biển của Việt Nam [10], [11], [12], [13], [14], [15]

Tomlinia frausseni Nguyen, 2014 (tên địa phương ốc Cà na, ốc Cau, ốc

Nho) là loài thứ 2 được công bố trong giống Tomlinia trên thế giới [16] và đây

là loài mới và đặc hữu của Việt Nam [17], [18], [19] Chúng phân bố ở độ sâu

1 – 10 m trên nền đáy bùn trong khu vực vùng triều Trong vài năm trở lại đây,

ốc Cà na được ghi nhận xuất hiện trên vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đặc biệt là các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh Tại Trà Vinh, ốc Cà na được người dân khai thác, trao đổi và mua bán khá phổ biến ở các chợ địa phương Nghề khai thác ốc Cà na đã góp phần tạo công ăn việc làm

và tăng thu nhập cho các ngư dân ven biển Đến thời điểm hiện tại, bởi là loài mới đặc hữu cũng như mới xuất hiện nhiều tại vùng ven biển ĐBSCL nói chung

và tỉnh Trà Vinh nói riêng nên chưa có nghiên cứu nào liên quan đến các đặc điểm sinh học, sinh thái, quần thể và nguồn lợi loài ốc này

Nhằm góp phần tìm hiểu các đặc điểm sinh học, sinh thái, phát triển và

khai thác bền vững nguồn lợi ốc Cà na, đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh thái

ốc Cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh” được đề xuất thực hiện Kết quả của nghiên cứu góp phần cung cấp cơ

sở cho việc quản lý và khai thác hợp lý, bền vững nguồn tài nguyên này

Trang 12

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định được một số đặc điểm sinh học, sinh thái và cấu trúc quần thể

ốc Cà na (Tomlinia frausseni Nguyen, 2014) khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh

Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đề ra, nội dung của nghiên cứu này bao gồm:

- Đánh giá một số đặc điểm sinh học, sinh thái học ốc Cà na vùng triều tỉnh Trà Vinh

- Đánh giá một số đặc điểm cấu trúc quần thể ốc Cà na vùng triều tỉnh Trà Vinh

- Đánh giá đặc điểm phân bố, hiện trạng khai thác và nguồn lợi ốc Cà

na vùng triều tỉnh Trà Vinh

Ý nghĩa khoa học của nghiên cứu

Kết quả của nghiên cứu góp phần bổ sung và làm rõ thêm những hiểu

biết về đặc điểm sinh học, sinh thái, và cấu trúc quần thể ốc Cà na khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh

Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà quản

lý thủy sản trong việc bảo vệ, quản lý, và khai thác một cách hiệu quả và bền vững loài ốc Cà na trong khi cân bằng với lợi ích của cộng đồng dân cư ven biển tỉnh Trà Vinh nói riêng và vùng ĐBSCL nói chung

Cung cấp số liệu mới cũng như là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về đặc điểm sinh học, sinh thái, và quần thể ốc Cà na vùng ven biển tỉnh Trà Vinh nói riêng và vùng ĐBSCL nói chung

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 SINH HỌC, SINH THÁI HỌ ỐC NASSARIIDAE VÀ HỆ THỐNG

PHÂN LOẠI ỐC CÀ NA T frausseni

1.1.1 Một số đặc điểm sinh học và sinh thái họ Nassariidae

Họ Nassariidae gồm có 8 họ phụ [20] Các loài thuộc họ Nassariia có vỏ

ốc hình trứng tròn, thường có 1 vòng xoắn khá lớn hình nón và vòng xoắn thân rộng bởi đường rãnh xoắn ốc sâu, phân biệt rõ rệt Bề mặt ngoài có hoa văn với các gân dọc (axial ribs) và các vân ngang (spiral cords), thỉnh thoảng nhẵn Không có rốn (umbilicus) Miệng khá nhỏ và thường hơi tròn, với 1 kênh siphon ngắn và uốn ngược Miệng ngoài (outer lip) hơi dày, nhẵn hoặc có răng hình răng cưa bên trong, đôi lúc có 1 đường rãnh nông hoặc khía phía sau Miệng trong (inner lip) nhẵn hoặc lằn gợn yếu nhưng không có các gờ, khu vực miệng trong bị chai sạn và được mở rộng vào 1 bộ phận nhẵn hình khiêm Vỏ nắp bằng sừng và nhỏ hơn miệng với một nhân nằm gần tận cùng của nắp và thường có răng cưa dọc theo rìa mép của vỏ nắp Đầu có các xúc tu nhỏ và dài chứa mắt lồi lên Chân lớn với các điểm bên ở phía trước và thường có 1 cặp xúc tu ở phía sau Siphon bằng thịt và rất dài [21], [22] Dải răng kitin có từ 60 – 90 hàng răng Các răng ở trung tâm có hình tròn đến hình tam giác [23]

Về sinh thái, phần lớn các loài thuộc họ Nassariidae phổ biến ở vùng triều và dưới triều, từ vùng ôn đới đến nhiệt đới, phân bố nền đáy mềm hoặc các bãi đá ở môi trường biển hoặc nước lợ Phân bố ở độ sâu từ 0 đến 1000 m nhưng phổ biến từ 0 đến 300 m [17] Các loài ốc thuộc họ Nassariidae là các

loài ưa hoạt động ăn thực vật, động vật, và xác bã hữu cơ [24], [25] Thành

phần thức ăn đa dạng gồm các nhóm giun nhiều tơ (Polychaete), Amphipoda, giáp xác (Crustaceans), tảo đáy (diatom), thân mềm chân bụng (Gastropoda), hai mảnh vỏ (Bivalvia), cá, và các mùn bã hữu cơ [26] Có thể chuyển động nhanh trên bùn hoặc cát Với siphon dài vì thế chúng có thể tìm thức ăn hoặc đào hố ẩn mình trong nền đáy Thường sống thành đàn Giới tính phân biệt, thụ tinh trong Trứng được ấp trong lớp vỏ bằng sừng Ấu trùng sống tự do trong nước như dạng phiêu sinh với thời gian tương đối dài (khoảng 1 – 2 tháng) trước khi sống đáy Các loài thuộc họ Nassariidae thương được sử dụng làm

Trang 14

thức ăn hoặc mồi bẫy của cộng đồng dân cư ven biển, và vỏ thường được dùng

để trang trí [22]

1.1.2 Hệ thống phân loại và đặc điểm ốc Cà na - Tomlinia frausseni

Năm 1882, Bellardi đã đề xuất ra họ phụ Cylleninae dựa trên sự xuất hiện đường nối – khớp nối ở miệng ngoài [27] Họ phụ Cylleninae hiện tại gồm

4 giống và 71 loài, Cyllene Gray, 1834 (23 loài), Nassaria Link, 1807 (45 loài),

Trajana Gardner, 1948 (1 loài) và Tomlinia Peile, 1937 (2 loài) [28] Dựa trên

cấu tạo dải răng bằng kitin của loài Buccinum rapulum được Reeve mô tả vào năm 1846, Peile (1937) đã đề xuất ra giống Tomlinia Dải răng kitin có cấu tạo

rất đặc biệt với các răng nhỏ dạng kim tiêm nằm xen kẽ với các đỉnh răng lớn (cusps) dạng răng lược của dải kitin trung tâm (rhachidian) Dải kitin mặt bên

có cấu trúc gồm 2 đỉnh răng lớn (dicuspid) Dải răng kitin có tổng cộng 72 hàng Trong một số hàng của dải kitin trung tâm, gần khu vực phía trước, tại vị trí X đỉnh răng lớn được thay thế bởi răng nhỏ dạng kim tiêm (Hình 1.1) [29]

Hình 1.1 Cấu tạo dải răng kitin của T rapulum – Nguồn Peile, 1937 Đến thời điểm hiện tại, có 2 loài ốc thuộc chi Tomlina được ghi nhận trên thế giới là loài T rapulum (Reeve, 1846) và T frausseni Nguyen, 2014 Dựa

trên công bố của Nguyen Ngoc Thach (2014) [16] thì ốc Cà na có hệ thống phân loại như sau:

Trang 15

Phylum MOLLUSCA

Class Gastropoda Cuvier, 1797

Subclass Caenogastropoda Cox, 1960

Order Neogastropoda Wenz, 1938Supperfamily Buccinoidae Rafinesque, 1815Family Nassariidae Iredale, 1916 (1835)Subfamily Cylleninae Bellardi, 1882

Genus Tomlinia Peile, 1937 Species Tomlinia frausseni Nguyen, 2014.

Đặc điểm sinh học ốc Cà na

Về đặc điểm hình thái ốc Cà na (T frausseni) có kích thước trung bình,

chiều dài thân từ 33 – 38 mm có thể lên tới 41 mm Hình trứng thon dài với đường xoắn ốc cao và phân biệt rõ ràng, các đường nối giữa các vòng xoắn (suture) hơi lượn sóng Trôn ốc nhọn (apex) Vòng xoắn thân (body whorl) phình to, chiếm khoảng 80% chiều dài thân Chiều rộng bằng khoảng 45% chiều dài vỏ Hoa văn bao gồm các đường gân dọc (axial ribs) rộng lõm ở giữa

và có các dấu vết của các đường xoắn ốc ngang (spiral cords) Các đường gân dọc nhiều ở các vòng xoắn ốc gần trôn ốc, trở lên khó phân biệt và mất dần ở vòng xoắn cuối và nhẵn mịn ở vòng xoắn thân Các đường xoắn ngang có thể nhìn thấy được ở dưới các đường nối của vòng xoắn gần trôn ốc và trở lên khó thấy ở các vòng xoắn lớn hơn Miệng thon dài, mở rộng ra hướng bên và màu nâu đậm ở giữa Mép rìa ngoài của miệng mỏng, không có răng và có màu trắng

đến vàng ở rìa phía trong Trục giữa hơi trắng với gờ rõ ràng [16]

T rapulum phân biệt với T frausseni là loài này có các vòng xoắn có

góc cạnh và hình dáng, phần lưng và kênh siphon thô hơn Có sự hiện diện của các vân dọc ở các khu vực đường nối dọc theo các vòng xoắn Phần đầu của

siphon rộng, thô, có góc cạnh và có màu xám không có màu xanh sáng như T

frausseni Vỏ sừng phủ phía ngoài hơi vàng nhạt hơn là nâu nhạt và không bóng

như T frausseni Loài phụ T rapulum gracilis khác với T frausseni bởi hình

Trang 16

dáng có gờ dọc theo các đường xoắn gần trôn ốc Các đường xoắn này hơi mờ

và hoa văn xoắn rõ Hình dáng mỏng manh và các vòng xoắn ốc yếu hơn [16], [30], [31]

Các loài thuộc chi Tomlinia chỉ mới ghi nhận phân bố tại khu vực sông

ở Việt Nam và Indonesia [17] Theo Đỗ Văn Tứ và cs (2019) thì T frausseni

là loài đặc hữu tại Việt Nam và chỉ mới ghi nhận phân bố tại các vùng biển ven

bờ thuộc vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long Ốc cà na phân bố tại các khu vực có nền đáy bùn có độ sâu từ 1 – 10 m [16], [32] [33] 1.2 ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÙNG VEN BIỂN TỈNH TRÀ VINH

1.2.1 Vị trí địa lý

Vùng bờ biển tỉnh Trà Vinh có chiều dài khoảng 65 km được giới hạn bởi 2 cửa sông lớn là Cổ Chiên và Định An Theo Quyết định số 12/2013/QĐ-UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh Trà Vinh thì điểm mốc ranh giới trên biển giữa tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng có tọa độ 106021’05’’E 09032’52’’N và với tỉnh Bến Tre có tọa độ 106037’42’’E 09045’12’’ Vùng biển Trà Vinh bao gồm vùng biển ven bờ và vùng lộng [34] Cụ thể về khu vực vùng biển Trà Vinh như hình 1.2

Hình 1.2 Bản đồ vị trí địa lý và khu vực nghiên cứu

Trang 17

1.2.2 Đặc điểm khí hậu và hải văn

Khu vực ven biển tỉnh Trà Vinh có khí hậu gió mùa cận xích đạo với 2 chế độ gió mùa đặc trưng cho mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng

5 và kết thúc vào tháng 10 với gió mùa Tây Nam mang nhiều hơi nước và gây mưa, tốc độ gió trung bình 3 – 4 m/s Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 4 năm sau với gió mùa Đông Bắc với tốc độ gió trung bình từ 2 – 3 m/s Bên cạnh đó, còn có gió Đông Nam (gió chướng) có hướng gió gần thẳng góc bờ biển phía Đông của vùng với tốc độ gió trung bình khoảng 5 m/s Gió chướng là nguyên nhân gây nước biển dâng cao và xâm nhập mặn vào sâu trong

hệ thống kênh rạch nội đồng

Lượng mưa tại khu vực tỉnh Trà Vinh trung bình 1.620 mm/năm Lượng mưa chủ yếu tập trung vào tháng 10 Lượng mưa phân bố đồng đều và có xu hướng tăng dần theo hướng Đông Nam đến Tây Bắc

Nhiệt độ trung bình năm và các tháng khá ổn định nhưng nhiệt độ ngày

và đêm giao động khá lớn trung bình khoảng 80C Theo thống kê nhiệt độ trung bình năm giai đoạn 10 năm trở lại đây dao động từ 25 – 28,50C Nhiệt độ trung bình cao nhất vào tháng 5 và thấp nhất vào tháng 1 hàng năm Độ ẩm tương đối trung bình khoảng 80 – 85% với các tháng khô nhất thường vào tháng 3 và tháng 5 (Cục Thống kê tỉnh Trà Vinh, 2015 - 2018) [35]

Chế độ thủy triều vùng ven biển Trà Vinh có chế độ bán nhật triều với 2 lần lên xuống trong ngày Mức độ dao động của thủy triều từ 2 – 4 m Biên độ triều có xu hướng tăng dần nhưng thời gian xuất hiện chân triều và đỉnh triều chậm dần từ phía Bắc xuống phía Nam theo đường bờ biển Theo chu kỳ của mặt trăng, hàng tháng có 2 kỳ triều kém thường vào ngày 7 và 23 âm lịch và 2

kỳ triều cường vào ngày 1 và ngày 15 âm lịch

Độ sâu vùng biển ven bờ tỉnh Trà Vinh thay đổi tùy thuộc vào vị trí so với đường bờ biển Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Thảo (2019) xây dựng sơ đồ cao độ địa hình biển tỉnh Trà Vinh đề xuất từ mô hình Mike 21 cho thấy các khu vực từ đường bờ biển đến khu vực cách bờ 5 km có địa hình “sườn nghiêng nước nông” có độ sâu tăng dần từ 0 đến – 8 m Các khu vực biển cách

Trang 18

bờ 6 đến 10 km có tồn tại một “vách ngầm” - nơi có đáy địa hình có độ dốc rất lớn có độ sâu từ - 6 đến – 20 m [36]

Chế độ sóng ở khu vực ven biển tỉnh Trà Vinh bị chi phối bởi chế độ gió mùa và độ sâu nước biển Chiều cao của sóng trong mùa gió Đông Bắc cao hơn

từ 1 – 1,5m so với mùa gió mùa Tây Nam Cụ thể ở các khu vưc như sau: vào thời kỳ gió mùa Đông Bắc chiều cao sóng từ 0,46 – 1,76m tại các khu vực cách

bờ 1 km Chiều cao sóng tăng cao ra khu vực cách bờ 10 km với biên độ từ 1,10 – 2,91 m Tại khu vực cách bờ 20 km chiều cao sóng dao động từ 1,32 – 3,28 m Chế độ thủy động lực học khu vực ven biển tỉnh Trà Vinh chịu sự chi phối bởi chế độ thủy triều ra vào các cửa sông Cung Hầu và Định An và dòng chảy của sông Mê Kông Dòng chảy tại các khu vực của sông có biên độ từ 0,2 – 1,2 m/s trong khi đó khu vực ven bờ và xa bờ dao động từ 0,2 – 0,6 m/s [37]

1.2.3 Đặc điểm địa mạo trầm tích

Theo kết quả nghiên cứu chi thấythì địa mạo trầm tích tại khu vực ven biển tỉnh Trà Vinh gồm có 3 dạng là giồng cát, đầm lầy rừng ngập mặn và bãi triều Giồng cát nằm dọc bờ biển nơi có cao trình từ 1,8 – 4,0m kéo dài theo hướng từ Đông Bắc đến Tây Nam Đầm lầy rừng ngập mặn phân bố hạn chế chủ yếu ở nơi có độ sâu từ 0,4 – 0,6 m thuộc khu vực cửa Cung Hầu và cửa Định An Bãi triều hay bãi bồi ven biển phân bố từ bờ biển đến nơi có độ sâu –

5 đến – 6 m Tùy thuộc vào khu vực mà bãi triều có độ rộng khác nhau, có thể

từ 1,5 – 4,5 km [38], [39]

Trầm tích giồng cát ven biển có chiều dày dao động từ 2,5 – 5,5m và thành phần chủ yếu là cát mịn chiếm 85 – 96%, 7 – 10% sét và hữu cơ 4 - 8% Trầm tích đầm lầy rừng ngập mặn có chiều dài từ 0,7 – 1,0m chứa nhiều tàn tích thực vật có thành phần chủ yếu là sét bột 80 – 85%, cát mịn 6 – 14%, và

10 – 20% là vật chất hữu cơ Trầm tích bãi triều có thành phần chủ yếu là cát chiếm 75 – 87%, sét bột 12 – 20%, và 8 – 15% là mảnh vụn hữu cơ [38], [39]

Trầm tích bãi triều ven biển phân bố từ bờ biển ra ngoài đến độ sâu từ -

5 đến - 6 m Trầm tích có thành phần cấp độ hạt chủ yếu là cát mịn chiếm 75 – 87%, kế đến là sét bột chiếm 12 – 20% và 8 – 15% là các xác bã hữu cơ

Trang 19

1.3 ĐA DẠNG SINH HỌC VÙNG VEN BIỂN TỈNH TRÀ VINH

Đa dạng sinh học vùng biển Trà Vinh được biết đến thông qua một số công trình nghiên cứu với dữ liệu các nhóm loài khá phong phú Tuy vậy, các nghiên cứu này chỉ giới hạn ở một khu vực hay một số nhóm loài nhất định chứ chưa có dữ liệu tổng thể về tính đa dạng sinh học vùng ven biển của tỉnh Trà Vinh

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tú (2019) tại khu vực ven biển thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh đã ghi nhận 58 loài thân mềm thuộc 2 lớp chân bụng (Gastropoda) và hai mảnh vỏ (Bivalvia), 13 bộ, 26 họ, và 40 giống Lớp Gastropoda có 42 loài thuộc 28 giống, 16 họ và 6 bộ Lớp Bivalvia có 16 loài thuộc 12 giống, 10 họ và 7 bộ Đối với phân ngành giáp xác (Crustacea) đã xác định khu vực ven biển thị xã Duyên Hải có 59 loài thuộc 32 giống, 17 họ và 4

bộ Trong đó, bộ 10 chân (Decapoda) chiếm ưu thế về thành phần loài với 47 loài thuộc 24 giống, 11 họ Khu hệ cá đã định danh được 94 loài cá thuộc 76 giống, 48 họ, 15 bộ cá Nghiên cứu cũng ghi nhận được 134 loài thực vật nổi (TVN) thuộc 64 chi, 35 họ, 30 bộ, 8 lớp thuộc 5 ngành tảo Trong đó, ngành tảo Silic chiếm ưu thế với 98 loài, kế đến là ngành tảo lam (21 loài), tảo giáp (8 loài), tảo lục (5 loài), và ngành tảo mắt (2 loài) Ngoài ra, nghiên cứu đã ghi nhận có 7 loài rong biển thuộc 6 chi, 5 họ, 4 bộ, 3 lớp thuộc 3 ngành rong là rong lục (Chlorophyta, 4 loài), rong đỏ (Rhodophyta, 2 loài), và rong nâu (Ochrophyta, 1 loài) tại khu vực vùng triều thị xã Duyên Hải [40]

Một số nhóm loài được ghi nhận ở vùng biển Trà Vinh thông qua các nghiên cứu đơn lẻ gồm nghiên cứu của Nguyễn Tác An (1994) đã ghi nhận tại khu vực ven biển tỉnh Trà Vinh có 81 loài TVN, 109 loài giáp xác (thuộc 36 giống, và 15 họ), 80 loài ngành thân mềm thuộc 3 lớp chân bụng (Gastropoda

30 loài, Cephalopoda 10 loài, và Bivalvia hơn 40 loài), 150 loài cá thuộc 78 giống, 40 họ tại khu vực ven biển tỉnh Trà Vinh [41] Nghiên cứu của Vương Quang Việt (2007) ghi nhận được 101 loài TVN phân bố tại các khu vực rừng ngập mặn ven biển với nhóm tảo Silic (Bacillariophyta) chiếm ưu thế, động vật đáy khu vực vùng cửa sông và ven biển tỉnh Trà Vinh có 73 loài với lớp giáp

Trang 20

xác (Crustacea) chiếm ưu thế, kế đến là giun nhiều tơ - Polychaeta, hai mảnh

vỏ (Bivalvia), chân bụng (Gastropoda), và hàm tơ (Chaetognata) [42]

1.4 ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ TÀI NGUYÊN NHUYỄN THỂ VÙNG BIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Nghiên cứu về nguồn lợi nhóm 2 mảnh vỏ khu vực vùng triều ven biển phía Nam Vo Si Tuan & Nguyen Huu Phung (1998) cho thấy có 4 loài hai mảnh

vỏ phổ biến là Anadara antiquata, A granosa, Meretrix lyrata, và Chlamys

nobilis với sản lượng khai thác từ 90 – 120 tấn/năm [43] Nguyen Huu Phung

(2000) trong nghiên cứu của mình cho thấy M lyrata khu vực Tiền Giang, Bến

Tre, và Trà Vinh có sản lượng khoảng 54 – 61 tấn/năm, sản lượng sò huyết 15 – 20 tấn/năm [44]

Nguyễn Hữu Phụng và cs (1999) đã đánh giá 13 loài hai mảnh vỏ và

chân bụng chính có giá trị kinh tế ven biển Nam Bộ Trong đó, sò huyết (A

granosa) có sản lượng 15.000 – 20.000 tấn/năm và nghêu Bến Tre (M lyrata)

có sản lượng 51.000 – 64.000 tấn/năm phân bố chủ yếu ven biển khu vực Tiền

Giang, Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng Các loài bào ngư (Haliotis sp.) và trai ngọc (Pinctada sp.) có sản lượng từ 1 – 2 tấn/năm tập trung chủ yếu tại vùng biển tỉnh Kiên Giang [45]

Nguyen Chinh (1999) đã thống kê lại được 56 loài chân bụng, 24 loài hai mảnh vỏ và 8 loài chân đầu các loài động vật thân mềm có giá trị kinh tế ở Việt Nam Trong đó, khu vực Nam Bộ có 17 loài có giá trị kinh tế với 1 loài thuộc lớp chân bụng (Gastropoda), 11 loài thuộc lớp 2 mảnh vỏ (Bivalvia) 5 loài thuộc lớp Chân đầu (Cephalopoda) [10]

Theo Nguyễn Xuân Dục (2001) lớp động vật chân đầu (Cephalopoda) ở vùng biển Phía Nam có 40 loài Trong đó, bộ bạch tuộc (Octopoda) và ốc anh

vũ (Nautiloidae) có 1 loài, bộ mực ống (Teuthoidae) có 15 loài và bộ mực nang (Sepioidae) có 23 loài Trữ lượng các loài mực nang 48.705,8 kg với khả năng khai thác là 19482,3 kg Đối với các loài mực ống, trữ lượng khai thác tại khu vực vùng biển Nam Bộ khoảng 41577,1 kg và khả năng khai thác là 16630,9

kg [46]

Trang 21

Đặng Ngọc Thanh (2003) đã xác định được 51 loài động vật thân mềm bao gồm 25 loài chân bụng, 15 loài hai mảnh vỏ, và 11 loài động vật chân đầu

có giá trị kinh tế ven biển phía Nam Việt Nam Trong đó, nhiều loài có trữ

lượng lớn như các loài mực nang (Sepia sp.), các loài mực ống (Loligo sp.), nghêu Bến Tre (M lyrata), sò huyết (A granosa), sò lông (A subcrenata và A

antiquata), dòm nâu (Modiolus philippinarum), và ốc hương (Babylonia sp.)

[11]

Nguyễn Văn Chung và Hà Lê Thị Lộc (2007) đã tổng kết các kết quả nghiên cứu trước đó về động vật đáy tại khu vực vùng biển Ninh Thuận – Cà Mau đã xác định được 170 loài động vật thân mềm gồm 90 loài chân bụng, 65 loài hai mảnh vỏ và 15 loài chân đầu Mật độ trung bình của động vật thân mềm ghi nhận được là 21,5 cá thể/m2 với sinh khối trung bình 2,95 g/m2 [13]

Đỗ Thanh An và cs (2014) đã ghi nhận tại khu vực rạn san hô vùng biển Phú Quốc và Thổ Chu lần lượt có 123 và 144 loài động vật thân mềm (bao gồm các loài thuộc lớp chân bụng, hai mảnh vỏ và chân đầu) Mật độ các các loài thân mềm ghi nhận 52 cá thể/m2 ở Phú Quốc và 55 cá thể/m2 ở Thổ Chu với sinh khối tương ứng là 4.829,4 gam/m2 và 5.029,2 gam/m2 [47]

Nguyễn Quang Hùng và cs (2015) đã xác định được 108 loài động vật thân mềm thuộc 36 họ, 12 bộ, 3 lớp chân bụng (48 loài), hai mảnh vỏ (48 loài),

và chân đầu (11 loài) khu vực RNM vùng ĐBSCL Rừng ngập mặn Vườn quốc gia Mũi Cà Mau xác định được 93 loài với 10 loài chân đầu, 36 loài chân bụng

và 48 loài 2 mảnh vỏ Nhóm tác giả đã cũng cho thấy trữ lượng động vật thân mềm trong hệ sinh thái RNM khu vực ĐBSCL khá lớn [15]

Đỗ Anh Duy và cs (2017) đánh giá ĐDSH các loài sinh vật khu vực quần đảo Thổ Chu đã xác định được 223 loài động vật thân mềm với 133 loài chân bụng, 69 loài 2 mảnh vỏ, 18 loài chân đầu và 3 loài nhiều tấm vỏ Mật độ trung bình 16,8 cá thể/m2 với sinh khối trung bình 563,1g/m2 [48]

Trang 22

1.5 NGHIÊN CỨU VỀ SINH HỌC, SINH THÁI VÀ ĐẶC ĐIỂM QUẦN THỂ ỐC BIỂN Ở VIỆT NAM

Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái ốc biển ở Việt Nam chủ yếu

tập trung vào các đối tượng ốc biển có giá trị kinh tế như bào ngư (Haliotis sp.),

ốc Hương (Babylonia areolata, Link1807), ốc Đụn miệng trắng (Tectus

pyramis (Born, 1778)), ốc Nhảy đỏ lợi (Strombus luhuanus Linnaeus, 1758),

ốc Nhảy (Trombus canarium Linnaeus, 1758), ốc Vú nàng (Cellana

testudinaria (Linnaeus, 1758)), và ốc độc như ốc Cối (Conus textile Linnaeus,

1758)

Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học và sinh sản bào ngư được thực hiện tại Quảng Ninh và Hải Phòng [49] và khu vực Khánh Hòa [50], [51] Các nghiên cứu cho thấy bào ngư thường sống bám trên các rạn đá san hô, nơi có sóng lớn, độ mặn cao và ít biến động Ban ngày trú ẩn và kiếm ăn vào ban đêm Kết quả phân tích dại dày của bào ngư gồm các loài tảo đáy với các loài tảo Silic chiếm đa số Bào ngư chín lỗ là loài có giới tính phân biệt, tuyến sinh dục con đực có màu trắng sữa và của con cái có màu lam hoặc nâu nhạt nằm ngay dưới lớp màng áo Trứng hình cầu có đường kính 180 µm, với màng bao dày

40 – 50 µm Mùa vụ sinh sản của H diversicolor thường vào tháng 4 – 5 và

tháng 10 – 11 hàng năm Nguyễn Văn Chung (2001) cho thấy có mối tương quan chặt về chiều dài và cân nặng của loài bào ngư bầu dục Sự phát triển của chiều dài là nhanh hơn so với khối lượng [52]

Nghiên cứu đặc điểm sinh học của ốc Hương (B areolata) được Nguyễn

Thị Xuân Thu (2000) thực hiện Kết quả cho thấy, ốc Hương phân bố từ Thanh Hóa trở vào Nam Bộ Khu vực phân bố thường cách bờ 2 – 3km có nền đáy cát hoặc pha lẫn mùn bã hữu cơ có độ sâu trung bình 8 – 12m Mùa vụ khai thác ở Bình Thuận từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với hình thức khai thác bằng bẫy hay rập Ốc Hương có giới tính phân biệt, ở con đực có dương vật và con cái

có lỗ đẻ Tỷ lệ đực: cái trong nghiên cứu là 1:1,49 Sức sinh sản trung bình là

38 bọc trứng với mỗi bọc chứa trung bình 743 trứng có kích thước 242 µm Sức sinh sản trung bình trong tự nhiên là 56.424 trứng/lần để và nhân tạo là 38.677

Trang 23

trứng/lần đẻ Tương quan trọng lượng toàn thân (Wtt) và chiều rộng vỏ (Wd)

là Wtt=0,0013Wd2,84 với hệ số tương quan r2=0,98 [53]

Ốc Nhảy đỏ lợi (S luhuanus) cũng được Huỳnh Minh Sang và Đỗ Hữu

Hoàng (2006) nghiên cứu ở vùng biển Khánh Hòa Ốc Nhảy khai thác có chiều dài từ 26 – 72 mm, thời điểm sinh sản kéo dài từ tháng 4 – 9 và chủ yếu là tháng

4 – 7 với sức sinh sản trung bình 251.080 ± 89.843 trứng/cá thể Tỷ lệ đực: cái trong tự nhiên là 1,27: 1 Các thông số mô hình tăng trưởng von Bertalanffy gồm L∞=75,6mm, K=0,51/năm, t0=0 năm [54]

Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Thắng (2008) về sinh học, sinh sản ốc

Nhảy cho thấy: ốc nhảy S canarium có giới tính phân biệt và thụ tinh trong

Kích thước chiều dài sinh sản lần đầu cá thể đực 51 – 55 mm và cá thể cái là

56 – 60 mm Tỷ lệ đực: cái là 1: 1,25 Tuyến sinh dục có 4 giai đoạn phát triển

Ốc Nhảy sinh sản tập trung từ tháng 2 -4 và trong tháng 8 Ốc cái có thể để 18472,68 ± 1719,82 trứng/ lần đẻ Trứng có đường kính dọc 190-210 µm và ngang 250-279 µm Trứng có thể phát triển ở độ mặn 15-40 ‰, thích hợp nhất 25-35 ‰ [55]

Hoàng Đức Lư và cs (2013) nghiên cứu đặc điểm sinh sản ốc Đụn miệng

trắng (T pyramis) cho thấy tỷ lệ đực: cái của ốc là 1: 0,93 Ốc Đụn sinh sản

quanh năm với mùa đẻ chính vào tháng 4 - 7 và mùa đẻ phụ từ tháng 11 – 12 Sức sinh sản tuyệt đối trong mùa đẻ chính là 19.840 ± 75.792 trứng/cá thể [56]

Ốc Cối (C textile) được Nguyễn Thị Trang và cs (2015) nghiên cứu đặc điểm

sinh học và sinh sản ở vùng biển Khánh Hòa cho thấy, ốc loài này tấn công các loài cá nhỏ bằng độc tố Tuyến sinh dục phát triển qua 5 giai đoạn, tuyến sinh dục con cái có màu nâu sẫm và con đực có màu trắng sữa Mùa vụ sinh sản tự nhiên vào tháng 2 – 6 hàng năm với kích thước sinh sản lần đầu 73,78

mm, tỷ lệ thành thục 75% Sức sinh sản tuyệt đối dao động 11.734 đến

144.815 trứng/cá thể, trung bình 71.751 ± 16.310 trứng/cá thể [57]

Trang 24

1.6 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TƯƠNG QUAN HÌNH THÁI,

MÔ HÌNH SINH TRƯỞNG VÀ XÁC ĐỊNH KÍCH THƯỚC QUẦN THỂ

1.6.1 Nghiên cứu tương quan hình thái

Các nghiên cứu về đặc điểm hình thái và các mối tương quan hình thái bao gồm các mô tả về các đặc điểm chi tiết, đặc điểm phân loại loài, phân biệt quần thể, phân biệt giới tính, v.v Đối với ốc, mô hình nghiên cứu tương quan

cơ bản thường được sử dụng đó là mối quan hệ giữa chiều dài và cân nặng [58], [59] Bên cạnh đó, có nhiều nghiên cứu đã sử dụng nhiều chỉ tiêu hình thái để đánh giá các mối tương quan của ốc [59], [60] Việc xây dựng các mối tương quan về hình thái cho phép thiết lập các phương trình (mô hình) tương quan và chuyển đổi qua lại giữa các biến số tương quan Các nghiên cứu về mô hình tương quan sẽ rất hữu ích cho các nghiên cứu về sinh học, sinh thái, động lực – xu thế của quần thể cũng như việc đánh giá và quản lý khai thác đặc biệt là các đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế

1.6.2 Nghiên cứu mô hình sinh trưởng

Sự sinh trưởng của từng cá thể trong một quần thể thường được đặc trưng bởi một chỉ tiêu đại diện cho sự sinh trưởng cá thể trung bình trong quần thể

Sự sinh trưởng của cá thể thường được xác định là sự gia tăng về chiều dài hoặc khối lượng khi độ tuổi tăng. Trong nghiên cứu sinh trưởng của các loài động

vật thường được mô hình hóa bằng nhiều mô hình khác nhau như von Bertalanffy, hàm mũ, hàm logarit, hàm đa thức ngoài ra cũng có các mô hình

cụ thể như Gompertz, Schnute, and Richards [61], [62], [63], [64], [65] Trong

đó, mô hình von Bertalanffy được sử dụng phổ biến và rộng rãi nhất để đánh giá sự sinh trưởng của các đối tượng cá, tôm, cua, và nhuyễn thể Nhiều nhóm loài động vật thân mềm được nghiên cứu sự sinh trưởng thông qua áp dụng mô

hình von Bertalanffy như mực (Loligo gahi), các loài hai mảnh vỏ như sò (Mesodesma mactroides) hay các loài ốc biển như Buccinanops globulosus,

Nassarius reticulatus [66], [67], [68], [69]

Trang 25

1.6.3 Phương pháp xác định kích thước quần thể khai thác

Có nhiều phương pháp xác định kích thước quần thể khai thác trong nghiên cứu sinh thái như phương pháp thay đổi tỷ lệ (Change-in-Ratio Methods), phương pháp loại bỏ Eberhardt hay chỉ số - loại bỏ (Eberhardt’s Removal Method hay index-removal method), và phương pháp sản lượng khai thác – cường lực khai thác (Catch – Effort Methods) [70], [71], [72]

Phương pháp thay đổi tỷ lệ (Change-in-Ratio Methods) ước lượng kích thước quần thể dựa trên sự thay đổi tỷ lệ của các nhóm (như giới tính, kích thước, độ tuổi, v.v) trong quần thể do việc loại bỏ một số lượng cá thể trước và sau khai thác [72], [73] Phương pháp này được áp dụng khá nhiều trong đánh

giá kích thước quần thể của các đối tượng thủy sản như cua tuyết (Chionoecstes

opilio), cua biển Bắc Mỹ (Cancer magister) tôm hùm Mỹ (Homarus americanus), bào ngư môi đen (Haliotis rubra), cá vược sọc (Morone saxatilis)

[74], [75], [76], [77], [78]

Phương pháp chỉ số - loại bỏ được sử dụng để ước tính kích thước của quần thể bằng cách sử dụng sự thay đổi trong chỉ số kích thước quần thể bởi một lượng loại bỏ đã biết [79] Phương pháp chỉ số - loại bỏ được cũng được

áp dụng nhiều trong đánh giá kích thước quần thể các loài động vật đặc biệt là

các đối tượng thủy sản như tôm hùm đá (Jasus edwardsii), cua tuyết (Chionoecstes opilio), sò điệp (Placopecten magellanicus) [76], [76], [80]

Phương pháp sản lượng khai thác – cường lực khai thác được sử dụng để đánh giá kích thước quần thể dựa trên số lượng cá thể nhất định được khai thác loại bỏ ra khỏi quần thể với một cường lực đánh bắt đã được xác định trước [81] Phương pháp này được dùng phổ biến và rộng rãi để xác định kích thước

quần thể các loài thủy sản như bào ngư môi đen (Haliotis rubra), tôm hùm đất Thổ Nhĩ Kỳ (Astacus leptodactylus), tôm (Xiphopenaeus kroyeri), ghẹ xanh (Callinectes sapidus) [82], [83], [84], [85]

Trang 26

CHƯƠNG 2 NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng của nghiên cứu này là quần thể ốc Cà na – T frausseni khu

vực vùng triều tỉnh Trà Vinh

Phạm vi của nghiên cứu này là khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh bao gồm cửa sông lớn ven biển và vùng biển ven bờ của tỉnh Trà Vinh được xác định theo quyết định số 12/2013/QĐ-UBND của UBND tỉnh Trà Vinh ngày 19/05/2013 [34]

2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Thời gian nghiên cứu: thực hiện từ tháng 3/2018 – 6/2020

Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành gồm 02 nhóm công việc Nhóm công việc thu thập dữ liệu hiện trường được thực hiện trên địa bàn ven biển của tỉnh Trà Vinh thuộc 2 đơn vị hành chính là Thị xã Duyên Hải và Huyện Duyên Hải Nhóm công việc phân tích và xử lý dữ liệu, mẫu vật được thực hiện tại các phòng thí nghiệm của Viện Sinh học nhiệt đới ở địa chỉ 85 Trần Quốc Toản, Quận 3, Tp Hồ Chí Minh

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Thu thập mẫu vật

Ốc Cà na được thu thập thông qua sử dụng bẫy lồng hình hộp chữ nhật

có kích thước dài x rộng x cao: 30 x 30 x 7 cm với mồi bẫy là các loại cá tạp Lồng bẫy được bọc bên ngoài bằng lưới có kích thước mắt lưới 1 cm, có 1 chỗ

hở để cho ốc chui vào và gắn hộp mồi 20 lồng bẫy nối với 1 dải dây cách nhau

15 m được ngâm bẫy tại các khu vực khảo sát trong 9 giờ Thời gian thu mẫu được thực hiện vào tháng 5/2019

Mẫu vật được thu thập theo 02 vùng sinh thái có sự hiện diện của ốc Cà

Na gồm vùng sinh thái cửa sông và vùng sinh thái biển ven bờ Mẫu được lấy ngẫu nhiên theo vùng sinh thái với 79 cá thể đại diện cho vùng sinh thái cửa sông và 79 cá thể đại điện cho vùng sinh thái biển ven bờ

Trang 27

2.3.2 Đặc điểm sinh học, sinh thái

+ Đặc điểm phân loại, hình thái cấu tạo ngoài và giải phẫu trong

Tiến hành phân tích 22 chỉ tiêu hình thái cấu tạo của ốc được đo đạc bao gồm 17 chỉ tiêu về kích thước và 5 chỉ tiêu về trọng lượng để đánh giá hình thái học của Ốc Cà Na

Các chỉ tiêu về kích thước được đo bằng thước kẹp có độ chính xác 0,1

mm bao gồm: chiều dài miệng vỏ (AL); chiều rộng miệng vỏ AW; chiều dài thân (BWL); chiều dài mày vỏ (OL); chiều rộng mày vỏ (OP); chiều dài vòng xoắn đầu tiên (PWL); chiều dài trong miệng (SaL); chiều rộng trong miệng (SaW); chiều dày vỏ (SD); chiều dài siphon (ShL); Chiều dài vỏ (SL); chiều dài vòng xoắn (SpL); chiều rộng vòng xoắn (SpW); chiều rộng vỏ (SW); tổng chiều dài miệng vỏ (TAL) (Hình 2.1)

Hình 2.1 Cấu tạo giải phẫu và các chỉ tiêu hình thái ốc Cà na

AL-chiều dài miệng vỏ; AW-chiều rộng miệng vỏ; BWL-chiều dài thân; chiều dài mày vỏ; OP-chiều rộng mày vỏ; PWL-chiều dài vòng xoắn đầu tiên; SaL-chiều dài trong miệng; SaW-chiều rộng trong miệng; SD-chiều dày vỏ; ShL-chiều dài siphon; SL-Chiều dài vỏ; SpL-chiều dài vòng xoắn; SpW-chiều rộng vòng xoắn; SW-chiều rộng vỏ; TAL-tổng chiều dài miệng vỏ

Trang 28

OL-Các chỉ tiêu trọng lượng được đo bằng cân phân tích có độ chính xác 0,01 gram Phần thịt được gỡ bỏ khỏi phần vỏ để xác định khối lượng tươi Khối lượng thịt khô được xác định sau khi đã sấy khô phần thịt trong máy sấy

ở nhiệt độ 750C trong 96 giờ Các chỉ tiêu về khối lượngbao gồm: tổng khối lượng tươi ốc (TW), khối lượng vỏ ốc (ShW), khối lượng thịt tươi (SpWg); khối lượng thịt khô (DM); khối lượng mày vỏ (OLW)

Các chỉ tiêu về hình thái cấu tạo giải phẫu được mô tả qua quan sát, tiến hành phân tích thống kê mô tả và trình bày dưới dạng Trung bình ± Sai số chuẩn, Min, và Max sử dụng gói “psycho” trong phần mềm Rstudio version 1.2.5052

+ Tập tính bắt mồi

Tập tính của ốc Cà na được ghi nhận thực tế qua quan sát hoạt động của

ốc Cà na vào ban ngày và ban đêm tại khu vực cửa sông và biển ven bờ vào những ngày triều thấp Hoạt động đặt bẫy được tiến hành vào các thời điểm buổi sáng và buổi tối để đánh giá tập tính thời gian hoạt động của ốc

+ Đặc điểm sinh thái môi trường sống

Tiến hành thu thập và phân tích các chỉ tiêu sinh thái môi trường khu vực nghiên cứu với 3 thời điểm thu mẫu gồm tháng 3/2019 (mùa khô); tháng 5/2019 (giao mùa); và tháng 9 (mùa mưa) Tại mỗi khu vực thu mẫu, 3 điểm thu được chọn ngẫu nhiên để tiến hành thu mẫu Tại mỗi điểm thu mẫu, các chỉ tiêu môi trường được đo đạc 3 lần và lấy giá trị trung bình cho từng điểm Có tổng cộng

Trang 29

54 mẫu cho từng chỉ tiêu môi trường được thu thập (3 mẫu x 3 điểm x 2 khu vực (cửa sông và biển ven bờ) x 3 khoảng thời gian (tháng 3, 5, và 9/2019))

Cụ thể các vị trí các địa điểm khảo sát như hình 2.2

Hình 2.2 Bản đồ vị trí các địa điểm khảo sát Các chỉ tiêu phân tích được thực hiện gồm:

- pH, nhiệt độ, hàm lượng oxy hòa tan trong nước (DO) của môi trường nước được xác định trực tiếp tại thời điểm khảo sát sử dụng máy đo đa chỉ tiêu model AL15 của hãng Aqualytic, Đức

- Các chỉ tiêu tổng chất rắn lơ lửng (TSS), amoni (NH4+_N), nitrat (NO3-_N), phốtphát (PO43-_P), tổng nitơ (TN), tổng phốtpho (TP) được phân tích sử dụng máy quang phổ so màu model DR890 của hãng Hach, Mỹ được phân tích trực tiếp trên thực địa theo hướng dẫn của nhà sản xuất

- Mẫu trầm tích đáy được thu bằng gàu Ponar có diện tích miệng 0,025m2 và được đựng trong túi zipper plastic vận chuyển về phòng thí nghiệm để phân tích Thành phần cấp hạt được phân loại TCVN 8567:2010 [86]

Trang 30

Dữ liệu thu thập được tiến hành phân tích thống kê mô tả và được trình bày dưới dạng Trung bình ± Sai số chuẩn Phân tích phương sai 1 yếu tố và hậu phương sai bằng phép thử Tukey HSD sử dụng gói “psycho” trong phần mềm Rstudio version 1.2.5052 để so sánh các chỉ tiêu môi trường ở các khu vực nghiên cứu khác nhau và các khoảng thời gian khác nhau ở mức ý nghĩa p=0,05

2.3.2 Đặc điểm cấu trúc quần thể

Trên cơ sở 158 mẫu vật thu thập được từ 2 quần thể ốc Cà na vùng triều

và vùng cửa sông Chúng tôi tiến hành phân tích đánh giá một số đặc trưng cho cấu trúc quần thể của ốc Cà Na như sau:

+ Đánh giá tương quan các chỉ số hình thái của quần thể ốc Cà na

Dựa trên kết quả đo đạc 22 các chỉ tiêu hình thái tiến hành thiết lập tương quan các chỉ số hình thái của quần thể ốc Cà na thông qua phân tích dựa trên

quan tuyến tính bằng cách logarithm tự nhiên 2 vế phương trình:

log(Y) = log(a) + blog(L)

b là hệ số góc hay hệ số tăng trưởng log(a) là hệ số hồi quy

Đặc điểm tăng trưởng hay dạng tăng trưởng của ốc Cà na thể hiện qua

hệ số tăng trưởng (b) Sử dụng phép so sánh trung bình (t-test) với giá trị 3 Nếu b = 3 thì các chỉ tiêu tương quan hình thái là tăng trưởng đồng hình (Isometric) Nếu b ≠ 3 thì các chỉ tiêu tương quan tăng trưởng dị hình (Allometric) Nếu b > 3 biến phụ thuộc tăng trưởng nhanh hơn biến độc lập (+Allometric) Nếu b < 3 thì biến độc lập tăng trưởng nhanh hơn biến độc lập

(-Allometric) [61], [60], [87] Bên cạnh đó, trong cùng một mô hình tương quan

hình thái sử dụng phép so sánh trung bình (t-test) để so sánh hệ số tăng trưởng giữa 2 giới tính và sinh cảnh của ốc Nếu bM (cá thể đực) = bF (cá thể cái) thì tăng trưởng cả 2 giới tính không có khác biệt Nếu bM > bF thì cá thể đực tăng trưởng nhanh hơn cá thể cái Nếu bM < bF thì cá thể đực tăng trưởng chậm hơn

Trang 31

cá thể cái Tương tự đối với bE (ốc ở sinh cảnh cửa sông) và bT (ốc ở sinh cảnh bãi bồi ven biển) [61], [60]

+ Đánh giá đặc trưng sinh trưởng quần thể ốc Cà na

Độ tuổi của ốc được xác định bằng đếm số lượng vòng tăng trưởng hàng năm nằm ở mặt trong của mày vỏ ôc (mặt gắn với phần chân của ốc) Dựa trên kết quả đo đạc về hình thái và xác định độ tuổi tiến hành phân tích đánh giá đặc trưng sinh trưởng của quần thể ốc Cà na khu vực vùng biển ven bờ tỉnh Trà Vinh được tính toán và áp dụng theo mô hình sinh trưởng von Bertalanffy điển hình theo công thức (4) của Beverton và Holt (1957) [88]

L t = L ∞ (1 – 𝑒𝑒−𝐾𝐾(𝑡𝑡−𝑡𝑡0)) (4) Trong đó: Lt là chiều dài trung bình của ốc ở tuổi t;

L∞ là chiều dài trung bình tiệm cận cực đại mà ốc cá thể đạt được;

t0= là tuổi mà giả thiết tại đó ốc có chiều dài bằng 0;

K là hệ số tỷ lệ tăng trưởng của ốc

Các mô hình sinh trưởng được tính toán cho ốc Cà na khu vực cửa sông, biển ven bờ, chung cho quần thể, cá thể cái, và cá thể đực Các thông số của

mô hình được tối ưu hóa bằng phương pháp bootstrap với 999 lần lặp lại sử dụng gói phần mềm “nlstools” và thể hiện biểu đồ sử dụng gói phần mềm

“ggplot2” Các mô hình sinh trưởng sau khi thiết lập được tiến hành phân tích

so sánh các thông số của mô hình tìm sự khác biệt giữa các giữa cá thể cái và

cá thể đực; giữa các cá thể ốc ở vùng cửa sông và vùng biển ven bờ sử dụng gói phần mềm “FSA Các phân tích được thực hiện sử dụng phần mềm Rstudio version 1.2.5052

+ Đánh giá đặc trưng kích thước ốc Cà na theo nhóm tuổi

Dựa trên kết quả đo đạc chiều dài ốc và xác định độ tuổi của ốc dựa trên mày vỏ tiến hành phân tích đặc trưng nhóm tuổi của quần thể ốc Cà na khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh thông qua chỉ tiêu hình thái chiều dài cho cả quần thể

ốc, riêng cho từng giới tính và từng khu vực nghiên cứu Các phân tích được

Trang 32

thực hiện bằng phần mềm Rstudio version 1.2.5052 với gói phần mềm “FSA”,

và “ggplot2”

2.3.3 Đặc điểm phân bố và nguồn lợi

+ Đánh giá đặc điểm phân bố

Thực hiện phỏng vấn thu thập thông tin 42 ngư dân khai thác ốc Cà na theo phiếu điều tra (Phụ lục 1) về khu vực phân bố của ốc Cà na, đặc điểm khu vực phân bố của ốc Cà na tại vùng triều tỉnh Trà Vinh

Tiến hành khảo sát, thu thập dữ liệu thực tế thông qua bằng cách đặt bẫy mồi để kiểm tra thông tin về khu vực phân bố theo kết quả phỏng vấn người dân khai thác địa phương Tọa độ vị trí khảo sát sẽ được ghi lại bằng máy GPS

+ Đánh giá hiện trạng khai thác và nguồn lợi

Sử dụng phương pháp sản lượng – cường lực khai thác (Catch–Effort Methods) theo Leslie & Davis (1939), Fischler (1965), Krebs (1999) để đánh giá nguồn lợi ốc Cà na khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh với các giả thiết: i) Quần thể ốc Cà na vùng triều tỉnh Trà Vinh là quần thể đóng; ii) Xác suất bắt được mỗi cá thể ốc không thay đổi trong suốt thời gian đánh bắt; và iii) Xác suất bắt được mỗi cá thể ốc Cà na là như nhau [91], [70], [85]

Số liệu về sản lượng ốc khai thác hàng ngày được được ghi nhận từ 39 ngư dân khai thác bằng hình thức bẫy lồng tại khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh trong khoảng thời gian từ 12/05 - 19/09/2019 Cường lực khai thác được tính

là số lần đi biển khai thác ốc của mỗi ngư dân/ngày Số liệu về sản lượng ốc

Cà na khai thác được và cường lực khai thác được tổng hợp theo theo tuần Tổng cộng có 19 tuần khai thác được ghi nhận trong thời gian nghiên cứu

Khả năng khai thác và kích thước quần thể ốc Cà na được tính toán theo

mô hình của Leslie & Davis (1939) và (Krebs, 1999) theo công thức (1) và (2)

[91], [70] Nếu hệ số khả năng đánh bắt “C” nhỏ hơn 0,02 tức là 2% sinh lượng

của quần thể bị đánh bắt thì sinh lượng của quần thể được tính toán sử dụng mô hình của DeLury (1947) bằng cách lấy logarit tự nhiên 2 vế công thức (2) được công thức (3) [61], [70] Các phân tích được thực hiện sử dụng phần mềm

Rstudio version 1.2.5052 với các gói phần mềm “FSA”, và “ggplot2”

Trang 33

Khả năng khai thác (Catchability): 𝐶𝐶 = − ∑𝑖𝑖=1𝑌𝑌𝑌𝑌(𝐾𝐾𝑌𝑌−𝐾𝐾�)

fi là cường lực khai thác (lần/ngày)

𝐾𝐾� là giá trị trung bình của Ki (sản lượng khai thác tích lũy) = (∑ 𝐾𝐾𝐾𝐾/𝑠𝑠)

s là tổng số lượng mẫu (i=1, 2, 3…s)

Trang 34

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Nguyen, 2014) VEN BIỂN TỈNH TRÀ VINH

3.1.1 Đặc điểm phân loại, hình thái cấu tạo ngoài và giải phẫu trong

a) Đặc điểm phân loại và hình thái cấu tạo ngoài

Đặc điểm hình thái ngoài: vỏ dạng hình trứng kéo dài, vỏ nhẵn bóng có màu xanh xám, mỏng nhưng rất cứng, tỷ lệ giữa tháp ốc và vòng xoắn cuối khoảng 20%: 80%, đỉnh vỏ sắc nhọn, 3 vòng xoắn cuối có các gờ dọc, rãnh xoắn sâu Phần miệng vỏ hình elip thon dài có màu trắng đến hơi vàng dọc theo rìa và sâu vào bên trong màu nâu tím, môi ngoài mỏng, siphon ngắn và mở rộng

về phía cuối, không có rốn, mặt trên siphon có 6 gờ chạy song song Mày vỏ hình elip thon dài và màu vàng cánh gián (Hình 3.1.)

Hình 3.1 Hình thái cấu tạo ngoài ốc Cà na (Tomlinia frausseni Nguyen,

2014) Kết quả nghiên cứu đã xác định 22 chỉ tiêu hình thái ngoài của 158 cá thể ốc Cà na tại khu vực cửa sông và biển ven bờ tỉnh Trà Vinh Trong đó, số

146 cá thể ốc đã xác định được giới tính bao gồm 70 cá thể đực và 76 cá thể

Trang 35

cái Cụ thể kết quả thống kê mô tả (trung bình, sai số chuẩn, giá trị lớn nhất và nhỏ nhất) các đặc điểm hình thái của ốc Cà na được thể hiện ở bảng 3.1 Kết quả của nghiên cứu này cho thấy ốc Cà na khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh có chiều dài thân trung bình là 32,03 ± 0,41 mm Chiều dài thân tối đa xác định trong nghiên cứu này là 42,10 mm cao hơn so với kích thước tối đa của ốc Cà

na mà Thach (2014) đã công bố tại khu vực vịnh Gành Rái, Cần Giờ, thành phố

Hồ Chí Minh [16]

b) Đặc điểm hình thái giải phẫu bên trong

Kết quả giải phẫu cho thấy chân của ốc Cà na lớn chiếm khối lượng khoảng hơn 50% khối lượng tươi có gắn với mày vỏ Phần đầu nằm ngay phía trên phần chân có 2 xúc tu cảm giác với hai mắt ở trên đỉnh xúc tu Siphon dài khoảng 1/3 chiều dài thân Dương vật (cá thể đực) và lỗ đẻ (cá thể cái) nằm dưới phần đầu gần xúc tu cảm giác Vỏ áo bao bọc toàn bộ phần đầu, và cơ quan sinh dục Cơ trụ màu trắng đục, ngắn nằm ngay dưới lớp vỏ áo Tuyến tiêu hóa màu nâu xám nằm song song với tuyến sinh dục Tuyến sinh dục ở cá thể đực có màu vàng nâu, cá thể cái có màu vàng nhạt đến trắng sữa (Hình 3.2.)

Hình 3.2 Hình thái giải phẫu bên trong ốc Cà na (T frausseni)

Trang 36

Bảng 3.1 Đặc điểm các chỉ tiêu hình thái T frausseni khu vực vùng triều tỉnh Trà Vinh

Ngày đăng: 02/02/2021, 19:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm