1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đối chiếu từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết tiếng việt và tiếng anh (trên cơ sở các văn bản khoa học xã hội)

233 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 233
Dung lượng 507,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhữngtừ ngữ nối theo quan hệ này phổ biến như: vì vậy, do đó, cho nên, như vậy, tóm lại, nhìn chung, suy cho cùng, nhìn một cách khái quát… Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài Đối chiếu

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ TỐ HOA

ĐỐI CHIẾU TỪ NGỮ NỐI BIỂU THỊ Ý NGHĨA

"KẾT QUẢ", "TỔNG KẾT" TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

(TRÊN CƠ SỞ CÁC VĂN BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2021

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ TỐ HOA

ĐỐI CHIẾU TỪ NGỮ NỐI BIỂU THỊ Ý NGHĨA "KẾT QUẢ", "TỔNG KẾT" TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH (TRÊN CƠ SỞ CÁC VĂN BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI)

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong Luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công

bố trong bất cứ công trình nào khác.

Tác giả

Nguyễn Thị Tố Hoa

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 5

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6

7 Kết cấu của luận án……… ……… …….…… 6

CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

7 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về phép nối, từ nối ở nước ngoài 7

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về phép nối, từ nối ở Việt Nam 9

1.2 Cơ sở lý thuyết 12

1.2.1 Văn bản và liên kết 12

1.2.2 Phép nối và từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết …… … 23

1.2.3 Thể loại văn bản khoa học ……….… …… … 38

1.2.4 Ngôn ngữ học đối chiếu ……… …… 41

1.3 Tiểu kết….………… ………….… ………… ….…… … 42

CHƯƠNG 2: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC - NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ NỐI BIỂU THỊ Ý NGHĨA KẾT QUẢ, TỔNG KẾT TRONG VBKHXHTV VÀ VBKHXHTA 44

2.1 Tiêu chí nhận diện từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA 44

2.1.1 Tiêu chí nhận diện từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết tiếng Việt 44

2.1.2 Tiêu chí nhận diện từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết tiếng Anh 47

2.2 Đối chiếu số lượng và tần suất sử dụng từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA 48

2.2.1 Số lượng và tần suất sử dụng từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết tiếng Việt và tiếng Anh 48

Trang 5

2.2.2 Một số nhận xét chung về số lượng và tần suất sử dụng từ ngữ nối biểu thị ý

nghĩa kết quả, tổng kết tiếng Việt và tiếng Anh 49

2.3 Đối chiếu về đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA 53

2.3.1 Vị trí của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong phát ngôn 53

2.3.2 Yếu tố đi kèm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong phát ngôn 55

2.3.3 Chức năng cú pháp của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong phát ngôn 55

2.3.4 Đặc điểm cấu tạo - ngữ nghĩa của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết 53 trong VBKHXHTV và VBKHXHTA 59

2.4 Tiểu kết 104

CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM LIÊN KẾT - LẬP LUẬN CỦA TỪ NGỮ NỐI BIỂU THỊ Ý NGHĨA KẾT QUẢ, TỔNG KẾT TRONG VBKHXHTV VÀ VBKHXHTA 106

3.1 Đối chiếu đặc điểm liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA 106

3.1.1 Đặc trưng liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết 106

3.1.2 Cấu trúc liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết 107

3.1.3 Các mô hình liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết 110

3.1.4 Một số nhận xét chung về các mối quan hệ liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết 125

3.2 Đối chiếu đặc điểm lập luận của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA 127

3.2.1 Giá trị liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết có tác dụng tạo ra quan hệ lập luận cho văn bản……… ……… 127

3.2.2 Đặc điểm lập luận của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết …… 129

3.2.3 Đối chiếu đặc điểm liên kết và lập luận của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA ……… 142

3.3 Tiểu kết 144

KẾT LUẬN 146

Trang 6

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 150

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 151

NGUỒN NGỮ LIỆU KHÁO SÁT……… 160

PHỤ LỤC……… 167

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Số lƣợng và tần suất xuất hiện của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả,

tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA 48

Bảng 2.2 Số lƣợng và tần suất xuất hiện của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả,

tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA theo nhóm. 49

Bảng 2.3 So sánh 10 từ ngữ nối có tần suất sử dụng cao nhất trong VBKHXHTV

và VBKHXHTA 52

Bảng 2.4: Số lƣợng, hình thức cấu tạo, chức năng ngữ nghĩa và tần suất xuất hiện của

từ ngữ nối kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV có hình thức là từ 68

Bảng 2.5: Số lƣợng, hình thức cấu tạo, chức năng ngữ nghĩa và tần suất xuất hiện của

từ ngữ nối kết quả, tổng kết trong VBKHXHTA có hình thức là từ. 75

Bảng 2.6: Số lƣợng, hình thức cấu tạo, chức năng ngữ nghĩa và tần suất xuất hiện của

từ ngữ nối kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV có hình thức là cụm từ 86

Bảng 2.7: Số lƣợng, hình thức cấu tạo, chức năng ngữ nghĩa và tần suất xuất hiện của

từ ngữ nối kết quả, tổng kết trong VBKHXHTA có hình thức là cụm từ .91

Bảng 2.8: Số lƣợng, hình thức cấu tạo, chức năng ngữ nghĩa và tần suất xuất hiện của

từ ngữ nối kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV có hình thức là mệnh đề

98

Bảng 2.9: Số lƣợng, hình thức cấu tạo, chức năng ngữ nghĩa và tần suất xuất hiện của

từ ngữ nối kết quả, tổng kết trong VBKHXHTA có hình thức là mệnh đề 102

Bảng 3.1: Từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong mối quan hệ giữa

chủ ngôn và kết ngôn trong VBKHXHTV và VBKHXHTA 126

Bảng 3.2 Các kiểu quan hệ lập luận do nhóm từ ngữ nối mang nghĩa kết quả, tổng

kết biểu thị trong VBKHXHTV và VBKHXHTA 133

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ngôn ngữ học văn bản (Text linguistics, Textual linguistics) là một trongnhững lĩnh vực nghiên cứu mới của ngôn ngữ học hiện đại Những vấn đề cơ bản củangôn ngữ học văn bản hiện đang rất được quan tâm nghiên cứu, trong đó có liên kếtvăn bản (VB) Liên kết là điều kiện rất quan trọng để một tập hợp câu nào đó trởthành một VB bởi lẽ VB hoàn toàn không phải là một phép cộng đơn thuần của cáccâu có nghĩa mà giữa chúng phải có sợi dây liên hệ chặt chẽ tạo thành một chỉnh thểthống nhất, trọn vẹn, rõ ràng, mạch lạc Tính liên kết được xem là một đặc trưngquan trọng nhất của VB, thậm chí, quyết định ―chất‖ của VB Vì vậy, đối với mỗi

VB, phương tiện liên kết không chỉ là nhân tố quan trọng mà còn là yêu cầu bắt buộc

và hầu hết các nhà nghiên cứu về VB đều rất quan tâm đến nguyên tắc và khả năngliên kết giữa các bộ phận của VB với nhau

Để tạo thành VB, các câu trong đó phải liên kết, gắn bó với nhau theo mộtnguyên tắc nhất định và theo những phương thức nhất định Trong các phương thứcliên kết, phép nối là một trong những phương thức cơ bản được sử dụng phổ biến ởtrong tất cả các loại VB, đặc biệt là trong văn bản khoa học (VBKH) và nó cũng làphương thức phổ quát của nhiều ngôn ngữ Trong phương thức liên kết nối, từ ngữnối chính là phương tiện ngôn ngữ quan trọng thực hiện chức năng liên kết giữa cáccâu/phát ngôn theo một mối quan hệ ngữ nghĩa xác định, là dấu hiệu chỉ ra một cáchtường minh mối liên hệ giữa các phát ngôn trong VB Với chức năng liên kết, từ ngữnối đóng vai trò không thể thiếu trong việc định hướng ngữ nghĩa và tạo ra cấu trúcngữ nghĩa của các thành phần trong VB, từ đó giúp cho VB mạch lạc, sáng rõ

1.2 Trong tiếng Việt và tiếng Anh đều có các từ ngữ nối biểu thị các phạm trùngữ nghĩa khác nhau khá đa dạng Nếu như tiếng Việt có các từ ngữ nối thuộc các phạm

trù không gian thời gian, tương phản nhượng bộ, giả thiết nguyên nhân, khái quát

-cụ thể, kết quả - tổng kết (tóm tắt)… thì tiếng Anh cũng có các từ ngữ nối dùng để chỉ nguyên nhân, kết quả, mục đích, tương phản, điều kiện tương ứng.

Thực tế đã có một số nghiên cứu bước đầu về các đơn vị từ ngữ nối theo cácphạm trù nói trên, nhưng nghiên cứu một cách có hệ thống thì hiện vẫn còn bỏ ngỏ,

đặc biệt là nhóm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết được sử dụng trong

các VBKH thì hầu như chưa được quan tâm nghiên cứu Đây là những từ ngữ có

Trang 9

chức năng đưa ra kết quả hoặc nêu lại những ý chính, những điều cơ bản, chủ yếucủa vấn đề hay những nhận định chung mang tính khái quát Quan hệ này thườngthực hiện sự liên kết giữa hai hoặc với nhiều phát ngôn khác nhau trong VB Những

từ ngữ nối theo quan hệ này phổ biến như: vì vậy, do đó, cho nên, như vậy, tóm lại,

nhìn chung, suy cho cùng, nhìn một cách khái quát… Chính vì vậy, chúng tôi chọn

đề tài Đối chiếu từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa “kết quả”, “tổng kết” tiếng Việt và tiếng Anh (trên cơ sở các văn bản khoa học xã hội) để làm rõ đặc điểm cấu trúc -

ngữ nghĩa - liên kết - lập luận của từ ngữ nối chỉ kết quả, tổng kết trong hai ngôn ngữViệt - Anh

Thông qua đề tài này, luận án mong muốn làm sáng tỏ các đặc điểm và chứcnăng của nhóm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết, đặc biệt là giá trị liênkết của chúng trong các VBKH tiếng Việt và tiếng Anh Kết quả nghiên cứu sẽ giúpích thiết thực cho việc dạy - học ngôn ngữ ở bậc đại học, đặc biệt trong việc hiểu rõchức năng liên kết của từ ngữ nối biểu thị kết quả, tổng kết trong cả hai ngôn ngữ

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận án là nhằm tìm hiểu các đặc điểm về cấu trúc - ngữ nghĩa vàliên kết - lập luận của nhóm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết được sửdụng trong các VBKHXH tiếng Việt và tiếng Anh trên cơ sở lý thuyết phân tích diễnngôn, qua đó đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa tiếngViệt và tiếng Anh trên các bình diện này, đồng thời khẳng định vai trò quan trọngcủa nhóm từ ngữ nối này trong việc tạo giá trị liên kết cũng như khả năng tạo giá trịbiểu đạt trong hoạt động, hành chức ở VB

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận án cần giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:(i) Xác lập cơ sở lý luận thông qua việc trình bày một số vấn đề lý thuyết vềngôn ngữ học VB, một số vấn đề liên quan đến phép nối, từ nối, trên cơ sở đó xác địnhcác tiêu chí nhận diện từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VB

(ii) Miêu tả, phân tích và đối chiếu đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của nhóm từ ngữnối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết được sử dụng trong tiếng Việt và tiếng Anh trênngữ liệu là các VB thuộc các ngành KHXH Cụ thể, luận án xem xét đặc điểm cấu tạo,

Trang 10

trong phát ngôn, qua đó chỉ ra sự tương đồng và khác biệt của nhóm từ ngữ nối này trong các VBKHXH tiếng Việt và tiếng Anh từ bình diện cấu trúc - ngữ nghĩa.

(iii) Miêu tả, phân tích và đối chiếu đặc điểm liên kết - lập luận của nhóm các

từ ngữ nối trên được sử dụng trong các VBKHXH tiếng Việt và tiếng Anh Cụ thể, luận

án xem xét các mối quan hệ liên kết và quan hệ lập luận của từ ngữ nối loại này thể hiệntrong VB, qua đó chỉ ra sự tương đồng và khác biệt của nhóm từ ngữ nối

này trong các VBKHXH tiếng Việt và tiếng Anh từ bình diện liên kết - lập luận

3 Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận án xác định đối tượng nghiên cứu là những từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kếtquả, tổng kết được sử dụng trong các VBKHXH tiếng Việt và tiếng Anh

Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở việc xem xét nhóm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩakết quả, tổng kết được sử dụng không nằm trong phát ngôn giao tiếp (lời nói), cũngkhông phải là các phát ngôn riêng lẻ, mà là các phát ngôn gắn bó với nhau trong VBvới ngữ cảnh đủ bề rộng được rút ra từ các VBKHXH tiếng Việt và tiếng Anh Điềunày có nghĩa là luận án xem xét đặc điểm của các từ ngữ nối loại này trong cả chuỗiphát ngôn bởi lẽ các phát ngôn liên quan được xem là yếu tố góp phần tạo nên ngữcảnh cần thiết giúp cho việc phân tích cấu trúc - ngữ nghĩa - liên kết - lập luận củaphát ngôn chứa từ ngữ nối mang nghĩa kết quả, tổng kết đạt hiệu quả cao nhất

3.2 Tư liệu nghiên cứu

VBKH là thể loại VB rất phong phú, tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau.Trong luận án này, chúng tôi giới hạn lựa chọn một hình thức VB chung cho cả tiếng

Việt và tiếng Anh, đó là các bài báo khoa học Các bài báo khoa học mà chúng tôi

lựa chọn làm tư liệu nghiên cứu là các bài nghiên cứu được đăng tải trên một số tạpchí KHXH mang tính đa ngành hoặc liên ngành và chúng thuộc nhiều ngành KHXHkhác nhau như văn học, ngôn ngữ học, lịch sử, kinh tế, chính trị, pháp luật… Đâyhầu hết là các nghiên cứu mang tính điều tra, phân tích dựa trên quan sát và nguồn tưliệu nhằm tìm ra mối quan hệ nhân quả hoặc những phát hiện mới, những nhận định,đánh giá có giá trị nhất định về chuyên môn Vì vậy, việc sử dụng các từ ngữ nốimang nghĩa kết quả, tổng kết trong những nghiên cứu này là rất cần thiết, giúp chotác giả thể hiện sự suy luận logic trong vấn đề nghiên cứu Ngoài ra, các bài báo

Trang 11

thường là các VB có dung lượng ngắn, trung bình khoảng từ 5000 từ đến 7000 từnên sẽ dễ mang tính khả thi hơn trong việc phân tích các từ ngữ nối ở từng VB.

Với cách lựa chọn như trên, nguồn ngữ liệu cụ thể của luận án bao gồm 60 VBKHXH tiếng Việt được trích xuất từ một số tạp chí mang tính đa ngành, liên

ngành như tạp chí KHXH Việt Nam, tạp chí KHXH và Nhân văn, tạp chí Nhân lựcKHXH… Các tạp chí này hầu hết được xuất bản từ năm 2010 đến 2018

Đối với ngữ liệu tiếng Anh, luận án cũng có lựa chọn tương tự Để đối chiếu vớitiếng Anh, luận án cũng lựa chọn ngữ liệu khảo sát là các từ ngữ nối mang nghĩa kếtquả, tổng kết được trích từ các VB thuộc các lĩnh vực KHXH như văn học, ngôn ngữhọc, lịch sử, kinh tế, luật tương ứng trong tiếng Anh, nghĩa là cũng được trích từ các

tạp chí KHXH mang tính đa ngành, liên ngành như International Journal of Humanities and Social Sciences , International Journal of Cognitive Research in Science Các tạp chí này cũng được xuất bản từ năm 2010 đến 2018 Tuy nhiên, để nguồn tư liệu giữa

hai ngôn ngữ được tương đương, đối với tiếng Anh luận án chỉ lựa chọn 50 VBKHXH

vì các VB tiếng Anh thường dài hơn tiếng Việt (trung bình 1 bài báo tiếng Anh có độdài khoảng 7000 từ, còn trong tiếng Việt xấp xỉ khoảng 6000 từ) [Chi tiết về ngữ liệu,

xem ―Nguồn ngữ liệu khảo sát‖ ở phần cuối luận án].

Dựa trên các tiêu chí nhận diện [chi tiết về tiêu chí nhận diện các từ ngữ nối,

xem mục 1.2.4.3 và mục 2.1 trong luận án], chúng tôi đã lọc ra được 115 từ ngữ nối

biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết tiếng Việt và trong tiếng Anh con số này là 136 vớicác tần suất sử dụng khác nhau

Để thực hiện đề tài, luận án sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích diễn ngôn: được xem là phương pháp chủ đạo của

luận án bởi lẽ liên kết cũng là một vấn đề quan trọng của phân tích diễn ngôn Vì

vậy, trong luận án này, các đặc điểm của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết

sẽ được xem xét theo khung lý thuyết của phương pháp phân tích diễn ngôn Cốt lõicủa phân tích diễn ngôn là xem xét mặt chức năng của ngôn ngữ Cụ thể, phươngpháp này dùng để xem xét cách thức mà các từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổngkết được sử dụng gắn liền với ngữ cảnh Nói cách khác, phương pháp này dùng đểxem xét sự hành chức của các từ ngữ nối này trong từng văn cảnh cụ thể khi phân

Trang 12

- Phương pháp miêu tả: dùng để miêu tả các đặc điểm về cấu trúc - ngữ nghĩa

và liên kết - lập luận của nhóm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết

- Phương pháp so sánh đối chiếu: được sử dụng để đối chiếu giữa từ ngữ nối

biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong tiếng Việt với tiếng Anh về mặt cấu trúc

-ngữ nghĩa và liên kết - lập luận, qua đó tìm ra sự tương đồng và khác biệt của chúng

ở các bình diện này Nghĩa là trong nghiên cứu này, luận án sử dụng phương pháp so

sánh, đối chiếu 1 chiều [đã được đề cập chi tiết ở mục 1.2.4 Ngôn ngữ học đối

chiếu],đó là cách tiếp cận lấy cơ sở so sánh (Tertium comparationis) làm trung tâm].

- Thủ pháp phân tích logic ngữ nghĩa – ngữ dụng: nói tới phép nối là nói tới các

quan hệ ngữ nghĩa, do vậy thủ pháp này được sử dụng để xem xét cách thức từ ngữ nốiđược sử dụng trong từng văn cảnh cụ thể Hay nói cách khác, thủ pháp này dùng

để xem xét vai trò của từ ngữ nối trong từng VB khác nhau khi phân tích ngữ nghĩa hoặc giá trị liên kết hay quan hệ lập luận của chúng trong VBKH

- Thủ pháp thống kê phân loại: dùng để xác lập, thu thập, tập hợp và phân loại

các từ ngữ nối từ các nguồn khác nhau Đó là các đoạn văn, các câu (phát ngôn) có chứacác từ ngữ nối loại này được sử dụng trong các VBKHXH Các ngữ liệu thu thập được là

cơ sở để đưa ra các sơ đồ, bảng biểu, số liệu nhằm minh họa và thuyết minh cho các miêu

tả, phân tích, nhận xét, kết luận của luận án

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án là công trình đối chiếu chuyên sâu khá toàn diện và hệ thống về mộtmối quan hệ ngữ nghĩa cụ thể của từ ngữ nối trên phương diện cấu trúc - ngữ nghĩa

và liên kết - lập luận trong phạm vi nguồn ngữ liệu là các VBKHXH

Luận án miêu tả, phân tích và làm rõ các đặc điểm về mặt cấu trúc - ngữ nghĩacủa từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết tiếng Việt trong sự so sánh, đốichiếu với tiếng Anh; chỉ ra các mối quan hệ liên kết cũng như các mô hình liên kết

từ ngữ nối loại này thể hiện trong các VBKHXH tiếng Việt và tiếng Anh

Thông qua việc tìm hiểu giá trị lập luận mà từ ngữ nối này thể hiện trong cácVBKHXH, luận án cho thấy giá trị liên kết cũng như khả năng tạo giá trị biểu đạtcủa các từ ngữ nối loại này cũng như khẳng định vai trò quan trọng của từ ngữ nốibiểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong việc tạo lập phát ngôn

Trang 13

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Về mặt lý luận: Luận án góp phần làm phong phú, sáng tỏ thêm lý thuyết về các

phép liên kết và phương tiện liên kết trong tiếng Việt và tiếng Anh, đồng thời góp phầnlàm phong phú thêm nguồn dữ liệu chuyên ngành ngôn ngữ học so sánh đối chiếu nóichung và đối chiếu tiếng Việt - tiếng Anh nói riêng Các kết quả nghiên cứu, ở chừngmực nào đó, đã tạo tiền đề cho việc so sánh đối chiếu giữa các ngôn ngữ về mặt cấu trúc

- ngữ nghĩa - liên kết - lập luận ở các phạm vi nghiên cứu cụ thể

Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án đem lại những ứng dụng hữu

ích trong thực tiễn sử dụng ngôn ngữ; có thể ứng dụng để biên soạn giáo trìnhchuyên khảo, giảng dạy ngôn ngữ; giúp người dạy và học hiểu và sử dụng chính xáchơn ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh, đồng thời phục vụ trực tiếp cho việc giảngdạy tiếng Anh tại nơi tác giả công tác Kết quả cũng giúp cho bản thân tác giả thấyđược những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếngAnh, là cơ sở để tác giả có những nghiên cứu khác sau này

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Ngữ liệu khảo sát, Phụ

lục, luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết Đây là

chương luận án trình bày tình hình nghiên cứu về phép nối, từ ngữ nối và một số vấn

đề lý luận làm cơ sở cho việc nghiên cứu nhóm từ ngữ nối này trong sự so sánh vớitiếng Anh (trên cơ sở các VBKHXH)

Chương 2: Đối chiếu đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của từ ngữ nối biểu thị

ý nghĩa kết quả, tổng kết trong văn bản khoa học xã hội tiếng Việt và tiếng Anh.

Trong chương này, luận án làm sáng tỏ đặc điểm cấu tạo và chức năng ngữ nghĩacủa từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết, qua đó chỉ ra một số điểm tươngđồng và khác biệt trong hai ngôn ngữ

Chương 3: Đối chiếu đặc điểm liên kết - lập luận của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong văn bản khoa học xã hội tiếng Việt và tiếng Anh.

Trong chương này, luận án làm rõ chức năng liên kết và giá trị lập luận mà nhóm từngữ nối này thể hiện trong các VBKHXH, qua đó rút ra một số điểm tương đồng vàkhác biệt về đặc điểm này trong cả hai ngôn ngữ

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Trong chương này, luận án trình bày tình hình nghiên cứu về phép nối ở trong

và ngoài nước, đồng thời hệ thống hoá một số vấn đề lý thuyết cơ bản và lấy đó làm

cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu, gồm: VB và liên kết; phép nối và từ ngữ nối biểuthị ý nghĩa kết quả, tổng kết; ngôn ngữ học đối chiếu và thể loại VBKH

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về phép nối, từ nối ở nước ngoài

Trên thế giới, ngay từ rất sớm đã xuất hiện các công trình nghiên cứu về cácphép liên kết, trong đó có phép nối Tiêu biểu là một số công trình nghiên cứu của

Halliday & Hasan (1976): Cohesion in English (Phép liên kết trong tiếng Anh), Martin (1992): English Text - System and Structure (Văn bản tiếng Anh – hệ thống

và cấu trúc), Halliday (1998): An Introduction to Functional Grammar (Dẫn luận ngữ pháp chức năng, người dịch: Hoàng Văn Vân), Nunan (1993): Introduction to

Discourse Analysis (Dẫn nhập phân tích diễn ngôn, dịch: Hồ Mỹ Huyền & Thanh

Trúc), Collins & Hollo (2000): English Grammar - An Introduction…

Các nghiên cứu này được coi là nền tảng cho việc nghiên cứu lý thuyết VBcũng như nghiên cứu về phép nối và mối quan hệ ngữ nghĩa của phép nối Cụ thể,các công trình này đã đi vào xem xét phép nối ở nhiều phương diện khác nhau nhưkhái niệm, vai trò của từ nối, cách phân loại từ nối Đặc biệt, các tác giả trên đều tậptrung vào xem xét các mối quan hệ nghĩa giữa các phát ngôn do các từ ngữ nối biểuthị thông qua sự phân loại phép nối dựa trên các quan hệ ngữ nghĩa Chẳng hạn,Halliday & Hasan (1976) khẳng định phép nối phải dựa trên mối quan hệ về nghĩagiữa chúng và cái theo sau được kết nối một cách hệ thống với cái đi trước Đi sâuvào phân loại, Halliday & Hasan chia phép nối thành 4 loại dựa trên quan hệ về

nghĩa, gồm: bổ sung (additive), đối lập (adversative), nhân quả (causal), thời gian

(temporal) Trên cơ sở đó, tác giả đi vào thống kê và phân tích một số liên từ cơ bản

thể hiện quan hệ ngữ nghĩa của phép nối Trong công trình An Introduction to

Functional Grammar, từ việc tập trung vào việc xem xét khái niệm cú (clause),

Halliday (1998) đã soi rọi vào khái niệm liên kết và ngôn bản Trong đó, đáng chú ý

là ông phân chia phép nối theo ba phạm trù mang tính chất khái quát cao, gồm: chi

tiết hoá (elaboration), mở rộng (extension), tăng cường (enhancement) và ông trình

Trang 15

bày khá chi tiết về các quan hệ ngữ nghĩa của phép nối Những kết quả này đượcxem là những đóng góp lý luận tiếp theo mang tính nền tảng của Halliday trong việc

mở đường cho việc nghiên cứu về phép nối ở các ngôn ngữ khác nhau

Tương tự, một số tác giả khác cũng có sự phân loại phép nối khá tương đồngvới Halliday Dựa trên quan hệ ý nghĩa về thời gian, không gian và trình tự diễn đạt,Collins & Hollo (2000) phân chia các quan hệ phép nối thành 4 loại quan hệ cơ bản:

bổ sung (additive), tương phản (adversative), nhân - quả (causal), thời gian

(temporal) Sự tương đồng này cũng có thể tìm thấy trong nghiên cứu của Nunan(1993) Tác giả cũng cho rằng có 4 loại quan hệ ngữ nghĩa chủ yếu mà phép nối thực

hiện, gồm: nghịch đối, bổ sung, thời gian, nguyên nhân Đặc biệt, công trình của

Nunan cũng có thể được xem là cơ sở lý thuyết khi nghiên cứu ngữ nghĩa, ngữ dụngcủa phép nối trong các ngôn ngữ

Trong công trình English Text - System and Structure, Martin (1992) tiến hành

nghiên cứu VB tiếng Anh trên bình diện hệ thống - cấu trúc Từ việc xem xét khá kĩcác phép liên kết nói chung và phép nối nói riêng trong các VB tiếng Anh, tác giả đề

xuất các tiêu chí để phân biệt về cấp độ vĩ mô của từ nối gồm: nối bên trong và nối

bên ngoài Đây là hai thuật ngữ khá mới mẻ so với các công trình nghiên cứu về

phép nối khác Tiêu chí để phân biệt nối bên ngoài, tác giả dựa trên ngữ cảnh cụ thể,còn để nhận diện kiểu nối bên trong ông dựa trên khái niệm ―phóng chiếu‖ Từ sựphân biệt vĩ mô nối bên trong và bên ngoài nói trên, tác giả tiếp tục phân chia thành

các loại nhỏ hơn theo các mối quan hệ: bổ sung (additive), nhân quả (consequential),

so sánh (comparative), thời gian (temporal), định vị (location).

Không đi vào các vấn đề lý thuyết chung của từ nối, nghiên cứu của Yuwei Liu

(2016) lại tập trung vào cách sử dụng các từ nối chỉ quan hệ đối lập, nhân quả, thời

gian trong văn tranh luận, mô tả và kể chuyện của các sinh viên Trung Quốc học

tiếng Anh Trong nghiên cứu này, tác giả đã dành phần lớn trang sách để tập trungphân tích các vấn đề: liên từ (conjunction), từ nối (connector), vai trò của từ nối, các

loại từ nối và đi sâu vào xem xét ba quan hệ ngữ nghĩa của từ nối: quan hệ đối lập,

quan hệ nhân quả, quan hệ thời gian.

Như vậy, ở nước ngoài việc nghiên cứu phép nối trong quan hệ với các phépliên kết khác đã đạt được những kết quả đáng chú ý Đây có thể xem là nền tảng

Trang 16

quan trọng về mặt lý luận để chúng ta tiến hành nghiên cứu phép nối theo các mốiquan hệ khác nhau và trong các văn bản cụ thể.

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về phép nối, từ nối ở Việt Nam

Trong nước, những vấn đề lý thuyết về phép nối cũng sớm được các nhà nghiêncứu quan tâm Đi sâu vào nghiên cứu một cách toàn diện, quy mô và hệ thống các vấn

đề chung về văn bản, liên kết, phép nối, trước tiên không thể không nhắc đến nghiêncứu của Trần Ngọc Thêm (1985, tái bản: 1999, 2006), Diệp Quang Ban (1998)

Hệ thống liên kết trong văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm (1985) được

coi là công trình đánh dấu mốc cho sự phát triển mới về nghiên cứu ngữ pháp VB vàcác phép liên kết trong đó có phép nối Công trình đi sâu nghiên cứu các khía cạnhcủa VB: từ phương diện ngữ pháp, ngữ nghĩa cho đến ngữ dụng của phép nối Dựa

trên các kiểu phát ngôn, tác giả chia phép liên kết thành 2 loại chính: phép nối lỏng

và phép nối chặt Đi vào chi tiết, phép nối lỏng là phép nối dựa trên phương thức

liên kết hợp nghĩa và phát ngôn hợp nghĩa, trong khi phép nối chặt lại dựa trênphương thức liên kết của ngữ trực thuộc Đáng chú ý là trong phép nối lỏng, tác giảnêu ra và trình bày mô hình của các yếu tố từ vựng làm thành phần chuyển tiếp hay

các từ làm phụ tố có ý nghĩa so sánh, chẳng hạn như: cũng, lại, vẫn, càng, còn, cứ.

Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến cấu trúc khái quát của phép nối: ArB và trình bàycác quan hệ ngữ nghĩa cơ bản của phép nối Dựa trên quan hệ ngữ nghĩa, tác giảphân chia phép nối theo ba mối quan hệ cơ bản, mỗi quan hệ lại có những tiểu loại

cơ bản khác nhau: quan hệ định vị (thời gian, không gian); quan hệ logic diễn đạt (gồm: trình tự diễn đạt, thuyết minh - bổ sung, xác minh - nhấn mạnh); quan hệ logic

sự vật (gồm: nhân quả và tương phản - đối lập) Có thể thấy, trong công trình này,

những đặc điểm cơ bản của phép nối trong VB tiếng Việt nói chung đã được miêu tảmột cách chi tiết và hệ thống

Tương tự, lấy các phát ngôn làm ngữ liệu nghiên cứu, công trình của Diệp

Quang Ban (2006) Văn bản và liên kết trong tiếng Việt: văn bản, mạch lạc, liên kết,

đoạn văn cũng dành một phần để xem xét các phép liên kết nói chung và phép nối

nói riêng ngoài các vấn đề về VB, mạch lạc và đoạn văn Trong việc phân chia phépnối ở cấp độ vĩ mô giống với kết quả phân chia của Trần Ngọc Thêm, tác giả cũngchia phép nối thành hai loại lớn: phép nối lỏng và phép nối chặt Trong một số công

trình khác sau đó: Văn bản (2007), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản (2009),

Trang 17

Diệp Quang Ban đã đi sâu vào các phép liên kết trong đó có phép nối và các quan hệ

ý nghĩa thường gặp của phép nối Đi sâu tìm hiểu các phương tiện nối, tác giả chialàm hai loại lớn: quan hệ từ (bình đẳng/phụ thuộc) và từ ngữ nối kết (đại từ thay thế/những tổ hợp từ ngữ có ý nghĩa quan hệ và có tác dụng liên kết) Về các quan hệ thường

gặp trong phép nối, ngoài 4 quan hệ mà Halliday đã nêu: bổ sung, tương phản, thời gian,

nhân quả, Diệp Quang Ban bổ sung hai loại quan hệ nữa, gồm: mục đích và điều kiện.

Việc phân loại phép nối cũng được Nguyễn Thiện Giáp (2007) đề cập đến

trong Dụng học Việt ngữ Theo đó, tác giả chia phép nối thành 4 loại theo quan hệ ngữ nghĩa, gồm: đồng hướng, ngược hướng, nhân quả, thời gian - trình tự Thực

chất của quan hệ đồng hướng chính là quan hệ bổ sung, quan hệ ngược hướng làquan hệ tương phản mà các nghiên cứu trước đã chỉ ra Bên cạnh đó, tác giả còn gợi

mở về chức năng liên kết hồi chỉ và khứ chỉ của phép nối nói chung

Nếu các công trình trên lấy ngữ liệu phát ngôn trong các VB viết tiếng Việt làmđối tượng để xem xét các phép liên kết cũng như phép nối thì công trình của NguyễnThị Việt Thanh (1999) lại dựa trên ngữ liệu là lời nói để đi sâu vào các vấn đề cũng

có tính khái quát về liên kết lời nói Theo tác giả, phương thức liên kết lời nói thểhiện trên hai phương diện: liên kết bằng phương thức ngữ kết học và liên kết bằngphương thức ngữ dụng học Đi sâu vào phương thức liên kết ngữ kết học, tác giảtiếp tục phân chia thành ba tiểu loại: liên kết duy trì chủ đề, liên kết phát triển chủ đề

và liên kết logic Trong đó, phép nối được tác giả xếp vào loại phương thức liên kết

logic Ngoài phép nối bằng liên từ, theo tác giả còn có phép nối không có liên từ vì

―mặc dù từ nối không được sử dụng nhưng quan hệ ngữ nghĩa vẫn được xác lập‖.Ngoài các chuyên khảo đề cập tới các từ ngữ nối còn có một loạt các bài viếtđăng trên các tạp chí chuyên ngành và hội thảo khoa học đề cập đến từ ngữ nối ởnhững khía cạnh và mức độ khác nhau Chẳng hạn, Nguyễn Đức Dân - Lê Đông(1985) tập trung xem xét các phương thức liên kết của từ nối nói chung Đỗ Thị KimLiên (1995), Nguyễn Chí Hoà (2006) đề cập đến phép nối không có liên từ trong nội

bộ câu ghép Bên cạnh đó, Lương Đình Khánh (2000, 2003) đi sâu khảo sát phép nốitrong mối quan hệ giữa các phát ngôn và giá trị tu từ của chúng ở trong một số bàiviết của Nguyễn Đình Thi và trong truyện ngắn ―Chí Phèo‖ - Nam Cao Trong khiLương Đình Dũng (2005) quan tâm đến phương pháp giảng dạy phép nối trong tiếng

Trang 18

Việt thì Ngô Thị Bảo Châu (2010) tiếp tục trở lại tìm hiểu quan hệ ―làm rõ‖ trongtiếng Việt, vốn là một trong những quan hệ ngữ nghĩa cơ bản của phép nối nhưngvới những tiểu loại cụ thể, ít nhiều khác với các công trình đi trước…

Việc nghiên cứu phép nối tiếng Việt trong sự so sánh với tiếng Anh hoặc ngược lạicũng là hướng nghiên cứu đang được chú ý hiện nay Điều này được thể hiện trong cácnghiên cứu của một số tác giả như: Ngô Thị Bảo Châu (2009), Bùi Văn Năm (2010),Nguyễn Thị Thanh Hà (2011), Nguyễn Thị Hoa (2011), Nguyễn Thị Hoàng Huế (2012)

… Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào việc đối chiếu phép nối trong tiếng Việtvới tiếng Anh trên một số phương diện như đặc điểm cú pháp, đặc điểm ngữ nghĩa Tuynhiên, các công trình trên chỉ tập trung đối chiếu phép nối nói chung, không đi sâu vàođối chiếu các nhóm từ nối cụ thể Đồng thời, hầu hết các nghiên cứu này mang tínhbước đầu (luận văn thạc sĩ và khoá luận), chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyênsâu, toàn diện về vấn đề đối chiếu phép nối

Đi sâu nghiên cứu thực tiễn sử dụng của phép nối nhưng ở từng mối quan hệ cụthể của phép nối như trên có lẽ là địa hạt mới mẻ Vì vậy, cho đến nay mới có một sốnhóm từ nối theo phạm trù đã được nghiên cứu bước đầu (các luận văn thạc sĩ),

chẳng hạn: Thái Thị Như Quỳnh (2013) nghiên cứu về các cặp từ nối theo phạm trù

hợp tuyển, Nguyễn Thị Thu (2014) nghiên cứu từ nối theo phạm trù tương phản nhượng bộ, Vũ Thị Huyền Trang (2014) nghiên cứu từ nối theo phạm trù tương phản, Võ Thị Hường (2017) nghiên cứu nhóm từ, cụm từ nối theo phạm trù kết quả - tổng kết Mặc dù các nghiên cứu này đặt trọng tâm tìm hiểu từng mối quan hệ ý

-nghĩa của các phương tiện nối nhưng mới dừng ở nghiên cứu ban đầu; hơn nữa, đốitượng nghiên cứu chỉ giới hạn là các từ ngữ nối tiếng Việt và trên nguồn ngữ liệukhảo sát là các tác phẩm văn học và một số văn bản nghị luận tiếng Việt

Có thể thấy việc nghiên cứu phép nối nói chung hết sức đa dạng ở nhiềuphương diện và mức độ khác nhau Những vấn đề lý thuyết về phép nối đã đượcnghiên cứu khá kĩ và toàn diện Các nghiên cứu trên cho thấy các xu hướng nghiêncứu phương thức nối trong và ngoài nước cho đến nay Cụ thể, qua phần tổng quantrên có thể thấy hai xu hướng nghiên cứu về chúng: (1) Nghiên cứu phương thức nốinhư là một từ loại trong các công trình ngữ pháp chuyên sâu; và (2) Nghiên cứuphương thức nối như là một phương thức liên kết diễn ngôn Hiện nay, cùng với sựphát triển của ngôn ngữ học VB, hướng nghiên cứu về từ ngữ nối gắn liền với sự

Trang 19

phát triển ngữ pháp - chức năng và ngữ nghĩa - ngữ dụng ngày càng được quan tâm vàthu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Vì vậy, việc đi sâu tìm hiểu từng mối quan

hệ nghĩa của phép nối do các phương tiện nối đảm nhiệm là công việc cần thiết Hơnnữa, điểm qua tình hình nghiên cứu có thể thấy chưa có công trình nào đặt vấn đềnghiên cứu đối chiếu các từ ngữ nối theo từng mối quan hệ nghĩa mà chúng biểu thị,cũng như nhóm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong các VBKHXH tiếng

Việt và tiếng Anh Vì vậy, luận án đã chọn đề tài này (Đối chiếu từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa “kết quả”, “tổng kết” tiếng Việt và tiếng Anh (trên cơ sở các văn bản khoa học

xã hội)) nhằm miêu tả và làm rõ đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa và liên kết – lập luận của một nhóm từ ngữ nối khá đặc biệt trong hai ngôn ngữ Việt - Anh.

hành chức của câu và câu trong hành chức được gọi là phát ngôn (utterance).

Theo Yule (1997), nếu như cú pháp học nghiên cứu câu với tư cách là nhữngđơn vị trừu tượng thì ngữ dụng học nghiên cứu các phát ngôn với tư cách là những

ví dụ của hệ thống Do câu là một đơn vị ở bậc ngôn ngữ nên nó là một đơn vị trừutượng và chúng ta chỉ có thể nhận thức được câu thông qua các biến thể trong lời

nói: đó là các phát ngôn Phát ngôn chính là đơn vị hiện thực của câu trong giao tiếp.

Nó là sản phẩm của lời nói, gắn liền với từng ngữ cảnh giao tiếp cụ thể

Như vậy, câu và phát ngôn thực chất không phải là hai đơn vị ngôn ngữ khácnhau Chúng cùng một cấp độ nhưng xuất phát từ các khía cạnh nghiên cứu khác

nhau mà có sự phân biệt câu và phát ngôn.

Xét về phương diện cấu tạo ngữ pháp, tức là bậc trừu tượng, khái quát, đơn vịngôn ngữ được tạo nên bởi sự kết hợp của các đơn vị nhỏ hơn như: từ, ngữ cố định,cụm từ tự do và theo những quy tắc nhất định thì được gọi là câu Câu không gắn vớitình huống sử dụng mà ở trạng thái cô lập, tĩnh tại và việc phân tích câu thường chỉtập trung vào mặt cấu tạo ngữ pháp

Trang 20

Còn xét ở phương diện sử dụng, mỗi câu luôn gắn liền với một tình huống cụthể nhằm một mục đích giao tiếp nhất định và biểu thị một ý nghĩa cụ thể thì đượcgọi là phát ngôn Phát ngôn chính là câu trong hoạt động giao tiếp.

Phát ngôn chính là đơn vị nhỏ nhất của VB, thực chất là câu trong VB cho nênkhi nói tới phát ngôn là nói đến sự tương tác giữa nó với các phát ngôn khác xungquanh Nó chịu sự tác động của đặc điểm kế thừa thông báo Phát ngôn mở đầu làtiền đề cho các phát ngôn sau Đến lượt mình, các phát ngôn sau là chỗ dựa cho cácphát ngôn sau nữa, cứ thế chúng dựa vào nhau để tồn tại

Xét về mặt nội dung, phát ngôn có thể có nghĩa hoàn chỉnh hay không hoànchỉnh Tương tự, về cấu trúc, phát ngôn cũng có thể thiếu thành phần nòng cốt (ngônngữ học truyền thống gọi là câu sai ngữ pháp) Vì vậy, nghĩa của phát ngôn chỉ đượcbộc lộ rõ trong từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Ngoài ra, câu có thể được xem xét ởphương diện cấu trúc và tình huống sử dụng cụ thể nên gọi là câu - phát ngôn Điềunày muốn nhấn mạnh mối quan hệ của câu và phát ngôn

Trong nghiên cứu này, luận án coi phát ngôn là đơn vị cơ sở của phép nối trong

VB, nghĩa là: luận án xác định phép nối là mối quan hệ liên kết tối thiểu giữa haiphát ngôn trở lên và nhận diện, xem xét đặc điểm, chức năng phát ngôn chứa từ nốitrong sử dụng gắn liền với bối cảnh và tình huống giao tiếp Tuy nhiên, về mặt hìnhthức của phát ngôn: với ngữ liệu nghiên cứu là các phát ngôn trong VB viết cho nên

về mặt hình thức của phát ngôn, luận án vẫn căn cứ vào hình thức của câu để nhậndiện các phát ngôn: phát ngôn được mở đầu bằng chữ cái viết hoa và kết thúc bằngmột số loại dấu câu nhất định

1.2.1.2 Văn bản và diễn ngôn Phân tích văn bản và phân tích diễn

ngôn a Văn bản và diễn ngôn

Sự phát triển của ngôn ngữ học hiện đại đã đưa phân tích ngữ pháp không chỉgiới hạn ở câu truyền thống mà còn hướng đến khảo sát cấu trúc trên câu, đặc biệt làxem xét mối quan hệ giữa các câu trong cả văn bản Đây chính là cơ sở cho sự ra đời

của một ngành mới: ngôn ngữ học văn bản (text linguistics, textual linguistics) mà giai đoạn sau các nhà nghiên cứu gọi là phân tích diễn ngôn (discourse analysis).

Trong ngôn ngữ học VB hay phân tích diễn ngôn, ngoài khái niệm phát ngôn

còn có hai khái niệm khác luôn song hành, đó là diễn ngôn (discourse) và văn bản

(text) Đây được xem là hai khái niệm cơ bản, nền tảng của ngôn ngữ học VB và

Trang 21

phân tích diễn ngôn Vì vậy, hai khái niệm này được hầu hết các nhà nghiên cứu ởtrong và ngoài lĩnh vực này đề cập tới, chẳng hạn như: Halliday & Hasan (1976),Brown & Yule (1983), Cook (1989), Nunan (1993), Asher (1994), Trần Ngọc Thêm(1985), Hồ Lê (1996), Nguyễn Thị Việt Thanh (1999), Phạm Văn Tình (2002),Nguyễn Hoà (2008), Diệp Quang Ban (1998 & 2009), Nguyễn Thiện Giáp (2009) Theo tổng kết của Diệp Quang Ban (2009), cùng với quá trình phát triển của ngônngữ học, khái niệm VB và diễn ngôn cũng được hiểu theo những cách khác nhau.

Ở giai đoạn đầu, do trọng tâm của các nhà nghiên cứu tập trung vào sự kiện nói

bằng chữ viết cho nên tên gọi văn bản được sử dụng để chỉ những sự kiện nói (tức là

những sản phẩm của ngôn ngữ) bằng chữ viết và nói miệng có mạch lạc và liên kết Nghĩa

là VB thời kì này được dùng để chỉ các sản phẩm của cả hoạt động viết và nói, tức giao tiếp nói chung Tiêu biểu cho quan niệm thời kì đầu này là định nghĩa về VB của Halliday

& Hasan (1976): “Văn bản - một đơn vị của ngôn ngữ - được xác định không phải dựa

vào độ dài ngắn, dạng nói hay viết, bao gồm một động từ hay nhiều… mà dựa vào tính chỉnh thể, thống nhất về nội dung ngữ nghĩa của nó”

“Văn bản là một thuật ngữ ngôn ngữ học được dùng để chỉ bất kì một đoạn văn nào,

dù là dạng nói hay viết, dù là dài hay ngắn, nhưng phải là một chỉnh thể thống nhất, hoàn chỉnh” Và: “Văn bản là một đơn vị của ngôn ngữ tồn tại trong quá trình sử dụng - giao tiếp hay tư duy” [123: 1-2] Đồng thời, Halliday cũng chỉ rõ việc xác

định VB phải gắn liền với ngữ cảnh, nghĩa là VB phải được xác định tuỳ thuộc vàovăn cảnh và nội dung, ý nghĩa của các câu đi trước và sau nó mà không thể xác địnhmột cách tách rời các thành phần (câu, chuỗi câu) nào cấu tạo nên VB [123: 295].Như vậy, Halliday rất chú trọng đến các mối quan hệ về nghĩa giữa các phát ngôntrong VB

Tương tự, Crystal (1992) quan niệm: “Văn bản là một sản phẩm diễn ngôn xuất hiện một cách tự nhiên dưới dạng nói, viết hoặc biểu hiện bằng cử chỉ, được nhận dạng

về những mục đích phân tích Nó thường là một chỉnh thể ngôn ngữ với chức năng giao tiếp có thể xác định được, ví dụ như một cuộc thoại, một tờ áp phích ” [116: 25] Như

vậy, VB không chỉ là sản phẩm của hoạt động viết mà còn là sản phẩm của hoạt độngnói, nghĩa là VB còn luôn được đặt trong bối cảnh giao tiếp

Giai đoạn về sau, do ngôn ngữ nói được quan tâm nhiều hơn nên đã tạo thế cân

Trang 22

này các nhà nghiên cứu có xu hướng phân biệt, đối lập rạch ròi về nội hàm kháiniệm giữa hai tên gọi này VB dùng để chỉ sản phẩm ngôn ngữ dưới dạng viết (chữviết), còn diễn ngôn chỉ sản phẩm ngôn ngữ nói (nói miệng) Chẳng hạn, Hồ Lê

(1996) phân biệt "Văn bản là chỉnh thể của một sản phẩm - viết để diễn đạt trọn vẹn

một ý kiến về một vấn đề hoặc một hệ thống vấn đề Ngôn bản là chỉnh thể của một sản phẩm - nói để diễn đạt trọn vẹn ý kiến về một vấn đề hoặc hệ thống vấn đề” [58:

55] Một số tác giả khác cũng đề cập đến sự phân biệt VB và diễn ngôn ở những khía

cạnh khác nhau như Brown & Yule (1983), Widdowson (1984), Cook (1989),Nunan (1993) Chẳng hạn, theo Cook (1990), sự khác biệt giữa diễn ngôn và VB là

sự khác biệt giữa chức năng và hình thức: VB là ―một chuỗi ngôn ngữ được hiểu

một cách hình thức, bên ngoài ngữ cảnh‖, còn diễn ngôn là ―các chuỗi ngôn ngữ được cảm nhận như có ý nghĩa, thống nhất và có mục đích‖ [114: 158].

Như vậy, với quan niệm VB thuộc về ngôn ngữ viết còn diễn ngôn là thuộc vềlời nói thì theo cách hiểu này, diễn ngôn sẽ là một chuỗi phát ngôn được thực hiệntrong quá trình giao tiếp bằng lời nói (thể hiện dưới dạng âm thanh) và hàm ý cóngười nghe trực tiếp

Tuy nhiên, việc cố gắng phân biệt rạch ròi hai khái niệm này trong thực tế là vô cùngkhó khăn, bởi vì thực tế cho thấy sản phẩm của diễn ngôn cũng thường được ghi lạibằng chữ viết, nghĩa là bằng VB hiện hữu hay còn gọi là ―văn bản hoá‖ Mặc dù cáctác giả trên cố gắng phân biệt diễn ngôn và VB nhưng cách định nghĩa cho thấy họchưa làm rõ bản chất của sự khác biệt giữa hai khái niệm này, thậm chí là chúng hoà

trộn vào nhau, rất khó phân biệt Chẳng hạn, Crystal (1992) phân biệt diễn ngôn “là

một chuỗi ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) liên tục lớn hơn câu, thường tạo nên một đơn vị có mạch lạc, như bài truyền giáo, một lý lẽ, một câu chuyện tiếu lâm hay truyện kể” Còn văn bản “là một đoạn diễn ngôn xuất hiện dưới dạng nói, viết hoặc

ở dạng kí hiệu bằng cử chỉ sử dụng tự nhiên, được xác định để phân tích Nó thường

là một chỉnh thể ngôn ngữ với chức năng giao tiếp có thể xác định được, ví dụ như một cuộc thoại, một tờ áp phích‖ [116: 25] Như vậy, Crystal cuối cùng vẫn không thể phân

biệt rõ được hai khái niệm này vì cuối cùng ông vẫn coi VB ―là một đoạn diễn ngôn xuấthiện dưới dạng nói, viết hoặc ở dạng kí hiệu‖ Cũng phản ánh thực tế này, Phạm Văn Tình(2002) thấy rằng trong nhiều VB, các nhân tố hội thoại và đơn thoại nhiều khi được hòatrộn vào nhau [98: 30] Lý giải điều này, Nguyễn Hòa

Trang 23

(2008: 33-34) cho rằng: trong văn bản sẽ có cái diễn ngôn, trong diễn ngôn sẽ có cái

VB cho nên sự phân biệt trên chỉ mang tính tương đối Đây không phải là hai thựcthể tách biệt mà chỉ là một thực thể biểu hiện của ngôn ngữ hành chức trong bối cảnhgiao tiếp xã hội Do vậy, việc sử dụng hai khái niệm này thay thế lẫn nhau là mộtđiều dễ hiểu Tuy nhiên, mặc dù trong thực tế sử dụng, ta không phân biệt giữa diễnngôn và VB nhưng khi muốn nhấn mạnh tới mặt hành chức hay mặt hình thức củangôn ngữ thì vẫn có sự phân biệt

Như vậy, xuất phát từ góc nhìn cũng như quan điểm khác nhau nên mỗi nhànghiên cứu đã đưa ra các khái niệm VB cũng khác nhau Mặc dù về cơ bản kháiniệm VB và diễn ngôn là đồng nhất nhưng đi sâu vào chi tiết cho thấy thuật ngữ VBvẫn có ngoại diên rộng hơn phạm vi diễn ngôn

Luận án này đi theo xu hướng: xem xét từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả,tổng kết (từ bình diện cấu trúc - ngữ nghĩa và liên kết – lập luận) được sử dụng trongcác phát ngôn Đồng thời, luận án cũng khảo sát các phát ngôn chứa từ ngữ nối mangnghĩa kết quả, tổng kết được sử dụng trong các văn cảnh nhưng lại được định dạngbằng VB hiện hữu (ghi lại bằng chữ viết) Vì vậy, để có một khái niệm VB làm việc,

luận án tán thành với nhận định của Phạm Văn Tình (2002): Văn bản phải được hiểu

theo nghĩa rộng, không chỉ bó hẹp là đặc thù của ngôn ngữ viết - loại hình văn bản được xây dựng theo những định hướng về chủ đề và bố cục nhất định, thoát ly khỏi các bối cảnh giao tiếp bằng lời - mà nó còn là sản phẩm hoàn chỉnh của hành vi phát ngôn và được ghi lại bằng chữ viết [98: 29].

b Phân tích văn bản và phân tích diễn ngôn

Khi nói đến phân tích VB và phân tích diễn ngôn cũng là đề cập đến hai giai đoạnnghiên cứu của cùng một đối tượng: ngôn ngữ học VB Giai đoạn đầu, để phân tích VBngười ta căn cứ vào đơn vị tối thiểu là câu, và do VB được hiểu như tập hợp câu nêncác nhà nghiên cứu sử dụng các phương pháp và lý thuyết của câu theo quan điểm cấutrúc hình thức vào việc nghiên cứu VB và gắn liền với tên gọi ―ngữ pháp văn bản‖.Giai đoạn sau đánh dấu sự chuyển đổi đối tượng từ câu sang diễn ngôn, nghĩa là VBđược hiểu như đơn vị của nghĩa không phải là đơn vị của ngữ pháp nên tên gọi diễnngôn được sử dụng nhiều hơn và ―phân tích diễn ngôn‖ được chọn thay thế cho ―ngữpháp văn bản‖ Tuy vậy, thuật ngữ ―văn bản‖ vẫn được dùng khi phân tích bề mặt từ

Trang 24

ngữ bằng mối quan hệ của chúng với ngữ cảnh tình huống và ý định của người nóithuộc về diễn ngôn là một phần quan trọng trong phân tích diễn ngôn, nghĩa là phântích diễn ngôn là phân tích ngôn ngữ trong hành chức Việc hình thành tên gọi và xácđịnh đối tượng, phương pháp tiếp cận của ―phân tích văn bản‖ và ―phân tích diễnngôn‖ đã được đề cập trong các công trình của Brown và Yule (1983), Guy Cook(1989) và Lyons (1995) về cách hiểu VB (mặt từ ngữ lý giải được có thể được diễnđạt bằng chữ viết hoặc âm thanh của một tài liệu ngôn ngữ) và diễn ngôn (nghĩa-logic và chức năng gắn liền với ngữ cảnh hành chức) Chẳng hạn, Geogre Yule(1997) cho rằng trong phân tích diễn ngôn "nhất thiết là sự phân tích ngôn ngữ hànhchức, nhất thiết không giới hạn nó ở việc mô tả các hình thức ngôn ngữ tách biệt vớicác mục đích hay chức năng mà các hình thức này sinh ra để đảm nhận trong xã hộiloài người" [107; 23] Theo đó, phân tích diễn ngôn phải tập trung vào việc phân tíchcấu trúc và dụng học Xét ở góc độ cấu trúc, tiêu điểm là sự nối kết tường minh giữacác câu tạo nên liên kết, các yếu tố tổ chức VB Xét ở góc độ dụng học, tập trung đếnnhững phương diện của những điều không được nói hay viết ra, quan tâm đến đằngsau của cấu trúc và hình thức trong VB, đến những khái niệm tâm lí như kiến thứcnền, niềm tin, mong đợi, khám phá những gì người nói/viết nghĩ trong đầu Đây làphương pháp chung về phân tích diễn ngôn.

Như vậy, phân tích VB cũng là một bộ phận trong phân tích diễn ngôn (khôngphải đối lập với phân tích diễn ngôn) Nguyễn Hoà (2002) nhận định khó có thể có

sự phân tích hình thức thuần tuý tách ra khỏi chức năng và ngược lại, cho nên khôngthể tách biệt phân tích VB và phân tích diễn ngôn vì ―cũng giống như mối quan hệgiữa diễn ngôn và văn bản, phân tích diễn ngôn và phân tích văn bản không phải làhai bộ phận khác biệt, mà chỉ là hai mặt của ngôn ngữ hành chức trong hoàn cảnhgiao tiếp xã hội‖ [46, tr.34]

Trong luận án này, mặc dù chúng tôi vẫn sử dụng thuật ngữ ―văn bản‖ giốngnhư ở giai đoạn đầu (và VB để chỉ ngôn ngữ viết) nhưng chức năng liên kết của từngữ nối mang nghĩa kết quả, tổng kết mà chúng tôi nghiên cứu trong VBKH sẽ thuộc

về vấn đề của phân tích diễn ngôn Cụ thể, áp dụng lý thuyết phân tích diễn ngôn vào

việc xem xét nhóm từ ngữ nối này trong VB chính là sự nghiên cứu cách thức giữa

các phát ngôn hoặc giữa các đoạn văn trong VB liên kết với nhau thông qua các từ

Trang 25

ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết Hay nói cách khác, đó là nghiên cứu cách hành chức của các từ ngữ nối này trong VB.

1.2.1.3 Đặc trưng của văn bản

Cùng với việc đưa ra quan niệm về VB, các nhà nghiên cứu cũng chỉ rõ nhữngđặc trưng của VB - cái quyết định tạo nên VB đích thực Beaugrande & Dressler

(1981), trong công trình: Introduction to Text Linguistics đã chỉ ra 7 đặc trưng của

văn bản, đó là VB có tính liên kết (cohesion), tính mạch lạc (coherence), tính chủ

đích (intentionality), tính tiếp nhận (acceptability), tính thông tin (informativity), tính ngữ cảnh (contextuality), tính liên văn bản (intertextuality) Đề cập đến đặc

trưng của VB, Halliday và Hasan (1976) cho rằng, yếu tố làm nên "chất VB "của

một VB chính là phương diện nội tại (bao gồm hai thành tố liên kết và cấu trúc nội

tại văn bản) và phương diện ngoại tại (chính là cấu trúc vĩ mô của diễn ngôn làm

cho một văn bản thuộc về một loại riêng như hội thoại, truyện kể, trữ tình hay thư

tín ) Ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu (ví dụ: Đỗ Hữu Châu, 2005; Bùi MinhToán, 2007; Diệp Quang Ban, 2009) cũng đề cập đến đặc trưng VB

Nhìn chung, hầu hết các tác giả đều chỉ ra đặc trưng của VB ở các phươngdiện về nội dung, về hình thức, về liên kết và về lượng Diệp Quang Ban (2009)cũng chỉ ra 6 đặc trưng của VB và ông đã phân tích khá kỹ các đặc trưng này, đồngthời cho rằng các đặc trưng này đã giải thích thêm cho chức năng của chúng Theo

ông, VB phải có cấu trúc, có nội dung, có mục đích, có mạch lạc và liên kết, có yếu

tố chỉ lượng và có định biên (tính trọn vẹn) Cụ thể:

Văn bản có cấu trúc Yếu tố cấu trúc thể hiện ở cách tổ chức nội dung và hình

thức phù hợp với phong cách chức năng, thể loại và phương tiện truyền tải

Văn bản có nội dung Yếu tố này thể hiện ở chỗ VB có đề tài - chủ đề xác định,

thống nhất, giúp phân biệt nó với chuỗi câu không phải là VB

Văn bản có mục đích sử dụng Mục đích của VB có quan hệ với đề tài, lĩnh vực

phản ánh, phương tiện truyền tải và chi phối cách cấu tạo, tổ chức VB theo một cáchthức nhất định (phong cách chức năng) Mục đích sử dụng VB là mục tiêu hướng tớicủa VB, trả lời cho câu hỏi: VB viết để làm gì?

Văn bản có mạch lạc và liên kết Mạch lạc là yếu tố quyết định việc tạo thành

VB, trong đó điển hình là việc tạo thành tính thống nhất đề tài - chủ đề VB Mạch lạc

Trang 26

có thể sử dụng các phương tiện liên kết, giúp cho các quan hệ ngữ nghĩa trong vănbản được logic, thống nhất, tường minh.

Văn bản có yếu tố chỉ lượng VB luôn có nhiều câu - phát ngôn nối tiếp nhau Văn bản có yếu tố định biên VB có biên giới đầu vào ở phía trái và biên giới

đầu ra ở bên phải, giúp tạo nên tính trọn vẹn cho VB

Như vậy, các nhà nghiên cứu chỉ ra khá nhiều đặc trưng của VB, trong đó tínhliên kết được tất cả các nhà nghiên cứu đề cập tới và nó chính là một trong nhữngđặc trưng rất quan trọng, quyết định chất của VB Dưới đây, chúng tôi sẽ tìm hiểu

kỹ hơn đến đặc trưng này của VB

1.2.1.4 Liên kết và vai trò của liên kết trong văn bản

Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng tính liên kết (cohesion) đượcxem là một trong những đặc trưng quan trọng nhất của VB và dù có tiếp cận từ góc

độ nào thì liên kết vẫn được các nhà nghiên cứu thậm chí thuộc các trường pháikhác nhau đề cập đến

Bản chất của liên kết là một quan hệ ngữ nghĩa Chẳng hạn, Halliday và Hasan(1976) đã xác định: liên kết là kiểu quan hệ ngữ nghĩa khi mà việc giải thích nghĩacủa một yếu tố ngôn ngữ nào đó trong VB phụ thuộc vào nghĩa của một yếu tố ngônngữ khác trong cùng VB Yếu tố ngôn ngữ này giả định yếu tố ngôn ngữ kia và nhờ

có yếu tố ngôn ngữ kia chúng ta mới có thể hiểu được yếu tố ngôn ngữ này Cũngtheo Halliday và Hasan (1976), liên kết là một đặc tính nổi trội của VB vì ở cấp độ

VB, người tạo VB giữ vai trò quyết định loại liên kết Nghĩa là cùng một hiệntượng, người ta có thể chọn một phương thức liên kết bất kì như thế, tỉnh lược mà

họ thấy hiệu quả Vì thế, ở cấp độ VB, các phương tiện liên kết được sử dụng đềuthể hiện chủ đích của người nói (Còn ở phạm vi câu, liên kết ít được coi trọng vìbản thân cấu trúc ngữ pháp của câu đã có chức năng liên kết rất mạnh thể hiện quaviệc các thành phần câu luôn dính chặt vào nhau Vì thế việc sử dụng các quan hệliên kết ở câu không thật sự cần thiết)

Tương tự, Diệp Quang Ban (2009) cũng cho rằng liên kết ―là kiểu quan hệnghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu (hai mệnh đề) theo cách giải thíchnghĩa cho nhau Nói rõ hơn, liên kết là kiểu quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữnằm trong hai câu mà muốn hiểu nghĩa cụ thể của yếu tố này thì phải tham khảonghĩa của yếu tố kia, và trên cơ sở đó hai câu (mệnh đề) chứa chúng liên kết được

Trang 27

với nhau‖ [3: 347] Như vậy, cơ sở của sự liên kết hai phát ngôn hay liên kết các bộphận của văn bản chính là sự tồn tại của các quan hệ và đó là quan hệ nghĩa.

Trần Ngọc Thêm (1985) khẳng định: VB thường bao gồm tập hợp các câunhưng các câu này mới chỉ là các phần tử vì ―Ngoài các câu - phần tử, trong hệ

thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của VB chỉ ra vị trí của mỗi câu và những

mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn VB nóichung Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy‖ [85: 19]

Có thể thấy, tính liên kết có vai trò rất quan trọng, nó có khả năng làm cho mộtchuỗi câu hỗn độn trở thành một bộ phận của VB Nhờ có tính liên kết mà giữa các phátngôn trong VB có mối liên hệ chặt chẽ, gắn kết với nhau Diệp Quang Ban (2009) khẳngđịnh liên kết được xây dựng trên khả năng vượt qua biên giới câu của sự liên kết đểgiúp cho một chuỗi câu trở thành một chỉnh thể toàn vẹn, cụ thể là bằng cách giải thích

nghĩa cho nhau giữa hai yếu tố nằm trong hai câu khác nhau Ví dụ: Nó thèm Vì nó đói

thực Trong ví dụ trên, từ vì nối câu sau với câu trước, ―giải thích‖ nguyên nhân làm

nảy sinh việc nói ở câu trước, và có tác dụng liên kết hai câu

Theo Halliday và Hasan (1976), yếu tố quan trọng quyết định một tập hợp câu

có tạo thành VB hay không tuỳ thuộc vào quan hệ liên kết bên trong và giữa các câuvới nhau ( ) "Tính văn bản được tạo ra nhờ quan hệ liên kết‖ [123: 4] Trần NgọcThêm cũng cho rằng: ―Tính liên kết chính là nhân tố quan trọng nhất có tác dụngbiến một chuỗi câu trở thành văn bản‖ [85: 19] Như vậy, để VB tạo được sự liênkết, người tạo lập phát ngôn phải làm cho nội dung các câu, các đoạn liên kết vớinhau thông qua việc sử dụng các phương thức liên kết phù hợp Điều này giúp tạo ramột lượng thông tin và hiệu quả giao tiếp đạt mức tối đa

1.2.1.5 Liên kết và mạch lạc

Quan hệ giữa liên kết và mạch lạc (coherence) đã được rất nhiều nhà nghiêncứu bàn đến và là hai vấn đề cơ bản trong phân tích diễn ngôn Đây là hai phạm trùkhác nhau nhưng trong diễn ngôn chúng có vai trò quan trọng trong việc tạo nên ýnghĩa và tính dụng học, đồng thời giữa chúng có quan hệ khăng khít với nhau Nunanphân biệt: "Mạch lạc là cái mức độ phạm vi qua đó diễn ngôn được nhận biết như là

có "mắc vào nhau" chứ không phải là một tập hợp các câu hay phát ngôn không cóquan hệ với nhau", còn liên kết là "các mối liên hệ hình thức thể hiện các mối quan

Trang 28

Halliday và Hasan (1976) và Diệp Quang Ban (2002) cũng cho rằng, liên kết có tácdụng làm rõ các quan hệ mạch lạc nhưng không có khả năng tạo ra tính mạch lạc chochuỗi câu không mạch lạc Dijk (1985) cũng quan niệm liên kết như một trường hợpcủa mạch lạc.

Mạch lạc được tạo nên bởi nhiều yếu tố như cấu trúc diễn ngôn, triển khaimệnh đề, chức năng và nguyên tắc cộng tác ; đồng thời mạch lạc trong VB có thểkhông được đánh dấu bằng các phương tiện liên kết, thậm chí cá biệt có những vănbản hiện diện trên bề mặt các phương tiện liên kết nhưng không có mạch lạc, hoặccác mức độ mạch lạc không hoàn toàn giống nhau bởi điều này liên quan đến phạmtrù hình thức và phạm trù nội dung, đồng thời chịu sự tác động của ngữ cảnh Song

rõ ràng trên thực tế, hầu hết các trường hợp liên kết chính là phương tiện hiện thựchóa mạch lạc, tạo nên tính mạch lạc cho VB

Như vậy, mạch lạc giống như sợi dây liên kết các yếu tố mang nghĩa trong VB,trong khi liên kết là việc sử dụng các phương tiện từ ngữ để liên kết các câu/phátngôn với nhau Liên kết có thể có mặt trong VB và cả phi VB Liên kết góp phần tạo

ra mạch lạc trong một VB nhưng chỉ với VB vốn chứa mạch lạc, còn trong chuỗi câukhông chứa mạch lạc thì liên kết mặc dù có mặt vẫn không thể làm cho chuỗi câu đótrở thành VB

Mặc dù là hai phạm trù khác biệt, nhưng giữa mạch lạc và liên kết có mối quan

hệ chặt chẽ Mạch lạc thường được biểu hiện thông qua việc sử dụng các phép liênkết Trong khi sự xuất hiện của liên kết trong VB có tác dụng làm cho các quan hệnghĩa được rõ ràng, từ đó tạo mạch lạc cho VB Trong VB, mạch lạc tạo nên sựtường minh, logic về mặt nội dung nghĩa, còn liên kết có nhiệm vụ nối nghĩa giữacác câu/phát ngôn theo những mối quan hệ nghĩa xác định Như vậy, mạch lạc đượctạo bởi nhiều yếu tố, trong đó có liên kết, nói cách khác, liên kết là phương tiện tạo

ra mạch lạc cho VB

1.2.1.6 Phương thức liên kết và phương tiện liên kết

Liên kết bao gồm hai mặt: liên kết hình thức và liên kết nội dung Liên kết nội

dung bao gồm hai bình diện là liên kết chủ đề và liên kết logic Khi các phát ngôn

ứng với một vật quy chiếu thì ta có liên kết chủ đề Còn khi các câu có sự tổ chức sắpxếp ngữ nghĩa phù hợp với thực tế khách quan và nhận thức của người bản ngữ thì

đó là liên kết logic Liên kết hình thức là cách nối kết nội dung VB về mặt hình thức

Trang 29

và đó chính là cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ Như vậy, phương thức liênkết (thường gọi biện pháp liên kết hoặc phép liên kết) chính là cách sử dụng cácphương tiện ngôn ngữ để tạo ra liên kết VB Phương tiện liên kết rất đa dạng, có thể

có nhiều hình thức và cách biểu hiện khác nhau

Đi sâu vào chi tiết có thể thấy rõ hơn mối quan hệ này Phương thức liên kết làcách thức chung mà ngôn ngữ thể hiện sự liên kết trong VB; là: ―cách sử dụng cácphương tiện liên kết có cùng một thực chất (tạo thành một hệ thống con) vào việcliên kết câu với câu‖ [1: 147] Mỗi phương tiện liên kết thể hiện một loại ý nghĩa,một chức năng nhất định trong việc liên kết Như vậy, ý nghĩa chung mà các phươngtiện liên kết cùng thể hiện sẽ tạo thành một phương thức liên kết nhất định

Phương tiện liên kết chính là những biểu hiện ra bên ngoài hay sự hiện thựchoá phép liên kết nào đó bằng những phương tiện ngôn ngữ như đại từ, số từ, quánngữ, kết cấu ngữ pháp… Đây chính là phương tiện (means) hay công cụ (tools) giúp

VB thực hiện chức năng liên kết (trong nội bộ các câu hoặc đoạn của VB) theo mộtquan hệ ngữ nghĩa xác định Phương tiện thuộc về hình thức biểu đạt Xét về khíacạnh khái quát, phương tiện liên kết mang tính cụ thể bởi nó là sự cụ thể hoáphương thức liên kết thành những hình thức liên kết cụ thể; còn phương thức liênkết lại mang tính khái quát hoá Xét về số lượng, do mang tính cụ thể nên phươngtiện liên kết có số lượng nhiều hơn phương thức liên kết Mối quan hệ giữa phươngthức và phương tiện liên kết có thể được ví như mối quan hệ giữa âm tố và âm vị,giữa ngôn ngữ và lời nói trong ngôn ngữ học

VD1: - Ngày nay, nhiều đòi hỏi về chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế và của sản

phẩm đã rất khác thời kỳ các nước chưa có nhiều giao lưu Do đó, nếu không có sự tiến bộ

không ngừng và toàn diện thì những thành tựu hôm qua có thể lại trở thành rào cản mới cho sự phát triển vượt lên cùng thời đại [V.60: tr.20].

VD2: - [ ] Như vậy là, ngoài những quan niệm truyền thống liên quan đến thần linh,

ma quỷ, người Dao Đỏ đã biết đến nhiều yếu tố khác là nguyên nhân dẫn đến bệnh tật cho con người [V.38: tr.756].

đây, có đến 2 phương tiện liên kết: do đó và như vậy là, nhưng chúng chỉ

thực hiện chung một phương thức liên kết là nối hai phát ngôn (VD1) hay nhiều phátngôn (VD2) để liên kết hai hay nhiều thông tin đã đề cập theo một quan hệ ý nghĩa nhấtđịnh mà chúng ta gọi là phép nối

Trang 30

Trong số các phương thức liên kết mà người ta thường nhắc tới như lặp, tỉnh

lược, thế, liên tưởng , nối là một trong các phương thức liên kết văn bản mang tính

phổ quát ở nhiều ngôn ngữ và được sử dụng phổ biến ở nhiều thể loại VB khác nhau

1.2.2 Phép nối và từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết

1.2.2.1 Phép nối - phương thức liên kết văn bản

Các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng phép nối là một trong những phươngthức liên kết cơ bản và phổ quát bên cạnh các phép liên kết khác như lặp, thế, liêntưởng, so sánh Và trong thực tế, việc sử dụng từ ngữ nối có thể bắt gặp ở mọi tác giả

và mọi thể loại Phép nối - ngay tên gọi đã nói lên vai trò của nó - dùng để nối kếtgiữa các mệnh đề trong câu, nối kết các câu trong một đoạn văn và nối kết các đoạnvăn trong một VB Dựa trên thực tiễn của nhiều ngôn ngữ khác nhau, phép nối đượccác nhà nghiên cứu xác lập chủ yếu dựa vào các quan hệ

Là một trong những phương thức liên kết cơ bản, phép nối có vai trò quantrọng trong việc nối kết để tạo nên tính chỉnh thể, mạch lạc cho VB Vì vậy, phần lớncác nhà nghiên cứu khi đưa ra định nghĩa về phép nối đã nhấn mạnh bản chất, chức

năng mà phép liên kết này biểu thị Chẳng hạn, Nunan khẳng định: ―Phép nối khác

với quy chiếu, thay thế và tỉnh lược ở chỗ nó không phải là cách để nhắc người đọc nhớ lại những thực thể hành động và sự thể đã được đề cập trước đó (…) nó là phương thức liên kết nối bởi vì nó báo hiệu các mối quan hệ, mà những quan hệ này chỉ có thể được hiểu một cách đầy đủ qua tham khảo các phần khác của văn bản‖

[68: 46] Tương tự, Mc Carthy đã chỉ ra bản chất của phép nối: bản thân từ nối

không mở ra khả năng hồi quy hay khứ chỉ giống như các phương thức liên kết khác

mà có tác dụng chỉ ra tiền giả định cho tính liên hoàn về cấu trúc VB, ý nghĩa của cácphát ngôn Sự xuất hiện của các phương tiện nối báo trước mối quan hệ nghĩa giữacác bộ phận như mệnh đề, câu - phát ngôn, đoạn văn trong VB; chúng liên kết các bộphận của VB thành một chỉnh thể thống nhất [Dẫn theo 2: 189]

Khi nghiên cứu về phép liên kết trong tiếng Anh nói chung và phép nối nói riêng,

Halliday & Hasan (1976) khẳng định phép nối phải dựa trên mối quan hệ về nghĩa giữa chúng, mà “cái theo sau được kết nối một cách hệ thống với cái đi trước” Trong một

công trình nghiên cứu khác (trên cơ sở công trình năm 1976), Halliday (1998) đã bổsung, tìm hiểu sâu hơn về các phép liên kết trong tiếng Anh trong đó có phép nối và ông

đã chỉ ra rằng bản chất của phép nối là việc sử dụng các từ ngữ có

Trang 31

khả năng chỉ quan hệ để làm bộc lộ kiểu quan hệ nghĩa giữa các phát ngôn và bằng cách đó chúng liên kết với nhau (…) Nhờ có phép nối mà ý nghĩa của các mệnh đề, câu hay đoạn văn trở nên được sáng rõ, tường minh Phép nối có vị trí quan trọng

khác xa với các phép liên kết khác

Ở trong nước, phép nối là một trong những phương thức liên kết được Trần NgọcThêm (1985) tìm hiểu và phân tích khá kĩ Trần Ngọc Thêm xác định cơ sở cho việc liên kếthai phát ngôn là sự tồn tại của các quan hệ, trong đó có những quan hệ ngữ nghĩa giữa chúng.Nếu những quan hệ này được thể hiện ra bằng những phương tiện từ vựng thì đó chính làhiện tượng nối kết hay gọi chung là phép nối Mặc dù các nhà ngữ pháp học dựa trên nhiềutiêu chí khác nhau để phân loại, định nghĩa phép nối và phép nối có thể có những tên gọikhông giống nhau, nhưng các tác giả đều

thừa nhận mô hình khái quát của phép nối trong VB như sau: U1 c U2 trong đó: (c) là từ ngữ nối và từ ngữ nối này có hai chức năng: chức năng liên kết hình thức

và chức năng liên kết logic - ngữ nghĩa; còn (U1, U2) là phần tử được nối (câu/ phát

ngôn/ đoạn văn) [Dẫn theo 67: 25]

Tương tự, Trần Ngọc Thêm (1985) ký hiệu mô hình khái quát của phép nối là

ArB và chỉ ra rằng trong phát ngôn, phương tiện liên kết (r) không tách ra nằm giữa hai

phát ngôn, không nằm giữa hai phần tử liên kết mà luôn nằm hẳn một bên, ở một tronghai phát ngôn đó, làm cho phát ngôn chứa nó được gọi là kết ngôn và phụ thuộc vào

phát ngôn còn lại (chủ ngôn) Nếu r nằm ở kết ngôn B (trong mô hình: A rB) thì ta có liên kết hồi chỉ (hay hồi quy) và sẽ gắn bó mật thiết với một số quan hệ nghĩa Còn nếu r nằm ở A (trong mô hình: Ar B) thì ta có liên kết dự báo Từ sự phân tích trên, tác giả đi

đến nhận định rằng dấu hiệu để nhận diện các phép nối như những phương thức liên kết

phát ngôn là sự vắng mặt của một trong hai ―ngôi‖ của quan hệ phát ngôn chứa r (tức

phương tiện nối) Chẳng hạn, so sánh 2 phát ngôn sau:

Theo tác giả, chỉ có từ nhưng ở (2) mới là phương tiện nối liên kết giữa các

phát ngôn vì phát ngôn thứ hai chứa thiếu hẳn ngôi A của quan hệ và để bù đắp sự thiếu hụt này, phát ngôn rB (kết ngôn) phải liên kết với phát ngôn A (chủ ngôn)

đứng trước nó [85: 203]

Trang 32

Theo Diệp Quang Ban (1999), “phép nối là việc sử dụng tại vị trí đầu câu hoặc

trước vị ngữ (trước động từ ở vị ngữ) những từ có khả năng chỉ quan hệ để làm bộc

lộ kiểu quan hệ của hai câu có quan hệ với nhau, và bằng cách đó liên kết hai câu này với nhau” [2: 2] Như vậy, định nghĩa này đã cho thấy về mặt hình thức, phép

nối chính là việc các sử dụng các từ ngữ nối và những từ ngữ nối này đứng vị trí đầucâu; về mặt nội dung, các từ ngữ nối biểu thị quan hệ nghĩa giữa các phát ngôn,nghĩa là liên kết giữa các câu hoặc phát ngôn bằng quan hệ nghĩa

Với cách định nghĩa trên, các nhà nghiên cứu đã cho thấy: với chức năng liênkết, từ ngữ nối đóng vai trò không thể thiếu trong việc biểu thị định hướng ngữ nghĩa

và tạo ra cấu trúc ngữ nghĩa của các thành phần trong VB

Khác với các nhà nghiên cứu trên, Trần Ngọc Thêm (1985) đưa ra định nghĩa

về phép nối bằng cách chỉ ra quan hệ và mô hình (hay cấu trúc) của phép nối: “Hiện

tượng nối liên kết có dạng của một quan hệ hai ngôi a R b, trong đó (a, b) là cặp phần tử được sắp thứ tự (…) Ở đây, R là phương tiện nối Phương tiện nối R có hai chức năng: chức năng liên kết và chức năng ngữ nghĩa (gọi tên, định loại quan hệ”.

Tóm lại, từ quan niệm của các nhà nghiên cứu nêu trên có thể hiểu: phép nối làviệc sử dụng các từ ngữ có tác dụng nối để liên kết giữa các phát ngôn, các phần của

VB theo các kiểu quan hệ ngữ nghĩa logic nhất định nhằm tạo nên mạch lạc của VB.Việc sử dụng các từ ngữ nối có tác dụng làm cho quan hệ ngữ nghĩa giữa các câutrong VB được hiển ngôn Nhờ đó, mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các phát ngôn, cácđoạn trong VB được thể hiện rõ ràng, chính xác

Trong thực tế, chức năng liên kết của từ ngữ nối thể hiện trong phạm vi rấtrộng, chúng có thể liên kết giữa các từ, ngữ (mệnh đề), câu/phát ngôn, đoạn văntrong VB Trong khuôn khổ của luận án này, chúng tôi chỉ nghiên cứu từ ngữ nối ởcấp trên câu, tức là liên kết giữa các câu/ phát ngôn và đoạn văn trong VB

Trang 33

1.2.2.2 Phân loại phép nối

Theo Trần Ngọc Thêm (1985), tuỳ theo tính chất của các phương tiện nối vàdựa trên mức độ gắn kết về nội dung và hình thức giữa các phát ngôn có thể phân

biệt nối lỏng và nối chặt Đây cũng được xem là hai kiểu phép nối phổ biến nhất.

+ Nối lỏng: ―Phép nối lỏng là phương thức liên kết thể hiện ở sự có mặt trong

kết ngôn những phương tiện từ vựng (từ, cụm từ) không làm biến đổi cấu trúc của nó vàdiễn đạt một quan hệ ngữ nghĩa hai ngôi mà ―ngôi‖ còn lại là chủ ngôn‖ [85: 204] Ví dụ:

Tại Việt Nam, Luật khoa học và công nghệ năm 2013 có điểm đột phá về chính sách

đãi ngộ đối với nhân lực, nhân tài trong lĩnh vực khoa học công nghệ (1) Theo đó, Nhà

nước tạo điều kiện cho cơ sở nghiên cứu khoa học được đầu tư tiềm lực cơ sở vật chất và nguồn nhân lực để tổ chức nghiên cứu (2) (V.35: tr.54)

Trong ví dụ trên, cụm từ nối theo đó đã tường minh mối quan hệ giữa hai phát

ngôn theo quan hệ nhân - quả Nguyên nhân được nêu ở phát ngôn (1): Luật khoa

học và công nghệ có nhiều điểm đột phá về chính sách đãi ngộ…; kết quả được nêu

ở phát ngôn (2) có chứa theo đó: Theo đó, Nhà nước tạo điều kiện cho cơ sở nghiên

cứu khoa học được đầu tư tiềm lực… Trong trường hợp này, nếu ta bỏ đi cụm từ nối

theo đó ở phát ngôn (2) thì phát ngôn này vẫn không ảnh hưởng gì về mặt cấu trúc:

vẫn là một câu độc lập, hoàn chỉnh về cấu trúc ngữ pháp

Như vậy, với nối lỏng, mặc dù hai phát ngôn liên kết với nhau nhưng chúngvẫn có tính độc lập tương đối về nội dung và cấu trúc bởi vì nếu tách riêng các phátngôn đó thì vẫn có giá trị thông báo rõ ràng

+ Nối chặt:

―Phép nối chặt là phương thức liên kết của ngữ trực thuộc định danh thể hiệnbằng sự có mặt của từ nối (liên từ, giới từ) ở chỗ bắt đầu (liên kết hồi quy) hoặc chỗkết thúc (liên kết dự báo) của nó, tạo thành một quan hệ ngữ nghĩa hai ngôi giữa ngữtrực thuộc với chủ ngôn‖ [85: 244-245] Như vậy, ở phép nối chặt thì sự có mặt củacác phương tiện nối lại làm thay đổi cấu trúc nòng cốt của kết ngôn, khiến nó phụthuộc vào chủ ngôn không chỉ về mặt nội dung mà cả về mặt cấu trúc Ví dụ:

- Người con gái thời ấy mặt phải tròn, mắt phải dài, răng đen hạt na, lông mày

kẻ nhỏ Và phải có da có thịt [Má Hồng - Nguyễn Khải]

Trang 34

Trong ví dụ trên, từ nối và ở phát ngôn sau có tác dụng bổ sung thông tin cho phát ngôn đi trước Như thế, và đã có chức năng liên kết phát ngôn đi trước với phát

ngôn chứa nó Về mặt hình thức, phát ngôn sau bị tỉnh lược chủ ngữ và chúng ta chỉ

có thể hiểu được nội dung của nó thông qua phát ngôn trước Vì vậy, trong trường

hợp này nếu bỏ đi quan hệ từ và thì hai phát ngôn này sẽ không còn mối quan hệ, và

do đó chúng ta không thể hiểu nghĩa của chúng, đồng thời phát ngôn này chỉ là mộtngữ trực thuộc

Như vậy, nối chặt là kiểu nối khi một trong hai phát ngôn tham gia liên kếtkhông có khả năng tồn tại độc lập về nghĩa và hình thức ngữ pháp Đây là phép nốithực hiện liên kết những phát ngôn phụ: những phát ngôn bị tỉnh lược hoặc nhữngphát ngôn có chứa yếu tố thay thế (đại từ) Trong phép nối chặt thường có các từ nối

như nhưng, và, vì, bởi vì… làm cho phát ngôn trở nên không hoàn chỉnh về mặt cấu

trúc mà chỉ là ngữ trực thuộc Vì vậy, nếu tách các phát ngôn thì không thể hiểunghĩa của chúng một cách trọn vẹn

Ngoài ra còn có một số phân loại khác Chẳng hạn, dựa trên số lượng phát ngôn

tham gia liên kết, có thể phân loại thành: nối đơn và nối phức Nối đơn là loại nối chỉ

liên kết giữa hai phát ngôn, bao gồm cả dạng phép nối có cặp từ hô ứng Còn nối phức làphép nối thể hiện sự liên kết phức tạp giữa nhiều phát ngôn Trong nối phức, các từ ngữnối khá đa dạng, thể hiện các quan hệ ngữ nghĩa phong phú Phép nối này thường được

sử dụng để diễn tả quan hệ trình tự diễn đạt, quan hệ liệt kê trong VB

Bên cạnh đó, dựa vào vị trí các phát ngôn đứng liền kề hay giãn cách có thể

phân loại thành: nối liên tục và nối gián đoạn (còn gọi là nối trực tiếp/ gián tiếp).

Nối liên tục là phép nối được thực hiện giữa hai phát ngôn nằm cạnh nhau Còn nốigián đoạn là phép nối được thực hiện giữa các phát ngôn không nằm cạnh nhau (giánđoạn), nghĩa là có một phát ngôn nằm xen vào giữa hai phát ngôn nối, làm quan hệcủa chúng bị giãn cách (liên kết bắc cầu)

1.2.2.3 Từ ngữ nối và phân loại từ ngữ nối

a Từ ngữ nối - dấu hiệu chỉ dẫn liên kết

Phần trên đã cho thấy từ ngữ nối chính là yếu tố, phương tiện để liên kết giữacác câu/phát ngôn trong cùng một VB Về vị trí và dấu hiệu nhận diện từ ngữ nối,theo Diệp Quang Ban (2009), các từ ngữ có chức năng nối kết không làm thành một

bộ phận trong mệnh đề cùng có mặt trong câu chứa nó, nghĩa là nó không phải là

Trang 35

thành phần cú pháp trong mệnh đề đó Ông cho rằng đây là điều kiện quan trọng giúpphân biệt phương tiện thuộc phép nối với phương tiện thuộc phép thế Phương tiệnnối thường đứng đầu câu, bên ngoài mệnh đề trong câu đó Chẳng hạn:

VD: - Mai bạn phải đi từ 5 giờ sáng Vậy bạn cần đặt chuông đồng hồ reo lúc

4 giờ → Vậy là từ nối và không nằm trong mệnh đề bạn cần và nó chỉ là yếu tố nối

câu chứa nó với câu trước

Phân biệt với trường hợp vậy trong phép thế:

VD: - Đi đường xa phải chuẩn bị chu đáo Ai cũng vậy cả.

Vậy ở đây có tác dụng thế cho phải chuẩn bị chu đáo và cùng với cũng giữ

chức năng cú pháp vị ngữ của câu thứ hai [3: 353]

Trong tiếng Việt, từ ngữ nối được thể hiện ra bằng những tên gọi khác nhau

Đối với các từ ngữ nối kiểu như và, rồi, hay, nhưng, với, nếu, vì, để, tuy, cho

nên… ngoài tên gọi là từ nối, chúng còn được các nhà ngữ pháp gọi với một số tên

khác là liên từ/ kết từ (Nguyễn Hữu Quỳnh, 1994; Nguyễn Tài Cẩn, 1998; Lê Biên,

1999; Đinh Văn Đức, 2001; Diệp Quang Ban 2006…) Chẳng hạn, theo Nguyễn Hữu

Quỳnh (1994), “Liên từ là những từ chỉ các quan hệ ngữ pháp chuyên dùng để nối

các thành phần trong câu hay các thành tố trong cụm từ (còn gọi là từ nối, kết từ hoặc giới từ và liên từ)‖ [78: 172] Thậm chí, một số tác giả gọi từ nối kiểu này là

giới từ hoặc hư từ cú pháp (phân biệt với hư từ từ pháp) Diệp Quang Ban (2009) người nghiên cứu sâu về phép nối - gọi tên những từ ngữ nối kiểu này là quan hệ từ.

-Đi sâu vào chi tiết, ông còn phân biệt: quan hệ từ chỉ quan hệ bình đẳng: và, rồi, hay,

nhưng, với, vả lại…; quan hệ từ chỉ quan hệ phụ thuộc: nếu, vì, (cho) nên, để, tuy và

những từ có giá trị tương đương Những quan hệ do những từ này diễn đạt, theo tácgiả, là những quan hệ logic giữa hai bộ phận do chúng nối kết lại [3: 357]

Bên cạnh đó, theo Diệp Quang Ban (2009), từ ngữ nối còn là các đại từ thay thế: vậy, thế…; hoặc tổ hợp từ có chứa đại từ thay thế: vì vậy, nếu vậy, tuy vậy, để

được như vậy, và thế (là), có như thế (thì), sau đó Vị trí của những từ ngữ và tổ

hợp này là đứng đầu câu nối ý câu chứa chúng với câu đứng trước (phân biệt vớinhững từ ngữ và tổ hợp này nếu đứng sau động từ làm vị ngữ và giữ một chức vụ cúpháp nào đó liên quan đến từ chính ở vị ngữ thì chúng lại thuộc phép thế Ví dụ: -

Mọi người đều nghĩ thế.

Trang 36

Ngoài ra, từ ngữ nối là các quán ngữ/ tổ hợp từ ngữ có tác dụng liên kết.

Trong tiếng Việt, ngoài những quán ngữ thực hiện chức năng đưa đẩy, rào đón, nhấn

mạnh còn có một bộ phận quán ngữ thực hiện chức năng liên kết, như: tóm lại, nói

tóm lại, kết quả là, rốt cuộc, trước hết, suy cho cùng… [3: 357].

Tương tự, Trần Ngọc Thêm (1985) đã nêu ra các yếu tố từ vựng có chức năngliên kết mà ông gọi là ―thành phần chuyển tiếp‖ khá đa dạng, bao gồm:

- Các kết từ: thoạt tiên, bỗng nhiên, cuối cùng, đồng thời, thậm chí, chẳng hạn, sự

thật (là);

- Các kết hợp cố định hoá (thường là song tiết): tiếp theo, ngoài ra, hơn nữa, thứ

nhất, thứ hai, ngược lại, tóm lại, nhìn chung;

- Các kết hợp (kết ngữ) có xu hướng cố định hoá, bao gồm 3 mô hình:

+ Mô hình: động từ + trạng thái chỉ cách thức: nói cách khác, nói đúng ra, nói một

cách tóm tắt, nói khác đi, nói (một cách)

+ Mô hình: từ nối + đại từ/ liên từ: từ nối là đại từ: trên đây, trước đây, sau đó, từ

đó, do vậy ; từ nối là liên từ: vì vậy, bởi vậy, tuy thế, như thế

+ Mô hình tận cùng bằng là, gồm: đại từ + là và danh từ + là: vậy là, thế là; kết quả

b Phân loại từ ngữ nối

Việc phân loại từ ngữ nối được dựa trên các tiêu chí khác nhau và dựa vào tiêuchí nào chủ yếu phụ thuộc vào mục đích và cách tiếp cận nghiên cứu

Thứ nhất, từ ngữ nối có thể được phân loại dựa vào hình thức cấu tạo của

chúng Chẳng hạn, dựa trên tiêu chí này, Halliday và Hasan (1976) phân loại thành

từ nối đơn và từ nối phức trong tiếng Anh:

Trang 37

- Từ nối đơn: then, so, next, but…

- Từ ngữ nối kép với vĩ tố ―ly‖: actually, accordingly, subsequently…

- Từ ngữ nối kép với ―there‖ và ―where‖: whereat, therefore, thereupon…

- Từ ngữ nối kép khác: instead, besides, anyway, nevertheless, furthermore…

- Biểu thức mệnh đề nối với ―that‖: because of that, in addition to that, as a result

of that, in spite of that…

Trong tiếng Việt, dựa vào hình thức cấu tạo (số lượng tiếng), Bùi Văn Năm (2010) phân loại từ nối thành:

- Từ nối có một tiếng: nhưng, thì, và, còn, do, rồi, thế, dù, mà… (kết từ, phó từ).

- Từ nối có hai tiếng: bởi vì, bây giờ, như vậy, tuy vậy, với lại, thật ra, nào ngờ, thế

là, tuy nhiên… (cụm từ cố định, kết cấu ngẫu hợp).

- Từ nối có ba tiếng trở lên: cũng như vậy, không những thế mà, sau cùng thì, một

cách chắc chắn, một lát sau, lại một lần nữa, như thế nghĩa là… (kết cấu ngẫu hợp).

Bên cạnh đó, từ ngữ nối còn được phân loại theo ý nghĩa ngữ pháp, theo cách

định danh ngữ pháp của nó, nghĩa là không phụ thuộc vào văn cảnh sử dụng Ví dụ:

mà là quan hệ từ; suy cho cùng, nào ngờ là kết cấu ngẫu nhiên, có hai tiếng trở lên…

Hoặc Ngô Thị Bảo Châu (2009) phân chia liên từ (tác giả gọi chung tất cả từ ngữ có

chức năng liên kết của phép nối là liên từ) thành: liên từ chính phụ (vì, bởi, tuy,

nhưng, mặc dù/dầu…), chúng thể hiện quan hệ chính phụ khi nối kết các cú; liên từ

đẳng lập hay liên từ liên hợp (và, rồi, hay, hoặc, nhưng…).

Tuy nhiên, ngoài việc phân loại các từ ngữ nối dựa vào tiêu chí hình thức và ý

nghĩa ngữ pháp, các từ ngữ nối chủ yếu được phân loại theo quan hệ ngữ nghĩa cơ

bản mà các yếu tố tham gia liên kết tạo ra bởi lẽ ―phép nối là việc tạo ra các kiểuquan hệ nghĩa - logic giữa các câu có quan hệ nghĩa với nhau bằng các phương tiện

từ ngữ có tác dụng nối‖ [3: 352] Đồng thời, ―Các từ ngữ nối luôn tạo ra những mốiquan hệ nghĩa giữa các thành phần nối và thể hiện các quan hệ nghĩa mà chúng biểuthị Những quan hệ này như là những nhân tố có ý nghĩa quan trọng, tạo nên tínhmạch lạc của văn bản‖ [67: 39]

Việc phân loại các quan hệ ý nghĩa của phép nối được đề cập đến trong khánhiều các công trình nghiên cứu như Halliday và Hasan, 1976 & 1985; Phạm VănTình, 1983; Trần Ngọc Thêm, 1985; Diệp Quang Ban, 2009; Bùi Tất Tươm, 1994;

Trang 38

tác giả đưa ra rất đa dạng và mỗi kiểu quan hệ nghĩa được thể hiện ra bằng các phương tiện nối khá chuyên biệt, đặc trưng cho từng kiểu loại Chẳng hạn:

- Từ ngữ nối chỉ ra sự trình bày vấn đề một cách thứ tự: một là, hai là, thứ nhất,

thứ hai, trước hết, đầu tiên, cuối cùng, một mặt, mặt khác…(tiếng Việt); firstly, secondly, thirdly, finally, lastly, at the same time, meanwhile (tiếng Anh).

- Từ ngữ nối chỉ ra sự đánh giá chung có ý nghĩa tổng kết, khái quát: tóm lại,

nhìn chung, kết luận lại, như vậy, nói một cách ngắn gọn…(tiếng Việt); generally, generally speaking, overall, shortly, to summarize, as a consequence, as a result of, in simpler terms… (tiếng Anh).

- Từ ngữ nối chỉ kết quả hoặc hệ quả: vì vậy, cho nên, chính vì thế, thành thử,

kết quả là… (tiếng Việt); therefore, so, thus, hence, for this reason, consequently…

- Từ ngữ nối chỉ ra sự tương phản, trái ngược: trái lại, thế nhưng, đối lập với,

khác với, không giống với (tiếng Việt); but, still, however, in contrast, nevertheless, on the contrary, on the other hand… (tiếng Anh).

- Từ ngữ nối chỉ sự giải thích, minh hoạ cho điều vừa trình bày: ngoài ra, bên

cạnh đó, cụ thể là, ví dụ, nghĩa là, điều này có nghĩa là…(tiếng Việt); in addition, for example, besides, moreover, furthermore, such as , that is (tiếng Anh)

Có thể thấy các kiểu quan hệ nghĩa trong phép nối mà các tác giả đưa ra rất đadạng và mỗi kiểu quan hệ nghĩa được thể hiện ra bằng các phương tiện nối kháchuyên biệt, đặc trưng cho từng kiểu loại

Mặc dù trong số các quan hệ của phép nối mà các tác giả nêu ra có những quan hệkhông trùng nhau hoặc cùng một mối quan hệ nhưng tên gọi khác nhau (chẳng hạn,

quan hệ bổ sung còn có các tên gọi: quan hệ bổ trợ; quan hệ mở rộng, bổ sung; hoặc quan hệ tương phản còn có tên gọi là quan hệ tương phản - đối lập, quan hệ nghịch đối, quan hệ ngược hướng ), nhưng sự phân loại này cho thấy mối quan hệ nghĩa mà các từ

ngữ nối biểu thị rất phong phú Đồng thời điều này cũng phản ánh sự phân loại này làkhá phức tạp bởi lẽ các mối quan hệ này được hiện thực hoá bằng các phương tiện từngữ nối cụ thể trong khi ranh giới của các kiểu quan hệ đôi khi không rõ ràng Hơn nữa,đôi khi cùng một phương tiện từ ngữ có thể giải thích bằng nhiều kiểu quan hệ khácnhau tuỳ thuộc vào ngữ cảnh (liên quan đến vấn đề ngữ dụng)

Trang 39

1.2.2.4 Từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết

a Vị trí của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong sự phân loại của các nhà nghiên cứu

Trong sự phân loại từ ngữ nối, có thể thấy từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả,tổng kết đã được đề cập trong danh sách phân loại của hầu hết nhà nghiên cứu trên.Đây là loại từ ngữ nối không phải được phân loại theo tiêu chí hình thức và ý nghĩa

ngữ pháp mà chúng được phân loại theo quan hệ ngữ nghĩa cơ bản mà các yếu tố

tham gia liên kết tạo ra Đặc biệt, quan hệ này đã được nói rõ trong phân loại của BùiTất Tươm (1994), Phạm Văn Tình (1983), Hà Thúc Loan (2003)

Trong sự phân loại của Phạm Văn Tình (1983), từ ngữ nối trong tiếng Việt

được chia thành nhiều phạm trù, trong đó có phạm trù kết quả, tổng kết: vì vậy, cho

nên, vậy nên, do đó, rốt cuộc, tóm lại, nhìn chung, để cho, để rồi, nói chung

Tương tự, trong sự phân loại của Bùi Tất Tươm (1994), tác giả chia từ ngữ nối

thành 7 kiểu quan hệ cơ bản, trong đó quan hệ tổng kết được tác giả xếp vào kiểu

thứ 5, chẳng hạn: tóm lại, nói chung, nhìn chung…

Hà Thúc Loan (2003) đã phân ra 2 phạm trù quan hệ ngữ nghĩa cơ bản của

phép nối: quan hệ thuyết minh và quan hệ phát triển Trong mỗi phạm trù này, tác

giả tiếp tục phân chia thành các loại quan hệ ngữ nghĩa khác nhau: quan hệ thuyết

minh gồm: bằng chứng, dẫn chứng, ví dụ, định nghĩa, nguyên nhân; còn quan hệ

phát triển gồm: kết quả, suy luận, khái quát, tương phản, tương đồng, song hành).

Như vậy, trong sự phân loại của Hà Thúc Loan có sự xuất hiện của quan hệ kếtquả và quan hệ tổng kết (tác giả gọi là khái quát)

Ngoài ra, quan hệ kết quả, tổng kết còn xuất hiện trong sự phân loại của một sốtác giả khác và chúng thường xuất hiện ở trong các tiểu loại với những tên gọitương tự Chẳng hạn:

Trong sự phân loại của Trần Ngọc Thêm (1995), tác giả gọi phạm trù tổng kết

là kết thúc: tóm lại, nói tóm lại, nói chung, nhìn chung, cuối cùng… và nó là tiểu loại thuộc quan hệ trình tự diễn đạt; phạm trù kết quả thuộc quan hệ nhân quả: vì vậy, do

đó, kết quả là, như vậy… Còn trong phân loại của Diệp Quang Ban (2008), tác giả

gọi phạm trù kết quả là hệ quả: nên, cho nên, thành ra, thành thử, kết quả là, hoá ra

là, hệ quả là… và phạm trù này thuộc quan hệ ―nguyên nhân và hệ quả‖.

Trang 40

Tương tự, trong phân loại của Halliday về các quan hệ nghĩa của phép nối

trong tiếng Anh, tác giả gọi phạm trù tổng kết là tóm tắt (summative): tóm lại (là),

(xin) tóm tắt, để kết luận, nói vắn tắt (là) và là tiểu loại thuộc quan hệ ―minh chứng‖

và khái quát: vì vậy, vậy thì, do đó, bởi thế… là tiểu loại thuộc quan hệ ―nguyên nhân - điều kiện‖; phạm trù kết quả Halliday cũng gọi là kết quả: kết quả là… là tiểu

loại cũng thuộc quan hệ ―nguyên nhân - điều kiện‖

Ngô Thị Bảo Châu (2010) trên cơ sở tham khảo những công trình đi trước vàdựa trên nguồn ngữ liệu thực tế trong tiếng Việt, đồng thời phân chia lại, thêm bớtmột số quan hệ, thay đổi thuật ngữ định danh một số tiểu loại, đã chia quan hệ

―minh chứng‖ (elaboration) (tác giả dịch gọi tên là ―làm rõ‖) thành 9 tiểu loại,

trong đó phạm trù tổng kết (tác giả cũng gọi là tóm tắt) thuộc tiểu loại thứ 7 Những

từ ngữ nối thường gặp trong quan hệ này là: tóm lại, để tóm tắt lại, để kết thúc vấn

đề, kết luận, nói một cách vắn tắt, nhìn chung, nhìn trên tổng thể/đại đa số, … Ví dụ: (1) […] Tóm lại, THTM (tín hiệu thẩm mĩ) Xuân vốn chỉ mùa chuyển tiếp từ mùa

đông sang hạ, có thời tiết tốt và có điều kiện lý tưởng cho sự sinh sôi nảy nở của vạn vật Với ý nghĩa này, xuân còn được gọi cụ thể hóa hơn bằng biến thể từ vựng mùa xuân.

(2) […] Như vậy, đối thoại là hình thức giao tiếp tích cực mặt đối mặt Điều này có

nghĩa là các nhân vật tham gia đối thoại phải đương diện trao đáp với sự thay đổi liên tục

vai nói vai nghe chứ không thông qua một khâu trung gian nào.

Ở ví dụ (1), sau khi trình bày về THTM Xuân, tác giả tóm tắt lại ý nghĩa của tín hiệu Xuân này thông qua từ nối tóm lại Tương tự, ở ví dụ (2), sau khi đã trình bày về đối thoại, tác giả tóm lược khái niệm đối thoại thông qua từ nối như vậy [11: 43-35].

Như vậy, từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết đều có mặt trong sự

phân loại của các nhà nghiên cứu và với những tên gọi tương tự nhau Chúng baogồm những từ ngữ nối không chỉ dùng để đưa ra kết luận/tổng kết (summative) màcòn đưa ra ý khái quát (generalising), kết quả (resultive)

b Khái niệm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết

Kết quả hiểu theo nghĩa thông thường là cái do một hay nhiều hiện tượng khác

(gọi là nguyên nhân) gây ra, tạo ra trong quan hệ với những hiện tượng ấy Còn

tổng kết là nhìn lại toàn bộ việc đã làm, khi đã kết thúc hoặc sau một giai đoạn, để

có sự đánh giá, rút ra những kết luận chung Trong phát ngôn/câu, quan hệ kết quả

là quan hệ giữa A và B, trong đó A là phần nêu lý do, nguyên nhân - sự tình diễn ra

Ngày đăng: 02/02/2021, 13:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (1998, in lại 1999, 2005, 2012, 2015), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
2. Diệp Quang Ban (2002), Giao tiếp. Văn bản. Mạch lạc. Liên kết. Đoạn văn, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp. Văn bản. Mạch lạc. Liên kết. Đoạn văn
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
3. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
4. Diệp Quang Ban (1998), ―Về mạch lạc trong văn bản‖, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1, tr. 47-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 1998
5. Diệp Quang Ban (1999), ―Hai giai đoạn của ngôn ngữ học văn bản và tên gọi ―phân tích diễn ngôn‖, Tạp chí Ngôn ngữ, số 2, tr. 20-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 1999
6. Diệp Quang Ban (2006), Ngữ pháp tiếng Việt (tập 1,2), Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
7. Lê Biên (1999), Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
8. Nguyễn Tài Cẩn (1998), Ngữ pháp tiếng Việt. Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 1998
9. Brown, G. & Yule, G. (2002), Phân tích diễn ngôn, Trần Thuần dịch, Nxb ĐHQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích diễn ngôn
Tác giả: Brown, G. & Yule, G
Nhà XB: NxbĐHQG
Năm: 2002
10. Ngô Thị Bảo Châu (2009), Cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ dụng của phép nối trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh), Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ dụng của phép nối trongtiếng Việt (so sánh với tiếng Anh)
Tác giả: Ngô Thị Bảo Châu
Năm: 2009
11. Ngô Thị Bảo Châu (2010), ―Các kiểu quan hệ ―làm rõ‖ trong ―phép nối‖ tiếng Việt‖, Tạp chí Khoa học (Đại học Cần Thơ,) số 15b, tr. 30-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học
Tác giả: Ngô Thị Bảo Châu
Năm: 2010
12. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1981
13. Đỗ Hữu Châu (1983), ―Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ nghĩa học hoạt động‖, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1983
14. Đỗ Hữu Châu (1987), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng. Nxb Đại học và THCN, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học và THCN
Năm: 1987
15. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
16. Đỗ Hữu Châu (chủ biên) - Nguyễn Thị Ngọc Diệu (2003), Giáo trình giản yếu về ngữ pháp văn bản, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giản yếu về ngữ pháp văn bản
Tác giả: Đỗ Hữu Châu (chủ biên) - Nguyễn Thị Ngọc Diệu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
17. Đỗ Hữu Châu tuyển tập (2005), Đại cương - Ngữ dụng học - Ngữ pháp văn bản (tập 2), Đỗ Việt Hùng tuyển chọn và giới thiệu, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương - Ngữ dụng học - Ngữ pháp văn bản
Tác giả: Đỗ Hữu Châu tuyển tập
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
18. Đỗ Hữu Châu (2007), Giản yếu về ngữ dụng học (tái bản lần thứ nhất), Trung Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giản yếu về ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 2007
19. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (2009), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2: Ngữ dụng học (tái bản lần thứ tƣ), Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, tập 2: Ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
20. Đỗ Nguyên Quỳnh Chi (2017), ―Liên kết nội dung trong thơ Xuân Diệu‖, Tạp chí Khoa học (ĐHSP Tp. Hồ Chí Minh), số 2, tr.40-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học
Tác giả: Đỗ Nguyên Quỳnh Chi
Năm: 2017

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w