Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phần Nội dung của bài nghiên cứu được kết cấu thành 2 chương, 6 tiết.. Từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, các nước ph[r]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA TRIẾT HỌC -
Ngô Thị Tuyết Nhung
QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG NGUYỄN ÁI QUỐC
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA TRIẾT HỌC -
Ngô Thị Tuyết Nhung
QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG NGUYỄN ÁI QUỐC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Quá trình chuyển biến tư tưởng Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930” là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi Các quan điểm, dẫn chứng nêu trong luận văn là quan điểm
cá nhân, có sự tham khảo, sưu tầm và sự kế thừa những nghiên cứu của các tác giả đi trước Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của mình
Người cam đoan
Ngô Thị Tuyết Nhung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin chân thành cảm ơn sự dạy dỗ nhiệt tình của các thầy cô trong khoa Triết học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội trong suốt thời gian em học tại khoa, trường Vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn
là hành trang quý báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin
Ngoài ra, em xin gửi lời cảm ơn tới những cá nhân cũng như tổ chức
đã tạo điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ em trong suốt quá trình làm khóa luận
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Trần Thị Hạnh đã giúp đỡ và hướng dẫn em rất tận tình trong quá trình thực hiện
và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng chắc chắn khóa luận sẽ không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô cùng toàn thể các bạn sinh viên để khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 31 tháng 5 năm 2020
Ngô Thị Tuyết Nhung
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1.Lý do chọn đề tài 3
2 Tình hình nghiên cứu 4
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu: 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của khóa luận 6
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 6
8 Kết cấu khóa luận 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG I: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC GIAI ĐOẠN 1911-1930 7
1.1 Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội thế giới và Việt Nam đầu thế kỷ XX 7
1.1.1 Điều kiện kinh tế, chính trị thế giới đầu thế kỷ XX 7
1.1.2 Chuyển biến chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam 8
1.1.3 Khủng hoảng về đường lối cứu nước ở Việt Nam đầu thế kỷ XX10 1.2 Tiền đề cho sự ra đời và chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930 11
1.2.1 Quan niệm dân tộc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam 11
1.2.2 Quan điểm về giai cấp vô sản và nhân dân lao động toàn thế giới của chủ nghĩa Mác Lênin 14
1.3 Nguyễn Ái Quốc và một số tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930 19
1.3.1 Nguyễn Tất Thành đi tìm đường cứu nước 19
1.3.2 Nguyễn Ái Quốc tiếp cận chủ nghĩa Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản 21
Trang 6CHƯƠNG II: SỰ CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG CỦA NGUYỄN ÁI
QUỐC GIAI ĐOẠN 1911-1930 VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG 33
2.1 Sự chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về dân tộc thuộc địa 33
2.1.1 Tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về quan niệm “dân tộc thuộc địa” 33
2.1.2 Tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về mối quan hệ giữa “người bản xứ” và “người thực dân” 41
2.2 Sự chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng giải phóng dân tộc 47
2.2.1 Nguyễn Ái Quốc xem xét vấn đề cách mạng Việt Nam trong mối quan hệ với cách mạng thế giới 49
2.2.2 Nội dung tư tưởng về mục tiêu, tính chất và các yếu tố của cách mạng Việt Nam 52
2.3 Giá trị của quá trình chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930 đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam 56
Kết luận chương II 59
KẾT LUẬN 60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tư tưởng Nguyễn Ái Quốc là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa, là kết quả của
sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại Lịch
sử tư tưởng Nguyễn Ái Quốc đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử tư tưởng dân tộc nói chung và lịch sử tư tưởng nhân loại nói riêng Do vậy, nghiên cứu lịch sử tư tưởng Nguyễn Ái Quốc luôn là hướng nghiên cứu quan trọng của khoa học xã hội nước ta, đáp ứng thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước
Mặc dù đã có rất nhiều nghiên cứu về tư tưởng Nguyễn Ái Quốc, tuy nhiên nghiên cứu về quá trình chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn 1911 – 1930 ở nước ta vẫn còn khá mới mẻ Đây không chỉ
là đối tượng của triết học, mà còn là đối tượng nghiên cứu của các chuyên ngành khoa học xã hội khác như chính trị học, sử học Điều này đã tạo nên tính cấp thiết và tính hấp dẫn của việc nghiên cứu Quá trình chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911 – 1930 là sự phản ánh tồn tại xã hội Việt Nam thời kỳ đó, đồng thời nó cũng là kết quả của logic phát triển của lịch sử tư tưởng nước ta, là động lực phát triển cho lịch sử tư tưởng giai đoạn tiếp theo
Giai đoạn 1911 – 1930 là thời kỳ có sự chuyển biến rõ rệt trong tư tưởng Nguyễn Ái Quốc về vấn đề dân tộc thuộc địa và cách mạng giải phóng dân tộc Nó thể hiện logic phát triển của lịch sử tư tưởng Nguyễn Ái Quốc nói riêng, lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, lịch sử xã hội Quá trình chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái
Trang 8Quốc trong giai đoạn này có vai trò quan trọng trong hoạt động cách mạng của nước ta
Nghiên cứu về quá trình chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911 - 1930 không chỉ góp phần làm sáng tỏ quan niệm của Nguyễn Ái Quốc về vấn đề dân tộc, độc lập dân tộc, mà còn góp phần làm
rõ vai trò, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của tư tưởng Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng và hoạt động của Đảng, nhà nước ta hiện nay Xuất phát từ
lý do trên, tôi chọn Quá trình chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911 - 1930 làm đề tài cho khóa luận của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về tư tưởng Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911 - 1930 đã
có nhiều công trình thuộc các ngành như chính trị học, triết học,
Thứ nhất, các chuyên khảo lịch sử, các tác phẩm viết về cuộc đời và
sự nghiệp cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, như: “Chủ tịch Nguyễn Ái Quốc – tiểu sử và sự nghiệp” của Ban chấp hành Trung ương Đảng, “Trần Dân Tiên – Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch”, công trình “Nguyễn Ái Quốc tiểu sử”, đề tài mang mã số KX.02.11 thuộc chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX.02 giai đoạn 1991-
1995 “Hội thảo quốc tế về chủ tịch Nguyễn Ái Quốc – Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn” nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh chủ tịch Nguyễn Ái Quốc (1890-1990) Ngoài ra còn có các báo cáo tại hội thảo nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp, con người, những cống hiến nhiều mặt của Nguyễn Ái Quốc, “Nguyễn Ái Quốc – Một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp” (trích trong “Nguyễn Ái Quốc – Tinh hoa và khí phách của dân tộc của Phạm Văn Đồng), tác phẩm giới thiệu một cách
cô đọng cuộc đời hoạt động, sự nghiệp những cống hiến của Nguyễn Ái Quốc đối với dân tộc, nhân loại, “Chiến sĩ quốc tế Nguyễn Ái Quốc – Hoạt động thực tiễn và lý luận” của Phan Ngọc Liên
Trang 9Thứ hai, các tiểu luận tư tưởng Nguyễn Ái Quốc: tác phẩm “Sự hình thành về cơ bản tư tưởng Nguyễn Ái Quốc” của Trần Văn Giàu đã phân tích sâu nguồn gốc, cơ sở hình thành tư tưởng Nguyễn Ái Quốc, “Tư tưởng Nguyễn Ái Quốc và con đường cách mạng Việt Nam” đề tài mang mã số KX.02.01 thuộc chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX.02 giai đoạn 1991-1995 Công trình trình bày những vấn đề lý luận cơ bản tư tưởng Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam, làm rõ những đóng góp về quá trình hình thành, phát triển của tư tưởng Nguyễn Ái Quốc
và những luận điểm sáng tạo lớn của Nguyễn Ái Quốc về đường lối, phương pháp, chiến lược, sách lược, tổ chức các lực lượng cách mạng, tư tưởng quân sự, tư tưởng nhân văn, đạo đức, văn hóa Nguyễn Ái Quốc
Trong “Nguyễn Ái Quốc nhà tư tưởng lỗi lạc”, tác giả Song Thành tập trung làm rõ quan niệm và tiêu chí để xem xét một nhà tư tưởng, những tiền đề lý luận và thực tiễn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Mục đích của khóa luận
Khóa luận phân tích và làm rõ sự chuyển biến trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911 – 1930, từ đó đưa ra nhận xét về giá trị ý nghĩa đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung và sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói riêng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích bối cảnh và những tiền đề hình thành tư tưởng Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911 – 1930
- Phân tích sự chuyển biến tư tưởng Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn
1911 – 1930 về hai nội dung chính: vấn đề dân tộc thuộc địa và cách mạng giải phóng dân tộc
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quá trình chuyển biến tư tưởng Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911 - 1930
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu sự chuyển biến tư tưởng trong giai đoạn 1911 – 1930 của Nguyễn Ái Quốc thông qua một số tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc trong Hồ Chí Minh toàn tập tập I, tập II và tập III (Hồ Chí Minh (2000), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Khóa luận được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mac – Lênin, đồng thời dựa trên những nghiên cứu đi trước có liên quan đến nội dung đề tài
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau, phương pháp nghiên cứu văn bản học, phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp lịch sử - cụ thể
6 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận phân tích, chỉ ra sự chuyển biến những nội dung cơ bản trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911 – 1930 thông qua Hồ Chí Minh toàn tập, qua đó góp phần khẳng định giá trị của tư tưởng Nguyễn Ái Quốc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu tư tưởng Nguyễn Ái Quốc và cho những ai quan tâm đến vấn đề nghiên cứu
8 Kết cấu khóa luận
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phần Nội dung của bài nghiên cứu được kết cấu thành 2 chương, 6 tiết
Trang 111.1.1 Điều kiện kinh tế, chính trị thế giới đầu thế kỷ XX
Về kinh tế, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền sang chủ nghĩa tư bản cạnh tranh, đế quốc, tiêu biểu là Anh, Pháp, Đức, Mỹ Từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, các nước phương tây đã tăng cường tiến hành các cuộc xâm lược thuộc địa và “miếng bánh thế giới đã bị phân chia xong” Sự xâm lược thuộc địa của các nước tư bản đã làm nảy sinh mây thuẫn dân tộc giữa dân tộc áp bức và dân tộc bị áp bức
Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, văn hóa, tư tưởng của các quốc gia phương Tây đạt được nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên, cũng dẫn đến những tác động tiêu cực Đồng thời, nó không thể biện hộ cho bản chất bóc lột và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc
Các quốc gia phương Đông trực tiếp chịu sự đe dọa và xâm lược của các nước đế quốc phương Tây Một số quốc gia chịu sự ảnh hưởng của mô hình nhà nước tập quyền chuyên chế của nền văn minh Trung Hoa như Triết Tiên, Nhật bản, Việt Nam đã phát triển đến đỉnh cao với các hình thức khác nhau và dần rơi vào bế tắc, khủng hoảng
Ở các nước phương Đông, mô hình kinh tế dựa trên nền nông nghiệp lúa nước theo phương thức tổ chức sản xuất dựa trên sự kết hợp giữa đơn vị kinh tế hộ gia đình và cộng đồng công xã nông thôn Mặc dù thủ công nghiệp và thương nghiệp ra đời sớm và phát triển, tuy nhiên nó không tạo
Trang 12nước phong kiến như “trọng nông ức thương”, “nông vi bản, thương vi mạt”, “bế quan tỏa cảng” Cơ cấu xã hội điển hình của các quốc gia phương Đông gồm các giai cấp, tầng lớp: vua chúa, quý tộc, quan lại, nông dân, nông nô, trí thức chủ yếu là nho sĩ, cao tăng, thiển sư, thợ thủ công, thương nhân
Sự xâm lược của các nước phương Tây đã khiến các quốc gia phương Đông có nhiều thay đổi và dần tạo ra những mầm mống của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, mầm mống của một cơ cấu xã hội mới, kiến trúc thượng tầng mới
1.1.2 Chuyển biến chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam
Nửa cuối thế kỷ XIX, nước Pháp nhanh chóng bước vào giai đoạn phát triển chủ nghĩa đế quốc và thành công trong việc hình thành một hệ thống thuộc địa lớn thứ hai sau Anh Trong 25 năm từ 1858 đến 1883, Pháp xâm lược Việt Nam và bắt tay vào khai thác thuộc địa với mục đích tối cao
là biến Đông Dương thành thuộc địa khai khẩn trọng yếu, mang lại lợi nhuận cao nhất cho chính quốc Trong quá trình xâm lược, Pháp sử dụng nhiều chính sách trong đó có “chia để trị” Việt Nam bị chia cắt thành ba kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau: Bắc Kỳ và Trung Kỳ là hai xứ bảo hộ về hình thức vẫn còn giữ lại chính quyền phong kiến, Nam Kỳ là đất thuộc địa hoàn toàn do Pháp nắm quyền cũng Lào và Campuchia Hệ thống chính quyền dưới tỉnh là phủ, huyện, xã trên lãnh thổ Việt Nam đề do người Việt quản lý, với các chức tri phut, tri huyện, tri châu, chánh tổng, xã trưởng, lý trưởng
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), với tư cách là một nước thắng trận, Pháp ra sức khai thác thuộc địa, chủ yếu ở Đông Dương
và Châu Phi Pháp chủ trương tiếp tục sử dụng giai cấp địa chủ và tay sai người Việt vào cai trị Các chính sách của Pháp nhằm lôi kéo một bộ phận nhỏ trong giới thượng lưu người Việt Nam gồm một số nhà tư sản và địa
Trang 13chủ lớn vì quyền lợi cá nhân đứng về phía Pháp để chống lại nhân dân ta, làm cho tình hình chính trị và sự phân hóa trong xã hội ở Việt Nam càng thêm gay gắt
Nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thời phong kiến của Việt Nam dưới
sự tác động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa do Pháp áp đặt vào dần chuyển sang nền kinh tế thuộc địa – tư bản chủ nghĩa, có sự phát triển nhanh chóng và tạo ra một cơ cấu kinh tế mất cân đối dẫn đến sự phân hóa không triệt để của cơ cấu giai cấp, tầng lớp trong xã hội
Từ cuối thế kỷ XIX, xã hội Việt Nam xuất hiện một bộ phận tư sản, quan cai trị người Pháp Kết cấu xã hội Việt Nam theo tứ dân: sĩ, nông, công, thương bị xóa bỏ, thay vào đó là sự phân chia giai cấp dựa vào quyền lợi kinh tế và quan hệ dựa trên kiến trúc thượng tầng theo phương Tây, gốm các giai cấp cơ bản: giai cấp địa chủ phong kiến, giai cấp nông dân, giai cấp công nhân, giai cấp tư sản, tiểu tư sản
Đầu thế kỷ XX, hệ thống giáo dục Việt Nam tồn tại ba hình thức khác nhau tương ứng với Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ Ở Nam Kỳ, chữ Hán hầu như bãi bỏ, đa số các tổng xã đều có trường tiểu học Pháp – Việt dạy chữ Pháp và chữ Quốc ngữ Ở Bắc Kỳ và nhất là Trung Kỳ, các trường lớp dạy chữ Hán vẫn tồn tại khắp nơi, trường dạy chữ Pháp và chữ quốc ngữ rất ít Do ba chế dộ giáo dục khác nhau khiến người Pháp gặp khó khăn trong việc thống nhất chính sách cai trị nên Pháp đã thực hiện các cuộc cải cách giáo dục Năm 1906, cải cách giáo dục lần thứ nhất do toàn quyền P.Beau khởi xướng và chỉ đạo, giáo dục Pháp – Việt
và giáo dục Nho giáo cùng tồn tại Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai được chính quyền thuộc địa tiến hành từ năm 1917 đến năm 1929 với mục đích xóa bỏ nền giáo dục Nho giáo, xác lập và củng cố nền giáo dục Việt Nam do người Pháp thóng nhất, tổ chức và nhằm phục vụ mục đích
nô dịch của người Pháp
Trang 14Văn hóa, nghệ thuật, các trào lưu tư tưởng, thành tựu khoa học và kỹ thuật phương Tây du nhập vào Việt Nam thông qua sách báo trong và ngoài nước, góp phần thúc đẩy và tăng cường mối quan hệ tiếp xúc giữa hai nền văn hóa Á – Âu, Đông – Tây, có sự giao thoa, đan xen và tồn tại đồng thời giữa những yếu tố văn hóa truyền thống và văn hóa ngoại lai Hoạt động báo chí, văn hóa, các cơ sở sản xuất, mua bán tài liệu, sách báo phát triển và phổ biễn trên cả nước Nhiều ấn phẩm văn hóa tiến bộ đã góp phần phản ánh được nguyện vọng tự do, dân chủ, nhân đạo, yêu nước của nhân dân, được đông đảo thanh niên hưởng ứng trở thành động lực quan trọng của cao trào đấu tranh đòi
tự do dân chủ những năm 20 – 30 của thế kỷ XX
1.1.3 Khủng hoảng về đường lối cứu nước ở Việt Nam đầu thế kỷ XX
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhiều cuộc khởi nghĩa và phong trào yêu nước đã nổ ra nhưng không mang lại kết quả Năm 1885, phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi khởi xướng được sự hưởng ứng của cả
ba miền đất nước, sỹ phu khắp nơi nổi dậy giúp vua chống Pháp nhằm khôi phục lại nền độc lập Trong đó, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng Khởi nghĩa Phan Đình Phùng kéo dài 10 năm nhưng cuối cùng cũng đi đến thất bại Khởi nghĩa Hương Khê 1896 thất bại đã kết thúc giai đoạn cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến
Trào lưu dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX nước ta chịu ảnh hưởng của phong trào vận động cải cách duy tân của thế giới và khu vực, lãnh đạo là một bộ phận tiểu tư sản yêu nước, trí thức tiến bộ Phan Bội Châu chủ trương chống đế quốc, giành độc lập dân tộc mà trước mắt là mục tiêu chống phong kiến Ông khởi xướng phong trào Đông Du, chủ trương dựa vào nhật, cầu viện Nhật để chống thực dân Pháp Trái với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh chủ trương chống đế quốc, giành tự do, dân chủ bằng phương pháp ôn hòa, dựa vào Pháp để chống phong kiến Các phong trào duy tân do Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp khởi
Trang 15xướng nhằm đổi mới chính trị và văn hóa đất nước để đi tới độc lập tự chủ Phong trào này chủ trương “ỷ Pháp, cầu tiến bộ”, dựa vào sự giúp đỡ của
đế quốc Pháp nhằm thực hiện “dân quyền”, “dân chủ” ở nước ta Phương pháp tiến hành cách mạng của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh lãnh đạo
đã phân hóa phong trào yêu nước theo khuynh hướng tư sản ở Việt Nam thành hai xu hướng: bạo động mang tính chất truyền thống và cải cách tư sản mới mẻ Trên cơ sở đó, nhiều phong trào cứu nước mang sắc thái, hình thức hoạt động đa dạng nổ ra, tiêu biểu là phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do Lương Văn Can và Nguyễn Quyền khởi xướng với mục tiêu truyền bá nền văn hóa mới để thực hiện chủ nghĩa yêu nước mới Tuy nhiên các phong trào này đều lần lượt đi đến thất bại
Có thể thấy, tuy các phong trào yêu nước có xu hướng tư sản đều bộc
lộ những hạn chế, sự bế tắc, không phát triển được và đi đến thất bại, nhưng chúng đã góp phần cổ vũ, thức tỉnh tinh thần yêu nước trong nhân dân, nhất là thanh niên, trí thức, học sinh
Như vậy, đầu thế kỷ XX, Việt Nam đứng trước sự khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước, các phong trào yêu nước đều thiếu giai cấp tiên tiến lãnh đạo, tập hợp, thiếu lý luận tiên tiến dẫn đường Do vậy, cần một lý luận mới, một bộ phận lãnh đạo có thể giải quyết được các vấn đề trước mắt và lâu dài
Những đặc điểm và chuyển biến trong chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng ở Việt Nam và thế giới là những điều kiện khách quan cho sự chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930
1.2 Tiền đề cho sự ra đời và chuyển biến tư tưởng của Nguyễn
Ái Quốc giai đoạn 1911-1930
1.2.1 Quan niệm dân tộc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam
Thời phong kiến, dân được hiểu theo nghĩa thường dân Ý thức dân
Trang 16xưng đế và đặt tên nước là “Vạn Xuân” vào thế kỷ thứ VI Thời kỳ này đã
có sự giác ngộ về chủ quyền đất nước, ý thức về quyền được sống trong độc lập, tự do, sự đòi hỏi được phát huy tài năng của những người có tài, có đức và nói chung của người dân đất Việt
Bước sang giai đoạn phục hưng ban đầu của tư tưởng – văn hóa dân tộc, vào năm 1010, “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn được công bố đã một lần nữa phản ánh ý chí độc lập, tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt Dân tộc đã được Lý Công Uẩn với tư cách là một quốc gia độc lập có quốc hiệu, niên hiệu và kinh đô riêng Kinh đô, như sự lý giải của Lý Công Uẩn, gắn liền với sự hung vong của một triều đại, một dân tộc, một đất nước Một triều đại muốn mưu toan nghiệp lớn, một quốc gia muốn cường thịnh, bền vững, trường tồn cần phải có một kinh đô đủ tư cách là đầu mối giao thông, trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa để “làm kế cho con cháu muôn vạn đời”
Trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ hai, quan niệm dân tộc được thể hiện đầy đủ và rõ ràng hơn qua bài thơ Nam quốc sơn hà được Lý Thường Kiệt, tổng chỉ huy quân đội nhà Lý truyền bá rộng rãi nhằm khích lệ tinh thần chiến đấu của quân lính
“Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”[8,321]
Nam quốc sơn hà được coi là Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam Tư tưởng chủ đạo và xuyên suốt bài thơ là sự khẳng định chủ quyền của dân tộc Việt Nam So với giai đoạn trước, ở đây, khái niệm dân tộc đã được phát triển hơn, dân tộc gắn liền với chủ quyền Trong điều
Trang 17kiện xã hội phong kiến phương Đông, chủ quyền của vua chính là chủ quyền dân tộc Bài thơ như một lời tuyên bố đanh thép, phản bác lại tư tưởng sai trái của các triều đình phong kiến Trung Hoa chỉ coi Việt Nam là một bộ phận, những quận, huyện của Trung Quốc và khẳng định chủ quyền của dân tộc Việt Nam, nước Việt Nam tương đương và ngang hàng với Trung Hoa
Trong Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn gắn quốc gia, dân tộc với sự thống nhất về mặt lợi ích: thái ấp, bổng lộc, gia quyến, xã tắc Ông đã cảnh báo binh lính, nếu để mất nước thì “chẳng những thái ấp của ta không còn
mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác, chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi, chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị
kẻ khác bới đào, chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận.”
Nửa đầu thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã đưa ra tư duy sâu hơn, phát triển hơn về quốc gia, dân tộc Đại Việt trong Bình Ngô đại cáo
“Xét như nước Đại Việt ta,
Thật là một nước văn hiến
Bờ cõi núi sông đã riêng
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước,
Cùng Hán, Đường, Tống, nguyên đều chủ một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Mà hào kiệt không bao giờ thiếu”.[8,63]
Trang 18Tương tự như các tác phẩm khác, Bình Ngô đại cáo không cho thấy định nghĩa cụ thể của Nguyễn Trãi về dân tộc Tuy nhiên, qua nội dung và cách thức trình bày của ông, quan niệm về quốc gia, dân tộc, về các yếu tố tạo thành quốc gia dân tộc được thể hiện rõ rệt Quốc gia dân tộc bao gồm các yếu tố, đó là: lãnh thổ (song núi, bờ cõi), văn hóa (văn hiến), phong tục
và lịch sử
Bước sang thế kỷ XX, thay thế quan niệm thần dân trong chế độ phong kiến, quan niệm về dân có một bước tiến quan trọng Phan Bội Châu nhận thức vai trò của người dân với tư cách là người quốc dân, là người chủ của đất nước “dân là dân nước, nước là nước dân” Tuy nhiên, quan niệm quốc dân chưa đạt tới quan niệm công dân, người dân chưa được coi như một chủ thể thực sự của xã hội có quyền tự do, có quyền sở hữu và có quyền mưu cầu hạnh phúc của tư tưởng tư sản Tương tự như Phan Bội Châu, theo Phan Châu Trinh, người dân là người quốc dân, là người dân của đất nước, vì thế, phải có trách nhiệm với non sông đất nước
1.2.2 Quan điểm về giai cấp vô sản và nhân dân lao động toàn thế giới của chủ nghĩa Mác Lênin
Nguyễn Ái Quốc từng khẳng định chính chủ nghĩa yêu nước đã đưa Người đến với V.I.Lênin và tin theo quốc tế III Người tìm thấy trong “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin “cái cần thiết cho chúng ta”, “con đường giải phóng chúng ta” Lý luận của V.I.Lênin là sự vận dụng sáng tạo lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen vào điều kiện cụ thể và nâng lý luận ấy lên một tầm cao mới
C.Mác đã nói tới phương thức tồn tại của con người với tư cách là toàn bộ hoạt động cải tạo thế giới vật chất của con người, hoạt động sản xuất của con người Mác chỉ ra hình thức cộng đồng người đầu tiên trong lịch sử loài người là thị tộc(chỉ có khoảng vài trăm người có cùng huyết thống), tiếp theo là bộ lạc (được hình thành từ nhiều thị tộc có quan hệ
Trang 19huyết thống hoặc quan hệ hôn nhân liên kết), sau nữa là bộ tộc(liên kết nhiều bộ lạc trên cùng một vùng lãnh thổ), cuối cùng là dân tộc(cộng đồng dân cư được hình thành từ một bộ tộc hoặc từ sự liên kết nhiều bộ tộc trên một vùng lãnh thổ)
C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh, rằng tác nhân cơ bản dẫn tới việc chuyển từ hình thức cộng đồng người từ thị tộc sang dân tộc là tác nhân kinh tế và dân tộc điển hình là dân tộc tư sản Dân tộc này bao gồm các giai cấp, tầng lớp khác nhau, trong đó tư sản và vô sản đối lập nhau về địa vị kinh tế, song lại có quan hệ chặt chẽ trong hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa
C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra khi chủ nghĩa tư bản trở thành thống trị, “nó buộc tất cả các dân tộc phải thực hành phương thức sản xuất tư sản, nếu không sẽ bị tiêu diệt, nó buộc tất cả các dân tộc phải du nhập cái gọi là văn minh, nghĩa là phải trở thành tư sản”[12,601] Bằng sức mạnh của mình, “nó đã bắt những dân tộc nông dân phải phụ thuộc vào những dân tộc tư sản, bắt phương Đông phải phụ thuộc vào phương Tây”[12,602] Qua sự phân tích của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra sự thống trị của giai cấp tư sản với dân tộc và với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội Hai ông cho rằng giai cấp vô sản –lực lượng có sứ mệnh thực hiện thành công sự nghiệp giải phóng con người, nhân loại, không thể thờ ơ hoặc đi ngược lại với lợi ích dân tộc mà “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc, tuy hoàn toàn không phải theo cái nghĩa như giai cấp tư sản hiểu”[12,623-624] Vì thế, C.Mác và Ph.Ăngghen viết:
“Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc Đương nhiên là trước hết, giai cấp vô sản mỗi nước phải thanh toán xong giai cấp tư sản nước mình đã”[12,624] Theo
Trang 20đó, với C.Mác và Ph.Ăngghen, việc giải quyết vấn đề giai cấp có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết vấn đề dân tộc, bởi vì xã hội hiện tại chia thành hai phe lớn thù địch với nhau, hai giai cấp lớn hoàn toàn đối lập nhau: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Mặt khác, khẳng định khi sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo và “trong các cuộc đấu tranh của những người vô sản thuộc các dân tộc khác nhau, họ đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô sản”[12,627] Do vậy, “hãy xoá bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xoá bỏ”[12,627]
Cuối cùng, C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, rằng trong khi “xã hội không thể nào giải phóng cho mình được, nếu không giải phóng cho mỗi cá nhân riêng biệt”[5,627] thì cách mạng vô sản là con đường duy nhất
để xoá bỏ ách áp bức giai cấp, áp bức dân tộc Để tới được với chủ nghĩa cộng sản, khi thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp vô sản phải liên minh trên phạm vi quốc tế “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” Nó là tiền
đề đưa cách mạng vô sản đến thắng lợi trên phạm vi quốc tế để hoàn thành
sứ mệnh lịch sử: giải phóng con người
V.I.Lênin là người bảo vệ thành công, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác lên một tầm cao mới Ông cũng nói đến nhữngvấn đề giải phóng: dân tộc, giai cấp, con người nhưng dựa trên những tiền đề có tính lịch sử, thời đại, V.I.Lênin đã đưa ra cách nhìn nhận, đánh giá mới về những vấn đề này.Thời đại mà V.I.Lênin sống là thời đại của chủ nghĩa đế quốc –giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa tư bản Các đế quốc tranh giành thuộc địa với mục đích phân chia lại thế giới Theo V.I.Lênin các quốc gia
có một nền công nghiệp tư bản chủ nghĩa phát triển đều tiến rất nhanh đến việc xâm lược thuộc địa
Trang 21Vấn đề cách mạng giải phóng dân tộc để xây dựng quốc gia độc lập của các nước thuộc địa và phụ thuộc cũng trở thành một trong những vấn
đề cấp bách của thời đại Vấn đề dân tộc được V.I.Lênin nói tới trên khía cạnh: dân tộc là quốc gia dân tộc V.I.Lênin nhận định rằng trong khi thế giới có sự phân chia thành dân tộc bị áp bức và dân tộc đi áp bức, thì phải coi việc đảm bảo quyền dân tộc tự quyết và thành lập các quốc gia độc lập
là yêu cầu chính trị trung tâm trong vấn đề dân tộc –thuộc địa Do vậy, V.I.Lênin khẳng định sự bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc, đồng thời đề cao vấn đề liên hiệp công nhân ở tất cả các dân tộc Nhận thức rõ cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền và là bạn đồng minh của cách mạng
vô sản, V.I.Lênin khẳng định: “Không có sự cố gắng tự nguyện tiến tới sự liên minh và sự thống nhất của giai cấp vô sản, rồi sau nữa, của toàn thể quần chúng cần lao thuộc tất cả các nước và các dân tộc trên toàn thế giới, thì không thể chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản được”[38,206] và
“điều quan trọng nhất trong chính sách của Quốc tế cộng sản về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa phải là làm cho vô sản và quần chúng lao động của tất cả các dân tộc và tất cả các nước gần gũi nhau để tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng chung nhằm lật đổ bọn địa chủ và giai cấp tư sản Bởi vì, chỉ có sự gần gũi ấy mới đảm bảo việc chiến thắng chủ nghĩa tư bản, nếu không có chiến thắng đó thì không thủ tiêu được ách áp bức dân tộc và tình trạng bất bình đẳng”[38,206-207] V.I.Lênin đã đánh giá đúng vai trò của cách mạng dân tộc trong thời đại mới
Trong học thuyết về dân tộc và thuộc địa của mình, lần đầu tiên V.I.Lênin nêu bật vai trò to lớn của cách mạng giải phóng dân tộc đối với
sự nghiệp giải phóng nhân loại khỏi chủ nghĩa tư bản V.I.Lênin tiên đoán, rằng: “cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa sẽ không phải chỉ là một cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản cách mạng ở từng nước chống lại giai cấp tư sản ở nước mình, không phải thế, đó sẽ là cuộc đấu tranh của tất cả các thuộc địa
Trang 22chống lại chủ nghĩa đế quốc quốc tế”[38,207] V.I.Lênin đưa ra khẩu hiệu:
Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại Lúc này, chủ nghĩa đế quốc, một mặt tạo ra mâu thuẫn dân tộc sâu sắc, mặt khác, cũng tạo tiền đề để các dân tộc xích lại gần nhau trong khi tại những nước chưa
có độc lập thì giaicấp đại biểu cho phương thức sản xuất mới muốn trở thành giai cấp dân tộc, phải đi đầu trong cách mạng giải phóng dân tộc
Chính trong khi phân tích vấn đề dân tộc, V.I Lênin cũng đồng thời nói đến vấn đề giải phóng giai cấp Với V.I.Lênin, giai cấp là những tập đoàn lớn gồm những người khác nhau về địa vị, quan hệ, vai trò của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử Vì vậy, đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động, chống bọn đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản Cuộc đấu tranh giai cấp theo nghĩa này mở rộng ra chính là đấu tranh dân tộc, đấu tranh vì bình đẳng thật sự giữa người và người, bởi hiện tại các nước chính quốc, bọn tư sản chính là những người nắm trong tay đặc quyền, đặc lợi trong khi giai cấp vô sản, nhân dân lao động ở các nước thuộc địa lại không có gì cả
Trong quan niệm của V.I.Lênin, vấn đề dân tộc, vấn đề giai cấp có quan hệ chặt chẽ với nhau,bởi cuộc cách mạng dân tộc nào cũng cần có một giai cấp dân tộc lãnh đạo Mặt khác, dân tộc trong quan niệm của V.I.Lênin hoàn toàn không phải chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, ông đã giải quyết vấn đề dân tộc trên cơ sở gắn nó với giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, từ
đó mở rộng phạm vi dân tộc nhỏ bé ở châu Âu thành vấn đề giải phóng, độc lập cho các dân tộc trên thế giới Vì vậy vậy, những luận điểm của V.I.Lênin về vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người trở nên có ý nghĩa đối với tất cả các dân tộc bị áp bức
Trang 23Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa củaV.I.Lênin đã góp phần tạo nên sự chuyển biến căn bản trong tư tưởng Nguyễn Ái Quốc, hướng Nguyễn Ái Quốc đi theo con đường của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga Để sau đó diễn ra bước ngoặt cách mạng trong cuộc đời Nguyễn Ái Quốc khi quyết định tham gia Đại hội Tua, bỏ phiếu cho Quốc
tế III, trở thành một trong những người cộng sản
Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác –Lênin vào điều kiện cụ thể Việt Nam Theo Nguyễn Ái Quốc, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác ngoài cách mạng vô sản Dựa trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Nguyễn Ái Quốc nói chung và về vấn đề dân tộc thuộc địa, cách mạng giải phóng dân tộc được hình thành và phát triển
1.3 Nguyễn Ái Quốc và một số tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930
1.3.1 Nguyễn Tất Thành đi tìm đường cứu nước
Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong gia đình khoa bảng, trong thời điểm có nhiều biến động cả về mặt chính trị, xã hội lẫn các luồng tư tưởng Ngay từ thuở thiếu niên, Nguyễn Tất Thành đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước thống khổ của đồng bào Năm 1905, khi phong trào Đông Du
nổ ra, lúc đó Nguyễn Tất Thành 15 tuổi, được gợi ý nên cùng bạn bè thanh niên đi học bên Nhật Nhưng, khác với những thanh niên sôi nổi lúc ấy, Nguyễn Tất Thành từ chối Mặc dù rất khâm phục các cụ Hoàng Hoa Tham, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, nhưng Nguyễn Tất Thành không tán thành hoàn toàn cách làm của họ, vì nhận thấy những sai lầm của họ Trong “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch” của Trần Dân Tiên viết:
“Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương Anh nhận thấy điều đó là sai lầm, chẳng khác nào xin giặc rủ lòng thương
Trang 24Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đánh đuổi Pháp Điều
đó rất nguy hiểm, chẳng khác nào đuổi hổ cửa trước rước báo cửa sau
Cụ Hoàng Hoa Thám thực tế hơn vì trực tiếp đấu tranh chống Pháp Nhưng theo lời người ta kể thì Cụ còn nặng cốt cách phong kiến.”[19,15]
Như vậy, Nguyễn Tất Thành thấy rõ những hạn chế của các quan điểm cứu nước đương thời, sự độc lập suy nghĩ đã khiến Nguyễn Tất Thành quyết định lựa chọn một con đường khác, không theo lối mòn
Xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước, mang theo vốn hành trang Hán học
và Quốc học, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước năm 1911, với mục đích “trở về giúp đồng bào” giải phóng
Nguyễn Tất Thành lựa chọn cách đi tìm đường cứu nước khác với những con đường đương thời:
Thứ nhất, lựa chọn tàu buôn làm phương tiện để đi khắp thế giới, từ
đó quan sát xã hội, tích lũy kiến thức, giao kết bạn bè Sau châu Âu, Nguyễn Tất Thành tiếp tục làm công trên các tàu buôn, nhờ tàu buôn mà đi gần khắp các hải cảng châu Âu, cận Đông, châu Phi, châu Mỹ,… Đi đến đâu cũng quan sát xã hội và ghi chép những nỗi thống khổ của các dân tộc
bị áo bức, của giai cấp bị bóc lột, của người da màu bị khinh miệt và tàn sát, đồng cảm sâu sắc với tâm tư kỳ vọng của những người nô lệ Đồng thời, kết bạn với những người yêu nước của các thuộc địa, những chiến sĩ đấu tranh chống áp bức dân tộc và chống bóc lột giai cấp
Thứ hai, Nguyễn Tất Thành lựa chọn hòa mình vào cuộc sống của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Đa phần những người lao động công nhân hay nông dân đều muốn cho chính mình hay con cái thoát khỏi kiếp làm lụng, tay chân, cố gắng học hành để làm quan hay trở thành thầy
đồ Tuy nhiên Nguyễn Tất Thành thì khác Từ một thầy giáo dạy chữ Nho
và chữ quốc ngữ trường Dục Thanh, Nguyễn Tất Thành trở thành thủy thủ
Trang 25tàu buôn rồi tiếp tục làm nhiều nghề lao động tay chân khác, khi xúc tuyết, khi bồi bếp, khi rửa ảnh, khi tô, vẽ đồ sứ Nguyễn Tất Thành đã lựa chọn đặt mình vào đội ngũ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Điều này đã giúp Nguyến Tất Thành hiểu rõ những vấn đề của phong trào giải phóng dân tộc ở thuộc địa
Thứ ba, vừa lao động chân tay để kiếm sống, vừa tích lũy khối lượng kiến thức văn hóa phương Tây Ngoài thời gian làm tàu, làm bếp,…Nguyễn Tất Thành dành thời gian đi thư viện, đi bảo tàng, học tiếng Anh, tiếng Pháp, đọc sách của Dickens, Shakespear, Anatole France,…viết kịch, viết báo, truyện ngắn,… Nhờ tiếng Anh, tiếng Pháp, Nguyễn Tất Thành thông thạo lịch sử của các dân tộc châu Âu, châu Mỹ, hiểu rõ về các cuộc cách mạng cận đại ở những xứ đó, am hiểu về chế độ xã hội phương tây, nhạy cảm và theo dõi sát mọi tình hình chuyển biến trên thế giới
Nói tóm lại, Nguyễn Tất Thành ra đi không chỉ với lòng yêu nước, thương nòi, mà còn mang theo một hành trang văn hóa Hán học và Quốc học rộng lớn, cùng những kiến thức tiếp thu từ văn hóa phương Tây Ngoài
ra, Nguyễn Tất Thành đã lựa chọn con đường ra đi tìm đường cứu nước với những đặc điểm riêng, không theo lối mòn Những yếu tố này là điều kiện giúp Nguyễn Tất Thành tiếp thu chủ nghĩa Lênin một cách sâu sắc và vận dụng sáng tạo, độc đáo vào điều kiện cụ thể Việt Nam
1.3.2 Nguyễn Ái Quốc tiếp cận chủ nghĩa Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản
Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc từ Luân Đôn trở về Paris vì ở Paris có
sự phân hóa chính trị mạnh mẽ, số lượng người Việt Nam và người thuộc địa đông Theo tác giả J.Lacouture, lúc này “anh đã khám phá ra một nước Pháp mới, hình như khác hẳn với cái nước Pháp đã xâm chiếm quê hương anh Đây là một quốc gia đang chiến đấu, đang bị đe dọa và có rất nhiều chiều hướng cách mạng sâu sắc, một dân tộc kiêu hãnh và từng khổ đau, có
Trang 26nhiều nét giống nhân dân ở nước anh”[19,39] Ở Paris, Nguyễn Tất Thành liên lạc càng gần gũi với Phan Chu Trinh, các kiều bào, với những người yêu nước thuộc các dân tộc thuộc địa của Pháp, có mối quan hệ với các đoàn thể nhân dân như Tổng công hội, Hội Nhân quyền.Tiếng vang của cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đã được Nguyễn Ái Quốc từ Paris chăm chú theo dõi
Từ những năm 1911-1917,trong thời gian sống và hoạt động ở Pháp, đời sống chính trị - xã hội của nước Pháp nói chung, của Đảng Xã hội và công nhân Pháp nói riêng đã tác động mạnh mẽ đến Nguyễn Ái Quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tư tưởng, nhận thức của Người lên một trình độ mới Nguyễn Ái Quốc đã tự mình rút ra những kết luận quan trọng sau thời gian tìm tòi, khảo sát trước khi gặp được Luận cương của V.I.Lênin:
Một là, từ Việt Nam đến các nước thuộc địa khắp thế giới và các nước chính quốc, ở đâu đâu quần chúng lao động cũng sống khổ cực, bị áp bức và bóc lột
Hai là, ở đâu chủ nghĩa tư bản và đế quốc cũng bộc lộ sự tàn bạo và những tội ác dã man Ở đâu, Người cũng thấy khát vọng đấu tranh giải phóng, đòi quyền làm người của những người lao động nghèo khổ, thấy không thể chỉ dựa vào “yêu sách” để yêu cầu bọn thực dân đế quốc thực hiện công bằng, bình đẳng Những nhận thức sâu sắc đó làm nảy nở ở Người tư tưởng về sự đoàn kết quốc tế của những người cùng khổ
Ba là, muốn đánh đổ chủ nghĩa tư bản, đế quốc và được giải phóng, các dân tộc phải trông cậy vào lực lượng của bản thân mình Đoàn kết làm nên sức mạnh
Mặc dù tham gia tích cực vào các hoạt động cách mạng, nhưng Nguyễn Tất Thành vẫn chưa tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp với dân tộc mình, phải đợi đến khi được tiếp cận và tiếp thu những tư
Trang 27tưởng cơ bản của V.I.Lênin trong Sơ thảo luận cương, Nguyễn Ái Quốc mới nhận rõ con đường cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam
Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc là thành viên của Đảng Xã hội Pháp Trả lời lý do lựa chọn tham gia Đảng Xã hội, Nguyễn Ái Quốc nói vì “Hồi
đó, nước chúng tôi đang ở dưới ách của thực dân Pháp, chúng tôi bị bóc lọt ghê gớm và khổ sở vô cùng Tôi biết rất ít về chính trị, nhưng tôi muốn Tổ quốc tôi được giải phóng Tôi bắt đầu viết và phát những truyền đơn tố cao tội ác của bọn thực dân Pháp Tôi chưa biết đảng là gì, công đoàn là gì, càng không rõ chủ nghĩa xã hội khác với chủ nghiã cộng sản ở chỗ nào, Nhưng có ông bà trong Đảng Xã hội tỏ ý đồng tình với tôi, vì vậy tôi tham gia Đảng Xã hội”[19,32]
Mặc dù tham gia và là đảng viên hoạt động tích cực trong Đảng Xã hội Pháp, tuy nhiên quan điểm của Nguyễn Ái Quốc có nhiều sự xung đột
về vấn đề dân tộc ở thuộc địa với quan điểm của Đảng Xã hội Mặc dù Đảng Xã hội là một tổ chức dưới cờ chủ nghĩa xã hội, chống chủ nghĩa đế quốc, chống mọi chính sách hà khắc đối với thuộc địa, nhưng cũng như Công đảng ở Anh, đều không có chủ trương giải phóng thuộc địa, trong khi vấn đề trung tâm của Nguyễn Ái Quốc là giải phóng dân tộc, giải phóng thuộc địa
Như vậy, chủ nghĩa yêu nước đưa Nguyễn Ái Quốc vào Đảng xã hội Tại Hội nghị Versailles tổ chức ở Paris 28/6/1919, thay mặt cho những người Việt Nam yêu nước, Nguyễn Ái Quốc gửi đến hội nghị bản Yêu sách 8 điểm Cùng ngày, bản yêu sách đó xuất hiện trên tờ báo Nhân đạo - Cơ quan ngôn luận của Đảng Xã hội Pháp, dưới nhan đề: Quyền của các dân tộc Bản Yêu sách còn được Nguyễn Ái Quốc dịch ra chữ Hán và chuyển thành một bài diễn ca tiếng quốc ngữ Nó được in dưới dạng truyền đơn gửi tới các tòa báo, phân phát trong các mít tinh, cuộc họp ở nhiều tỉnh nước Pháp và bí mật gửi về Việt Nam qua con đường thủy thủ và khách về
Trang 28nước Bản Yêu sách đã đánh dấu một bước ngoặt mới cho phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân An Nam, thức tỉnh những người Việt Nam yêu nước và các lực lượng tiến bộ tại Pháp, mở đầu cho cuộc đấu tranh lâu dài đòi hỏi cải cách dân chủ, để thức tỉnh, tập hợp nhân dân Với bản yêu sách
đó, Nguyễn Ái Quốc đã gây tiếng vang lớn không những trong dư luận xã hội nước Pháp mà còn dội mạnh về nước, tạo nên bước chuyển mới trong phong trào giải phóng dân tộc Còn đối với bọn thực dân Pháp thì chúng đi
từ kinh ngạc đến lồng lộn hò hét cuối cùng ra lệnh điều tra tung tích Nguyễn Ái Quốc và lập cơ quan chuyên trách theo dõi những hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc và Việt kiều yêu nước để áp dụng những biện pháp ngăn chặn
Cũng chính chủ nghĩa yêu nước đưa Nguyễn Ái Quốc đến với Lênin, theo Quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “Chính chủ nghĩa yêu nước chớ không phải chủ nghĩa cộng sản đưa tôi theo Lênin, theo Quốc
tế thứ ba”[19,37]
Mùa thu năm 1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin đăng trên báo Nhân đạo (Cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp) Lúc đầu, khi tiếp cận với “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”, Nguyễn Ái Quốc chưa hiểu hết nội dung vì có nhiều từ ngữ chưa biết rõ Sau khi đã hiểu rõ nội dung và ý nghĩa sâu sắc của nó, Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc mình
“Hỡi đồng bào bị đày đọa đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng của chúng ta”[19,32] Từ đó, Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn tán thành Quốc tế thứ ba và tin theo Lênin
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, lúc này Đảng Xã hội Pháp đang phân hóa sâu sắc trong việc lựa chọn cương lĩnh chính trị Một cánh trung thành tiếp tục đi theo khuynh hướng của Quốc tế II bám vào đường lối cải
Trang 29lương chủ nghĩa, một nhóm đi theo Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản được Lênin thành lập) ủng hộ con đường mà cách mạng tháng Mười Nga đã mở
ra, còn một nhóm chính giữa, lưng chừng, bị gọi một cách mỉa mai “quốc
tế hai rưỡi” Khi được hỏi “Theo bên nào”, Nguyễn Ái Quốc đã trả lời “bên nào ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc thuộc địa, thì tất theo bên ấy”[19,32] Vì Đảng Xã hội lập lờ, còn Đảng Cộng sản kiên quyết ủng
hộ, nên Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn đứng về phía Đảng Cộng sản
22 giờ ngày 29 tháng 12 năm 1920, Đại hội Tua tiến hành bỏ phiếu quyết định việc Đảng ở lại Quốc tế II hay gia nhập Quốc tế III Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản), tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp Sau cuộc bỏ phiếu, nữ đồng chí Rôdơ (Rose) người ghi biên bản tốc ký đại hội, hỏi Nguyễn Ái Quốc:
- Tại sao đồng chí lại bỏ phiếu cho Quốc tế III?
Nguyễn Ái Quốc trả lời:
- Tôi hiểu rõ một điều, Quốc tế III rất chú ý đến giải quyết vấn đề giải phóng thuộc địa…Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho tổ quốc tôi, đấy
là tất cả những điều tôi muốn, là tất cả những điều tôi hiểu
Từ giây phút bỏ phiếu ủng hộ Quốc tế cộng sản, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc trở thành người cộng sản Là một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp đồng thời Nguyễn Ái Quốc cũng là người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam Đây là sự kiện đánh dấu bước chuyển căn bản về nhận thức tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc theo đường lối của Quốc tế cộng sản, theo lập trường vô sản, nó có ý nghĩa to lớn: Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới hiện đại, một đại diện của giai cấp công nhân và dân tộc thuộc địa tham gia sáng lập Đảng tiên phong của giai cấp công nhân ở một nước đế quốc lớn đang áp bức dân tộc mình Việc bỏ phiếu tán thành Quốc tế cộng sản đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Ái Quốc Người đã xác định
Trang 30con đường cứu nước của Việt Nam phải đi theo đó là con đường cách mạng
vô sản
Trong bài phát biểu tại phiên họp thứ 22 Đại hội V Quốc tế Cộng sản (1/7/1924), Nguyễn Ái Quốc viết: “Theo Lênin, cách mạng ở phương Tây muốn thắng lợi thì nó phải liên hệ chặt chẽ với phong trào giải phóng chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và các nước nô dịch và vấn
đề dân tộc, như Lênin đã dạy chúng ta, chỉ là một bộ phận của vấn đề chung về cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản”.[22,277]
Luận cương của Lênin đóng vai trò quan trọng, mang tính quyết định, bước ngoặt đối với quá trình chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam Nguyễn Ái Quốc khẳng định:
“Lênin là người đầu tiên đã đặt cơ sở cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa
Lênin là người đầu tiên đã kiên quyết lên án mọi thành kiến đối với nhân dân các nước thuộc địa đã ăn sâu vào tận xương tủy của nhiều công nhân châu Âu và châu Mỹ Những Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc thuộc địa được Quốc tế cộng sản tán thành đã gây ra một cuộc cách mạng hoàn chỉnh trong tất cả các nước bị áp bức trên thế giới
Đồng chí Lênin là người đầu tiên đã nhấn mạnh và nhận thức hết tầm quan trọng to lớn của việc giải quyết một cách đúng đắn vấn đề thuộc địa với cách mạng thế giới Trong tất cả các Đại hội của Quốc tế Cộng sản, của Quốc tế Công đoàn, và của Quốc tế Thanh niên cộng sản, vấn đề thuộc địa luôn được đặt lên hàng đầu
Lênin là người đầu tiên đã nhận thức và đánh giá hết tầm quan trọng lớn lao của việc lôi cuốn nhân dân các nước thuộc địa vào phong trào cách mạng Lênin là người đầu tiên đã nhận thức rằng nếu không có sự tham gia của họ thì không thể có cách mạng và xã hội
…
Trang 31Đối với các dân tộc bị áp bức, bị nô dịch, Lênin đã thể hiện bước ngoặt trong lịch sử đau khổ cuộc đời nô lệ của họ, Lênin đã tượng trưng cho một tương lai sáng lạn.”[23,219-220]
Luận cương gồm 12 điểm, là văn kiện trình bày một cách có hệ thống những vấn đề chiến lược của cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa và lệ thuộc trong tình hình thế giới sau Cách mạng tháng Mười thành công, nước Nga Xô viết được thành lập và đứng vững, phong trào cách mạng nhiều nước lên cao Nội dung luận cương chỉ ra những tư tưởng mới mẻ, có tác động trực tiếp đến cách mạng Việt Nam và quá trình hình thành tư tưởng về con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc
Thứ nhất, Luận cương thể hiện rõ phương pháp luận duy vật và cái nhìn giai cấp trong phân tích nội bộ dân tộc cũng như quan hệ giữa các dân tộc Điều này thể hiện qua việc đánh giá đúng tình hình lịch sử cụ thể, trước hết là tình hình kinh tế Đồng thời, phân biệt rõ lợi ích giữa giai cấp thống trị với giai cấp bị áp bức, bóc lột, phân biệt rõ quyền lợi của dân tộc
bị áp bức với quyền lợi của các lượng lượng đi áp bức
Hai yếu tố này đóng vai trò quyết định tới nhận thức về kẻ thủ của cách mạng giải phóng dân tộc và việc tập hợp, tổ chức lực lượng cách mạng Do đó, tác động trực tiếp đến sự thành bại của cách mạng
Sự thất bại của các phong trào cứu nước ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đều do sự xác định chưa đúng đắn về kẻ thù của cách mạng Việt Nam, bản chất cuộc xâm lược của thực dân Pháp Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,… do ảnh hưởng bởi lối tư duy cũ, nên vẫn đồng nhất thực dân Pháp ở thuộc địa với dân tộc Pháp ở chính quốc nói chung, không nhận thức được mối quan hệ giữa thực dân Pháp và nhân dân bản xứ An Nam là mối quan hệ giữa kẻ áp bức và người bị áp bức Đồng thời, việc không giải quyết đúng đắn vấn đề tổ chức lực lượng cách mạng là một nguyên nhân
Trang 32trương bạo động, đoàn kết dân tộc nhưng Phan Bội Châu không đánh giá đúng sức mạnh, khả năng cách mạng và vị trí của từng giai cấp, tầng lớp trong lực lượng cách mạng, không nhận thức được động cơ cách mạng cũng như mố quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội, từ đó không đưa ra những biện pháp thích hợp để tập hợp tổ chức khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh dân tộc Có thể thấy, các nhà yêu nước Việt Nam thười bấy giờ còn xa lạ với phương pháp tư duy và vấn đề giai cấp của Lênin
Nguyễn Ái Quốc đã tiếp nhận và vận dụng cách nhìn nhận của Lênin
và phân tích tình hình cụ thể ở Việt Nam nói riêng và tình hình thuộc địa nói chung, coi đó là những cơ sở lý luận quan trọng trong việc xây dựng con đường cách mạng Việt Nam
Thứ hai, Lênin đặt vấn đề đoàn kết quốc tế giữa giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức Những người cách mạng ở các xứ thuộc địa và lệ thuộc phải đoàn kết chặt chẽ với nhân dân lao động ở chính quốc Đồng thời đặt ra cho những nước đã thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công, phải đóng vai trò thành trì cách mạng thế giới, giúp đỡ, ủng
hộ nhân dân các nước cách mạng chưa thành công ở cả chính quốc và các xứ thuộc địa
Trên cơ sở phân tích tình hình thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã bổ sung, phát triển quan điểm của Lênin, từ đó phát triển một bước mới trong
lý luận về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc
Thứ ba, Lênin đưa ra các yếu tố dân tộc ở các nước thuộc địa Theo Lênin, quyền tự quyết của các dân tộc bao gồm quyền tự quyết của các dân tộc thuộc địa, phải đi đến công nhận, thực hiện quyền dựng nước độc lập tự chủ Một mặt, Lênin lên án, phê phán những biểu hiện khác nhau của chủ nghĩa dân tộc tiểu tư sản, đó là “tinh thần ích ích kỷ dân tộc”, “những thành kiến dân tộc tiểu tư sản thâm căn cố đế,, Mặt khác, chú trọng hai vấn đề là
sự nghị kị của quần chúng cần lao “đối với các dân tộc đi áp bức nói chung,
Trang 33kể cả đối với giai cấp vô sản của các dân tộc đó” và sự lạc hậu của một quốc gia sẽ làm gia tăng, phát triển mạnh mẽ tính chất gia trưởng, lạc hậu ở quốc gia đó
Với những hiểu biết sâu sắc về dân tộc, sự nhạy cảm về chính trị và
tư duy độc lập, sáng tạo, Nguyễn Ái Quốc đã nắm bắt được trọng tâm của vấn đề dân tộc, cách mạng giải phóng dân tộc trong tư tưởng của Lênin, từ
đó ứng dụng sáng tạo đường lối chiến lược chung do Lênin đề ra vào Việt Nam Tiếp thu tư tưởng Lênin, Nguyễn Ái Quốc nhận ra “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước” Chủ nghĩa dân tộc với tính cách là động lực lớn cùa đất nước trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc là chủ nghĩa dân tộc chân chính
Đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Lênin Đi từ chủ nghĩa Lênin đến chủ nghĩa Mác Như vậy, việc tiếp xúc và chịu hưởng của “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” đãgiúp Nguyễn Ái Quốc sáng tỏ nhiều vấn đề về con đường cách mạng Việt Nam, mở ra trước mắt Nguyễn Ái Quốc con đường cứu nước, con đường giải phóng dân tộc Việt Nam, đó là con đường cách mạng vô sản
Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội Trong quan niệm chính trị của Nguyễn Ái Quốc, Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội chưa phải là một đảng, vì để trở thành một đảng tiên phong, trước hết phải là một tổ chức chặt chẽ của những người cách mạng theo chủ nghĩa Mác – Lênin được thử thách trong vận động cách mạng Nguyễn Ái Quốc nhận thấy thực tiễn Việt Nam lúc
đó chưa có những người tin theo chủ nghĩa cộng sản, mà chỉ dừng lại ở những người trẻ tuổi nhiệt tình yêu nước, mang tư tưởng quốc gia, dân tộc cách mạng Do vậy, Nguyễn Ái Quốc quy tụ một số thanh niên hăng hái yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, lập hội thanh niên cách mạng nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin, dạy họ học chính trị cách theo hướng chủ
Trang 34nghĩa Mác Lênin, theo hướng Quốc tế cộng sản, để từ đó giác ngộ và trở thành người chiến sĩ cộng sản Mặc dù nhận thức rõ ràng về đảng cộng sản
là đội ngũ tiên phong của giai cấp vô sản, nhưng Nguyễn Ái Quốc không
có thành kiến, thái độ về nguồn gốc giai cấp mà chú trọng vào nguồn gốc chính trị (con cháu nhà cần vương, duy tân, minh tân, những người trẻ yêu nước có Tây học, Nho học,…) Hội đã công bố chương trình, điều lệ của Hội với mục đích: để làm cách mệnh dân tộc (đập tan bọn Pháp và giành độc lập cho xứ sở) rồi sau đó làm cách mạng thế giới (lật đổ chủ nghĩa đế quốc và thực hiện chủ nghĩa cộng sản) Về tổ chức gồm 5 cấp: tổng bộ, xứ (kỳ) bộ, tỉnh bộ, huyện bộ và chi bộ Sau khi thành lập đã mở lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin cho những người trong tổ chức Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên Ngoài ra, ban lãnh đạo Hội còn cử người đi học trường Đại học Cộng sản phương Đông (Liên Xô), trường Quân chính Hoàng Phố (Trung Quốc)
Như vậy, Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội có thể được xem như một ngôi trường, lớp học đào tạo chiến sĩ cộng sản
Ngày 17 tháng 6 năm 1929, Đông Dương Cộng sản đảng ra đời với tính cách là tổ chức cộng sản đầu tiên ở Việt Nam, là kết quả tất yếu của sự truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin, phong trào dân tộc và phong trào công nhân Sau đó 4 tháng, vào tháng 10 năm 1929, An Nam Cộng sản Đảng ra đời Điều này đã dẫn đến sự công kích, đấu tranh lẫn nhau giữa hai đảng cộng sản cùng một gốc sinh ra
Đầu những năm 1920, trong nước xuất hiện đảng Phục Việt của thanh niên trí thức tân học Sau chuyển thành Tân Việt Cách mạng Đảng, chịu ảnh hưởng của Nguyễn Ái Quốc và của Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội Tháng 9 năm 1929, Tân Việt Cách mạng Đảng chấm dứt và tuyên
bố thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn