Khái niệm giám sát các hoạt động GDSKGiám sát hoạt động TT – GDSK là một trong các hoạt động quản lý quan trọng nhằm nâng cao kỹ năng thực hiện TT – GDSK cho cán bộ.. Giám sát hoạt động
Trang 1GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG GDSK
Bài giảng pptx các môn ngành Y dược hay nhất có tại
“tài liệu ngành dược hay nhất”;
https://123doc.net/users/home/user_home.php?
use_id=7046916
Trang 3Sơ đồ 8.1 Chu trình quản lý
Trang 41 Giám sát các hoạt động TT-GDSK
1.1 Khái niệm giám sát các hoạt động y tế
Giám sát là quá trình quản lý, chủ yếu là
hỗ trợ/giúp đỡ, tạo điều kiện để mọi người hoàn thành và nâng cao hiệu quả công việc
về mặt kỹ thuật.
Trang 51.2 Khái niệm giám sát các hoạt động GDSK
Giám sát hoạt động TT – GDSK là một trong các hoạt động quản lý quan trọng nhằm nâng cao kỹ năng thực hiện TT – GDSK cho cán bộ
Giám sát hoạt động TT – GDSK cũng như giám sát các hoạt động y tế công cộng khác là quá trình đào tạo liên tục trên thực địa nhằm giúp cán bộ làm công tác TT – GDSK và NCSK rèn luyện được kỹ năng TT – GDSK, góp phần nâng cao kết quả và hiệu quả của chương trình TT – GDSK và NCSK
Trang 61.3 Mục đích của giám sát
Thực hiện công tác đào tạo cán bộ làm công tác
TT – GDSK và NCSK
Qua hoạt động giám sát, người được giám sát
biết được các điểm yếu của mình trong hoạt động
TT – GDSK và được uốn nắn tại chỗ, vì thế hiệu quả mang lại rất cao
Người thực hiện giám sát cũng thấy được các
điểm mạnh, điểm yếu của người được giám sát
và có thể chỉ dẫn ngay cho người được giám sát phát huy, sửa chữa hay có kế hoạch bồi dưỡng, giúp đỡ, hỗ trợ tiếp theo
Trang 71.4 Nội dung giám sát
Nội dung giám sát
Người được giám sát
Thời gian giám sát
Địa điểm giám sát
Phạm vi giám sát
Mỗi cuộc giám sát cần chuẩn bị cụ thể về:
Trang 8 Giám sát có thể tiến hành định kỳ hay đột xuất.
Trước mỗi cuộc giám sát, người giám sát cần báo
cho người được giám sát biết trước
Các nội dung giám sát thường tập trung vào kỹ năng
thực hiện các phương pháp TT – GDSK trực tiếp
Tùy theo yêu cầu của hoạt động giám sát mà xác
định các nội dung giám sát cụ thể
Trang 9 Giám sát các hoạt động TT – GDSK tập trung vào kỹ
năng giao tiếp, chủ yếu là các kỹ năng:
Kỹ năng xác định đối tượng đích;
Kỹ năng xác định mục tiêu;
Kỹ năng soạn thảo nội dung của chủ đề cần GDSK,
tập trung chủ yếu vào các thông điệp cần chuyển tải tới đối tượng;
Kỹ năng lựa chọn phương pháp và phương tiện
GDSK;
Kỹ năng làm quen;
Trang 10 Kỹ năng giao tiếp bằng lời nói;
Kỹ năng giao tiếp không bằng lời nói;
Kỹ năng lắng nghe;
Kỹ năng quan sát;
Kỹ năng tóm tắt;
Kỹ năng đặt câu hỏi;
Kỹ năng hỗ trợ, giúp đỡ đối tượng…
Lưu ý: các nội dung GS cần được thể hiện đầy đủ trong bảng kiểm (công cụ) mà người thực hiện giám sát cần xây dựng trước khi thực hiện giám sát
Trang 112 Đánh giá các hoạt động TT-GDSK
2.1 Khái niệm đánh giá
Đánh giá là một quá trình đo lường, tính toán các chỉ số
để đối chiếu xem đã đạt được những mục tiêu đặt ra hay chưa, hiệu quả đạt được có tương xứng với công sức và nguồn lực đã bỏ ra hay không
Nhiệm vụ của đánh giá còn là phân tích, tìm ra những
nguyên nhân của thành công cũng như thất bại, những hoạt động không hoàn thành mục tiêu để làm bài học tăng cường các hoạt động quản lý sau này.
Trang 12 Đánh giá được còn được hiểu đơn giản là xét đoán
giá trị của một việc gì đó
Nói rõ hơn, đánh giá là đo lường và xem xét các
kết quả đạt được của một chương trình hoặc một hoạt động trong một giai đoạn nhất định nào đó nhằm cung cấp thông tin cho người quản lý đưa ra quyết định cho tương lai
Trang 132.2 Mục đích của đánh giá
Xem xét những gì chương trình đã đạt được và
quan trọng hơn hết là hiểu tại sao chương trình lại đạt được như thế.
Để đo lường tiến độ kèm theo mục tiêu của chương
trình (đo lường tiến độ ở từng giai đoạn thực hiện chương trình).
Để cải thiện hoạt động giám sát sao cho công việc
quản lý được tốt hơn.
Xác định những điểm mạnh và những điểm yếu
nhằm cải thiện chương trình.
Để xem xét một cách cụ thể hơn những công việc
khác nhau mà chương trình đang thực hiện.
Trang 14 Để xem những lợi ích đã đạt được so với kinh phí bỏ ra.
Để thu thập những thông tin cho việc lập kế hoạch và
quản lý hoạt động của chương trình được tốt hơn.
Chỉ ra những sai sót nhằm kịp thời ngăn chặn các sai
sót đó hoặc tái xuất hiện hoặc khuyến khích những cán
bộ khác áp dụng các phương pháp đã được thực hiện trong chương trình.
Cho phép quá trình lập kế hoạch tốt hơn, phù hợp hơn
với nhu cầu của đối tượng.
Trang 152.3 Ý nghĩa của việc đánh giá
Đánh giá là một hoạt động quan trọng không riêng gì
công tác GDSK.
Đánh giá là việc cần thiết để tiến bộ vì nó cung cấp cho
ta biết rõ những thành công và thất bại.
Đánh giá giúp ta thấy được hiệu quả của việc thực
hiện kế hoạch, các chương trình và hoạt động y tế bằng các chỉ số đánh giá, đối chiếu với mục tiêu đã đề
ra để xác định được mức độ hoàn thành cả về số lượng và chất lượng một cách khách quan, trung thực.
Trang 162.4 Phân loại đánh giá
1 Đánh giá ban đầu
2 Đánh giá tức thời
3 Đánh giá kết thúc
4 Đánh giá ngắn hạn
5 Đánh giá dài hạn
Trang 17Đánh giá ban đầu:
• Thực chất là thu thập số liệu cần thiết, xác định
điểm xuất phát và mục đích cần đạt được
• Đối với một chương trình GDSK, đánh giá ban
đầu nhằm xác định được nhóm đối tượng đích và hành vi sức khỏe nào cần thay đổi ở họ
• Từ đó, xác định đúng đắn các mục tiêu GDSK và
các phần khác của chương trình
Trang 18Đánh giá tức thời:
• Tiến hành trong khi đang triển khai công
việc để đo đạc tiến độ, giúp giám sát, điều hành tốt hơn.
• Đối với quá trình GDSK, đánh giá tức thời
có thể xác định được đáp ứng của đối tượng để kịp thời điều chỉnh ngay cách làm cho phù hợp hơn (đặc biệt ở thực địa).
Trang 19Đánh giá kết thúc: Được thực hiện khi kết thúc một hoạt động, một kế hoạch nhằm xác định mức độ mà kết quả đầu ra đạt được những gì so với mục tiêu.
Đánh giá ngắn hạn: Tiến hành sau khi chương trình kết thúc vài tuần đến 1 tháng để xác định những thay đổi hành vi sức khỏe thực sự diễn biến ra sao, mang lại hiệu quả gì so với chi phí đã bỏ ra
Trang 20Đánh giá dài hạn:
• Tiến hành sau vài tháng hoặc vài năm để
xem tác động ảnh hưởng của những thay đổi HVSK của đối tượng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của họ.
• Đánh giá dài hạn nhằm xác định hiệu quả
thực sự của một chương trình đã can thiệp.
Trang 212.5 Người thực hiện đánh giá
• Người không trực tiếp thực hiện kế hoạch hành
động/chương trình GDSK đánh giá sẽ khách quan hơn
• Người thực hiện kế hoạch hành động cũng có thể
tham gia đánh giá Họ là người trong cuộc nên họ hiểu rõ chương trình hành động và biết rõ hơn ưu, nhược điểm của cách thu thập thông tin
Trang 222.6 Phương pháp đánh giá
1 Đánh giá định lượng
2 Đánh giá định tính
Trang 23Đối với những chương trình can thiệp sử dụng nghiên cứu định lượng thường áp dụng ba mô hình đánh giá sau:
Đánh giá định lượng:
1 Mô hình đánh giá “Đối chiếu với mục tiêu”
2 Mô hình đánh giá “So sánh trước và sau khi
thực hiện”
3 Mô hình đánh giá “So sánh trước – sau, có đối
chứng với địa phương khác”
Trang 24Kế hoạch Mục tiêu
Thực hiện KH
Đối chiếu với mục tiêu
Thu thập số liệu khi kết thúc
Sơ đồ 8.2 Đối chiếu với mục tiêu
Trang 25kế hoạch Mục tiêu
Thực hiện KH
Thu thập số liệu khi kết thúc
So sánh với số liệu ban đầu
Thu thập số liệu cơ bản khi chưa thực hiện
Sơ đồ 8.3 So sánh trước và sau khi thực hiện
Trang 26Kế hoạch Mục tiêu
Thực hiện KH
Thu thập số liệu khi kết thúc
So sánh với số liệu cơ bản
Thu thập số liệu cơ bản khi chưa thực hiện
(cộng đồng can thiệp)
Xã A
(cộng đồng không can thiệp)
Xã B
Thu thập số liệu cơ bản So sánh
Thu thập số liệu cùng thời gian
So sánh 2 xã A và B
Sơ đồ 8.4 So sánh trước – sau, có đối chứng với địa phương khác
Trang 272.7 Các bước cơ bản của quá trình đánh giá
Bước 1: Xác định mục tiêu và phạm vi đánh giá, chọn các chỉ số đánh giá phù hợp
Bước 2: Chọn phương pháp và kỹ thuật thu thập thông tin
Bước 3: Tiến hành thu thập thông tin
Bước 4: Phân tích và trình bày kết quả đạt được
Bước 5: Sử dụng kết quả thu được qua đánh giá để rút kinh nghiệm và hoàn thành chương trình hành động cho giai đoạn tới
Trang 28• Có giá trị: Phản ảnh đúng mức độ thành công của
hoạt động y tế Đáng tin cậy và ít bị sai sót.
• Độ nhạy: Dễ phát hiện được vấn đề cần tìm.
• Đặc hiệu: Không nhầm lẫn vấn đề này với vấn đề
khác.
• Dễ dàng thu thập được trong các điều kiện cụ thể.
Cần chú ý đến các chỉ số về chất lượng, các chỉ số này cho phép giải thích nguyên nhân thành/bại của chương trình.
Những chỉ số đánh giá cần đảm bảo được một số tiêu chuẩn sau:
Trang 29Bao gồm các con số về nguồn lực và cũng
có thể về nhu cầu GDSK của cộng đồng.
(Ví dụ: tổng kinh phí nhận được từ nhà tài trợ, khách hàng; trang thiết bị vật tư được trang bị; các khoản chi trong kế hoạch…)
Chỉ số đầu vào:
Trang 30Bao gồm các con số nói lên việc tổ chức một hoạt động trong chương trình.
(Ví dụ: có 70% số xã trong huyện A có tổ chức ngày nuôi con khỏe dạy con ngoan).
Chỉ số quá trình:
Trang 31• Đầu ra tức thì (tỉ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm đủ
6 loại vaccine)
• Chỉ số về hiệu quả: bao gồm các chỉ số về kiến
thức, thái độ, thực hành (tỉ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ được chăm sóc, chỉ số kiến thức đối với KHHGĐ…)
trẻ suy dinh dưỡng, tỉ lệ nạo hút thai
Trang 33CẢM ƠN!