Những từ ngữ nối theo quan hệ này phổ biến như: vì vậy, do đó, cho nên, như vậy, tóm lại, nhìn chung, suy cho cùng, nhìn một cách khái quát… Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài Đối chi
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ TỐ HOA
"KẾT QUẢ", "TỔNG KẾT" TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
(TRÊN CƠ SỞ CÁC VĂN BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ TỐ HOA
ĐỐI CHIẾU TỪ NGỮ NỐI BIỂU THỊ Ý NGHĨA
"KẾT QUẢ", "TỔNG KẾT" TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH (TRÊN CƠ SỞ CÁC VĂN BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI)
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong Luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công
bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Tố Hoa
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3 Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
7 Kết cấu của luận án……… ……… …….……
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về phép nối, từ nối ở nước ngoài
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về phép nối, từ nối ở Việt Nam
1.2 Cơ sở lý thuyết
1.2.1 Văn bản và liên kết
1.2.2 Phép nối và từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết …… …
1.2.3 Thể loại văn bản khoa học ……….… …… …
1.2.4 Ngôn ngữ học đối chiếu ……… ……
1.3 Tiểu kết….………… ………….… ………… ….…… …
CHƯƠNG 2: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC - NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ NỐI BIỂU THỊ Ý NGHĨA KẾT QUẢ, TỔNG KẾT TRONG VBKHXHTV VÀ VBKHXHTA
2.1 Tiêu chí nhận diện từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA
2.1.1 Tiêu chí nhận diện từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết tiếng Việt
2.1.2 Tiêu chí nhận diện từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết tiếng Anh
2.2 Đối chiếu số lượng và tần suất sử dụng từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA
2.2.1 Số lượng và tần suất sử dụng từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết tiếng Việt và tiếng Anh
1
1
2
3
4
5
6
6
7
7
7
9
12
12
23
38
41
42
44
44
44
47
48
48
Trang 52.2.2 Một số nhận xét chung về số lượng và tần suất sử dụng từ ngữ nối biểu thị ý
nghĩa kết quả, tổng kết tiếng Việt và tiếng Anh
2.3 Đối chiếu về đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA
2.3.1 Vị trí của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong phát ngôn
2.3.2 Yếu tố đi kèm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong phát ngôn
2.3.3 Chức năng cú pháp của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong phát ngôn
2.3.4 Đặc điểm cấu tạo - ngữ nghĩa của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA
2.4 Tiểu kết
CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM LIÊN KẾT - LẬP LUẬN CỦA TỪ NGỮ NỐI BIỂU THỊ Ý NGHĨA KẾT QUẢ, TỔNG KẾT TRONG VBKHXHTV VÀ VBKHXHTA
3.1 Đối chiếu đặc điểm liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA
3.1.1 Đặc trưng liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết
3.1.2 Cấu trúc liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết
3.1.3 Các mô hình liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết
3.1.4 Một số nhận xét chung về các mối quan hệ liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết
3.2 Đối chiếu đặc điểm lập luận của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA
3.2.1 Giá trị liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết có tác dụng tạo ra quan hệ lập luận cho văn bản……… ………
3.2.2 Đặc điểm lập luận của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết ……
3.2.3 Đối chiếu đặc điểm liên kết và lập luận của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA ………
3.3 Tiểu kết
KẾT LUẬN
49
53
53
55
55
53
59
104
106
106
106
107
110
125
127
127
129
142
144
146
Trang 6CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………
NGUỒN NGỮ LIỆU KHÁO SÁT………
PHỤ LỤC………
150 151 160 167 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT A: B: ĐHQG: E: HN: KHXH: KHXH&NV: PN: SL: r: TNN: TB: VB: VBKH VBKHXH: VBKHXHTV: VBKHXHTA: V: U
Chủ ngôn Kết ngôn Đại học Quốc gia (Văn bản) Anh
Hà Nội Khoa học xã hội Khoa học xã hội và Nhân văn Phát ngôn
Số lượng Phương tiện nối
Từ ngữ nối Trung bình Văn bản Văn bản khoa học Văn bản khoa học xã hội Văn bản khoa học xã hội tiếng Việt Văn bản khoa học xã hội tiếng Anh (Văn bản) Việt
(Utterance): Phát ngôn
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Số lƣợng và tần suất xuất hiện của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả,
tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA
Bảng 2.2 Số lƣợng và tần suất xuất hiện của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả,
tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA theo nhóm
Bảng 2.3 So sánh 10 từ ngữ nối có tần suất sử dụng cao nhất trong VBKHXHTV
và VBKHXHTA
Bảng 2.4: Số lƣợng, hình thức cấu tạo, chức năng ngữ nghĩa và tần suất xuất hiện của
từ ngữ nối kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV có hình thức là từ
Bảng 2.5: Số lƣợng, hình thức cấu tạo, chức năng ngữ nghĩa và tần suất xuất hiện của
từ ngữ nối kết quả, tổng kết trong VBKHXHTA có hình thức là từ
Bảng 2.6: Số lƣợng, hình thức cấu tạo, chức năng ngữ nghĩa và tần suất xuất hiện của
từ ngữ nối kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV có hình thức là cụm từ
Bảng 2.7: Số lƣợng, hình thức cấu tạo, chức năng ngữ nghĩa và tần suất xuất hiện của
từ ngữ nối kết quả, tổng kết trong VBKHXHTA có hình thức là cụm từ
Bảng 2.8: Số lƣợng, hình thức cấu tạo, chức năng ngữ nghĩa và tần suất xuất hiện của
từ ngữ nối kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV có hình thức là mệnh đề
Bảng 2.9: Số lƣợng, hình thức cấu tạo, chức năng ngữ nghĩa và tần suất xuất hiện của
từ ngữ nối kết quả, tổng kết trong VBKHXHTA có hình thức là mệnh đề
Bảng 3.1: Từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong mối quan hệ giữa
chủ ngôn và kết ngôn trong VBKHXHTV và VBKHXHTA
Bảng 3.2 Các kiểu quan hệ lập luận do nhóm từ ngữ nối mang nghĩa kết quả, tổng
kết biểu thị trong VBKHXHTV và VBKHXHTA
Trang 8VB, phương tiện liên kết không chỉ là nhân tố quan trọng mà còn là yêu cầu bắt buộc
và hầu hết các nhà nghiên cứu về VB đều rất quan tâm đến nguyên tắc và khả năng liên kết giữa các bộ phận của VB với nhau
Để tạo thành VB, các câu trong đó phải liên kết, gắn bó với nhau theo một nguyên tắc nhất định và theo những phương thức nhất định Trong các phương thức liên kết, phép nối là một trong những phương thức cơ bản được sử dụng phổ biến ở trong tất cả các loại VB, đặc biệt là trong văn bản khoa học (VBKH) và nó cũng là phương thức phổ quát của nhiều ngôn ngữ Trong phương thức liên kết nối, từ ngữ nối chính là phương tiện ngôn ngữ quan trọng thực hiện chức năng liên kết giữa các câu/phát ngôn theo một mối quan hệ ngữ nghĩa xác định, là dấu hiệu chỉ ra một cách tường minh mối liên hệ giữa các phát ngôn trong VB Với chức năng liên kết, từ ngữ nối đóng vai trò không thể thiếu trong việc định hướng ngữ nghĩa và tạo ra cấu trúc ngữ nghĩa của các thành phần trong VB, từ đó giúp cho VB mạch lạc, sáng rõ
1.2 Trong tiếng Việt và tiếng Anh đều có các từ ngữ nối biểu thị các phạm trù ngữ nghĩa khác nhau khá đa dạng Nếu như tiếng Việt có các từ ngữ nối thuộc các
phạm trù không gian - thời gian, tương phản - nhượng bộ, giả thiết - nguyên nhân,
khái quát - cụ thể, kết quả - tổng kết (tóm tắt)… thì tiếng Anh cũng có các từ ngữ nối
dùng để chỉ nguyên nhân, kết quả, mục đích, tương phản, điều kiện tương ứng
Thực tế đã có một số nghiên cứu bước đầu về các đơn vị từ ngữ nối theo các phạm trù nói trên, nhưng nghiên cứu một cách có hệ thống thì hiện vẫn còn bỏ ngỏ,
đặc biệt là nhóm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết được sử dụng trong
các VBKH thì hầu như chưa được quan tâm nghiên cứu Đây là những từ ngữ có
Trang 92
chức năng đưa ra kết quả hoặc nêu lại những ý chính, những điều cơ bản, chủ yếu của vấn đề hay những nhận định chung mang tính khái quát Quan hệ này thường thực hiện sự liên kết giữa hai hoặc với nhiều phát ngôn khác nhau trong VB Những
từ ngữ nối theo quan hệ này phổ biến như: vì vậy, do đó, cho nên, như vậy, tóm lại,
nhìn chung, suy cho cùng, nhìn một cách khái quát… Chính vì vậy, chúng tôi chọn
đề tài Đối chiếu từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa “kết quả”, “tổng kết” tiếng Việt và tiếng Anh (trên cơ sở các văn bản khoa học xã hội) để làm rõ đặc điểm cấu trúc -
ngữ nghĩa - liên kết - lập luận của từ ngữ nối chỉ kết quả, tổng kết trong hai ngôn ngữ Việt - Anh
Thông qua đề tài này, luận án mong muốn làm sáng tỏ các đặc điểm và chức năng của nhóm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết, đặc biệt là giá trị liên kết của chúng trong các VBKH tiếng Việt và tiếng Anh Kết quả nghiên cứu sẽ giúp ích thiết thực cho việc dạy - học ngôn ngữ ở bậc đại học, đặc biệt trong việc hiểu rõ chức năng liên kết của từ ngữ nối biểu thị kết quả, tổng kết trong cả hai ngôn ngữ
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là nhằm tìm hiểu các đặc điểm về cấu trúc - ngữ nghĩa và liên kết - lập luận của nhóm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết được sử dụng trong các VBKHXH tiếng Việt và tiếng Anh trên cơ sở lý thuyết phân tích diễn ngôn, qua đó đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa tiếng Việt
và tiếng Anh trên các bình diện này, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của nhóm từ ngữ nối này trong việc tạo giá trị liên kết cũng như khả năng tạo giá trị biểu đạt trong hoạt động, hành chức ở VB
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án cần giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau: (i) Xác lập cơ sở lý luận thông qua việc trình bày một số vấn đề lý thuyết về ngôn ngữ học VB, một số vấn đề liên quan đến phép nối, từ nối, trên cơ sở đó xác định các tiêu chí nhận diện từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VB (ii) Miêu tả, phân tích và đối chiếu đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của nhóm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết được sử dụng trong tiếng Việt và tiếng Anh trên ngữ liệu là các VB thuộc các ngành KHXH Cụ thể, luận án xem xét đặc điểm cấu tạo, vị trí chức năng ngữ pháp và ngữ nghĩa của loại từ ngữ nối này thể hiện
Trang 103
trong phát ngôn, qua đó chỉ ra sự tương đồng và khác biệt của nhóm từ ngữ nối này trong các VBKHXH tiếng Việt và tiếng Anh từ bình diện cấu trúc - ngữ nghĩa
(iii) Miêu tả, phân tích và đối chiếu đặc điểm liên kết - lập luận của nhóm các
từ ngữ nối trên được sử dụng trong các VBKHXH tiếng Việt và tiếng Anh Cụ thể, luận án xem xét các mối quan hệ liên kết và quan hệ lập luận của từ ngữ nối loại này thể hiện trong VB, qua đó chỉ ra sự tương đồng và khác biệt của nhóm từ ngữ nối này trong các VBKHXH tiếng Việt và tiếng Anh từ bình diện liên kết - lập luận
3 Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án xác định đối tượng nghiên cứu là những từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết được sử dụng trong các VBKHXH tiếng Việt và tiếng Anh
Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở việc xem xét nhóm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết được sử dụng không nằm trong phát ngôn giao tiếp (lời nói), cũng không phải là các phát ngôn riêng lẻ, mà là các phát ngôn gắn bó với nhau trong VB với ngữ cảnh đủ bề rộng được rút ra từ các VBKHXH tiếng Việt và tiếng Anh Điều này có nghĩa là luận án xem xét đặc điểm của các từ ngữ nối loại này trong cả chuỗi phát ngôn bởi lẽ các phát ngôn liên quan được xem là yếu tố góp phần tạo nên ngữ cảnh cần thiết giúp cho việc phân tích cấu trúc - ngữ nghĩa - liên kết - lập luận của phát ngôn chứa từ ngữ nối mang nghĩa kết quả, tổng kết đạt hiệu quả cao nhất
3.2 Tư liệu nghiên cứu
VBKH là thể loại VB rất phong phú, tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Trong luận án này, chúng tôi giới hạn lựa chọn một hình thức VB chung cho cả tiếng
Việt và tiếng Anh, đó là các bài báo khoa học Các bài báo khoa học mà chúng tôi
lựa chọn làm tư liệu nghiên cứu là các bài nghiên cứu được đăng tải trên một số tạp chí KHXH mang tính đa ngành hoặc liên ngành và chúng thuộc nhiều ngành KHXH khác nhau như văn học, ngôn ngữ học, lịch sử, kinh tế, chính trị, pháp luật… Đây hầu hết là các nghiên cứu mang tính điều tra, phân tích dựa trên quan sát và nguồn tư liệu nhằm tìm ra mối quan hệ nhân quả hoặc những phát hiện mới, những nhận định, đánh giá có giá trị nhất định về chuyên môn Vì vậy, việc sử dụng các từ ngữ nối mang nghĩa kết quả, tổng kết trong những nghiên cứu này là rất cần thiết, giúp cho tác giả thể hiện sự suy luận logic trong vấn đề nghiên cứu Ngoài ra, các bài báo
Trang 114
thường là các VB có dung lượng ngắn, trung bình khoảng từ 5000 từ đến 7000 từ nên
sẽ dễ mang tính khả thi hơn trong việc phân tích các từ ngữ nối ở từng VB
Với cách lựa chọn như trên, nguồn ngữ liệu cụ thể của luận án bao gồm 60 VBKHXH tiếng Việt được trích xuất từ một số tạp chí mang tính đa ngành, liên
ngành như tạp chí KHXH Việt Nam, tạp chí KHXH và Nhân văn, tạp chí Nhân lực KHXH… Các tạp chí này hầu hết được xuất bản từ năm 2010 đến 2018
Đối với ngữ liệu tiếng Anh, luận án cũng có lựa chọn tương tự Để đối chiếu với tiếng Anh, luận án cũng lựa chọn ngữ liệu khảo sát là các từ ngữ nối mang nghĩa kết quả, tổng kết được trích từ các VB thuộc các lĩnh vực KHXH như văn học, ngôn ngữ học, lịch sử, kinh tế, luật tương ứng trong tiếng Anh, nghĩa là cũng được trích
từ các tạp chí KHXH mang tính đa ngành, liên ngành như International Journal of
Humanities and Social Sciences, International Journal of Cognitive Research in Science Các tạp chí này cũng được xuất bản từ năm 2010 đến 2018 Tuy nhiên, để
nguồn tư liệu giữa hai ngôn ngữ được tương đương, đối với tiếng Anh luận án chỉ
lựa chọn 50 VBKHXH vì các VB tiếng Anh thường dài hơn tiếng Việt (trung bình 1
bài báo tiếng Anh có độ dài khoảng 7000 từ, còn trong tiếng Việt xấp xỉ khoảng 6000
từ) [Chi tiết về ngữ liệu, xem ―Nguồn ngữ liệu khảo sát‖ ở phần cuối luận án]
Dựa trên các tiêu chí nhận diện [chi tiết về tiêu chí nhận diện các từ ngữ nối,
xem mục 1.2.4.3 và mục 2.1 trong luận án], chúng tôi đã lọc ra được 115 từ ngữ nối
biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết tiếng Việt và trong tiếng Anh con số này là 136 với các tần suất sử dụng khác nhau
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, luận án sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: được xem là phương pháp chủ đạo của
luận án bởi lẽ liên kết cũng là một vấn đề quan trọng của phân tích diễn ngôn Vì vậy, trong luận án này, các đặc điểm của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết
sẽ được xem xét theo khung lý thuyết của phương pháp phân tích diễn ngôn Cốt lõi của phân tích diễn ngôn là xem xét mặt chức năng của ngôn ngữ Cụ thể, phương pháp này dùng để xem xét cách thức mà các từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết được sử dụng gắn liền với ngữ cảnh Nói cách khác, phương pháp này dùng để xem xét sự hành chức của các từ ngữ nối này trong từng văn cảnh cụ thể khi phân tích ngữ nghĩa hay đặc điểm liên kết và quan hệ lập luận của chúng trong VBKH
Trang 125
- Phương pháp miêu tả: dùng để miêu tả các đặc điểm về cấu trúc - ngữ nghĩa
và liên kết - lập luận của nhóm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết
- Phương pháp so sánh đối chiếu: được sử dụng để đối chiếu giữa từ ngữ nối
biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong tiếng Việt với tiếng Anh về mặt cấu trúc - ngữ nghĩa và liên kết - lập luận, qua đó tìm ra sự tương đồng và khác biệt của chúng
ở các bình diện này Nghĩa là trong nghiên cứu này, luận án sử dụng phương pháp so
sánh, đối chiếu 1 chiều [đã được đề cập chi tiết ở mục 1.2.4 Ngôn ngữ học đối chiếu],đó
là cách tiếp cận lấy cơ sở so sánh (Tertium comparationis) làm trung tâm]
- Thủ pháp phân tích logic ngữ nghĩa – ngữ dụng: nói tới phép nối là nói tới các
quan hệ ngữ nghĩa, do vậy thủ pháp này được sử dụng để xem xét cách thức từ ngữ nối được sử dụng trong từng văn cảnh cụ thể Hay nói cách khác, thủ pháp này dùng
để xem xét vai trò của từ ngữ nối trong từng VB khác nhau khi phân tích ngữ nghĩa hoặc giá trị liên kết hay quan hệ lập luận của chúng trong VBKH
- Thủ pháp thống kê phân loại: dùng để xác lập, thu thập, tập hợp và phân loại
các từ ngữ nối từ các nguồn khác nhau Đó là các đoạn văn, các câu (phát ngôn) có chứa các từ ngữ nối loại này được sử dụng trong các VBKHXH Các ngữ liệu thu thập được là cơ sở để đưa ra các sơ đồ, bảng biểu, số liệu nhằm minh họa và thuyết minh cho các miêu tả, phân tích, nhận xét, kết luận của luận án
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình đối chiếu chuyên sâu khá toàn diện và hệ thống về một mối quan hệ ngữ nghĩa cụ thể của từ ngữ nối trên phương diện cấu trúc - ngữ nghĩa
và liên kết - lập luận trong phạm vi nguồn ngữ liệu là các VBKHXH
Luận án miêu tả, phân tích và làm rõ các đặc điểm về mặt cấu trúc - ngữ nghĩa của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết tiếng Việt trong sự so sánh, đối chiếu với tiếng Anh; chỉ ra các mối quan hệ liên kết cũng như các mô hình liên kết từ ngữ nối loại này thể hiện trong các VBKHXH tiếng Việt và tiếng Anh
Thông qua việc tìm hiểu giá trị lập luận mà từ ngữ nối này thể hiện trong các VBKHXH, luận án cho thấy giá trị liên kết cũng như khả năng tạo giá trị biểu đạt của các từ ngữ nối loại này cũng như khẳng định vai trò quan trọng của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong việc tạo lập phát ngôn
Trang 136
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận: Luận án góp phần làm phong phú, sáng tỏ thêm lý thuyết về các
phép liên kết và phương tiện liên kết trong tiếng Việt và tiếng Anh, đồng thời góp phần làm phong phú thêm nguồn dữ liệu chuyên ngành ngôn ngữ học so sánh đối chiếu nói chung và đối chiếu tiếng Việt - tiếng Anh nói riêng Các kết quả nghiên cứu, ở chừng mực nào đó, đã tạo tiền đề cho việc so sánh đối chiếu giữa các ngôn ngữ về mặt cấu trúc
- ngữ nghĩa - liên kết - lập luận ở các phạm vi nghiên cứu cụ thể
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án đem lại những ứng dụng hữu
ích trong thực tiễn sử dụng ngôn ngữ; có thể ứng dụng để biên soạn giáo trình chuyên khảo, giảng dạy ngôn ngữ; giúp người dạy và học hiểu và sử dụng chính xác hơn ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh, đồng thời phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy tiếng Anh tại nơi tác giả công tác Kết quả cũng giúp cho bản thân tác giả thấy được những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh, là
cơ sở để tác giả có những nghiên cứu khác sau này
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Ngữ liệu khảo sát, Phụ
lục, luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết Đây là
chương luận án trình bày tình hình nghiên cứu về phép nối, từ ngữ nối và một số vấn
đề lý luận làm cơ sở cho việc nghiên cứu nhóm từ ngữ nối này trong sự so sánh với tiếng Anh (trên cơ sở các VBKHXH)
Chương 2: Đối chiếu đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong văn bản khoa học xã hội tiếng Việt và tiếng Anh
Trong chương này, luận án làm sáng tỏ đặc điểm cấu tạo và chức năng ngữ nghĩa của
từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết, qua đó chỉ ra một số điểm tương đồng
và khác biệt trong hai ngôn ngữ
Chương 3: Đối chiếu đặc điểm liên kết - lập luận của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong văn bản khoa học xã hội tiếng Việt và tiếng Anh
Trong chương này, luận án làm rõ chức năng liên kết và giá trị lập luận mà nhóm từ ngữ nối này thể hiện trong các VBKHXH, qua đó rút ra một số điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm này trong cả hai ngôn ngữ
Trang 147
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Trong chương này, luận án trình bày tình hình nghiên cứu về phép nối ở trong
và ngoài nước, đồng thời hệ thống hoá một số vấn đề lý thuyết cơ bản và lấy đó làm
cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu, gồm: VB và liên kết; phép nối và từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết; ngôn ngữ học đối chiếu và thể loại VBKH
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về phép nối, từ nối ở nước ngoài
Trên thế giới, ngay từ rất sớm đã xuất hiện các công trình nghiên cứu về các phép liên kết, trong đó có phép nối Tiêu biểu là một số công trình nghiên cứu của
Halliday & Hasan (1976): Cohesion in English (Phép liên kết trong tiếng Anh), Martin (1992): English Text - System and Structure (Văn bản tiếng Anh – hệ thống và cấu trúc), Halliday (1998): An Introduction to Functional Grammar (Dẫn luận ngữ pháp chức năng, người dịch: Hoàng Văn Vân), Nunan (1993): Introduction to
Discourse Analysis (Dẫn nhập phân tích diễn ngôn, dịch: Hồ Mỹ Huyền & Thanh
Trúc), Collins & Hollo (2000): English Grammar - An Introduction…
Các nghiên cứu này được coi là nền tảng cho việc nghiên cứu lý thuyết VB cũng như nghiên cứu về phép nối và mối quan hệ ngữ nghĩa của phép nối Cụ thể, các công trình này đã đi vào xem xét phép nối ở nhiều phương diện khác nhau như khái niệm, vai trò của từ nối, cách phân loại từ nối Đặc biệt, các tác giả trên đều tập trung vào xem xét các mối quan hệ nghĩa giữa các phát ngôn do các từ ngữ nối biểu thị thông qua sự phân loại phép nối dựa trên các quan hệ ngữ nghĩa Chẳng hạn, Halliday & Hasan (1976) khẳng định phép nối phải dựa trên mối quan hệ về nghĩa giữa chúng và cái theo sau được kết nối một cách hệ thống với cái đi trước Đi sâu vào phân loại, Halliday & Hasan chia phép nối thành 4 loại dựa trên quan hệ về
nghĩa, gồm: bổ sung (additive), đối lập (adversative), nhân quả (causal), thời gian
(temporal) Trên cơ sở đó, tác giả đi vào thống kê và phân tích một số liên từ cơ bản
thể hiện quan hệ ngữ nghĩa của phép nối Trong công trình An Introduction to
Functional Grammar, từ việc tập trung vào việc xem xét khái niệm cú (clause),
Halliday (1998) đã soi rọi vào khái niệm liên kết và ngôn bản Trong đó, đáng chú ý
là ông phân chia phép nối theo ba phạm trù mang tính chất khái quát cao, gồm: chi
tiết hoá (elaboration), mở rộng (extension), tăng cường (enhancement) và ông trình
Trang 158
bày khá chi tiết về các quan hệ ngữ nghĩa của phép nối Những kết quả này được xem là những đóng góp lý luận tiếp theo mang tính nền tảng của Halliday trong việc
mở đường cho việc nghiên cứu về phép nối ở các ngôn ngữ khác nhau
Tương tự, một số tác giả khác cũng có sự phân loại phép nối khá tương đồng với Halliday Dựa trên quan hệ ý nghĩa về thời gian, không gian và trình tự diễn đạt, Collins & Hollo (2000) phân chia các quan hệ phép nối thành 4 loại quan hệ cơ bản:
bổ sung (additive), tương phản (adversative), nhân - quả (causal), thời gian
(temporal) Sự tương đồng này cũng có thể tìm thấy trong nghiên cứu của Nunan (1993) Tác giả cũng cho rằng có 4 loại quan hệ ngữ nghĩa chủ yếu mà phép nối thực
hiện, gồm: nghịch đối, bổ sung, thời gian, nguyên nhân Đặc biệt, công trình của
Nunan cũng có thể được xem là cơ sở lý thuyết khi nghiên cứu ngữ nghĩa, ngữ dụng của phép nối trong các ngôn ngữ
Trong công trình English Text - System and Structure, Martin (1992) tiến hành
nghiên cứu VB tiếng Anh trên bình diện hệ thống - cấu trúc Từ việc xem xét khá kĩ các phép liên kết nói chung và phép nối nói riêng trong các VB tiếng Anh, tác giả đề
xuất các tiêu chí để phân biệt về cấp độ vĩ mô của từ nối gồm: nối bên trong và nối
bên ngoài Đây là hai thuật ngữ khá mới mẻ so với các công trình nghiên cứu về
phép nối khác Tiêu chí để phân biệt nối bên ngoài, tác giả dựa trên ngữ cảnh cụ thể, còn để nhận diện kiểu nối bên trong ông dựa trên khái niệm ―phóng chiếu‖ Từ sự phân biệt vĩ mô nối bên trong và bên ngoài nói trên, tác giả tiếp tục phân chia thành
các loại nhỏ hơn theo các mối quan hệ: bổ sung (additive), nhân quả (consequential),
so sánh (comparative), thời gian (temporal), định vị (location)
Không đi vào các vấn đề lý thuyết chung của từ nối, nghiên cứu của Yuwei Liu
(2016) lại tập trung vào cách sử dụng các từ nối chỉ quan hệ đối lập, nhân quả, thời
gian trong văn tranh luận, mô tả và kể chuyện của các sinh viên Trung Quốc học
tiếng Anh Trong nghiên cứu này, tác giả đã dành phần lớn trang sách để tập trung phân tích các vấn đề: liên từ (conjunction), từ nối (connector), vai trò của từ nối, các
loại từ nối và đi sâu vào xem xét ba quan hệ ngữ nghĩa của từ nối: quan hệ đối lập,
quan hệ nhân quả, quan hệ thời gian
Như vậy, ở nước ngoài việc nghiên cứu phép nối trong quan hệ với các phép liên kết khác đã đạt được những kết quả đáng chú ý Đây có thể xem là nền tảng
Trang 169
quan trọng về mặt lý luận để chúng ta tiến hành nghiên cứu phép nối theo các mối quan hệ khác nhau và trong các văn bản cụ thể
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về phép nối, từ nối ở Việt Nam
Trong nước, những vấn đề lý thuyết về phép nối cũng sớm được các nhà nghiên cứu quan tâm Đi sâu vào nghiên cứu một cách toàn diện, quy mô và hệ thống các vấn đề chung về văn bản, liên kết, phép nối, trước tiên không thể không nhắc đến nghiên cứu của Trần Ngọc Thêm (1985, tái bản: 1999, 2006), Diệp Quang Ban (1998)
Hệ thống liên kết trong văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm (1985) được
coi là công trình đánh dấu mốc cho sự phát triển mới về nghiên cứu ngữ pháp VB và các phép liên kết trong đó có phép nối Công trình đi sâu nghiên cứu các khía cạnh của VB: từ phương diện ngữ pháp, ngữ nghĩa cho đến ngữ dụng của phép nối Dựa
trên các kiểu phát ngôn, tác giả chia phép liên kết thành 2 loại chính: phép nối lỏng
và phép nối chặt Đi vào chi tiết, phép nối lỏng là phép nối dựa trên phương thức liên
kết hợp nghĩa và phát ngôn hợp nghĩa, trong khi phép nối chặt lại dựa trên phương thức liên kết của ngữ trực thuộc Đáng chú ý là trong phép nối lỏng, tác giả nêu ra và trình bày mô hình của các yếu tố từ vựng làm thành phần chuyển tiếp hay các từ làm
phụ tố có ý nghĩa so sánh, chẳng hạn như: cũng, lại, vẫn, càng, còn, cứ Ngoài ra, tác
giả còn đề cập đến cấu trúc khái quát của phép nối: ArB và trình bày các quan hệ ngữ nghĩa cơ bản của phép nối Dựa trên quan hệ ngữ nghĩa, tác giả phân chia phép nối theo ba mối quan hệ cơ bản, mỗi quan hệ lại có những tiểu loại cơ bản khác nhau:
quan hệ định vị (thời gian, không gian); quan hệ logic diễn đạt (gồm: trình tự diễn
đạt, thuyết minh - bổ sung, xác minh - nhấn mạnh); quan hệ logic sự vật (gồm: nhân
quả và tương phản - đối lập) Có thể thấy, trong công trình này, những đặc điểm cơ bản của phép nối trong VB tiếng Việt nói chung đã được miêu tả một cách chi tiết và
hệ thống
Tương tự, lấy các phát ngôn làm ngữ liệu nghiên cứu, công trình của Diệp
Quang Ban (2006) Văn bản và liên kết trong tiếng Việt: văn bản, mạch lạc, liên kết,
đoạn văn cũng dành một phần để xem xét các phép liên kết nói chung và phép nối
nói riêng ngoài các vấn đề về VB, mạch lạc và đoạn văn Trong việc phân chia phép nối ở cấp độ vĩ mô giống với kết quả phân chia của Trần Ngọc Thêm, tác giả cũng chia phép nối thành hai loại lớn: phép nối lỏng và phép nối chặt Trong một số công
trình khác sau đó: Văn bản (2007), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản (2009),
Trang 1710
Diệp Quang Ban đã đi sâu vào các phép liên kết trong đó có phép nối và các quan hệ
ý nghĩa thường gặp của phép nối Đi sâu tìm hiểu các phương tiện nối, tác giả chia làm hai loại lớn: quan hệ từ (bình đẳng/phụ thuộc) và từ ngữ nối kết (đại từ thay thế/ những tổ hợp từ ngữ có ý nghĩa quan hệ và có tác dụng liên kết) Về các quan hệ
thường gặp trong phép nối, ngoài 4 quan hệ mà Halliday đã nêu: bổ sung, tương
phản, thời gian, nhân quả, Diệp Quang Ban bổ sung hai loại quan hệ nữa, gồm: mục đích và điều kiện
Việc phân loại phép nối cũng được Nguyễn Thiện Giáp (2007) đề cập đến trong
Dụng học Việt ngữ Theo đó, tác giả chia phép nối thành 4 loại theo quan hệ ngữ
nghĩa, gồm: đồng hướng, ngược hướng, nhân quả, thời gian - trình tự Thực chất của
quan hệ đồng hướng chính là quan hệ bổ sung, quan hệ ngược hướng là quan hệ tương phản mà các nghiên cứu trước đã chỉ ra Bên cạnh đó, tác giả còn gợi mở về chức năng liên kết hồi chỉ và khứ chỉ của phép nối nói chung
Nếu các công trình trên lấy ngữ liệu phát ngôn trong các VB viết tiếng Việt làm đối tượng để xem xét các phép liên kết cũng như phép nối thì công trình của Nguyễn Thị Việt Thanh (1999) lại dựa trên ngữ liệu là lời nói để đi sâu vào các vấn đề cũng
có tính khái quát về liên kết lời nói Theo tác giả, phương thức liên kết lời nói thể hiện trên hai phương diện: liên kết bằng phương thức ngữ kết học và liên kết bằng phương thức ngữ dụng học Đi sâu vào phương thức liên kết ngữ kết học, tác giả tiếp tục phân chia thành ba tiểu loại: liên kết duy trì chủ đề, liên kết phát triển chủ đề và
liên kết logic Trong đó, phép nối được tác giả xếp vào loại phương thức liên kết
logic Ngoài phép nối bằng liên từ, theo tác giả còn có phép nối không có liên từ vì
―mặc dù từ nối không được sử dụng nhưng quan hệ ngữ nghĩa vẫn được xác lập‖ Ngoài các chuyên khảo đề cập tới các từ ngữ nối còn có một loạt các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành và hội thảo khoa học đề cập đến từ ngữ nối ở những khía cạnh và mức độ khác nhau Chẳng hạn, Nguyễn Đức Dân - Lê Đông (1985) tập trung xem xét các phương thức liên kết của từ nối nói chung Đỗ Thị Kim Liên (1995), Nguyễn Chí Hoà (2006) đề cập đến phép nối không có liên từ trong nội
bộ câu ghép Bên cạnh đó, Lương Đình Khánh (2000, 2003) đi sâu khảo sát phép nối trong mối quan hệ giữa các phát ngôn và giá trị tu từ của chúng ở trong một số bài viết của Nguyễn Đình Thi và trong truyện ngắn ―Chí Phèo‖ - Nam Cao Trong khi Lương Đình Dũng (2005) quan tâm đến phương pháp giảng dạy phép nối trong tiếng
Trang 1811
Việt thì Ngô Thị Bảo Châu (2010) tiếp tục trở lại tìm hiểu quan hệ ―làm rõ‖ trong tiếng Việt, vốn là một trong những quan hệ ngữ nghĩa cơ bản của phép nối nhưng với những tiểu loại cụ thể, ít nhiều khác với các công trình đi trước…
Việc nghiên cứu phép nối tiếng Việt trong sự so sánh với tiếng Anh hoặc ngược lại cũng là hướng nghiên cứu đang được chú ý hiện nay Điều này được thể hiện trong các nghiên cứu của một số tác giả như: Ngô Thị Bảo Châu (2009), Bùi Văn Năm (2010), Nguyễn Thị Thanh Hà (2011), Nguyễn Thị Hoa (2011), Nguyễn Thị Hoàng Huế (2012)… Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào việc đối chiếu phép nối trong tiếng Việt với tiếng Anh trên một số phương diện như đặc điểm cú pháp, đặc điểm ngữ nghĩa Tuy nhiên, các công trình trên chỉ tập trung đối chiếu phép nối nói chung, không đi sâu vào đối chiếu các nhóm từ nối cụ thể Đồng thời, hầu hết các nghiên cứu này mang tính bước đầu (luận văn thạc sĩ và khoá luận), chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về vấn đề đối chiếu phép nối
Đi sâu nghiên cứu thực tiễn sử dụng của phép nối nhưng ở từng mối quan hệ cụ thể của phép nối như trên có lẽ là địa hạt mới mẻ Vì vậy, cho đến nay mới có một số nhóm từ nối theo phạm trù đã được nghiên cứu bước đầu (các luận văn thạc sĩ),
chẳng hạn: Thái Thị Như Quỳnh (2013) nghiên cứu về các cặp từ nối theo phạm trù
hợp - tuyển, Nguyễn Thị Thu (2014) nghiên cứu từ nối theo phạm trù tương phản - nhượng bộ, Vũ Thị Huyền Trang (2014) nghiên cứu từ nối theo phạm trù tương phản, Võ Thị Hường (2017) nghiên cứu nhóm từ, cụm từ nối theo phạm trù kết quả - tổng kết Mặc dù các nghiên cứu này đặt trọng tâm tìm hiểu từng mối quan hệ ý
nghĩa của các phương tiện nối nhưng mới dừng ở nghiên cứu ban đầu; hơn nữa, đối tượng nghiên cứu chỉ giới hạn là các từ ngữ nối tiếng Việt và trên nguồn ngữ liệu khảo sát là các tác phẩm văn học và một số văn bản nghị luận tiếng Việt
Có thể thấy việc nghiên cứu phép nối nói chung hết sức đa dạng ở nhiều phương diện và mức độ khác nhau Những vấn đề lý thuyết về phép nối đã được nghiên cứu khá kĩ và toàn diện Các nghiên cứu trên cho thấy các xu hướng nghiên cứu phương thức nối trong và ngoài nước cho đến nay Cụ thể, qua phần tổng quan trên có thể thấy hai xu hướng nghiên cứu về chúng: (1) Nghiên cứu phương thức nối như là một từ loại trong các công trình ngữ pháp chuyên sâu; và (2) Nghiên cứu phương thức nối như là một phương thức liên kết diễn ngôn Hiện nay, cùng với sự phát triển của ngôn ngữ học VB, hướng nghiên cứu về từ ngữ nối gắn liền với sự
Trang 1912
phát triển ngữ pháp - chức năng và ngữ nghĩa - ngữ dụng ngày càng được quan tâm
và thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Vì vậy, việc đi sâu tìm hiểu từng mối quan hệ nghĩa của phép nối do các phương tiện nối đảm nhiệm là công việc cần thiết Hơn nữa, điểm qua tình hình nghiên cứu có thể thấy chưa có công trình nào đặt vấn
đề nghiên cứu đối chiếu các từ ngữ nối theo từng mối quan hệ nghĩa mà chúng biểu thị, cũng như nhóm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong các VBKHXH
tiếng Việt và tiếng Anh Vì vậy, luận án đã chọn đề tài này (Đối chiếu từ ngữ nối
biểu thị ý nghĩa “kết quả”, “tổng kết” tiếng Việt và tiếng Anh (trên cơ sở các văn bản khoa học xã hội)) nhằm miêu tả và làm rõ đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa và liên
kết – lập luận của một nhóm từ ngữ nối khá đặc biệt trong hai ngôn ngữ Việt - Anh
hành chức của câu và câu trong hành chức được gọi là phát ngôn (utterance)
Theo Yule (1997), nếu như cú pháp học nghiên cứu câu với tư cách là những đơn vị trừu tượng thì ngữ dụng học nghiên cứu các phát ngôn với tư cách là những ví
dụ của hệ thống Do câu là một đơn vị ở bậc ngôn ngữ nên nó là một đơn vị trừu tượng và chúng ta chỉ có thể nhận thức được câu thông qua các biến thể trong lời nói:
đó là các phát ngôn Phát ngôn chính là đơn vị hiện thực của câu trong giao tiếp Nó
là sản phẩm của lời nói, gắn liền với từng ngữ cảnh giao tiếp cụ thể
Như vậy, câu và phát ngôn thực chất không phải là hai đơn vị ngôn ngữ khác nhau Chúng cùng một cấp độ nhưng xuất phát từ các khía cạnh nghiên cứu khác
nhau mà có sự phân biệt câu và phát ngôn
Xét về phương diện cấu tạo ngữ pháp, tức là bậc trừu tượng, khái quát, đơn vị ngôn ngữ được tạo nên bởi sự kết hợp của các đơn vị nhỏ hơn như: từ, ngữ cố định, cụm từ tự do và theo những quy tắc nhất định thì được gọi là câu Câu không gắn với tình huống sử dụng mà ở trạng thái cô lập, tĩnh tại và việc phân tích câu thường chỉ tập trung vào mặt cấu tạo ngữ pháp
Trang 2013
Còn xét ở phương diện sử dụng, mỗi câu luôn gắn liền với một tình huống cụ thể nhằm một mục đích giao tiếp nhất định và biểu thị một ý nghĩa cụ thể thì được gọi là phát ngôn Phát ngôn chính là câu trong hoạt động giao tiếp
Phát ngôn chính là đơn vị nhỏ nhất của VB, thực chất là câu trong VB cho nên khi nói tới phát ngôn là nói đến sự tương tác giữa nó với các phát ngôn khác xung quanh Nó chịu sự tác động của đặc điểm kế thừa thông báo Phát ngôn mở đầu là tiền đề cho các phát ngôn sau Đến lượt mình, các phát ngôn sau là chỗ dựa cho các phát ngôn sau nữa, cứ thế chúng dựa vào nhau để tồn tại
Xét về mặt nội dung, phát ngôn có thể có nghĩa hoàn chỉnh hay không hoàn chỉnh Tương tự, về cấu trúc, phát ngôn cũng có thể thiếu thành phần nòng cốt (ngôn ngữ học truyền thống gọi là câu sai ngữ pháp) Vì vậy, nghĩa của phát ngôn chỉ được bộc lộ rõ trong từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Ngoài ra, câu có thể được xem xét ở phương diện cấu trúc và tình huống sử dụng cụ thể nên gọi là câu - phát ngôn Điều này muốn nhấn mạnh mối quan hệ của câu và phát ngôn
Trong nghiên cứu này, luận án coi phát ngôn là đơn vị cơ sở của phép nối trong
VB, nghĩa là: luận án xác định phép nối là mối quan hệ liên kết tối thiểu giữa hai phát ngôn trở lên và nhận diện, xem xét đặc điểm, chức năng phát ngôn chứa từ nối trong sử dụng gắn liền với bối cảnh và tình huống giao tiếp Tuy nhiên, về mặt hình thức của phát ngôn: với ngữ liệu nghiên cứu là các phát ngôn trong VB viết cho nên
về mặt hình thức của phát ngôn, luận án vẫn căn cứ vào hình thức của câu để nhận diện các phát ngôn: phát ngôn được mở đầu bằng chữ cái viết hoa và kết thúc bằng một số loại dấu câu nhất định
1.2.1.2 Văn bản và diễn ngôn Phân tích văn bản và phân tích diễn ngôn
a Văn bản và diễn ngôn
Sự phát triển của ngôn ngữ học hiện đại đã đưa phân tích ngữ pháp không chỉ giới hạn ở câu truyền thống mà còn hướng đến khảo sát cấu trúc trên câu, đặc biệt là xem xét mối quan hệ giữa các câu trong cả văn bản Đây chính là cơ sở cho sự ra đời
của một ngành mới: ngôn ngữ học văn bản (text linguistics, textual linguistics) mà giai đoạn sau các nhà nghiên cứu gọi là phân tích diễn ngôn (discourse analysis)
Trong ngôn ngữ học VB hay phân tích diễn ngôn, ngoài khái niệm phát ngôn
còn có hai khái niệm khác luôn song hành, đó là diễn ngôn (discourse) và văn bản
(text) Đây được xem là hai khái niệm cơ bản, nền tảng của ngôn ngữ học VB và
Trang 2114
phân tích diễn ngôn Vì vậy, hai khái niệm này được hầu hết các nhà nghiên cứu ở trong và ngoài lĩnh vực này đề cập tới, chẳng hạn như: Halliday & Hasan (1976), Brown & Yule (1983), Cook (1989), Nunan (1993), Asher (1994), Trần Ngọc Thêm (1985), Hồ Lê (1996), Nguyễn Thị Việt Thanh (1999), Phạm Văn Tình (2002), Nguyễn Hoà (2008), Diệp Quang Ban (1998 & 2009), Nguyễn Thiện Giáp (2009) Theo tổng kết của Diệp Quang Ban (2009), cùng với quá trình phát triển của ngôn ngữ học, khái niệm VB và diễn ngôn cũng được hiểu theo những cách khác nhau
Ở giai đoạn đầu, do trọng tâm của các nhà nghiên cứu tập trung vào sự kiện nói
bằng chữ viết cho nên tên gọi văn bản được sử dụng để chỉ những sự kiện nói (tức là
những sản phẩm của ngôn ngữ) bằng chữ viết và nói miệng có mạch lạc và liên kết
Nghĩa là VB thời kì này được dùng để chỉ các sản phẩm của cả hoạt động viết và nói, tức giao tiếp nói chung Tiêu biểu cho quan niệm thời kì đầu này là định nghĩa
về VB của Halliday & Hasan (1976): “Văn bản - một đơn vị của ngôn ngữ - được
xác định không phải dựa vào độ dài ngắn, dạng nói hay viết, bao gồm một động từ hay nhiều… mà dựa vào tính chỉnh thể, thống nhất về nội dung ngữ nghĩa của nó”
“Văn bản là một thuật ngữ ngôn ngữ học được dùng để chỉ bất kì một đoạn văn nào,
dù là dạng nói hay viết, dù là dài hay ngắn, nhưng phải là một chỉnh thể thống nhất, hoàn chỉnh” Và: “Văn bản là một đơn vị của ngôn ngữ tồn tại trong quá trình sử dụng - giao tiếp hay tư duy” [123: 1-2] Đồng thời, Halliday cũng chỉ rõ việc xác
định VB phải gắn liền với ngữ cảnh, nghĩa là VB phải được xác định tuỳ thuộc vào văn cảnh và nội dung, ý nghĩa của các câu đi trước và sau nó mà không thể xác định một cách tách rời các thành phần (câu, chuỗi câu) nào cấu tạo nên VB [123: 295] Như vậy, Halliday rất chú trọng đến các mối quan hệ về nghĩa giữa các phát ngôn trong VB
Tương tự, Crystal (1992) quan niệm: “Văn bản là một sản phẩm diễn ngôn xuất
hiện một cách tự nhiên dưới dạng nói, viết hoặc biểu hiện bằng cử chỉ, được nhận dạng về những mục đích phân tích Nó thường là một chỉnh thể ngôn ngữ với chức năng giao tiếp có thể xác định được, ví dụ như một cuộc thoại, một tờ áp phích ”
[116: 25] Như vậy, VB không chỉ là sản phẩm của hoạt động viết mà còn là sản phẩm của hoạt động nói, nghĩa là VB còn luôn được đặt trong bối cảnh giao tiếp
Giai đoạn về sau, do ngôn ngữ nói được quan tâm nhiều hơn nên đã tạo thế cân
bằng với ngôn ngữ viết: xuất hiện tên gọi thứ hai, đó là diễn ngôn Do đó, ở thời kì
Trang 2215
này các nhà nghiên cứu có xu hướng phân biệt, đối lập rạch ròi về nội hàm khái niệm giữa hai tên gọi này VB dùng để chỉ sản phẩm ngôn ngữ dưới dạng viết (chữ viết), còn diễn ngôn chỉ sản phẩm ngôn ngữ nói (nói miệng) Chẳng hạn, Hồ Lê (1996)
phân biệt "Văn bản là chỉnh thể của một sản phẩm - viết để diễn đạt trọn vẹn một ý
kiến về một vấn đề hoặc một hệ thống vấn đề Ngôn bản là chỉnh thể của một sản phẩm - nói để diễn đạt trọn vẹn ý kiến về một vấn đề hoặc hệ thống vấn đề” [58: 55]
Một số tác giả khác cũng đề cập đến sự phân biệt VB và diễn ngôn ở những khía cạnh khác nhau như Brown & Yule (1983), Widdowson (1984), Cook (1989), Nunan (1993) Chẳng hạn, theo Cook (1990), sự khác biệt giữa diễn ngôn và VB là sự khác
biệt giữa chức năng và hình thức: VB là ―một chuỗi ngôn ngữ được hiểu một cách
hình thức, bên ngoài ngữ cảnh‖, còn diễn ngôn là ―các chuỗi ngôn ngữ được cảm nhận như có ý nghĩa, thống nhất và có mục đích‖ [114: 158]
Như vậy, với quan niệm VB thuộc về ngôn ngữ viết còn diễn ngôn là thuộc về lời nói thì theo cách hiểu này, diễn ngôn sẽ là một chuỗi phát ngôn được thực hiện trong quá trình giao tiếp bằng lời nói (thể hiện dưới dạng âm thanh) và hàm ý có người nghe trực tiếp
Tuy nhiên, việc cố gắng phân biệt rạch ròi hai khái niệm này trong thực tế là vô cùng khó khăn, bởi vì thực tế cho thấy sản phẩm của diễn ngôn cũng thường được ghi lại bằng chữ viết, nghĩa là bằng VB hiện hữu hay còn gọi là ―văn bản hoá‖ Mặc dù các tác giả trên cố gắng phân biệt diễn ngôn và VB nhưng cách định nghĩa cho thấy họ chưa làm rõ bản chất của sự khác biệt giữa hai khái niệm này, thậm chí là chúng hoà
trộn vào nhau, rất khó phân biệt Chẳng hạn, Crystal (1992) phân biệt diễn ngôn “là
một chuỗi ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) liên tục lớn hơn câu, thường tạo nên một đơn vị có mạch lạc, như bài truyền giáo, một lý lẽ, một câu chuyện tiếu lâm hay truyện kể” Còn văn bản “là một đoạn diễn ngôn xuất hiện dưới dạng nói, viết hoặc
ở dạng kí hiệu bằng cử chỉ sử dụng tự nhiên, được xác định để phân tích Nó thường
là một chỉnh thể ngôn ngữ với chức năng giao tiếp có thể xác định được, ví dụ như một cuộc thoại, một tờ áp phích‖ [116: 25] Như vậy, Crystal cuối cùng vẫn không
thể phân biệt rõ được hai khái niệm này vì cuối cùng ông vẫn coi VB ―là một đoạn diễn ngôn xuất hiện dưới dạng nói, viết hoặc ở dạng kí hiệu‖ Cũng phản ánh thực tế này, Phạm Văn Tình (2002) thấy rằng trong nhiều VB, các nhân tố hội thoại và đơn thoại nhiều khi được hòa trộn vào nhau [98: 30] Lý giải điều này, Nguyễn Hòa
Trang 2316
(2008: 33-34) cho rằng: trong văn bản sẽ có cái diễn ngôn, trong diễn ngôn sẽ có cái
VB cho nên sự phân biệt trên chỉ mang tính tương đối Đây không phải là hai thực thể tách biệt mà chỉ là một thực thể biểu hiện của ngôn ngữ hành chức trong bối cảnh giao tiếp xã hội Do vậy, việc sử dụng hai khái niệm này thay thế lẫn nhau là một điều dễ hiểu Tuy nhiên, mặc dù trong thực tế sử dụng, ta không phân biệt giữa diễn ngôn và VB nhưng khi muốn nhấn mạnh tới mặt hành chức hay mặt hình thức của ngôn ngữ thì vẫn có sự phân biệt
Như vậy, xuất phát từ góc nhìn cũng như quan điểm khác nhau nên mỗi nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm VB cũng khác nhau Mặc dù về cơ bản khái niệm VB và diễn ngôn là đồng nhất nhưng đi sâu vào chi tiết cho thấy thuật ngữ VB vẫn có ngoại diên rộng hơn phạm vi diễn ngôn
Luận án này đi theo xu hướng: xem xét từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết (từ bình diện cấu trúc - ngữ nghĩa và liên kết – lập luận) được sử dụng trong các phát ngôn Đồng thời, luận án cũng khảo sát các phát ngôn chứa từ ngữ nối mang nghĩa kết quả, tổng kết được sử dụng trong các văn cảnh nhưng lại được định dạng bằng VB hiện hữu (ghi lại bằng chữ viết) Vì vậy, để có một khái niệm VB làm việc,
luận án tán thành với nhận định của Phạm Văn Tình (2002): Văn bản phải được hiểu
theo nghĩa rộng, không chỉ bó hẹp là đặc thù của ngôn ngữ viết - loại hình văn bản được xây dựng theo những định hướng về chủ đề và bố cục nhất định, thoát ly khỏi các bối cảnh giao tiếp bằng lời - mà nó còn là sản phẩm hoàn chỉnh của hành vi phát ngôn và được ghi lại bằng chữ viết [98: 29]
b Phân tích văn bản và phân tích diễn ngôn
Khi nói đến phân tích VB và phân tích diễn ngôn cũng là đề cập đến hai giai đoạn nghiên cứu của cùng một đối tượng: ngôn ngữ học VB Giai đoạn đầu, để phân tích VB người ta căn cứ vào đơn vị tối thiểu là câu, và do VB được hiểu như tập hợp câu nên các nhà nghiên cứu sử dụng các phương pháp và lý thuyết của câu theo quan điểm cấu trúc hình thức vào việc nghiên cứu VB và gắn liền với tên gọi ―ngữ pháp văn bản‖ Giai đoạn sau đánh dấu sự chuyển đổi đối tượng từ câu sang diễn ngôn, nghĩa là VB được hiểu như đơn vị của nghĩa không phải là đơn vị của ngữ pháp nên tên gọi diễn ngôn được sử dụng nhiều hơn và ―phân tích diễn ngôn‖ được chọn thay thế cho ―ngữ pháp văn bản‖ Tuy vậy, thuật ngữ ―văn bản‖ vẫn được dùng khi phân tích bề mặt từ ngữ của sự kiện nói trong phân tích diễn ngôn Việc giải thích các từ
Trang 2417
ngữ bằng mối quan hệ của chúng với ngữ cảnh tình huống và ý định của người nói thuộc về diễn ngôn là một phần quan trọng trong phân tích diễn ngôn, nghĩa là phân tích diễn ngôn là phân tích ngôn ngữ trong hành chức Việc hình thành tên gọi và xác định đối tượng, phương pháp tiếp cận của ―phân tích văn bản‖ và ―phân tích diễn ngôn‖ đã được đề cập trong các công trình của Brown và Yule (1983), Guy Cook (1989) và Lyons (1995) về cách hiểu VB (mặt từ ngữ lý giải được có thể được diễn đạt bằng chữ viết hoặc âm thanh của một tài liệu ngôn ngữ) và diễn ngôn (nghĩa-logic và chức năng gắn liền với ngữ cảnh hành chức) Chẳng hạn, Geogre Yule (1997) cho rằng trong phân tích diễn ngôn "nhất thiết là sự phân tích ngôn ngữ hành chức, nhất thiết không giới hạn nó ở việc mô tả các hình thức ngôn ngữ tách biệt với các mục đích hay chức năng mà các hình thức này sinh ra để đảm nhận trong xã hội loài người" [107; 23] Theo đó, phân tích diễn ngôn phải tập trung vào việc phân tích cấu trúc và dụng học Xét ở góc độ cấu trúc, tiêu điểm là sự nối kết tường minh giữa các câu tạo nên liên kết, các yếu tố tổ chức VB Xét ở góc độ dụng học, tập trung đến những phương diện của những điều không được nói hay viết ra, quan tâm đến đằng sau của cấu trúc và hình thức trong VB, đến những khái niệm tâm lí như kiến thức nền, niềm tin, mong đợi, khám phá những gì người nói/viết nghĩ trong đầu Đây là phương pháp chung về phân tích diễn ngôn
Như vậy, phân tích VB cũng là một bộ phận trong phân tích diễn ngôn (không phải đối lập với phân tích diễn ngôn) Nguyễn Hoà (2002) nhận định khó có thể có
sự phân tích hình thức thuần tuý tách ra khỏi chức năng và ngược lại, cho nên không thể tách biệt phân tích VB và phân tích diễn ngôn vì ―cũng giống như mối quan hệ giữa diễn ngôn và văn bản, phân tích diễn ngôn và phân tích văn bản không phải là hai bộ phận khác biệt, mà chỉ là hai mặt của ngôn ngữ hành chức trong hoàn cảnh giao tiếp xã hội‖ [46, tr.34]
Trong luận án này, mặc dù chúng tôi vẫn sử dụng thuật ngữ ―văn bản‖ giống như ở giai đoạn đầu (và VB để chỉ ngôn ngữ viết) nhưng chức năng liên kết của từ ngữ nối mang nghĩa kết quả, tổng kết mà chúng tôi nghiên cứu trong VBKH sẽ thuộc
về vấn đề của phân tích diễn ngôn Cụ thể, áp dụng lý thuyết phân tích diễn ngôn vào
việc xem xét nhóm từ ngữ nối này trong VB chính là sự nghiên cứu cách thức giữa
các phát ngôn hoặc giữa các đoạn văn trong VB liên kết với nhau thông qua các từ
Trang 2518
ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết Hay nói cách khác, đó là nghiên cứu cách hành chức của các từ ngữ nối này trong VB
1.2.1.3 Đặc trưng của văn bản
Cùng với việc đưa ra quan niệm về VB, các nhà nghiên cứu cũng chỉ rõ những đặc trưng của VB - cái quyết định tạo nên VB đích thực Beaugrande & Dressler
(1981), trong công trình: Introduction to Text Linguistics đã chỉ ra 7 đặc trưng của
văn bản, đó là VB có tính liên kết (cohesion), tính mạch lạc (coherence), tính chủ
đích (intentionality), tính tiếp nhận (acceptability), tính thông tin (informativity), tính ngữ cảnh (contextuality), tính liên văn bản (intertextuality) Đề cập đến đặc trưng
của VB, Halliday và Hasan (1976) cho rằng, yếu tố làm nên "chất VB "của một VB
chính là phương diện nội tại (bao gồm hai thành tố liên kết và cấu trúc nội tại văn
bản) và phương diện ngoại tại (chính là cấu trúc vĩ mô của diễn ngôn làm cho một
văn bản thuộc về một loại riêng như hội thoại, truyện kể, trữ tình hay thư tín ) Ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu (ví dụ: Đỗ Hữu Châu, 2005; Bùi Minh Toán, 2007; Diệp Quang Ban, 2009) cũng đề cập đến đặc trưng VB
Nhìn chung, hầu hết các tác giả đều chỉ ra đặc trưng của VB ở các phương diện
về nội dung, về hình thức, về liên kết và về lượng Diệp Quang Ban (2009) cũng chỉ
ra 6 đặc trưng của VB và ông đã phân tích khá kỹ các đặc trưng này, đồng thời cho rằng các đặc trưng này đã giải thích thêm cho chức năng của chúng Theo ông, VB
phải có cấu trúc, có nội dung, có mục đích, có mạch lạc và liên kết, có yếu tố chỉ
lượng và có định biên (tính trọn vẹn) Cụ thể:
Văn bản có cấu trúc Yếu tố cấu trúc thể hiện ở cách tổ chức nội dung và hình
thức phù hợp với phong cách chức năng, thể loại và phương tiện truyền tải
Văn bản có nội dung Yếu tố này thể hiện ở chỗ VB có đề tài - chủ đề xác định,
thống nhất, giúp phân biệt nó với chuỗi câu không phải là VB
Văn bản có mục đích sử dụng Mục đích của VB có quan hệ với đề tài, lĩnh vực
phản ánh, phương tiện truyền tải và chi phối cách cấu tạo, tổ chức VB theo một cách thức nhất định (phong cách chức năng) Mục đích sử dụng VB là mục tiêu hướng tới của VB, trả lời cho câu hỏi: VB viết để làm gì?
Văn bản có mạch lạc và liên kết Mạch lạc là yếu tố quyết định việc tạo thành
VB, trong đó điển hình là việc tạo thành tính thống nhất đề tài - chủ đề VB Mạch lạc
Trang 2619
có thể sử dụng các phương tiện liên kết, giúp cho các quan hệ ngữ nghĩa trong văn bản được logic, thống nhất, tường minh
Văn bản có yếu tố chỉ lượng VB luôn có nhiều câu - phát ngôn nối tiếp nhau
Văn bản có yếu tố định biên VB có biên giới đầu vào ở phía trái và biên giới
đầu ra ở bên phải, giúp tạo nên tính trọn vẹn cho VB
Như vậy, các nhà nghiên cứu chỉ ra khá nhiều đặc trưng của VB, trong đó tính liên kết được tất cả các nhà nghiên cứu đề cập tới và nó chính là một trong những đặc trưng rất quan trọng, quyết định chất của VB Dưới đây, chúng tôi sẽ tìm hiểu kỹ hơn đến đặc trưng này của VB
1.2.1.4 Liên kết và vai trò của liên kết trong văn bản
Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng tính liên kết (cohesion) được xem là một trong những đặc trưng quan trọng nhất của VB và dù có tiếp cận từ góc
độ nào thì liên kết vẫn được các nhà nghiên cứu thậm chí thuộc các trường phái khác nhau đề cập đến
Bản chất của liên kết là một quan hệ ngữ nghĩa Chẳng hạn, Halliday và Hasan (1976) đã xác định: liên kết là kiểu quan hệ ngữ nghĩa khi mà việc giải thích nghĩa của một yếu tố ngôn ngữ nào đó trong VB phụ thuộc vào nghĩa của một yếu tố ngôn ngữ khác trong cùng VB Yếu tố ngôn ngữ này giả định yếu tố ngôn ngữ kia và nhờ
có yếu tố ngôn ngữ kia chúng ta mới có thể hiểu được yếu tố ngôn ngữ này Cũng theo Halliday và Hasan (1976), liên kết là một đặc tính nổi trội của VB vì ở cấp độ
VB, người tạo VB giữ vai trò quyết định loại liên kết Nghĩa là cùng một hiện tượng, người ta có thể chọn một phương thức liên kết bất kì như thế, tỉnh lược mà họ thấy hiệu quả Vì thế, ở cấp độ VB, các phương tiện liên kết được sử dụng đều thể hiện chủ đích của người nói (Còn ở phạm vi câu, liên kết ít được coi trọng vì bản thân cấu trúc ngữ pháp của câu đã có chức năng liên kết rất mạnh thể hiện qua việc các thành phần câu luôn dính chặt vào nhau Vì thế việc sử dụng các quan hệ liên kết ở câu không thật sự cần thiết)
Tương tự, Diệp Quang Ban (2009) cũng cho rằng liên kết ―là kiểu quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu (hai mệnh đề) theo cách giải thích nghĩa cho nhau Nói rõ hơn, liên kết là kiểu quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu mà muốn hiểu nghĩa cụ thể của yếu tố này thì phải tham khảo nghĩa của yếu tố kia, và trên cơ sở đó hai câu (mệnh đề) chứa chúng liên kết được
Trang 27văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của VB chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối
quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn VB nói chung Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy‖ [85: 19]
Có thể thấy, tính liên kết có vai trò rất quan trọng, nó có khả năng làm cho một chuỗi câu hỗn độn trở thành một bộ phận của VB Nhờ có tính liên kết mà giữa các phát ngôn trong VB có mối liên hệ chặt chẽ, gắn kết với nhau Diệp Quang Ban (2009) khẳng định liên kết được xây dựng trên khả năng vượt qua biên giới câu của
sự liên kết để giúp cho một chuỗi câu trở thành một chỉnh thể toàn vẹn, cụ thể là bằng cách giải thích nghĩa cho nhau giữa hai yếu tố nằm trong hai câu khác nhau Ví
dụ: Nó thèm Vì nó đói thực Trong ví dụ trên, từ vì nối câu sau với câu trước, ―giải
thích‖ nguyên nhân làm nảy sinh việc nói ở câu trước, và có tác dụng liên kết hai câu Theo Halliday và Hasan (1976), yếu tố quan trọng quyết định một tập hợp câu
có tạo thành VB hay không tuỳ thuộc vào quan hệ liên kết bên trong và giữa các câu với nhau ( ) "Tính văn bản được tạo ra nhờ quan hệ liên kết‖ [123: 4] Trần Ngọc Thêm cũng cho rằng: ―Tính liên kết chính là nhân tố quan trọng nhất có tác dụng biến một chuỗi câu trở thành văn bản‖ [85: 19] Như vậy, để VB tạo được sự liên kết, người tạo lập phát ngôn phải làm cho nội dung các câu, các đoạn liên kết với nhau thông qua việc sử dụng các phương thức liên kết phù hợp Điều này giúp tạo ra một lượng thông tin và hiệu quả giao tiếp đạt mức tối đa
1.2.1.5 Liên kết và mạch lạc
Quan hệ giữa liên kết và mạch lạc (coherence) đã được rất nhiều nhà nghiên cứu bàn đến và là hai vấn đề cơ bản trong phân tích diễn ngôn Đây là hai phạm trù khác nhau nhưng trong diễn ngôn chúng có vai trò quan trọng trong việc tạo nên ý nghĩa và tính dụng học, đồng thời giữa chúng có quan hệ khăng khít với nhau Nunan phân biệt: "Mạch lạc là cái mức độ phạm vi qua đó diễn ngôn được nhận biết như là
có "mắc vào nhau" chứ không phải là một tập hợp các câu hay phát ngôn không có quan hệ với nhau", còn liên kết là "các mối liên hệ hình thức thể hiện các mối quan
hệ giữa các mệnh đề và giữa các câu trong diễn ngôn." (Dẫn theo 46: 49) Tương tự,
Trang 2821
Halliday và Hasan (1976) và Diệp Quang Ban (2002) cũng cho rằng, liên kết có tác dụng làm rõ các quan hệ mạch lạc nhưng không có khả năng tạo ra tính mạch lạc cho chuỗi câu không mạch lạc Dijk (1985) cũng quan niệm liên kết như một trường hợp của mạch lạc
Mạch lạc được tạo nên bởi nhiều yếu tố như cấu trúc diễn ngôn, triển khai mệnh đề, chức năng và nguyên tắc cộng tác ; đồng thời mạch lạc trong VB có thể không được đánh dấu bằng các phương tiện liên kết, thậm chí cá biệt có những văn bản hiện diện trên bề mặt các phương tiện liên kết nhưng không có mạch lạc, hoặc các mức độ mạch lạc không hoàn toàn giống nhau bởi điều này liên quan đến phạm trù hình thức và phạm trù nội dung, đồng thời chịu sự tác động của ngữ cảnh Song
rõ ràng trên thực tế, hầu hết các trường hợp liên kết chính là phương tiện hiện thực hóa mạch lạc, tạo nên tính mạch lạc cho VB
Như vậy, mạch lạc giống như sợi dây liên kết các yếu tố mang nghĩa trong VB, trong khi liên kết là việc sử dụng các phương tiện từ ngữ để liên kết các câu/phát ngôn với nhau Liên kết có thể có mặt trong VB và cả phi VB Liên kết góp phần tạo
ra mạch lạc trong một VB nhưng chỉ với VB vốn chứa mạch lạc, còn trong chuỗi câu không chứa mạch lạc thì liên kết mặc dù có mặt vẫn không thể làm cho chuỗi câu đó trở thành VB
Mặc dù là hai phạm trù khác biệt, nhưng giữa mạch lạc và liên kết có mối quan
hệ chặt chẽ Mạch lạc thường được biểu hiện thông qua việc sử dụng các phép liên kết Trong khi sự xuất hiện của liên kết trong VB có tác dụng làm cho các quan hệ nghĩa được rõ ràng, từ đó tạo mạch lạc cho VB Trong VB, mạch lạc tạo nên sự tường minh, logic về mặt nội dung nghĩa, còn liên kết có nhiệm vụ nối nghĩa giữa các câu/phát ngôn theo những mối quan hệ nghĩa xác định Như vậy, mạch lạc được tạo bởi nhiều yếu tố, trong đó có liên kết, nói cách khác, liên kết là phương tiện tạo
ra mạch lạc cho VB
1.2.1.6 Phương thức liên kết và phương tiện liên kết
Liên kết bao gồm hai mặt: liên kết hình thức và liên kết nội dung Liên kết nội
dung bao gồm hai bình diện là liên kết chủ đề và liên kết logic Khi các phát ngôn
ứng với một vật quy chiếu thì ta có liên kết chủ đề Còn khi các câu có sự tổ chức sắp xếp ngữ nghĩa phù hợp với thực tế khách quan và nhận thức của người bản ngữ thì
đó là liên kết logic Liên kết hình thức là cách nối kết nội dung VB về mặt hình thức
Trang 2922
và đó chính là cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ Như vậy, phương thức liên kết (thường gọi biện pháp liên kết hoặc phép liên kết) chính là cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ để tạo ra liên kết VB Phương tiện liên kết rất đa dạng, có thể có nhiều hình thức và cách biểu hiện khác nhau
Đi sâu vào chi tiết có thể thấy rõ hơn mối quan hệ này Phương thức liên kết là cách thức chung mà ngôn ngữ thể hiện sự liên kết trong VB; là: ―cách sử dụng các phương tiện liên kết có cùng một thực chất (tạo thành một hệ thống con) vào việc liên kết câu với câu‖ [1: 147] Mỗi phương tiện liên kết thể hiện một loại ý nghĩa, một chức năng nhất định trong việc liên kết Như vậy, ý nghĩa chung mà các phương tiện liên kết cùng thể hiện sẽ tạo thành một phương thức liên kết nhất định
Phương tiện liên kết chính là những biểu hiện ra bên ngoài hay sự hiện thực hoá phép liên kết nào đó bằng những phương tiện ngôn ngữ như đại từ, số từ, quán ngữ, kết cấu ngữ pháp… Đây chính là phương tiện (means) hay công cụ (tools) giúp VB thực hiện chức năng liên kết (trong nội bộ các câu hoặc đoạn của VB) theo một quan
hệ ngữ nghĩa xác định Phương tiện thuộc về hình thức biểu đạt Xét về khía cạnh khái quát, phương tiện liên kết mang tính cụ thể bởi nó là sự cụ thể hoá phương thức liên kết thành những hình thức liên kết cụ thể; còn phương thức liên kết lại mang tính khái quát hoá Xét về số lượng, do mang tính cụ thể nên phương tiện liên kết có số lượng nhiều hơn phương thức liên kết Mối quan hệ giữa phương thức và phương tiện liên kết có thể được ví như mối quan hệ giữa âm tố và âm vị, giữa ngôn ngữ và lời nói trong ngôn ngữ học
VD1: - Ngày nay, nhiều đòi hỏi về chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế và của sản
phẩm đã rất khác thời kỳ các nước chưa có nhiều giao lưu Do đó, nếu không có sự tiến bộ
không ngừng và toàn diện thì những thành tựu hôm qua có thể lại trở thành rào cản mới cho sự phát triển vượt lên cùng thời đại [V.60: tr.20]
VD2: - [ ] Như vậy là, ngoài những quan niệm truyền thống liên quan đến thần linh,
ma quỷ, người Dao Đỏ đã biết đến nhiều yếu tố khác là nguyên nhân dẫn đến bệnh tật cho con người [V.38: tr.756]
Ở đây, có đến 2 phương tiện liên kết: do đó và như vậy là, nhưng chúng chỉ
thực hiện chung một phương thức liên kết là nối hai phát ngôn (VD1) hay nhiều phát ngôn (VD2) để liên kết hai hay nhiều thông tin đã đề cập theo một quan hệ ý nghĩa nhất định mà chúng ta gọi là phép nối
Trang 3023
Trong số các phương thức liên kết mà người ta thường nhắc tới như lặp, tỉnh
lược, thế, liên tưởng , nối là một trong các phương thức liên kết văn bản mang tính
phổ quát ở nhiều ngôn ngữ và được sử dụng phổ biến ở nhiều thể loại VB khác nhau
1.2.2 Phép nối và từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết
1.2.2.1 Phép nối - phương thức liên kết văn bản
Các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng phép nối là một trong những phương thức liên kết cơ bản và phổ quát bên cạnh các phép liên kết khác như lặp, thế, liên tưởng, so sánh Và trong thực tế, việc sử dụng từ ngữ nối có thể bắt gặp ở mọi tác giả
và mọi thể loại Phép nối - ngay tên gọi đã nói lên vai trò của nó - dùng để nối kết giữa các mệnh đề trong câu, nối kết các câu trong một đoạn văn và nối kết các đoạn văn trong một VB Dựa trên thực tiễn của nhiều ngôn ngữ khác nhau, phép nối được các nhà nghiên cứu xác lập chủ yếu dựa vào các quan hệ
Là một trong những phương thức liên kết cơ bản, phép nối có vai trò quan trọng trong việc nối kết để tạo nên tính chỉnh thể, mạch lạc cho VB Vì vậy, phần lớn các nhà nghiên cứu khi đưa ra định nghĩa về phép nối đã nhấn mạnh bản chất, chức năng
mà phép liên kết này biểu thị Chẳng hạn, Nunan khẳng định: ―Phép nối khác với quy
chiếu, thay thế và tỉnh lược ở chỗ nó không phải là cách để nhắc người đọc nhớ lại những thực thể hành động và sự thể đã được đề cập trước đó (…) nó là phương thức liên kết nối bởi vì nó báo hiệu các mối quan hệ, mà những quan hệ này chỉ có thể được hiểu một cách đầy đủ qua tham khảo các phần khác của văn bản‖ [68: 46]
Tương tự, Mc Carthy đã chỉ ra bản chất của phép nối: bản thân từ nối không mở ra khả năng hồi quy hay khứ chỉ giống như các phương thức liên kết khác mà có tác dụng chỉ ra tiền giả định cho tính liên hoàn về cấu trúc VB, ý nghĩa của các phát ngôn Sự xuất hiện của các phương tiện nối báo trước mối quan hệ nghĩa giữa các bộ phận như mệnh đề, câu - phát ngôn, đoạn văn trong VB; chúng liên kết các bộ phận của VB thành một chỉnh thể thống nhất [Dẫn theo 2: 189]
Khi nghiên cứu về phép liên kết trong tiếng Anh nói chung và phép nối nói
riêng, Halliday & Hasan (1976) khẳng định phép nối phải dựa trên mối quan hệ về
nghĩa giữa chúng, mà “cái theo sau được kết nối một cách hệ thống với cái đi trước”
Trong một công trình nghiên cứu khác (trên cơ sở công trình năm 1976), Halliday (1998) đã bổ sung, tìm hiểu sâu hơn về các phép liên kết trong tiếng Anh trong đó có
phép nối và ông đã chỉ ra rằng bản chất của phép nối là việc sử dụng các từ ngữ có
Trang 3124
khả năng chỉ quan hệ để làm bộc lộ kiểu quan hệ nghĩa giữa các phát ngôn và bằng cách đó chúng liên kết với nhau (…) Nhờ có phép nối mà ý nghĩa của các mệnh đề, câu hay đoạn văn trở nên được sáng rõ, tường minh Phép nối có vị trí quan trọng
khác xa với các phép liên kết khác
Ở trong nước, phép nối là một trong những phương thức liên kết được Trần Ngọc Thêm (1985) tìm hiểu và phân tích khá kĩ Trần Ngọc Thêm xác định cơ sở cho việc liên kết hai phát ngôn là sự tồn tại của các quan hệ, trong đó có những quan hệ ngữ nghĩa giữa chúng Nếu những quan hệ này được thể hiện ra bằng những phương tiện từ vựng thì đó chính là hiện tượng nối kết hay gọi chung là phép nối Mặc dù các nhà ngữ pháp học dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại, định nghĩa phép nối và phép nối có thể có những tên gọi không giống nhau, nhưng các tác giả đều
thừa nhận mô hình khái quát của phép nối trong VB như sau: U1 c U2 trong đó: (c) là từ ngữ nối và từ ngữ nối này có hai chức năng: chức năng liên kết hình thức
và chức năng liên kết logic - ngữ nghĩa; còn (U1, U2) là phần tử được nối (câu/ phát
ngôn/ đoạn văn) [Dẫn theo 67: 25]
Tương tự, Trần Ngọc Thêm (1985) ký hiệu mô hình khái quát của phép nối là
ArB và chỉ ra rằng trong phát ngôn, phương tiện liên kết (r) không tách ra nằm giữa
hai phát ngôn, không nằm giữa hai phần tử liên kết mà luôn nằm hẳn một bên, ở một trong hai phát ngôn đó, làm cho phát ngôn chứa nó được gọi là kết ngôn và phụ
thuộc vào phát ngôn còn lại (chủ ngôn) Nếu r nằm ở kết ngôn B (trong mô hình: A rB) thì ta có liên kết hồi chỉ (hay hồi quy) và sẽ gắn bó mật thiết với một số quan hệ nghĩa Còn nếu r nằm ở A (trong mô hình: Ar B) thì ta có liên kết dự báo Từ sự
phân tích trên, tác giả đi đến nhận định rằng dấu hiệu để nhận diện các phép nối như những phương thức liên kết phát ngôn là sự vắng mặt của một trong hai ―ngôi‖ của
quan hệ phát ngôn chứa r (tức phương tiện nối) Chẳng hạn, so sánh 2 phát ngôn sau:
(1) Bà Cam không bằng lòng nhưng bà không nói
(2) Bà Cam không bằng lòng Nhưng bà không nói
Theo tác giả, chỉ có từ nhưng ở (2) mới là phương tiện nối liên kết giữa các
phát ngôn vì phát ngôn thứ hai chứa thiếu hẳn ngôi A của quan hệ và để bù đắp sự thiếu hụt này, phát ngôn rB (kết ngôn) phải liên kết với phát ngôn A (chủ ngôn)
đứng trước nó [85: 203]
Trang 3225
Theo Diệp Quang Ban (1999), “phép nối là việc sử dụng tại vị trí đầu câu hoặc
trước vị ngữ (trước động từ ở vị ngữ) những từ có khả năng chỉ quan hệ để làm bộc
lộ kiểu quan hệ của hai câu có quan hệ với nhau, và bằng cách đó liên kết hai câu này với nhau” [2: 2] Như vậy, định nghĩa này đã cho thấy về mặt hình thức, phép
nối chính là việc các sử dụng các từ ngữ nối và những từ ngữ nối này đứng vị trí đầu câu; về mặt nội dung, các từ ngữ nối biểu thị quan hệ nghĩa giữa các phát ngôn, nghĩa là liên kết giữa các câu hoặc phát ngôn bằng quan hệ nghĩa
Với cách định nghĩa trên, các nhà nghiên cứu đã cho thấy: với chức năng liên kết, từ ngữ nối đóng vai trò không thể thiếu trong việc biểu thị định hướng ngữ nghĩa
và tạo ra cấu trúc ngữ nghĩa của các thành phần trong VB
Khác với các nhà nghiên cứu trên, Trần Ngọc Thêm (1985) đưa ra định nghĩa
về phép nối bằng cách chỉ ra quan hệ và mô hình (hay cấu trúc) của phép nối: “Hiện
tượng nối liên kết có dạng của một quan hệ hai ngôi a R b, trong đó (a, b) là cặp phần tử được sắp thứ tự (…) Ở đây, R là phương tiện nối Phương tiện nối R có hai chức năng: chức năng liên kết và chức năng ngữ nghĩa (gọi tên, định loại quan hệ”
Tóm lại, từ quan niệm của các nhà nghiên cứu nêu trên có thể hiểu: phép nối là việc sử dụng các từ ngữ có tác dụng nối để liên kết giữa các phát ngôn, các phần của
VB theo các kiểu quan hệ ngữ nghĩa logic nhất định nhằm tạo nên mạch lạc của VB Việc sử dụng các từ ngữ nối có tác dụng làm cho quan hệ ngữ nghĩa giữa các câu trong VB được hiển ngôn Nhờ đó, mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các phát ngôn, các đoạn trong VB được thể hiện rõ ràng, chính xác
Trong thực tế, chức năng liên kết của từ ngữ nối thể hiện trong phạm vi rất rộng, chúng có thể liên kết giữa các từ, ngữ (mệnh đề), câu/phát ngôn, đoạn văn trong VB Trong khuôn khổ của luận án này, chúng tôi chỉ nghiên cứu từ ngữ nối ở cấp trên câu, tức là liên kết giữa các câu/ phát ngôn và đoạn văn trong VB
Trang 3326
1.2.2.2 Phân loại phép nối
Theo Trần Ngọc Thêm (1985), tuỳ theo tính chất của các phương tiện nối và
dựa trên mức độ gắn kết về nội dung và hình thức giữa các phát ngôn có thể phân
biệt nối lỏng và nối chặt Đây cũng được xem là hai kiểu phép nối phổ biến nhất
+ Nối lỏng: ―Phép nối lỏng là phương thức liên kết thể hiện ở sự có mặt trong
kết ngôn những phương tiện từ vựng (từ, cụm từ) không làm biến đổi cấu trúc của nó
và diễn đạt một quan hệ ngữ nghĩa hai ngôi mà ―ngôi‖ còn lại là chủ ngôn‖ [85: 204]
Ví dụ:
Tại Việt Nam, Luật khoa học và công nghệ năm 2013 có điểm đột phá về chính sách
đãi ngộ đối với nhân lực, nhân tài trong lĩnh vực khoa học công nghệ (1) Theo đó, Nhà
nước tạo điều kiện cho cơ sở nghiên cứu khoa học được đầu tư tiềm lực cơ sở vật chất và nguồn nhân lực để tổ chức nghiên cứu (2) (V.35: tr.54)
Trong ví dụ trên, cụm từ nối theo đó đã tường minh mối quan hệ giữa hai phát
ngôn theo quan hệ nhân - quả Nguyên nhân được nêu ở phát ngôn (1): Luật khoa
học và công nghệ có nhiều điểm đột phá về chính sách đãi ngộ…; kết quả được nêu ở
phát ngôn (2) có chứa theo đó: Theo đó, Nhà nước tạo điều kiện cho cơ sở nghiên
cứu khoa học được đầu tư tiềm lực… Trong trường hợp này, nếu ta bỏ đi cụm từ nối
theo đó ở phát ngôn (2) thì phát ngôn này vẫn không ảnh hưởng gì về mặt cấu trúc:
vẫn là một câu độc lập, hoàn chỉnh về cấu trúc ngữ pháp
Như vậy, với nối lỏng, mặc dù hai phát ngôn liên kết với nhau nhưng chúng vẫn có tính độc lập tương đối về nội dung và cấu trúc bởi vì nếu tách riêng các phát ngôn đó thì vẫn có giá trị thông báo rõ ràng
+ Nối chặt:
―Phép nối chặt là phương thức liên kết của ngữ trực thuộc định danh thể hiện bằng sự có mặt của từ nối (liên từ, giới từ) ở chỗ bắt đầu (liên kết hồi quy) hoặc chỗ kết thúc (liên kết dự báo) của nó, tạo thành một quan hệ ngữ nghĩa hai ngôi giữa ngữ trực thuộc với chủ ngôn‖ [85: 244-245] Như vậy, ở phép nối chặt thì sự có mặt của các phương tiện nối lại làm thay đổi cấu trúc nòng cốt của kết ngôn, khiến nó phụ thuộc vào chủ ngôn không chỉ về mặt nội dung mà cả về mặt cấu trúc Ví dụ:
- Người con gái thời ấy mặt phải tròn, mắt phải dài, răng đen hạt na, lông mày
kẻ nhỏ Và phải có da có thịt [Má Hồng - Nguyễn Khải]
Trang 3427
Trong ví dụ trên, từ nối và ở phát ngôn sau có tác dụng bổ sung thông tin cho phát ngôn đi trước Như thế, và đã có chức năng liên kết phát ngôn đi trước với phát
ngôn chứa nó Về mặt hình thức, phát ngôn sau bị tỉnh lược chủ ngữ và chúng ta chỉ
có thể hiểu được nội dung của nó thông qua phát ngôn trước Vì vậy, trong trường
hợp này nếu bỏ đi quan hệ từ và thì hai phát ngôn này sẽ không còn mối quan hệ, và
do đó chúng ta không thể hiểu nghĩa của chúng, đồng thời phát ngôn này chỉ là một ngữ trực thuộc
Như vậy, nối chặt là kiểu nối khi một trong hai phát ngôn tham gia liên kết không có khả năng tồn tại độc lập về nghĩa và hình thức ngữ pháp Đây là phép nối thực hiện liên kết những phát ngôn phụ: những phát ngôn bị tỉnh lược hoặc những phát ngôn có chứa yếu tố thay thế (đại từ) Trong phép nối chặt thường có các từ nối
như nhưng, và, vì, bởi vì… làm cho phát ngôn trở nên không hoàn chỉnh về mặt cấu
trúc mà chỉ là ngữ trực thuộc Vì vậy, nếu tách các phát ngôn thì không thể hiểu nghĩa của chúng một cách trọn vẹn
Ngoài ra còn có một số phân loại khác Chẳng hạn, dựa trên số lượng phát ngôn
tham gia liên kết, có thể phân loại thành: nối đơn và nối phức Nối đơn là loại nối
chỉ liên kết giữa hai phát ngôn, bao gồm cả dạng phép nối có cặp từ hô ứng Còn nối phức là phép nối thể hiện sự liên kết phức tạp giữa nhiều phát ngôn Trong nối phức, các từ ngữ nối khá đa dạng, thể hiện các quan hệ ngữ nghĩa phong phú Phép nối này thường được sử dụng để diễn tả quan hệ trình tự diễn đạt, quan hệ liệt kê trong VB Bên cạnh đó, dựa vào vị trí các phát ngôn đứng liền kề hay giãn cách có thể
phân loại thành: nối liên tục và nối gián đoạn (còn gọi là nối trực tiếp/ gián tiếp)
Nối liên tục là phép nối được thực hiện giữa hai phát ngôn nằm cạnh nhau Còn nối gián đoạn là phép nối được thực hiện giữa các phát ngôn không nằm cạnh nhau (gián đoạn), nghĩa là có một phát ngôn nằm xen vào giữa hai phát ngôn nối, làm quan hệ của chúng bị giãn cách (liên kết bắc cầu)
1.2.2.3 Từ ngữ nối và phân loại từ ngữ nối
a Từ ngữ nối - dấu hiệu chỉ dẫn liên kết
Phần trên đã cho thấy từ ngữ nối chính là yếu tố, phương tiện để liên kết giữa các câu/phát ngôn trong cùng một VB Về vị trí và dấu hiệu nhận diện từ ngữ nối, theo Diệp Quang Ban (2009), các từ ngữ có chức năng nối kết không làm thành một
bộ phận trong mệnh đề cùng có mặt trong câu chứa nó, nghĩa là nó không phải là
Trang 3528
thành phần cú pháp trong mệnh đề đó Ông cho rằng đây là điều kiện quan trọng giúp phân biệt phương tiện thuộc phép nối với phương tiện thuộc phép thế Phương tiện nối thường đứng đầu câu, bên ngoài mệnh đề trong câu đó Chẳng hạn:
VD: - Mai bạn phải đi từ 5 giờ sáng Vậy bạn cần đặt chuông đồng hồ reo lúc
4 giờ → Vậy là từ nối và không nằm trong mệnh đề bạn cần và nó chỉ là yếu tố nối
câu chứa nó với câu trước
Phân biệt với trường hợp vậy trong phép thế:
VD: - Đi đường xa phải chuẩn bị chu đáo Ai cũng vậy cả
Vậy ở đây có tác dụng thế cho phải chuẩn bị chu đáo và cùng với cũng giữ
chức năng cú pháp vị ngữ của câu thứ hai [3: 353]
Trong tiếng Việt, từ ngữ nối được thể hiện ra bằng những tên gọi khác nhau
Đối với các từ ngữ nối kiểu như và, rồi, hay, nhưng, với, nếu, vì, để, tuy, cho
nên… ngoài tên gọi là từ nối, chúng còn được các nhà ngữ pháp gọi với một số tên
khác là liên từ/ kết từ (Nguyễn Hữu Quỳnh, 1994; Nguyễn Tài Cẩn, 1998; Lê Biên,
1999; Đinh Văn Đức, 2001; Diệp Quang Ban 2006…) Chẳng hạn, theo Nguyễn Hữu
Quỳnh (1994), “Liên từ là những từ chỉ các quan hệ ngữ pháp chuyên dùng để nối
các thành phần trong câu hay các thành tố trong cụm từ (còn gọi là từ nối, kết từ hoặc giới từ và liên từ)‖ [78: 172] Thậm chí, một số tác giả gọi từ nối kiểu này là
giới từ hoặc hư từ cú pháp (phân biệt với hư từ từ pháp) Diệp Quang Ban (2009) - người nghiên cứu sâu về phép nối - gọi tên những từ ngữ nối kiểu này là quan hệ từ
Đi sâu vào chi tiết, ông còn phân biệt: quan hệ từ chỉ quan hệ bình đẳng: và, rồi, hay,
nhưng, với, vả lại…; quan hệ từ chỉ quan hệ phụ thuộc: nếu, vì, (cho) nên, để, tuy và
những từ có giá trị tương đương Những quan hệ do những từ này diễn đạt, theo tác giả,
là những quan hệ logic giữa hai bộ phận do chúng nối kết lại [3: 357]
Bên cạnh đó, theo Diệp Quang Ban (2009), từ ngữ nối còn là các đại từ thay thế: vậy, thế…; hoặc tổ hợp từ có chứa đại từ thay thế: vì vậy, nếu vậy, tuy vậy, để
được như vậy, và thế (là), có như thế (thì), sau đó Vị trí của những từ ngữ và tổ
hợp này là đứng đầu câu nối ý câu chứa chúng với câu đứng trước (phân biệt với những từ ngữ và tổ hợp này nếu đứng sau động từ làm vị ngữ và giữ một chức vụ cú pháp nào đó liên quan đến từ chính ở vị ngữ thì chúng lại thuộc phép thế Ví dụ: -
Mọi người đều nghĩ thế
Trang 3629
Ngoài ra, từ ngữ nối là các quán ngữ/ tổ hợp từ ngữ có tác dụng liên kết
Trong tiếng Việt, ngoài những quán ngữ thực hiện chức năng đưa đẩy, rào đón, nhấn
mạnh còn có một bộ phận quán ngữ thực hiện chức năng liên kết, như: tóm lại, nói
tóm lại, kết quả là, rốt cuộc, trước hết, suy cho cùng… [3: 357]
Tương tự, Trần Ngọc Thêm (1985) đã nêu ra các yếu tố từ vựng có chức năng liên kết mà ông gọi là ―thành phần chuyển tiếp‖ khá đa dạng, bao gồm:
- Các kết từ: thoạt tiên, bỗng nhiên, cuối cùng, đồng thời, thậm chí, chẳng hạn, sự
thật (là);
- Các kết hợp cố định hoá (thường là song tiết): tiếp theo, ngoài ra, hơn nữa, thứ
nhất, thứ hai, ngược lại, tóm lại, nhìn chung;
- Các kết hợp (kết ngữ) có xu hướng cố định hoá, bao gồm 3 mô hình:
+ Mô hình: động từ + trạng thái chỉ cách thức: nói cách khác, nói đúng ra, nói một
cách tóm tắt, nói khác đi, nói (một cách)
+ Mô hình: từ nối + đại từ/ liên từ: từ nối là đại từ: trên đây, trước đây, sau đó, từ
đó, do vậy ; từ nối là liên từ: vì vậy, bởi vậy, tuy thế, như thế
+ Mô hình tận cùng bằng là, gồm: đại từ + là và danh từ + là: vậy là, thế là; kết quả
b Phân loại từ ngữ nối
Việc phân loại từ ngữ nối được dựa trên các tiêu chí khác nhau và dựa vào tiêu chí nào chủ yếu phụ thuộc vào mục đích và cách tiếp cận nghiên cứu
Thứ nhất, từ ngữ nối có thể được phân loại dựa vào hình thức cấu tạo của
chúng Chẳng hạn, dựa trên tiêu chí này, Halliday và Hasan (1976) phân loại thành
từ nối đơn và từ nối phức trong tiếng Anh:
Trang 3730
- Từ nối đơn: then, so, next, but…
- Từ ngữ nối kép với vĩ tố ―ly‖: actually, accordingly, subsequently…
- Từ ngữ nối kép với ―there‖ và ―where‖: whereat, therefore, thereupon…
- Từ ngữ nối kép khác: instead, besides, anyway, nevertheless, furthermore…
- Biểu thức mệnh đề nối với ―that‖: because of that, in addition to that, as a result of
that, in spite of that…
Trong tiếng Việt, dựa vào hình thức cấu tạo (số lượng tiếng), Bùi Văn Năm (2010) phân loại từ nối thành:
- Từ nối có một tiếng: nhưng, thì, và, còn, do, rồi, thế, dù, mà… (kết từ, phó từ)
- Từ nối có hai tiếng: bởi vì, bây giờ, như vậy, tuy vậy, với lại, thật ra, nào ngờ, thế
là, tuy nhiên… (cụm từ cố định, kết cấu ngẫu hợp)
- Từ nối có ba tiếng trở lên: cũng như vậy, không những thế mà, sau cùng thì, một
cách chắc chắn, một lát sau, lại một lần nữa, như thế nghĩa là… (kết cấu ngẫu hợp)
Bên cạnh đó, từ ngữ nối còn được phân loại theo ý nghĩa ngữ pháp, theo cách
định danh ngữ pháp của nó, nghĩa là không phụ thuộc vào văn cảnh sử dụng Ví dụ:
mà là quan hệ từ; suy cho cùng, nào ngờ là kết cấu ngẫu nhiên, có hai tiếng trở lên…
Hoặc Ngô Thị Bảo Châu (2009) phân chia liên từ (tác giả gọi chung tất cả từ ngữ có
chức năng liên kết của phép nối là liên từ) thành: liên từ chính phụ (vì, bởi, tuy, nhưng,
mặc dù/dầu…), chúng thể hiện quan hệ chính phụ khi nối kết các cú; liên từ đẳng lập
hay liên từ liên hợp (và, rồi, hay, hoặc, nhưng…)
Tuy nhiên, ngoài việc phân loại các từ ngữ nối dựa vào tiêu chí hình thức và ý
nghĩa ngữ pháp, các từ ngữ nối chủ yếu được phân loại theo quan hệ ngữ nghĩa cơ
bản mà các yếu tố tham gia liên kết tạo ra bởi lẽ ―phép nối là việc tạo ra các kiểu quan hệ nghĩa - logic giữa các câu có quan hệ nghĩa với nhau bằng các phương tiện
từ ngữ có tác dụng nối‖ [3: 352] Đồng thời, ―Các từ ngữ nối luôn tạo ra những mối quan hệ nghĩa giữa các thành phần nối và thể hiện các quan hệ nghĩa mà chúng biểu thị Những quan hệ này như là những nhân tố có ý nghĩa quan trọng, tạo nên tính mạch lạc của văn bản‖ [67: 39]
Việc phân loại các quan hệ ý nghĩa của phép nối được đề cập đến trong khá nhiều các công trình nghiên cứu như Halliday và Hasan, 1976 & 1985; Phạm Văn Tình, 1983; Trần Ngọc Thêm, 1985; Diệp Quang Ban, 2009; Bùi Tất Tươm, 1994;
Hà Thúc Loan, 2003… Nhìn chung, các kiểu quan hệ nghĩa trong phép nối mà các
Trang 3831
tác giả đưa ra rất đa dạng và mỗi kiểu quan hệ nghĩa được thể hiện ra bằng các phương tiện nối khá chuyên biệt, đặc trưng cho từng kiểu loại Chẳng hạn:
- Từ ngữ nối chỉ ra sự trình bày vấn đề một cách thứ tự: một là, hai là, thứ nhất,
thứ hai, trước hết, đầu tiên, cuối cùng, một mặt, mặt khác…(tiếng Việt); firstly, secondly, thirdly, finally, lastly, at the same time, meanwhile (tiếng Anh)
- Từ ngữ nối chỉ ra sự đánh giá chung có ý nghĩa tổng kết, khái quát: tóm lại,
nhìn chung, kết luận lại, như vậy, nói một cách ngắn gọn…(tiếng Việt); generally, generally speaking, overall, shortly, to summarize, as a consequence, as a result of,
in simpler terms… (tiếng Anh)
- Từ ngữ nối chỉ kết quả hoặc hệ quả: vì vậy, cho nên, chính vì thế, thành thử,
kết quả là… (tiếng Việt); therefore, so, thus, hence, for this reason, consequently…
(tiếng Anh)
- Từ ngữ nối chỉ ra sự tương phản, trái ngược: trái lại, thế nhưng, đối lập với,
khác với, không giống với (tiếng Việt); but, still, however, in contrast, nevertheless,
on the contrary, on the other hand… (tiếng Anh)
- Từ ngữ nối chỉ sự giải thích, minh hoạ cho điều vừa trình bày: ngoài ra, bên
cạnh đó, cụ thể là, ví dụ, nghĩa là, điều này có nghĩa là…(tiếng Việt); in addition, for example, besides, moreover, furthermore, such as , that is (tiếng Anh)
Có thể thấy các kiểu quan hệ nghĩa trong phép nối mà các tác giả đưa ra rất đa dạng và mỗi kiểu quan hệ nghĩa được thể hiện ra bằng các phương tiện nối khá chuyên biệt, đặc trưng cho từng kiểu loại
Mặc dù trong số các quan hệ của phép nối mà các tác giả nêu ra có những quan
hệ không trùng nhau hoặc cùng một mối quan hệ nhưng tên gọi khác nhau (chẳng
hạn, quan hệ bổ sung còn có các tên gọi: quan hệ bổ trợ; quan hệ mở rộng, bổ sung; hoặc quan hệ tương phản còn có tên gọi là quan hệ tương phản - đối lập, quan hệ
nghịch đối, quan hệ ngược hướng ), nhưng sự phân loại này cho thấy mối quan hệ
nghĩa mà các từ ngữ nối biểu thị rất phong phú Đồng thời điều này cũng phản ánh sự phân loại này là khá phức tạp bởi lẽ các mối quan hệ này được hiện thực hoá bằng các phương tiện từ ngữ nối cụ thể trong khi ranh giới của các kiểu quan hệ đôi khi không rõ ràng Hơn nữa, đôi khi cùng một phương tiện từ ngữ có thể giải thích bằng nhiều kiểu quan hệ khác nhau tuỳ thuộc vào ngữ cảnh (liên quan đến vấn đề ngữ dụng)
Trang 3932
1.2.2.4 Từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết
a Vị trí của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong sự phân loại của các nhà nghiên cứu
Trong sự phân loại từ ngữ nối, có thể thấy từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết đã được đề cập trong danh sách phân loại của hầu hết nhà nghiên cứu trên Đây là loại từ ngữ nối không phải được phân loại theo tiêu chí hình thức và ý nghĩa
ngữ pháp mà chúng được phân loại theo quan hệ ngữ nghĩa cơ bản mà các yếu tố
tham gia liên kết tạo ra Đặc biệt, quan hệ này đã được nói rõ trong phân loại của Bùi Tất Tươm (1994), Phạm Văn Tình (1983), Hà Thúc Loan (2003)
Trong sự phân loại của Phạm Văn Tình (1983), từ ngữ nối trong tiếng Việt được
chia thành nhiều phạm trù, trong đó có phạm trù kết quả, tổng kết: vì vậy, cho nên,
vậy nên, do đó, rốt cuộc, tóm lại, nhìn chung, để cho, để rồi, nói chung Tương tự,
trong sự phân loại của Bùi Tất Tươm (1994), tác giả chia từ ngữ nối thành 7 kiểu
quan hệ cơ bản, trong đó quan hệ tổng kết được tác giả xếp vào kiểu thứ 5, chẳng hạn:
tóm lại, nói chung, nhìn chung…
Hà Thúc Loan (2003) đã phân ra 2 phạm trù quan hệ ngữ nghĩa cơ bản của
phép nối: quan hệ thuyết minh và quan hệ phát triển Trong mỗi phạm trù này, tác
giả tiếp tục phân chia thành các loại quan hệ ngữ nghĩa khác nhau: quan hệ thuyết
minh gồm: bằng chứng, dẫn chứng, ví dụ, định nghĩa, nguyên nhân; còn quan hệ
phát triển gồm: kết quả, suy luận, khái quát, tương phản, tương đồng, song hành)
Như vậy, trong sự phân loại của Hà Thúc Loan có sự xuất hiện của quan hệ kết quả và quan hệ tổng kết (tác giả gọi là khái quát)
Ngoài ra, quan hệ kết quả, tổng kết còn xuất hiện trong sự phân loại của một số tác giả khác và chúng thường xuất hiện ở trong các tiểu loại với những tên gọi tương
tự Chẳng hạn:
Trong sự phân loại của Trần Ngọc Thêm (1995), tác giả gọi phạm trù tổng kết
là kết thúc: tóm lại, nói tóm lại, nói chung, nhìn chung, cuối cùng… và nó là tiểu loại thuộc quan hệ trình tự diễn đạt; phạm trù kết quả thuộc quan hệ nhân quả: vì vậy, do
đó, kết quả là, như vậy… Còn trong phân loại của Diệp Quang Ban (2008), tác giả
gọi phạm trù kết quả là hệ quả: nên, cho nên, thành ra, thành thử, kết quả là, hoá ra
là, hệ quả là… và phạm trù này thuộc quan hệ ―nguyên nhân và hệ quả‖
Trang 4033
Tương tự, trong phân loại của Halliday về các quan hệ nghĩa của phép nối trong
tiếng Anh, tác giả gọi phạm trù tổng kết là tóm tắt (summative): tóm lại (là), (xin)
tóm tắt, để kết luận, nói vắn tắt (là) và là tiểu loại thuộc quan hệ ―minh chứng‖ và
khái quát: vì vậy, vậy thì, do đó, bởi thế… là tiểu loại thuộc quan hệ ―nguyên nhân - điều kiện‖; phạm trù kết quả Halliday cũng gọi là kết quả: kết quả là… là tiểu loại
cũng thuộc quan hệ ―nguyên nhân - điều kiện‖
Ngô Thị Bảo Châu (2010) trên cơ sở tham khảo những công trình đi trước và dựa trên nguồn ngữ liệu thực tế trong tiếng Việt, đồng thời phân chia lại, thêm bớt một số quan hệ, thay đổi thuật ngữ định danh một số tiểu loại, đã chia quan hệ ―minh chứng‖ (elaboration) (tác giả dịch gọi tên là ―làm rõ‖) thành 9 tiểu loại, trong đó
phạm trù tổng kết (tác giả cũng gọi là tóm tắt) thuộc tiểu loại thứ 7 Những từ ngữ
nối thường gặp trong quan hệ này là: tóm lại, để tóm tắt lại, để kết thúc vấn đề, kết
luận, nói một cách vắn tắt, nhìn chung, nhìn trên tổng thể/đại đa số, … Ví dụ:
(1) […] Tóm lại, THTM (tín hiệu thẩm mĩ) Xuân vốn chỉ mùa chuyển tiếp từ mùa
đông sang hạ, có thời tiết tốt và có điều kiện lý tưởng cho sự sinh sôi nảy nở của vạn vật Với ý nghĩa này, xuân còn được gọi cụ thể hóa hơn bằng biến thể từ vựng mùa xuân
(2) […] Như vậy, đối thoại là hình thức giao tiếp tích cực mặt đối mặt Điều này có
nghĩa là các nhân vật tham gia đối thoại phải đương diện trao đáp với sự thay đổi liên tục vai nói vai nghe chứ không thông qua một khâu trung gian nào
Ở ví dụ (1), sau khi trình bày về THTM Xuân, tác giả tóm tắt lại ý nghĩa của tín hiệu
Xuân này thông qua từ nối tóm lại Tương tự, ở ví dụ (2), sau khi đã trình bày về đối thoại,
tác giả tóm lược khái niệm đối thoại thông qua từ nối như vậy [11: 43-35]
Như vậy, từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết đều có mặt trong sự phân
loại của các nhà nghiên cứu và với những tên gọi tương tự nhau Chúng bao gồm những từ ngữ nối không chỉ dùng để đưa ra kết luận/tổng kết (summative) mà còn đưa ra ý khái quát (generalising), kết quả (resultive)
b Khái niệm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết
Kết quả hiểu theo nghĩa thông thường là cái do một hay nhiều hiện tượng khác
(gọi là nguyên nhân) gây ra, tạo ra trong quan hệ với những hiện tượng ấy Còn
tổng kết là nhìn lại toàn bộ việc đã làm, khi đã kết thúc hoặc sau một giai đoạn, để
có sự đánh giá, rút ra những kết luận chung Trong phát ngôn/câu, quan hệ kết quả
là quan hệ giữa A và B, trong đó A là phần nêu lý do, nguyên nhân - sự tình diễn ra